NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm của công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) là hình thức công ty đặc trưng của mô hình doanh nghiệp đối vốn, phổ biến ở nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam CTCP thu hút nhiều nhà đầu tư và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Định nghĩa về CTCP có sự khác biệt giữa các quốc gia do ảnh hưởng từ chính trị, kinh tế và xã hội Tại Việt Nam, CTCP được quy định cụ thể lần đầu tiên trong Luật công ty ban hành ngày 21/12/1990, và qua các lần sửa đổi, khái niệm này đã dần hoàn thiện, hiện nay được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp 2014.
CTCP, hay Công ty Cổ phần, được quy định qua phương pháp liệt kê, phản ánh đầy đủ các khía cạnh cốt lõi của loại hình công ty này Theo quy định pháp luật, CTCP được định nghĩa dựa trên ba đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ của công ty cổ phần (CTCP) được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần Các nhà đầu tư có thể góp vốn bằng cách mua cổ phần, từ đó tạo ra nguồn vốn dồi dào giúp CTCP chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân, với số lượng tối thiểu là 03 và không giới hạn số lượng tối đa Điều này cho thấy pháp luật không hạn chế đối tượng tham gia góp vốn vào công ty, cho phép cả tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước trở thành cổ đông nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ phần vốn góp của mình Việc không giới hạn số lượng tối đa cổ đông góp vốn tạo điều kiện cho công ty cổ phần (CTCP) có thêm nguồn vốn dồi dào phục vụ cho mục đích phát triển kinh doanh.
Cổ đông của công ty cổ phần (CTCP) chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi vốn đã góp, nhờ vào chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn Điều này có nghĩa là các tài sản cá nhân của cổ đông không tham gia góp vốn sẽ không bị sử dụng để đảm bảo trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp.
2Từ Thảo, tlđd (1), truy cập ngày 14/02/2020
Cổ đông trong công ty cổ phần (CTCP) có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số trường hợp hạn chế theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 và Khoản 1 Điều 126 của Luật Doanh Nghiệp 2014 Mặc dù các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần bất kỳ lúc nào và cho bất kỳ ai, nhưng cần lưu ý rằng các cổ đông sáng lập sẽ bị hạn chế trong việc chuyển nhượng cổ phần trong vòng 03 năm kể từ ngày nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ khi Điều lệ công ty có quy định khác.
Thứ hai, “CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN.” 7
Sau khi hoàn thành các yêu cầu theo quy định pháp luật, Công ty Cổ phần (CTCP) sẽ chính thức có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ ba, “CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.” 8
CTCP có khả năng phát hành nhiều loại cổ phần như cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn, điều này thể hiện sự đa dạng trong khả năng huy động vốn mà chỉ có ở CTCP.
Hiện nay, các chuyên gia và nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về công ty cổ phần (CTCP) dựa trên quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 Tuy nhiên, các khái niệm này chỉ mang tính chất tương đối, do việc xây dựng một khái niệm tổng quan về CTCP là không dễ dàng Qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm CTCP đã được ghi nhận thông qua phương pháp liệt kê, phản ánh đầy đủ các khía cạnh của loại hình doanh nghiệp này Việc quy định như vậy không chỉ phù hợp với thực tiễn mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà nghiên cứu và độc giả trong việc tìm hiểu về CTCP.
1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần
Các loại hình công ty ở Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, đều có những đặc điểm chung như tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch và mục đích kinh doanh Ngoài những đặc điểm này, mỗi loại hình doanh nghiệp còn có những nét riêng biệt Cụ thể, Công ty Cổ phần (CTCP) tại Việt Nam cũng sở hữu những đặc trưng riêng so với các loại hình công ty khác và được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật riêng biệt.
Cổ đông của công ty cổ phần (CTCP) được định nghĩa theo Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2014, là những cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần.
Theo Khoản 7 Điều 4 LDN 2014, cá nhân và tổ chức trở thành cổ đông của công ty cổ phần (CTCP) khi mua cổ phần, đồng thời quyền sở hữu của họ sẽ được chuyển giao cho công ty Các cổ đông sẽ là đồng chủ sở hữu, với quyền lợi tương ứng với phần vốn góp CTCP yêu cầu tối thiểu 3 cổ đông nhưng không giới hạn số lượng tối đa, cho phép mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, số lượng cổ đông lớn có thể làm tăng độ phức tạp trong quản lý, giảm khả năng bảo mật kinh doanh và khiến tình hình tài chính khó kiểm soát do thiếu tính minh bạch.
Về vốn điều lệ của công ty: Theo Khoản 1 Điều 111 LDN 2014 quy định:
Vốn điều lệ của công ty cổ phần (CTCP) là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã được bán, được xác định tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp Vốn điều lệ này được chia thành các cổ phần bằng nhau, và nhà đầu tư có thể tăng vốn điều lệ thông qua việc mua cổ phần Mức vốn điều lệ có thể thay đổi theo tình hình kinh doanh và quyết định của các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động của công ty.
Về chuyển nhượng cổ phần của cổ đông: Điểm d Khoản 1 Điều 110 LDN
Theo quy định năm 2014, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, ngoại trừ một số trường hợp hạn chế đối với cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu từ khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn về đối tượng nhận chuyển nhượng hay số lượng cổ phần Điều này cho phép cổ đông tự do định đoạt cổ phần sở hữu, chủ động trong việc đầu tư và bảo toàn vốn khi môi trường kinh doanh không còn phù hợp với lợi ích của họ.
Công ty cổ phần (CTCP) có chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn, trong đó cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ tương ứng với số vốn đã góp Điều này có nghĩa là rủi ro tài chính của cổ đông thấp hơn so với các doanh nghiệp có trách nhiệm tài sản vô hạn Chính vì vậy, CTCP trở thành lựa chọn hấp dẫn cho các nhà đầu tư, cả tổ chức lẫn cá nhân, trong và ngoài nước, đồng thời khuyến khích người dân tham gia kinh doanh nhằm phát triển kinh tế.
Khái niệm và đặc điểm của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Nhận thức rõ tầm quan trọng của cổ đông thiểu số (CĐTS) trong sự phát triển của công ty cổ phần (CTCP) và nền kinh tế quốc gia, nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, đã chú trọng đến nhóm cổ đông này Tuy nhiên, khái niệm về CĐTS lại khác nhau giữa các quốc gia do nhiều yếu tố khách quan như tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và yếu tố chủ quan Điều này dẫn đến việc không tồn tại một định nghĩa chung về CĐTS được công nhận rộng rãi, mà chỉ có những định nghĩa mang tính tương đối.
Đỗ Thái Hán (2012) trong luận văn thạc sĩ luật học của mình tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong các công ty cổ phần tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý doanh nghiệp.
Cổ đông thiểu số (CĐTS) được hiểu là cổ đông không nắm giữ đa số cổ phiếu có quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông Tại Pháp, CĐTS là cổ đông sở hữu dưới một phần ba số vốn và số phiếu biểu quyết, không có khả năng chi phối quyết định của công ty, trong khi một số quan điểm cho rằng cổ đông sở hữu dưới 50% số phiếu cũng được coi là CĐTS Tại Việt Nam, khái niệm CĐTS chưa được ghi nhận trong văn bản pháp lý nào, chủ yếu được xây dựng dựa trên quan điểm của các tác giả nghiên cứu, dẫn đến sự chủ quan trong định nghĩa Mặc dù đã có nỗ lực xây dựng khung pháp lý bảo vệ CĐTS, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có khái niệm thống nhất về vấn đề này.
Hiện tại, LDN 2014 chưa cung cấp khái niệm cụ thể về cổ đông lớn (CĐTS) Tuy nhiên, Luật Chứng khoán đã đưa ra định nghĩa liên quan đến cổ đông lớn.
Cổ đông lớn được định nghĩa là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành, theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 Điều này dẫn đến việc cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết sẽ được xem là cổ đông thiểu số (CĐTS) Tuy nhiên, trong các công ty cổ phần (CTCP) có đông cổ đông, việc xác định CĐTS theo tỷ lệ 5% có thể gây ra bất cập, vì cổ đông sở hữu dưới 5% nhưng có nhiều người cùng góp vốn có thể tạo ra ảnh hưởng không nhỏ Do đó, để hạn chế sự bất cập này, pháp luật nên cho phép mỗi doanh nghiệp tự quyết định tỷ lệ sở hữu của CĐTS thay vì áp đặt một tỷ lệ chung cho tất cả.
Khi nhà làm luật cố gắng đưa ra tỷ lệ cụ thể, vẫn không đủ tiêu chí để xác định một cổ đông có phải là cổ đông thiểu số hay không, vì "thuật".
Bài luận của Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2009) tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong các công ty cổ phần, so sánh giữa hệ thống pháp luật Việt Nam và Vương quốc Anh Nghiên cứu này được thực hiện tại Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay.
13 Nguyễn Thị Thu Hương (2014), “Nhận diện cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tƣ pháp, số 7 (268)/2014, tr 29
Bài khóa luận cử nhân luật của Nguyễn Thị Thúy Hằng (2009) tại Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tập trung vào pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần Tác giả đã phân tích các quy định pháp lý hiện hành và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự bảo vệ cho nhóm cổ đông này, từ đó góp phần nâng cao tính minh bạch và công bằng trong quản lý doanh nghiệp.
15 Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng Khoán 2019
16 Khoản 26 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010
Trong lĩnh vực quản trị công ty, khái niệm "cổ đông thiểu số" không chỉ đơn thuần dựa vào số lượng cổ phần mà họ nắm giữ Để xác định vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số, cần phải xem xét khả năng kiểm soát công ty của họ Hơn nữa, việc phân loại cổ đông thiểu số cũng phải dựa vào tỷ lệ sở hữu cổ phần trong vốn điều lệ cùng với sức ảnh hưởng của họ trong các quyết định và chính sách của công ty.
Để xác định một cổ đông là cổ đông chiến lược (CĐTS), cần xem xét cả hai yếu tố: số lượng cổ phần mà họ sở hữu trong công ty cổ phần (CTCP) và khả năng kiểm soát của họ đối với CTCP Việc chỉ dựa vào một trong hai yếu tố này sẽ dẫn đến những bất cập và không phản ánh đầy đủ bản chất của CĐTS.
Tác giả cho rằng việc xác định CĐTS dựa trên hai yếu tố là hợp lý và chính xác Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm CĐTS sẽ được trình bày dựa trên phân tích của các nhà nghiên cứu trước đây.
“CĐTS trong CTCP là cổ đông sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần và không có khả năng tham gia vào các hoạt động kiểm soát công ty.”
1.2.2 Đặc điểm của cổ đông thiểu số
Nhà đầu tư trở thành cổ đông của CTCP khi sở hữu ít nhất một cổ phần Ngoài các đặc điểm chung của cổ đông phổ thông, cổ đông chiến lược còn có những đặc điểm riêng biệt.
Công ty cổ phần (CTCP) có số lượng cổ đông lớn nhờ vào khả năng huy động vốn đa dạng, cho phép phát hành nhiều loại cổ phần như cổ phiếu và trái phiếu để thu hút vốn từ công chúng Điều kiện sở hữu tối thiểu một cổ phần đã tạo cơ hội cho nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là những người có vốn nhỏ, tham gia vào môi trường kinh doanh năng động nhằm tìm kiếm lợi nhuận Do đó, việc CĐTS chiếm số lượng lớn trong CTCP là điều dễ hiểu.
Trong công ty cổ phần (CTCP), cổ đông thường là những nhà đầu tư nhỏ lẻ với nguồn vốn nhàn rỗi Đây là hình thức kinh doanh điển hình của công ty đối vốn, nơi các cổ đông trở thành đồng chủ sở hữu bằng cách góp vốn thông qua việc sở hữu ít nhất một cổ phần Do đó, việc trở thành cổ đông là mong muốn của nhiều nhà đầu tư.
17 Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật Doanh nghiệp – Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nhà xuất bản Trẻ, tr 251
18 Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2009), tlđd (12), tr 12
CTCP thu hút các nhà đầu tư nhờ vào tính dễ dàng trong việc đầu tư, không chỉ dành cho những nhà đầu tư lớn mà còn cho cả cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi Nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ lựa chọn góp vốn vào CTCP để sinh lời thay vì để tiền “đóng băng” Điều này tạo ra cơ hội cho nhiều người tham gia vào thị trường đầu tư, giúp họ tối ưu hóa lợi nhuận từ nguồn vốn của mình.
Sự cần thiết bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, đặc biệt là cổ đông chiến lược (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP), đang ngày càng được các quốc gia, bao gồm Việt Nam, chú trọng Các chính sách liên tục được điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và nâng cao vai trò của CĐTS trong CTCP Theo Báo cáo Doing Business 2017 của Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 2005, đã có 166 hành động cải cách liên quan đến quản trị doanh nghiệp tại 100 nền kinh tế trên toàn cầu.
Trịnh Thị Lành (2016) trong luận văn thạc sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra rằng từ năm 2013, có 54 nền kinh tế đã thực hiện 63 thay đổi pháp lý nhằm nâng cao sự bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong các công ty cổ phần Việc bảo vệ CĐTS không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia mà còn được thể hiện qua các quy định và Điều lệ của công ty.
Bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) là một vấn đề quan trọng, nhưng hiện tại chưa có khái niệm rõ ràng nào được quy định trong pháp luật Việt Nam Các nghiên cứu hiện có chủ yếu dựa trên sự suy luận và đúc kết của các tác giả, tập trung vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CĐTS trước sự lạm quyền của người quản lý và áp đảo từ cổ đông lớn Quan điểm chung cho rằng "bảo vệ CĐTS là bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ; hạn chế và ngăn chặn cổ đông lớn, người quản lý chiếm đoạt lợi ích hợp pháp của CĐTS." Dựa trên nền tảng này, quan điểm cá nhân của tác giả về bảo vệ CĐTS trong CTCP là "bảo vệ CĐTS là sự hạn chế việc lạm quyền của người quản lý và áp đảo của cổ đông lớn nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của CĐTS."
Từ quan điểm trên, tác giả nhận thấy cần phải bảo vệ CĐTS bởi vì:
Sự cần thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) xuất phát từ nguy cơ xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong công ty cổ phần (CTCP) CĐTS thường là những nhà đầu tư với phần vốn góp nhỏ, không có khả năng kiểm soát hoạt động của công ty, do đó họ dễ bị tổn thương trước các hành vi xâm phạm từ phía người quản lý và cổ đông đa số.
Theo tinh thần của pháp luật, mọi cổ đông đều có quyền được đối xử công bằng Do đó, việc bảo vệ cổ đông là cần thiết, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của cổ đông lớn.
Cổ đông lớn có sức mạnh vượt trội về vốn góp, nhưng điều này khiến cổ đông thiểu số (CĐTS) trở thành nhóm cần được bảo vệ Họ thường bị ảnh hưởng bởi những quyết định và chính sách có lợi cho cổ đông lớn, thông qua Hội đồng quản trị (HĐQT) Các cổ đông lớn có thể lạm dụng quyền lực để hạn chế quyền lợi của CĐTS, sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để tước đoạt quyền lợi hợp pháp của họ.
Bài viết của Lê Thị Xuân Huế tập trung vào vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong quản trị doanh nghiệp Tác giả đưa ra các kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cụ thể cho Việt Nam nhằm cải thiện quyền lợi của cổ đông thiểu số Việc đảm bảo quyền lợi cho nhóm cổ đông này là rất quan trọng để xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch và bền vững Các chính sách và quy định cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của doanh nghiệp tại Việt Nam.
22 Trịnh Thị Lành (2016), tlđd (20), tr 13
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số (CĐTS) trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Cần có các biện pháp triệt để để ngăn chặn sự bành trướng quyền lực của các cổ đông đa số, nhằm tránh những thiệt hại trực tiếp cho các CĐTS hiện hữu trong các giao dịch tư lợi.
CTCP là hình thức kinh doanh điển hình của công ty đối vốn, trong đó cổ đông góp vốn bằng cách mua cổ phần để trở thành đồng chủ sở hữu Đặc trưng của CTCP là sự tách bạch giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý, dẫn đến nguy cơ lạm quyền từ người quản lý, có thể xâm phạm quyền lợi hợp pháp của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số (CĐTS) Không phải lúc nào người quản lý cũng hành động vì lợi ích của tất cả cổ đông, và khi bị chi phối bởi cổ đông lớn, quyền lợi của CĐTS càng dễ bị bỏ quên Do đó, pháp luật cần chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích của CĐTS, đồng thời hạn chế lạm quyền từ người quản lý.
Hiện nay, việc bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) ngày càng được chú trọng, và đã đạt được những hiệu quả nhất định Mặc dù vẫn còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện, nhưng đây được xem là một bước tiến quan trọng của quốc gia trong việc bảo vệ quyền lợi của CĐTS Theo Báo cáo Doing Business 2018, Việt Nam xếp hạng 81/190 nền kinh tế về chỉ số bảo vệ CĐTS, tăng 6 bậc so với báo cáo năm 2017.
Sự cần thiết bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) xuất phát từ vai trò quan trọng của họ đối với công ty và nền kinh tế Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, mức độ bảo vệ CĐTS là một trong mười tiêu chí đánh giá môi trường kinh doanh toàn cầu Mặc dù là những nhà đầu tư nhỏ lẻ, CĐTS chiếm đa số trong công ty cổ phần (CTCP), và CTCP khó có thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào cổ đông đa số Việc chăm sóc quyền lợi của CĐTS và tạo dựng niềm tin sẽ thúc đẩy sự phát triển của CTCP Do đó, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của CĐTS chính là bảo vệ sự phát triển của CTCP.
Bên cạnh đó, khi quyền và lợi ích của CĐTS đƣợc đảm bảo sẽ tạo điều kiện
24 Trịnh Thị Lành (2016), tlđd (20), tr 14
25 Lê Thị Xuân Huế, tlđd (21), truy cập ngày 10/3/2020
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần là rất quan trọng, giúp họ thực hiện đầy đủ quyền lợi tương ứng với phần vốn góp và hạn chế sự chèn ép từ người quản lý và cổ đông lớn Điều này không chỉ tạo động lực cho nhà đầu tư bỏ vốn vào công ty mà còn giúp công ty thu hút nguồn vốn dồi dào, từ đó phát triển mạnh mẽ.
Mặc dù các nhà đầu tư thiểu số thường nắm giữ cổ phần nhỏ trong công ty, nhưng họ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Sự kết hợp của nhiều nhà đầu tư này có thể tạo ra sức mạnh đáng kể, góp phần vào việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số không chỉ mang lại lợi ích cho chính họ mà còn cho toàn bộ nền tảng kinh doanh.
Sự cần thiết bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) xuất phát từ ý thức tự bảo vệ còn hạn chế của họ Đa số CĐTS trong công ty cổ phần (CTCP) là những nhà đầu tư nhỏ lẻ và cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần xã hội khác nhau.
Các cổ đông thường đầu tư vào công ty với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, nhưng sự hiểu biết của họ về pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông lại rất khác nhau Nhiều cổ đông chỉ chú trọng vào vốn đầu tư và khả năng sinh lời mà không nhận thức được rằng các quy định pháp luật đang mang lại nhiều lợi ích cho họ Điều này gây khó khăn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, khi mà chính các cổ đông cũng không hiểu rõ về quyền lợi mà họ được hưởng.
Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Các quốc gia đang ngày càng chú trọng đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) Để đạt hiệu quả trong việc bảo vệ CĐTS, cần thiết lập cơ chế bảo vệ phù hợp Mặc dù mỗi quốc gia có đặc trưng riêng, nhưng nhìn chung, các phương thức bảo vệ CĐTS đều tương đồng và bao gồm ba phương thức chính: (i) Cơ chế tự vệ thông qua quyền của cổ đông, cho phép CĐTS có quyền tự bảo vệ mình trước cổ đông lớn; (ii) Cơ chế kiểm soát bên trong, nơi CĐTS được bảo vệ bởi các thành viên trong CTCP như HĐQT, Ban kiểm soát, và Giám đốc; (iii) Cơ chế kiểm soát bên ngoài, bảo vệ CĐTS thông qua các chủ thể bên ngoài như cơ chế hành chính và khởi kiện.
Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về việc thiết lập cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) thông qua bốn khía cạnh chính: (i) sử dụng công cụ pháp luật để bảo vệ CĐTS; (ii) áp dụng cơ chế tự điều chỉnh qua điều lệ công ty; (iii) thực hiện các quy tắc “mềm” nhằm bảo vệ quyền lợi của CĐTS; và (iv) triển khai cơ chế tự vệ cho CĐTS Mục tiêu của nghiên cứu này là giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ chế bảo vệ CĐTS trong CTCP tại Việt Nam.
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) là một nhiệm vụ quan trọng, và công cụ pháp luật được coi là phương tiện hiệu quả nhất Quyền lực của nhà nước được thể hiện qua các quy định pháp luật, nhằm đảm bảo quyền lợi của CĐTS Khi quyền và lợi ích của CĐTS được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật, chúng sẽ được nhà nước bảo vệ Ngược lại, nếu không được công nhận, quyền lợi của CĐTS dễ bị xâm phạm, đặc biệt là từ các cổ đông lớn và người quản lý công ty Hiện nay, quyền lợi của CĐTS đã được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp (LDN) 2014, bao gồm quyền ưu tiên mua cổ phần mới, quyền nhận cổ tức và quyền quyết định về cổ phần.
Luận văn của Mỹ Duyên (2018) chỉ ra rằng pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty niêm yết còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là quy định yêu cầu cổ đông phải sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông trong ít nhất 06 tháng để có quyền đề cử người vào HĐQT, triệu tập ĐHĐCĐ, và yêu cầu hủy nghị quyết của ĐHĐCĐ Điều này gây khó khăn cho các cổ đông nhỏ lẻ, trong khi CTCP là loại hình công ty có nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia Thời hạn sở hữu cổ phần liên tục 06 tháng cũng không cần thiết và cản trở quyền lợi của cổ đông thiểu số Thêm vào đó, quy định yêu cầu cổ đông phải sở hữu ít nhất 1% số cổ phần liên tục trong 06 tháng để khởi kiện người quản lý cũng chưa thực sự phù hợp Mặc dù vậy, LDN 2014 đã thể hiện những tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong CTCP.
Pháp luật chỉ trao quyền và lợi ích hợp pháp cho cổ đông thiểu số (CĐTS) là chưa đủ; việc thực thi pháp luật nghiêm minh là điều cần thiết Lý luận và thực tiễn phải đồng hành để đạt hiệu quả cao và thể hiện tư duy của nhà làm luật trong chính sách bảo vệ CĐTS PGS.TS Bùi Xuân Hải nhấn mạnh rằng bên cạnh việc ban hành quy định pháp luật và thiết lập nguyên tắc quản trị nội bộ doanh nghiệp, tổ chức thực thi pháp luật cũng rất quan trọng để bảo vệ CĐTS Nếu pháp luật chỉ tồn tại trên giấy mà không được thực hiện trong thực tiễn, thì nó coi như không tồn tại.
Pháp luật quy định bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần (CTCP) và thực thi nghiêm minh các quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển mô hình CTCP Điều này không chỉ thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
Thứ hai, bảo vệ CĐTS trong CTCP thông qua cơ chế tự điều chỉnh – Điều lệ
Bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) không chỉ phụ thuộc vào pháp luật và việc thực thi nghiêm minh mà còn được củng cố qua Điều lệ công ty Điều lệ đóng vai trò là khung pháp lý quan trọng, ghi nhận các nội dung thiết yếu về cơ cấu tổ chức, quản trị và hoạt động của công ty Việc xây dựng Điều lệ với nội dung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CĐTS, phù hợp với quy định của pháp luật, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ CĐTS Khi quyền lợi của CĐTS được ghi nhận trong Điều lệ, điều này không chỉ thể hiện sự tuân thủ của các chủ thể trong công ty mà còn được pháp luật gián tiếp bảo vệ.
Trong thực tế, các công ty cổ phần (CTCP) thường không xem Điều lệ như một khế ước giữa các bên mà chỉ coi đó là điều kiện thành lập công ty Điều này dẫn đến việc CTCP không chú trọng ghi nhận các nội dung quan trọng trong Điều lệ Hơn nữa, các cổ đông lớn và quản lý công ty thường không muốn ghi nhận quyền lợi của cổ đông thiểu số, làm cho việc thiết lập này trở nên khó khăn Việc ghi nhận quyền lợi sẽ tạo ra trách nhiệm cho cổ đông lớn và quản lý đối với cổ đông thiểu số Đồng thời, các cổ đông thiểu số, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, thường không nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong Điều lệ công ty.
Điều lệ công ty đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số (CĐTS) và hạn chế sự chèn ép từ cổ đông lớn cũng như ban quản lý Để phát huy hiệu quả, Điều lệ cần được xây dựng một cách cẩn thận, chứa đựng các nội dung bảo vệ quyền lợi của CĐTS Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo vệ này phụ thuộc vào cách nhìn nhận và mức độ quan tâm đến vị trí của Điều lệ trong công ty Chỉ khi Điều lệ được coi trọng, nó mới thực sự trở thành công cụ bảo vệ quyền lợi cho CĐTS.
Bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) tại Việt Nam hiện nay được thực hiện thông qua các quy tắc “mềm”, bao gồm quy tắc quản trị công ty, quy tắc đạo đức kinh doanh và quy tắc đạo đức nghề nghiệp Những quy tắc này yêu cầu các chủ thể trong công ty phải tuân thủ nhằm đảm bảo quyền lợi và bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số.
Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014 của Trường Thành Đức (2017) trong cuốn "Kế sách Pháp lý của Doanh nghiệp – Tái bản có chỉnh sửa" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr 160) cung cấp những phân tích sâu sắc về các quy định và chính sách trong luật doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về khung pháp lý hiện hành.
36 Danh Phạm Mỹ Duyên (2018), tlđd (31), tr 30
37 Danh Phạm Mỹ Duyên (2018), tlđd (31), tr 29
38 Danh Phạm Mỹ Duyên (2018), tlđd (31), tr 30
Theo Bùi Xuân Hải (2011), các quy tắc "mềm" để bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) vẫn chưa được thiết lập Thay vào đó, chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật, như Luật Doanh nghiệp năm 2014, được ban hành với những điều khoản nhằm bảo vệ quyền lợi của CĐTS.
Bộ Nguyên tắc OECD có vai trò quan trọng đối với các quốc gia, đặc biệt là Việt Nam, không chỉ là khung pháp lý bắt buộc mà còn là các nguyên tắc khuyến nghị Các quốc gia, cả thành viên và không thành viên, có thể tham khảo và áp dụng linh hoạt Nội dung bảo vệ cổ đông trong Bộ nguyên tắc được thể hiện qua 4 nguyên tắc chính: quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính, đối xử công bằng giữa các cổ đông, công khai và minh bạch, và trách nhiệm của Hội đồng Quản trị Mặc dù tập trung vào quyền lợi của cổ đông, Bộ nguyên tắc này còn cung cấp cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp xây dựng quy tắc “mềm” nhằm bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và hoạt động quản trị của từng công ty.
Quy tắc “mềm” đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP), không chỉ dựa vào các quy định pháp luật và điều lệ công ty mà còn cần sự kết hợp với các quy tắc “mềm” Sự kết hợp này tạo ra một thể chế cứng rắn nhưng cũng linh hoạt, giúp bảo vệ CĐTS hiệu quả hơn, nhất là khi đối mặt với nguy cơ xâm phạm quyền lợi từ cổ đông lớn và người quản lý Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm xây dựng quy tắc “mềm” của nhiều quốc gia và tổ chức tiên tiến, đặc biệt là bộ nguyên tắc OECD, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của CĐTS trong CTCP.
Bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) thông qua cơ chế tự bảo vệ là rất quan trọng Quyền của cổ đông là điều kiện tiên quyết để bảo vệ lợi ích của họ, cho phép họ sử dụng các quyền này để tự bảo vệ mình Ngoài ra, các yếu tố như cơ chế kiểm soát nội bộ và các biện pháp đảm bảo thực thi pháp luật cũng đóng vai trò hỗ trợ trong việc thực hiện quyền của cổ đông CĐTS không chỉ có quyền giống như cổ đông phổ thông (CĐPT) mà còn có những quyền đặc thù để bảo vệ mình trước sự chèn ép của cổ đông lớn và lạm quyền của người quản lý Việc hiểu rõ các quyền pháp lý là cần thiết để CĐTS có thể tận dụng tối đa các quy định nhằm tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
41 Quách Thúy Quỳnh (2010), “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ22 2.1 Bảo vệ nhóm quyền về tài sản của cổ đông thiểu số
Quyền đƣợc chi trả cổ tức
Quyền nhận cổ tức là một quyền lợi thiết yếu đối với cổ đông, đặc biệt là cổ đông lớn Cổ đông lớn có quyền nhận cổ tức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, nhưng chỉ sau khi công ty đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính Hình thức chi trả cổ tức có thể bao gồm tiền mặt, cổ phần hoặc tài sản khác theo quy định trong Điều lệ công ty Việc mở rộng các hình thức chi trả cổ tức theo quy định pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông lớn trong việc nhận lợi ích từ khoản đầu tư của họ.
44 Bùi Xuân Hải (2011), tlđd (11), tr 207
Bài viết của Huỳnh Thị Trúc Linh tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 Nội dung bài viết cung cấp thông tin chi tiết về các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý doanh nghiệp, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của cổ đông thiểu số trong quyết định kinh doanh Để tìm hiểu thêm, bạn có thể truy cập vào bài viết tại địa chỉ: http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=8555.
46 Huỳnh Thị Trúc Linh, tlđd (45), truy cập ngày 20/3/2020
48 Khoản 3 Điều 132 LDN 2014 người quản lý thực hiện những hoạt động tư lợi, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của CĐTS.
Trong giai đoạn 2012 - 2015, CTCP Tập đoàn F.I.T (FIT) đã liên tục chia cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu mà không chi trả tiền mặt, trong khi doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng trưởng Tuy nhiên, tình hình tài chính của FIT đã suy giảm, đặc biệt là vào năm 2018, với giá cổ phiếu hiện dao động quanh mức 3.400 đồng, mức thấp nhất kể từ khi niêm yết Chủ tịch HĐQT của một công ty niêm yết nhận định rằng việc trả cổ tức bằng cổ phiếu trở thành xu hướng phổ biến nhằm giữ lại nguồn tiền mặt cho phát triển dự án Mặc dù vậy, cổ đông thường chỉ ưa chuộng phương thức này trong thị trường giá lên, trong khi trong thị trường giá xuống, nó có thể gây tâm lý tiêu cực và ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi Cổ đông thường mong muốn nhận cổ tức bằng tiền mặt hơn, vì cổ tức bằng cổ phiếu chỉ là hình thức tăng vốn điều lệ mà không mang lại giá trị thực cho họ Ở một số công ty, việc này còn được coi là cách để lãnh đạo che giấu sự thiếu hụt dòng tiền hoặc phục vụ lợi ích của một nhóm cổ đông.
CTCP lợi dụng quy định pháp luật cho phép cổ đông nhận cổ tức bằng tài sản khác theo Điều lệ công ty, để chia cổ tức bằng các dự án của công ty Phương pháp này không chỉ giúp CTCP thực hiện nghĩa vụ chia cổ tức hợp pháp mà còn giải quyết các dự án tồn đọng hoặc không có giá trị cao trên thị trường.
Một số CTCP còn chậm chi trả cổ tức cho cổ đông Khoản 4 Điều 132 LDN
Theo quy định năm 2014, "Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày kết thúc họp ĐHĐCĐ thường niên", nhưng thực tế nhiều CTCP không thực hiện đúng thời hạn này Ví dụ, vào tháng 4/2018, CTCP Sông Đà 6 (SD6) mới chốt quyền chi trả cổ tức tiền mặt đợt 2 cho năm 2015.
Vào đầu năm 2016, công ty đã thông báo trả cổ tức cho cổ đông với mức 1.000 đồng/cổ phiếu Tuy nhiên, thời hạn thanh toán đã được điều chỉnh và dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 26/4/2019.
Cổ tức bằng cổ phiếu là một phương thức phân phối lợi nhuận cho nhà đầu tư, tuy nhiên, không phải lúc nào nhà đầu tư cũng cảm thấy hài lòng với hình thức này Trong bối cảnh thị trường hiện nay, việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu có thể mang lại lợi ích lâu dài, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Nhà đầu tư cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu có cổ tức, để đảm bảo rằng họ đang đưa ra lựa chọn đúng đắn cho tương lai tài chính của mình.
50 Nguyên Minh, tlđd (49), truy cập ngày 25/3/2020
Tôi không biết!
Công ty Cổ phần Kỹ thuật điện Sông Đà (SDE) đã trải qua 14 lần điều chỉnh thời gian thanh toán cổ tức cho cổ đông, với số tiền 1.100 đồng/cổ phiếu được công bố từ tháng 11/2013 Mặc dù thời gian thanh toán lần thứ 14 được ấn định vào tháng 6/2020, nhưng khả năng SDE thực hiện đúng hẹn vẫn là một dấu hỏi lớn, khi mà tiền vẫn chưa về tay cổ đông sau 4 lần điều chỉnh.
Việc chậm chi trả cổ tức có thể chấp nhận được hơn là không chi trả cổ tức, như trường hợp của CTCP Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư (HNX: BII) khi không chia cổ tức trong nhiều năm do không đạt kế hoạch Ngược lại, CTCP Công nghệ Mạng và Truyền thông (HOSE: CMT) cũng không chia cổ tức từ năm 2013 nhằm tích lũy vốn cho các dự án tương lai, mặc dù lợi nhuận sau thuế trung bình chỉ khoảng 8 tỷ đồng mỗi năm Nhiều lý do như tích lũy vốn hoặc kinh doanh không lợi nhuận dẫn đến việc không chi trả cổ tức, nhưng điều này có thể tạo ra tâm lý bức bối cho các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi và khả năng tồn tại của công ty trong môi trường kinh doanh.
Hiện nay, một vấn đề phổ biến là việc thành lập công ty con để “rút ruột” công ty mẹ, khi cổ đông lớn sử dụng vốn của công ty mẹ để thu lợi nhuận Theo quy định, công ty mẹ phải sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty con, trong khi phần còn lại thuộc về cổ đông lớn hoặc người thân của họ Cổ đông lớn có thể chuyển lợi nhuận từ công ty mẹ sang công ty con qua nhiều hình thức tinh vi như bán hàng hóa với giá rẻ, cho vay tiền, hoặc chuyển giao các mảng kinh doanh có lợi nhuận cao cho công ty con, tạo điều kiện cho công ty con lợi dụng thương hiệu để tiêu thụ sản phẩm.
56 cổ đông lớn có khả năng nhận cổ tức từ cả công ty mẹ (nếu có lợi nhuận) và công ty con, trong khi quyền lợi của các cổ đông khác lại không được đảm bảo.
Doanh nghiệp hiện nay đang gặp phải tình trạng chậm trả cổ tức cho cổ đông, điều này gây ra không ít lo ngại cho các nhà đầu tư Để khắc phục tình trạng này, cần thiết phải có những biện pháp mạnh mẽ hơn nhằm đảm bảo quyền lợi của cổ đông Việc thực hiện các quy định chặt chẽ hơn có thể giúp cải thiện tình hình, đồng thời tạo ra sự tin tưởng trong cộng đồng đầu tư.
Tôi không biết!
54 Bùi Mai Quỳnh (2018), tlđd (27), tr 16
Cổ đông lớn có thể chuyển lợi nhuận sang công ty con, gây khó khăn cho sự phát triển của công ty mẹ và làm giảm lợi nhuận của cổ đông nhỏ Khi công ty gặp khó khăn, nghĩa vụ tài chính sẽ đè nặng lên cổ đông nhỏ, khiến họ phải bán tháo cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu của công ty mẹ và làm xáo trộn thị trường.
Quyền định đoạt cổ phần
Cổ đông thiểu số (CĐTS) có quyền nhận tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản và quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần Tuy nhiên, thực tế cho thấy các quyền này chưa được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Cổ đông thiểu số (CĐTS) có quyền nhận một phần tài sản khi công ty cổ phần (CTCP) giải thể hoặc phá sản, tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ Điều này thể hiện sự bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong môi trường kinh doanh rủi ro Tuy nhiên, quy định hiện hành trong Khoản 6 Điều 202 LDN 2014 và Khoản 2 Điều 54 Luật Phá sản 2014 chỉ nêu rõ việc chia tài sản sau khi thanh toán nợ mà không quy định trình tự cụ thể giữa các cổ đông Thiếu sót này gây thiệt thòi cho cổ đông sở hữu ít vốn khi phải đối mặt với cổ đông lớn và người nắm quyền kiểm soát công ty.
Thứ hai, CĐTS có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Theo LDN 2014 tại
Khoản 1 Điều 129 quy định: “Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình.” Với quy định trên, nhà làm luật đã bảo vệ tốt quyền lợi của CĐTS khi tạo điều kiện cho nhóm cổ đông này đƣợc rút vốn khỏi môi trường kinh doanh không còn phù hợp Tuy nhiên, thời hạn mà công ty mua lại cổ phần của CĐTS là 90 ngày kể từ ngày nhận đƣợc yêu cầu là chƣa thực sự hợp lý 59 LDN 2014 quy định thời hạn mua lại cổ phần nhƣ vậy là quá dài dẫn đến quyền và lợi ích của CĐTS có thể bị ảnh hưởng Đơn cử trường hợp CĐTS có yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình khi có ý định đầu tƣ vốn vào lĩnh vực khác thì phải mất tối đa 90 ngày để có thể rút vốn ra khỏi công ty.
Khoản 2 của điều luật quy định rằng nếu các bên không đạt được thỏa thuận về giá, họ có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để xác định giá trị Trong môi trường kinh doanh, nguyên tắc "thuận mua vừa bán" rất quan trọng; do đó, khi không thể thỏa thuận về giá, việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ tổ chức thẩm định là cần thiết.
Theo Khoản 2 Điều 129 LDN 2014, việc định giá chuyên nghiệp là cần thiết, nhưng luật chưa quy định rõ chi phí định giá do CĐTS hay CTCP thanh toán Điều này tạo cơ hội cho công ty yêu cầu CĐTS chịu một phần hoặc toàn bộ chi phí thẩm định, dẫn đến việc quyền yêu cầu mua lại cổ phần của CĐTS bị hạn chế, đặc biệt khi họ có nguồn vốn hạn chế Ngay cả khi công ty thanh toán chi phí thẩm định, quyền lợi của CĐTS vẫn không được đảm bảo, vì tài sản của công ty bao gồm cổ phần của họ sẽ bị ảnh hưởng khi công ty chi trả chi phí này.
Sau khi nghiên cứu về quyền định đoạt cổ phần của cổ đông thiểu số (CĐTS), tác giả nhận thấy rằng các quy định pháp luật hiện hành còn nhiều hạn chế, gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong thực tiễn Để cải thiện tình hình, tác giả đề xuất một số kiến nghị: Thứ nhất, cần quy định rõ trình tự thanh toán giữa các cổ đông trong công ty cổ phần (CTCP) khi công ty giải thể hoặc phá sản, nhằm tránh tình trạng ưu tiên thanh toán cho các cổ đông lớn, ảnh hưởng đến quyền lợi của CĐTS Thứ hai, cần rút ngắn thời hạn công ty mua lại cổ phần của CĐTS theo Khoản 2 Điều 129 LDN 2014, vì thời gian 90 ngày hiện tại là quá dài và không cần thiết Cuối cùng, cần xác định rõ chủ thể chịu chi phí khi có yêu cầu tổ chức thẩm định giá, đồng thời đảm bảo quyền lợi của các cổ đông hiện hữu trong CTCP, tránh ảnh hưởng tiêu cực đến nhóm cổ đông khác.
Bảo vệ nhóm quyền về quản trị công ty của cổ đông thiểu số
2.2.1 Quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Quyền đề cử người vào Hội đồng Quản trị (HĐQT) và Ban Kiểm soát (BKS) của Công ty Cổ phần (CTCP) là quyền quan trọng mà cổ đông thường xuyên sở hữu Để thực hiện quyền này, cổ đông hoặc nhóm cổ đông cần nắm giữ ít nhất 10% tổng số cổ phần phát hành trong thời gian liên tục tối thiểu 6 tháng, hoặc tỷ lệ nhỏ hơn nếu được quy định trong Điều lệ công ty Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ sở hữu và thời gian nắm giữ cổ phần đang gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn, vì mặc dù pháp luật cho phép tỷ lệ nhỏ hơn, nhưng các CTCP thường có xu hướng lựa chọn các điều kiện nghiêm ngặt hơn.
Điểm a Khoản 2 Điều 114 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định tỷ lệ cổ phần tối thiểu để đề cử thành viên HĐQT và BKS do pháp luật xác định, thay vì quy định một tỷ lệ thấp hơn Cụ thể, theo Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phát hành trong ít nhất 06 tháng để có quyền đề cử Tương tự, tại Điều lệ CTCP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova (Novaland), cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần trong thời gian liên tục 06 tháng trở lên có quyền đề cử thành viên HĐQT, với quy định cụ thể về số lượng ứng cử viên tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần nắm giữ Việc quy định này nhằm tránh phức tạp nội bộ và hạn chế quyền lợi của các cổ đông, bao gồm cả cổ đông thiểu số.
Cổ đông chiến lược (CĐTS) thường là những nhà đầu tư vì mục đích lợi nhuận, do đó họ thường xuyên thay đổi môi trường góp vốn để tối ưu hóa lợi nhuận Việc pháp luật yêu cầu CĐTS phải nắm giữ tỷ lệ cổ phần liên tục ít nhất 06 tháng là không phù hợp và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền của họ Hơn nữa, CĐTS cũng là cổ đông của công ty cổ phần (CTCP), vì vậy họ cần được thực hiện quyền của mình ngay lập tức mà không bị ràng buộc về thời gian sở hữu cổ phần.
Quy định hiện tại về tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông (CPPT) và thời gian nắm giữ cổ phần của cổ đông thiểu số (CĐTS) đang bộc lộ một số bất cập, hạn chế quyền đề cử vào Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) Cần điều chỉnh tỷ lệ sở hữu CPPT từ 10% xuống 5% để CĐTS có thể thực hiện quyền đề cử một cách hiệu quả hơn, đồng thời tránh việc lợi dụng tỷ lệ này gây rối trong hoạt động công ty Việc giữ tỷ lệ 5% không chỉ giảm thiểu phức tạp nội bộ mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho CĐTS trong việc tham gia vào quá trình quản lý công ty.
61 “Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín (Sacombank)”, https://www.sacombank.com.vn/company/Documents/DieuLe/Dieu%20le%202019.pdf , truy cập ngày 10/4/2020
62 “Điều lệ CTCP tập đoàn đầu tƣ đại ốc Nova (Novaland)”, https://www.novaland.com.vn/Data/Sites/1/media/quan-h%E1%BB%87-%C4%91%E1%BA%A7u- t
%C6%B0/Th%C3%B4ng-tin-t%E1%BA%ADp-%C4%91o%C3%A0n/dieu-le-moi.pdf , truy cập ngày 10/4/2020
29 không thực sự cần thiết, vì dù là cổ đông cũ hay mới, trên hay dưới 06 tháng CĐTS vẫn có quyền thực hiện quyền đề cử.
2.2.2 Quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông
Theo Khoản 2 Điều 114 LDN 2014, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần trở lên có quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ sau 06 tháng sở hữu liên tục Tuy nhiên, yêu cầu này đặt ra thách thức cho cổ đông nhỏ, khi việc tập hợp lại không đủ đạt tỷ lệ 10% Ví dụ, tại Ngân hàng Vietcombank, sau khi phát hành cổ phiếu cho các cổ đông ngoại, tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước vẫn chiếm 74,8%, cho thấy sự khó khăn trong việc thực hiện quyền của cổ đông nhỏ.
2 của VCB với tỷ lệ 15%, GIC chiếm 2.55% còn các cổ đông khác chỉ chiếm
Tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà nước đạt 80,99%, trong khi tỷ lệ sở hữu nước ngoài là 17,73% Trong đó, KEB Hana Bank, Co., Ltd nắm giữ 15% cổ phần, còn các cổ đông khác chỉ sở hữu 1,28%.
Quy định của LDN 2014 về tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông (CPPT) và thời hạn sở hữu đã hạn chế quyền triệu tập của cổ đông thiểu số (CĐTS) Việc giảm tỷ lệ sở hữu và bãi bỏ thời hạn sở hữu sẽ giúp CĐTS thực hiện quyền lợi của mình hiệu quả hơn; theo tác giả, tỷ lệ sở hữu 5% là hợp lý Mặc dù việc đạt được tỷ lệ 5% không dễ dàng, nhưng nếu CĐTS không thể thực hiện quyền riêng lẻ, khả năng cao sẽ có thể thực hiện khi có sự liên kết giữa các CĐTS.
Mặc dù CĐTS đã đáp ứng điều kiện sở hữu 10% tổng số CPPT liên tục ít nhất 06 tháng, quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ của họ vẫn chưa được đảm bảo Điều này là do Khoản 3 Điều 149 LDN 2014 quy định rằng chủ thể có quyền triệu tập họp bất thường ĐHĐCĐ theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông là HĐQT.
Việc HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ có thực sự khách quan hay không? Trong trường hợp cổ đông thiểu số yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ do HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của họ, khả năng thực hiện quyền yêu cầu này sẽ gặp nhiều khó khăn.
63 Quang Thắng, “Nhà nước giảm sở hữu Vietcombank xuống dưới 75%”, https://zingnews.vn/nha-nuoc- giam-so-huu-vietcombank-xuong-duoi-75-post907913.html , truy cập ngày 12/4/2020
Việc triệu tập Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) hiện tại gặp khó khăn vì không ai muốn triệu tập khi có thể gây bất lợi cho mình Do đó, cần có quy định pháp luật cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 10% cổ phần phát hành trong ít nhất 6 tháng có quyền yêu cầu triệu tập họp bất thường để đảm bảo tính khách quan Dù Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm triệu tập họp, nếu không thực hiện, Chủ tịch và các thành viên HĐQT sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại cho công ty Tuy nhiên, biện pháp này chỉ khắc phục hậu quả mà không đảm bảo quyền triệu tập ĐHĐCĐ từ đầu cho cổ đông thiểu số.
2.2.3 Quyền tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
2.2.3.1 Quyền tham dự và phát biểu tại Đại hội đồng cổ đông
Theo Khoản 1 Điều 114 LDN 2014, cổ đông thiểu số (CĐTS) có quyền tham dự và phát biểu tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), đây là một trong những quyền cơ bản của họ Tuy nhiên, thực tế cho thấy quyền này chưa được đảm bảo thực hiện, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của CĐTS trong công ty cổ phần (CTCP).
Quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là rất quan trọng đối với cổ đông nhỏ (CĐTS), vì nó cho phép họ tiếp cận và trao đổi về các vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Nếu quyền dự họp bị hạn chế, CĐTS sẽ mất niềm tin vào quy định pháp luật và quản trị công ty, dẫn đến việc nhà đầu tư không còn hứng thú rót vốn vào công ty cổ phần (CTCP) khi quyền lợi của họ không được đảm bảo Hệ quả là dòng tiền nhàn rỗi có xu hướng "đóng băng", đe dọa sự tồn tại của CTCP và ảnh hưởng tiêu cực đến sự năng động của nền kinh tế.
Trong thực tế, quyền tham gia Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) của cổ đông thiểu số tại một số công ty cổ phần (CTCP) không được đảm bảo do sự hạn chế từ nhà điều hành và cổ đông lớn Nhiều CTCP yêu cầu cổ đông phải sở hữu tỷ lệ cổ phần tối thiểu mới được tham gia ĐHĐCĐ, như PVFC Land yêu cầu sở hữu từ 0,1% vốn điều lệ (khoảng 500 triệu đồng) và CTCP Chế biến Xuất khẩu Thủy sản Minh Hải yêu cầu tối thiểu 5.000 cổ phần Ngoài ra, một số CTCP không gửi thông báo hoặc gửi thông báo không đúng hạn, gây khó khăn cho cổ đông trong việc tham gia.
Cổ đông nhỏ tại các công ty cổ phần (CTCP) hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền dự họp Đại hội cổ đông Ví dụ, CTCP Cao su Sao Vàng (Hà Nội) đã bị phạt 85 triệu đồng do không gửi thông báo mời họp đúng thời hạn đến một số cổ đông có quyền dự họp trong Đại hội cổ đông thường niên 2019 Dù pháp luật quy định mức xử phạt từ 70 triệu đến 100 triệu đồng cho hành vi vi phạm này, nhưng nhiều CTCP vẫn “phớt lờ” quy định và gây khó khăn cho cổ đông nhỏ trong việc thực hiện quyền của họ.
Quyền phát biểu tại ĐHĐCĐ là một yếu tố quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông lớn Qua ĐHĐCĐ, cổ đông có cơ hội bày tỏ ý kiến và thể hiện tiếng nói của mình trong doanh nghiệp Tuy nhiên, nhiều công ty cổ phần vẫn vi phạm quyền này bằng cách hạn chế chất vấn hoặc bỏ qua bước chất vấn Ví dụ, tại ngân hàng Sacombank, ban điều hành đã rút ngắn thời gian chất vấn và yêu cầu cổ đông gửi câu hỏi bằng văn bản Hơn nữa, quyền phát biểu cũng bị hạn chế do nhiều cổ đông không nhận thức được quyền lợi của mình hoặc chỉ tập trung vào kết quả kinh doanh và phân chia lợi nhuận.
Bảo vệ nhóm quyền mang tính chất khắc phục của cổ đông thiểu số
2.3.1 Quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông
Quyết định của ĐHĐCĐ trong CTCP thường dựa trên sự đồng thuận cao của cổ đông, nhưng có thể bị ảnh hưởng bởi cổ đông chiếm đa số hoặc sự lạm quyền của nhà quản lý Thực tế cho thấy nhiều CTCP vẫn gặp sai phạm trong quá trình thông qua nghị quyết ĐHĐCĐ Để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, LDN 2014 quy định rằng trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận biên bản họp ĐHĐCĐ, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần trở lên có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét và hủy bỏ nghị quyết nếu có sai phạm.
Biểu quyết từ xa đã được triển khai, tuy nhiên việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn Quyền đã được trao cho các cá nhân, nhưng thực tế cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ trong biểu quyết từ xa không hề đơn giản Cần có những cải tiến và giải pháp để tối ưu hóa quy trình này nhằm nâng cao tính hiệu quả và minh bạch trong các quyết định.
73 Đinh Thị Thúy Hồng (2009), Cơ chế giám sát hoạt động trong công ty cổ phần theo luật
Doanh nghiệp được thành lập vào năm 2005, theo khóa luận cử nhân Luật tại Trường Đại học Luật TP.HCM Nội dung có thể bao gồm nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong những trường hợp theo quy định của pháp luật.
Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014) trao quyền cho cổ đông thiểu số (CĐTS) yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), nhưng thực tế việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều hạn chế Quyền đề cử thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) cũng như quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ được quy định tại Khoản 2 Điều 114 LDN 2014, nhưng yêu cầu tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% của cổ đông hoặc nhóm cổ đông đã tạo ra rào cản cho việc thực hiện quyền của CĐTS.
Tỷ lệ 5% để yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy nghị quyết của ĐHĐCĐ là hợp lý, tuy nhiên việc yêu cầu cổ đông nắm giữ cổ phần tối thiểu 06 tháng là không cần thiết, vì mọi nhà đầu tư đều có quyền thực hiện quyền lợi của mình ngay khi trở thành cổ đông Quyền yêu cầu hủy nghị quyết được coi là biện pháp khắc phục cho cổ đông thiệt hại, nhưng thời hạn 90 ngày theo LDN 2014 là quá dài, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông Ví dụ, nếu nghị quyết được thông qua vào 15/4/2009 và cổ đông yêu cầu hủy vào 25/6/2009, việc xử lý kéo dài có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho cả cổ đông và công ty Do đó, cần rút ngắn thời gian yêu cầu hủy nghị quyết để bảo vệ quyền lợi cổ đông một cách kịp thời và hiệu quả.
2.3.2 Quyền khởi kiện người quản lý công ty
Cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, đồng thời cũng có quyền khởi kiện người quản lý công ty, quyền này được công nhận ở nhiều quốc gia Một ví dụ điển hình là điều 994 của Đạo luật Công ty 2006.
Cổ đông tại Vương quốc Anh có quyền khởi kiện người quản lý công ty lên Tòa án nếu họ cho rằng việc điều hành gây tổn hại đến lợi ích của họ Tương tự, theo mục 216 của Đạo luật Công ty Singapore, bất kỳ cổ đông nào cũng có thể nộp đơn lên Tòa án khi cho rằng Giám đốc đang có hành vi áp bức hoặc coi nhẹ lợi ích của họ Tại Việt Nam, quyền này cũng được quy định trong Luật Doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 161 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông trong thời hạn 06 tháng có quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc trong một số trường hợp nhất định Tuy nhiên, quy định này đặt ra câu hỏi về tính hợp lý khi yêu cầu thời hạn nắm giữ cổ phần, vì cổ đông nắm giữ dưới hoặc trên 1% trong thời gian 06 tháng sẽ không có quyền khởi kiện Điều này có thể dẫn đến sự hiểu lầm trong thực tiễn Tác giả cho rằng việc quy định thời hạn nắm giữ cổ phần là không cần thiết, vì quyền khởi kiện nên được thực hiện ngay khi có dấu hiệu xâm phạm quyền lợi.
Pháp luật ghi nhận quyền khởi kiện người quản lý với hai mục đích chính: phục hồi quyền lợi cho cổ đông bị mất do hành vi vi phạm của người quản lý và tạo cơ chế răn đe hiệu quả đối với họ Tại Việt Nam, nhiều cổ đông đã khởi kiện người quản lý để yêu cầu bồi thường khi nhận thấy họ không thực hiện đúng nghĩa vụ Ví dụ, cổ đông CTCP T Quảng Trị đã kiện ông Võ Văn T (TGĐ) vì cho rằng ông này gây thiệt hại khi thành lập công ty cạnh tranh nhằm chuyển lợi nhuận Tuy nhiên, khả năng khởi kiện ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, với chỉ số dễ dàng khởi kiện đạt 2/10 theo báo cáo năm 2018 của WB.
76 “Companies Act 2006”, http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/contents , truy cập ngày 20/4/2020
77 “Companies Act (Chapter 50)”, https://sso.agc.gov.sg/Act/CoA1967?ValidDate 181008 , truy cập ngày 20/4/2020
79 Bùi Xuân Hải (2011), tlđd (11), tr 234-235
80 Bùi Trang, Từ vụ Món Huế, nhìn về việc khởi kiện người quản lý doanh nghiệp tại Việt
Nam, https://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/tu-vu-mon-hue-nhin-ve-viec-khoi-kien-nguoi-quan-ly- doanh- nghiep-tai-viet-nam-302107.html , truy cập ngày 22/4/2020
81 World Bank (2018), Doing Business 2018 – Reforming to Create Jobs – Economy Profile
Vietnam, 15th Edition, World Bank Group, P 43
Việc khởi kiện nhân danh công ty tại Việt Nam vẫn chưa được ghi nhận rõ ràng trong pháp luật, ngoại trừ LDN 2014 Khởi kiện “phái sinh” gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi quản lý đến công ty, khiến cổ đông thiệt hại chỉ gián tiếp và khó có thể mong đợi doanh nghiệp tự khởi kiện người quản lý Quyền khởi kiện của cổ đông cũng bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như quy trình phức tạp, thời gian kéo dài, và sự thiếu quen thuộc với kiện tụng Thêm vào đó, khả năng thi hành án sau quyết định của Tòa án còn chậm trễ, trong khi cổ đông thiệt hại thường ít hơn và ngại kiện tụng Cuối cùng, chi phí khởi kiện cũng là một rào cản lớn đối với việc thực hiện kiện tụng.
Khi khởi kiện người quản lý công ty, cổ đông khởi kiện cần cung cấp tài liệu và chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm gây thiệt hại Tuy nhiên, với tỷ lệ vốn nhỏ, cổ đông thiểu số (CĐTS) thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, chủ yếu thông qua các kênh truyền thông, báo cáo định kỳ hoặc họp ĐHĐCĐ bất thường Hơn nữa, trong một số công ty cổ phần, CĐTS có thể bị chèn ép bởi các cổ đông lớn hoặc người quản lý, làm cho việc thu thập tài liệu và chứng cứ trở nên khó khăn hơn Thiếu tài liệu và chứng cứ sẽ khiến CĐTS khó khăn trong việc chứng minh hành vi vi phạm và yêu cầu bồi thường.
Hiện nay, vi phạm nghĩa vụ quản lý công ty không chỉ xảy ra ở HĐQT, GĐ hay TGĐ mà còn có sự liên kết với nhiều cá nhân khác, dẫn đến việc cần thiết phải mở rộng quy định pháp luật về khởi kiện trách nhiệm cá nhân và liên đới đối với các thành viên này Quyền khởi kiện của cổ đông nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông thường xuyên gặp nhiều hạn chế trong thực tiễn Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình thực hiện quyền của cổ đông trong công ty.
Việc quy định thời hạn nắm giữ cổ phần phổ thông (CPPT) “trong thời hạn 06 tháng” để thực hiện quyền khởi kiện là không cần thiết, vì quyền này mang tính khắc phục và cần được thực hiện kịp thời Nếu yêu cầu thời gian nắm giữ cổ phần, hậu quả từ việc xâm phạm sẽ trở nên nghiêm trọng hơn Hơn nữa, pháp luật hiện tại chỉ cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), Giám đốc (GĐ) hoặc Tổng Giám đốc (TGĐ) là chưa đủ, vì vi phạm quyền thường liên quan đến sự câu kết giữa các cá nhân Do đó, tác giả đề xuất sửa đổi Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp (LDN).
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ tối thiểu 1% số cổ phần phát hành có quyền khởi kiện trách nhiệm cá nhân và liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong những trường hợp nhất định.
Việc thu thập tài liệu và chứng cứ khi cổ đông thiểu số (CĐTS) khởi kiện hiện vẫn còn nhiều hạn chế, gây khó khăn trong việc chứng minh hành vi vi phạm và thiệt hại Do đó, quy định mới cho phép cổ đông yêu cầu Tòa án yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin cần thiết để khởi kiện người quản lý là rất cần thiết Quy định này không chỉ giúp CĐTS có đủ tài liệu và chứng cứ cho việc khởi kiện mà còn tăng cường tính minh bạch trong quản lý, buộc người quản lý phải chịu trách nhiệm nếu không muốn đối mặt với việc khởi kiện.
Bảo vệ nhóm quyền về tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số
Để nâng cao quản trị công ty, cần tăng cường bảo vệ cổ đông bằng cách trao quyền cho họ, đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin Theo Điều 114 LDN 2014, cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần hoặc tỷ lệ nhỏ hơn theo quy định của Điều lệ, và phải nắm giữ cổ phần liên tục ít nhất 06 tháng Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ và thời gian sở hữu cổ phần này đã gây ra nhiều tranh cãi.
Tại Hội thảo góp ý dự luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) vào ngày 15/10/2019, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương (Ciem) cho rằng cần giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông hoặc nhóm cổ đông từ 10% xuống 1% để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ Ông cũng dẫn chứng rằng tỷ lệ này ở Hàn Quốc là 3% và Nhật Bản là 1%, nhằm hướng tới tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, các lãnh đạo doanh nghiệp, như Phó TGĐ Tập đoàn Thái Bình Dương, không đồng tình với ý kiến này, cho rằng việc giảm tỷ lệ xuống 1% sẽ không đảm bảo môi trường đầu tư.
Tranh cãi về việc trao quyền tiếp cận thông tin cho cổ đông sở hữu 1% cổ phần đang diễn ra sôi nổi Theo ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cổ đông này được coi là cổ đông lớn và việc sở hữu 1% cổ phần không thể xem nhẹ Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi đề xuất bãi bỏ yêu cầu sở hữu tối thiểu 10% cổ phần để được tiếp cận thông tin, nhằm hướng tới chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, ý kiến trái chiều cho rằng việc giảm tỷ lệ sở hữu xuống 1% có thể không đảm bảo môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp Các chuyên gia nhấn mạnh rằng việc cải thiện quản trị doanh nghiệp cần tăng cường bảo vệ quyền lợi cho cổ đông, bao gồm quyền tiếp cận thông tin.
Tỷ lệ 10% hiện tại không phải là con số nhỏ, khiến khả năng thực hiện quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số (CĐTS) trở nên hạn chế, đặc biệt trong các công ty cổ phần có hàng ngàn cổ đông Do đó, việc giảm tỷ lệ xuống 5% là hợp lý, giúp CĐTS tối đa hóa quyền tiếp cận thông tin và giám sát hoạt động doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích đầu tư và tránh tình trạng dòng tiền bị “đóng băng” Giảm tỷ lệ này cũng phù hợp với Luật Chứng khoán, nâng cao thứ hạng bảo vệ CĐTS của Việt Nam theo đánh giá của WB Quy định tỷ lệ 5% còn hạn chế hành vi “phá rối” của cổ đông, vì không ai muốn mạo hiểm với số tiền lớn Thêm vào đó, yêu cầu nắm giữ cổ phần liên tục 6 tháng là điều không phù hợp, vì CĐTS nên được thực hiện quyền ngay lập tức mà không phân biệt cổ đông cũ hay mới.
Khả năng tiếp cận thông tin giữa các cổ đông hiện nay không đồng đều, đặc biệt là giữa cổ đông thiểu số (CĐTS) và cổ đông lớn Cổ đông lớn cùng với nhà điều hành thường hạn chế quyền tiếp cận thông tin của CĐTS bằng cách không công bố, chậm công bố hoặc cung cấp thông tin không chính xác Dù pháp luật cho phép CĐTS quyền xem xét sổ biên bản, nghị quyết của HĐQT và báo cáo tài chính, việc thực hiện quyền này vẫn gặp nhiều khó khăn Ví dụ, vào năm 2016, ông Nguyễn Ngọc Long, cổ đông nắm giữ 16,7% vốn của CTCP Công trình vận tải, đã yêu cầu cung cấp thông tin tài chính nhưng bị từ chối Sau khi không nhận được phản hồi từ BKS về yêu cầu kiểm tra quản lý, ông đã khởi kiện và tuyên bố quyền của cổ đông được công nhận, tuy nhiên, sau 4 tháng, ông vẫn không nhận được tài liệu cần thiết.
Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông nhỏ đang trở thành chủ đề nóng trong ngành tài chính Các chuyên gia khuyến nghị rằng cần tăng cường quyền tiếp cận này để bảo vệ lợi ích của cổ đông nhỏ, trong khi nhiều doanh nghiệp lại phản đối, lo ngại về việc tiết lộ thông tin nhạy cảm Sự tranh cãi này phản ánh sự bất đồng giữa nhu cầu minh bạch và quyền lợi kinh doanh.**Từ khóa SEO**- Quyền tiếp cận thông tin- Cổ đông nhỏ- Minh bạch trong doanh nghiệp- Chuyên gia và doanh nghiệp- Lợi ích cổ đông
84 VnEconomy, tlđd (83), truy cập ngày 20/4/2020
85 Bùi Trang, “Tiếp cận thông tin doanh nghiệp, cổ đông phải… kiện ra tòa”, trong Bản án 19/2019/KDTM-ST ngày 11/06/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố
Ông Nguyễn Đại L, cổ đông nắm giữ 140.000 cổ phần (5% vốn điều lệ) của CTCP cung cấp dịch vụ HK, đã khởi kiện công ty do không nhận được tài liệu theo yêu cầu từ lãnh đạo công ty, vi phạm quy định của LDN 2014 Việc công ty không cung cấp thông tin kinh doanh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính minh bạch và quyền lợi hợp pháp của ông.
Theo Khoản 4 Điều 33 của Nghị định 108/2013/NĐ-CP, việc không công bố thông tin theo quy định pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; tuy nhiên, mức phạt này chưa đủ sức răn đe các vi phạm thực tế Hơn nữa, hiện nay pháp luật chưa quy định việc cưỡng chế chủ tịch HĐQT hoặc người đại diện theo pháp luật của công ty xuất trình tài liệu, dẫn đến khó khăn cho cơ quan thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông.
Dựa trên phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn, với mục tiêu nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Để cải thiện quyền tiếp cận thông tin, cần giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần từ 10% xuống 5% nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông thiểu số Ngoài ra, quy định về thời hạn sở hữu cổ phần liên tục ít nhất 06 tháng là không cần thiết.
Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền quan trọng của
CĐTS có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình thông qua việc tiếp cận thông tin Tuy nhiên, những sai phạm trong nghĩa vụ công bố thông tin đã hạn chế quyền tiếp cận này Mức xử phạt hành chính hiện tại quá nhẹ không đủ để ngăn chặn các sai phạm liên quan Do đó, Điều 33 Nghị định 108/2013/NĐ-CP cần được điều chỉnh để quy định mức xử phạt cao hơn, thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật và bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của CĐTS Mặc dù vậy, trong một số trường hợp, việc công bố thông tin vẫn có thể bị hạn chế để tránh việc tiếp cận không mong muốn.
86 Phụ lục đối thủ cạnh tranh, đảm bảo sự an toàn và phát triển của doanh nghiệp.
Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty cổ phần
LDN 2014 không định nghĩa rõ ràng về giao dịch có khả năng tư lợi, nhưng có thể hiểu là những giao dịch giữa công ty với cổ đông lớn, người quản lý và những người có liên quan nhằm mục đích trục lợi cá nhân Những chủ thể này, thông qua quyền hạn và ưu thế về vốn, có thể ảnh hưởng đến giao dịch, dẫn đến tư lợi Do đó, cần thiết phải kiểm soát các hoạt động tư lợi trong công ty cổ phần (CTCP) Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các giao dịch giữa cổ đông lớn, người quản lý và người có liên quan với công ty được thừa nhận, nhưng phải đảm bảo tính minh bạch và được giám sát chặt chẽ để loại bỏ những giao dịch có nguy cơ tư lợi mà không cản trở các giao dịch mang lại lợi ích chung cho công ty.
Các cổ đông lớn và người điều hành công ty thường thực hiện các giao dịch tư lợi mà cổ đông nhỏ khó kiểm soát Ví dụ, ông Đỗ Trung Thiện, chủ tịch HĐQT của công ty Hanoi Academy, đã tự ý thông qua hợp đồng cho vay 3 tỷ đồng với lãi suất 7%/năm cho công ty TNHH Đầu tư và Nắm giữ Thái Sơn mà không đưa ra thảo luận tại HĐQT Ông Lê Văn Hùng, phó chủ tịch HĐQT và là thành viên góp vốn, có mối quan hệ gia đình với chủ tịch công ty Thái Sơn, cho thấy sự thiếu minh bạch trong quy trình ra quyết định Giao dịch này không chỉ gây thiệt hại tài chính cho Hanoi Academy mà còn vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 162 LDN 2014 và Điều 31 Điều lệ công ty.
Hiện nay, giao dịch có khả năng tư lợi không chỉ xảy ra giữa công ty với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và người có liên quan, mà còn mở rộng đến các quản lý khác trong công ty Pháp luật hiện hành còn hạn chế trong việc xác định đối tượng giao dịch có khả năng tư lợi, dẫn đến việc kiểm soát các giao dịch này chưa được triệt để.
IDJ Việt Nam đã công bố thông cáo về những sai phạm tại Hà Nội Academy, cho thấy quyền lợi của cổ đông thiểu số (CĐTS) đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng Thành viên Ban Kiểm Soát (BKS) chưa thực sự độc lập, mặc dù theo quy định, họ được bầu ra bởi Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông Trên thực tế, các quyết định của BKS thường bị chi phối bởi các cổ đông lớn, khiến họ trở thành "cánh tay nối dài" của ban lãnh đạo Điều này dẫn đến việc kiểm soát các thành viên Hội đồng Quản trị (HĐQT) trở nên khó khăn, vì họ thường có tâm lý "dĩ hòa vi quý" khi đối diện với ban quản lý, không thể phát huy hết vai trò của mình.
Khoản 2, 3 Điều 162 LDN 2014 quy định rằng các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp sẽ do HĐQT chấp thuận, trong khi các giao dịch từ 35% trở lên cần có sự đồng ý của ĐHĐCĐ Hiện tại, nhiều hợp đồng của CTCP thường nằm ở mức 35%, tạo điều kiện cho HĐQT dễ dàng phê duyệt các giao dịch có lợi cho mình, đặc biệt khi thành viên HĐQT chủ yếu là đại diện cho các cổ đông lớn Điều này dẫn đến việc họ có thể thông qua nhiều giao dịch bất lợi cho cổ đông thiểu số Để bảo vệ quyền lợi của CĐTS, cần thiết phải giảm tỷ lệ này để tăng số lượng giao dịch thuộc thẩm quyền ĐHĐCĐ, từ đó giúp cổ đông thiểu số có nhiều cơ hội hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình và ngăn chặn lạm quyền từ các cổ đông kiểm soát và nhà điều hành.
Trước tình hình thực hiện quyền kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi của cổ đông thiểu số còn nhiều hạn chế, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của nhóm cổ đông này.
Để bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, cần giảm tỷ lệ giá trị hợp đồng và giao dịch thuộc thẩm quyền chấp thuận của Hội đồng quản trị xuống dưới 20% Việc này giúp hạn chế lạm quyền của Hội đồng quản trị, vì số lượng hợp đồng có giá trị nhỏ hơn 20% tổng tài sản doanh nghiệp thường không nhiều Các hợp đồng và giao dịch có giá trị bằng hoặc lớn hơn 20% sẽ thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, cho phép cổ đông thiểu số có quyền bỏ phiếu chấp thuận hoặc không chấp thuận, từ đó kiểm soát tốt hơn các giao dịch có khả năng tư lợi.
Khoản 1 Điều 162 LDN 2014 chỉ quy định về giao dịch giữa công ty với thành viên HĐQT, GĐ hoặc TGĐ và người có liên quan, mà chưa đề cập đến các giao dịch tư lợi của những người quản lý khác Thực tế cho thấy, nhiều quản lý khác, chẳng hạn như kế toán trưởng, vẫn thực hiện các giao dịch tư lợi.
Việc bỏ sót các vị trí quản lý như Giám đốc tài chính và Giám đốc dự án có thể dẫn đến tình trạng giao dịch tư lợi gia tăng trong các công ty, gây thiệt hại nghiêm trọng cho công ty và cổ đông, bao gồm cả cổ đông thiểu số Do đó, cần quy định rõ ràng hơn về các cá nhân quản lý trong luật pháp để đảm bảo việc phát hiện và xử lý các giao dịch tư lợi không bị thiếu sót.
CTCP cam kết cập nhật danh sách đầy đủ và chính xác các cá nhân liên quan đến cổ đông lớn, thành viên HĐQT, BKS, GĐ hoặc TGĐ Việc nắm bắt thông tin về những người này giúp cổ đông, đặc biệt là cổ đông chiến lược, dễ dàng kiểm soát các giao dịch với công ty, từ đó ngăn ngừa các trường hợp giao dịch tư lợi có thể ảnh hưởng đến tài chính và quyền lợi của cổ đông.
Nâng cao vai trò của Ban Kiểm Soát (BKS) trong Công ty Cổ phần (CTCP) là rất quan trọng Khi phát hiện sai phạm có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông, pháp luật cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và quy trách nhiệm rõ ràng cho từng kiểm soát viên, bao gồm cả trách nhiệm liên đới bồi thường.
Trước tình hình giao dịch có khả năng tư lợi ngày càng phổ biến trong CTCP, câu hỏi đặt ra là liệu ĐHĐCĐ có quyền thu hồi quyết định chấp thuận những giao dịch không công bằng với công ty hay không Việc LDN 2014 không quy định rõ ràng vấn đề này được coi là một thiếu sót lớn, chưa đảm bảo lợi ích tốt nhất cho công ty và cổ đông Cần ghi nhận quyền thu hồi quyết định của ĐHĐCĐ đối với những giao dịch có nguy cơ tư lợi để bảo vệ lợi ích của công ty, nhằm ngăn chặn việc chuyển dịch lợi ích không công bằng Hơn nữa, quy định pháp luật sẽ giúp CTCP giải quyết nhanh chóng các giao dịch tư lợi đã được chấp thuận, thay vì phải tiến hành khởi kiện phức tạp.
Giao dịch có khả năng tư lợi ngày càng gia tăng không chỉ do yếu tố vật chất mà còn do yếu tố tình cảm Nhiều cổ đông lớn, thành viên HĐQT và những người liên quan thực hiện giao dịch với công ty vì lý do cá nhân, dẫn đến tình trạng không minh bạch cần được kiểm soát chặt chẽ Giao dịch vì yếu tố vật chất có thể xâm phạm tài sản của công ty và cổ đông, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của CTCP trong môi trường cạnh tranh Do đó, pháp luật nên coi yếu tố thu lợi bất chính là căn cứ để áp dụng biện pháp chế tài, nhằm hạn chế sai phạm trong giao dịch, bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là các cổ đông yếu thế.
Bảo vệ cổ đông thiểu số (CĐTS) trong công ty cổ phần (CTCP) ngày càng được chú trọng tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác Việc bảo vệ CĐTS bao gồm bảo vệ quyền lợi về tài sản như quyền ưu tiên mua cổ phần mới, quyền nhận cổ tức, quyền định đoạt cổ phần khi CTCP giải thể hoặc phá sản, và quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần Ngoài ra, bảo vệ quyền quản trị công ty như quyền đề cử thành viên HĐQT, quyền triệu tập đại hội cổ đông (ĐHĐCĐ), và quyền tham gia, phát biểu, biểu quyết tại ĐHĐCĐ cũng rất quan trọng CĐTS còn được bảo vệ thông qua quyền tiếp cận thông tin và quyền khắc phục, bao gồm quyền yêu cầu tòa án hoặc trọng tài hủy nghị quyết của ĐHĐCĐ và quyền khởi kiện người quản lý công ty Cuối cùng, việc bảo vệ quyền lợi CĐTS cũng được thực hiện thông qua quyền kiểm soát các giao dịch có nguy cơ tư lợi.
Quyền của CĐTS hiện chưa được thực hiện đầy đủ do nhiều yếu tố, vì vậy tác giả đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật để đảm bảo quyền này LDN 2014 vẫn còn nhiều bất cập, khiến quyền của CĐTS chưa được thực hiện hiệu quả, do đó, việc đưa ra các giải pháp khắc phục là cần thiết Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc CĐTS tự nâng cao kiến thức pháp luật và kết nối để bảo vệ quyền lợi của mình.