Thực tế đã cho thấy, ngày càng có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật diễn ra quanh cuộc sống của chúng ta, gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viê
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN VĂN NGUYÊN BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN TẠI UBND PHƯỜNG
TRƯỜNG CHINH
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN TẠI UBND PHƯỜNG
TRƯỜNG CHINH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : CHÂU THỊ NGỌC TUYẾT
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN VĂN NGUYÊN
MSSV : 17152380107045
Kon Tum, tháng 6 năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này trước hết em xin gửi đến quý Thầy,
Cô giáo trong khoa Sư phạm - Dự bị đại học, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum lời cảm ơn chân thành nhất Đặc biệt, em xin gửi đến Cô Châu Thị Ngọc Tuyết, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, các Phòng, Ban của UBND Phường Chinh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại cơ quan Cuối cùng em xin cảm ơn các Anh, Chị tại Bộ phận một cửa đã giúp
đỡ, cung cấp những số liệu thực tế để em hoàn thành tốt báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện báo cáo này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ Cô cũng như Nhà trường
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 3
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 3
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 4
1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 4
1.2.2 Cơ cấu và tổ chức UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 4
1.3 CÁC QUY ĐỊNH, NỘI QUY CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP 8
1.3.1 Quy định, nội quy của ủy ban nhân dân Phường Trường Chinh, Thành Phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum 8
1.3.2 Công việc thực tập tại Ủy ban Nhân dân Phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum 9
KẾT CHƯƠNG 1 10
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT, THỰC TRẠNG KIẾN NGHỊ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 11
TRƯỜNG CHINH THÀNH PHỐ KON TUM 11
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 11
2.1.1 Khái niệm, mục đích và bản chất của kết hôn 11
2.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật 15
2.1.3 Hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật 17
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 18
2.2.1 Lược sử pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn phát triển 18
2.2.2 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật 22
2.2.3 Hủy việc kết hôn trái pháp luật 29
2.2.4 Xử lý hành chính đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật 32
2.2.5 Xử lý hình sự 33
2.3 THỰC TRẠNG KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 33
Trang 52.3.1 Tình hình đăng ký kết hôn và kết hôn trái pháp luật tại UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 33 2.3.2 Đánh giá chung về nhu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình về kết hôn cũng như kết hôn trái pháp luật tại UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 34 2.3.3 Hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn tại UBND phường Trường Chinh 35
2.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 38
2.4.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn trái pháp luật 38
KẾT CHƯƠNG 2 41 KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là tiền đề cho việc tạo lập một gia đình Hiểu một cách sát thực nhất thì hôn nhân được hình thành dựa trên tình cảm lứa đôi, hai bên nam nữ yêu thương lẫn nhau
và muốn cùng nhau “về một nhà”, cùng nhau xây dựng gia đình nhằm thỏa mãn những
nhu cầu tình cảm giữa hai cá nhân và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu vật chất trong đời sống hằng ngày Bằng việc đăng ký kết hôn, Nhà nước sẽ thừa nhận quan hệ hôn nhân, đồng thời Nhà nước luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm ổn định quan hệ này Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) nhằm điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của xã hội Việt Nam và phù hợp với tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam Tại đó quy định về điều kiện kết hôn hợp pháp cũng như các hình thức kết hôn trái pháp luật
Quan hệ hôn nhân được hình thành do sự kết hôn và được biểu hiện là một quan hệ
xã hội gắn liền với nhân thân của mỗi bên nam, nữ, đó là quan hệ vợ chồng Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ cũng như những vấn đề về tâm sinh
lý của con người ngày càng trở nên phức tạp Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hôn nhân, gia đình, trong đó có việc kết hôn giữa hai bên Điều kiện kết hôn được coi là yếu tố cơ bản góp phần hình thành gia đình tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Tuy nhiên
do một số điều kiện kinh tế - xã hội mà những điều kiện đó chưa tuân thủ triệt để gây ra hiện tượng kết hôn trái pháp luật Thực tế đã cho thấy, ngày càng có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật diễn ra quanh cuộc sống của chúng ta, gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đến lối sống đạo đức
và xã hội, đến sức khỏe và việc duy trì nòi giống của dân tộc
Khi mà đời sống vật chất của con người ngày càng đầy đủ hơn thì cái người ta quan tâm sau đó chính là yếu tố tinh thần Là một cuộc sống văn minh, hiện đại Cùng với sự phát triển không ngừng của các lĩnh vực như văn hóa, công nghệ, khoa học kỹ thuật, thì ngành luật ở Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện để phục vụ cuộc sống Kết hôn trái pháp luật vẫn tồn tại như một hiện tượng xã hội không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và trật tự xã hội Khi thực tế xã hội phát sinh ngày càng nhiều, những quy định của pháp luật về vấn
đề này càng đáng quan tâm hơn thì việc nghiên cứu nó là điều vô cùng cần thiết Đó
cũng là lý do tác giả quyết định chọn: “Pháp luật về kết hôn trái pháp luật, thực tiễn tại
UBND Phường Trường Chinh”, làm đề tài nghiên cứu cho báo cáo thực tập cuối khóa
Qua đó giúp cho mọi người có cái nhìn tổng quát hơn về kết hôn trái pháp luật từ thực tiễn trên địa bàn phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn pháp luật về kết hôn trái pháp luật và ở UBND phường Trường Chinh nói riêng Từ đó đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về kết hôn trái pháp luật ở UBND phường Trường Chinh trong thời
Trang 7gian qua, nêu ra những kết quả đạt được và nguyên nhân hạn chế Trên cở sở đó, đưa đề
ra những đề xuất góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước về hộ tịch ở UBNDphường Trường Chinh trong thời gian tới Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước
về hộ tịch giai đoạn từ năm 2016 đến
nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật, quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật (đặc biệt là các quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014), tình trạng kết hôn trái pháp luật trong những năm gần đây và thực tiễn thực hiện việc xử lý kết hôn trái pháp luật
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu những quy định trong pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề kết hôn trái pháp luật qua thực tiễn tại phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: liệt
Chương 2: Cơ sở pháp lý về kết hôn trái pháp luật
Chương 3: Thực trạng kết hôn trái pháp luật trên địa bàn Phường Trường Chinh,
Thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum
Trang 8CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH,
THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
Nơi đây từ xưa đã là địa bàn cư trú của người Ba Na bản địa, dẫn đến tên gọi Kon
Tum, nghĩa là “Làng Hồ” theo tiếng Ba Na Do nằm ở vị trí đặc biệt; đất đai bằng phẳng,
màu mỡ được sông Đăk Bla bồi đắp, và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc khác nhau; trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Trong những năm 1841-1850, người Pháp trên hành trình lên cao nguyên truyền đạo đã đặt cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây Đến năm 1893, chính quyền thực dân Pháp lập Tòa đại lý hành chính Kon Tum do viên linh mục Vialleton cai quản và kể từ đó tên gọi Kon Tum chính thức được sử dụng, đơn
vị hành chính cấp tỉnh được thành lập sau đó cũng mang tên gọi này Thành phố Kon Tum từ một vùng đất hoang vắng, thưa thớt người trở thành nơi tập trung dân cư, thương mại và hành chính xuyên suốt chiều dài lịch sử của tỉnh Kon Tum Thành phố Kon Tum hiện đang là đô thị loại III
Phường Trường Chinh là đơn vị hành chính thuộc thành phố Kon Tum, nằm về phía Đông Bắc thành phố Kon Tum, có tổng diện tích đất tự nhiên là 518,89 ha, trong đó đất phi nông nghiệp là 366,3 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 152,59 ha
Trên địa bàn phường có 03 thôn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, có hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển
- Phạm vi ranh giới của phường như sau:
+ Phía Đông giáp: Xã Đăk Blà, xã ĐăkrơWa;
+ Phía Tây giáp: Phường Quang Trung, phường Duy Tân;
+ Phía Nam giáp: Phường Thắng Lợi’
- Về tôn giáo bao gồm: Thiên chúa giáo là 1786 tín đồ (chiếm 19,01%); Phật giáo la
183 tín đồ (chiếm 1,94 %); Cao đài là 37 tín đồ (chiếm 0,39 %) Trên địa bàn phường có
01 nhà nguyện tại thôn Kon Sơ Lam 1
Thông tin của UBND Phường Trường Chinh
- Địa chỉ trụ sở cơ quan: Số 03, đường Nơ Trang Long, Tổ 5, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum
- Điện thoại: (0260)3.910.366
- Email: ubndptchinh.tph-kontum@chinhphu.vn
Trang 9-Diện tích: 518,89 ha
- Dân số: 2.346 hộ, 9.290 người
- Đơn vị hành chính: 8 thôn, tổ dân phố (05 tổ dân phố và 03 thôn)
1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
UBND phường Trường Chinh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Theo quy định tại điều 63 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì UBND phường Trường Chinh có chức năng:
1 Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của Luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường
2 Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương
3 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền
1.2.2 Cơ cấu và tổ chức UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ của mình,UBND phường đã sắp xếp tổ chức bộ máy làm việc của mình như sau: Có 01 chủ tịch, 01 Phó chủ tịch và 02 Ủy viên UBND phường
a Chủ tịch - Phó Bí thư Đảng Ủy
Ông Dương Văn Tuyn
Chức vụ: phó Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND
Điện thoại: 0989467479
Email: duongvantuyn@gmail.com
Lãnh đạo, điều hành, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân phường
Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực:
- Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của UBND phường; cho chủ trương tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của UBND phường
- Nội chính; Tư pháp; đối ngoại; địa giới hành chính; cải cách hành chính; thi đua, khen thưởng; tổ chức bộ máy và công tác cán bộ theo thẩm quyền
- Tiếp công dân định kỳ, đột xuất, xem xét giải quyết các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của tổ chức và công dân theo quy định của pháp luật
- Tài chính; thuế; thống kê; các chương trình mục tiêu quốc gia; đất đai, xây dựng, tài nguyên và môi trường
- Lĩnh vực dân tộc, tôn giáo
Trang 10- Lĩnh vực Lao động, thương binh và xã hội; bảo hiểm xã hội
- Phụ trách công tác dân vận khối chính quyền, quy chế dân chủ
- Chủ tịch UBND phường là người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của UBND phường Trường hợp Chủ tịch UBND phường không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND phường thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí
- Chủ tịch, trưởng các Ban, Hội đồng của phường: Hội đồng Thi đua khen thưởng; Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, các Ban, Hội đồng khác theo quy định của pháp luật
- Ký các quyết định, văn bản thuộc các lĩnh vực: Công tác cán bộ, Quyết định điều hành ngân sách, các chủ trương, chính sách của phường; các báo cáo, tờ trình xin chủ trương, kiến nghị, đề xuất với Thường trực Đảng ủy, HĐND phường và UBND thành phố
- Ký các hồ sơ liên quan đến đất đai, hồ sơ quyền sở hửu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất thuộc quyền quả lý của UBND, ký các quyết định xử phạt liên quan đến lĩnh vực tài nguyên, môi trường, xây dựng
- Xem xét, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quyết định cưỡng chế thuộc thẩm quyền của UBND phường theo quy định của pháp luật Trường hợp nếu có công việc đột xuất có thể ủy quyền lại cho Phó Chủ tịch UBND phường giải quyết, nếu nội dung công việc phức tạp báo cáo cho Chủ tịch UBND phường quyết định Phó Chủ tịch UBND phường chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, Thường trực HĐND phường, Ban Thường vụ Đảng ủy phường về nội dung công việc mà Chủ tịch phân công, ủy quyền chỉ đạo thực hiện
- Theo dõi, chỉ đạo các bộ phận chuyên môn của UBND phường: Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Ban Chỉ huy Quân sự phường, Công an phường, Ban Bảo vệ dân phố, tổ dân phố 1, tổ dân phố 2
- Lĩnh vực địa chính - xây dựng - đô thị, môi trường, tài nguyên, khoáng sản
- Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Lĩnh vực cải cách hành chính; tiếp dân, giải quyết đơn thư thuộc lĩnh vực phụ trách
Trang 11- Lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; y tế; dân số, gia đình, trẻ em; giải quyết việc làm, an sinh xã hội, giáo dục và Đào tạo
- Phụ trách lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
- Quản lý đô thị; vệ sinh môi trường
- Tiếp dân, giải quyết đơn thư thuộc lĩnh vực phụ trách
- Làm Trưởng các Ban chỉ đạo và Chủ tịch hội đồng thuộc lĩnh vực phụ trách; thực hiện một số công việc khác theo sự phân công của Chủ tịch UBND
- Chủ động xây dựng chương trình kế hoạch triển khai các nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công phụ trách Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chứcthực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực được giao
- Trường hợp nếu Chủ tịch UBND bận (họp), có công việc đột xuất không giải quyết ngay được, ủy quyền lại cho Phó Chủ tịch UBND phường giải quyết, nếu nội dung công việc phức tạp báo cáo cho Chủ tịch UBND phường quyết định Phó Chủ tịch UBND phường chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, Thường trực HĐND phường, Ban Thường vụ Đảng ủy phường về nội dung công việc mà Chủ tịch UBND phường phân công, ủy quyền chỉ đạo thực hiện
- Theo dõi, chỉ đạo các bộ phận chuyên môn của UBND phường: Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội và thôn Sơ Lam 1, thôn Sơ Lam 2
c Ủy viên UBND Phường Trường Chinh
Trưởng công an phường:
- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân phường tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật chuyên ngành
- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền và điều hành hoạt động của Ban bảo vệ dân phố
- Tổ chức lực lượng công an, nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn; tham mưu đề xuất với cấp Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân phường và cơ quan công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn phường và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của công an cấp trên
- Đảm bảo trật tự công cộng, quản lý vũ khí, chất nổ, dễ cháy; quản lý hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền
- Chỉ đạo tuần tra, bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở địa bàn theo chỉ đạo của cấp Đảng ủy, chính quyền và của công an cấp trên
- Phối hợp với Ban chỉ huy quân sự phường để bảo vệ các công trình Quốc phòng
Trang 12- Phụ trách tổ dân phố 5, thôn Kon Tu 2
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự phường:
- Tham mưu UBND phường tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của BCH quân sự thành phố
- Tham mưu xây dựng kế hoạch, giáo dục chính trị và pháp luật, huấn luyện dân quân, hoạt động bảo vệ trị an của lực lượng dân quân; xây dựng kế hoạch tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm; huy động lực lượng dự bị động viên và các kế hoạch khác liên quan tới nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, ban, ngành, đoàn thể triển khai thực hiện nhiệm vụ về công tác quốc phòng, quân sự địa phương trên địa bàn phường
- Tổ chức thực hiện đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, quân nhân dự bị và dân quân theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác động viên, gọi thanh niên nhập ngũ hàng năm
- Thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn chế độ chính sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định của pháp luật
- Thực hiện Quy chế phối hợp với công an và lực lượng Bảo vệ dân phố thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn trên địa bàn phường
- Tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp; thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở phường theo quy định
- Thực hiện một số công việc khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường và theo sự chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp trên
- 01 chỉ huy trưởng quân sự
- 01 công chức do chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố bố trí vào các chức danh công chức nêu trên
Hiện nay UBND phường các cán bộ đến đều có trình độ chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học trở lên
Trang 13
1.1 Sơ đồ tổ chức UBND Phường Trường Chinh
1.3 CÁC QUY ĐỊNH, NỘI QUY CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1.3.1 Quy định, nội quy của ủy ban nhân dân Phường Trường Chinh, Thành Phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum
Các Cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại của UBND xã; các tổ chức, cá nhân đến liên hệ công tác, giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại của UBND phường Trường Chinh có trách nhiệm thực hiện các quy định sau:
Điều 1 Thời gian làm việc
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại của UBND xã làm việc theo giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ các ngày nghỉ theo quy định), cụ thể như sau:
- Buổi sáng: Từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút;
- Buổi chiều: Từ 13 giờ 00 phút đến 17 giờ 00 phút
Điều 2 Đ i v i c ng chức làm việc tại Bộ ph n Tiếp nh n và trả ết quả (TN&TKQ)
1 Làm việc đúng giờ, có thái độ văn minh lịch sự, tận tình chu đáo trong giải quyết công việc đối với tổ chức, công dân;
2 Nắm vững quy định về thủ tục hành chính (TTHC) và thời gian giải quyết những TTHC;
3 Thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, tiếp nhận, thẩm định hồ sơ theo quy trình quy định, trả kết quả đúng hẹn cho tổ chức, cá nhân;
4 Việc hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác, đảm bảo tổ chức, cá nhân chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần;
5 Giải quyết công việc theo trình tự “Ai đến trước giải quyết trước, ai đến sau giải quyết sau”;
6 Mặc đồng phục, riêng nữ mặc áo dài truyền thống vào sáng thứ hai hàng tuần và đeo thẻ công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, thực hiện nghiêm túc quy chế phát ngôn và các quy định khác của pháp luật;
7 Không nhận hồ sơ khi hồ sơ chưa đầy đủ Trường hợp hồ sơ không thuộc thẩm quyền giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
Điều 3 Đ i v i tổ chức, cá nhân đến giao d ch tại Bộ ph n TN&TKQ
Chủ tịch Phó chủ tịch
chính-Văn phòng thống kê
Công an
Văn hóa-
môi trường Quân sự
Trang 141 Tổ chức, cá nhân có nhu cầu giải quyết TTHC thì đến gặp trực tiếp cán bộ phụ trách tại Bộ phận TN&TKQ để được kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ hoặc được hướng dẫn để giải quyết công việc Khi nộp hồ sơ phải lấy giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả;
2 Thực hiện đầy đủ các quy định về giải quyết TTHC và các quy định Bộ phận TN&TKQ; nộp đầy đủ các khoản phí, lệ phí (nếu có) theo quy định;
3 Từ chối thực hiện những yêu cầu không được quy định hoặc chưa được công khai theo quy định;
4 Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, chính xác của các giấy tờ có trong hồ sơ và cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan; khi nhận kết quả TTHC phải mang theo giấy hẹn trả kết quả hoặc có giấy ủy quyền của người có tư cách pháp nhân (hoặc người đại diện theo pháp luật) đối với trường hợp không trực tiếp đi nhận, cử người đi nhận thay kết quả;
5 Phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về những bất hợp lý của TTHC và các hành vi vi phạm của công chức trong thực hiện TTHC tại Bộ phận TN&TKQ Khiếu nại, tố cáo công chức về việc giải quyết TTHC không đúng quy định;
6 Tổ chức, cá nhân khi đến giải quyết TTHC tại Bộ phận TN&TKQ ngoài việc trình các thủ thục có liên quan còn phải có thái độ, tác phong lịch sự và ứng xử nghiêm túc; không được cản trở hoặc dùng các thủ đoạn khác để lừa dối việc giải quyết TTHC của các công chức thực hiện nhiệm vụ tại Bộ phận TN&TKQ;
7 Không nộp hồ sơ trực tiếp cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc Cán bộ, Công chức, Cán bộ không chuyên trách khác khi không được bố trí làm việc tại Bộ phận TN&TKQ;
8 Thực hiện các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.3.2 Công việc thực tập tại Ủy ban Nhân dân Phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum
+ Gặp gỡ lãnh đạo UBND phường Trường Chinhvà học tập quy chế của cơ quan + Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của cơ quan
+ Xác định đề tài thực tập
+ Làm quen với công việc được phân công tại cơ quan thực tập
+ Lập đề cương chi tiết cho báo cáo thực tập
+ Hoàn thành các công việc mà cơ quan thực tập giao cho thực hiện
+ Tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ mà cơ quan thưc tập giao thưc hiện
+ Tìm hiểu và thu thập tài liệu liên quan đến đề tài báo cáo thực tập, viết báo cáo thực tập.……
+ Tiếp tục thực hiện các công việc được giao tại cơ quan thực tập
+ Củng cố số liệu, hoàn chỉnh báo báo thực tập
+ Trình lãnh đạo UBND phường Trường Chinh nhận xét quá trình thực tập, và báo cáo thực tập hàng tháng
Sau thời gian thực tập tại đơn vị, em đã học được rất nhiều kĩ năng bổ ích cho công việc sau này Nhờ sự giúp đỡ tận tình của các Anh, Chị trong đơn vị mà các nhiệm vụ em được giao đều hoàn thành tốt
Trang 15KẾT CHƯƠNG 1
Pháp luật Việt Nam cũng khá mềm dẻo trong việc xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép, lừa dối vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hai người kết hôn trái pháp luật và con cái của họ Nhà nước phải xem xét và đánh giá thực chất quan hệ tình cảm giữa hai người từ khi kết hôn cho đến khi tòa án xem xét cuộc hôn nhân
đó, để từ đó có quyết định đúng đắn, đảm bảo thấu tình đạt lý
Trong chương này, đề tài đã khái quát được những vấn đề lý luận của pháp luật cũng như thực trạng hoạt động đăng ký hộ tịch tại UBND phường Trường Chinh Từ đó cho thấy được vị trí, vai trò của hoạt hoạt động đăng ký hộ tịch rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý dữ liệu về đăng ký hộ tịch nói riêng Làm cơ
sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trang 16CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT, THỰC
TRƯỜNG CHINH THÀNH PHỐ KON TUM 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
2.1.1 Khái niệm, mục đích và bản chất của kết hôn
a Khái niệm kết hôn
Nhìn từ góc độ xã hội học, từ xưa, khi mà chưa hình thành một quy tắc, một quy định nào thì khái niệm kết hôn chưa từng được biết đến Quan hệ giữa một người đàn ông
và một người đàn bà chỉ đơn thuần là quan hệ “tính giao” Vì thế sự liên kết giữa họ chỉ
đơn thuần nhằm thỏa mãn những bản năng thuần túy Quan hệ này tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên ở họ lại không hề có bất kỳ một sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào Họ tìm đến với nhau đơn giản bởi những nhu cầu bản năng, đó chính là sự liên kết hoàn toàn tự nhiên Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì dần dần sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ tính giao mà là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong mối liên hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân” Khi đó những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện, khái niệm
“hôn nhân” cũng bắt đầu được biết đến Dưới góc độ này, sự liên kết giữa người đàn ông
và người đàn bà chính là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mang tính chất
xã hội của nó Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống Đó là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở đó là quanhệ giữa chồng và
vợ, giữa cha mẹ và con cái đó là gia đình Trong đời sống HN&GĐ, sự kiện xác lập quan
hệ hôn nhân được gọi là “kết hôn” Như vậy, việc kết hôn đã tạo ra một sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, tạo thành quan hệ vợ chồng
Trải qua các thời kỳ khác nhau, quan hệ hôn nhân trước hết được điều chỉnh bởi những tập quán, những ước lệ, bắt đầu xuất hiện những quy định về cấm kết hôn giữa những thế hệ trực hệ, giữa bố với con gái, mẹ và con trai, ông bà với cháu, dần dần cấm kết hôn giữa cả những thế hệ bàng hệ, giữa anh chị em ruột với nhau
Cho đến giai đoạn phồn thịnh của tôn giáo thì những trật tự tôn giáo do giáo chủ đặt
ra còn có sức mạnh cưỡng chế, áp đặt hơn nhiều so với các tập tục, ước lệ trước kia Dưới thời kỳ này, quan niệm về hôn nhân trái pháp luật chính là những quan hệ hôn nhân không tuân thủ những trật tự tôn giáo của xã hội Khi xã hội phát triển đến thời kỳ phong kiến, hôn nhân mang tính chất dân sự, tức là sự bày tỏ ý chí của các bên và kèm theo đó
là những mục đích về kinh tế, chính trị nhất định Pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây quy định việc kết hôn của nam nữ phải có sự đồng ý của cha mẹ
Trang 17hoặc họ hàng thân thích Như vậy, có thể nói rằng, trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, những yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa đã dần được hình thành
và tác động trực tiếp tới các quy luật tự nhiên, điều chỉnh các mối quan hệ tự nhiên đó theo những chuẩn mực mà xã hội đặt ra vì mục đích lợi ích của giai cấp thống trị Hay
nói cách khác “H n nhân là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên”
Khi xã hội loài người có sự xuất hiện của pháp luật thì quan hệ hôn nhân gia đình từ một quan hệ tự nhiên mới chính thức được xem xét trên khía cạnh một quan hệ pháp luật
về hôn nhân gia đình Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét với ý nghĩa
là một sự kiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý, nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Nếu như
về mặt xã hội, lễ cưới là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân thì về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán cũng như truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia có những lựa chọn khác nhau về hình thức xác lập quan hệ vợ chồng Theo quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành, nghi thức duy nhất có giá trị pháp lý là nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
“Nhà nư c bảo hộ HN&GĐ ” Chính vì hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình
là tế bào của xã hội nên Nhà nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra
những biện pháp nhằm làm ổn định quan hệ này bởi “Gia đình t t thì xã hội m i t t, xã
hội t t thì gia đình càng t t”1 Để đảm bảo tạo ra những tế bào tốt, những gia đình ổn định, lành mạnh thì trước hết ngay từ việc kết hôn của hai bên nam nữ đã phải tuân theo những điều kiện nhất định, sao cho cuộc hôn nhân đó được xã hội và pháp luật công nhận Vậy thế nào là kết hôn hợp pháp? Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay,
cụ thể tại Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về khái niệm kết hôn như
sau: “Kết h n là việc nam và nữ xác l p quan hệ vợ chồng v i nhau theo quy đ nh của
Lu t này về điều iện ết h n và đăng ý ết h n” Hệ thống pháp luật HN&GĐ quy định
nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố sau: “Kết h n là việc nam và nữ xác l p quan hệ
vợ chồng v i nhau theo quy đ nh của Lu t này về điều iện ết h n và đăng ý ết h n”
Hệ thống pháp luật HN&GĐ quy định nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố sau:
Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với
nhau, ý chí và mong muốn đó được thể hiện bằng tờ khai của họ trong tờ khai đăng ký
kết hôn cũng như trước các cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật
Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận Hôn nhân chỉ được Nhà nước
thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn
Như vậy, kết hôn theo quy định của pháp luật là căn cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn
Trang 18b Mục đích và bản chất của kết hôn
Mục đích của kết hôn: Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì, củng cố và
phát triển gia đình, nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái của văn hóa tộc người Vì vậy, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp của
quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa – xã hội khác
Trải qua những giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người, nhân loại đã chứng kiến những bước tiến mới trong việc nhìn nhận mục đích của việc kết hôn Khi gia đình “một
vợ - một chồng” xuất hiện, quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy nữa, mà đó là sự liên kết đặc biệt nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, tạo lập gia đình – nền tảng cơ bản của xã hội Do đó, hôn nhân ở đây mang tính xã hội sâu sắc, người kết hôn là những người trực tiếp đặt nền móng cho lịch sử phát triển của xã hội
Theo pháp luật HN&GĐ hiện hành thì hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn Hôn nhân đem lại những quyền lợi và trách nhiệm quan trọng cho những người đã trở thành vợ hay chồng của nhau Quyền và lợi ích của họ luôn luôn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, là một hành lang pháp lý an toàn cho mục đích của cuộc hôn nhân Đó chính là sự “bảo hộ” của Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân
Ngày nay, cũng có nhiều quan niệm cho rằng mục đích của cuộc hôn nhân là nhằm sinh con để duy trì nòi giống Tuy nhiên, quyền kết hôn là quyền của mỗi cá nhân, vì thế pháp luật quy định về quyền kết hôn trước hết phải xuất phát từ lợi ích của người kết hôn Hôn nhân đáp ứng được một trong những yêu cầu cơ bản của nhân loại là tái sản xuất ra con người Nhưng nếu như chỉ để sản sinh ra con người thôi thì không cần kết hôn cũng vẫn thực hiện được, vợ chồng vẫn có thể không sinh con mà chung sống hạnh phúc bên nhau Vì vậy, lợi ích của bản thân người kết hôn trước hết phải được bảo vệ, lợi ích của gia đình và xã hội chỉ được xem xét trong sự hài hòa với lợi ích của cá nhân Xác định rõ mục đích của việc kết hôn giúp chúng ta có thể dự liệu các phương án điều chỉnh pháp luật nhằm bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi các nhân
Bản chất của kết hôn: “Người ết h n về cơ bản h ng phải để có con, vì h ng
lấy vẫn có được, h ng phải vì giải quyết nhu cầu sinh lý, vì h ng lấy vẫn có thể giải quyết…mà con người ết h n vì thấy hạnh phúc hi ở v i người kia
Bản chất của h n nhân là hư ng đến hạnh phúc, tức hư ng t i vấn đề tâm lý của con người Khi vấn đề c t lõi này b lung lay thì h n nhân sẽ h ng đứng vững Khi người ta thấy h ng thể chia sẻ, thấy mất niềm tin, mất tự do quá mức, thấy mình h ng còn là gì trong lòng người ia thì tâm lý nảy sinh cảm giác bất an, thất vọng
Nếu c gắng mà h ng thể cải thiện thì chia tay nhau là lựa chọn sáng su t là ly
h n cách t t nhất trong một cuộc h n nhân h ng t t Chúng ta nên nhìn nh n mặt tích cực của nó, và đừng nghĩ những người ly h n đều là người h ng t t…”
Bất kỳ ai, dù là tổng thống hay thường dân, dù là người giàu hay người nghèo, những ai đang trong một cuộc sống hôn nhân hay đang chuẩn bị bước vào đó đều mong
Trang 19muốn cuộc sống hôn nhân của mình được hạnh phúc trọn vẹn Về mặt xã hôi, bản chất của việc kết hôn chính là thỏa mãn sự khao khát được gần nhau của những đôi nam nữ yêu nhau, muốn cùng nhau xây dựng tổ ấm gia đình, chia sẻ ngọt bùi, khó khăn, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Vậy về mặt khoa học pháp lý, hôn nhân có bản chất như thế nào? Theo như THS Nguyễn Hồng Hải – khoa luật Dân sự Đại học Quốc gia Hà Nội chia
sẻ trong bài viết “Một vài ý iến về hái niệm và bản chất pháp lý của hôn nhân” có
phân tích về bản chất pháp lý của hôn nhân, tôi xin trích dẫn một số ý chính như sau: Bản chất pháp lý của hôn nhân là một hợp đồng hay là một thiết chế pháp luật hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Ở các nước theo theo hệ thống pháp luật common law (đặc biệt ở Mỹ) tồn tại quan niệm phổ biến: hôn nhân là một loại hợp đồng dân sự bởi vì hôn nhân chính là sự thoả thuận giữa người đàn ông và một người đàn bà để thiết lập một quan hệ pháp lý và làm phát sinh và thực hiện các quyền, nghĩa vụ đối với nhau
Ở các nước XHCN và Việt Nam quan niệm chính thống về mặt học lý cho rằng: Hôn nhân không phải là một hợp đồng mà là một sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người đàn bà Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà được dựa trên cơ sở tình yêu thương, quí trọng, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và chồng Ngoài ra, mục đích của hôn nhân là xây dựng mối quan hệ bền vững, đảm bảo thoả mãn nhu cầu tinh thần và vật chất chất của đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái
Theo t i, để xác đ nh h n nhân là một thiết chế pháp lu t hay là một hợp đồng dân
sự, cần xem xét trên các hía cạnh sau:
Thứ nhất, có sự khác nhau giữa mục đích giao kết hợp đồng và mục đích kết hôn
Theo pháp luật về hợp đồng, sự thoả thuận là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng, tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để hợp đồng có hiệu lực Để hợp đồng có hiệu lực, sự thoả thuận của các bên phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Trong hôn nhân có sự thoả thuận, nhưng thoả thuận đó không phải là thoả thuận trong hợp đồng Vì mục đích của các bên kết hôn không phải để tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ dân sự nào, mà chỉ mong muốn lập một gia đình
Thứ hai, pháp luật qui định về năng lực kết hôn khác với qui định về năng lực giao
kết hợp đồng Năng lực giao kết hợp đồng chủ yếu được xác định trên hai điều kiện: độ tuổi (tuỳ theo từng loại hợp đồng mà pháp luật qui định các độ tuổi khác nhau) và khả năng nhận thức của chủ thể Còn năng lực kết hôn ngoài điều kiện độ tuổi và năng lực nhận thức, còn được xác định trên các điều kiện khác không có trong pháp luật về hợp đồng
Thứ ba, pháp luật qui định về huỷ kết hôn trái pháp luật khác với các quy định về
huỷ hợp đồng Căn cứ để hủy kết hôn trái pháp luật và căn cứ hủy hợp đồng là khác nhau Một hợp đồng bị huỷ khi có một trong hai căn cứ: Các bên vi phạm các điều kiện do luật định hoặc các bên vi phạm điều kiện do thoả thuận Còn việc kết hôn sẽ bị hủy khi vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo luật định
Trang 20Thứ tư, các quy định về chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn khác với quy định về chấm
dứt hợp đồng Một hợp đồng có thể chấm dứt do các bên trong hợp đồng thoả thuận hoặc
do ý chí đơn phương của một bên, mà không cần có phán quyết của Toà án Trong khi
đó, một quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định của Toà án xử cho ly hôn hoặc công nhận thuận tình ly hôn
Với những điểm khác biệt cơ bản nói trên, theo em, không thể đồng nhất hôn nhân với hợp đồng dân sự, mà nên xác định nó là một thiết chế pháp luật thì phù hợp với thực tiễn và lý luận hơn
Từ những gì phân tích ở trên, ta có thể hiểu rõ hơn về bản chất pháp lý của hôn nhân Từ đó hướng đến việc xây dựng pháp luật hôn nhân gia đình một cách hoàn thiện hơn
2.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật
a Định nghĩa
Kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lý được pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật HN&GĐ Kết hôn trái pháp luật cũng giống như vấn đề kết hôn, nó đều chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
Tùy vào mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại, tùy vào điều kiện sống, yếu
tố xã hội, con người hay cách nhìn nhận vấn đề của mỗi quốc gia là khác nhau mà vấn đề kết hôn trái pháp luật được hiểu dưới những góc độ khác nhau Trong xã hội phong kiến, hôn nhân trái pháp luật được quan niệm là những cuộc hôn nhân không tuân thủ các điều kiện kết hôn như: không môn đăng hộ đối, những quan hệ hôn nhân không được sự đồng
ý của cha mẹ, họ hàng, Những quy định này thể hiện rất rõ trong Bộ luật Hồng Đức và
Bộ luật Gia Long của nước ta
Khoản 6 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 có giải thích: “Kết h n trái pháp lu t là
việc nam, nữ đã đăng ý ết h n tại cơ quan nhà nư c có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều iện ết h n theo quy đ nh tại Điều 8 của Lu t này” Khi
kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp, cụ thể là không vi phạm điều kiện về độ tuổi, về ý chí, người kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự hay không được kết hôn trong những trường hợp mà pháp luật cấm kết hôn Điều đó có nghĩa là, chỉ khi tuân thủ các điều kiện kết hôn, thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng đúng nghĩa
b Các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật
Kinh tế - xã hội: Kinh tế là yếu tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
mọi mối quan hệ trong xã hội, nó chi phối cả quan hệ hôn nhân gia đình Nền kinh tế ngày càng phát triển, đó là một điểm đáng mừng đối với các quốc gia, tuy nhiên mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động tới lối sống của một bộ phận không nhỏ nam nữ thanh niên tạo ra những thay đổi đáng kể trong quan niệm về tình yêu và hôn nhân Vì vậy, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng có chiều hướng gia tăng Việc nam nữ
Trang 21chung sống như vợ chồng thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau đã tạo ra những hiệu ứng
không tốt ảnh hưởng tới đời sống HN&GĐ
Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển cũng hình thành ở nhiều người tư tưởng đặt mục đích của đồng tiền lên trên hết Việc kết hôn mang nặng mục đích kinh tế xảy ra ngày càng nhiều, đặc biệt giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài, phổ biến là với nam giới Hàn Quốc, Đài Loan với mong muốn có thể đổi đời sau khi lấy chồng “Tây”, điều
đó đang làm mờ nhạt đi chức năng của gia đình Những cuộc hôn nhân chỉ vì mục đích kinh tế, không nhằm mục đích xây dựng gia đình chính là hành vi kết hôn giả tạo Vì thế, những cuộc hôn nhân không hạnh phúc và tỉ lệ ly hôn ngày càng gia tăng Với những lý
do, những mục đích khác nhau mà nhiều người có thể coi nhẹ giá trị của gia đình, của hôn nhân, dẫn đến việc vi phạm những quy định về hôn nhân hợp pháp là điều không thể tránh khỏi
Ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu: Pháp luật HN&GĐ nói chung, pháp
luật về kết hôn nói riêng chịu sự tác động sâu sắc bởi phong tục, tập quán Bên cạnh những phong tục tập quán tốt đẹp được luật hóa thành những quy phạm, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn như các quy định về cấm kết hôn thể hiện việc gìn giữ thuần phong,
mỹ tục của người Việt Nam về việc tôn trọng trật tự, thứ bậc trong gia đình có ý nghĩa sâu sắc đối với việc lưu giữ những giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam Cũng có những phong tục, tập quán lạc hậu còn được lưu giữ đến ngày nay, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số gây ảnh hưởng trật tự xã hội, dẫn đến gia tăng việc kết hôn trái pháp luật như tục “cướp vợ, bắt chồng” của người dân tộc H’Mông, tục tảo hôn, tập tục về “hôn nhân cận huyết” Đây đều là những tập tục làm giảm tính thực thi của pháp luật khi mà
“phép vua thua hủ tục” Những quan niệm cổ hủ dường như đã ăn sâu vào trong nhận thức của người dân, do đó việc tuyên truyền phổ biến pháp luật để cho họ hiểu là rất khó
để có kết quả Những cuộc hôn nhân trái pháp luật do ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu là vấn đề nhức nhối ở nhiều vùng dân tộc thiểu số đang được xã hội quan tâm Vì vậy, để đảm bảo nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, giảm thiểu tình trạng kết hôn trái pháp luật, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam phồn thịnh thì cần phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ khỏi đời sống xã hội
Trình độ nhận thức kém, thiếu hiểu biết về hôn nhân gia đình: Đất nước Việt
Nam trải dài từ Bắc vào Nam với diện tích đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ Với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, khó tránh khỏi sự chênh lệch về văn hóa và trình độ phát triển ở từng địa phương Trong khi ở các tỉnh đồng bằng, các thành phố lớn được tiếp xúc với nhiều phương tiện truyền thông đại chúng, báo đài, mạng Internet về kiến thức hôn nhân gia đình thì ở những tỉnh miền núi hẻo lảnh, các vùng cao do điều kiện vất chất thiếu thốn, trình độ dân trí còn thấp, ít được tiếp xúc với những nguồn thông tin nên kém hiểu biết về pháp luật hôn nhân gia đình Vấn đề cưới xin ở nhiều nơi hầu hết dựa vào phong tục, tập quán từ xa xưa Có nhiều trường hợp người dân chỉ làm đám cưới ở bản làng chứ không đăng ký kết hôn Do không biết pháp luật quy đinh gì, điều kiện để được
Trang 22kết hôn như thế nào nên ắt hẳn việc vi phạm quy định về điều kiện kết hôn là điều không
thể tránh khỏi
Bên cạnh đó, nhiều gia đình Việt Nam vẫn còn có những suy nghĩ cổ hủ, muốn có con trai để nối dõi tông đường nên thường vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Quan niệm “phải có con trai” đã ăn sâu, bén rễ trong nhiều thế hệ gia đình Việt nên không dễ dàng thay đổi được Nhiều bi kịch gia đình xảy ra khi vợ không đẻ được con trai, chồng quyết định lấy vợ hai, hay chính người vợ tổ chức cưới vợ bé cho chồng Trong những trường hợp này, người vợ dù không có lỗi nhưng nhiều người đành chấp nhận cay đắng để gia đình không tan vỡ Chính những suy nghĩ cổ hũ đó đã đẩy đến tình trạng kết hôn vi phạm điều cấm của pháp luật là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật HN&GĐ bảo vệ
Hội nhập quốc tế: Hội nhập quốc tế là một xu thế toàn cầu, biểu hiện ở nhiều cấp
độ khác nhau như liên kết tiểu khu vực, liên kết khu vực, liên kết liên châu lục, liên kết trên bình diện song phương hoặc đa phương Hội nhập bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó
mở rộng sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Hội nhập quốc tế giúp mở rộng thị trường thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Hội nhập quốc tế cũng tác động khá mạnh mẽ tới văn hóa truyền thống, tới các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân gia đình nói riêng Trong quá trình giao lưu, hội nhập đã tạo ra những xu thế mới trong giới trẻ như: chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, kết hôn đồng giới hay hôn nhân vi phạm chế độ một vợ một chồng Ở Việt Nam không thừa nhận những quan hệ hôn nhân nói trên nhưng tại một số quốc gia trên thế giới thì điều đó lại được pháp luật thừa nhận
và bảo vệ Do đó, hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức và đi kèm theo đó cũng có nhiều điểm bất lợi Một trong những điểm bất lợi đó chính là do ảnh hưởng tư tưởng của
một số quốc gia khác mà dẫn đến việc vi phạm điều kiện về kết hôn
2.1.3 Hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật
a Hậu quả về mặt pháp lý
Trước hết, xét về mặt pháp lý thì kết hôn trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân Mỗi người dân đều có nhu cầu hạnh phúc cho mình, được pháp luật bảo vệ, vậy mà hành vi kết hôn trái pháp luật đã đẩy họ vào tình trạng quyền và lợi ích bị xâm phạm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Quyền lợi đó có thể về nhân thân, tài sản hay con cái Những người kết hôn trái pháp luật sẽ không được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích như trong trường hợp kết hôn hợp pháp Những hành vi kết hôn trái pháp luật còn vi phạm những quy định của pháp luật liên quan đến việc bảo vệ trẻ em, thậm chí có thể phạm vào một số tội được quy định trong Bộ luật Hình sự như tội Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn
Bên cạnh đó, hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước cũng ảnh hưởng nghiêm trọng Những cuộc hôn nhân không hợp pháp, kết hôn không có đăng ký kết hôn khiến cho các cơ quan Nhà nước khó có thể nắm bắt vấn đề liên quan đến hộ tịch, khai sinh hay giải quyết những tranh chấp khác
Trang 23b Hậu quả về mặt xã hội
Quan hệ hôn nhân vốn là một quan hệ xã hội, chính vì vậy, những hành vi kết hôn trái pháp luật dẫn đến những cuộc hôn nhân bất hợp pháp không chỉ gây ra những hậu quả về mặt pháp lý mà còn ảnh hưởng đến xã hội một cách nặng nề Kết hôn trái pháp luật vi phạm điều kiện kết hôn – là nền tảng cơ bản để xây dựng nên một gia đình hạnh phúc Không phải ngẫu nhiên các nhà làm luật lại nêu ra những điều kiện kết hôn đó, mà
đó chính là cả một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu qua thực tiễn Kết hôn trái pháp luật không thể tạo ra những gia đình hạnh phúc, lành mạnh, gây ảnh hưởng đến thuần phong,
mỹ tục – nét đẹp truyền thống trong gia đình Việt Nam từ ngàn đời nay, đồng thời nó còn làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số và sự phát triển bền vững của đất nước Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết ở các tỉnh miền núi đã gióng lên những hồi chuông báo động cần phải ngăn chặn kịp thời Việc trẻ em được sinh ra từ những ông bố, bà mẹ có tuổi đời còn quá trẻ hay có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời có thể khi sinh con ra mắc các bệnh về máu, dị tật bẩm sinh là gánh nặng cho nền kinh tế Đất nước ta còn nghèo nên việc giải quyết các vấn đề về phúc lợi và an sinh xã hôi gặp không ít khó khăn Vì thế, để đảm bảo cho sự phát triển chung của xã hội, một gia đình được hình thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng của
nó phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự yêu thương, gắn kết và
tự nguyện chung sống và phải được pháp luật thừa nhận, bảo vệ Có như thế mới tạo được nền tảng gia đình vững chắc, xã hội mới phát triển bởi gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 2.2.1 Lƣợc sử pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn phát triển
a Những quy định về kết hôn trái pháp luật trước Cách mạng tháng Tám năm
1945
Quy đ nh về ết h n trái pháp lu t trong pháp lu t thời ỳ phong iến:
Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam không thể không nhắc đến sự đóng góp to lớn của hai bộ Quốc triều Hình Luật (QTHL) hay còn gọi Luật Hồng Đức và Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL), còn gọi là Luật Gia Long Đó là những chuẩn mực pháp lý được vua chúa đặt ra trong thời kỳ phong kiến nhằm điều chỉnh những mối quan hệ cả về hình sự, dân sự phát sinh trong đời sống xã hội Cả hai bộ luật này đều có những điểm tương đồng trong các quy định về điều kiện kết hôn QTHL và HVLL đều quy định việc kết hôn phải
có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc Do đó, nếu như việc kết hôn mà không có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc hay vi phạm điều cấm thì đó chính là kết hôn trái pháp luật QTHL quy định cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế, cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội (Điều 317 - 318) Bên cạnh đó các quy định về điều cấm kết hôn còn thể hiện rõ việc bảo vệ các giá trị truyền thống, đạo đức của người Việt Nam, đó là: cấm lấy cô, dì, chị, em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ, người thân
Trang 24cấm các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ (Điều 323) Ngoài những điểm tương đồng trong quy định về điều kiện kết hôn so với QTHL, HVLL còn quy định
về việc cấm lừa dối trong hôn nhân
Trong thời kỳ này, nếu nam nữ kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn thì đó là kết hôn trái pháp luật và bị xử lý rất nặng, có thể xử phạt bằng trượng, xử biếm, xử đồ Như vậy, việc bảo vệ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán trong lĩnh vực HN&GĐ cũng như trật
tự đẳng cấp xã hội trong thời kỳ này được đề cao
Quy đ nh về ết h n trái pháp lu t trong pháp lu t Việt Nam thời ỳ Pháp thuộc:
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để trị” nên đã chia cắt nước ta thành ba miền Bắc, Trung, Nam Theo đó, tại mỗi miền chúng lại đặt ra những chính sách cai trị khác nhau Tương ứng với hoàn cảnh lịch sử lúc đó là sự ra đời của ba Bộ luật điều chỉnh về vấn đề dân sự, HN&GĐ Đó là Bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK) năm 1931 áp dụng tại miền Bắc, Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 áp dụng tại miền Trung và Bộ Dân luật Giản Yếu Nam Kỳ (DLGY) áp dụng tại miền Nam
Theo quy định tại Bộ DLBK và DLTK thì có một điểm chung là đều quy định tuổi kết hôn của nam là đầy mười tám tuổi và nữ là đầy mười lăm tuổi Trong khi đó, Bộ DLGY lại quy định tuổi kết hôn của nữ ít nhất là đầy mười bốn tuổi, nam ít nhất là đầy mười sáu tuổi Như vậy, so với thời kỳ phong kiến, tuổi kết hôn theo pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những chuyển biến nhất định, tuổi kết hôn dần được tăng lên là dấu hiệu thể hiện điểm tiến bộ đáng kể trong việc điều chỉnh pháp luật về kết hôn hướng tới việc bảo vệ quyền tự do kết hôn đối với mỗi cá nhân Tiếp nhận những giá trị trong cổ luật Việt Nam thì cả ba Bộ luật đều quy định việc kết hôn phải có sự ưng thuận của cha
mẹ Tuy nhiên nếu có lý do chính đáng, các tỉnh trưởng có quyền miễn cho các người con thành niên khỏi phải có sự ưng thuận của cha mẹ (Bộ DLBK và Bộ DLTK quy định điều này) Bộ DLGY có điểm tiến bộ vượt xa so với quy định của pháp luật phong kiến khi trao cho người kết hôn quyền được phép ưng thuận Bộ DLBK và DLTK quy định điều kiện khi cưới là không được mắc bệnh điên cuồng hoặc vô tri thức, nếu không giá thú
vô hiệu (Điều 84) “Khi một bên vì lầm hay bị cưỡng ép thì có thể tố cáo được” (Điều 86 DLBK) Điều đó thể hiện sự quan tâm đến quyền của cá nhân dần dần được thừa nhận và bảo vệ
Quy đinh về điều cấm nhằm bảo vệ trật tự đẳng cấp của thời kỳ phong kiến được loại bỏ Việc xử lý vi phạm các điều kiện kết hôn không còn quy định hình phạt như trong pháp luật phong kiến nữa mà tùy từng trường hợp vi phạm thì có thể coi hôn nhân
là vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối
Như vậy, quy định của pháp luật thời kỳ này về kết hôn trái pháp luật nói riêng và chế độ HN&GĐ nói chung là công cụ pháp lý của Nhà nước thực dân phong kiến ban hành dựa trên những phong tục tập quán của xã hội phong kiến Việt Nam và phỏng theo
Bộ dân luật Pháp (1804) với quan điểm thuần túy coi các quan hệ HN&GĐ là một chế định do dân luật điều chỉnh
Trang 25b Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Quy đ nh về ết h n trái pháp lu t từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một mốc quan trọng trong
lịch sử dân tộc, nước Việt Nam dân chủ ra đời Trong những năm đầu (1945 – 1950), Nhà nước ta quy định vẫn cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc, theo nguyên tắc không trái với lợi ích của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi ích của nhân dân lao động (theo Sắc lệnh số 90 – SL ngày 10/10/1945 của Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) Năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước độc lập được ban hành, đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử lập pháp của Nhà nước Việt Nam Bản Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật, điều chỉnh những quan hệ xã hội, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ Năm
1950, Nhà nước ta đã ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, đó là: Sắc lệnh số 97 – SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159 – SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Sắc lệnh số 97 – SL đã có những tiến bộ vượt bậc về điều kiện kết hôn như xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ có tang (Điều 3) và cho phép người kết hôn được tự nguyện kết hôn không cần có sự băng lòng của cha mẹ “Người con đã thành niên không bắt buộc phải có cha
mẹ bằng lòng mới được kết hôn” (Điều 2) Với quy định này, bước đầu đã tạo ra những hiệu ứng vô cùng tích cực cho việc xây dựng đời sống HN&GĐ mới, tạo nền tảng tiến tới
xây dựng một đạo luật hoàn chỉnh điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ
Quy đ nh về ết h n trái pháp lu t từ năm 1954 đến năm 1975:
Mặc dù Cách mạng tháng Tám đã thành công, tuy nhiên trên thực tế hòa bình mới chỉ được lập lại ở miền Bắc Việt Nam, miền Nam vẫn chịu sự áp bức, bóc lột của đế quốc
Mỹ, Việt Nam vẫn chia cắt hai miền Do đây là giai đoạn khá đặc thù, tình hình xã hội đòi hỏi cần phải xóa bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến, xây dựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa Luật HN&GĐ năm 1959 ra đời đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình xã hội bấy giờ Luật này ghi nhận quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng nam nữ trong đời sống HN&GĐ Theo đó, Luật này quy định về điều
kiện kết hôn như sau: “Con gái từ 18 tuổi trở lê, con trai từ 20 tuổi trở lên m i được ết
hôn” (Điều 6) Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện kết hôn cho hai bên nam nữ (Điều 4)
Quy định về điều cấm kết hôn, Luật HN&GĐ năm 1959 cấm các hành vi tảo hôn, cưỡng
ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do (Điều 3), cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác (Điều 5), cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa cha
mẹ nuôi với con nuôi, giữa anh chị em ruột, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha với nhau (Điều 9) Luật còn quy định cấm kết hôn với những người bất lực hoàn toàn về sinh lý, mắc một trong các bênh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi (Điều 10) Mặc dù, pháp luật HN&GĐ thời bấy giờ chưa quy định thế nào là kết hôn trái pháp luật, tuy nhiên, căn cứ vào các điều kiện kết hôn ta có thể hiểu vi phạm các điều