1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

105 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trước nhu cầu xã hội và những phát sinh trong nền kinh tế thị trường, cũng như thực trạng xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi người tiêu dùng hiện nay, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi

Trang 1

DƯƠNG THÚY DIỄM

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc của Tôi, những thông tin, số liệu nêu trong

đề tài đều có nguồn tư liệu xác thực Trong quá trính nghiên cứu và viết đề tài, các dữ liệu và thông tin được trích dẫn đầy đủ nếu không phải là ý tưởng và kết quả tổng hợp của riêng Tôi

Tác giả

Dương Thúy Diễm

Trang 3

BVNTD : Bảo vệ người tiêu dùng

BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

BTTH : Bồi thường thiệt hại

UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội

VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 4

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Thực trạng, nguyên nhân xâm phạm quyền và sự cần thiết phải bảo

vệ quyền người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay 6

1.1.1 Thực trạng xâm phạm quyền của người tiêu dùng 6

1.1.2 Nguyên nhân thực trạng xâm phạm quyền của người tiêu dùng 12

1.1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong giai

1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam 22

1.3.1 Nguyên tắc “Mọi quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đều

phải được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật” 22

1.3.2 Nguyên tắc “Mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người

tiêu dùng phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, nếu gây thiệt hại

thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” 23

1.3.3 Nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung

của toàn xã hội” 24

1.4 Cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập quyền được bảo vệ của người

1.5 Các quyền của người tiêu dùng Việt Nam theo quy định pháp luật 28

1.5.2 Sự hình thành và phát triển quyền của người tiêu dùng 29

1.5.3 Các quyền của người tiêu dùng Việt Nam 30

Trang 5

NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

2.1 Sự hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu

2.2 Đánh giá về pháp luật bảo vệ quyền người tiêu dùng ở Việt Nam 44

2.2.1 Khung pháp lý về quyền người tiêu dùng 45

2.2.3 Về cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền người tiêu dùng 60

2.2.4 Chế tài pháp lý đối với các hành vi xâm phạm quyền người tiêu dùng 67

2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả bảo vệ

2.3.1 Giải pháp định hướng 73 2.3.2 Những kiến nghị cụ thể 75

2.3.2.2 Hoàn thiện khung pháp lý về quyền của người tiêu dùng 75

2.3.2.4 Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền người tiêu dùng 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được hình thành và phát triển qua từng thời kỳ, đặc biệt sau khi Pháp lệnh bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999 được ban hành và có hiệu lực, đã có những tác

động tích cực đến đời sống kinh tế - xã hội của nước ta, từng bước đưa hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vào nề nếp, ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, trước nhu cầu xã hội

và những phát sinh trong nền kinh tế thị trường, cũng như thực trạng xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi người tiêu dùng hiện nay, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã bộc lộ những hạn chế và bất cập như: Tính khả thi của Pháp lệnh và Nghị định hướng dẫn chưa cao; Nhiều quy định khá chung chung khó thực thi; Một

số quy định chưa mang tính cập nhật hoặc chưa bao quát được những vấn đề liên quan đến tự do hoá thương mại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi nước ta trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO); Luật chưa có chế tài đủ mạnh cho cơ quan bảo vệ người tiêu dùng

và chưa có quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về bảo vệ người tiêu dùng Để pháp luật mang tính khả thi và bảo đảm quyền người tiêu dùng được thực thi trong thực tế, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền người tiêu dùng cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo hành lang pháp lý góp phần phát triển môi trường kinh doanh lành mạnh,phát huy tối đa nguồn lực của mọi thành phần phục vụ phát triển kinh tế, xã hội đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong đời sống xã hội

Với thực trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, các hành

vi gian lận trong kinh doanh thương mại đã gây thiệt hại không nhỏ và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, chính vì thế bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng được xem là một trong những vấn đề quan trọng và

nóng bỏng trên con đường hội nhập và phát triển bền vững của nước ta Trước thực

trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng như hiện nay, cho thấy người tiêu dùng chưa được bảo vệ đúng mực dù đã có nhiều văn bản pháp luật đề cập đến, nhưng các quy định cũng chỉ dừng lại ở việc nêu tên các quyền mà chưa quy định cụ thể, nên việc áp dụng pháp luật để đòi quyền lợi cho người tiêu dùng khi bị xâm phạm là vấn đề vô cùng khó khăn và phức tạp Do vậy, cần có công trình nghiên cứu tìm ra

Trang 7

những bất cập, hạn chế trong văn bản pháp lý về bảo vệ quyền người tiêu dùng để

có giải pháp hoàn thiện pháp luật, đảm bảo tính hiệu quả trong công tác bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng cả dưới góc độ lý luận lẫn thực tiễn là điều cần thiết

Với yêu cầu về lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Pháp luật về bảo vệ

quyền của người tiêu dùng - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”

là đề tài mang tính khoa học và có giá trị lý luận lẫn thực tiễn trong việc hoàn chỉnh những bất cập pháp luật, đảm bảo quyền người tiêu dùng được thực thi hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng trong cơ chế kinh tế thị

trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước hiện trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đáng báo động như hiện nay, khi mà người tiêu dùng trở thành nạn nhân cho mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiệp, đã có rất nhiều bài báo phản ánh về thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng với những tác hại của hàng giả, hàng kém chất lượng, những hành

vi gian lận thương mại, hay đại diện các cơ quan chức năng cũng có nhiều bài tham luận trong các cuộc hội thảo về thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng Cụ thể, gần đây có một số bài viết ngắn được đăng trên các báo điện tử, đề cập đến việc

vi phạm quyền người tiêu dùng, đã thể hiện phần nào mối quan tâm của xã hội đến bảo vệ người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay, những bài viết có thể kể đến đó là

“Tình trạng xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng đang gia tăng” của tác giả

Nhựt Phan - Minh Nguyễn, phản ánh về thực trạng xâm phạm quyền người tiêu dùng hiện nay, nhưng việc quan tâm bảo vệ là vấn đề còn bỏ ngỏ khi mà các cơ quan chức năng chưa thật sự sẵn sàng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, còn các

cá nhân, tổ chức kinh doanh lại xem thường người tiêu dùng, trong khi họ còn chưa

nhận thức được quyền pháp luật quy định để có thể tự bảo vệ mình; “Hỏng cơ chế

pháp lý bảo vệ người tiêu dùng”, của tác giả Nguyên Linh đăng trên

dung.htm, nêu lên tình trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đang gia tăng, mà nguyên nhân là do những tồn tại, bất cập từ các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, nên họ chưa được bảo vệ đúng nghĩa trong thực tiễn và cần có sự nhìn nhận đúng về quyền của người tiêu dùng để có cơ chế bảo vệ cho phù hợp Ngoài

http://vneconomy.vn/home/67300P0C19/hong-co-che-phap-ly-bao-ve-nguoi-tieu-ra, còn nhiều bài viết phản ánh về hiện trạng nêu trên ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung các bài báo, bài tham luận cũng chỉ dừng lại ở mức độ nêu vấn đề

và gióng lên hồi chuông báo động cần quan tâm bảo vệ người tiêu dùng, chứ chưa

có cách nhìn tổng quát về lý luận cũng như đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền người tiêu dùng để tìm những bất cập và đề xuất giải pháp Tuy

Trang 8

nhiên, cũng chính những bài viết này đã khơi nguồn cho ý tưởng nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền người tiêu dùng của chính người viết luận văn này

Mặt khác, dưới góc độ nghiên cứu có một số bài viết như: “Bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng nhìn từ góc độ quản lý nhà nước” của TS Đinh Thị Mỹ Loan;

“Bảo đảm quyền của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải

pháp” của tác giả Phạm Phương Đông; “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam - một vài gợi ý từ góc nhìn lý luận” đăng trên tạp chí thông tin

khoa học pháp lý số 4+5/2007 của Dương Thị Thanh Mai;…Nội dung các bài viết

đã nêu những yếu kém, bất cập trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đưa

ra một số gợi mở hoàn thiện pháp luật, mà chưa đi sâu phân tích những bất cập cũng

như giải pháp hoàn thiện Về luận văn thạc sỹ luật học có đề tài “Hoàn thiện pháp

luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” do Nguyễn

Thị Thư thực hiện; Luận văn cử nhân có đề tài: “Bồi thường thiệt hại do vi phạm

quyền lợi người tiêu dùng” do Lê Thị Chiêu Oanh thực hiện Các luận văn trên tập

trung nghiên cứu khía cạnh hoàn thiện cơ chế pháp lý chung bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, về chế định bồi thường thiệt hại khi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng dưới góc độ của luật dân sự, mà chưa đi sâu phân tích những bất cập pháp luật về quyền của người tiêu dùng, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo vệ các quyền đó

Có thể nhận xét rằng, các công trình nêu trên đã đề cập một số vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đó là nguồn tham khảo vô cùng quý giá để thực hiện đề tài này Tuy nhiên, trên thực tế người tiêu dùng vẫn chưa được bảo vệ đúng mực Do đó, để pháp luật được thực thi và nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trước thực trạng xâm phạm quyền hiện nay, rất cần phải nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thực tiễn áp dụng pháp luật, tìm ra những hạn chế, bất cập để từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền người tiêu dùng Đó cũng chính là những nội dung

mà đề tài này hướng đến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về quyền của người tiêu dùng được

quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và các nghị định hướng dẫn có liên quan

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp

luật về quyền của người tiêu dùng trong phạm vi của Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành năm 1999 và các nghị định hướng dẫn có liên quan Đồng thời, nêu và phân tích một số thực trạng về việc xâm phạm quyền lợi người

Trang 9

tiêu dùng từ các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận trong kinh doanh thương mại hiện nay, cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật để bảo vệ quyền của người tiêu dùng trước sự xâm phạm đó, qua đó thấy được những bất cập từ các quy định pháp luật và có hướng kiến nghị hoàn thiện

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là làm rõ các khái niệm và phân tích các quy định pháp luật về quyền của người tiêu dùng, trên cơ sở đó phân tích một số thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng và việc áp dụng các quy định pháp luật để bảo vệ những quyền đó Từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật

để có một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong thực tiễn

Để đạt mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ cần thực hiện trong tiến trình nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến người tiêu dùng và các quy định về bảo vệ quyền của người tiêu dùng theo pháp luật, đồng thời nêu cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Phân tích một số thực trạng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thực tiễn, qua đó thấy những bất cập khi áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền người tiêu dùng trong thực tế;

- Đánh giá những bất cập pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nhằm đảm bảo quyền người tiêu dùng được thực thi hiệu quả trong thực tiễn

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:

- Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời qua phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ phát hiện những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, đảm bảo quyền người tiêu dùng được thực thi trong thực tiễn, đem lại công bằng và thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững;

- Nghiên cứu pháp luật về quyền của người tiêu dùng và thực tiễn áp dụng còn có tác dụng giúp người tiêu dùng nhận thức rõ hơn quyền và trách nhiệm để có thể tự bảo vệ họ khi bị xâm phạm quyền Mặt khác, hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền người tiêu dùng còn có tác dụng giáo dục ý thức chấp hành pháp luật

và tôn trọng người tiêu dùng đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cũng như tác động đến ý thức, vai trò của các cơ quan chức năng, tổ chức trong việc

Trang 10

bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về bảo vệ người tiêu dùng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đề tài còn là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà lập pháp trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, để xây dựng Luật bảo vệ người tiêu dùng trong tương lai

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, tác giả còn vận dụng liên kết các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để phân tích và nhận định vấn đề Trong đó: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong việc trình bày các khái niệm, các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng cũng như một số bất cập khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn; Phương pháp so sánh và thống kê được sử dụng để đối chiếu các quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng, cũng như so sánh quy định pháp luật một số quốc gia về bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng với pháp luật Việt Nam; Ngoài ra, tác giả còn trao đổi với một số người tiêu dùng và cán bộ, cơ quan thực hiện chức năng bảo vệ người tiêu dùng để tìm hiểu vướng mắc, khó khăn khi thực thi pháp luật

7 Cơ cấu đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung đề tài gồm 2 chương:

+ Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền của người tiêu dùng + Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng ở

Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Thực trạng, nguyên nhân xâm phạm quyền và sự cần thiết phải bảo

vệ quyền người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay

1.1.1 Thực trạng xâm phạm quyền của người tiêu dùng

Người tiêu dùng (NTD) là một bộ phận quan trọng trong xã hội và giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế, là động lực thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội Do đó, NTD cần được bảo vệ và được đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng khi mua và sử dụng hàng hóa trên thị trường Bảo vệ NTD gần đây được đề cập khá nhiều, được coi là một trong những vấn đề quan trọng và nóng bỏng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững của nước ta Bảo vệ NTD đã thực sự trở thành lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại kể từ khi Pháp lệnh bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) được ban hành năm 1999 Sự ra đời của Pháp lệnh cùng một số văn bản pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan đã tạo cơ

sở pháp lý cho việc bảo vệ NTD Với hệ thống pháp luật và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân và bản thân NTD, công tác bảo vệ NTD thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ Trên thực tế, số vụ vi phạm quyền lợi NTD tuy có gia tăng trong thời gian qua, nhưng với sự nỗ lực của toàn xã hội, đặc biệt là các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra và xử lý vi phạm, đã phát hiện nhiều vụ vi phạm và xử lý nghiêm minh, góp phần tích cực trong việc giáo dục, răn

đe các chủ thể sản xuất, kinh doanh Theo báo cáo chưa đầy đủ của 57 Ban chỉ đạo

127 các tỉnh, thành phố, năm 2008 các lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 194.184 vụ vi phạm pháp luật với tổng số thu là 2.134 tỷ đồng, trong đó xử phạt hành chính là 427 tỷ đồng, phạt và truy thu thuế là 944 tỷ đồng, trị giá hàng tịch thu

là 763 tỷ đồng1

Mặc dù vậy, số vụ vi phạm quyền NTD vẫn xảy ra ngày càng nghiêm trọng

và có chiều hướng gia tăng Qua số liệu thống kê của Cục Quản lý thị trường, số lượng hàng giả, hàng nhái, hàng kém phẩm chất tăng mạnh trong từng năm Cụ thể: Năm 2005 có hơn 60 nghìn vụ vi phạm, sang năm 2006 đã có hơn 63.400 vụ, năm

2007 tăng lên gần 65.000 vụ và năm 2008 là 70.473 vụ2 Với số vụ vi phạm như thế, nhưng trung bình mỗi năm trong cả nước chỉ có khoảng hơn 1.000 đơn khiếu nại

1 Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo 127/TW đăng trên bản tin Quản lý thị trường số 3, tháng 3/2009

2 Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý thị trường đăng trên bản tin Quản lý thị trường số 3, tháng 3/2009

Trang 12

liên quan đến xâm phạm quyền lợi NTD gửi tới Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD (Hội) Việt Nam đề nghị xử lý3 Đó chính là lý do khiến ông Hank Baker - đại diện

Dự án Star Việt Nam - phát biểu rằng: “…không thích là NTD Việt Nam, vì NTD

Việt Nam hiện nay chịu quá nhiều thiệt thòi và được bảo vệ kém nhất trên thế giới, NTD Việt Nam chưa được đảm bảo quyền lợi khi sử dụng các hàng hóa, dịch vụ, đa

số vẫn trông chờ vào lòng tốt của người bán hàng khi mua các sản phẩm trên thị trường”4 Nói như vậy nghe có phần chua xót nhưng lại phản ánh đúng hiện trạng

về thực trạng xâm phạm quyền NTD Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam thời gian gần đây, bên cạnh những lợi ích có được từ một thị trường rộng lớn với nền kinh tế mở, mặt trái của kinh tế thị trường dẫn đến nhiều vấn nạn xã hội, nhất là việc xâm phạm quyền lợi NTD Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay, các vụ vi phạm về chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) liên tiếp bị phát hiện ngày càng nhiều và mức độ ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người lại được bán tràn lan trên thị trường Liên quan đến vấn đề chất lượng hàng hóa, thời gian qua chúng ta thấy có hàng loạt vụ xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng con người Chẳng hạn: Vụ sữa bột có chứa hàm lượng Melamine gây sỏi thận được bán tràn lan trên thị trường, sữa đóng hộp không đúng trọng lượng, thành phần trên nhãn không đúng sự thật nhằm lừa dối người mua đã gây hoang mang cho NTD, đặc biệt gây nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của các em nhỏ - thế hệ tương lai của đất nước5 Hay vì mục tiêu lợi nhuận, một số doanh nghiệp đã bất chấp thủ đoạn khi sử dụng những hóa chất độc hại trong chế biến thực phẩm, vụ nước tương có chứa hàm lượng 3-MCPD gây bệnh ung thư là một điển hình, nước tương là mặt hàng thiết yếu trong đời sống con người, việc sử dụng hóa chất độc hại như thế đã gây nguy hại cho biết bao NTD đã sử dụng Gần đây, có hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm thức

ăn liên tiếp xảy ra tại các bếp ăn tập thể ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, rồi vấn đề rau xanh bị nhiễm chì, củ hành bị tẩm chất bảo quản chống mốc, chả lụa, bánh cuốn có hàn the, bánh phở nhiễm phoocmon, nước uống đóng chai bị nhiễm vi sinh,…những vụ việc trên đã báo động việc xâm phạm sức khoẻ NTD Thực tế hiện

3 Xem: http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/thi_truong/20080701/35A7C918/ , Mặc áo giáp cho người tiêu dùng

4 Phát biểu của Ông Hank Baker - đại diện Dự án Star Việt Nam - tại Hội thảo “Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ NTD và định hướng xây dựng Luật Bảo vệ quyền NTD” do Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương tổ chức tại Hà Nội, đăng trên báo báo đầu tư ngày 16/6/2008 với tựa đề “NTD Việt Nam chịu quá nhiều thiệt thòi”

5Đỗ Thị Ngọc (2007), “Vấn đề bảo vệ NTD trên cơ sở xem xét một số vụ việc cụ thể tại Việt Nam”, Tạp chí

Nhà nước và pháp luật, (10)

Trang 13

nay ở nước ta, NTD luôn đứng trước nguy cơ mua phải hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, hàng không có nhãn mác, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, trong nhiều trường hợp NTD phải trả giá quá đắt cho sự lựa chọn nhầm lẫn của mình Trong khi

ở những nước phát triển, hàng giả không phải là mối quan tâm hàng đầu của NTD, thì ở nước ta, vấn nạn hàng giả đang lan tràn và có hiện tượng gia tăng, đã gây tác hại không nhỏ cho NTD, đặc biệt là những người nghèo, những người ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo Hầu như các loại sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường đều có sản phẩm làm giả, từ những mặt hàng đơn giản như cái mũ, cái áo đến những mặt hàng cao cấp như điện lạnh, điện tử đã gây thiệt hại không nhỏ cho NTD không chỉ về vật chất mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, các loại mỹ phẩm bị làm giả là điển hình khi các nhà sản xuất vẫn xem thường tính mạng con người để tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiện nay, nhiều loại sản phẩm chứa các chất độc hại có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của xã hội vẫn lưu thông trên thị trường, có nghĩa là quyền lợi của hàng triệu NTD Việt Nam đang bị xâm phạm nghiêm trọng Thực trạng này cho thấy lương tâm, đạo đức của một số doanh nghiệp đang bị xuống cấp trầm trọng, vì lợi nhuận họ sẵn sàng

làm tất cả kể cả tướt đoạt sinh mạng con người

Không những không được đảm bảo an toàn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ,

mà ngay cả quyền được sống trong môi trường trong lành của NTD cũng bị xâm phạm nghiêm trọng Chúng ta thấy rằng, ngày nay điều kiện môi trường thay đổi khắc nghiệt, bão lũ thường xảy ra, hạn hán kéo dài, không khí luôn bị ô nhiễm bởi khói bụi, nguồn nước nhiễm bẩn từ các chất thải công nghiệp,…và thực trạng sông Thị Vải bị ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước do việc xả chất thải của công ty sản xuất bột ngọt Vedan là một minh chứng cho sự ô nhiễm môi trường, vì lợi ích trước mắt mà họ sẵn sàng hủy hoại môi trường sống của con người, nếu chúng ta không

có giải pháp đúng đắn ngay từ bây giờ thì thảm họa về môi trường chắc chắn xảy ra trong tương lai và sức khỏe, tính mạng con người sẽ không được đảm bảo Dù pháp luật đã quy định cho NTD quyền được đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng và môi trường khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Nhưng với thực trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc,…đang diễn ra trên thị trường và có chiều hướng gia tăng, đã báo động quyền được an toàn của NTD đang bị xâm phạm nghiêm trọng Vấn đề an toàn sản phẩm, dịch vụ là nhiệm vụ quan trọng, cần được

sự quan tâm thích đáng của các cơ quan chức năng cũng như toàn xã hội

Đối với việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm không phải là hàng thực phẩm cũng tương tự Điển hình là vụ xăng pha aceton làm hỏng động cơ xe máy

gây thiệt hại cho biết bao NTD, nhưng pháp luật Việt Nam lại không có quy định

Trang 14

chế tài nào xử lý hành vi vi phạm trên Mặt khác, tại các điểm kinh doanh xăng dầu thường xuyên có tình trạng vi phạm đo lường, xăng không đạt chất lượng công bố, nhưng rất ít khi bị phát hiện và xử lý bởi các cơ quan có thẩm quyền, từ đó cho thấy vai trò của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD đang còn bỏ ngỏ Bên cạnh đó, hàng loạt vụ phân bón kém chất lượng, phân bón giả gây thiệt hại cho biết bao NTD, đặc biệt là những nông dân nghèo sống bằng nghề trồng trọt, đã

ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống gia đình họ khi chỉ trông vào mùa vụ đó

Không chỉ chất lượng hàng hóa mà quyền lợi NTD con bị xâm phạm ở các lĩnh vực khác như: thông tin gian dối, giá cả cạnh tranh không lành mạnh, giá cả chênh lệch,…Hầu như nơi đâu có hoạt động mua bán thì sẽ có các hành vi gian lận Liên quan về giá cả hàng hóa, gần đây dư luận lại xôn xao bởi việc liên kết nâng giá bán của công ty Honda, biết tâm lý NTD chuộng sản phẩm của Honda, nên công ty

đã liên kết với các cửa hàng bên ngoài để nâng giá bán nhằm chia lợi nhuận, trong khi tại cửa hàng, công ty lại tạo ra thông tin khan hiếm hàng giả tạo, NTD không đủ kiên nhẫn chờ Honda bán ra sản phẩm đúng giá, còn nếu mua ngoài cửa hàng thì phải chấp nhận sự chênh lệch giá lên cả chục triệu đồng; Hay hiện tượng gian dối taximet khi vận chuyển của các hãng taxi, dịch vụ viễn thông thường xuyên bị nghẽn mạch,…đã và đang gây nhiều bức xúc trong cộng đồng xã hội bởi sự xem thường NTD của các doanh nghiệp Ngoài ra, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, trên thị trường đang xuất hiện nhiều phương thức kinh doanh mới như bán hàng đa cấp, bán hàng qua mạng, qua điện thoại,…đã tạo thuận tiện cho các bên trong giao dịch, nhưng đây chính là môi trường làm phát sinh những hành vi vi phạm quyền lợi NTD ngày một tinh vi và phức tạp hơn với những lời quảng cáo, chào mời thật hấp dẫn, khiến NTD dễ bị xao lòng và chấp nhận mua Thực tiễn này cho thấy, quyền được cung cấp thông tin trung thực của NTD đang bị xâm phạm nghiêm trọng bởi sự “hám lợi” của một số doanh nghiệp làm ăn bất chính

Thực tế cho thấy rằng, quyền lợi NTD bị xâm hại không chỉ đối với hàng hóa sản xuất trong nước mà còn liên quan đến hàng hóa nhập khẩu Gần đây, có thông tin về hàng tiêu dùng, hàng thực phẩm của Trung Quốc không an toàn cho người sử dụng, thông qua việc kiểm tra, kiểm nghiệm, ngành y tế mới chỉ phát hiện trong son môi Trung Quốc có chứa chất sudan có khả năng gây ung thư, còn các mặt hàng khác như: hàng dệt may, đồ chơi trẻ em, thực phẩm, hoa quả,…đều chưa xác định được có chất gây độc hại, trong khi các mặt hàng này đang chiếm lĩnh thị trường nước ta, mà các cơ quan chức năng vẫn chưa đưa ra bất kỳ lời cảnh báo nào đến NTD Trong khi đó, NTD vẫn mua các loại hàng này về sử dụng dù chưa qua kiểm

Trang 15

dịch, kiểm soát chất lượng và họ không biết hàng hóa này ngày ngày ảnh hưởng đến sức khỏe của mình6

Mặt khác, không chỉ các doanh nghiệp vi phạm quyền lợi NTD, mà quyền của NTD còn bị xâm phạm bởi chính hoạt động của các cơ quan và cán bộ nhà nước Chúng ta thường nghe các cơ quan chức năng tuyên truyền với NTD rằng

“Hãy là người tiêu dùng thông thái”, nhưng một nghịch lý là những vụ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi NTD trong thời gian gần đây như: vụ xăng có chứa aceton gây hỏng động cơ xe máy, nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, sữa bột có độc chất Melamine gây sỏi thận, vấn nạn sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường,…cho thấy các cơ quan chức năng chưa làm hết vai trò của mình Như chúng ta biết, đây là những sản phẩm đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn và phương tiện kỹ thuật để nhận biết, do vậy chỉ các nhà sản xuất, các cơ quan quản lý, các tổ chức có chuyên môn, nghiệp vụ cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học kỹ thuật mới nhận biết được thực

hư về chất lượng hàng hóa, chứ NTD thông thường dù có thông thái đến mấy cũng không thể nhận ra những dấu hiệu trên khi chỉ nhìn vào hàng hóa để chọn mua NTD chỉ có thể thông thái trong khả năng của họ như việc ăn sôi, nấu chín, lựa hàng hóa có nhãn mác, nguồn gốc, giữ vệ sinh đối với thực phẩm,…chứ họ không thể thông thái đến mức nhận ra những hàng hóa nào là kém chất lượng hay hàng giả, hàng nhái khi chưa được sự cảnh báo từ các cơ quan, tổ chức có chức năng về sản phẩm đó, càng không nhận ra khi các nhà sản xuất cố tình công bố sai sự thật về chất lượng hàng hóa Vậy nếu đòi hỏi sự thông thái của NTD, trước tiên phải nói đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ thực hiện chức năng kiểm nghiệm, thanh tra, kiểm tra, chỉ những lực lượng này mới đủ điều kiện thông thái để nhận biết chất lượng sản phẩm, họ nên công bố những sản phẩm vi phạm cũng như khuyến cáo những mặt hàng NTD không nên sử dụng bởi tính an toàn của

nó, có như thế NTD mới có thể thông thái khi lựa chọn hàng hóa cần thiết cho mình Thực tế hiện nay, hầu như những vụ việc vi phạm quyền lợi NTD chỉ được các cơ quan chức năng vào cuộc sau khi cơ quan báo chí phanh khui sự thật và NTD

đã bị thiệt hại Chính sự thơ ơ và tắc trách của các cơ quan đã góp phần tạo nên thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng gia tăng trong thực tế

Sự thật đáng buồn hơn, lẽ ra các cơ quan chức năng càng phải kiên quyết hơn trong việc BVQLNTD, thì chính họ lại thông đồng với doanh nghiệp vì mưu cầu tư lợi để lừa dối NTD, qua việc “ém nhẹm” thông tin khi họ đã biết sự thật về chất

6 Xem: http://www.baohungyen.vn/content/viewer.asp?a=5709&z=73 , Bảo vệ quyền lợi của NTD, những

vấn đề đặt ra

Trang 16

lượng và tác hại của hàng hoá Vụ ém nhẹm sự thật về nước tương có chứa độc tố MCPD trong nước tương suốt sáu năm trời, bỏ mặc NTD cứ sử dụng dù hơn ai hết

3-cơ quan này biết rõ tác hại của việc dùng thực phẩm này là một điển hình; Hay việc

mũ bảo hiểm kém chất lượng gây thiệt hại về vật chất, tính mạng và sức khỏe NTD, nhưng sau thời gian rất dài cơ quan chức năng mới vào cuộc, vấn đề chất lượng mũ bảo hiểm có đạt hay không chỉ có cơ quan chức năng mới biết và họ có trách nhiệm phải cung cấp thông tin về những nhãn hiệu nào kém chất lượng để NTD biết và tránh khi chọn mua Hơn nữa, nếu đã là hàng kém chất lượng thì phải được các cơ quan chức năng phát hiện ngay từ giai đoạn tiền kiểm để cấm không cho lưu hành trên thị trường, hoặc phải thường xuyên kiểm tra tình hình thị trường và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, chứ sao để các sản phẩm không đảm bảo an toàn cho NTD được ngang nhiên lưu hành trên thị trường gây nhầm lẫn cho NTD; Việc sử dụng thuốc kích thích rau củ tăng trưởng nhanh, vấn nạn sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường, là những điển hình cho việc thiếu trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc đảm bảo quyền lợi NTD Những vấn đề trên chính là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm ngăn chặn không cho những hàng hóa không đảm bảo an toàn cho NTD lưu thông trên thị trường, lẽ ra các cơ quan này phải là nơi phát hiện đầu tiên và thông tin cho NTD biết, tránh mua nhầm thì lại đón nhận bằng sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền Thực tế, NTD Việt Nam đã và đang phải đối mặt với thực trạng xâm hại quyền của NTD, nhưng việc bảo vệ NTD từ phía cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức BVQLNTD chưa thật sự hiệu quả, đã làm cho quyền được đảm bảo an toàn và được cung cấp thông tin trung thực của NTD chưa được thực thi trong thực tiễn

Bảo vệ NTD đã trở thành vấn đề rất bức xúc không chỉ ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho NTD Việt Nam cơ hội tự do lựa chọn hàng hóa, dịch vụ với chất lượng ngày càng tốt và giá cả ngày càng hợp lý hơn Tuy nhiên, quá trình hội nhập cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây hại cho NTD như dễ mua phải các sản phẩm kém chất lượng, không đảm bảo VSATTP, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc,…điều này thể hiện qua sự gia tăng các vụ khiếu nại của NTD Theo số liệu thống kê của Hội tiêu chuẩn và BVNTD, hàng năm có trên 1.000 vụ việc khiếu nại của NTD gửi đến Hội nhờ giúp đỡ7 Tuy nhiên, con số này vẫn chưa phản ánh hết quy mô, mức độ xâm phạm quyền lợi NTD

7 Xem: http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/thi_truong/20080701/35A7C918/ , Mặc áo giáp cho người tiêu dùng

Trang 17

trong cả nước, điều đó cho thấy quyền NTD bị xâm phạm ở mức báo động và những vụ điển hình trên đã minh chứng cho thực trạng này

1.1.2 Nguyên nhân thực trạng xâm phạm quyền của người tiêu dùng

Thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD nêu trên xuất phát từ nhiều lý do, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ phân tích một số nguyên nhân chủ yếu sau:

1.1.2.1 Từ phía người tiêu dùng

Mặc dù NTD là số đông trong xã hội nhưng chủ yếu hành động riêng lẽ, do

đó trong giao dịch với doanh nghiệp, NTD thường đứng ở thế yếu hơn và thường

chịu nhiều thiệt thòi, trên thực tế có rất nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng quyền lợi NTD, nhưng việc khởi kiện, khiếu nại của NTD còn nhiều hạn chế bởi nhiều lý do khác nhau Một trong những lý do khiến NTD không mặn mà với việc khởi kiện là

do NTD chưa ý thức đầy đủ quyền và trách nhiệm, cũng như vị trí của họ trong xã hội, thậm chí NTD còn không biết được pháp luật quy định cho họ những quyền gì, bên cạnh đó nhận thức của NTD chưa cao, chưa theo kịp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội, NTD còn thiếu nhiều kiến thức về tiêu dùng và pháp luật, đặc biệt ở những khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, nơi NTD còn chưa có điều kiện để tiếp cận thông tin Mặt khác, NTD Việt Nam đôi khi còn quen với lối sống tình cảm, chưa có ý thức sống theo pháp luật cũng như chưa có thói quen giữ lại hóa đơn, chứng từ khi mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ, chưa lưu mẫu hàng hóa để đối chứng khi cần thiết Đó chính là nguyên nhân dẫn đến các vụ khiếu nại của NTD không được giải quyết trên thực tế Hơn nữa, tâm lý NTD Việt Nam thích mua hàng giảm giá, đặc biệt là đồ ngoại giá rẻ, mà bản thân NTD lại thiếu hiểu biết về pháp luật, kiến thức tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ nên chưa tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính mình, đây là điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện hành vi xâm phạm quyền NTD

Thực tiễn cho thấy, NTD Việt Nam chưa khai thác triệt để các quyền mà pháp luật quy định cho họ, nguyên nhân của tình trạng này không chỉ do NTD chưa

ý thức đầy đủ quyền và trách nhiệm, mà với tâm lý ngại đấu tranh, ngại tranh chấp,

ngại phiền hà, không muốn mất thời gian, nên nhiều NTD chưa quen thực hiện quyền được khiếu nại, khiếu kiện của mình Trên thực tế một số NTD chỉ lên tiếng khi bị thiệt hại với giá trị kinh tế lớn hoặc khi hành vi xâm phạm đến nhiều NTD trong xã hội, còn những giao dịch nhỏ lẻ, giá trị không lớn, khi bị thiệt hại NTD chỉ rút kinh nghiệm chứ không thiết tha với việc khởi kiện, đây chính là điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện hành vi bất chính nhằm thu lợi nhuận trên tập thể NTD Thực tế cho thấy, những hành vi xâm phạm quyền lợi số ít NTD dường như bị các

Trang 18

cơ quan chức năng và công luận bỏ quên bởi tính cá biệt, riêng lẽ và hậu quả không lớn, xã hội chỉ bị chấn động và quan tâm nhiều đến các vụ việc có tác động lớn đến thị trường như vụ điện kế điện tử, vụ nước tương có chứa chất 3-MCPD, việc tăng giá xăng dầu, vụ sữa bột gây sỏi thận,…Đây cũng là một trong những lý do góp

phần làm cho thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng gia tăng

Với trình độ tri thức chưa cao cùng với tâm lý ngại đấu tranh, ngại kiện tụng

và chưa có thói quen sống theo pháp luật, mà thời gian qua quyền lợi NTD luôn bị xâm phạm trên thực tế, bởi chính NTD không có ý thức bảo vệ mình thì cơ quan hay tổ chức khác khó có thể bảo vệ được họ Chẳng hạn, NTD có thể chủ động bảo

vệ mình qua việc mua hàng hóa ở những cửa hàng, đại lý lớn, đủ độ tin cậy về chất lượng sản phẩm, có cung cấp hóa đơn, chứng từ khi mua hàng, kiên quyết nói không với những sản phẩm rẻ tiền so với trị giá thật của nó, không mua hàng khi chưa biết rõ nguồn gốc cũng như chất lượng sản phẩm, Khi quyền thông tin của NTD còn chưa được đảm bảo đầy đủ và trung thực, thì ý thức nâng cao cảnh giác để

tự bảo vệ mình khi chọn mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ là yêu cầu cần thiết đối với NTD trong bối cảnh hiện nay

1.1.2.2 Từ phía các doanh nghiệp

Với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD như hiện nay đã gióng lên hồi chuông báo động sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chưa đề cao chữ tín trong kinh doanh mà chỉ đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, chưa chú trọng lắng nghe và tiếp thu ý kiến của NTD, bất chấp thủ đoạn kể cả việc xâm phạm sức khỏe, tính mạng NTD để đạt lợi nhuận, đây

là thực tế đáng buồn vì một xã hội văn minh không thể tồn tại những kiểu làm ăn gian dối như thế Chúng ta không phủ nhận kinh tế thị trường đã mang lại những thành tựu đáng kể cho xã hội, tuy nhiên mặt trái nền kinh tế mở cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống NTD, nhất là họ lại trở thành nạn nhân của một số doanh nghiệp làm ăn bất chính, xem nhẹ quyền lợi NTD, sẵn sàng xâm phạm những quyền

đó với bất kỳ thủ đoạn nào, miễn sao thu lợi cho doanh nghiệp Những kiểu làm ăn gian dối này không chỉ gây thiệt hại cho người trực tiếp sử dụng, mà còn gây hại cho cả nền kinh tế quốc gia

Không chỉ xem nhẹ quyền NTD, những hành vi vi phạm đó còn thể hiện sự xem thường pháp luật của các nhà sản xuất, kinh doanh Nhà nước đã tạo điều kiện

để họ được tự do kinh doanh và pháp luật cũng đã quy định họ phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền lợi NTD, tuân thủ các quy định pháp luật Thế nhưng, thực tế cho thấy các doanh nghiệp còn bất chấp pháp luật để tìm lợi nhuận, qua việc có hàng loạt vụ xâm phạm quyền lợi NTD thường xuyên xảy ra trong đời sống hằng ngày Mặt

Trang 19

khác, NTD Việt Nam còn thiếu kiến thức, tâm lý ngại kiện tụng và bản chất cam chịu, sẵn sàng bỏ qua với những thiệt hại không lớn nên các doanh nghiệp cứ tha hồ kiếm lợi trên tập thể NTD Với nhận thức trên của một số doanh nghiệp, đã làm cho việc xâm phạm quyền NTD càng gia tăng trong thực tế

1.1.2.3 Từ các quy định pháp luật

Trong những năm qua, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong các lĩnh vực như: hành chính, dân sự, hình sự, kinh tế,…đặc biệt là ban hành Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 cùng văn bản hướng dẫn thi hành, nhưng việc xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ Vấn đề này do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên bất cập pháp luật là một trong những rào cản chính làm cho NTD Việt Nam chưa được bảo vệ tốt nhất Mặc

dù Pháp lệnh BVQLNTD đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của NTD, cũng như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, bên cạnh đó pháp luật trong các lĩnh vực khác cũng điều chỉnh các hành vi liên quan đến quyền lợi NTD Thế nhưng, các quy định vẫn còn mang tính tổng quát và thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện, do đó mà hiện tượng gian thương, lừa dối khách hàng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích NTD vẫn thường xuyên xảy ra trong thực tế Mặt khác,

hệ thống pháp luật chưa có chế tài đủ mạnh, cơ chế chưa triệt để, thủ tục còn rườm

rà, nhiều quy định còn bất cập và người dân chưa thông hiểu pháp luật,…là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc xâm phạm quyền lợi NTD gia tăng8

1.1.2.4 Từ các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

Với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD như hiện nay, không thể không nói đến vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước, chính sự yếu kém, chưa sâu sát của các cơ quan chức năng trong công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát đã làm cho những hàng hóa không đạt chất lượng luôn tồn tại trên thị trường, NTD không được cảnh báo kịp thời, chưa có thông tin đầy đủ và chính xác về sản phẩm, nên bị xâm phạm quyền lợi là điều không tránh khỏi Việc vi phạm về nhãn sữa bột là một điển hình cho sự buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng, vì “thực tế kiểm tra cho thấy có nhiều cơ sở sai phạm về nhãn mác nhưng các cơ quan có thẩm quyền vẫn không thể xử lý được vì các hãng, các cơ sở đều xuất trình được những giấy tờ chứng nhận liên quan đến việc sử dụng tên hàng hóa, chất lượng sản phẩm đều được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm xác nhận và cho phép”9 Hiện nay, vấn đề chất lượng hàng tiêu dùng đang bị thả nổi, hàng loạt vụ hàng hóa không đảm bảo chất lượng xâm phạm quyền lợi NTD như: Xăng chứa aceton gây hỏng động cơ xe máy;

8 Những bất cập pháp luật sẽ được phân tích và trình bày chi tiết trong mục (2.2) về đánh giá pháp luật

9 Xem: www.tintuconline.com.vn/vn ngày 7/12/2006 , Lê Minh Triết, “Bó tay trước hàng loạt sai phạm về sữa”

Trang 20

Sữa tươi được làm từ sữa bột hay trong sữa có chất gây sỏi thận; Nước tương chứa hàm lượng 3-MCPD gây ung thư,…đã gây nguy hại cho sức khỏe và tính mạng NTD Thế nhưng, các sản phẩm trên đều được cơ quan chức năng chứng nhận lưu hành hợp pháp sau khi kiểm tra chất lượng, vấn đề đặt ra là việc tiền kiểm và hậu kiểm về chất lượng hàng hóa khi công bố đưa ra lưu hành có được cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm hay không, hay chỉ là hình thức trong khi NTD lại lấy đó làm chuẩn mực để lựa chọn hàng hóa cho mình

Thực tế đáng buồn hơn, việc các cơ quan chức năng không kiểm tra đến nơi đến chốn đã không thể chấp nhận được, đằng này khi đã phát hiện hàng hóa không

an toàn thậm chí gây thiệt hại cho tính mạng con người nhưng các cơ quan chức năng vẫn dững dưng, rất chậm trễ trong việc công bố thông tin, thậm chí một số trường hợp còn “ém nhẹm” thông tin, đến khi báo chí phanh khui sự việc thì các cơ quan mới bắt đầu vào cuộc một cách chậm chạp Vụ ém nhẹm thông tin nước tương

có chất gây ung thư hay công bố mập mờ về sản phẩm vi phạm là những điển hình cho sự tắc trách của cơ quan quản lý nhà nước10 Công bố thông tin là quyền của NTD và là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, thế nhưng cơ quan có chức năng bảo vệ NTD lại còn xâm phạm quyền lợi của họ thì trách sao những doanh nghiệp lại không mạnh tay vi phạm Các cơ quan quản lý chẳng những không làm hết trách nhiệm của mình mà còn bao che để biện minh cho các doanh nghiệp tiếp tục xâm phạm quyền lợi NTD, lẽ ra đó là đối tượng các cơ quan cần kiên quyết loại trừ để bảo vệ tốt hơn quyền của NTD đã được pháp luật quy định

Công tác quản lý đã thế, công tác xử lý vi phạm còn nhọc nhằn hơn khi không có sự thống nhất giữa các cơ quan chức năng trong việc phân định thẩm quyền quản lý, cũng như giữa các cơ quan không có sự phối hợp chặt chẽ khi thực hiện chức năng của mình, chính vì thế mà xảy ra sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các

cơ quan và NTD là người lãnh đủ sự nhọc nhằn, thiệt thòi bởi sự đùn đẩy giữa các

cơ quan Việc quản lý chất lượng sữa bột là một minh chứng cho thực trạng này, cùng mặt hàng nhưng lại có đến hai cơ quan quản lý: Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý về chất lượng, còn Bộ y tế quản lý về vệ sinh và an toàn thực phẩm, trong khi đó để kết luận sản phẩm đạt chất lượng hay không phải đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố, nhưng trên thực tế các cơ quan này mạnh ai nấy làm theo nhiệm vụ, chức năng của mình mà thiếu sự phối hợp chặt chẽ để quản lý tốt cùng lĩnh vực, điều này càng tạo điều kiện cho việc xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng gia tăng Ngoài ra, sự chưa chú trọng nhiều đến công tác BVQLNTD của số ít cán bộ thực thi

10 Xem :“Ém thông tin” chuyện không chỉ một lần đăng trên tuổi trẻ cuối tuần ngày 02/6/2007

Trang 21

nhiệm vụ và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng là lý do khiến NTD chưa được bảo vệ trong thực tiễn

Ngoài ra, vấn đề nhân sự cũng làm giảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan, bởi nhân sự thực thi công tác bảo vệ NTD không nhiều và chủ yếu là kiêm nhiệm, năng lực và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được những yêu cầu bảo vệ NTD trong tình hình mới, trước thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD gia tăng trong thực

tế, với đội ngũ cán bộ như thế, các cơ quan có giải quyết kịp thời và thỏa đáng các

vụ việc xâm phạm quyền lợi NTD ngày càng nhiều hay không Đây là vấn đề chúng

ta cần nhìn nhận và có hướng giải quyết trong thời gian tới, để công tác bảo vệ NTD được hiệu quả và NTD không phải sống trong nỗi lo sợ, khi mà xã hội đầy vẫy những thủ đoạn xâm phạm đến lợi ích và tính mạng của họ

1.1.2.5 Từ các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng

Theo quy định pháp luật, NTD ngoài việc trực tiếp đứng ra khiếu nại, khởi kiện doanh nghiệp xâm phạm quyền, còn có thể thông qua đại diện là Hội tiêu chuẩn và BVNTD để đòi quyền lợi cho mình Tuy nhiên, vấn đề đặt ra liệu Hội có thực sự bảo vệ được quyền lợi cho NTD chưa, khi thực tế Hội được thành lập không theo yêu cầu, mục đích của NTD, từ đó chưa tạo được lòng tin nơi NTD, đa số Hội BVNTD hiện nay được thành lập do cơ cấu sắp xếp từ các cơ quan quản lý nhà nước qua việc chỉ định cán bộ về hưu đảm trách, nên không đủ mạnh để bảo vệ NTD, chính vì thế đôi khi NTD còn chưa biết đến sự tồn tại của Hội, nói chi đến việc nhờ Hội bảo vệ Mặt khác, dù là tổ chức bảo vệ NTD nhưng thực chất Hội chưa được pháp luật trao quyền pháp lý, nên tiếng nói của Hội cũng chưa đủ mạnh

để buộc doanh nghiệp hay cơ quan chức năng phải thực hiện những yêu cầu nhằm bảo vệ NTD

Nguyên nhân khác khiến cho hoạt động của Hội chưa hiệu quả là do Hội không có đủ nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu thực tiễn về bảo vệ NTD, bởi vì để bênh vực cho NTD đòi hỏi cán bộ công tác tại Hội phải có năng lực trình độ, am hiểu pháp luật, có kiến thức tiêu dùng cũng như đủ trình độ chuyên môn để đấu lý với doanh nghiệp, thế nhưng Hội là tổ chức xã hội hoạt động không có thu, thiếu kinh phí hoạt động, không thu hút được cán bộ trẻ có năng lực trình độ đáp ứng yêu cầu bảo vệ NTD trong thực tế Hơn nữa, Hội cũng không có điều kiện cơ sở vật chất

để phục vụ yêu cầu bảo vệ NTD Chính vì thế, mà Hội vẫn chưa thực hiện tốt vai trò của mình để góp phần ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền NTD

Ngoài những nguyên nhân trên, chúng ta không thể phủ nhận hoạt động bảo

vệ NTD còn là vấn đề khá mới mẽ ở Việt Nam, nên chưa thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội cũng như chính NTD Mặt khác, công tác tuyên truyền, phổ biến

Trang 22

pháp luật về BVQLNTD chưa được thực hiện thường xuyên trong thời gian qua cũng là nguyên nhân làm cho công tác bảo vệ NTD chưa đạt hiệu quả

1.1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay

Trong nền kinh tế thị trường, mức độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự tác động qua lại giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với NTD Từ đó cho thấy, NTD giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế và là đối tượng hướng tới của mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh, là nhân tố thúc đẩy kinh tế phát triển và động cơ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều phương thức kinh doanh hiện đại ra đời, phát triển và du nhập vào Việt Nam, đã tạo cho NTD nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ Thế nhưng, mặt trái kinh tế thị trường làm NTD dễ bị nhầm lẫn về chất lượng hàng hóa, dịch vụ bởi thủ đoạn làm ăn bất chính của một số doanh nghiệp luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà xem thường tính mạng, sức khỏe NTD, hành vi này không chỉ gây hại cho cá nhân tiêu dùng mà còn ảnh hưởng xấu đối với nền kinh tế Tuy NTD là số đông trong xã hội nhưng họ không được tổ chức lại một cách thống nhất để tạo nên sức mạnh tập thể, tiếng nói đơn lẽ của họ cũng ít được lắng nghe Ở những lĩnh vực nhất định, NTD kém hiểu biết hơn nhà sản xuất, kinh doanh, bởi vậy trong mối quan hệ sản xuất - tiêu dùng, NTD luôn đứng ở vị thế yếu hơn nên chịu nhiều thiệt thòi Mà “một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu”11, nhưng thực tế hiện nay, NTD chưa thật sự được tôn trọng khi đời sống hàng ngày luôn có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ qua việc sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng có sử dụng những thành phần gây hại cho con người,…Trên thực tế, các hành vi vi phạm quyền lợi NTD ngày càng tăng lên cả về số lượng lẫn mức độ, cho thấy các quy định pháp luật dần bị lạc hậu, việc hoàn thiện pháp luật để tạo cơ

sở pháp lý vững chắc cho công tác bảo vệ NTD đang là đòi hỏi cấp thiết, cần được

sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

Qua thực trạng nêu trên, chúng ta thấy rằng quyền lợi NTD đang bị xâm phạm ở mức báo động, không chỉ về vật chất mà còn thiệt hại cả sức khỏe và tính mạng Vấn đề đặt ra, cần quan tâm hơn nữa công tác BVNTD, bởi đây không chỉ đơn thuần là bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn thúc đẩy sự phát triển cả nền kinh tế, bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và là Hội viên của tổ chức

11 Nguyễn Như Phát (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay,

NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10

Trang 23

quốc tế NTD, đảm bảo tốt quyền lợi NTD là một trong những cách thể hiện trình độ phát triển quốc gia so với bạn bè quốc tế Do đó, bảo vệ NTD trong giai đoạn hiện nay là nhu cầu tất yếu cả về mặt kinh tế lẫn góc độ xã hội và nhân văn

1.2 Khái niệm người tiêu dùng

Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội, con người cần phải có mối tương tác qua lại, không ai có tất cả những thứ mình cần cũng như không thể sống mà không cần sự trao đổi lẫn nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi người trong đời sống.Việc có nhu cầu và sử dụng hàng hóa hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu đó được hiểu là hành vi tiêu dùng trong xã hội Theo sự tra cứu của tác giả về thuật ngữ tiêu dùng được ghi nhận trong từ điển tiếng Việt thì “tiêu” có nghĩa là việc dùng tiền vào việc mua sắm, còn “dùng” là việc con người sử dụng những hàng hóa, dịch

vụ đó để phục vụ cho nhu cầu của mình Như vậy “tiêu dùng là việc sử dụng của

cải, vật chất để thỏa mãn các nhu cầu của sản xuất và đời sống” 12 Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu mọi hành vi của con người trong việc sử dụng tài sản của mình, để đổi lấy những thứ mình cần nhằm phục vụ cho nhu cầu của mình trong cuộc sống được hiểu là hành vi tiêu dùng Không ai trong xã hội tồn tại mà không

có những nhu cầu thiết yếu cho bản thân, do vậy tất cả mọi người đều là NTD trong

xã hội Tuy nhiên, khi nói về khái niệm NTD thì có rất nhiều quan điểm khác nhau không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam, mà cả các quốc gia phát triển trên thế giới cũng thế Chúng tôi sẽ tìm hiểu khái niệm NTD được một số nước trên thế giới ghi nhận

như sau:

Theo quy định pháp luật Thái Lan về bảo vệ người tiêu dùng (BVNTD) được

ban hành năm 1979 ghi nhận “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ

của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”13 Với định nghĩa này, NTD

theo quan điểm của các nhà làm luật Thái lan được hiểu hoặc là “người mua” hoặc

là “người sử dụng” chứ không được hiểu cả hai, điều này dường như không chuẩn xác đối với thực tế tiêu dùng và đối tượng tiêu dùng trong xã hội hiện nay, bởi vì trong thực tế người mua nhiều khi cũng là người sử dụng hàng hóa cho nhu cầu bản thân Mặt khác, khái niệm trên cũng không đề cập đến mục đích của việc tiêu dùng

là gì, nên trường hợp này, NTD mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt hay sản xuất, kinh doanh đều được chấp nhận Theo Luật BVNTD Ấn Độ

ban hành năm 1986 thì NTD được hiểu “là bất cứ người nào mua hàng có trả tiền,

đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh

12 Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Viện ngôn ngữ học

13 Viện nhà nước và pháp luật (1999), Tìm hiểu luật bảo vệ người tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người

tiêu dùng ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, tr.208 -213

Trang 24

toán một phần, hoặc theo cách trả dần…có sự tán thành của người đã được nhắc đến đầu tiên ở trên” 14 So với cách hiểu về NTD trong pháp luật BVNTD Thái Lan,

thì khái niệm NTD trong Luật của Ấn Độ có phần chi tiết hơn, nhưng xét về nghĩa của từ, định nghĩa trên chỉ mới làm rõ nghĩa ở khía cạnh mua hàng và thuê dịch vụ, chứ chưa làm rõ được khía cạnh sử dụng hàng hóa và dịch vụ thì thế nào

Mặt khác, khi nói về mục đích tiêu dùng, pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng quan điểm khác nhau Chẳng hạn, theo Luật BVNTD Đài Loan ghi

nhận“NTD là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc

dịch vụ vì mục đích tiêu dùng” 15 Với quan điểm này, NTD chỉ gồm những người sử

dụng hàng hóa cho mục đích sinh hoạt, còn những người sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh không được thừa nhận là NTD Trái với Luật BVNTD Đài Loan, Luật BVNTD Malaysia lại thừa nhận rằng NTD không chỉ bao gồm NTD cho sinh

hoạt mà còn bao gồm cả NTD cho sản xuất với mục đích sinh lợi Cụ thể:“NTD là

người nhận hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử dụng trong

hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng; Không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc dùng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích cung cấp lại vì mục đích thương mại,tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất, trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý các hàng hóa và tài sản gắn liền với đất khác” 16

Qua các khái niệm nêu trên, cho thấy Luật BVNTD các nước đều tiếp cận khái niệm “NTD” gắn với mục đích tiêu dùng cá nhân và gia đình, mà không thừa nhận mục đích sản xuất Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng, các quan hệ gắn với mục đích sản xuất, kinh doanh đã có hệ thống pháp luật điều chỉnh riêng Và ngay trong dự Luật mẫu BVNTD của Hiệp hội NTD thế giới được thành lập ngày

01/4/1960 cũng thừa nhận “NTD có nghĩa là người yêu cầu hay sử dụng hàng hóa

hay dịch vụ cho những mục đích cá nhân, trong gia đình hay nội trợ” 17 Với sự ghi nhận này của Hiệp hội quốc tế càng khẳng định hơn nữa phạm vi khái niệm NTD chỉ bao gồm những NTD cho mục đích sinh hoạt mà không bao gồm NTD cho mục đích thương mại

Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm NTD Một

số người cho rằng “NTD trước hết phải là người mua không thể chỉ là người sử

dụng”, nhưng cũng có nhóm người lại cho rằng “NTD là người có thể sử dụng hàng hóa cho mục đích tiêu dùng cá nhân cũng như mục đích tiêu dùng sản xuất” 18

14 Viện nhà nước và pháp luật (1999), tlđd số 2, tr.208-213

15 Xem: http://www.doisongphapluat.com.vn/Story/phongsukysu/2009/3/12101.html , Luật BVNTD Đài Loan

16 Xem: http://www.doisongphapluat.com.vn/Story/phongsukysu/2009/3/12101.html , Luật BVNTD Malaysia

17 Viện Nhà nước và pháp luật (1999), tlđd số 2, tr.23

18 Viện Nhà nước và pháp luật (1999), tlđd số 2, tr 208-213

Trang 25

Mỗi chúng ta đều cần trao đổi, mua bán hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của mình, do

đó có thể thấy rằng mọi người đều là NTD trong xã hội dù phạm vi rộng hay hẹp

Điều 1, Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 về bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng (BVQLNTD) do Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành ngày

27/4/1999 đã nêu:“NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu

dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Như vậy, đối tượng được Pháp

lệnh điều chỉnh chỉ bao gồm những NTD cho sinh hoạt mà không bao gồm NTD cho mục đích sản xuất, kinh doanh Điều này thêm lần nữa được khẳng định tại Điều 3, Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 của Chính phủ quy định chi

tiết việc thi hành Pháp lệnh BVQLNTD với nội dung“đối tượng không thuộc phạm

vi điều chỉnh của Nghị định 69/2001/NĐ-CP và không được xem là NTD gồm người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh”

Qua nghiên cứu và tìm hiểu khái niệm “người tiêu dùng” một số quốc gia trên thế giới cũng như dự Luật mẫu của Hiệp hội BVNTD thế giới, cùng với hệ thống pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam, chúng ta có thể hệ thống lại đối tượng và

phạm vi NTD như sau: “NTD là những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho

nhu cầu của cá nhân, gia đình và tổ chức với mục đích tiêu dùng sinh hoạt trong đời sống xã hội, để có thể tồn tại và phát triển, còn đối lượng người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh sinh lợi thì không được xem là NTD và không được sự bảo vệ của Pháp lệnh BVQLNTD và các văn bản pháp luật

có liên quan về BVQLNTD” Với nội dung này, khái niệm “NTD” có phạm trù hẹp

hơn khái niệm “khách hàng”, nếu như NTD chỉ bao gồm những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức thì khái niệm “khách hàng” được hiểu là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho cả mục đích sinh hoạt hay thương mại, như vậy tất cả NTD đều là khách hàng, nhưng chỉ khi với mục đích tiêu dùng thì khách hàng mới được xem là NTD, cho nên phạm vi

khái niệm về khách hàng bao giờ cũng rộng hơn phạm vi khái niệm NTD

Với sự phát triển của nền kinh tế cùng với sự đa dạng của các loại hình tiêu dùng hiện nay, việc coi NTD chỉ gồm những đối tượng sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt là còn hạn chế, bởi vì trong nền kinh tế thị trường những quan hệ sản xuất giao dịch mua bán ngày càng phong phú, đặc biệt là khi thương mại điện tử phát triển và trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc mua bán trên mạng diễn ra ngày càng phức tạp, NTD hiện nay còn là người tiêu thụ thành phẩm, bán thành phẩm, thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh thì không lý do gì họ không được xem là NTD, chính vì thế mà có một số quan điểm cho rằng pháp luật nước ta trong lĩnh vực bảo vệ NTD quy định phạm vi khái niệm

Trang 26

NTD như vậy còn hẹp Chẳng hạn theo TS Đặng Vũ Huân: “Quy định pháp luật

NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức Song với nghĩa rộng hơn, NTD ngoài mục đích mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt có thể còn phục

vụ cả nhu cầu tái sản xuất, kinh doanh, do đó có thể coi người đang có nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đều là NTD xã hội” 19

Tác giả luận văn cũng đồng ý với quan điểm này của TS Đặng Vũ Huân, bởi thuật ngữ “tiêu dùng” chúng ta hiểu bao gồm các vấn đề phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất, kinh doanh, một khi mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ nào đó tức là ta đã có nhu cầu đối với hàng hóa, dịch vụ đó, dù với mục đích tiêu dùng hay sản xuất, kinh doanh thì người mua và sử dụng đều chịu ảnh hưởng như nhau về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ Nếu NTD mua phải hàng hóa hay sử dụng dịch vụ không đảm bảo chất lượng cho mục đích sinh hoạt sẽ gây thiệt hại về vật chất, sức khỏe và tính mạng, trong khi người sản xuất, kinh doanh với mục đích thương mại mà mua phải hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng thì dù không trực tiếp tiêu dùng nhưng sản phẩm hay dịch vụ được làm từ các nguyên vật liệu đó cũng bị kém chất lượng, dẫn đến sản phẩm họ làm ra không đạt chất lượng dù họ không hề gian dối, sản phẩm bị mất

uy tín và không được sự tín nhiệm của khách hàng dù không phải lỗi trực tiếp của

họ, như thế họ cũng bị thiệt hại khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo chất lượng Do đó, không lý do gì chúng ta không xem đây là đối tượng NTD, chúng ta biết rằng giữa NTD cho mục đích kinh doanh có sự cân xứng về kiến thức tiêu dùng

so với nhà sản xuất, kinh doanh hơn là NTD cho mục đích sinh hoạt, nhưng chúng

ta phải thừa nhận rằng ở mức độ nào họ vẫn bị thiệt hại, mà theo quy định pháp luật dân sự thì bất cứ ai gây thiệt hại cho người khác dù lỗi cố ý hay vô ý đều phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra20 Do vậy, không lý do gì những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích thương mại lại không được xem là NTD và không được Pháp lệnh BVQLNTD bảo vệ Dù một số quốc gia phát triển đưa ra lý do không xem đối tượng người mua, sử dụng hàng hóa, dịch

vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh là NTD, vì những đối tượng này đã có pháp luật riêng điều chỉnh, nhưng theo quan điểm tác giả, đồng ý các đạo luật đã điều chỉnh riêng từng lĩnh vực, nhưng trong luật chung về bảo vệ NTD, chúng ta nên có khái niệm chung để hiểu thế nào là NTD, cũng như đối tượng và phạm vi mà khái niệm giới hạn, để ai trong chúng ta cũng có thể định hình được NTD bao gồm những đối tượng nào khi nói đến khái niệm “NTD”, còn pháp luật riêng trong từng

19 Đặng Vũ Huân, “Pháp luật và vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (Chuyên

đề về pháp luật và người tiêu dùng), tr 2

20 Xem: Điều 604, BLDS 2005

Trang 27

lĩnh vực thì điều chỉnh cụ thể và chi tiết về những vấn đề đặc thù trong lĩnh vực đó liên quan đến NTD, chứ đây không phải là pháp luật chuyên về lĩnh vực bảo vệ NTD Từ những lập luận trên, theo tác giả dù các lĩnh vực pháp luật khác đã điều chỉnh nhưng trong hệ thống pháp luật chung về bảo vệ NTD, cần mở rộng đối tượng

và phạm vi của NTD bao gồm cả NTD cho mục đích sinh hoạt và mục đích thương mại, như thế sẽ phù hợp hơn với thực tế tiêu dùng hiện nay, đặc biệt khi lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng phát triển và nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với những giao dịch ngày càng đa dạng và phức tạp, thì việc nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD ở góc độ rộng hơn là điều nên làm, nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội

1.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam

Bảo vệ quyền lợi NTD là hoạt động phức tạp đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, để công tác bảo vệ NTD đạt hiệu quả, cần phải có chính sách nhất quán và tạo được sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành để hoạt động này vận hành theo phương thức thống nhất, tạo tiếng nói chung và đồng thuận giữa các cơ quan chức năng cũng như các tổ chức xã hội và chính bản thân NTD, cần phải có những quy tắc thống nhất tạo nền tảng, để mọi thành viên hay tổ chức lấy

đó làm chuẩn mực mà thực hiện quyền và trách nhiệm của mình Theo quy định pháp luật hiện hành, BVQLNTD cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

1.3.1 Nguyên tắc “Mọi quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đều phải được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật”

Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 4, Nghị định 55/2008/NĐ-CP nhằm cụ thể hóa quyền được bảo vệ của NTD trong Hiến pháp 1992 được sửa đổi,

bổ sung 2001 Theo đó, quyền là những gì mà pháp luật quy định cho NTD được hưởng và thực hiện, không ai được tướt đoạt hay xâm phạm những quyền và lợi ích hợp pháp đó, bất cứ hành vi xâm phạm và gây thiệt hại cho NTD đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhằm đảm bảo công bằng xã hội Nội dung nguyên tắc không chỉ hướng mọi người bảo vệ chính mình mà phải biết tôn trọng, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác, bởi đó là những quyền đã được hiến định và hợp quy luật Với sự phát triển xã hội và thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD hiện nay, việc ghi nhận nguyên tắc đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ NTD, đồng thời nâng cao ý thức mỗi người trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi người khác.Tuy nhiên, dù là nguyên tắc thể hiện tính bất di bất dịch và ai cũng phải thực hiện, nhưng trên thực tế NTD vẫn chưa thật sự được tôn trọng và

Trang 28

bảo vệ, khi xã hội ngày càng có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng không chỉ về lợi ích vật chất mà còn xâm hại nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng NTD Chúng tôi không phủ nhận việc ghi nhận nguyên tắc trên đã hình thành nên quy tắc chung để mọi người phải có ý thức tôn trọng quyền lợi NTD, nhưng với thực trạng hiện nay cho thấy nguyên tắc trên chưa đi vào cuộc sống, NTD vẫn phải lo sợ về sự an toàn của mình khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Vấn đề đặt ra, chúng ta phải làm gì để nguyên tắc trên đi vào cuộc sống và quyền lợi NTD thật sự được tôn trọng và bảo

vệ là nhu cầu cấp thiết hiện nay

1.3.2 Nguyên tắc “Mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”

Mọi quyền và lợi ích hợp pháp của con người đều được pháp luật bảo vệ, nếu bất kỳ ai có hành vi vi phạm thì tùy theo mức độ nặng nhẹ sẽ bị áp dụng những chế tài tương ứng để trừng phạt, điều này đã được Nghị định 55/2008/NĐ-CP cụ thể hóa

tại Điều 33 với nội dung: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ

quyền lợi NTD thì tùy theo tính chất, mức độ, đối tượng vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường đầy đủ theo quy định của pháp luật” và tại Điều 4, Pháp

lệnh BVQLNTD cũng đã đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho NTD Qua nội dung điều luật ta thấy, pháp luật bảo vệ NTD đã quy định việc

xử lý kịp thời và bồi thường nếu gây thiệt hại cho NTD, đây là điều hợp lẽ công bằng bởi theo pháp luật dân sự Việt Nam, mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý kịp thời

và đúng pháp luật, đồng thời mọi thiệt hại đều được đền bù đầy đủ và kịp thời21 Do

đó, các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD dù là cố ý hay vô ý, giá trị thiệt hại nhỏ hay lớn đều phải được đền bù tương xứng với mức thiệt hại gây ra, quy định như thế nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa người với nhau trong xã hội Tuy có những thiệt hại mà vật chất không thể bù đắp được như sức khỏe, tinh thần và tính mạng con người, nhưng việc đền bù một phần vật chất sẽ góp phần xoa dịu nỗi đau và mất mát mà người bị thiệt hại phải gánh chịu, nhất là trong lĩnh vực tiêu dùng, NTD thường xuyên bị xâm phạm quyền lợi, để đảm bảo công bằng thì việc ghi nhận nguyên tắc trên là điều hợp lý, bởi nội dung nguyên tắc vừa thể hiện tính công bằng, mặt khác cũng góp phần răn đe, giáo dục cái tâm các doanh nghiệp, phải chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác như bảo vệ chính bản thân doanh nghiệp, nếu họ bị thiệt hại thì doanh nghiệp cũng sẽ bị pháp luật trừng trị Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

21 Xem: Điều 604, 605, BLDS 2005

Trang 29

nên mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NTD phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh

Trong nền kinh tế thị trường, nguy cơ NTD luôn bị xâm phạm và yêu cầu được bồi thường là chính đáng, quy định này giúp NTD có thể đòi lại quyền lợi của mình đã được pháp luật quy định Do vậy, pháp luật BVQLNTD, mà cụ thể là Nghị định 55/2008/NĐ-CP đã đưa ra nguyên tắc trên nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội

và góp phần bảo vệ NTD là điều phù hợp cả về mặt pháp luật lẫn thực tiễn, bởi có thiệt hại thì phải bồi thường và có vi phạm thì phải bị trừng trị, như thế mới hợp lẽ công bằng xã hội Tuy nhiên, trên thực tế NTD vẫn chưa có cơ may được bảo vệ và BTTH bởi những bất cập từ các quy định về thủ tục khiếu nại, khởi kiện, chính vì thế mà NTD chưa thật sự được bù đắp khi bị thiệt hại

1.3.3 Nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của toàn xã hội”

Một xã hội công bằng, văn minh thì mọi người phải được bình đẳng, đặc biệt

là những người bị yếu thế như NTD, bảo vệ ở đây không có nghĩa là họ được ưu ái hơn những người khác, mà bảo vệ là làm thế nào để các quyền đó được thực thi trên thực tế Để làm được điều này, không phải chỉ một cá nhân, tổ chức thực hiện đạt hiệu quả mà đòi hỏi phải có sự phối hợp thực hiện từ mọi thành phần xã hội Với sự phân công xã hội, mỗi người đảm nhiệm một vai trò khác nhau, nhưng xét cho cùng mỗi chúng ta đều là NTD trong xã hội, BVQLNTD chính là bảo vệ quyền lợi mỗi chúng ta Nói cách khác, BVQLNTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo vệ NTD, được ghi nhận tại Điều 4, Nghị định 55/2008/NĐ-CP nhằm khẳng định bảo vệ NTD không là trách nhiệm của riêng ai Với thực trạng xâm phạm quyền lợi NTD hiện nay, việc ra đời của nguyên tắc này càng có ý nghĩa khi đã thức tỉnh mọi thành phần xã hội phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với hoạt động bảo vệ NTD.Việc ghi nhận nguyên tắc này là bước tiến đáng ghi nhận trong hệ thống pháp luật BVQLNTD, đã kịp thời gióng lên hồi chuông thức tỉnh mọi người trong xã hội quan tâm hơn nữa

đến công tác bảo vệ NTD, cũng như bảo vệ sự phát triển của nền kinh tế

1.4 Cơ sở pháp lý và thực tiễn xác lập quyền được bảo vệ của người tiêu dùng

1.4.1 Cơ sở pháp lý

Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, sản xuất hoàn toàn bị động, NTD chưa được tự do lựa chọn hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu mà phải nhận mức khoán theo chỉ tiêu của nhà nước, tuy nhiên NTD ít bị xâm phạm quyền lợi hơn vì các doanh nghiệp không cần cạnh tranh để dành thị phần và đạt lợi nhuận Mặt khác, thương

Trang 30

nhân trong thời đại bấy giờ thường trọng chữ tín, do đó việc gian lận trong kinh doanh cũng ít khi xảy ra Dù pháp luật bảo vệ NTD chưa chính thức ban hành

nhưng quyền lợi NTD luôn được đảm bảo.Với chủ trương xây dựng “nền kinh tế

hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” 22 và việc trở thành thành viên tổ chức

thương mại thế giới, đã làm nền kinh tế Việt Nam có sự thay đổi cơ bản, thị trường

trở nên đa dạng và sôi động với nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, NTD có thể lựa chọn sản phẩm theo nhu cầu và khả năng của mình Chính sự đa dạng này đã tạo tâm lý cạnh tranh giữa các thương nhân, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng có không ít doanh nghiệp bất chấp thủ đoạn kể cả việc xâm phạm quyền và lợi ích của NTD để thu lợi về mình

Từ thực trạng này đã gióng lên hồi chuông báo động làm thế nào để quyền NTD được bảo vệ hiệu quả Mặc dù vấn đề BVQLNTD ở Việt Nam còn khá mới so với một số quốc gia phát triển trên thế giới, nhưng việc ghi nhận quyền được bảo vệ

của NTD tại Điều 28, Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 đã thể hiện sự

quan tâm của Đảng và Nhà nước về quyền lợi NTD Trên cơ sở hiến định, sự ra đời của BLDS 1995 đã đánh dấu mốc quan trọng việc BVQLNTD với chế tài trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi NTD tại Điều 632 Vấn đề BVQLNTD càng được khẳng định rõ ràng hơn khi UBTVQH ban hành Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 về bảo vệ quyền lợi NTD bằng việc quy định cụ thể những quyền và nghĩa vụ của NTD, cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh Để công tác bảo vệ NTD được thực thi, ngày 02/10/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh BVQLNTD và gần đây được thay thế bằng Nghị định 55/2008/NĐ-CP, khi mà Nghị định 69/2001/ND-CP không còn phù hợp với điều kiện thực tế là bước tiến trong hệ thống pháp luật bảo vệ NTD

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và NTD càng trở nên phức tạp, NTD luôn có nguy

cơ bị tổn hại, việc nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo vệ NTD là sự bổ sung kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ NTD Trong

hệ thống văn bản pháp luật phải kể đến đó là: Luật Cạnh tranh 2004, đây là công cụ pháp lý quan trọng ảnh hưởng gián tiếp nhưng có tác dụng tích cực và hiệu quả đến công tác BVQLNTD, Luật đã khuyến khích các hành vi cạnh tranh lành mạnh và chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ NTD và doanh nghiệp làm ăn chân chính; Bên cạnh đó, việc quy định các chế định BTTH khi xâm phạm

22 Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12/1986

Trang 31

quyền lợi hợp pháp của NTD trong BLDS 2005 đã đảm bảo phần nào sự công bằng trong quan hệ giữa doanh nghiệp với NTD với nguyên tắc “gây thiệt hại thì phải bồi thường”; Song song đó, các tội danh liên quan đến việc xâm phạm quyền lợi NTD trong BLHS 1999 đã thể hiện sự trừng phạt nghiêm minh đối với các hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi NTD; Ngoài ra, còn có Luật Thương mại 2005 điều chỉnh các hành vi thương mại trong sản xuất, kinh doanh không được xâm hại quyền của NTD và nhiều văn bản luật khác như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật bảo vệ môi trường 2005; Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007; Pháp lệnh VSATTP 2003; Pháp lệnh quảng cáo 2001; Pháp lệnh giá 2002; Pháp lệnh XPVPHC 2002 đã được sửa đổi, bổ sung

2007, 2008;…Đối với việc xử phạt vi phạm hành chính, tuy không có nghị định riêng về lĩnh vực bảo vệ NTD, nhưng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật ở các lĩnh vực khác có liên quan, phải kể đến đó là: Nghị định số 120/2005/NĐ-

CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định 126/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 95/2007/NĐ-CP ngày 4/6/2007); Nghị định 45/2005/ND-CP ngày 6/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá;…Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành hữu quan cũng đã ban hành một loạt văn bản hướng dẫn thi hành các Luật và Pháp lệnh kể trên, trong đó phải kể đến các văn bản sau: Nghị định 29/2004/NĐ-CP ngày 16/1/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương); Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT/BTM-BNV ngày 8/4/2005 của Bộ thương mại, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về thương mại ở địa phương; Nghị định 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 của Chính phủ quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hóa; Thông tư liên tịch số 18/2005/TTLT/BYT-BTM ngày 12/7/2005 của Bộ y tế, Bộ thương mại về quan hệ phối hợp trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về VSATTP;…Có thể nói các văn bản trên đã tạo

cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và NTD đấu tranh đòi quyền lợi, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ NTD Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

Trang 32

mọi người trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Dù thực tế quyền lợi NTD vẫn bị xâm phạm nghiêm trọng nhưng sự ra đời của các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý, đáp ứng phần nào yêu cầu bảo vệ NTD trong giai đoạn hiện nay

Qúa trình hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường đã làm thị trường Việt Nam trở nên năng động hơn với sự đa dạng hàng hóa tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ nhiều quốc gia về công nghệ và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, cũng không loại trừ một số công ty lợi dụng thị trường Việt Nam để giải quyết những hàng hóa tồn kho, biến thị trường Việt Nam thành nơi tiêu thụ những sản phẩm không đảm bảo chất lượng, bởi người dân Việt Nam có xu hướng thích sử dụng hàng ngoại, do đó dễ bị mắc lừa với những chiêu tiếp thị, quảng cáo đầy sức lôi cuốn của các công ty nước ngoài nhưng chất lượng thì chưa đảm bảo Chính vì thế, bảo vệ NTD đã được nhiều quốc gia chú trọng Ở Việt Nam,bảo vệ NTD được nói đến chưa lâu nhưng lại là vấn đề quan trọng cần được sự quan tâm của các cấp ngành có liên quan, bởi bảo vệ NTD là hoạt động nhằm xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà nhà nước Việt Nam đang hướng đến

Quan hệ giữa các nhà sản xuất với NTD vẫn là mối quan hệ chính yếu trong đời sống xã hội, bất cứ sản phẩm nào sản xuất ra cũng cần phải có thị trường tiêu thụ và NTD là chủ thể không thể thiếu trong mối quan hệ này, họ góp phần vào sự tồn tại của doanh nghiệp và nền kinh tế, nhưng NTD cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chính sách phát triển kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp, bảo vệ NTD không chỉ đơn thuần là bảo vệ lợi ích cá nhân, mà còn bảo vệ sự phát triển cả

Trang 33

nền kinh tế, bởi NTD chính là động lực để doanh nghiệp sản xuất và tạo tiềm lực cho nền kinh tế phát triển, nếu không có tiêu dùng thì sản xuất sẽ không tồn tại, do vậy bảo vệ NTD cũng đồng nghĩa việc doanh nghiệp bảo vệ chính mình.Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến quyền lợi NTD, đã thực hiện những hoạt động kinh doanh trái pháp luật và tự đánh mất uy tín, thương hiệu của mình, đồng thời phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nặng nề do những hành vi trái pháp luật gây ra Hệ quả là niềm tin của NTD vào những hàng hóa, dịch vụ do các nhà cung cấp bị suy giảm Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy kinh doanh và ý thức rằng “BVQLNTD là bảo vệ sự phát triển của chính doanh nghiệp”, từ đó đảm bảo đúng quy trình sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm Đồng thời, doanh nghiệp cần kêu gọi sự hỗ trợ từ phía NTD trong việc bài trừ những mặt hàng kém chất lượng, không đáp ứng yêu cầu như cam kết từ phía nhà sản xuất Do vậy, BVQLNTD là cách thức để duy trì và bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh của chính doanh nghiệp

1.5 Các quyền của người tiêu dùng Việt Nam theo quy định pháp luật

1.5.1 Khái niệm quyền của người tiêu dùng

Theo định nghĩa từ điển tiếng Việt “quyền được hiểu là điều mà pháp luật

hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” 23 Do vậy, khi nói

đến “quyền” chúng ta phải nghĩ đến những đặc quyền thuộc về người nào đó mà không ai được xâm phạm dưới bất kỳ hình thức nào, nếu đã xâm phạm thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi sai trái đó Để đảm bảo quyền con

người, tại Điều 28, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, ghi nhận: “Mọi hoạt

động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể

và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và NTD” Từ quy định trên cho thấy, mỗi

người chúng ta ai cũng có quyền được bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc, NTD cũng không ngoại lệ vì họ chính là một tập hợp nhỏ trong tổng thể con người nói chung, ngoài những quyền cơ bản của một con người, NTD luôn có những quyền mà không ai được xâm phạm

Tuy nhiên, dù là khái niệm nền tảng để phát sinh các quyền cơ bản của NTD, thế nhưng hiện nay khoa học pháp lý Việt Nam chưa có khái niệm cụ thể về quyền NTD, trên thực tế Pháp lệnh BVQLNTD ghi nhận các quyền NTD đã được ban hành gần mười năm và cũng có nhiều văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ NTD, nhưng hầu như chưa có văn bản nào đề cập đến khái niệm quyền của NTD, đây là

23 Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Viện ngôn ngữ học

Trang 34

vấn đề chúng ta cần quan tâm để hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới Bởi theo quan điểm chúng tôi, khi quy định vấn đề cụ thể nào đó, ít nhất chúng ta cũng phải hiểu tổng quát về vấn đề đó như thế nào, cụ thể ở đây khi nói về các quyền của NTD, chúng ta phải hiểu được nội hàm khái niệm quyền là gì, trên cơ sở đó chúng

ta sẽ nêu các quyền cụ thể Theo đó, quyền của NTD được đảm bảo cả về mặt lôgic cũng như cơ sở pháp lý khi xác lập

1.5.2 Sự hình thành và phát triển quyền của người tiêu dùng

Như chúng ta biết, con người sinh ra và tồn tại trong xã hội, ai cũng có những nhu cầu cơ bản cho bản thân, đó chính là hành vi tiêu dùng Tuy nhiên, do nhận thức và điều kiện xã hội bấy giờ, nên dù đã hình thành nhưng chưa ai nhận ra

và gọi đó là hành vi tiêu dùng Dù hoạt động BVQLNTD được hình thành và phát triển khá lâu, nhưng những quyền của NTD thì chưa xác định rõ trong thực tiễn Mãi đến năm 1962, quyền của NTD dần được hình thành và phát triển sau lời phát biểu của tổng tổng thống Mỹ John Kennedy tại cuộc họp của thượng viện Mỹ24 Lúc đầu, tuyên bố của Kennedy chỉ đề cập bốn quyền cơ bản của NTD đó là: Quyền được an toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn và quyền được bày tỏ quan điểm Qua quá trình hoạt động thực tiễn, NTD được bổ sung thêm bốn quyền nữa là: Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được bồi thường; Quyền được giáo dục và quyền được sống trong môi trường lành mạnh Ngày nay,

hoạt động của tổ chức Quốc tế NTD (gọi tắt là CI), các Hội bảo vệ NTD các nước

đều xoay quanh việc thực hiện tám quyền trên và lấy ngày 15/3 - ngày tổng thống Kennedy phát biểu - làm ngày quyền của NTD thế giới (gọi tắt là WCRD - Word

Consumer Right Day) Những quyền này cũng đã được Liên hiệp quốc và cộng

đồng quốc tế thừa nhận để làm cơ sở cho hoạt động của các tổ chức bảo vệ NTD trên thế giới25

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự giao thương giữa các quốc gia, pháp luật BVQLNTD nhanh chóng được lan rộng và phát triển trên thế giới Nền kinh tế thị trường với các phương thức sản xuất, kinh doanh ngày càng tinh vi, quan

hệ giữa nhà sản xuất, kinh doanh và NTD ngày càng phức tạp, quan hệ giao lưu mua bán không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà phát triển rộng khắp ra các nước trên thế giới, điều đó đòi hỏi NTD phải được bảo vệ trên toàn cầu Việc này càng có cơ sở pháp lý khi Đại hội đồng Liên hiệp quốc phê chuẩn bảng hướng dẫn

24 Tổng thống Mỹ John Kennedy đã phát biểu rằng:“Theo định nghĩa, NTD là tất cả chúng ta, họ là nhóm người đông đảo nhất, có tác động và chịu tác động của hầu hết các quyết định về kinh tế dù là của Nhà nước hay tư nhân, thế nhưng họ là nhóm người quan trọng duy nhất mà quan điểm của họ thường không được lắng nghe…”

25 Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Thương mại (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị

quốc gia, tr.33,34

Trang 35

của Liên hiệp quốc về BVNTD vào năm 1983, ghi nhận NTD có tám quyền sau: Quyền được an toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe ý kiến, quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, quyền được bồi thường, quyền được giáo dục, quyền được sống trong môi trường lành mạnh, tám quyền này cũng tiếp tục được ghi nhận trong bản dự thảo Luật mẫu BVNTD Đây là những cơ

sở pháp lý quan trọng để BVQLNTD trên toàn thế giới, với xu thế toàn cầu hóa, pháp luật quốc gia sẽ có những quy định về bảo vệ NTD phù hợp với pháp luật

BVNTD trên thế giới

Ở Việt Nam, cùng với việc thừa nhận quyền con người thì quyền NTD cũng được ghi nhận tại Điều 28, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 và được cụ thể hóa tại Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999 Về cơ bản, các quyền của NTD Việt Nam được ghi nhận trong Pháp lệnh phù hợp với tám quyền mà Liên hiệp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận Trên cơ sở pháp lý đó, quyền của NTD được biết đến

và bảo vệ cho đến ngày nay

1.5.3 Các quyền của người tiêu dùng Việt Nam

Dù pháp luật BVQLNTD ở Việt Nam ra đời muộn hơn các quốc gia phát triển, nhưng quyền của NTD Việt Nam được Pháp lệnh BVQLNTD ghi nhận tại các Điều 8, 9, 10, 11 đều có nội dung tương ứng với các quyền của NTD đã được Hội đồng Liên hiệp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận, đó là: Quyền được an toàn; Quyền được thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe ý kiến; Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được bồi thường; Quyền được hướng dẫn hiểu biết về tiêu dùng và quyền được sống trong môi trường lành mạnh, với nội dung cụ thể các quyền như sau:

1.5.3.1 Quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản

Nhu cầu cơ bản là một khái niệm tương đối và tổng quát, con người muốn tồn tại trong xã hội phải thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu đó là ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chăm sóc sức khỏe, quan hệ giao tiếp giữa cộng đồng người với nhau,

Do đó, nhu cầu cơ bản không chỉ là nhu cầu về vật chất mà còn bao gồm nhu cầu tinh thần để con người có thể tồn tại và phát triển Trước đây, nước ta phải trãi qua chiến tranh, nhu cầu con người lúc bấy giờ chỉ cần được tự do, ăn no, mặc ấm là đủ Tuy nhiên, khi xã hội phát triển, điều kiện sống ngày được nâng cao thì con người đòi hỏi phải ăn sang mặc đẹp, phải có điều kiện giải trí để nâng cao đời sống tinh thần, đảm bảo cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc, đó là những điều kiện tối thiểu mà một xã hội văn minh phải đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của con người Như vậy, nhu cầu cơ bản của NTD thay đổi tùy theo điều kiện xã hội và sự phát triển nền kinh tế mỗi quốc gia, nhưng bao giờ cũng cần đủ để con người không những tồn tại

Trang 36

mà còn phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần Do đó, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu là quyền cơ bản của NTD, đã được ghi nhận trong văn bản hiến định để đảm bảo ai cũng phải chấp hành nghiêm minh Quyền này đã được cụ thể hóa tại Điều 10, Pháp

lệnh BVQLNTD với nội dung “NTD được quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất,

kinh doanh bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường và các hàng hoá, dịch vụ khác đã đăng ký, công bố; Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện đúng trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi NTD” Theo đó, NTD được quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân đáp ứng những nhu

cầu cơ bản trong đời sống tiêu dùng

Chúng ta thấy rằng, trước đây do thực hiện chính sách tập trung bao cấp nên nhu cầu cơ bản của NTD chưa được đáp ứng đầy đủ, NTD chưa thể lựa chọn sản phẩm theo nhu cầu của mình mà phụ thuộc vào sự phân phát của nhà nước Với sự phát triển của xã hội cùng với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, nhu cầu của NTD dần được đảm bảo, sự đa dạng chủng loại hàng hóa trong nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho NTD có quyền lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình Chúng tôi cho rằng, việc ghi nhận quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản của NTD là điều tất yếu và phù hợp với thực tiễn tiêu dùng, bởi vì để tồn tại ai trong chúng ta cũng cần phải có những nhu cầu thiết yếu, do đó đảm bảo quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản là đảm bảo quyền được sống của con người Thực hiện tốt quyền này sẽ tạo điều kiện cho NTD được đáp ứng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống, có được những hàng hóa, dịch vụ đảm bảo chất lượng, an toàn với giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu chính đáng của NTD trong các lĩnh vực đời sống

1.5.3.2 Quyền được cung cấp thông tin trung thực

Thông tin là những nội dung liên quan đến sản phẩm nào đó được thông báo rộng rãi đến mọi người qua các phương tiện truyền thông Trong lĩnh vực BVQLNTD, thông tin được hiểu là những tiêu chí về nhãn mác hàng hóa, thông tin quảng cáo, tờ rơi giới thiệu về chất lượng, công dụng sản phẩm, những khuyến cáo

về việc sử dụng sản phẩm,…để NTD nhận biết và quyết định chọn sản phẩm phù hợp với điều kiện và khả năng mỗi người Quyền được cung cấp thông tin trung thực là quyền không thể thiếu đối với NTD, nhất là trong nền kinh tế thị trường với

sự đa dạng, phong phú của hàng hoá, dịch vụ Đây là quyền cơ bản của NTD được

quy định tại Điều 8, Pháp lệnh BVQLNTD với nội dung “NTD được cung cấp các

thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ” Việc ghi nhận quyền này là yêu cầu tất yếu để thực thi các quyền khác của

Trang 37

NTD, bởi quyền này nếu được thực hiện tốt sẽ giúp NTD có những thông tin đầy

đủ, chính xác và đưa ra các quyết định đúng đắn về việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là những mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày, đảm bảo

an toàn cho sức khỏe, tính mạng NTD Quyền được thông tin là quyền làm tiền đề

và hỗ trợ cho quyền lựa chọn của NTD được thực hiện, vì trên cơ sở thông tin đầy

đủ, biết chính xác về sản phẩm, NTD mới sáng suốt để chọn mua những mặt hàng phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính của mỗi người Theo kinh nghiệm các nước phát triển, việc đảm bảo quyền được cung cấp thông tin ngoài việc giúp NTD tăng thêm cơ hội lựa chọn và khai thác tốt hàng hóa, dịch vụ, còn cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh sửa, kiểm tra những thông tin quảng cáo của nhà cung cấp, chống lại những quảng cáo có tính chất mồi chài, lừa bịp, những thông tin về chất lượng hàng hóa không đúng sự thật, nhằm đảm bảo tốt quyền được thông tin của NTD Do đó, những hành vi không cung cấp thông tin, hoặc cung cấp nhưng không đầy đủ và trung thực, đều là những hành vi xâm phạm quyền được thông tin của NTD và cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo quyền lợi NTD

Thiết nghĩ, trong xã hội văn minh với sự phát triển của khoa học công nghệ, vấn đề thông tin là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi người, nhất là trong mối quan hệ bất cân xứng giữa nhà doanh nghiệp với NTD Chính vì thế, mà pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ NTD đã có nhiều văn bản liên quan đến quy định phải cung cấp thông tin trung thực, chính xác cho NTD như: Tại Điều 6, Pháp lệnh quảng cáo

2001 quy định “Thông tin quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và NTD”; Hay tại Điều 17, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa

2007 cho phép “NTD được cung cấp thông tin trung thực về mức độ an toàn, chất

lượng, hướng dẫn vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, được cung cấp thông tin về bảo hành, khả năng gây mất an toàn của hàng hóa và cách phòng ngừa…”; Và văn bản liên quan trực tiếp đến quyền được thông tin của

NTD đó là Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 quy định về nhãn hàng hóa, theo đó nhà sản xuất, kinh doanh phải đưa những thông tin bắt buộc lên nhãn hàng hóa để NTD nhận biết, trường hợp có quá nhiều thông tin không thể hiện hết trên nhãn thì những thông tin bắt buộc ấy phải ghi trong tài liệu kèm theo hàng hóa và trên nhãn phải có sự chỉ dẫn này, nhãn phải dán nơi dễ nhận thấy,…26 Với những văn bản pháp lý trên đã góp phần đảm bảo quyền được thông tin của NTD được thực hiện Tuy nhiên, những thông tin mà cá nhân, tổ chức cung cấp có đảm bảo tính trung thực và chính xác hay không mới là vấn đề cần quan tâm, vì trên thực tế

26 Xem: Điều 6, 11, Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006

Trang 38

quyền này của NTD vẫn còn bị xâm phạm nghiêm trọng không chỉ từ phía các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh mà còn bị xâm phạm từ chính các cơ quan nhà nước có chức năng bảo vệ NTD Vấn đề đặt ra chúng ta phải làm thế nào để quyền thông tin của NTD được thực hiện, tạo điều kiện để những quyền khác của NTD

được thực thi là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay

1.5.3.3 Quyền được đảm bảo an toàn

An toàn là sự không gây hại cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần Quyền được an toàn của NTD là quyền được bảo vệ chống lại những tác hại của hàng hóa, dịch vụ, giúp NTD tránh được những sản phẩm không an toàn, quá trình sản xuất có hại đến sức khỏe, tính mạng, môi trường sống và quyền lợi chính đáng của NTD, đồng thời giúp NTD được đền bù thỏa đáng khi bị tổn hại do sử dụng

hàng hóa, dịch vụ Đây là quyền được đa số NTD và xã hội quan tâm, vì nó liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người Chúng ta biết rằng, một quốc gia văn

minh không chỉ thỏa điều kiện phát triển kinh tế mà còn đảm bảo an toàn cho cả cộng đồng, do vậy sức khỏe và tính mạng con người phải được ưu tiên bảo vệ, con người có khỏe mạnh thì mới góp phần xây dựng xã hội văn minh và phát triển Chính vì thế, quyền được đảm bảo an toàn của NTD cần được thừa nhận và bảo vệ

Xuất phát từ yêu cầu đó, vấn đề chất lượng hàng hóa, dịch vụ phải được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là đối với những mặt hàng lương thực, thực phẩm, mỹ phẩm

và dược phẩm, vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người Liên quan đến vấn đề này, không chỉ có văn bản chuyên ngành mà còn nhiều văn bản pháp luật trong các lĩnh vực khác điều chỉnh Cụ thể: Tại Điều 8, Pháp lệnh

BVQLNTD quy định: “NTD được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe và môi

trường khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ” Theo đó, quyền này được hiểu là cam kết

của nhà sản xuất đối với NTD khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời bảo vệ NTD trước những hành vi cung cấp hàng hóa, dịch vụ không an toàn gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng Ngoài ra, còn nhiều văn bản luật liên quan điều chỉnh quyền này như: Pháp lệnh VSATTP năm 2003; Luật dược 2005; Quyết định

số 35/2006/QĐ-BYT ngày 10/11/2006 về quy chế quản lý mỹ phẩm; Luật Bảo vệ môi trường năm 2006; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007;…Dù điều chỉnh ở các góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung quy định tại các văn bản đều góp phần làm cho quyền đảm bảo an toàn của NTD được thực hiện

Bên cạnh, những nguy hại do sản phẩm không đảm bảo chất lượng, thì môi trường sống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của NTD, môi trường có trong lành và văn minh mới tạo điều kiện cho con người phát

Trang 39

triển Do đó, được sống trong môi trường lành mạnh là quyền cần thiết đối với mỗi người trong đó có NTD, đảm bảo sự phát triển bền vững cho thế hệ hôm nay và mai sau Đảm bảo quyền được sống trong môi trường lành mạnh sẽ giúp NTD tránh được tình trạng ô nhiễm môi trường và giảm được chi phí cho việc khắc phục ô nhiễm, thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm không độc hại trong sản xuất, kinh

doanh nhằm không gây hại cho môi trường, bảo đảm sức khỏe cho mỗi người Ý

thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo môi trường trong sạch, lành mạnh mà Điều 8, Pháp lệnh BVQLNTD đã ghi nhận quyền này để làm cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ NTD Mặt khác, sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường 2006 là cơ sở pháp lý quan trọng tăng thêm tính cấp thiết về đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của NTD Thực tế hiện nay, dù đã được hệ thống pháp luật điều chỉnh, nhưng NTD hầu như chưa được đảm bảo an toàn khi mà thực trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, ô nhiễm môi trường thường xuyên xảy ra trong đời sống, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với xu thế hội nhập kinh tế, ô nhiễm môi trường nước ta đang ở mức báo động Việc ghi nhận quyền này đã thể hiện tầm nhìn đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược trồng người, bởi sự an toàn không chỉ bảo vệ con người hiện tại mà nó còn duy trì nồi giống cho thế hệ tương lai của dân tộc, môi trường có trong lành, chất lượng sản phẩm an toàn thì mới tạo điều kiện cho con người phát triển khỏe mạnh và thông minh.Vấn đề đặt ra, chúng ta cần có giải pháp gì để quyền được đảm bảo an toàn của NTD được thực thi hiệu quả trong thực tiễn

1.5.3.4 Quyền được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ

Đây là quyền tự do của NTD được ghi nhận tại Điều 8, Pháp lệnh BVQLNTD, không ai có quyền ép buộc mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ dưới bất

kỳ hình thức nào, với quyền này NTD có thể tìm được những hàng hóa, dịch vụ đạt

chất lượng phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình, giữa thị trường hàng hóa sôi động và phức tạp Mọi hành vi thông tin không trung thực, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tạo ra sự khan hiếm giả tạo,…để buộc NTD phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ đều là hành vi vi phạm quyền được lựa chọn của NTD Nền kinh tế thị trường với sự phong phú của hàng hóa, đa dạng của dịch vụ, phức tạp của thông tin

từ những chiêu thức tiếp thị, quảng cáo sản phẩm của các doanh nghiệp, sẽ gây khó khăn cho NTD khi lựa chọn sản phẩm Để quyền này được thực hiện thì quyền được thông tin của NTD cần được đảm bảo, bởi vì nếu NTD không có thông tin về hàng hóa, dịch vụ thì không đủ sáng suốt để chọn lựa sản phẩm đạt chất lượng và phù hợp yêu cầu mỗi người Vấn đề đặt ra là liệu quyền được lựa chọn của NTD hiện

Trang 40

nay được đảm bảo chưa khi mà thị trường vẫn còn nhiều mặt hàng độc quyền như điện, nước,… và hàng hóa vẫn còn thiếu nhiều thông tin trung thực

1.5.3.5 Quyền được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng (Còn gọi là quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng)

Trong thời đại công nghệ thông tin, được giáo dục về tri thức tiêu dùng là điều kiện cần thiết, đây được xem là quyền nền tảng để các quyền khác được thực hiện Quyền được giáo dục và tuyên truyền nếu được thực hiện tốt sẽ hỗ trợ quyền lựa chọn của NTD thực hiện hiệu quả, đồng thời hạn chế sự xâm phạm của doanh nghiệp, bởi khi được giáo dục, NTD sẽ có đủ tri thức để nhận định về hàng hóa, dịch vụ cũng như sáng suốt trong việc chọn mua sản phẩm cho mình, hoặc hiểu biết

về pháp luật NTD sẽ vận dụng chúng làm công cụ bảo vệ hiệu quả quyền lợi của mình Chính vì thế, quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng được pháp luật ghi nhận tại Điều 8, Pháp lệnh BVQLNTD để làm cơ sở pháp lý đảm bảo các quyền của NTD được thực thi là quy định phù hợp và tất yếu phải có trong hệ thống các quyền NTD Theo đó, NTD phải được các doanh nghiệp hướng dẫn cách sử dụng hàng hóa, cảnh báo những tác hại của sản phẩm, bên cạnh đó các cơ quan, tổ chức có chức năng bảo vệ phải thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức liên quan đến sản phẩm tiêu dùng trên thị trường, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cho NTD kỹ năng để nhận biết sản phẩm an toàn cũng như quy định pháp luật để họ có thể tự bảo vệ mình

1.5.3.6 Quyền đóng góp ý kiến trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Còn gọi là quyền được lắng nghe hay quyền được bày tỏ ý kiến)

Với sự ghi nhận tại Điều 10, Pháp lệnh BVQLNTD, quyền được lắng nghe hay quyền được đóng góp ý kiến, được hiểu là quyền NTD được bày tỏ nhận xét của mình đối với các loại hàng hóa, dịch vụ do nhà sản xuất, kinh doanh cung ứng, cũng như bày tỏ quan điểm với nhà nước về việc hoạch định các chính sách, pháp luật liên quan đến quyền lợi của họ NTD có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện (thường là Hội bảo vệ NTD) để góp ý kiến của mình đến doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tôn trọng quyền được lắng nghe của NTD vừa là nghĩa vụ, vừa là lợi ích của các nhà sản xuất, kinh doanh, vì thông qua ý kiến đó, doanh nghiệp có thể cải tiến hàng hóa, dịch vụ tốt hơn để thu hút sự tín nhiệm của NTD, là điều kiện mấu chốt

để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Một thực tế không thể phủ nhận là bất cứ nhà sản xuất, kinh doanh nào cũng cần đến NTD, bởi vì đây là nơi tiêu thụ sản phẩm của họ, thế nhưng vì mục tiêu lợi nhuận một số doanh nghiệp chẳng những không

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2007), “Gian nan chuyện thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gian nan chuyện thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Anh
Năm: 2007
2. Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Thương mại (2006), Sổ tay Công tác bảo vệ Người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Công tác bảo vệ Người tiêu dùng
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Thương mại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Cục quản lý cạnh tranh- Bộ Thương mại (2007), Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Cục quản lý cạnh tranh- Bộ Thương mại
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2007
4. Cục Quản lý thị trường (2009), “Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2009”, Bản tin Quản lý thị trường, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2009”, "Bản tin Quản lý thị trường
Tác giả: Cục Quản lý thị trường
Năm: 2009
1. Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 15/6/2004 Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 Khác
4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 Khác
8. Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 Khác
10. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 Khác
11. Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/4/1999 về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
16. Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 hướng dẫn chi tiết Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
17. Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008 thay thế cho Nghị định 69/2001 trong việc quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh 1999 về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
18. Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý của Hội bảo vệ người tiêu dùng Khác
19. Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại Khác
20. Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương Khác
21. Nghị định 29/2004/NĐ-CP ngày 16/01/2004 quy định về chức năng, nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thương mại Khác
22. Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Khác
23. Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Khác
24. Nghị định số 89/ 2006/NĐ-CP ngày 30/08/2006 của Chính Phủ về nhãn hàng hóa Khác
25. Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w