Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 BLDS 2005 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn” Khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
ĐÀO NGUYỄN MINH CHUNG
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LÝ TẠI CÔNG TY
LUẬT HẢI NGUYỄN
Kon Tum, tháng 6 năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LÝ TẠI CÔNG TY
LUẬT HẢI NGUYỄN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐÀO NGUYỄN MINH CHUNG
LỚP : K11LK1
MSSV : 17152380107042
Kon Tum, tháng 6 năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã học tập được rất nhiều kiến thức không những về tri thức khoa học mà còn về những kiến thức và kinh nghiệm sống Cho đến ngày hôm nay, để hoàn thành được báo cáo này em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của mọi người
Lời nói đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Nhà trường đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em được thực tập tại Công ty luật Hải Nguyễn để được tiếp cận với thực tế, có cơ hội để sử dụng kiến thức pháp lý đã được các thầy cô tận tình giảng dạy trên giảng đường vào thực tiễn công tác Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh các chị, các cô các chú trong cơ quan nơi em thực tập đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập qua
Đặc biệt em xin chân thành gửi lời biết ơn sâu sắc đến anh Nguyễn Đức Hải đã luôn tận tâm tận tình hướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức, những định hướng quý báu để em hoàn thành tốt chuyên đề nghiên cứu của mình
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và chúc tất cả mọi người dồi dào sức khỏe, thành công và hạnh phúc!
Trang 4i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 2
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN 4
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY LUẠT HẢI NGUYỄN 4
1.2 CƠ CẤU TỒ CHỨC CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN 4
1.3 NỘI QUY VÀ MỘT SỐ CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN 6
1.3.1 Nội quy làm việc tại công ty Luật Hải Nguyễn 6
1.3.2 Quá trình thực tập tại công ty Luật Hải Nguyễn 6
KẾT CHƯƠNG 1 8
CHƯƠNG 2.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 9
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 9
2.1.1 Khái niệm ly hôn 9
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm ly hôn có yếu tố nước ngoài 10
2.1.3 Hậu quả pháp lý của ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài 12
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 16
2.2.1 Nguồn luật điều chỉnh 16
2.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh 17
2.2.3 Quy định về chọn luật áp dụng 18
2.2.4 Quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. 18
2.2.5 Quan điểm quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài 19
KẾT CHƯƠNG 2 21
CHƯƠNG 3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 22
3.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN 22
3.1.1 Tình hình phát sinh nhu cầu tư vấn về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại công ty Luật Hải Nguyễn 22
3.1.2 Hoạt động tư vấn về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại công ty Luật Hải Nguyễn 22
Trang 5ii
3.1.3 Các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó tại công ty Luật Hải Nguyễn
23
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG TƯ VẤN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN 24
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật ly hôn có yếu tố nước ngoài 24
3.2.2 Công ty trong quá trình áp dụng gặp các khó khăn 27
3.2.3 Giải pháp khác 27
KẾT CHƯƠNG 3 32
KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc
tế, đi đôi với sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với các nước khác trên thế giới ngày càng mở rộng; phát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề về hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày một gia tăng Mục tiêu của hôn nhân là cuộc sống gia đình hạnh phúc, hòa thuận Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống hôn nhân cũng đạt được mong muốn của đôi bên nam nữ; xuất phát từ lý do này hay lý do khác mà cuộc hôn nhân đã đi đến tan vỡ dẫn đến việc họ phải lựa chọn giải pháp ly hôn Do vậy, ly hôn
là một hiện tượng xã hội, bất kỳ ở xã hội nào dù muốn hay không vấn đề ly hôn cũng không thể loại trừ ra khỏi đời sống xã hội Mục đích của việc kết hôn là để xây dựng gia đình trên
cơ sở sự tự nguyện của vợ chồng, nhưng khi cuộc sống hôn nhân đó không thể tồn tại trên thực tế thì vấn đề ly hôn là điều cần thiết, nó giúp cho chủ thể của quan hệ hôn nhân thoát khỏi sự ràng buộc về mặt pháp lý; bởi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở pháp luật bằng bản án hoặc quyết định của Toà án Hà Nội là thủ đô của cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước thì vấn đề hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày càng phát triển, đặc biệt là từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội trở thành thành phố lớn nhất của cả nước Cùng với sự phát triển các quan hệ hợp tác, giao lưu quốc
tế thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng và phổ biến ở Hà Nội Theo pháp luật Việt Nam, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn Tuy nhiên, đối với trường hợp giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài pháp luật điều chỉnh quan hệ này không chỉ đơn thuần là các văn bản luật trong nước mà bên cạnh đó nó còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế có liên quan như: Điều ước quốc tế, Hiệp định tương trợ tư pháp, Tập quán quốc tế
Ở Việt Nam, trước năm 1959 do vấn đề giao lưu quốc tế chưa phát triển, chúng ta chưa xác định được tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nên các quy định của pháp luật về vấn đề này chưa được luật điều chỉnh Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng thì đòi hỏi pháp luật điều chỉnh quan hệ này ngày càng cấp thiết Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nên lần đầu tiên LHNGĐ năm 1986 đã có những quy định điều chỉnh quan hệ này; đây là sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nước ta trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Cùng với LHNGĐ năm 1986 thì các văn bản pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều chỉnh quan hệ này; đó
là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của Việt Nam Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, quan hệ hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày một phát triển hơn, tính chất các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn thì pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài hiện hành vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Khi áp dụng vào thực tế công tác xét
Trang 7xử còn nhiều quan điểm trái ngược nhau nên đã xảy ra tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề trong quan hệ này
mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời dẫn đến trong công tác xét xử của ngành Tòa án trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
Số lược kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, song thực tiễn cho thấy không phải cuộc hôn nhân nào cũng dẫn đến hạnh phúc Rất nhiều trường hợp các cô gái lấy chồng nước ngoài ( Trung Quốc, Hàn Quốc,…) bị đánh đập, ngược đãi họ tìm cách bỏ trốn
về nước nhưng lại không tiến hành thủ tục ly hôn Bên cạnh đó, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, sau khi người nước ngoài trở về nước thì mất liên lạc, công dân Việt Nam muốn ly hôn để xây dựng cuộc sống mới nhưng không tiến hành ly hôn được do không đáp ứng về mặt thủ tục Ngoài ra, hiện nay quy phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài còn ít, chung chung Dẫn đến tình trạng hôn nhân hình thức tồn tại rất nhiều, quyền và lợi ích của công dân chưa được đảm bảo Vấn đề đặt ra là : Đối với trường hợp đương sự muốn ly hôn nhưng không đáp ứng được về mặt thủ tục sẽ giải quyết như thế nào? Làm thế nào để hoàn thiện hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu
tố nước ngoài, nâng tính khả thi khi áp dụng vào thực tế? Làm sao để tư vấn cho khách hàng một cách có hiệu quả hơn theo từng trường hợp Đây là những lí do em chọn đề tài
“Pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng trong hoạt
động tư vấn pháp lý tại công ty luật Hải Nguyễn” làm đề tài nghiên cứu cho báo cáo tốt
nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên từ các tài liệu có sẵn về ly hôn có yếu tố nước ngoài Để xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả cho việc tư vấn về vấn đề này tại công ty Luật Hải Nguyễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và các Điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên về ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn áp dụng trong tư vấn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại công ty Luật Hải Nguyễn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, báo cáo sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1 : Tổng quan về công ty luật Hải Nguyễn
Chương 2 : Những vấn đề cơ bản về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Trang 8Chương 3 : Thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài trong hoạt động tư vấn pháp lý của công ty luật Hải Nguyễn và một số giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng
Trang 9CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY LUẠT HẢI NGUYỄN
Công ty luật Hải Nguyễn được thành lập vào ngày 25/02/2020 qua một năm thành lập Luật Hải Nguyễn tự hào là công ty Luật hàng đầu tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Chuyên tư vấn miễn phí và xử lý các hồ sơ Dân sự khó, phức tạp Hơn 3300 khách hàng đã sử dụng dịch vụ và hoàn toàn hài lòng Công ty Luật Hải Nguyễn có địa chỉ tại 52 đường số 11, KDC Cityland Park Hills, phường 10, Quận Gò Vấp, HCM; Điện thoại: 0901485754; Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh: Luật sư tư vấn pháp lý
1.2 CƠ CẤU TỒ CHỨC CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN
Công ty Luật Hải Nguyễn là công ty TNHH do một cá nhân là ông Nguyễn Đức Hải làm chủ sở hữu, có cơ cấu tổ chức theo điều 85 LDN 2020 Theo đó Công ty Luật Hải Nguyễn có cơ cấu gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Chủ sở hữu công
ty là Chủ tịch công ty và có thể kiêm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Quyền, nghĩa vụ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định tại Điều lệ công
ty và hợp đồng lao động
Hiện nay cơ cấu tổ chức trong công ty cụ thể như sau:
Chủ tịch công ty: Nguyễn Đức Hải là chủ sở hữu công ty, có thẩm quyền quyết định
các vấn đề quan trọng như quyết định thay đổi Điều lệ công ty, phương hướng phát triển
và chiến lược kinh doanh hằng năm của công ty,…
Giám đốc: Nguyễn Đức Hải là người đại diện theo pháp luật của công ty Có nhiệm
vụ, hỗ trợ các vấn đề pháp lý cho công ty, tư vấn cho khách hàng các vấn đề khi khách hàng yêu cầu, quản lý nội bộ, tuyển dụng lao động, quyết định các chức vụ quản lý cấp dưới của mình, thực hiện các nghị quyết hay quyết định của Hội đồng thành viên hay Chủ tịch công ty, điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty
Kiểm soát viên: Nguyễn Đức Hải, có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý điều hành công việc kinh doanh của công ty; Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình chủ sở hữu công ty hoặc cơ quan nhà nước có liên quan; trình chủ sở hữu công ty báo cáo thẩm định; Kiến nghị chủ sở hữu công
ty các giải pháp sửa đổi, bổ sung, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty; Xem xét hồ sơ, tài liệu của công ty tại trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin
về thực hiện quyền chủ sở hữu, về quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công
ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên; Tham dự và thảo luận tại các cuộc họp Hội đồng thành viên và các cuộc họp khác trong công ty
Kế toán: Trần Thị Kim Loan có chức năng thực hiện những công việc về nghiệp vụ
chuyên môn tài chính kế toán theo đúng qui định của Nhà nước về chuẩn mực kế toán,
Trang 10nguyên tắc kế toán;Theo dõi, phản ánh sự vận động vốn kinh doanh của Công ty dưới mọi hình thái và cố vấn cho Ban lãnh đạo các vấn đề liên quan; Tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc (BTGĐ) về chế độ kế toán và những thay đổi của chế độ qua từng thời kỳ trong hoạt động kinh doanh; Cùng với các bộ phận khác tạo nên mạng lưới thông tin quản lý năng động, hữu hiệu; Tham gia xây dựng Hệ thống Quản lý Chất lượng, Hệ thống Quản lý Mội trường và Hệ thống Quản lý Trách nhiệm Xã hội
Nhiệm vụ cụ thể:
(i) Ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn; quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn của Công ty;
(ii) Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính việc thu, nộp, thanh toán, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn; phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hiện tượng lãng phí, vi phạm chế độ, qui định của Công ty;
(iii) Phổ biến chính sách chế độ quản lý tài chính của nhà nước với các bộ phận liên quan khi cần thiết
(iv) Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh tế tài chính, phục vụ công tác lập và theo dõi kế hoạch Cung cấp số liệu báo cáo cho các cơ quan hữu quan theo chế độ báo cáo tài chính, kế toán hiện hành;
(v) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho BTGĐ Công ty
Hiện nay hoạt động tư vấn của công ty chia thành 2 mảng cụ thể:
Một là mảng khách hàng doanh nghiệp do Luật sư Hà Xuân Hưng Có chức năng
cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng phải được tính thù lao thông qua hợp đồng dịch
vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Luật sư thực hiện nhiệm vụ tư vấn các vấn đề, thủ tục pháp lý khánh hàng doanh nghiệp
Hai là mảng khách hàng cá nhân do Luật sư Phan Công Khánh Có chức năng cung
cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng phải được tính thù lao thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Luật sư Nhiệm vụ tư vấn các vấn đề, thủ tục pháp lý khánh hàng cá nhân
Nhân viên hành chính: Nguyễn Thị Thảo có chức năng như một tuyến liên lạc của
công ty, hỗ trợ các công việc hành chính như tiếp đón khách, giao nhận thư từ, tiếp nhận các cuộc gọi đến công ty … Với nhiệm vụ tiếp đón các vị khách đến làm việc tại công ty; Hướng dẫn các vị khách tham quan các văn phòng làm việc tại công ty; Trực tổng đài điện thoại, tiếp nhận điện thoại gọi đến và kết nối tới đúng địa chỉ; Sắp xếp và trang hoàng gọn gàng, ngăn nắp quầy lễ tân; Đảm bảo cung cấp đầy đủ văn phòng phẩm cho từng phòng ban; Trả lời thư điện tử và cung cấp các thông tin chính xác cho khách hàng của doanh nghiệp; Tiếp nhận và phân loại thư đến công ty hàng ngày; Theo dõi an ninh văn phòng và tuân thủ việc kiểm soát ra vào công ty thông qua việc quản lý sổ sách ghi chép, phân phát thẻ cho khách hàng; Quản lý văn phòng phẩm tồn kho và đặt mua kịp thời theo yêu cầu
Trang 11của các phòng ban; Sắp xếp và lên lịch các cuộc họp quan trọng của công ty; Chuẩn bị đầy
đủ các chứng từ cần thiết; Luôn cập nhật thường xuyên các giấy tờ về chi phí phát sinh trong văn phòng; Ngoài ra, nhân viên lễ tân – văn thư còn thực hiện một số công việc khác như nộp hồ sơ, photocopy giấy tờ, sao chép,…
1.3 NỘI QUY VÀ MỘT SỐ CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI CÔNG TY LUẬT HẢI NGUYỄN
1.3.1 Nội quy làm việc tại công ty Luật Hải Nguyễn
Điều 1: Thời gian làm việc
- Thời gian làm việc là 8 giờ / ngày, từ thứ 2 đến thứ 7
Sáng: 7h40′ đến 11h45′
Chiều: Từ 13h30′ đến 17h20′
- Có chế độ làm ngày chủ nhật khi cần thiết
- Có thể trực thêm giờ khi có khách bất ngờ đến muộn
Điều 2: Tác phong và đạo đức: Không làm việc riêng trong giờ hành chính; Nhân viên phải mang giầy, dép xăng đan, áo sơ mi có cổ, quần tây; Trung thực và có tinh thần trách nhiệm cao, tận tâm đào tạo nhân viên mới
Điều 3: An toàn lao động: Không hút thuốc lá, uống bia, rượu hoặc đánh bài bạc ; Tuân thủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn điện; Không mang vật dụng dễ cháy nổ hoặc hung khí vào Công ty; Mọi nhân viên ra ngoài trong giờ làm việc phải thông báo với cấp trên
Điều 4: Quản lý tài sản: Trừ khi được giao trách nhiệm trực, không tự ý vào công ty; Mọi nhân viên mang tài sản Công ty ra ngoài cần được sự đồng ý của giám đốc; Có ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài sản chung; Không tự ý sử dụng tài sản riêng của người khác
1.3.2 Quá trình thực tập tại công ty Luật Hải Nguyễn
a Thời gian thực tập và công việc thực tập tại công ty
Thời gian thực tập tại đơn vị: thời gian thực tập tại công ty luật Hải Nguyễn của em
kể cả kiến tập năm 3 là hơn 3 tháng ( 1 tháng kiến tập năm 3 + 2 tháng 22 ngày thực tập năm 4 ) Việc thực tập ở đơn vị của em đảm bảo đúng với quy định thực tập tại đơn vị của trường đặt ra, quá trình thực tập không xảy ra các vấn đề xấu tại đơn vị, làm theo sự hướng dẫn của cán bộ hướng dẫn, tuân thủ các quy định của công ty để không làm ảnh hưởng đến
bộ mặt nhà trường và nhà trường để nếu có sinh viên khoá sau đến thực tập tại công ty lần nữa đảm bảo 100% công ty sẽ tiếp nhận các bạn sinh viên khoá sau
Công việc thực tập tại công ty:
- Tư vấn, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ khởi kiện trong các vụ án dân sự; đất đai; lao động;
kinh doanh thương mại; Quá trình thực hiện công việc: Dùng các kiến thức đã học tại
trường và quá trình thực tập tại công ty sau đó áp dụng tư vấn hoàn thiện các hồ sơ khởi kiện sao cho đầy đủ chính xác nhất cho khách hàng của công ty ( Trường hợp khách hàng thiếu sót gì trong hồ sơ khi mang hồ sơ đến công ty thì hỗ trợ khách hàng bổ sung thêm một cách thuận tiện nhất ) mang đến cho khách hàng sự yên tâm, an toàn khi đến công ty
tư vấn
Trang 12- Tư vấn Luật Hôn nhân – Gia đình: Soạn đợn khởi kiện, chuẩn bị hồ sơ ly hôn; tư
vấn hồ sơ ly hôn; tư vấn quy trình thủ tục ly hôn; tư vấn thủ tục kết hôn với người nước ngoài; tư vấn thủ tục ghi chú ly hôn; tư vấn thủ tục tranh chấp tài sản; Quá trình thực hiện công việc : Dùng các kiến thức đã học tại trường và quá trình thực tập tại công ty sau đó
áp dụng tư vấn, soạn thảo đơn và hoàn thiện hồ sơ tiến hành ly hôn cho khách hàng Nghe nguyện vọng của khách hàng muốn gì khi ra toàn sau đó tư vấn khách hàng cách để thực hiện việc đó nếu trong tầm pháp luật cho phép
- Soạn thảo đơn khởi kiện các vụ án dân sự Quá trình thực hiện công việc : Dùng các
kiến thức đã học tại trường và quá trình thực tập tại công ty sau đó áp dụng tư vấn, soạn thảo đơn khởi kiện các vụ án dân sự sao cho chính xác theo mẫu, kiểm tra chính tả chính xác không bị sai lỗi nhỏ như vậy và tư vấn khách hàng nộp ở đâu cho đúng quy định
- Chuẩn bị, xắp xếp hồ sơ của từng khách hàng, từng vụ việc Quá trình thực hiện
công việc : Từ các hồ sơ có sẵn tại công ty, xắp xếp lại theo từng vụ việc, xắp xếp theo ngày từ trước đến sau để cho luật sư, giám đốc công ty xử lý theo thứ tự để khách hàng có được sự công bằng việc nào đến trước sẽ được xử lý, tư vấn trước, việc nào đến sau sẽ được xử lý tư vấn sau
- Nhận hồ sơ vụ án tại các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm quyền Quá trình
thực hiện công việc : Nhận hồ sơ vụ án theo sự hướng dẫn của cán bộ hướng dẫn đến đúng
nơi, gặp đúng người để nhận hồ sơ
- Yêu cầu : Kiến thức sơ bộ về Luật lao động,luật hôn nhân và gia đình,… kỹ năng giao tiếp tốt
- Thái độ : Vui vẽ , tận tình, chu đáo, cẩn thận với khách hàng của công ty
- Khó khăn : Còn nhiều vấn đề về pháp luật còn chưa rõ, các vấn đề pháp lý liên quan chưa tìm hiểu kĩ, chưa có sự va chạm nhiều trong công việc này nên vấn đề giao tiếp còn luống cuống
- Giải quyết khó khăn : Chú ý người hướng dẫn mỗi khi tư vấn khách hàng về mảng này, củng cố khả năng giao tiếp với khách hàng và người khác để củng cố khả năng giao tiếp để sau này không mắc những lỗi khi giao tiếp với khách hàng
b Rút ra kinh nghiệm gì sau thực tập, em học hỏi được gì?
Sau khi thực tập em rút ra được vài kinh nghiệm đó là :
Thứ nhất, mọi việc làm tại công ty cần có độ chính xác cao, không được làm qua loa,
mất tập trung gây ảnh hưởng đến độ chính xác của công việc mình được giao
Thứ hai, có tính trách nhiệm trong mọi công việc được giao
Thứ ba tinh thần luôn vui vẽ, biết lắng nghe ý kiến người khác từ người trong công
ty đến khách hàng của công ty
Thứ tư, nâng cao được khả năng giao tiếp
Thứ năm, rèn luyện tính kỷ luật, tính tự giác cao trong môi trường làm việc
Trang 14CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT
NAM
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1.1 Khái niệm ly hôn
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chế định ly hôn được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 (BLDS
2005) quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly
hôn” Khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình”
Tuy nhiên, khái niệm ly hôn chỉ được quy định rõ tại Luật Hôn nhân và gia đình Cụ thể, theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành năm 2014 thì
“Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
của Tòa án”
Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan
hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng đồng thời nó cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức vì tình cảm vợ chồng còn, hôn nhân không có tiếng nói chung Trong quan hệ hôn nhân, việc kết hôn giữa nam và nữ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp mà tình cảm và sự đồng cảm giữa hai bên là nguồn cội của sự tự nguyện Khi tình cảm không vợ chồng không còn, kết hợp với nhiều yếu tố khác khiến cho quan hệ hôn nhân rạn nứt thì giải pháp hữu hiệu nhất và cũng là thông dụng nhất mà các cặp vợ chồng hướng tới là ly hôn Như vậy, pháp luật không có quyền yêu cầu nam nữ phải kết hôn khi họ không tự nguyện và cũng không có quyền từ chối khi họ có nhu cầu ly hôn Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại, giúp chồng thoát khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyết được
Về mặt pháp lý, quan hệ vợ chồng được phát sinh kể từ khi vợ, chồng được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chỉ chấm dứt khi có bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án công nhận về việc ly hôn Trên thực tế, có nhiều cặp vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không sống cùng nhau, độc lập về kinh
tế cũng như các hoạt động cá nhân khác nhưng không có Quyết định hoặc bản án của Tòa
án công nhận về việc ly hôn giữa hai vợ chồng thì về mặt pháp lý quan hệ giữa hai người vẫn là quan hệ vợ chồng, vẫn bị ràng buộc với nhau bởi các quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ giữa vợ và chồng
Trên cơ sở đó có thể hiểu một cách tổng quát nhất ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác Tòa án là
cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định
Trang 15Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức Quyết định Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án
ly hôn
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm ly hôn có yếu tố nước ngoài
a Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và Gia đình đã dành nhiều điều luật để quy định về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, cho đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và Gia đình cũng như các văn bản pháp luật khác vẫn chưa có quy định rõ ràng, định
nghĩa cụ thể thế nào là “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”
Tại Khoản 2 Điều 663 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: – Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
– Các bên tham gia đều là công dân Viêṭ Nam , pháp nhân Việt Nam nhưng viêc̣ xác lập, thay đổi, thực hiện hoăc̣ chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
– Các bên tham gia đều là công dân Viêṭ Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hê ̣dân sự đó ở nước ngoài
Quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng thuộc phạm trù quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên có thể áp dụng toàn bộ quy định của Bộ Luật Dân sự về vấn đề quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài để kết hợp với luật chuyên ngành để giải quyết quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc xây dựng được khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài một cách đầy đủ, toàn diện và chuẩn mực trong đạo luật chuyên ngành là cần thiết
Với tinh thần đó, Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định
rõ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình
mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ
để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”
Mặt khác, ly hôn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 được xem là một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Điều 464 Bộ luật này
có quy định rõ thế nào là một vụ việc dân sự Theo đó, “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam những việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”
Với hai quy định nêu trên ta thấy, tại Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 không quy định chủ thể trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là “người Việt Nam định cư
Trang 16nước ngoài” nhưng tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lại quy định chủ thể này
Lý giải cho vấn đề này ta có thể hiểu, Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 là văn bản luật hình thức áp dụng chung có các quan hệ có yếu tố nước ngoài Khi có sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế thì cần áp dụng luật chuyên ngành, trên sơ sở luật chung để giải quyết một vấn đề cụ thể Mặt khác, chủ thể theo quy định tại Điều 464 BLTTDS 2015 đã bao hàm cả “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Như vậy, có thể thấy rằng, liên quan đến vấn đề “có yếu tố nước ngoài” trong các quy định nêu trên của các văn bản pháp luật Việt Nam đã có sự thống nhất với nhau
Theo đó, ta có thể hiểu “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ
chồng giữa vợ và chồng mà ít nhất một trong hai bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến việc ly hôn ở nước ngoài”
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy
định về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “1 Việc ly hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này 2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu
ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của
vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam
3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Như vậy, khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án không những chỉ áp dụng pháp luật của Việt Nam mà còn phải chú ý tới pháp luật nước ngoài Vấn đề lựa chọn pháp luật để áp dụng trong ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng là một điều khá trọng Nếu lựa chọn không đúng thì bản án hoặc Quyết định có thể bị hủy Đặc biệt là pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng hay là pháp luật nơi có bất động sản của vợ chồng
b Đặc điểm
Từ các cơ sở trên ta có thể thấy quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có một trong các đặc điểm sau:
Về chủ thể: Quan hệ ly hôn được coi là có yếu tố nước ngoài khi có ít nhất một trong
các bên chủ thể tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Pháp luật Việt Nam quy định người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch
Về hậu quả pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân: Bao gồm căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân Đó chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân Điều kiện để xác định việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không trong trường hợp này là sự kiện pháp lý đó phải theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể không được đặt ra Nghĩa là, trong trường hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng nếu sự kiện pháp lý là chấm
Trang 17dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài thì quan hệ đó
là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Về vị trí của tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn: Trong trường hợp này, không
cần xét đến hai yếu tố trên, nếu tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước ngoài, thì quan hệ đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Bên cạnh đó, một quan hệ ly hôn khi không xét đến cả ba yếu tố trên nhưng nếu quan
hệ ly hôn chấm dứt bằng một bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài thì đó cũng là một trong những dấu hiệu xác định quan hệ ly hôn đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Như vậy, để xác định một quan lệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cần xét đến một trong các yếu tố trên, nếu đáp ứng điều kiện đối với ít nhất một yếu tố để quan hệ ly hôn đó trở thành quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì không cần xét đến các yếu tố còn lại
2.1.3 Hậu quả pháp lý của ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nếu kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ
và chồng thì ly hôn chính là cơ sở pháp lý để làm thay đổi hay chấm dứt các quan hệ đó Luật Hôn nhân và Gia đình không có những điều khoản cụ thể, riêng biệt quy định về quan
hệ nhân thân, tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải áp dụng các quy định pháp luật chung về điều kiện, căn cứ
ly hôn
a Quan hệ nhân thân
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền liên quan đến lợi ích tinh thần gắn liền với nhân thân của vợ chồng trong quan hệ vợ chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho người khác.Quyền nhân thân giữa vợ và chồng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân giữa vợ và chồng phát sinh trên cơ sở kết hôn, gắn liền
với quan hệ vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân Các quyền và nghĩa vụ này chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Tức là, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được bắt đầu bằng việc đăng ký kết hôn Theo đó, vợ và chồng sẽ có thêm các quyền về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật Còn sau khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực hoặc khi một trong hai bên bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt
Thứ hai, quyền nhân thân là quyền gắn liền với cá nhân và không thể là đối tượng
chuyển dịch cho người khác, quyền này có tính độc lập, cá biệt hoá cá nhân này với cá nhân khác, không thể trộn lẫn Vì vậy, quyền nhân thân của vợ chồng không thể chuyển giao cho người khác, không thể do người khác thực hiện thay mà chỉ phụ thuộc giữa vợ chồng
Thứ ba, các quyền nhân thân giữa vợ và chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Quyền nhân thân của cá nhân được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự và được cụ thể hóa tại Luật HNGĐ với chủ thể cụ thể là vợ chồng Quyền nhân thân của vợ chồng được pháp
Trang 18luật quy định trong các quy phạm pháp luật nên có thể thấy quyền này đã được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện
Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thể hiện mỗi liên hệ tình cảm giữa vợ và
chồng.Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng:”1
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.2 Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và lý do chính đáng khác.”Nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau được điều chỉnh bằng các nguyên tắc đạo đức, truyền thống và theo phong tục, tập quán của người Việt Nam rồi sau đó được nâng dần lên thành luật Vi phạm những quy tắc đạo đức chỉ bị xã hội lên án, vi phạm các quy tắc pháp luật sẽ bị xử phạt theo quy định.Về nghĩa vụ chung sống, có thể hiểu rằng hôn nhân trước hết là cuộc sống chung giữa người đàn ông và người phụ nữ: chung nhà, chung bàn ăn và chung chăn gối Tất nhiên, vợ và chồng không nhất thiết phải ở chung, ăn chung, ngủ chung một cách liên tục, thường xuyên trong suốt thời kỳ hôn nhân; song, ít nhất giữa họ luôn phải có mối liên hệ sâu đậm về phương diện sinh hoạt vật chất và thân xác Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận một cách rõ ràng nghĩa vụ chung sống; tuy nhiên, không thể nói rằng mục đích của hôn nhân đã đạt được một khi hai bên kết hôn không thực sự chung sống với nhau Việc không chung sống liên tục trong một thời gian dài có thể dẫn đến những khó khăn trong việc duy trì cơ sở đạo lý và cơ sở thực tế của quy tắc suy đoán con chung của vợ chồng
Thứ năm, các quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện tính dân chủ, bình đẳng giữa vợ,
chồng:Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn chỗ ở, nơi cư trú theo Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.”Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn tín ngưỡng: Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau Ngoài ra, vợ chồng còn có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn việc làm, tham gia vào công tác xã hội theo quy định tại Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.”Vậy quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chủ yếu là các quan hệ nhân thân mang tính chất lâu dài, bền vững được nhà nước quy định cụ thể, chặt chẽ và phù hợp trong Luật hôn nhân và gia đình 2014
b Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn
Ngày nay, cùng với tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa đến sản xuất, kinh tế, thương mại thì quan hệ hôn nhân cũng có sự biến đổi không nhỏ, sự mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu trên mọi lĩnh vực giữa các nước trên thế giới là cơ hội cho nhiều người nước ngoài đến Việt Nam công tác cũng như công dân Việt Nam ra nước ngoài gặp gỡ, giao lưu tìm hiểu nhau Từ việc đi du lịch, đi du học, đi hợp tác lao động tới việc kết bạn, hẹn
hò thông qua các trang mạng xã hội đã khiến cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày
Trang 19càng trở nên phổ biến Tuy nhiên hiện nay, không có một văn bản nào định nghĩa thế nào
là hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các văn bản thường giải thích từ ngữ theo cụm “hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” Hôn nhân và gia đình về mặt lý luận là hai khái niệm độc lập, nếu hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn thì gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định pháp luật Về nội hàm, khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân, về mặt chủ thể quan
hệ hôn nhân chỉ gồm quan hệ giữa vợ và chồng còn quan hệ gia đình không chỉ quan hệ giữa vợ và chồng mà còn có những người khác dựa trên quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Tuy nhiên, hai khái niệm lại này có sự gắn bó mật thiết với nhau, hôn nhân
là cơ sở tạo nên gia đình do vậy ta hoàn toàn có thể xem xét khái niệm hôn nhân có yếu
tố nước ngoài trong khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra ba dấu hiệu để xác định một quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đó là: Chủ thể của quan hệ hôn nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân phát sinh ở nước ngoài và yếu tố tài sản trong quan hệ hôn nhân ở nước ngoài Quan hệ hôn nhân bao gồm tổng thể ba quan hệ: Quan hệ kết hôn; quan hệ vợ, chồng
và quan hệ chấm dứt hôn nhân Như đã trình bày ở lời nói đầu khi nghiên cứu quản lý nhà nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài Từ khái niệm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như đã phân tích và khái niệm kết hôn quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của
pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" Ta có thể định nghĩa kết hôn có yếu
tố nước ngoài: Là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về
điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài
Có thể hiểu, kết hôn chính là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân, về mặt
xã hội là lễ cưới, về mặt pháp luật là việc đăng ký kết hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định không phân biệt hôn nhân trong nước hay hôn nhân có yếu tố nước ngoài
c Quan hệ giữa vợ và chồng sau ly hôn
Cũng như các trường hợp ly hôn không có yếu tố nước ngoài, việc ly hôn sẽ được coi
là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng Việc chấm dứt này có thể xuất phát từ yêu cầu
ly hôn đơn phương hoặc do cả hai bên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và phải được
Trang 20toà án công nhận bằng bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự Sau khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng
sẽ chính thức chấm dứt
d Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau ly hôn
Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng không làm chấm dứt quan hệ giữa cha, mẹ và con chung Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền lợi đồng thời là nghĩa
vụ của cha mẹ trước và sau khi ly hôn Tuy nhiên, sau khi ly hôn sẽ làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con chung Ví dụ như sau khi ly hôn, đương nhiên con cái không thể chung sống được với cả cha lẫn mẹ Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết Khi quyết định giao con chưa thành niên cho ai (trong hai vợ chồng) nuôi dưỡng Toà án phải xem xét đến hoàn cảnh thực tế của mỗi bên, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ Bên cạnh vấn đề giao con cho ai nuôi thì việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi nuôi con sau ly hôn… cũng là những vấn đề mới phát sinh trong quan hệ cha mẹ, con cái sau khi ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
e Quan hệ tài sản
Cũng giống như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cũng sẽ chấm dứt kể từ sau khi bản án hay quyết định của Toà án về việc ly hôn có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, việc chia tài sản sau ly hôn là vấn đề hết sức phức tạp, từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng của các bên trong thời kỳ hôn nhân…Đặc biệt, việc giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tài sản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài Do đó, khi giải quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải kết hợp việc vận dụng các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, đôi khi cả pháp luật nước ngoài
Đối với trường hợp ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì việc giải quyết vấn đề tài sản tuân theo pháp luật nơi có tài sản Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không có những điều khoản cụ thể và riêng biệt về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài Vì vậy, thông thường khi giải quyết vấn đề này, Thẩm phán sẽ áp dụng pháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn Ví dụ thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Tòa án Việt Nam sẽ áp dụng Luật HNGĐ Việt Nam, BLDS Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết các vấn đề hậu quả pháp lý của việc ly hôn nói chung, bao gồm quan nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng
Trang 212.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Nguồn luật điều chỉnh
a Nguồn pháp luật quốc gia
Nguồn pháp luật quốc gia bao gồm tất cả các quy định của pháp luật quốc gia liên quan đến vấn đề điều chỉnh pháp lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Nguồn pháp luật quốc gia ở mỗi nước có thể là nguồn thành văn nếu thuộc hệ thống Civil Law cũng có thể là nguồn không thành văn nếu thuộc hệ thống Common Law hoặc có thể gồm cả nguồn thành văn và không thành văn
Các quy định nói trên ở Việt Nam được quy định chủ yếu trong các văn bản pháp luật sau đây:
Hiến pháp: Quyền của công dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và
hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng bao gồm cả lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những quyền cơ bản được Hiến pháp khẳng định Đó là nhân quyền – quyền tối cao của công dân được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ Do vậy,trong các bản Hiến pháp của Việt Nam: Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1960; Hiến pháp năm 1980; Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là bản Hiến pháp năm 2013 đều quy định rất rõ quyền này
Khái niệm “công dân” cũng có thể là mối quan hệ pháp lý có tính chất đặc biệt, tồn
tại cả trong những trường hợp mà công dân Việt Nam đã sinh sống ở nước ngoài nhưng
vẫn còn mang quốc tịch Việt Nam Hiến pháp năm 2013 tại điều 18 cũng quy định: “Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước” Như vậy, xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với công dân nước
ngoài và người không có quốc tịch, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền con người, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và căn
cứ vào những điều ước đã kí kết giữa Nhà nước Việt Nam với nước ngoài; mối quan hệ pháp luật đặc biệt đó thông thường phát sinh từ lúc những người nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam và chấm dứt khi họ rời khỏi lãnh thổ Việt Nam; mối quan hệ đó thường mang tính chất nhất thời, không có sự gắn bó lâu dài như mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước
Đây là những quy định có tính nguyên tắc và trên tinh thần của các quy định này, các
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã ban hành các bộ Luật, đạo luật và một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật nhằm điều chỉnh lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng, bao gồm cả lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài,