CƠ SỞ LÝ LU Ậ N VÀ TH Ự C TI Ễ N V Ề TH Ự C HI Ệ N CHÍNH SÁCH B Ả O TR Ợ XÃ H ỘI ĐỐ I V ỚI NGƯỜ I KHUY Ế T T Ậ T
Các khái ni ệm cơ bả n và vai trò c ủ a th ự c hi ện chính sách BTXH đố i v ớ i ngườ i khuy ế t t ậ t
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Thực hiện chính sách là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đối với các đối tượng quản lý, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và đạt được mục tiêu đề ra Quá trình này bao gồm các bước thực hiện theo quy trình trong một hệ thống chính sách.
Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dung để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm không phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” [61] Điều 1 Công ước về quyền của Người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của những người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [44]
Trước khi Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam đã nhìn nhận người khuyết tật chủ yếu dưới góc độ "Người tàn tật" Theo Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998, định nghĩa về người tàn tật là những cá nhân bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, không phân biệt nguyên nhân gây ra tình trạng này.
Chức năng biểu hiện dưới nhiều dạng tật khác nhau có thể làm suy giảm khả năng hoạt động của con người, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt và học tập.
Theo Luật Người khuyết tật năm 2010, người khuyết tật được định nghĩa là những người có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng, dẫn đến khó khăn trong lao động, sinh hoạt và học tập.
Theo từ điển Tiếng Việt, "Bảo trợ" có nghĩa là hỗ trợ tổ chức hoặc cá nhân gặp khó khăn về vật chất, trong khi "Trợ giúp" là hỗ trợ vật chất để giảm bớt khó khăn, thiếu thốn Mặc dù hai thuật ngữ "bảo trợ xã hội" và "trợ giúp xã hội" có ý nghĩa tương đồng, nhưng hiện nay, phần lớn tài liệu và văn bản pháp luật đều sử dụng thuật ngữ "trợ giúp xã hội" Các quy định pháp lý hiện hành cũng thay thế cụm từ "bảo trợ xã hội thường xuyên" bằng "trợ giúp xã hội thường xuyên" hoặc "cứu tế xã hội thường xuyên".
Theo UNICEF, bảo trợ xã hội bao gồm các chính sách và chương trình nhằm giảm thiểu tác động của nghèo đói và khó khăn trong cuộc sống Các chương trình này thường bao gồm chuyển tiền mặt cho trẻ em khó khăn, phát triển kỹ năng sống, và kết nối gia đình với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng và giáo dục chất lượng Mục tiêu là mang đến cơ hội công bằng cho tất cả trẻ em, bất kể hoàn cảnh sinh ra Tại Việt Nam, bảo trợ xã hội được hiểu là sự hỗ trợ từ Nhà nước, xã hội và cộng đồng thông qua nhiều biện pháp và hình thức khác nhau.
Có 17 nhóm đối tượng gặp phải rủi ro, bất hạn và nghèo đói do nhiều nguyên nhân khác nhau, dẫn đến việc họ không đủ khả năng tự lo liệu cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Việc hỗ trợ những nhóm này là cần thiết để giúp họ tránh khỏi những mối đe dọa trong cuộc sống hàng ngày, vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập vào cộng đồng.
Bảo trợ xã hội không chỉ đảm bảo phúc lợi cho người nghèo mà còn xây dựng nền tảng phát triển năng lực con người, cải thiện công bằng xã hội, củng cố sự kết nối cộng đồng và xã hội, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế.
Bảo trợ xã hội là các hành động của nhà nước nhằm ứng phó với tình trạng dễ bị tổn thương, nghèo đói và rủi ro xã hội không thể chấp nhận Những biện pháp này được thực hiện trong khuôn khổ của một chính thể và xã hội để cải thiện đời sống cho những nhóm đối tượng yếu thế.
1.1.1.4 Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
BTXH đối với NKT là tổng hợp các chính sách và giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm hỗ trợ và bảo vệ người khuyết tật Điều này bao gồm các khoản trợ cấp, hỗ trợ và chi phí cần thiết để giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập vào cộng đồng.
1.1.2 Vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với NKT
1.1.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền và nhân dân trong thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về công tác người khuyết tật Tích cực đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho người khuyết tật bằng hình thức phù hợp Tăng
Công tác lãnh đạo và chỉ đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng là rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối và chính sách của Đảng đối với người khuyết tật Cần hỗ trợ và tạo điều kiện để người khuyết tật phát huy năng lực, đồng thời các tổ chức người khuyết tật cần làm tốt vai trò đại diện và kết nối với Đảng, Nhà nước Việc phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hoá, xã hội, nhằm đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, hướng tới một xã hội không rào cản cho người khuyết tật.
1.1.2.2 Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật
Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về người khuyết tật, cần sửa đổi và hoàn thiện chính sách, pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và các cam kết quốc tế Điều này sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội, thực hiện công bằng xã hội Cần nâng dần mức trợ cấp xã hội theo mức sống và khả năng ngân sách, đồng thời tăng cường số lượng người khuyết tật tham gia mạng lưới an sinh xã hội Ngoài ra, cần tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật trong việc tiếp cận giáo dục, học nghề, việc làm, tín dụng, bảo trợ xã hội, cũng như các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch.
Xây dựng và thực hiện hiệu quả chương trình hỗ trợ người khuyết tật nhằm khuyến khích họ học tập và lao động, vượt qua khó khăn để sống độc lập và hòa nhập xã hội Điều này không chỉ góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội mà còn giúp đỡ những người khuyết tật khác Đồng thời, cần xây dựng tiêu chuẩn cho các cơ sở hạ tầng thiết yếu, đảm bảo phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật và tạo cơ hội bình đẳng cho họ.
Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật
1.1.2.3 Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp người khuyết tật
Th ự c hi ệ n chính sách b ả o tr ợ xã h ội đố i v ới ngườ i khuy ế t t ậ t
1.2.1 Các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
* Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
1 Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm: a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định b) Người khuyết tật nặng.
2 Đối tượng được hỗ trợ kinh phíchăm sóc hàng tháng bao gồm: a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó; b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng; c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi
3 Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.
4 Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.
* Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
1 Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội.
2 Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
Người khuyết tật nhận trợ cấp xã hội hàng tháng sẽ được hỗ trợ chi phí mai táng khi qua đời, theo quy định của chính phủ về mức hỗ trợ này.
* Cơ sở chăm sóc người khuyết tật
1 Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư vấn, trợ giúp người khuyết tật.
2 Cơ sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm: a) Cơ sở bảo trợ xã hội; b) Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật; c) Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập; d) Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác.
3 Chính phủ quy định điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc người khuyết tật.
4 Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập.
* Xã hội hóa hoạt động trợ giúp người khuyết tật
1 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kỹ thuật để thực hiện hoạt động chỉnh hình, phục hồi chức năng, chăm sóc, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, cung cấp dịch vụ khác trợ giúp người khuyết tật.
2 Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng, chăm sóc, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ khác trợ giúp người khuyết tật được hưởng chính sách ưu đãi xã hội hóa theo quy định
* Quỹ trợ giúp người khuyết tật
1 Quỹ trợ giúp người khuyết tật là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp người khuyết tật.
2 Quỹ trợ giúp người khuyết tật được hình thành từ các nguồn như đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài; Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu hợp pháp khác.
3 Quỹ trợ giúp người khuyết tật được thành lập và hoạt động theo quy định [48]
Các chính sách bảo trợ xã hội dành cho người khuyết tật bao gồm các mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng và trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng Hệ số tính trợ cấp xã hội hàng tháng, chi phí mai táng và hỗ trợ chăm sóc cũng được quy định rõ ràng Đặc biệt, có các mức cấp kinh phí cho người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa Điều kiện nhận nuôi dưỡng và chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng cũng được xác định Hồ sơ và thủ tục để đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng, cũng như chi phí mai táng và tiếp nhận người khuyết tật vào cơ sở bảo trợ xã hội được quy định cụ thể.
1.2.2 Các bước thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Kể từ khi Luật Người Khuyết Tật năm 2010 được ban hành, nhiều văn bản liên quan đến chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật đã được các cơ quan có thẩm quyền phát hành Các cơ quan chuyên môn đã xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh và thực hiện chính sách này, đồng thời hỗ trợ Chính phủ và Quốc hội trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành tại các địa phương Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội, cần xây dựng kế hoạch chi tiết, bao gồm tổ chức điều hành, cung cấp nguồn nhân lực, thời gian triển khai và kiểm tra thực hiện Việc này sẽ giúp cụ thể hóa các hoạt động của kế hoạch, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đồng thời đảm bảo bố trí kinh phí, nhân lực và cơ sở vật chất để đạt được hiệu quả cao trong thực hiện chính sách.
1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Các cấp, các ngành xác định việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo tập trung, chính quyền tích cực triển khai, và các đoàn thể cùng cơ quan liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật về Luật người khuyết tật và quy định bảo trợ xã hội.
Các cấp chính quyền địa phương cần thực hiện đúng chủ trương và chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật Trong quá trình triển khai, các cơ quan phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, thuyết phục cán bộ, công chức và nhân dân chấp hành các chủ trương của Đảng Đồng thời, cần thực hiện tốt các chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật, đảm bảo hoàn thành kế hoạch hàng năm của địa phương.
Việc thực hiện công tác tuyên truyền đã ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của cộng đồng về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật Nhiệm vụ tuyên truyền và giáo dục pháp luật đã đảm bảo việc áp dụng chính sách bảo trợ xã hội đúng đắn, giúp người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm và hòa nhập cộng đồng Điều này không chỉ nâng cao đời sống của họ mà còn góp phần vào phát triển kinh tế và an sinh xã hội.
1.2.2.3 Tổ chức triển khai, đôn đốc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trong quá trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc giải quyết các vấn đề xã hội và an sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Do đó, việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội là cần thiết để đạt được những mục tiêu này.
BTXH cho người khuyết tật (NKT) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật Đây là một yếu tố thiết yếu đảm bảo thực hiện quyền của người khuyết tật theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật.
Các y ế u t ố tác động đế n th ự c hi ện chính sách đố i v ới ngườ i khuy ế t t ậ t 26 1.4 Bài h ọ c kinh nghi ệ m ở m ộ t s ố địa phươn g v ề th ự c hi ện chính sách đố i
1.3 1 Yếu tố bản thân chính sách
Chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật được hình thành và điều chỉnh dựa trên Pháp lệnh Người tàn tật, Luật Người khuyết tật cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
Theo quy định pháp luật, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên Tuy nhiên, nhiều đối tượng khác như người mắc bệnh tâm thần, tự kỷ, trầm cảm cũng cần sự hỗ trợ từ Nhà nước nhưng chưa được quy định Mặc dù mức lương cơ sở đã thay đổi, nhưng trợ cấp cho người khuyết tật vẫn không được điều chỉnh Điều này gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách xã hội và bảo trợ xã hội, ảnh hưởng đến quyền lợi của người khuyết tật, đặc biệt là những người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng tại các địa phương.
Các quy định trong chính sách bảo trợ xã hội đã ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện chính sách đối với người khuyết tật tại các địa phương Nếu chính sách được ban hành phù hợp với tình hình thực tế, sẽ giúp các cấp chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả hơn, và ngược lại.
1.3 2 Chủ thể thực hiện chính sách
Thực hiện bảo trợ xã hội cho người khuyết tật là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng lớn đến tâm lý, cuộc sống và sự hòa nhập của họ tại địa phương Để đạt hiệu quả trong chính sách này, các tổ chức, cộng đồng và cán bộ thực thi cần không chỉ am hiểu pháp luật mà còn phải có kỹ năng nghiệp vụ để chia sẻ, đồng cảm và động viên người khuyết tật Việc nâng cao nhận thức pháp luật và chấp hành chủ trương của nhà nước là cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật và thực hiện chính sách bảo trợ xã hội hiệu quả.
Nếu tổ chức, cộng đồng xã hội và công chức thiếu tâm huyết và trách nhiệm trong công vụ, họ sẽ không thể hiểu và đồng cảm với những người khuyết tật, dẫn đến việc không nhận được sự đồng thuận trong việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Năng lực của đội ngũ công chức và những người thực hiện chính sách xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống của người khuyết tật và hiệu quả của các chính sách này.
Trong những năm qua, Đảng ta đã đổi mới phương thức lãnh đạo trên nhiều khía cạnh, với điểm thống nhất là đề ra chủ trương, đường lối Việc cụ thể hóa những ý tưởng này thông qua các văn bản quy phạm pháp luật là trách nhiệm của Nhà nước Để thực hiện hiệu quả, chính sách nội bộ Đảng cần giải quyết ba vấn đề quan trọng.
Để xác định đúng vấn đề chính sách công, cần có phương thức thu thập ý kiến phù hợp Những ý kiến này thường được lấy từ thông tin và đánh giá tình hình của đội ngũ đảng viên trong bộ máy nhà nước.
Hai là, đảm bảo cho các khâu tiếp theo của chính sách không đi trệch khỏi vấn đề cần giải quyết được đặt ra ban đầu.
Chính sách nội bộ của Đảng cần phải đồng bộ và phù hợp với các chính sách chung của Đảng, nhằm tạo ra công cụ hiệu quả trong việc lãnh đạo đất nước Điều này giúp các đảng viên được cử tham gia vào bộ máy nhà nước có thể hoàn thành tốt hai chức trách của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đóng vai trò chủ đạo trong việc định hình chính sách công tại quốc gia Với tư cách là lực lượng lãnh đạo, Đảng có ảnh hưởng lớn đến các quyết định và hướng đi của chính sách, góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Đảng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và vận động của đất nước trong tương lai.
1.3 3 Đối tượng chịu tác động của chính sách
Các chính sách bảo trợ xã hội chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ những người yếu thế và người khuyết tật tại các địa phương Sự đồng thuận cao từ cán bộ, công chức, doanh nghiệp và cộng đồng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chế độ bảo trợ xã hội, đảm bảo quyền lợi cho đối tượng khuyết tật Điều này không chỉ đáp ứng nguyện vọng của người dân mà còn giúp triển khai các Đề án, Dự án trợ giúp người khuyết tật một cách hiệu quả và đúng tiến độ, phù hợp với từng đối tượng và khu dân cư.
Nếu cán bộ, công chức và cộng đồng xã hội có ý thức trách nhiệm tốt, công tác triển khai chính sách sẽ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Ngược lại, sự không hợp tác từ đối tượng chịu tác động của chính sách, đặc biệt là những người khuyết tật, sẽ gây khó khăn trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo trợ xã hội Do đó, đối tượng chịu tác động có vai trò quyết định đến thành công hay thất bại của quá trình triển khai chính sách.
1.3 4 Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để thực thi chính sách
Yếu tố tài chính và cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công chính sách của nhà nước Sự đầy đủ của nguồn lực này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách.
Để thực thi chính sách hiệu quả, việc đảm bảo nguồn lực là yếu tố không thể thiếu Dù chính sách được ban hành rõ ràng, nếu cơ quan thực thi thiếu nguồn lực cần thiết như kinh phí, nhân lực, thông tin và thiết bị, thì mục tiêu chính sách sẽ khó đạt được Do đó, các cơ quan có thẩm quyền và chính quyền địa phương cần chú trọng phân bổ kinh phí và đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu thực thi chính sách.
1.4 Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực hiện chính sách đối với người khuyết tật
1.4.1 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách dành cho NKT tại tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Kế hoạch số 66/KH-UBND nhằm triển khai Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật giai đoạn 2016 – 2020 Kế hoạch này tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi của người khuyết tật, đồng thời đẩy mạnh truyền thông để người khuyết tật hiểu rõ quyền được trợ giúp pháp lý và tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí Ngoài ra, kế hoạch cũng nhấn mạnh việc tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, đặc biệt trong việc thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật tiền tố tụng khi có yêu cầu.
Thực hiện Công văn số 4068-CV/TU ngày 20/12/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW ngày
TH Ự C TR Ạ NG TH Ự C HI Ệ N CHÍNH SÁCH B Ả O TR Ợ XÃ H ỘI ĐỐ I V ỚI NGƯỜ I KHUY Ế T T ẬT TRÊN ĐỊ A BÀN T Ỉ NH
Khái quát chung v ề điề u ki ệ n t ự nhiên, kinh t ế xã h ộ i và th ự c tr ạng ngườ i
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Quảng Nam có tổng diện tích 10.574,74 km², trong đó khu vực miền núi chiếm 7.760,7 km², tương đương 73,4% Tỉnh này nằm ở phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Lào và tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, và phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng Địa hình của Quảng Nam có bốn dạng chính: núi cao, đồi cao núi thấp, đồi gò, và đồng bằng, được chia cắt bởi các lưu vực sông như Vu Gia, Thu Bồn, và Tam Kỳ Đặc biệt, địa hình núi cao phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc và Tây Nam tỉnh, với nhiều dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có độ cao trung bình đáng kể.
500 – 1000m, nằm trong hệ thống dãy Trường Sơn, có nhiều ngọn núi cao, trong đó cao nhất là Ngọc Linh (2.567m) Địa hình núi cao có hướng dốc từ
Địa hình Quảng Nam giảm dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, với vùng đồi núi chiếm 72% diện tích Ven biển, có nhiều hòn đảo lớn nhỏ và dãi cồn cát kéo dài từ xã Điện Nam huyện Điện Bàn đến xã Tam Nghĩa huyện Núi Thành.
Hệ thống sông ngòi Quảng Nam dài hơn 900 km, kết nối miền xuôi và miền ngược, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương kinh tế đường thủy giữa các địa phương như Hội An, Vĩnh Điện, Tam Kỳ và Đà Nẵng Sự phát triển này đã hình thành lợi thế buôn bán qua đường thủy từ nhiều thế kỷ trước Sông Thu Bồn, con sông lớn nhất của Quảng Nam, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và chảy qua các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, và Phước Sơn.
Hiệp Đức, Quế Sơn, Duy Xuyên và Giao Thủy (Đại Lộc) là những địa điểm quan trọng trong hệ thống sông ngòi của tỉnh Sông Thu Bồn chảy từ Giao Thủy xuôi về Điện Bàn và Hội An, trong khi sông Trường Giang chạy dọc theo vùng cát ven biển, nối cửa An Hòa với cửa Đại Sông Tam Kỳ, có diện tích lưu vực 300 km2, bắt nguồn từ 10 con suối ở Đông Trường Sơn và đổ ra cửa biển An Hòa, kết nối với sông Thu Bồn Một nhánh của sông Thu Bồn là sông Vĩnh Điện, chảy ra phía bắc tỉnh và hợp lưu với sông Cẩm Lệ.
Cổ Cò Ngoài ra, trong tỉnh còn có một số con sông nhỏ khác như sông An Tân, sông Tiên
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, tỉnh Quảng Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ chất độc hóa học, tác động đến những người tham gia kháng chiến và con cháu của họ Hệ quả là nhiều người dân trong khu vực bị phun rải chất độc hóa học đã gặp phải tình trạng khuyết tật do di chứng của chiến tranh.
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Trong giai đoạn 2016 - 2019, Quảng Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhờ vào nhiều yếu tố thuận lợi và sự hoạt động hiệu quả của các dự án lớn, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất điện và dịch vụ du lịch Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2015 - 2016 đạt hơn 25%/năm, trong đó khu vực công nghiệp tăng trên 30%, chủ yếu nhờ vào ngành sản xuất và lắp ráp ô tô, chiếm hơn 60% tổng sản lượng kinh tế Nhờ đó, quy mô nền kinh tế của tỉnh đạt gần 77 nghìn tỷ đồng vào năm 2016, gấp 2,7 lần so với năm 2010, và GRDP bình quân đầu người lần đầu tiên vượt mức trung bình chung của cả nước và khu vực.
Biểu đồ 2.1 Thực trạng kinh tế, xã hội Quảng Nam so với 14 tỉnh, thành phố duyên hải miền trung
Nguồn:Báo Quảng Nam http://baoquangnam.vn/
Qua hơn 4 năm (2016 - 2019), thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế phát triển nhanh chóng đã tạo động lực thúc đẩy cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường, hướng tới sự bền vững.
Trong giai đoạn 2016 - 2019, Quảng Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt hơn 11%, cao nhất trong 5 tỉnh, thành khu vực kinh tế trọng điểm và đứng thứ hai so với 14 tỉnh, thành Duyên hải miền Trung Trong khi đó, mức tăng trưởng của cả nước chỉ đạt 6,8%, và bình quân khu vực 5 tỉnh, thành đạt 6,9%, trong khi 14 tỉnh, thành ghi nhận mức tăng trưởng 7,1%.
Đến năm 2019, quy mô nền kinh tế Quảng Nam đạt hơn 99 nghìn tỷ đồng (khoảng 3,9 tỷ USD), đứng thứ hai sau Đà Nẵng trong khu vực 5 tỉnh, thành và thứ tư trong 14 tỉnh, thành khu vực Duyên hải miền Trung, chỉ sau Thanh Hóa, Nghệ An và Đà Nẵng GRDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 2.847 USD, cao hơn mức bình quân chung của khu vực, chỉ thấp hơn Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Khánh Hòa.
Tăng trưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn
Từ năm 2016 đến 2019, Quảng Nam đã nâng cao vị thế và tiềm lực kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào sự phát triển của khu vực và cả nước Đóng góp ngân sách của tỉnh liên tục gia tăng qua các năm, giúp Quảng Nam trở thành một trong 16 tỉnh, thành phố có khả năng tự cân đối và điều tiết ngân sách về trung ương.
Tăng trưởng kinh tế Quảng Nam trong những năm qua chủ yếu nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp, với tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp trung bình đạt trên 15% mỗi năm và tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 12%, cao hơn GRDP Khu vực doanh nghiệp đóng góp 60% quy mô nền kinh tế và hơn 83% thu ngân sách trong giai đoạn 2016 - 2019 Tuy nhiên, hiện tại, 94% doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là nhỏ và siêu nhỏ, trong khi chỉ có 3% là doanh nghiệp vừa và 3,1% là doanh nghiệp lớn.
Tăng trưởng kinh tế nhanh và quy mô kinh tế mở rộng đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, dẫn đến sự gia tăng thu nhập của người dân Trong giai đoạn 2016 - 2019, thu nhập đầu người bình quân tăng 13% mỗi năm, nhanh hơn tốc độ tăng của GRDP bình quân đầu người (+12% mỗi năm) Đến năm 2019, thu nhập bình quân của người dân Quảng Nam đạt khoảng 40 triệu đồng/năm, gấp hơn 1,6 lần so với năm 2015 và 3,6 lần so với năm 2010, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với mức trung bình của 5 tỉnh, thành trọng điểm miền Trung (46 triệu đồng).
Năm 2020, nền kinh tế toàn cầu suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế Việt Nam và tỉnh Quảng Nam, đặc biệt do tác động của dịch bệnh Covid-19 và dịch tả lợn.
Tình hình thời tiết mưa bão phức tạp ở Châu Phi đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh, dẫn đến sự sụt giảm ở nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng và mức tăng trưởng thấp.
Năm 2020, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tỉnh Quảng Nam giảm gần 7% so với năm 2019, đánh dấu lần đầu tiên kinh tế tỉnh tăng trưởng âm kể từ khi tái lập, chủ yếu do tác động của dịch bệnh Covid-19 Cơ cấu kinh tế năm 2020 cho thấy khu vực nông lâm thủy sản chiếm 14,5%, khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 33,2%, trong khi thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 18%.
2.1.2 Thực trạng người khuyết tật và tổ chức hội tại tỉnh Quảng Nam
Tình hình th ự c hi ệ n chính sách BTXH đố i v ới ngườ i khuy ế t t ật trên đị a bàn t ỉ nh Qu ả ng Nam
2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BTXH đối với NKT
Trong những năm qua, tỉnh đã xây dựng nhiều chương trình và kế hoạch hoạt động liên quan đến chính sách bảo trợ xã hội (BTXH) cho người khuyết tật (NKT) dựa trên nội dung các Thông tư, Nghị định và văn bản chỉ đạo từ cấp trên Cụ thể, Sở Lao động Thương binh và Xã hội cùng với Hội người khuyết tật đã phối hợp với các Sở, Ban ngành để tham mưu cho UBND tỉnh ban hành và thực hiện các văn bản cần thiết.
Kế hoạch số 5221/KH-UBND ngày 31/12/2013 triển khai thực hiện đề án trợ giúp người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014- 2020;
Kế hoạch số 2447/KH-UBND ban hành ngày 06/07/2012 nhằm triển khai đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối loạn tâm trí tại tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2011-2015 Mục tiêu của kế hoạch là nâng cao chất lượng cuộc sống và hỗ trợ tích cực cho những người gặp khó khăn về tâm lý trong cộng đồng.
Kế hoạch số 431/KH-UBND ban hành ngày 21/01/2019 nhằm hỗ trợ trẻ em khuyết tật tại tỉnh Quảng Nam tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trong cộng đồng, với thời gian thực hiện từ năm 2019 đến 2025.
Quyết định số 1655/QĐ-UBND ngày 10/05/2016 phê duyệt tạm thời danh mục định mức và mức hỗ trợ học nghề cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 06/2018/QĐ-UBND ngày 12/06/2018 quy định về tổ chức đào tạo và sát hạch cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho người khuyết tật tại tỉnh Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật trong việc tham gia giao thông và nâng cao khả năng tự lập.
Quyết định số 3074/QĐ-UBND ngày 31/08/2016 quy định về mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học
2016-2017 đến năm học 2020-2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam;
Quyết định số 3978/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 quy định chính sách hỗ trợ cho trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật tại các cơ sở giáo dục tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2019-2021.
Dựa trên kế hoạch hỗ trợ người khuyết tật và chỉ đạo của UBND tỉnh, các sở, ban ngành và hội liên quan đã xây dựng kế hoạch hàng năm và ban hành công văn hướng dẫn để tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công văn số 1498/HDLS-LDTNXH-TC-YT ngày 18/11/2013 của Liên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính và Y tế cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy trình cấp Giấy xác nhận khuyết tật và các chính sách bảo trợ xã hội dành cho người khuyết tật.
Công văn số 22/LĐTBXH-TC ngày 07/01/2015 của Liên Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và Tài chính quy định về việc thực hiện chế độ trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội, căn cứ theo nghị định số 136/2013/NĐ-CP và nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
Công văn số 2528/STC-NS ngày 19/10/2015 của Sở Tài chính về triển khai thực hiện chính sách giáo dục đối với người khuyết tật năm 2015;…
UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch 7704/KH-UBND ngày 29 tháng
12 năm 2020 về trợ giúp người khuyết tật tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021 -
Mục tiêu của kế hoạch là thúc đẩy thực thi các chính sách của Nhà nước nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật (NKT), tạo điều kiện cho họ tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội Đồng thời, kế hoạch cũng hướng đến việc xây dựng môi trường không rào cản, đảm bảo quyền lợi hợp pháp và hỗ trợ NKT phát huy khả năng của mình.
Tại tỉnh Quảng Nam, công tác triển khai chính sách bảo trợ xã hội (BTXH) cho người khuyết tật (NKT) được thực hiện hiệu quả Các chương trình và kế hoạch được xây dựng phù hợp với các văn bản, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, đồng thời lồng ghép các hành động phù hợp với đặc điểm thực tế của địa phương.
2.2.2 Công tác p hổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách BTXH đối với NKT
Mỗi Sở, Ban, ngành được giao nhiệm vụ cụ thể nhằm hỗ trợ người khuyết tật (NKT) trong các lĩnh vực khác nhau Sở Lao động Thương binh và Xã hội phụ trách các chính sách bảo trợ xã hội, trong khi Sở Y tế đảm bảo kiểm soát chăm sóc y tế và phục hồi chức năng Sở Giáo dục thực hiện chính sách giáo dục cho trẻ em khuyết tật, còn Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và vui chơi Cuối cùng, Sở Giao thông Vận tải chịu trách nhiệm xây dựng các công trình giao thông công cộng phù hợp với NKT.
Công tác tuyên truyền đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật UBND tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo các ngành liên quan cùng với UBND các huyện, xã thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả.
47 thị trấn phối hợp thực hiện tuyên truyền phổ biến về chính sách BTXH đối với NKTở các địa phương
Hằng năm, Sở LĐTB&XH tổ chức tập huấn các chính sách mới đối với
Trong ba năm qua, NKT đã tổ chức 08 đợt tập huấn cho cán bộ đại diện các Sở, ngành, hội, đoàn thể và cơ sở trợ giúp xã hội cấp tỉnh, cùng với 12 lớp tập huấn dành cho cán bộ phòng, ban hội, cơ sở trợ giúp xã hội cấp huyện, xã và gia đình NKT Đồng thời, NKT cũng đã phối hợp với đài phát thanh truyền hình để tuyên truyền và phổ biến chính sách hỗ trợ của các cấp đối với NKT.
Các cấp, ngành và tổ chức xã hội đã đạt được kết quả tương đối trong việc tuyên truyền chính sách bảo trợ xã hội cho người khuyết tật, nhận được sự đồng tình từ cộng đồng Tuy nhiên, công tác tuyên truyền tại các khu dân cư vẫn chưa được tổ chức thường xuyên, và việc soạn thảo đề cương tuyên truyền về các văn bản luật cũng như chính sách liên quan đến người khuyết tật chưa thực sự khoa học và chưa phù hợp với thực tế địa phương.
Việc triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách đã tạo sự đồng thuận mạnh mẽ từ chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh đến xã Điều này không chỉ đáp ứng nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân mà còn góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách.