Trong giai đoạn 2001-2010, quan hệ kinh tế hai nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo bước đột phá so với giai đoạn trước trên tất cả các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NIÊN KHÓA 2012 - 2016 QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN
(2001 – 2010)
TRẦN THỊ NGỌC MỸ CHI
BÌNH DƯƠNG, 05/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Trang 2KHOA SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NIÊN KHÓA 2012 - 2016 QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN
(2001 – 2010)
Chuyên ngành : SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Giảng viên hướng dẫn : TH.S BÙI ANH THƯ
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ NGỌC MỸ CHI MSSV : 1220820007
Lớp : D12LS01
BÌNH DƯƠNG, 05/2016 LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Th.s Bùi Anh Thư Các số liệu và trích dẫn trong khóa luận là trung thực Mọi ý kiến và tham khảo khác không phải của người viết đều được chú thích và ghi rõ trong danh mục Tài liệu kham khảo của khóa luận
Sinh viên
Trần Thị Ngọc Mỹ Chi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân còn
có sự giúp đỡ của các thầy cô trong và ngoài nhà trường Sau đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
ThS Bùi Anh Thư đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm
đề tài
Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo, Ban lãnh đạo khoa và quý thầy cô trong khoaLịch sử trường Đại học Thủ Dầu Một đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn quý Thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một, Thư viện tỉnh Bình Dương, Thư viện Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cung cấp những tư liệu quý báu, bổ ích giúp em hoàn thành tốt khóa luận này
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ, động viên tinh thần của gia đình, bạn bè trong thời gian em học tập và hoàn thành khóa luận
Tuy cố gắng, nhưng do thời gian hạn chế và còn ít kinh nghiệm nên vấn đề em trình bày trong khóa luận chắc chắn khó tránh khỏi sai sót, do đó em rất mong nhận được những góp ý chân thành của quý Thầy Cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn! Bình Dương, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Ngọc Mỹ Chi
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Bình Dương, Ngày 04 tháng 05 năm 2016
GVHD (Ký tên)
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Bình Dương, Ngày 04 tháng 05 năm 2016
GVHD (Ký tên)
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA
1.1 Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam – Thái Lan 15 1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 15 1.1.2 Mối quan hệ về văn hóa – xã hội giữa hai quốc gia trong lịch sử 17 1.2 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Thái Lan 19 1.2.1 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ buổi đầu cho đến năm 1975 19 1.2.2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1976 cho đến nay 25
Trang 82
2.2.2.2 Công nghiệp chế biến 54 2.2.2.3 Giao thông vận tải 55 2.3 Đánh giá chung về quan hệ kinh tế Việt Nam và Thái Lan (2001 –
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACMECS Ayeyawwady –Chao Phraya – Mekong
Economi Cooperation Strategy
Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawwady –Chao Phraya – Mê Kông
AEC ASEAN Economic Community
Cộng đồngkinh tế ASEAN
AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực thương mại tự do ASEAN
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEM The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn Hợp tác Á – Âu
IMF International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ Quốc tế
EU European Union
Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA Official Development Assistant
Viện phát triển chính thức
WB World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 104
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1: Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan từ 2000 – 2009
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tăng trưởng tổng kim ngạch Việt Nam và Thái Lan từ 2000 – 2009 Biểu đồ 3: Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan từ 1990 – 2000
Biểu đồ 4: Dự án đầu tư Thái Lan tại Việt Nam từ 2006 – 2009
Biểu đồ 5 : Gía trị đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tính đến năm 2010
Biểu đồ 6 : Lượng du khách đến Thái Lan và Việt Nam từ 1997 – 2010
Biểu đồ7: Lượng du khách đến Thái Lan và Việt Nam từ 1997 – 2010
Biểu đồ8: Mức độ biến động lượng khách đến Việt Nam từ 1997 tới 2010
Phụ lục 1: Các mặt hàng Thái Lan xuất khẩu sang thị trường Việt Nam (2003 – 2008)
Phụ lục 2: 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu Thái Lan xuất khẩu sang Việt Nam (2003 – 2008)
Phụ lục 3: Các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan (2003 – 2008)
Phụ lục 4: 10 loại hàng hóa quan trọng nhất xuất khẩu Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan (2003 – 2008)
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử phát triển lâu đời Trong quá trình phát triển, khu vực này đã có những đóng góp quan trọng vào những thành tựu của nền văn minh nhân loại Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là những nước có sự tương đồng cao trên nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội, cũng như trình độ phát triển kinh tế Với
vị trí địa chiến lược trên bản đồ thế giới, khu vực này thường xuyên chịu sự chi phối từ
các nhân tố bên ngoài, đặc biệt là “nhân tố nước lớn” Hầu hết các quốc gia trong khu
vực đều có những “thương tổn” về mặt chủ quyền, lãnh thổ trong lịch sử Chính vì vậy, nhu cầu hợp tác, liên kết là một vấn đề mang tính truyền thống, tiếp tục được chú trọng trong hiện tại và tương lai tại Đông Nam Á
Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hòa bình, hợp tác cùng phát triển đã trở thành một xu thế tất yếu của thế giới Các quốc gia liên kết với nhau tạo thành một hệ thống thế giới thống nhất từ Đông sang Tây Là hai quốc gia cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan và Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động từ xu thế toàn cầu hóa Vì thế hai nước ngày càng chủ động, tích cực hơn trong việc triển khai chính sách ngoại giao, đặc biệt là tăng cường quan hệ láng giềng với các nước xung quanh Hiện nay, Thái Lan áp dụng chính sách “làm thịnh vượng láng giềng” nhằm hợp tác với các nước láng giềng cùng phát triển, bảo đảm an ninh và hòa bình trong khu vực thông qua các dự án phát triển hành lang kinh tế Đông
- Tây, Tiểu vùng MêKông mở rộng ”[42] Còn với Việt Nam, từ sau Đại hội VI (1986), Đảng và Nhà nước ta ngày càng khẳng định xu thế hợp tác, hội nhập toàn diện với thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN, trong đó lĩnh vực tiên phong
và thu được những thành tựu rõ rệt nhất chính là kinh tế
Trong thời gian qua, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Thái Lan không ngừng được củng cố và phát triển, kể cả trong thời gian hai nước chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Thực tế cho thấy rằng trong những năm gần đây, Thái Lan luôn là một trong 10 nước và vùng lãnh thổ dẫn đầu về đầu tư nước ngoài tại
Trang 126
Việt Nam, với khoảng 250 dự án còn hiệu lực có tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 5,5
tỷ USD [10] Thái Lan là nước lớn đứng thứ ba về đầu tư ở Việt Nam, sau Singapore, Malaysia trong ASEAN [10] Vì vậy, đây chính là cơ sở và là nền tảng quan trọng để tăng cường và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ toàn diện giữa hai nước, hướng tới tương lai tươi sáng cho mỗi dân tộc và lợi ích của cả khu vực
Trong giai đoạn 2001-2010, quan hệ kinh tế hai nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo bước đột phá so với giai đoạn trước trên tất cả các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp, du lịch… Trong giai đoạn này, chịu sự tác động từ khủng hoảng chính trị ở Thái Lan (2006) và khủng hoảng kinh tế toàn cầu (từ năm 2008), quan hệ kinh tế hai nước chịu những ảnh hưởng nhất định, song vẫn đảm bảo xu thế phát triển liên tục, đặc biệt là để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu để giải quyết các vấn đề trong hiện tại và tương lai
Ngày nay, cùng với quá trình hội nhập sâu rộng toàn cầu, nhất là khi AEC (Cộng đồng Kinh tế Asean) chính thức thành lập (31/12/2015), nền kinh tế của Việt Nam và Thái Lan, cũng như quan hệ kinh tế hai nước đứng trước nhiều cơ hội, thách thức để phát triển Đối với Việt Nam thì những hạn chế về cơ sở hạ tầng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, những rào cản về ý thức hệ… sẽ luôn là những vấn đề khó khăn trong các quan hệ đa phương, song phương Vấn đề đặt ra hiện nay là: Làm thế nào để thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan, cả chiều rộng lẫn chiều sâu, theo hướng phát triển bền vững? Làm thế nào để Việt Nam tích cực, chủ động hơn trong hợp tác với Thái Lan? Làm thế nào để Việt Nam giành được nhiều lợi ích hơn từ kế hoạch phát triển, mở rộng ảnh hưởng của Thái Lan? Đây là những câu hỏi không dễ trả lời Với mong muốn đúc rút những kinh nghiệm và góp phần nhận
thức về vấn đề quan hệ kinh tế hai nước, tác giả đã chọn vấn đề “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan (2001 – 2010)” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của
mình
Trang 132 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan (2001-2010)” đã có
một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước, tiêu biểu như:
· Tìm hiểu về lịch sử, chính trị - văn hóa – kinh tế, chính sách ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan phải kể đến các tác phẩm tiêu biểu:
1 Cuốn sách “Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Thái Lan” của tác giả Phan Thanh Tịnh
(2014), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Đã cho cái nhìn về lịch sử, văn hóa Thái Lan một cách khái quát và toàn diện Khi nhắc đến Thái Lan người ta thường nhớ tới đất nước được mệnh danh là xứ sở “Chùa vàng” và “Xứ sở của những nụ cười thân thiện” ở Đông Nam Á đây được coi là một nét văn hóa đặc sắc của quốc gia này Trong phần thứ tư tác giả nhấn mạnh đến vai trò của Thái Lan trong sự phát triển của Asean và mối quan hệ hợp tác song phương với các nước trong khối Asean đặc biệt trong quan hệ hợp tác song phương với Việt Nam trong Asean
2 Cuốn sách “Thái Lan: Một số nét chính về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử” của tác giả Nguyễn Khắc Viện (1988), Nxb Thông tin lí
luận, Hà Nội Trong cuốn sách này tác giả tập trung nghiên cứu về những biến đổi trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của Thái Lan qua từng năm và vị trí của Thái Lan trong chiến lược của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế đối với Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung, tác giả trình bày rất kỹ càng về những diễn biến chính trị sâu sắc của Thái Lan những năm 70 của thế kỷ XX nhưng lại giới hạn chỉ đến năm 1986 là kết thúc
3 Cuốn sách “Thái Lan những chiến lược đổi mới đầy khả năng cạnh tranh” của
tác giả Silvio L Emery, Wyn Ellis, Montri Chulavatnatol, Kiến Văn, Cảnh Dương (lược dịch) (2009), Nxb Thời Đại Đây là cuốn sách tập hợp bài viết của nhiều nhà kinh tế nổi tiếng của Thái Lan và trên thế giới nhằm nghiên cứu và phân tích những chiến lược đổi mới mang tính cạnh tranh của Thái Lan sau khi thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 và đưa Thái Lan lên một tầm cao mới
Trang 148
để bây giờ có thương hiệu riêng cho mình “made in Thailan” ngang tầm thế giới
4 Cuốn sách “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 – 2010” củaGS Vũ
Dương Ninh (2014), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích có hệ thống về lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam từ năm 1940 – 2010 trải qua các giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, bối cảnh quốc tế
và trong nước dẫn đến các sự kiện, diễn tiến trong quá trình lịch sử quan hệ đối ngoại của Việt Nam
5 Cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000” của tác giả Nguyễn Đình Bin
(cb) (2015), Nxb Chính trị Quốc gia Tác giả đã trình bày khái quát về chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1945 – 2000, trong đó đề cập đến vấn đề Campuchia, việc điều chỉnh các quan hệ Việt – Trung, quan hệ Việt – Mỹ, việc Việt Nam hội nhập khu vực và chính sách cải cách kinh tế (đổi mới ) cung cấp
sự hiểu biết về những yếu tố đưa đến việc Việt Nam điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước trong khu vực Đông Nam Á hiện nay
· Tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan có các công trình:
6 Cuốn sách “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90” của tác giả
Nguyễn Tương Lai (2001), Nxb Khoa học xã hội Trong cuốn sách này tác giả
đã là tập trung phân tích, đánh giá đưa ra một số vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của Việt Nam và Thái Lan trong thập niên đầu thế kỉ XXI và nhấn mạnh quan
hệ kinh tế trong đó có thương mại và đầu tư Đưa ra những thành tựu đạt được trong năm 90 của thế kỷ XX, từ đó cho thấy được tiềm năng kinh tế giữa hai nước và lợi ích kinh tế giữa hai nước trong khu vực Đông Nam Á Qua đó rút ra được những đánh giá trong mối quan hệ kinh tế này và dự báo xu hướng phát triển chủ yếu và những nhân tố tác động trong 10 năm tiếp theo từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường khả năng hợp tác của Việt Nam và Thái Lan cho cái nhìn tổng quát về mối quan hệ này nhưng đề tài vẫn còn giới hạn ở thời gian là năm 1999
7 Cuốn sách “ Triển vọng quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam – Thái Lan” củaBộ công thương trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại
Trang 15(2014), Nxb Công Thương Nội dung cuốn sách tập trung nói về lĩnh vực kinh
tế đầu tư và thương mại trong đó nhấn mạnh quan hệ song phương giữa Việt Nam – Thái Lan và triển vọng của mối quan hệ này trong tương lai, đưa ra các chính sách và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại, đầu tư song phương giữa Việt Nam – Thái Lan trong những năm tiếp theo (2020) Đưa ra các số liệu thống kê qua từng năm từ năm 2001 đến 2014 Qua
đó có thể thấy được mức độ tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua tăng lên rõ rệt Định hướng cho kinh tế thương mại và đầu tư Việt Nam phát triển hơn
8 Cuốn sách “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1976 – 2000” của tác giả
Hoàng Khắc Nam (cb) (2007), Nxb Đại học Quốc gia TP HCM Đã cung cấp nhiều thông tin cơ bản về tình hình quan hệ của Việt Nam – Thái Lan từ năm
1976 đến 2000 trên tất cả các mối quan hệ trong đó mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự hợp tác cũng như ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan từ quá khứ tới hiện tại qua những thăng trầm của lịch sử để đạt được mối quan hệ tốt đẹp, hữu nghị như hiện nay Đây là một công trình phản ánh khá sâu sắc những quan điểm của học giả Việt Nam về quan hệ Việt Nam – Thái Lan Cuốn sách cũng
đã phân tích rõ bối cảnh thế giới và khu vực đã tác động như thế nào đến sự hợp tác kinh tế giữa hai nước trong thời gian từ năm 1975 – 2000 cho cái nhìn toàn diện hơn về quan hệ kinh tế trong thời kỳ này
9 Cuốn sách “Việt Nam – ASEAN: Quan hệ song phương và đa phương” (sách tham khảo) của tác giả Vũ Dương Ninh (cb) (2004), Nxb Chính trị Quốc gia
Đây là cuốn sách cho cái nhìn khái quát về quan hệ Việt Nam với các nước Asean của nhiều tác giả, trong đó có một phần viết về quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1995 đến 2002 (của tác giả Hoàng Khắc Nam) trong phần này tác giả đã phân tích và rút những thành công cũng như hạn chế mà hai nước trãi qua, từ đó đưa ra giải pháp để cùng khắc phục đưa kim ngạch thương mại và đầu tư ngày càng nâng cao lên nữa Khi bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra sâu rộng, tác động sâu sắc tới từng quốc gia
Trang 1610
Nhìn chung, các công trình đã đề cập đến mặt này hay mặt khác của vấn đề Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn 2001 – 2010
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Mục tiêu của đề tài khóa luận là phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan giai đoạn 2001 – 2010 và ảnh hưởng của bối cảnh thế giới tới mối quan hệ quốc tế của hai quốc gia nhằm đưa ra những giải pháp, định hướng cho việc nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong tương lai
Mục tiêu cụ thể:
Đề tài nghiên cứu cơ sở, thực trạng và kết quả của quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan từ năm 2001 – 2010 Từ đó, tác giả cũng mạnh dạn rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp để thúc đẩy quan hệ hai nước trong hiện tại và tương lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở và quá trình phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong lịch sử
Thứ hai, làm rõ tình hình quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan giai đoạn
2001-2010, từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề đặt ra cho quan
hệ kinh tế hai nước trong giai đoạn này
Thứ ba, rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp cho quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong hiện tại và tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài của khóa luận đã xác định, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Thái Lan từ 2001 đến 2010 trên tất cả các phương diện Để làm rõ những vấn đề lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia này, tất nhiên không thể tách rời việc nghiên cứu bối cảnh thế giới và khu vực đã tác động tới mối quan hệ
Trang 17qua các giai đoạn lịch sử và tôi xem nó là một trong những nhân tố rất quan trọng tác động đến mối quan hệ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tên đề tài “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan (2001 – 2010)” đã thể hiện giới
hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận
- Về phạm vi thời gian:
Khóa luận tập trung nghiên cứu “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan” từ năm
2001 đến năm 2010 Trong phạm vi một khóa luận, tác giả chỉ chọn 10 năm đầu của thế kỷ XXI – khoảng thời gian mà quan hệ hai nước chịu sự chi phối lớn từ các nhân tố bên ngoài và các yếu tố nội tại của hai nước để tập trung nghiên cứu, luận giải những thuận nghịch trong quan hệ kinh tế giữa hai nước Đây cũng là nền tảng để lý giải các vấn đề trong quan hệ kinh tế hai nước trong giai đoạn tiếp theo
Tác giả chọn mốc mở đầu là năm 2001 vì: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã thông qua Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quan hệ ngoại giaovới các nước trong khu vực và thế giới đặc biệt là quan hệ với các nước láng giềng (Thái Lan) nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác lâu dài của hai quốc gia
Tác giả chọn mốc năm 2010 để khép lại thời gian nghiên cứu đề tài vì: Năm
2010 được xem là năm thành công nhất trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, đóng góp to lớn vào việc phát triển kinh tế – xã hội đất nước và là chủ tịch ASEAN tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 17 tại Việt Nam Mở ra sự hợp tác sâu rộng giữa các nước trong khu vực
- Về phạm vi không gian:
Đề tài được đặt trong bối cảnh hai nước Việt Nam – Thái Lan trong đó kinh tế là lĩnh vực trọng tâm của quan hệ này Đồng thời, để đảm bảo tính khoa học của kết quả nghiên cứu, tác giả đặt quan hệ kinh tế hai nước trong bối cảnh khu vực và toàn cầu
Trang 185.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng chủ yếu 2 phương pháp của chuyên ngành lịch sử: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic.Với phương pháp lịch sử tác giả đã trình bày tình hình
“Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan (2001 – 2010) ” theo trình tự thời gian và không gian cụ thể
Phương pháp lịch sử trước hết thể hiện ở việc khóa luận được bố cục theo cấu trúc trình tự thời gian (phương pháp lịch đại): Từ việc khái quát Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trước năm 2001 đến quan hệ Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan (2001 – 2010) Bên cạnh đó, phương pháp lịch sử còn thể hiện ở việc khóa luận luôn phân tích các vấn đề trong bối cảnh không gian cụ thể: chủ yếu là ở lĩnh vực kinh tế
Phương pháp logic được thể hiện ở việc khóa luận luôn đặt vấn đề “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan (2001 – 2010) ” trong các mối quan hệ phức tạp của các
sự kiện, hiện tượng diễn ra trên thế giới giúp ta nhận biết được đâu là nguyên nhân, hệ quả và kết nối các sự kiện theo trình tự logic nhất định
Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo thêm một số phương pháp phân tích trong quan hệ quốc tế trong vấn đề sức mạnh kinh tế và thứ bậc của các quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế Qua đó định vị rõ vị trí của Việt Nam và Thái Lan trong khu vực
và trên thế giới
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đánh giá và đưa ra những nhận định của bản thân trên cơ sở những luận điểm
Trang 19đó và tất cả các phương pháp trên đều nhằm mục đích nghiên cứu nghiên cứu đề tài một cách khoa học hơn, có hệ thống và mang tính toàn diện hơn
tế, thúc đẩy sự hợp tác kinh tế trên mọi phương diện trong hiện tại và tương lai
Thứ ba: Kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và một số chuyên đề như Một số vấn đề trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, chuyên đề Lịch sử Đông Nam Á…
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN (2001 – 2010)
Đây là chương chính trong khóa luận, tập trung nghiên cứu các tác nhân quốc tế
có ảnh hưởng như thế nào tới bối cảnh hai nước Việt Nam và Thái Lan khi bước vào thế kỉ XXI và tiến trình hợp tác kinh tế của hai nước trong giai đoạn 2001 – 2010 Từ
đó đánh giá được những thành công cũng như hạn chế trong vấn đề quan hệ kinh tế
Trang 2014
giữa hai bên trong quá trình hợp tác kinh tế Ngoài ra khóa luận còn đưa ra những nguyên nhân khiến cho quan hệ kinh tế giữa hai nước trong giai đoạn này vì sao lại thành công và vì sao lại thất bại Nhằm đưa ra những nhận định chung cho về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn mới
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM – THÁI LAN TRONG TƯƠNG LAI
Trên cơ sở phân tích quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan ở Chương 1 và Chương 2, trong chương 3 tác giả rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiểu quả quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan trong tương lai
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN TRONG LỊCH SỬ
1.1 Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam – Thái Lan
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Thái Lan và Việt Nam là hai quốc gia cùng nằm trên bán đảo Trung - Ấn và cùng thuộc Đông Nam Á lục địa Khoảng cách giữa hai nước là khá gần gũi, không có cách trở lớn về mặt địa lý Hơn nữa, đường giao thông tự nhiên giữa hai nước, như sông MêKông và đường biển ven bờ, cũng tương đối thuận lợi Đó là một trong những điều kiện cần thiết để mối quan hệ này được hình thành trong lịch sử trên quy mô nhà nước, nhân dân; cũng như trên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội Thông qua tuyến đường biển ven bờ, trao đổi buôn bán giữa hai nước đã có từ rất sớm Thuyền Xiêm đến Đại Việt buôn bán cũng theo đường biển ven bờ Cho đến khi người Việt tiến xuống lập cư ở Nam Bộ, đường biển ven bờ đã trở thành con đường giao thông chính giữa hai nước Thuyền Xiêm khi buôn bán với Trung Quốc cũng đi dọc theo ven biển của Việt Nam Thậm chí tuyến đường biển ven bờ còn được người Xiêm
sử dụng để buôn bán với Campuchia qua ngã Gia Định Ngoài ra, tuyến đường này còn được sử dụng trong các quan hệ chính trị giữa hai nước như đi sứ, chuyển quân
Xét về mặt địa lý nhân văn, Lào và Campuchia là cầu nối quan trọng của mối quan hệ Việt – Xiêm Trong lịch sử dưới thời Sukhothaya (1238 – 1438) hay dưới triều đại Taksin (1767 – 1782), người Xiêm đã ở rất gần Việt Nam khi họ đặt được sự thống trị tại Lào Trên thực tế, quan hệ giữa hai nước từ lâu đã được coi như mối quan hệ láng giềng dù không địa giới Trong các thư từ qua lại giữa vua Xiêm và chúa Nguyễn, đều có thấy xuất hiện nhiều lần sự ghi nhận về tính chất “láng giềng” hay “hàng xóm” giữa hai nước Trong một bức thư vua Xiêm gửi cho chúa Nguyễn đã từng viết rằng:
“Nước An Nam và nước Xiêm cùng ở về một dải đường biển, cùng chung một trời Hai nước tuy cách xa nhau, nhưng cũng như đồng một đất nước” [20, 22]
Yếu tố địa lý gần kề và thuận lợi không chỉ giúp quan hệ Việt Nam – Thái Lan hình thành sớm Đó còn là nguyên nhân giúp mối quan hệ này được duy trì thường
Trang 2216
xuyên, lâu dài trong lịch sử Ngoài ra, dưới cái nhìn địa chính trị, chính yếu tố này đã làm nên tính chất đặc thù và những vấn đề riêng trong quan hệ giữa hai nước như sự phát triển liên tục, lợi ích đa dạng, cũng như các vấn đề về lãnh thổ, dân cư Hiện tại, yếu tố này vẫn có những tác động trực tiếp đến quan hệ Việt Nam – Thái Lan và sẽ tiếp tục chi phối quan hệ hai nước trong tương lai
* Điều kiện tự nhiên
Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên Đây cũng là một tiền đề tạo sự thuận lợi cho việc hình thành và phát triển quan hệ hai nước trong lịch sử
Xét về mặt kiến tạo điạ lý, hai nước có những điểm tương đối giống nhau Địa hình có độ dốc thoai thoải ra phía biển, có kết cấu đa dạng gồm các vùng rừng núi, cao nguyên và đồng bằng, trong đó đồng bằng là chủ yếu Đặc biệt, khu vực đồng bằng Đông Bắc của Thái Lan và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam đều được hình thành từ quá trình bồi tụ của dòng sông MêKông Chính vì thế hợp tác kinh tế của hai nước cũng gắn liền với vấn đề hợp tác trong khai thác nguồn nước sông MêKông
Khí hậu của hai nước đều là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Một năm có hai mùa mưa và mùa khô xen nhau Sự tương đồng về địa hình và khí hậu quy định nhiều điểm giống nhau trong hệ sinh vật tự nhiên và cơ cấu cây trồng khiến cho hai nước khá giống nhau đó là cơ cấu kinh tế đa dạng gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp với vai trò chủ đạo của nền nông nghiệp lúa nước Các nghiên cứu khảo cổ học đã chỉ ra mối liên hệ
về giống lúa giữa Việt Nam và Thái Lan như nhóm giống Indica ở miền Nam Việt Nam và Thái Lan, nếp Indica ở Bắc Việt Nam và Bắc Thái Lan, Japonica và nếp Japonica ở Bắc Việt Nam và Bắc Thái Lan… [20,24]
Những nét tương đồng trên đã tác động không nhỏ tới quan hệ giữa hai nước Những điểm chung trong nhận thực, ứng xử với tự nhiên – xã hội cũng như nền văn minh lúa nước đã làm cho quan hệ Việt Nam – Thái Lan có sự gần gũi, gắn bó; quá trình giao lưu cũng thuận lợi, dễ dàng hơn và mối quan hệ cũng dễ được duy trì hơn
Trang 23Nhìn một cách tổng quát, trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan, điều kiện tự nhiên đã tạo thêm sự thuận lợi cho việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế Những liên
hệ kinh tế này có từ rất sớm và đã tồn tại xuyên suốt trong lịch sử Cho đến ngày nay, kinh tế vẫn tiếp tục là động lực quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan
1.1.2 Mối quan hệ về văn hóa – xã hội giữa hai quốc gia trong lịch sử
* Về văn hóa
Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có các cơ sở văn hóa và quá trình phát triển văn hóa tương đối giống nhau Điều này được xuất phát từ những yếu tố như điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau dễ tạo nên sự gần gũi trong nhân sinh quan và thế giới quan; nền văn hóa vật chất cũng được xây dựng trên cơ sở nông nghiệp lúa nước;
bề dày giao lưu và quá trình tiếp biến văn hóa lâu đời giữa hai nước tạo ra khả năng chuyển tải và tiếp thu các giá trị của nhau Bên cạnh, Việt Nam và Thái Lan cùng nằm trong khu vực giao lưu của văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, do đó mà cùng chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh này Từ thế kỷ XVI, khi văn minh phương Tây bắt đầu thâm nhập vào khu vực Đông Nam Á, hai nước lại cùng chịu thêm những tác động của nền văn minh này Những điều này đã làm cho nền văn hóa hai nước có những giá trị
và sắc thái tương đồng Vị trí gần kề và quá trình quan hệ lâu đời giữa nhân dân hai nước làm quá trình giao lưu và tiếp thu văn hóa của nhau diễn ra mạnh mẽ hơn
Sự gần gũi và những nét tương đồng văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan có thể thấy được ở mọi nơi, từ văn hóa vật chất tới văn hóa tinh thần, từ các yếu tố của văn hóa lúa nước tới văn hóa làng bản, từ đời sống tâm linh tới hoạt động tôn giáo Điều này hiện diện trong suốt quá trình lịch sử lẫn hiện tại Điểm lại trong quá khứ, Thái Lan và Việt Nam đã có những lần mâu thuẫn với nhau, nhưng không xuất phát từ văn hóa Giữa hai nước hầu như không tồn tại xung đột văn hóa Hơn nữa, quá trình giao lưu và tiếp nhận văn hóa giữa hai nước đều diễn ra một cách hòa bình thông qua các quá trình phát tán – hội nhập Rõ ràng, quá trình giao lưu văn hóa giữa hai nước đã diễn ra trong suốt quá trình lịch sử lẫn hiện tại chính là một cái phông nền cho sự tồn tại và phát triển của quan hệ Việt Nam – Thái Lan Nếu dùng ngôn ngữ của quan hệ quốc tế ngày nay thì những tương đồng trong cơ sở và quá trình văn hóa chính là điều
Trang 2418
kiện góp phần tạo nên sự gần gũi và sự hiểu biết lẫn nhau điều kiện cần để phát triển quan hệ, hạn chế tranh chấp Đây là một yếu tố vô cùng thuận lợi để phát triển quan hệ hai nước trong hiện tại và tương lai
*Về xã hội
Trước khi chính thức lập quốc trên phần đất Thái Lan ngày nay vào thế kỷ XIII, người Thái đã có một quá trình sinh sống lâu dài ở miền Nam Trung Quốc và phía Bắc bán đảo Trung - Ấn cùng địa vực với các dân tộc Bách Việt Một số kết quả khảo cổ đã đưa ra nhận định có thể người Thái đã di cư xuống Bắc Đông Dương từ đầu Công nguyên” [20, 28] Đây là nền tảng hình thành mối quan hệ giữa nhân dân hai nước trong lịch sử
Trong suốt chiều dài lịch sử đã có những cuộc di cư của người Thái sang đất Việt và ngược lại Khoảng từ thế kỷ VIII và nhất là trong đợt thiên di thế kỷ IX – X, người Thái đã di cư đến thượng nguồn sông Đà và hình thành những điểm tụ cư ở vùng Tây Bắc Việt Nam [21, 43] Khác với người Thái đã có quá trình di cư xuống phía Nam một cách lâu dài, có hệ thống và được bắt đầu xa xưa; người Việt di cư sang Thái mang tính lẻ tẻ và nhiều trường hợp xuất phát từ các lý do tình thế Lịch sử ghi nhận một số trường hợp như vào cuối thế kỷ XVIII, dưới thời Tây Sơn, một số binh lính theo Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm và ở lại Phong trào Văn Thân vào nửa cuối thế kỷ XIX với khẩu hiệu “Bình Tây, sát tả” đã buộc một số cố đạo người Pháp đưa các giáo dân Việt Nam di trú sang Thái Lan và định cư ở đó Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương, hàng ngàn công nhân Việt Nam được đưa sang Lào để làm đường Nhiều người trong số đó đã bỏ chạy sang Thái Lan Sau sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa (Duy Tân 1908, Xô Viết – Nghệ Tĩnh
1930 – 1931 ), nhiều người yêu nước Việt Nam đã phải chạy sang Thái Lan để tránh
sự đàn áp của thực dân Pháp Hệ quả của những biến cố lịch sử này là sự hiện diện của cộng đồng người Việt trong thành phần dân tộc Thái Lan và ngược lại
Cùng với sự phát triển không ngừng của quan hệ hai nước, số lượng người Việt Nam sinh sống và làm việc trên đất Thái Lan không ngừng tăng lên Hiện nay
Trang 25trong hơn 20 tỉnh tại Thái Lan có đông Việt kiều sinh sống, đã có 9 tỉnh được chính quyền địa phương cho phép thành lập Hội người Thái Lan gốc Việt [51] Đây là điều kiện thuận lợi để bà con Việt kiều thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, hướng về đất nước và đóng góp xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam – Thái Lan
Chính những biến cố của thời cuộc và sự biến đổi của thời đại đã làm cho quan
hệ giữa hai nước gắn bó hơn Mối quan hệ này không bó hẹp trong phạm vi giữa hai nước mà nó lan rộng ra các dân tộc khác như Lào, Lự, H’ mông, Khme, Khơ mú đều sinh sống đồng thời trên cả hai nước tạo điều kiện cho sự “xích lại gần nhau” giữa các cộng đồng dân tộc với nhau Các mối quan hệ về xã hội như trên đã đặt nền móng cho
sự phát triển vững bền của mối quan hệ giữa nhân dân hai nước trong lịch sử và tương lai Điều này đã góp phần thúc đẩy sự hình thành quan hệ cấp nhà nước giữa Việt Nam
và Thái Lan
Nhìn một cách bao quát, trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan, các cơ sở hình thành quan hệ hai nước vẫn tiếp tục phát huy tác dụng, góp phần duy trì và cũng cố quan hệ đó đứng vững trước những thăng trầm của lịch sử và cũng như những thử thách của thời đại Với vai trò và tính liên tục như vậy, các cơ sở này đã trở thành một phần trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan và góp phần duy trì tình cảm thân thiện giữa nhân dân hai nước, cũng như sự gắn kết chặt chẽ mối quan hệ này trên mọi lĩnh vực, trong đó rõ nét nhất là trong lĩnh vực kinh tế
1.2 Khái quát lịch sử quan hệ Việt Nam – Thái Lan
1.2.1 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ buổi đầu cho đến năm 1975
* Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ buổi đầu cho đến năm 1884
Như trên đã đề cập, quan hệ Việt Nam – Thái Lan đã hình thành từ rất sớm Trong đó, đóng góp ban đầu thuộc về lực lượng thương nhân người Thái “Thời điểm sớm nhất được ghi chép trong sử liệu có lẽ là năm 1149 Các thuyền buôn của ba nước Trảo Oa (Java), Lộ Lạc (tức La Hộc thuộc Thái Lan) và Xiêm la đã vào vùng biển Hải Đông (thuộc Quảng Ninh ngày nay) xin được buôn bán Vua Lý Anh Tông đã cho họ ở lại ngoài đảo Vân Đồn và cho thiết lập trang Vân Đồn [17, 317] Từ đây, Vân Đồn
Trang 26Bên cạnh những yếu tố thuận, quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn này cũng có những tồn tại những đối địch, tranh chấp Trong đó, quyết liệt nhất chính
là tranh chấp ảnh hưởng ở Campuchia, Lào và vùng đất Hà Tiên Như vậy, đến thời gian này, lợi ích khu vực trở thành yếu tố ảnh hưởng tới quan hệ Việt Nam – Xiêm thời gian này
Nhìn chung, hợp tác Việt Nam – Thái Lan thời kỳ này bắt đầu được định hình
và phát triển Mối quan hệ giữa hai nước là khá bình đẳng và chưa bao giờ tồn tại mối quan hệ phụ thuộc Thời kỳ này, quan hệ hai nước đã bắt đầu chịu sự chi phối bởi yếu
tố bên ngoài Đến thế kỷ XIX, khi làn sóng chủ nghĩa thực dân tràn khắp Đông Nam Á, quan hệ hai nước có bước ngoặt với những tính chất và đặc điểm mới
* Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1884 cho đến năm 1945
Giai đoạn thực dân Pháp xâm lược và cai trị Việt Nam (1858 – 1945) là thời kỳ quan hệ Việt Nam và Thái Lan có nhiều đặc điểm mới Việt Nam (cùng với Lào và Campuchia) lần lượt rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp Còn về phía Thái Lan, chính sách ngoại giao linh hoạt cùng với vị trí “vùng đệm” đã giúp Thái Lan giữ được nền độc lập của mình, dù chỉ mang tính tương đối
Trang 27Biến cố lịch sử vào giữa cuối thế kỷ XIX đã tác động sâu sắc đến quan hệ ngoại giao hai nước Sau Hiệp ước Patonotre (1884) ký với triều đình Nguyễn, Pháp đóng vai trò chủ thể trong quan hệ Việt – Xiêm trên phương diện nhà nước Do đó, xét về quan
hệ thực chất Việt – Xiêm thời gian này là quan hệ giữa nhân dân hai nước Xiêm đã trở thành địa bàn sinh sống và hoạt động cách mạng của những người yêu nước Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là Phan Bội Châu, Ngô Quảng, Đặng Tử Kính… Đặc biệt, tại vùng đất này, Nguyễn Ái Quốc đã gây dựng và tổ chức lực lượng cách mạng Năm
1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm trực tiếp vận động kiều bào tham gia cách mạng, lập Hội Thân ái Việt Nam Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc dưới cái tên Thầu Chín tại Xiêm đã đóng góp không nhỏ vào tình cảm và sự đùm bọc của nhiều tầng lớp người Xiêm đối với kiều bào Việt Nam Xiêm trở thành nơi cung cấp và là đầu cầu cho cách mạng Việt Nam thâm nhập về nước Trong Chiến tranh thế giới thứ II, bộ đội “Việt Nam độc lập quân” của kiều bào ta ở Thái Lan đã được thành lập (5/1945) không chỉ nhằm bảo vệ Việt kiều mà còn giúp Thái Lan chống lại phát xít Nhật
Nhìn chung, trong thời kỳ này, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã chịu thử thách rất lớn từ bên ngoài, song, chính những năm tháng khó khăn đó đã làm cho mối quan
hệ nhân dân hai nước thêm củng cố và gắn kết Sự thân thiện và tình cảm hữu nghị đã được lịch sử chứng tỏ là một dòng chảy thông suốt và vững bền Đây là cơ sở giúp duy trì và phát triển mối quan hệ Việt Nam và Thái Lan không chỉ trong thời kỳ này mà còn trong những thời kỳ tiếp theo
* Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1945 cho đến năm 1975
- Giai đoạn 1945 – 1954
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã mở ra bước ngoặt mới cho quan hệ Việt Nam và Thái Lan - nối lại thời kỳ quan hệ giữa hai quốc gia độc lập, có chủ quyền ở Đông Nam Á
Mốc quan trọng trong quan hệ hai nước thời kỳ này là vào tháng 3/1946, Pridi Banomyong (thuộc Đảng Thái Tự do) lên làm Thủ tướng Thái Lan Chính phủ Pridi Banomyong đã thi hành chính sách đối ngoại ủng hộ phong trào dân tộc ở Đông Nam
Á, đặc biệt là phong trào chống Pháp ở Đông Dương Dưới thời Chính phủ Pridi, Thái Lan đã trở thành hậu cứ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam
Trang 28Thời kỳ này, nhân dân Việt Nam đón nhận sự giúp đỡ của nhân dân Thái Lan về vật chất lẫn tinh thần Khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào các đô thị của Lào, hàng vạn kiều bào Việt Nam đã phải tản cư sang Thái Lan Họ đã được nhân dân Thái Lan giúp đỡ nhiệt tình về chỗ ở, lương thực, thuốc men, việc làm Tổng hội Việt kiều yêu nước thành lập một cơ sở để tập trung quân và huấn luyện quân sự ngay trên đất Thái
Tuy nhiên, những thuận lợi trên đã không kéo dài Thời kỳ này, Chiến tranh lạnh đã chi phối sâu sắc quan hệ quốc tế Khu vực Đông Nam Á trở thành một trong những chiến trường ác liệt nhất, đặc biệt là từ khi Mỹ can thiệp tại đây, điển hình là viện trợ về quân sự và hậu thuẫn về mặt chính trị cho Pháp tại Đông Dương Quan hệ Việt Nam – Thái Lan rẽ sang chiều hướng xấu, nhất là từ sau ngày 8/11/1947, tướng Phibun Songkram làm đảo chính, thiết lập chế độ độc tài quân sự, thi hành chính sách thân Mỹ và chống lại cách mạng Đông Dương Ngày 24/2/1950, chính quyền tướng Phibun công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại Ngay sau đó, máy bay Pháp được phép bay qua không phận Thái Lan để đánh phá Thượng Lào Quân đội Thái Lan được điều lên trên biên giới Đầu năm 1951, chính quyền Thái Lan yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấm dứt các hoạt động tuyên truyền trên đất Thái về cuộc kháng chiến chống Pháp Đến cuối năm 1951, chính quyền tướng Phibun chính thức yêu cầu Việt Nam đóng cửa cơ quan đại diện chính phủ và chấm dứt hoạt động của cơ quan thông tin tại Thái Lan Sự kiện này đã mở đầu cho thời kỳ căng thẳng trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan và kéo dài suốt cho đến năm 1976
- Giai đoạn 1954 – 1975
Trang 29Ở Việt Nam, Hiệp định Gèneve năm 1954 đã không thể nào đem lại một kết quả trọn vẹn cho phía Việt Nam Trong khi miền Bắc hòa bình, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; thì ở miền Nam, Mỹ từng bước “hất cẳng” Pháp, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới của mình Từ đây, Việt Nam – Thái Lan chính thức đứng vào hai phe trong cuộc đối đầu Đông – Tây Quan hệ hai nước chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ diễn biến chiến trường Việt Nam
Từ những lo ngại về an ninh cùng với toan tính lợi ích, Thái Lan ngày càng thể hiện chính sách đối đầu với Việt Nam thông qua bốn điểm cơ bản là: hợp tác với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mâu thuẫn với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng với Mỹ trực tiếp tham chiến chống lại Việt Nam, can thiệp chống lại phong trào cách mạng ở Lào và Campuchia Biểu hiện rõ nét, cao độ của sự đối đầu trong quan hệ hai nước là vào tháng 3/1967, một bộ phận sư đoàn “rắn hổ mang” gồm 2.300 lính Thái Lan được điều sang miền Nam Việt Nam Tháng 7/1968, số binh lính Thái Lan ở chiến trường Việt Nam lên đến 5.200 người [11, 34]
Thái độ thù địch của nhà cầm quyền Thái Lan đối với Việt Nam còn phản ánh qua việc đàn áp Việt kiều Bất bình trước hành động của chính phủ Thái Lan, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân tiến bộ Thái Lan đã nhiều lần phản đối chính sách của chính phủ Thái Lan về vấn đề người Việt Nam tản cư hồi hương Điều
đó chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề người Việt Nam tản cư và quan hệ Việt Nam – Thái Lan lúc bấy giờ [29, 212-218]
Trong thời gian này, mặc dù chính phủ Thái Lan thực hiện chính sách chống Việt Nam nhưng nhân dân yêu chuộng hòa bình ở Thái Lan đã ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam Tháng 11/1967 ông Pridi lên án Mỹ ném bom ở Hà Nội và Hải Phòng Tháng 7/1969, sinh viên trường Luật Băng Cốc biểu tình phản đối Nixon và đòi chính phủ Thái Lan rút quan khỏi Việt Nam Cùng với đó là bức thư ngỏ của 23 tri thức Thái Lan gửi Tổng thống Nixon tố cáo Mỹ gây tội ác chiến tranh Rõ ràng, những hành động thù địch của giới cầm quyền Thái Lan không làm mất đi những tình cảm tốt đẹp giữa nhân dân hai nước
Khi nhà cầm quyền Mỹ có những tuyên bố về việc rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam, Thái Lan đã có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại Xung quanh thời
Trang 30nước: Một là tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân mỗi
nước, không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất cứ hành động nào phương hại đến độc lập chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau Hai là không để lãnh thổ của mình
cho bất cứ nước ngoài sử dụng làm căn cứ xâm lược và can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nước kia và các nước khác trong khu vực Phía Thái Lan không để Mỹ sử dụng lãnh thổ Thái Lan chống lại nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước khác ở
Đông Dương Ba là thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt giữa hai nước, trao đổi
kinh tế, văn hóa trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi [20,69-70] Đây là những nguyên tắc nền tảng cho quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Thái Lan thời gian tiếp sau
Ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã đem lại một chiến thắng toàn vẹn cho phía Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đất nước Việt Nam thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển Đây không chỉ là một
Trang 31bước ngoặt mà còn là tiền đề quan trọng cho quan hệ Việt Nam – Thái Lan, cũng như quan hệ đa phương trong khu vực Đông Nam Á
1.2.2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1976 cho đến nay
* Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1976 cho đến năm 1989
Dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời kỳ này là chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Bhichai Rattacun vào ngày 6/8/1976 Kết quả của chuyến thăm lịch sử này là hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan – chấm dứt về mặt lý thuyết mấy thế kỷ căng thẳng trong quan hệ hai nước
Trong thời kỳ 1977 – 1978, quan hệ hai nước đạt một số thành tựu: Việt Nam và Thái Lan đã cùng bàn bạc thống nhất việc đặt Lãnh sự quán của mỗi bên, ký Hiệp định
về hàng không, Hiệp định thương mại, Hợp tác kinh tế - khoa học kỹ thuật, Hiệp định bưu chính viễn thông…
Bên cạnh những thành tựu bước đầu, quan hệ Việt Nam – Thái Lan giai đoạn này tiếp tục chịu sự chi phối từ nhân tố nước lớn, rõ rệt nhất là từ Trung Quốc và Mỹ Các quốc gia này đã góp phần quan trọng để làm nảy sinh và thổi phồng, xuyên tạc
“vấn đề Campuchia” từ năm 1979, nhằm đẩy Việt Nam đến bờ vực của sự sụp đổ Quan hệ Việt Nam – Thái Lan một lần nữa lại trở thành nạn nhân cho những toan tính quyền lực của các thế lực bên ngoài
Việc Việt Nam đem quân vào Campuchia đã gây quan ngại sâu sắc từ phía Thái Lan về vấn đề an ninh quốc gia Quan hệ hai nước nhanh chóng xấu đi Nhất là trong năm 1980, quân tình nguyện Việt Nam giúp chính quyền mới ở Campuchia truy quét tàn quân Khmer Đỏ ở khu vực giáp biên giới Thái Lan làm cho quan hệ giữa hai nước căng thẳng tột độ Thái Lan dùng các hoạt động chính trị, ngoại giao và kinh tế gây sức
ép với Việt Nam Qua các các tổ chức quốc tế như ASEAN, Liên Hợp Quốc… Thái Lan yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia Đồng thời, Thái Lan tuyên bố đình chỉ quan hệ thương mại với Việt Nam; chống đối Việt Nam trong các vấn đề người tị nạn, Việt kiều; trực tiếp hay gián tiếp (qua Trung Quốc) ủng hộ, giúp đỡ lực lượng Khmer Đỏ; can thiệp và gây xung đột ở Lào…
Trang 3226
Điểm đặc biệt trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan thời kỳ này đó là bên cạnh sự đối đầu căng thẳng, hai bên vẫn duy trì quan hệ hợp tác kinh tế, xúc tiến đối thoại Về phía Việt Nam, nước ta kiên trì đường lối cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, chủ động mở các chuyến thăm đến các nước ASEAN, trong đó có Thái Lan, để tìm giải pháp chính trị cho “vấn đề Campuchia” Để thể hiện rõ quyết tâm và thiện chí của mình, Việt Nam tiến hành rút quân từng bước ra khỏi Campuchia (bắt đầu từ tháng 7/1982)… Về phía Thái Lan, quan hệ với Việt Nam lúc này chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế Năm 1985, Ngoại trưởng Thái Lan đã tuyên bố: không ngăn cản, cũng không khuyến khích tư nhân Thái buôn bán với Việt Nam Trong năm này, doanh nghiệp hai nước đã thực hiện một hợp đồng buôn bán gỗ, nối lại quan hệ thương mại đã bị gián đoạn trong một thời gian dài [8, 35] Ngày 20/12/1988, chính phủ Thái Lan tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm xuất khẩu 29 mặt hàng sang Việt Nam… [20,142]
Bước sang năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới với đường lối đối ngoại được xác định là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường hợp tác hữu nghị hợp tác với Liên Xô
và các nước chủ nghĩ xã hội, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩ xã hội và bảo vệ Tổ quốc [18, 53] Cùng với những tiến triển về tình hình Campuchia, trong đó Việt Nam đã rút hết quân ra khỏi Campuchia (9/1989) và việc Chính phủ Chatichai Choonhavan lên cầm quyền với tuyên bố “Việc nhích lại gần Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu của tôi”, “Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” [11, 37] đã từng bước khắc phục trở ngại, đối đầu trong quan
hệ hai nước, mở ra thời kỳ tiếp theo trong quan hệ Việt Nam và Thái Lan - thời kỳ của hữu nghị và hợp tác
* Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ 1990 đến nay
Chiến tranh lạnh kết thúc vào cuối thế kỷ XX đã mở ra cơ hội hợp tác, phát triển trong quan hệ Việt Nam – Thái Lan
Việt Nam bước vào thập kỷ 90 với đường lối đổi mới đã được khẳng định vững chắc và đã qua kinh nghiệm thực tiễn; thiết lập được quan hệ ngoại giao và kinh tế với hơn 160 nước trên thế giới và khu vực Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là trong cơ cấu chính trị, cơ chế quản lý kinh tế theo hướng phù hợp với
Trang 33yêu cầu thực tiễn; xóa bỏ những chính sách lỗi thời của thời kỳ bao cấp, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra một diện mạo mới cho Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực bên ngoài nhất là nguồn đầu tư của tất cả các nước trên thế giới và khu vực, trong đó có Thái Lan
Với Thái Lan, những kế hoạch kinh tế, nhất là kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ VI (1986 – 1991) đã trực tiếp đưa Thái Lan trên con đường tới một nước công nghiệp mới Đòi hỏi mở rộng thị trường đầu tư ra nước ngoài của Thái Lan đã gặp gỡ với yêu cầu kinh tế mở cửa của Việt Nam
Do đó, cả về chủ quan lẫn khách quan, bước vào thập niên 90, việc củng cố, cải thiện và phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan là nhu cầu và đòi hỏi bức thiết của cả hai nước Đặc biệt là tháng 9/1991, hai nước ký kết hiệp định thành lập Uỷ ban hỗn hợp về kinh tế Việt Nam – Thái Lan Tháng 10/1991, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ hai nước, hai chính phủ Việt Nam và Thái Lan đã đưa ra những vấn đề còn tồn đọng, vướng mắc giữa hai bên để cùng thảo luận, tranh luận và tìm phương hướng tích cực giải quyết Tháng 1/1992, sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng tạm quyền Thái Lan Anand Panyarachun, hai nước nhất trí gia hạn Hiệp định thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật mà hai nước đã ký từ tháng 1/1978; đồng thời phê chuẩn Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam đã đồng ý cho Thái Lan lập Lãnh
sự quán ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho phép Ngân hàng Băng Cốc mở chi nhánh tại đây Phía Thái Lan đề nghị cho Việt Nam vay 150 triệu Bath để mua hàng hóa Thái Lan Ông Anand Panyarachun đã nói: “Ở Thái Lan chúng tôi không coi Việt Nam là đối thủ, chúng tôi muốn thấy Việt Nam thịnh vượng và sẽ hoan nghêng việc Việt Nam trở thành một cường quốc kinh tế ở Đông Nam Á” [26, 13] Vào cuối năm 1992, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định tín dụng giữa Việt Nam và Thái Lan được ký kết Khi nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng khó khăn từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998, Thái Lan vẫn cam kết hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam cũng như với các nước láng giềng khác và coi đây là một phần không thể thiếu của sự hợp tác lâu dài Ông Sanachat Thephatadin Na Giuthada Tổng Lãnh sứ quán Thái Lan tại Thành phố Hồ Chí Minh đã phát biểu về mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong thời điểm Thái Lan đang khủng hoảng như sau: “Lịch sử quan hệ hai nước chỉ thấy rằng nếu Thái
Trang 3428
Lan và Việt Nam biết dựa vào nhau thì họ sẽ có lợi như thế nào” [26,14] Điều này đã tạo bước đột phá trong quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn tiếp theo Trong năm 2013, tổng kim ngạch thương mại song phương hai nước đạt 10 tỷ USD, tính đến tháng 9-2014 đạt 7,6 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2013 Với Việt Nam, Thái Lan là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 trong ASEAN [54]
Cùng với những thành tựu kinh tế, vấn đề chính trị - xã hội cũng được hai nước quan tâm giải quyết như vấn đề biên giới lãnh thổ, vấn đề quốc tịch cho người Việt nhập cư ở Thái Lan, cải tiến và mở rộng hợp tác kinh tế - kỹ thuật nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục… Trong lĩnh vực hợp tác khoa học kỹ thuật dưới hình thức viện trợ, Thái Lan đã tập trung cho Việt Nam trong 5 ngành chính là y tế, nông nghiệp, giáo dục, công nghệ, giao thông với tổng số là 150 triệu Bath [26,14] Thái Lan còn cung cấp kinh phí để tổ chức các hội nghị hợp tác khoa học giữa hai nước, cấp học bổng đào tạo sau đại học, đào tạo cán bộ ngành kinh tế tiếp thị và kinh tế kế hoạch cho Việt Nam, cấp kinh phí cho cán bộ Việt Nam sang tham quan học tập kinh nghiệm tại Thái Lan
Mối quan hệ giữa Việt Nam – Thái Lan đã được thể hiện đầy đủ nhất bằng việc Thái Lan ủng hộ Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 Sư kiện này không chỉ đánh dấu sự thay đổi về chất của mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan mà còn báo hiệu thời kỳ phát triển hợp tác và hội nhập khu vực đã tới
Từ năm 1995 đến 1997, quan hệ Việt Nam – Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực Những hoạt động ngoại giao quan trọng giữa hai nước vẫn diễn ra liên tục hằng năm Ngoài ra, hai nước còn trao đổi nhiều đoàn thăm và làm việc
ở các cấp, các ngành thuộc trung ương và địa phương Hai nước đã lập Tổng Lãnh sự, Văn phòng thương mại, trao đổi tùy viên quân sự, các phái đoàn văn hóa, khoa học, quân sự, an ninh, Các tổ chức hữu nghị như Hội hữu nghị Thái Lan – Việt Nam, Hội hữu nghị Việt Nam – Thái Lan cũng đã thành lập ở mỗi nước
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan cuối thập kỷ 90 còn được mở rộng tới quan hệ giữa Đảng Cộng sản với Đảng Dân chủ cầm quyền ở Thái Lan Đồng thời quan hệ giữa Quốc hội hai nước, giữa các nhà lãnh đạo cấp cao về an ninh quốc phòng cũng đã được xác lập Một điều đáng lưu ý là vào thời gian sắp bước sang thiên niên kỷ mới, Thái
Trang 35Lan có động thái hết sức tốt đẹp Đó là việc tuyên bố quyết định xóa bỏ các đạo luật chống cộng sản trong hiếp pháp mới của mình Động thái này chứng tỏ Thái Lan hoàn toàn thừa nhận thiện chí của Việt Nam trong mối quan hệ với Thái Lan, khép lại quá khứ để bước vào thiên niên kỷ mới với quan hệ hợp tác mở rộng, sâu sắc và toàn diện giữa hai nước
Hiện nay, quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực Đặc biệt, năm 2013, Việt Nam và Thái Lan đã chính thức nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược Thái Lan là quốc gia đầu tiên trong ASEAN mà Việt Nam đặt cấp quan hệ đối tác chiến lược Trên vấn đề Biển Đông, Thái Lan ủng hộ quan điểm chung của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam về giải quyết hòa bình tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế; duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông; thực hiện nghiêm túc Tuyên bố 6 điểm của ASEAN và DOC, sớm xây dựng COC… Hay sau cuộc đảo chính của Thái Lan năm 2013, Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới khẳng định mối quan hệ hai nước không thay đổi mặc dù chính quyền quân sự cầm quyền ở Thái Lan Đây là tín hiệu đáng mừng, góp phần thắt chặt tình cảm hai nước láng giềng
Quan hệ tốt đẹp giữa hai nước là nền tảng quan trọng, góp phần xây dựng cộng đồng ASEAN với khẩu hiệu “Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng”; đồng thời, góp phần giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong khu vực và thế giới ngoài vấn đề Biể Đông còn có nhiều thách thức từ các vấn đề an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, khủng bố, biến đổi khí hậu và nhất là vấn đề khai thác hiệu quả và bền vững nguồn nước sông MêKông sẽ là những thách thức cho quan hệ hai nước trong hiện tại
và tương lai
Như vậy, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 1990 đến nay đã có sự phát triển tương đối toàn diện và vững chắc Đây chính là một cơ sở cho sự tiếp tục phát triển quan hệ này trong tương lai vì nó vừa phù hợp với các xu thế phát triển của thế giới, vừa đóng góp cho mối quan hệ hợp tác khu vực, vừa đáp ứng đúng lợi ích cơ bản
và lâu dài của hai nước
Trang 3630
***
Có thể thấy rằng quan hệ Việt Nam – Thái Lan đã hình thành từ rất sớm Dưới tác động của tình hình thế giới, khu vực và nội bộ của hai nước, quan hệ này có nhiều biến chuyển, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, phức tạp nhưng ngày càng được cải thiện, mở rộng và phát triển Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan ngày càng được tăng cường khi hòa bình, ổn định, hợp tác đang là xu thế nổi trội trên thế giới Hiện nay, hai nước tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác nhằm mục đích ổn định và phát triển bền vững để cùng góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN phát triển ổn định, vững mạnh ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong khu vực và trên thế giới Chính vì thế, việc phục dựng lại lịch sử quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ khởi nguồn cho đến hiện nay cho thấy một cái nhìn tổng quan về quan hệ hai nước Qua đó tạo nền tảng để đi sâu vào tìm hiểu quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn 2001-1010
Trang 37CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – THÁI LAN
(2001 – 2010) 2.1 Các nhân tố tác động đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan giai đoạn 2001 – 2010
2.1.1 Nhân tố quốc tế
Bối cảnh quốc tế tính đến năm 2010 có nhiều diễn biến phức tạp, với những thay đổi sâu rộng, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan nói riêng Những điểm nổi bật của tình hình thế giới trong giai đoạn này gồm những yếu tố sau:
Thứ nhất: Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế được đẩy mạnh và là xu hướng chủ đạo trong sự vận động của kinh tế thế giới Tự do hóa thương mại, đầu tư tài chính tiếp tục được đẩy mạnh ở cả cấp độ song phương lẫn đa phương, ở quy mô khu vực và toàn cầu Việc kí kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt các FTA song phương được đẩy mạnh Các trung tâm kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc… tiếp tục là những động lực chính thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu Trong đó, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã trở thành trung tâm của các liên kết kinh tế quốc tế Là hai quốc gia nằm trong khu vực phát triển kinh tế năng động toàn cầu, Việt Nam và Thái Lan đã nhận được nhiều cơ hội để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế trong nước, đặc biệt là về vấn đề nguồn vốn, thị trường, khoa học – công nghệ, cách thức quản lý tiên tiến… Đây là nền tảng quan trọng để tăng cường phát triển quan hệ kinh tế giữa hai nước, giúp khắc phục những khó khăn về ý thức hệ cũng như khoảng cách phát triển
Bên cạnh những điểm thuận lợi, quá trình toàn cầu hóa cũng kéo theo mặt trái của nó Sự gắn kết giữa các nền kinh tế càng mạnh thì sự tương tác hay phản ứng dây chuyền càng lan nhanh và rộng Một sự thay đổi nhỏ trên các nền kinh tế chủ đạo của thế giới như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc… có thể nhanh chóng gây ra sự xáo trộn mạnh
mẽ đối với kinh tế thế giới Tiêu biểu như cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ nước Mỹ vào cuối năm 2007 Chỉ trong một ngày sau sự kiện Lehman Brothers – tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ bị phá sản, chỉ số FTSE100 của Anh mất 1,5%, CAC-40 của Pháp mất 1,4%, chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản giảm
Trang 3832
gần 5%, chỉ số Hang Seng của Hong Kong giảm 5,4%, chỉ số chứng khoán của Hàn Quốc mất 6,1%, Đài Loan mất 4,9% và Thượng Hải mất 4,6% Tính thanh khoản trên thị trường tài chính sụt giảm mạnh mẽ, lãi suất Libor trong tháng 10/2008 tăng tới 30% cho thời hạn 1 tháng và 3 tháng, 16% và 12% cho thời hạn 6 tháng và 12 tháng [33]
Tự do hóa thị trường là cơ sở cơ bản của toàn cầu hóa đã tỏ ra là một cơ chế không đủ mạnh để có thể duy trì sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế Lúc này, sự can thiệp của chính phủ các nước là cần thiết Những điều này cũng gây tác động trực tiếp đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Thái Lan Đứng trước những thay đổi của xu hướng toàn cầu hóa buộc hai chính phủ Việt Nam và Thái Lan phải có những chính sách phù hợp
để cùng hòa nhập và đối phó với những biến đổi của toàn cầu Sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu có tính lây lan và lan rộng khắp đe dọa trực tiếp tới kinh tế của các nước và Việt Nam và Thái Lan cũng không nằm khỏi vùng ảnh hưởng đó
Thứ hai: Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển hết sức mạnh mẽ làm thay đổi kết cấu kinh tế thế giới Các ngành công nghệ mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, được dự báo sẽ phát triển rực rỡ trong tương lai Khoa học – công nghệ
là nhân tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế Vì thế, ưu tiên hàng đầu trong chính sách của các quốc gia là xây dựng và phát triển kinh tế tri thức, nhất là đối với các
nước công nghiệp phát triển Khoa học – công nghệ là nhân tố quyết định sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia Làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trên quy mô toàn cầu và làm cho chu trình kinh doanh diễn ra nhanh hơn Tận dụng ưu thế là những nước đi sau, Việt Nam và Thái Lan tận dụng khoa học – công nghệ để thúc đẩy nền kinh tế tri thức của đất nước, vừa giúp hai nước thu hẹp, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển; vừa giúp Việt Nam giảm khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển trong quan hệ kinh tế với Thái Lan
Thứ ba: Trọng tâm phát triển của nền kinh tế thế giới đang và sẽ tiếp tục chuyển dịch sang phía Đông Trong thập niên thứ nhất của thế kỉ XXI, nền kinh tế thế giới thể hiện sự chuyển hướng của các hoạt động sản xuất và thương mại sang các nước công nghiệp mới nổi thay vì chỉ tập trung ở các nền kinh tế phương Tây Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 với các tác động kéo dài đến tận năm 2012 đã minh chứng cho sự thay đổi mô hình cung, cầu của thế giới Nếu như thế kỉ XVIII và
Trang 39XIX, quyền lực kinh tế và tăng trưởng kinh tế thuộc về các nước phương Tây thì trong thế kỉ XX đã tập trung nhiều hơn vào các nước Đông Á và kể từ những năm đầu thế kỉ XXI đến nay, tăng trưởng và sức mạnh kinh tế thế giới đang chuyển nhanh sang các nền kinh tế lớn mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ Chính vì thế, mà tạo ra những cơ hội lẫn thách thức cho Việt Nam và cả Thái Lan khi gia nhập nền kinh tế thị trường có nhiều biến động mà cần phải có những chiến lược thật thận trọng Trong đó, Việt Nam một nước còn non yếu trong vấn đề thị trường thì Thái Lan đã có một kinh tế vững chắc (nước công nghiệp phát triển) Tạo ra mức cạnh tranh giữa hai bên sẽ chênh lệch rất nhiều Cần phải có chính sách để phát triển hai bên cho cân bằng và tương xứng với tiềm năng kinh tế giữa hai nước Đây sẽ là bài toán khó cho Việt Nam khi cạnh tranh với Thái Lan
Thứ tư: Chính trị thế giới chuyển sang thế đa cực Sự chuyển hướng quyền lực kinh tế sang phía Đông sẽ dần đến việc các nền kinh tế lớn mới nổi trên thế giới ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống chính trị thế giới, thế hiện vai trò của các nước này trong các định chế quốc tế, mức độ ảnh hưởng về kinh tế, văn hóa và cả sức mạnh quân sự đang gia tăng Tuy nhiên, xét về tổng thể thì vai trò của các quốc gia mới nổi vẫn chỉ gia tăng ở mức tương đối và phần lớn các dự báo đều cho rằng vào năm 2010, Mỹ vẫn đóng vai trò lớn nhất trong hệ thống chính trị thế giới, có chi tiêu quân sự lớn, trong khi các nước khác vẫn đang trong quá trình chuyển hướng tới vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị toàn cầu
Sự chi phối của các quốc gia phương Tây như Mỹ, EU trong hệ thống chính trị toàn cầu đang giảm dần và xu hướng chủ đạo của thế kỉ XXI cho thấy các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi và một số nước Đông Nam Á đang đóng vai trò ngày càng lớn hơn Là hai quốc gia nằm trong khu vực tranh chấp tầm ảnh hưởng giữa các nước lớn, Việt Nam và Thái Lan có đã có cơ hội để thu hút sự quan tâm của các cường quốc, tạo nhiều nguồn lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời hai nước có tích cực tham gia vào các tổ chức hợp tác quốc tế (WTO, APEC, ASEM…) góp phần mở rộng thị trường, thu hút nguồn vốn để thúc đẩy nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm với các thách thức Nhất là việc giữ được chính sách trung lập không hề đơn giản trong các tranh chấp quốc tế
Trang 4034
Thứ năm: Tư duy lại mô hình phát triển kinh tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã đánh dấu chấm hết cho thời đại kinh
tế toàn cầu kiểu cũ và mở ra một thời kỳ mới để điều chỉnh và chuyển đổi cấu trúc kinh
tế toàn cầu Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nằm trong chính sách kinh tế yếu kém của Mỹ, các nước EU và hàng loạt các nước khác trên thế giới, những khiếm khuyết kinh tế mang tính hệ thống của chủ nghĩa tư bản hiện đại, sự mất cân đối trong nước và toàn cầu, sự yếu kém của các thể chế kinh tế toàn cầu Khủng hoảng kinh tế kéo dài khiến cho các nhà kinh tế học và các nhà hoạch định chính sách phải nhìn nhận lại các công cụ chính sách của mình Mới đây, các chuyên gia của IMF đã phải thừa nhận rằng “Cuộc khủng hoảng không rõ ràng đã phơi bày những hạn chế của thị trường, những hạn chế của sự can thiệp của chính phủ Đây là thời điểm mà chúng ta cần nhìn lại mọi vấn đề và rút ra các bài học” [25,234-235] Sau khủng hoảng thì vấn đề hợp tác kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực nhất là các nước láng giềng được đẩy mạnh Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn này cùng tăng cường hợp tác trên mọi phương diện, nhằm giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng, lấy lại đà phát triển
Các nhân tố trên đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn hiện nay Một mặt, các tác động trên đã khiến cho quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Thái Lan ngày càng xích lại gần nhau hơn tạo cơ hội để hai bên cùng nhau phát triển Mặt khác, chúng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trong quan hệ kinh tế hai nước Song, chiến lược duy nhất thích hợp để tận dụng và đối phó chính là tăng cường hợp tác Hợp tác kinh tế phải được tập trung hơn, mức độ hợp tác phải được tăng cường hơn, hợp tác cả trên bình diện song phương lẫn đa phương, hợp tác để duy trì môi trường ổn định cho phát triển Và trên thực tế, quá trình cải thiện sự hợp tác kinh tế giữa Việt Nam – Thái Lan trong giai đoạn này diễn ra theo chiều hướng như vậy
2.1.2 Những tác động từ tình hình Thái Lan
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước chịu ảnh hưởng từ sự suy giảm từ nền kinh
tế toàn cầu sau sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ, Thái Lan áp dụngChính sách kinh tế “lưỡng kênh” – “chính sách kinh tế kết hợp giữa kích thích nội địa và thực hiện thị trường mở