Từ thực tiễn của quan hệ hai nước thời gian qua, cho dù vẫn bị chi phối bởi tác động của xu thế phát triển của thế giới, nhất là các cường quốc lớn, nhưng xét cho cùng xu thế phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tạ Thị Nguyệt Trang
QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN DƯỚI GÓC NHÌN
CỦA LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ
TỪ 1991 - 2019
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tạ Thị Nguyệt Trang
QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN DƯỚI GÓC NHÌN
CỦA LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Người hướng dẫn khoa học
GS.TS Vũ Dương Ninh GS.TS Hoàng Khắc Nam
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực tế của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Khắc Nam Trong luận án, những thông tin tham khảo từ những công trình nghiên cứu khác đã được tác giả chú thích rõ nguồn
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận án này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
NGHIÊN CỨU SINH
Tạ Thị Nguyệt Trang
Trang 41
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do lựa chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 9
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 11
6 Kết cấu của luận án 12
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
QUAN HỆ QUỐC TẾ 14
1.1 Tổng quan tài liệu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan 14
1.1.1 Nghiên cứu về tổng thể quan hệ Việt Nam - Thái Lan 14
1.1.2 Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên những
lĩnh vực cụ thể 18
1.2 Tổng quan về các lý thuyết Quan hệ quốc tế và soi chiếu trong
một số trường hợp 21
1.2.1 Một số quan điểm về tính ứng dụng của lý thuyết quan hệ
quốc tế ở Châu Á 21
1.2.2 Cách tiếp cận của lý thuyết quan hệ quốc tế về quan hệ
quốc tế ở Châu Á 26
1.2.3 Những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa
Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo 32
1.3 Một vài nhận xét chung về tình hình nghiên cứu 38
Trang 52
Chương 2 QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN TRONG LĨNH VỰC
CHÍNH TRỊ - AN NINH (1991 - 2019) 42
2.1 Khái quát quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lĩnh vực
chính trị - an ninh 42
2.2 Đánh giá quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong lĩnh vực chính trị -
an ninh dưới góc nhìn của lý thuyết quan hệ quốc tế 52
2.2.1 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực 52
2.2.2 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa tự do 60
2.2.3 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa Kiến tạo 67
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ (1991-2019) 72
3.1 Khái quát về quan hệ trong lĩnh vực kinh tế giữa Việt Nam - Thái Lan 72
3.1.1 Các hiệp định kinh tế giữa hai nước 72
3.1.2 Hợp tác thương mại 75
3.1.3 Hợp tác đầu tư 81
3.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan dưới góc nhìn của các lý thuyết quan hệ quốc tế 88
3.2.1 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực 88
3.2.2 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa tự do 91
3.2.3 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa kiến tạo 98
Tiểu kết chương 3 101
Chương 4 QUAN HỆ VIỆT NAM -THÁI LAN TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI (1991 - 2019) 102
4.1 Khái quát về quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong lĩnh vực
văn hóa - xã hội 102
4.1.1 Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa 102
4.1.2 Hợp tác trong vấn đề Việt kiều 107
Trang 63
4.1.3 Hợp tác trong thể thao 110
4.1.4 Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục 113
4.1.5 Hợp tác trong lĩnh vực du lịch 117
4.2 Đánh giá quan hệ Việt Nam -Thái Lan trong lĩnh vực văn hóa -xã hội dưới góc nhìn của các lý thuyết quan hệ quốc tế 122
4.2.1 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực 122
4.2.2 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa Tự do 124
4.2.3 Từ góc nhìn của Chủ nghĩa Kiến tạo 127
Tiểu kết chương 4 134
KẾT LUẬN 135
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147 PHỤ LỤC
Trang 74
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Khu vực Thương mại tự do ASEAN
Tổng sản phẩm quốc nội
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiệp định thương mại tự do
Trang 85
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ Bảng 1.1 Khung phân tích của luận án 41
Hình 3.1 Các hiệp định thương mại tự do tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 74 Bảng 3.1 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan
Trang 96
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Theo dòng chảy lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Thái
Lan đã trải qua những thăng trầm nhưng rồi ngày càng trở nên gắn bó Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam ngày 6/8/1976 đã mở
ra một trang sử mới trong quan hệ giữa hai nước Vai trò của Thái Lan và Việt Nam trong quá trình phát triển khu vực Đông Nam Á ngày càng gia tăng,
vì lẽ đó, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trở nên ngày càng quan trọng đối với khu vực và Việt Nam Tính quan trọng của mối quan hệ này đã được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra trong các công trình của mình Tuy nhiên, các nghiên cứu thường đánh giá từ góc độ lịch sử hoặc nghiên cứu những lĩnh vực riêng rẽ dưới góc độ chuyên ngành mà ít áp dụng lý thuyết QHQT
Các lý thuyết QHQT đều được xây dựng trên cơ sở đúc kết từ thực tiễn Thực tiễn chính là cơ sở quan trọng để hình thành nên lý thuyết QHQT Rõ ràng, lý thuyết được hình thành từ sự khái quát thực tiễn nên chính là sự phản ánh thực tiễn một cách khái quát Cho nên, việc áp dụng lý thuyết QHQT vào trong nghiên cứu không chỉ nhằm mục đích khái quát và mô tả thực tiễn mối quan hệ mà còn hướng đến mục đích tìm hiểu bản chất QHQT, giải thích các hiện tượng khác nhau trong QHQT, dự báo xu hướng vận động và đề ra các nguyên tắc hành động để xây dựng các chính sách hay giải pháp cho hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, mỗi lý thuyết là một góc nhìn khác nhau, do đó, để đem lại cái nhìn đa diện hơn, làm rõ nhiều nhân tố tác động trong QHQT thì cũng cần áp dụng nhiều lý thuyết trong nghiên cứu
Từ sau Chiến tranh Lạnh (1991), hòa bình đã trở thành xu thế nổi trội trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa những nước lớn Đây
là điều hoàn toàn dễ hiểu bởi sau chiến tranh lạnh, tất cả các nước đều tập trung vào khôi phục và phát triển kinh tế nên lợi ích quốc gia được đưa lên
Trang 10đó, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nước vừa và nhỏ tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế dưới các hình thức khác nhau để tăng cường vị thế của mình Thái Lan và Việt Nam cũng nằm trong sự vận động đó
Từ thực tiễn của quan hệ hai nước thời gian qua, cho dù vẫn bị chi phối bởi tác động của xu thế phát triển của thế giới, nhất là các cường quốc lớn, nhưng xét cho cùng xu thế phát triển quan hệ Thái Lan - Việt Nam là khó thay đổi được vì những bài học của lịch sử, nhất là kết quả hợp tác trong thời gian qua và mục đích chung của hai nước là cùng ổn định và phát triển bền vững để cùng nhau góp phần xây dựng cộng đồng ASEAN ổn định, vững mạnh, ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, từ năm 1991 đến nay, hợp tác Việt Nam - Thái Lan ngày càng được củng cố, phát triển trên nhiều lĩnh vực song phương và đa phương vì lợi ích của hai dân tộc, cũng như vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới Năm 2013, Việt Nam và Thái Lan chính thức nâng cấp mối quan
hệ lên tầm ―đối tác chiến lược‖, đánh dấu bước phát triển quan trọng của mối quan hệ hợp tác song phương Đặc biệt gần đây khi diễn biến về xung đột Biển Đông, khủng bố, khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên đang trở thành đề tài nóng của an ninh trong khu vực thì việc xây dựng mối quan hệ bền chặt của hai nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Chính vì thế, việc tìm hiểu vấn đề này không chỉ giúp phát triển mối quan hệ giữa hai quốc gia mà còn giúp hiểu rõ hơn các mối quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á
Trang 118
Bước vào thế kỷ XXI, hai nước có chế độ chính trị khác nhau đã tự lựa chọn con đường riêng để phát triển và đạt được nhiều thành tựu cũng như đúc rút những kinh nghiệm mà mỗi nước có thể vận dụng để xây dựng và phát triển cho riêng mình Trong giai đoạn này, cả hai nước đều có những tư tưởng chung bên cạnh những lợi ích riêng Có thể thấy, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan diễn biến thăng trầm, trên nhiều lĩnh vực Do đó, để có thể tìm hiểu,
lý giải rõ hơn, đầy đủ hơn sự đa dạng trong nguyên nhân và quá trình vận động mối quan hệ này, đòi hỏi phải áp dụng các lý thuyết QHQT khác nhau Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn đó, nhằm đánh giá, nhìn nhận mối quan hệ giữa hai nước trong thời điểm hiện tại và tương lai
gần, NCS đã lựa chọn “Quan hệ Việt Nam -Thái Lan dưới góc nhìn của lý thuyết quan hệ quốc tế từ 1991 - 2019” làm đề tài luận án nhằm nghiên cứu
một cách có hệ thống quan hệ đối ngoại của hai nước, phân tích cơ sở hình thành và phát triển của mối quan hệ chính trị, kinh tế và một số lĩnh vực khác trong quan hệ hai nước Từ những phân tích đó, tác giả mong muốn rút ra những nhận xét để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm góp phần đưa mối quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm có thể vận dụng được
vào nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Thái Lan của các lý thuyết QHQT bao gồm Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Hiện thực và Chủ nghĩa Kiến tạo
Trang 129
Thứ hai, nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở
Việt Nam về các vấn đề liên quan đến đề tài
Thứ ba, soi chiếu những luận điểm, của ba lý thuyết gồm Chủ nghĩa
Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo vào phân tích mối quan hệ thực tiễn giữa Việt Nam và Thái Lan trên các lĩnh vực từ năm 1991 đến nay
Thứ tư, phân tích, đánh giá triển vọng sự phát triển mối quan hệ Việt
Nam - Thái Lan thông qua các luận điểm của lý thuyết QHQT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ song phương Việt Nam Thái Lan từ năm 1991 đến 2019 dưới những luận điểm của hệ lý thuyết quan
-hệ quốc tế gồm: Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Nghiên cứu sinh chọn giai đoạn 1991 đến nay làm khung
thời gian nghiên cứu của luận án
Việc xác định mốc mở đầu là năm 1991 vì đây là thời điểm kết thúc của Chiến tranh Lạnh, do vậy mà các quốc gia phải đánh giá lại vị thế quốc tế mới của mình và có sự điều chỉnh về chiến lược phát triển cũng như chính sách đối ngoại để thích nghi với tình hình mới Điều đó đã tác động đến tổng thể mối quan hệ Thái Lan và Việt Nam Bên cạnh đó, đây là năm Thủ tướng Anand Panyarachun lên nắm quyền - ông là người có công khởi xướng các cải cách kinh tế và dân chủ Thái Lan Còn ở Việt Nam đã trải qua 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1991) và bắt đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam với những điều chỉnh quan trọng cả về chính sách đối nội và đối ngoại Những thay đổi này đã góp phần tạo ra sự phát triển trong quan hệ Việt Nam Thái Lan
Về không gian: Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ song phương nên
không gian nghiên cứu chính là hai nước Việt Nam và Thái Lan Bên cạnh đó,
Trang 1310
mối quan hệ này cũng được đặt trong sự vận động của khu vực Đông Nam Á
và thế giới để có cái nhìn đầy đủ hơn về các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ giữa hai nước
Về nội dung: Luận án sẽ soi chiếu các luận điểm của ba lý thuyết QHQT
cơ bản (Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo) để nghiên cứu các nhân tố tác động cũng như sự vận động của quan hệ Thái Lan
- Việt Nam từ năm 1991 đến 2019 Đây là ba lý thuyết hiện nay được coi là lớn nhất và cơ bản nhất trong nghiên cứu QHQT Từ đó, đưa ra những phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan và triển vọng cũng như định hướng phát triển trong tương lai
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan diễn ra trên hai bình diện đó là cơ chế hợp tác song phương và đa phương, nhưng luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu quan hệ song phương bởi đây là cơ chế phản ánh đầy đủ nhất thực trạng
và sự vận động trong quan hệ giữa hai nước Về lĩnh vực quan hệ, luận án chỉ tập trung nghiên cứu về quan hệ giữa hai nước trên 3 lĩnh vực cơ bản là chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội cũng bởi ba lĩnh vực này là nơi tập trung nhất và đầy đủ nhất các lợi ích và vấn đề của mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án sử dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về hoạt động ngoại giao, hợp tác quốc tế
Bên cạnh đó, luận án sử dụng hệ thống lý thuyết quan hệ quốc tế, cụ thể
là Chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo Từ các luận điểm của hệ lý thuyết soi chiếu vào mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm
1991 đến 2019
Trang 1411
4.2 Cách tiếp cận
Luận án sử dụng một số cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu sau:
- Tiếp cận từ các góc nhìn của từng lý thuyết: Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo
- Tiếp cận từ góc nhìn của lịch sử QHQT: xem xét tiến trình vận động của quan hệ song phương Việt Nam - Thái Lan theo trục lịch sử
- Tiếp cận hệ thống cấu trúc trong QHQT để tìm ra những tác động từ
hệ thống cấu trúc quốc tế bên ngoài gồm khu vực và thế giới tới đối tượng nghiên cứu
- Tiếp cận trên góc độ liên ngành và đa ngành để xem xét quan hệ song phương diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, văn hóa,
Luận án là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu quan
hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 1991 đến năm 2019 dưới góc nhìn của các lý thuyết QHQT, cho nên luận án sẽ có những đóng góp mới về khoa học đó là
từ góc nhìn của các lý thuyết tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về các nhân tố tác động, sự tiến triển trong quan hệ hai nước Thái
Trang 1512
Lan và Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2019, rút ra những đánh giá về thực trạng mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan và triển vọng cũng như định hướng phát triển trong tương lai
Đây cũng là một tài liệu tham khảo khoa học cho các nhà nghiên cứu, đào tạo về quan hệ quốc tế khi soi chiếu các lý thuyết quan hệ quốc tế một cách hệ thống vào một mối quan hệ thực tiễn
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã trở thành đối tác chiến lược của nhau Do đó, kết quả của đề tài cũng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách ngoại giao của hai nước có cái nhìn bao quát hơn về yếu tố tác động cũng như triển vọng phát triển mối quan hệ này trong tương lai
Luận án cũng có thể là một tài liệu giảng dạy, tham khảo cho giảng viên, học viên chuyên ngành quan hệ quốc tế và những độc giả quan tâm đến đề tài quan hệ Thái Lan - Việt Nam nói riêng và đối với đề tài hợp tác chính trị,
ngoại giao, kinh tế của các nước ASEAN nói chung
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, hệ thống bảng biểu, hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết quan hệ quốc tế Chương 2 Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lĩnh vực chính trị - an ninh (1991 - 2019)
Nội dung chương 2 sẽ tìm hiểu một cách có hệ thống quan hệ chính trị -
an ninh giữa Việt Nam và Thái Lan từ năm 1991 đến 2019 dựa trên phân tích thực trạng hợp tác trong bối cảnh đang có sự biến động lớn của môi trường địa chính trị và trật tự thế giới ở thế kỷ XXI Từ đó, đánh giá mối quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực chính trị - an ninh dưới góc nhìn của lý thuyết
CNHT, CNTD và CNKT
Trang 1613
Chương 3 Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lĩnh vực kinh tế (1991 - 2019)
Chương 3, NCS sẽ phân tích thực trạng mối quan hệ trên lĩnh vực kinh
tế, trao đổi thương mại giữa hai quốc gia từ năm 1991 đến 2019, qua đó, đánh giá và rút ra những vấn đề nghiên cứu Đánh giá mối quan hệ Việt Nam -Thái
Lan dưới góc nhìn của lý thuyết CNHT, CNTD và CNKT
Chương 4 Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lĩnh vực Văn hóa - Xã hội (1991 - 2019)
Chương 4 sẽ tìm hiểu về mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, góp phần làm rõ hơn mối quan hệ chính trị, kinh tế trong tiến trình phát triển của quan hệ hai nước từ sau Chiến tranh Lạnh Từ
đó, rút ra những đánh giá về mối quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực này dưới góc nhìn của lý thuyết CNHT, CNTD và CNKT
Trang 1714
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
QUAN HỆ QUỐC TẾ
1.1 Tổng quan tài liệu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan
1.1.1 Nghiên cứu về tổng thể quan hệ Việt Nam - Thái Lan
Những công trình tiếng Việt nghiên cứu về quan hệ Thái Lan - Việt Nam sau năm 1991 là những công trình nghiên cứu khá chi tiết và công phu Tác
giả Nguyễn Tương Lai đã xuất bản cuốn Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong những năm 90 [13], tiến hành nghiên cứu chiều hướng phát triển của quan hệ
hai nước Từ đó khái quát ý nghĩa và tầm quan trọng của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan không những đối với lợi ích dân tộc mà còn ảnh hưởng tới khu vực Nhóm tác giả phân tích, đánh giá thực trạng 10 năm của mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế đồng thời nêu lên những thách thức và triển vọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan khi bước vào thế kỷ XXI và đề xuất những việc trong điều chỉnh và
hoạch định chính sách quan hệ với Thái Lan trong những năm tới
Nghiên cứu một cách toàn diện về quan hệ hai nước từ khi ký Hiệp định
thiết lập quan hệ ngoại giao 6/8/1976 có cuốn sách Quan hệ Việt Nam - Thái Lan 1976 - 2000 của tác giả Hoàng Khắc Nam [18] đã dựng lại quá trình diễn
biến với những đặc điểm và tính chất quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong các thời kỳ khác nhau Tác giả đã khái quát quan hệ hai nước qua từng giai đoạn lịch sử đến trước năm 1975 và đặt trọng tâm vào hai giai đoạn 1976 - 1989 và
1989 - 2000, đồng thời phân tích những động lực và yếu tố tác động làm sáng
tỏ cấu trúc và cơ chế vận hành của mối quan hệ này, từ đó góp phần nhận thức một cách sâu sắc hơn về mối quan hệ hai nước
Ngoài ra, còn có công trình Hội thảo quan hệ Việt Nam - Thái Lan hướng tới tương lai do tác giả Vũ Dương Huân chủ biên (Học viện Quan hệ
quốc tế, HN, 2001, 142 trang) [10] Công trình đã tập hợp các bài viết về những bước phát triển của quan hệ hai nước trong một phần tư thế kỷ qua, rút
Trang 18Lan từ cuối những năm 80 tới 1995 Phân tích quan hệ Việt Nam - Thái Lan
từ 1995 tới nay trên các phương diện: Quan hệ chính trị, ngoại giao, hợp tác
an ninh, quan hệ kinh tế và các lĩnh vực hợp tác khác Cơ sở và triển vọng mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan trong thế kỷ XXI năm 2001 của tác
giả Luận Thùy Dương [4] viết về mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan trong 25 năm qua, đánh giá triển vọng của mối quan hệ hợp tác này dựa trên việc phân tích những cơ sở và những phương hướng cơ bản để thúc đẩy hợp tác có hiệu quả hơn nữa Ngoài ra, vẫn còn một số khó khăn trong việc phát triển hợp tác Việt Nam - Thái Lan Đó là một nền chính trị đa đảng và luôn biến động, trình độ phát triển kinh tế khác nhau, và nền kinh tế cả hai nước
chứa đựng nhiều yếu tố cạnh tranh Tác giả Nguyễn Thị Hoàn có bài viết Vài nét về quan hệ Việt Nam - Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI năm 2005 [6],
trình bày đôi nét về quan hệ hợp tác hai nước Việt Nam - Thái Lan trong những năm đầu thế kỷ XXI đó là: chính trị ngoại giao, kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật và các lĩnh vực khác Đây là chặng đường chưa dài so với lịch sử ngoại giao của hai nước nhưng là những năm đầy khó khăn, thách thức trong bối cảnh kinh tế chính trị ở khu vực Đông Nam Á và thế giới diễn biến phức
tạp, đầy biến động 30 năm quan hệ Việt Nam - Thái Lan, năm 2006 của tác
giả Nguyễn Thị Quế [28] điểm lại những mốc lịch sử trong quan hệ Việt Nam
- Thái Lan trong 30 năm Nêu lên những thời kỳ quan hệ Việt Nam - Thái Lan trầm lắng và thời kỳ hai nước có những quan hệ mật thiết trên nhiều lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, khoa học kỹ thuật và những dự án hợp tác của hai nước theo hình thức liên kết mới đó là tiểu vùng Mekong kế hoạch mở rộng mạng lưới giao thông, phát triển kinh tế, văn hóa giữa 7 tỉnh của 3 nước Thái Lan - Việt Nam - Lào
Trang 1916
Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế có bài viết Việt Nam và Thái Lan: Tiến tới mối quan hệ đối tác ổn định, lâu dài trong thế kỷ 21 của tác giả Lê Văn
Lương [15], năm 2001, nhìn lại chặng đường 25 năm kể từ khi thiết lập quan
hệ ngoại giao (6/8/1976) đến nay, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã có những giai đoạn thăng trầm, phức tạp nhưng chiều hướng chung là ngày càng được cải thiện, mở rộng và phát triển Những khác biệt, nghi kỵ dần được thu hẹp
và tăng cường sự hợp tác về nhiều mặt, giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa hai nước Quan hệ giữa Thái Lan - Việt Nam đã trải qua nhiều thử thách
và hình thành cơ chế hợp tác mới, hứa hẹn những triển vọng tươi sáng
Tác giả Nguyễn Thị Quế có bài viết 25 năm quan hệ Việt Nam - Thái Lan đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, năm 2001 [29] Tác giả nhấn mạnh,
sau khi giành độc lập, Việt Nam rất cần một mối bang giao hữu nghị với khu vực, trong đó có Thái Lan Tuy có những động tác ngoại giao với Thái Lan nhưng chưa thực sự gạt bỏ hết những cản trở trong quan hệ hai nước Nhưng
kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976, quan hệ hai nước đã có nhiều thay đổi và có những bước tiến quan trọng
Trong các luận án đã bảo vệ thành công, có công trình Quan hệ Thái Lan
- Việt Nam (1976-2004) của Tiến sĩ sử học Thananan Boonwanna, hoàn thành
năm 2008 [44] Trong công trình này, tác giả phân tích mối quan hệ hai nước qua từng thời kỳ, dựa trên sự biến động của chính phủ Thái Lan, từ đó có những đánh giá để đánh giá các giai đoạn thăng trầm trong lịch sử ngoại giao của hai nước Đây cũng là một hướng nghiên cứu của học giả Thái Lan khác với học giả Việt Nam khi nghiên cứu về chủ đề này
Gần nhất, có thể kể đến luận án tiến sĩ của Hà Lê Huyền bảo vệ thành
công năm 2016 với tiêu đề ―Quan hệ Thái Lan - Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2011‖ [11], đây cũng là một luận án chuyên ngành sử học Công trình đã
khái quát hóa quá trình vận động của quan hệ song phương giữa hai nước trong thời gian 20 năm, qua đó, chỉ ra những tác động và đánh giá mối quan
Trang 2017
hệ này đối với sự phát triển của khu vực nói chung và hai nước nói riêng Những đặc điểm riêng về bối cảnh của hai nước, tình hình biến động của khu vực và thế giới trong giai đoạn này đã được tác giả liệt kê khá chi tiết Một số luận điểm về quan hệ chính trị - ngoại giao, kinh tế, hợp tác an ninh phi truyền thông cũng đã được tác giả đề cập tới để đánh giá tác động và sự phát triển của mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam trong thời gian tới
Những công trình nghiên cứu mối quan hệ song phương giữa Việt Nam Thái Lan bằng tiếng Anh, đã xuất bản và công bố trên các tạp chí quốc tế có
-uy tín từ giai đoạn 1991 đến nay không nhiều Có thể điểm qua một vài công
trình tiêu biểu như bài viết Thailand's Policy Dilemmas Toward Indochina
(Nghị trình chính sách của Thái Lan đối với Đông Dương) của tác giả Surin Maisrikrod, năm 1992, đăng trên tạp chí Contemporary Southeast Asia [112] Tác giả nghiên cứu chính sách Đông Dương, đặc biệt là chính sách đối với Việt Nam của Thái Lan Xem xét thái độ Thái Lan trong chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam và chiến tranh Việt Nam chống Trung Quốc sau chiến tranh với Campuchia Nghiên cứu vai trò của Thái Lan trong lục địa Đông Nam Á
và vai trò của nó trong cộng đồng quốc tế Nhìn chung, quan hệ Thái Lan - Đông Dương nói chung và Thái Lan - Việt Nam nói riêng vẫn là quan hệ truyền thống của xung đột và bằng hữu
Bài báo ―"The Peace Dividend" in Southeast Asia: The Political Economy of New Thai—Vietnamese Relations‖ (Nền hòa bình bị ngăn cách ở
Đông Nam Á: Kinh tế chính trị học của mối quan hệ Thái - Việt mới) của Surin Maisrirrod đăng trên tạp chí Contemporary Southeast Asia năm 1994 [113] Bài viết này đã đánh giá lại mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ khi các giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia được định đoạt (1991-1992) Sau sự kiện này, Thái Lan và Việt Nam đã bắt đầu một con đường hợp tác dựa trên lợi ích kinh tế của cả hai quốc gia Bài báo nhấn mạnh vào quan điểm phát triển theo hướng hợp tác hơn là đối đầu, điều này có thể góp phần
Trang 2118
làm giảm sự thù địch chính trị giữa hai nước trong lịch sử Tác giả cho rằng, sau chiến tranh lạnh, sự ưu tiên của Thái Lan là củng cố hòa bình trong khu vực Đông Nam Á, cùng với đó là sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của
cả hai quốc gia, bên cạnh sự phát triển của kinh tế quốc tế đã đem lại nhiều cơ
sở hợp tác thương mại song phương, tiến tới phát triển mối quan hệ dựa trên những lợi nhuận kinh tế mà nó mang lại Trên phương diện lý thuyết, bài báo xem xét mục tiêu phát triển chính sách đối ngoại của hai quốc gia trong Chiến tranh lạnh đã ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi những ―đồng minh‖ thân thiết như Thái - Mỹ và Liên Xô - Việt Nam Tuy nhiên, giờ đây họ đã phải tự quyết định mục tiêu cho chính sách đối ngoại của mình, theo đó, bài viết đề cập đến việc phát triển kinh tế nội địa là nền tảng cho chính sách đối ngoại của cả Thái Lan và Việt Nam từ sau 1991
Công trình ―Twenty - five years of Thai - Vietnamese relationship‖ (25
năm quan hệ Thái Lan - Việt Nam) xuất bản năm 2003, dày 256 trang của nhóm tác giả Thanyathip Sripana, Theera Nuchpiam, Phạm Đức Thành [116]
đã tập hợp những bài hội thảo về quan hệ Thái - Việt trong 25 năm qua, gồm
có các bài viết: Phát triển quan hệ chính trị Thái Lan - Việt Nam, tư duy mới trong chính sách ngoại giao của Việt Nam hướng tới tương lai sau năm 1986
và sự hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan Cuốn sách là một tài liệu tổng quan khá chi tiết, phác dựng mối quan hệ giữa hai quốc gia theo tiến trình của lịch sử, thông qua nhiều sự kiện tiêu biểu
1.1.2 Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên những lĩnh vực cụ thể
Giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, quan hệ Thái Lan - Việt Nam có rất nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí uy tín như: Nghiên cứu Đông Nam
Á, Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Kinh tế, Nghiên cứu Quốc tế Trong các lĩnh vực cụ thể thì lĩnh vực kinh tế, du lịch, văn hóa vẫn được nhiều học giả quan tâm hơn cả Tiêu biểu có thể kể đến như bài viết của tác giả Trương Duy
Hòa, Quan hệ đầu tư Thái Lan - Đông Dương [5] Bài viết nghiên cứu tình
Trang 2219
hình đầu tư nước ngoài vào Đông Dương xem xét quan hệ đầu tư Thái Lan - Đông Dương đóng vai trò quan trọng trong việc hợp tác, phát triển kinh tế trên cơ sở láng giềng thân thiện Thái Lan có nhiều điểm tương đồng về lịch
sử - văn hoá với các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam, vì vậy các nhà đầu tư Thái Lan ngày càng có nhiều hoạt động hợp tác và đầu tư vào Đông
Dương nhằm chia sẻ lợi ích kinh tế mà các bên cùng quan tâm Quan hệ kinh
tế Việt Nam - Thái Lan: 20 năm phát triển tác giả Hà Huy Thành [32] đã
nghiên cứu quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan từ khi Việt Nam còn áp dụng hệ thống quản lý kế hoạch hóa tập trung cho đến nay Xem xét, đánh giá đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam Nêu lên triển vọng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Thái Lan trong thời gian tới Tuy nhiên các bài viết này chỉ tập trung về vấn đề kinh tế là chủ yếu
Bài viết 30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan của Nguyễn Thị
Hoàn [7] phân tích mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Thái Lan trong vòng 30 năm qua trên các lĩnh vực: Quan hệ chính trị, ngoại giao đây là mối quan hệ đặt nền móng vững chắc cho tất cả các mối quan hệ khác được phát triển không ngừng và ngày càng có nhiều triển vọng, đó là: Hợp tác kinh
tế, hợp tác văn hóa, giáo dục, hợp tác khoa học kỹ thuật và những lĩnh vực
khác Thúc đẩy hợp tác du lịch Việt Nam - Thái Lan [25] của tác giả Nguyễn
Hồng Quang tìm hiểu tiềm năng du lịch giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan thông qua một số địa điểm du lịch nổi tiếng của hai nước Thực trạng hợp tác
du lịch và một số vấn đề cần khắc phục của ngành du lịch Việt Nam nhằm đáp ứng những nhu cầu của khách du lịch Thái Lan và du khách quốc tế đến
Việt Nam Trong một công trình khác của mình, khi nghiên cứu về Khủng hoảng chính trị ở Thái Lan thời kỳ nữ thủ tướng YingLuck [27, Tr.178-183],
Nguyễn Hồng Quang cho rằng, mặc dù các cuộc khủng hoảng chính trị Thái Lan tác động đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của Thái Lan, nhưng không ảnh hưởng đến đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam Quan hệ hợp tác về an ninh
Trang 2320
quốc phòng, giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể thao, du lịch…giữa Việt Nam và Thái Lan dù bị ảnh hưởng và gián đoạn trong thời gian Thái Lan gặp khủng hoảng nhưng vẫn có những bước phát triển tích cực
Nguyễn Thu Mỹ có bài viết Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan: Tình hình và triển vọng [17], đăng trên tạp chí Nghiên cứu Kinh tế năm 1992 tác
giả đã trình bày thực trạng quan hệ buôn bán giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan, những lĩnh vực đầu tư của Thái Lan ở Việt Nam và các chính sách đầu
tư của Việt Nam Từ đó, tác giả nêu lên những đặc điểm của mối quan hệ kinh
tế giữa hai nước, những nguyên nhân làm cản trở mối quan hệ này
Ngoài ra, còn có đề tài cấp Bộ ―Những vấn đề chính trị, kinh tế nổi bật của Thái Lan giai đoạn 2011-2020 và tác động chủ yếu đến Việt Nam‖ do tác
giả Nguyễn Ngọc Lan [14] làm chủ nhiệm đã được thực hiện trong hai năm
2009 -2010 Bên cạnh việc dự báo tình hình chính trị xã hội, những vấn đề nổi bật mà nền kinh tế Thái Lan có thể gặp phải từ 2011 đến năm 2020 cũng được tác giả xem xét Dựa trên việc phân tích bối cảnh hiện tại của nền kinh tế đến năm 2010, xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới và khu vực trong những năm tiếp theo, tác giả đã đưa ra một số nhận định về kinh tế Thái Lan trong tương lai Chính sách phát triển kinh tế của Thái Lan trong giai đoạn tiếp theo sẽ tiếp tục hướng vào nền kinh tế trong nước, coi trọng phát triển nguồn nhân lực và yếu tố con người nhằm theo đuổi một nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tạo lập giá trị dựa theo thuyết ―nền kinh tế đầy đủ‖ của Quốc vương Thái Lan Để đạt được mục tiêu trên, Thái Lan sẽ đẩy mạnh cải cách nguồn nhân lực, phát triển và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra, Thái Lan sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tối đa hóa lợi thế so sánh, gia tăng thương mại và khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của mình Thái Lan cũng quyết tâm giảm dần sự phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh phát triển du lịch và gia tăng giá trị văn hóa và bản sắc riêng của dân tộc trong từng sản phẩm cạnh
Trang 2421
tranh Tương lai nền kinh tế Thái Lan có tác động thế nào đến kinh tế Việt Nam cũng được tác giả xem xét đánh giá Từ đó phân tích tác động đến Việt Nam, tìm hiểu mối quan hệ song phương Việt Nam - Thái Lan và những ảnh hưởng trước biến động trong nước của Thái Lan
Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, có thể kể đến cuốn sách ―Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam‖ của hai tác giả Trịnh Diệu Thìn
và Thanyathip Sripana, xuất bản năm 2006 [33] Công trình này nghiên cứu cộng đồng người Việt ở Thái Lan một cách hệ thống Qua đó, làm rõ vai trò của cộng đồng người Việt ở Thái Lan trong mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan
Có thể nói, những tài liệu này là nguồn sử liệu bổ ích giúp NCS triển khai nghiên cứu về tình hình quan hệ hai nước Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1991 đến nay trên các lĩnh vực khác nhau
1.2 Tổng quan về các lý thuyết Quan hệ quốc tế và soi chiếu trong một số trường hợp
1.2.1 Một số quan điểm về tính ứng dụng của lý thuyết quan hệ quốc tế ở Châu Á
Phần lớn các lý thuyết QHQT đều được phát triển bởi các học giả phương Tây, với những nét đặc thù riêng về thể chế, chính trị, văn hóa, xã hội
so với các khu vực khác trên thế giới Chính vì vậy, đã có không ít tranh luận
về việc áp dụng lý thuyết QHQT trong việc nghiên cứu mối QHQT giữa các quốc gia thuộc khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng Trong nghiên cứu này, NCS sẽ tìm hiểu một số công trình tiêu biểu khi đánh giá về QHQT khu vực Châu Á dưới góc nhìn của các lý thuyết QHQT
Một học giả nổi tiếng nghiên cứu về vấn đề này là Amitav Acharya, ông là giáo sư tại khoa Chính trị, Đại học Bristol, Vương quốc Anh Ông tập trung rất nhiều vào tìm hiểu ―Tại sao không có lý thuyết QHQT ngoài phương Tây?‖[56], ở bài nghiên cứu mang tính dẫn nhập này, Acharya cho rằng việc các nhà nghiên cứu phương Tây phát triển hệ thống lý thuyết QHQT cũng là
Trang 2522
một cách để ―áp đặt‖ quan điểm lên những nước ―thuộc địa‖ Tuy nhiên, kể từ sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, nhiều quốc gia thuộc khu vực Châu Á đã giành được độc lập và phát triển đất nước theo con đường riêng của mình thì việc áp dụng lý thuyết QHQT của phương Tây để nghiên cứu về QHQT của khu vực này đã không còn thực sự khả thi, bởi những yếu tố như cách suy nghĩ của người Châu Á về chính trị, tôn giáo và văn hóa bản địa Theo đó, Acharya cho rằng cần phải thông qua những nghiên cứu của học giả Châu Á dưới bối cảnh của khu vực để khái quát những vấn đề đặt ra và rút được các luận điểm mà lý thuyết QHQT có thể áp dụng ở khu vực này
Theo hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu này, Amitav Acharya và cộng
sự Barry Buzan đã xuất bản cuốn sách ―Non-Western International Realations Theory Perspectives on and beyond Asia‖[58], cuốn sách này được tổng hợp
từ nhiều bài nghiên cứu của các học giả trên thế giới, đặc biệt là học giả Châu
Á Trong đó, Yaqing Qin [58, pp.26-50] cho rằng lý thuyết QHQT luôn là mối quan tâm của cộng đồng học thuật Trung Quốc, mặc dù có một nền văn hóa lâu đời, phát triển qua hàng nghìn năm nhưng quốc gia này lại không có
hệ thống lý thuyết QHQT của mình và cũng không đi theo các lý thuyết QHQT của phương Tây Theo Qin thì vấn đề cốt lõi dẫn đến điều này là do nhận thức về mối quan hệ giữa Trung Quốc và xã hội quốc tế Trong chiều dài hơn 2000 năm lịch sử, Trung Quốc chưa phải đối mặt với những vấn đề như chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa quốc tế Trong 140 năm từ năm 1840 đến
1980, Trung Quốc luôn đứng ngoài các hệ thống quốc tế, họ nhìn nhận mối QHQT như một vấn đề riêng Vào những năm 1950, Trung Quốc bắt đầu phát triển nhưng Chiến tranh Lạnh và sự chia rẽ nội bộ đã ngăn cản học giả Trung Quốc giải quyết các vấn đề đối với QHQT thế giới Đến tận 1979, khi Trung Quốc tiến hành chính sách mở cửa thì họ mới thực sự bắt đầu tham gia vào xã hội quốc tế Tuy nhiên, việc chấp nhận các tư tưởng lý thuyết QHQT của phương Tây vẫn là điều không khả thi ở đây
Trang 26Đối với Hàn Quốc, Chaesung Chun [58, pp.69-91] đánh giá việc các học giả Hàn Quốc áp dụng lý thuyết QHQT trong trường hợp của quốc gia mình là rất khó để phản ánh thực tiễn Một phần lý do bởi sự biến thiên với nhiều sự kiện trong suốt chiều dài lịch sử, đến bây giờ vẫn chưa thể giải quyết như mâu thuẫn giữa hai miền Triều Tiên Bên cạnh đó là sự can thiệp của một
số nước đồng minh như Mỹ cũng khiến cho các luận điểm của lý thuyết QHQT khó có thể vận dụng trong trường hợp của Hàn Quốc
Navnita Chadha Behera [58, pp.92-116] cho rằng không có nhiều sự đóng góp của lý thuyết QHQT đối với Ấn Độ Đặc điểm riêng về văn hóa, thể chế, sự phát triển của chủ nghĩa hậu thuộc địa và nữ quyền đã luôn làm khó các nhà nghiên cứu lý thuyết QHQT ở quốc gia này Đã có rất nhiều các cuộc tranh luận nổ ra để tranh luận về việc thừa nhận các luận điểm của lý thuyết QHQT trong sự phát triển của Ấn Độ, tuy nhiên vẫn chưa có hồi kết
Ở khu vực Đông Nam Á, Alan Chong [58, pp.117-147] cho rằng các quốc gia ở khu vực này thường có khuynh hướng tiếp thu sự tiến bộ từ tri thức của phương Tây để phát triển, hiện đại hóa đất nước Trong đó, các lý thuyết QHQT cũng được nhiều học giả ở khu vực này tiếp nhận một cách tích cực Tuy vậy, các ý tưởng của phương Tây về hệ thống quốc tế, quốc gia dân tộc và vấn đề lãnh thổ vẫn chưa thực sự phù hợp với các quốc gia ở khu vực
Trang 2724
này Soi chiếu vào trường hợp của Indonesia, Leonard C Sebastian và Irman
G Lanti [58, pp 148-173] chỉ ra có một nhận thức chung trong cộng đồng học thuật ở Indonesia là lý thuyết QHQT thuộc về ngành khoa học của phương Tây và nó đưa ra được rất ít những quan điểm có thể áp dụng được ở quốc gia này Chính vì vậy, họ thường tập trung tìm hiểu sâu hơn vấn đề về tình hình chính trị của đất nước thay vì mối QHQT
Cuối cuốn sách này, Acharya và Buzan đã kết luận rằng, trong sự phát triển của QHQT tại khu vực Châu Á luôn tồn tại các luận điểm giống với lý thuyết QHQT của phương Tây, nhưng lại bị ―ẩn‖ đi theo một cách nào đó, hoặc theo mục đích của thể chế cầm quyền Bên cạnh đó, ảnh hưởng từ các vấn đề riêng của từng quốc gia, bản sắc văn hóa, quan niệm về lãnh thổ…cũng khiến cho việc định hình lý thuyết QHQT ở khu vực này trở nên khó khăn Tuy nhiên, các ông cũng cho rằng, trong tương lai gần, các lý thuyết QHQT của Châu Á sẽ được hình thành và bắt kịp với phương Tây [58, pp.221]
Một đánh giá khác về triển vọng của lý thuyết QHQT ở khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương là cuốn sách ―International Relations Theory and the Asia - Pacific‖ [89] của G John Ikenberry và Michael Mastanduno Cuốn
sách được tổng hợp từ các hội thảo về nghiên cứu triển vọng ổn định ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Đại học Pennsylvania và Dartmouth (Mỹ) vào năm 1998 và 1999 Trong cuốn sách này, các tác giả đã đánh giá mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn QHQT ở khu vực chia theo từng lĩnh vực cụ thể bao gồm: An ninh, Chính trị và Kinh tế Kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, sự tương tác giữa các cường quốc trong khu vực như
Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản đã có nhiều biến chuyển Các học giả rất quan tâm tới việc tìm hiểu sự thay đổi của những mối quan hệ này trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển cũng như những thách thức mà nó phải đối mặt như thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo, giữ gìn an ninh trong khu vực Nhiều cuộc tranh luận về sự ổn định của QHQT khu vực Châu Á - Thái Bình
Trang 2825
Dương có xu hướng vận dụng lý thuyết, trong khi các lập luận của lý thuyết QHQT lại chưa được nhìn nhận đúng đắn với đặc điểm lịch sử hoặc so sánh với lịch sử phát triển của khu vực Các bài viết trong cuốn sách này để thống nhất rằng, để soi chiếu được lý thuyết QHQT vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thì cần nhìn nhận, tiếp cận từ những sự phát triển của lịch sử, đặc điểm văn hóa phức tạp và có sự so sánh với các nước phương Tây để từ đó thu hẹp khoảng cách và sử dụng lý thuyết QHQT áp dụng đối với khu vực này một cách phù hợp
Trong bài viết của mình, Ching-Chang Chen [69] cũng cho rằng sự vắng mặt của các lý thuyết QHQT ở châu Á cần được xem xét lại Bài viết này đã phê phán cuộc tranh luận đã và đang diễn ra trong QHQT về lý do tại sao không có lý thuyết QHQT ở châu Á và làm gì để giảm thiểu tình trạng đó Tác giả cũng cho rằng cần có sự ―dung hòa‖ giữa những tư tưởng phương Tây đối với các đặc trưng của khu vực thay vì việc phổ biến lý thuyết QHQT theo hướng toàn cầu hóa Việc tái hiện lý thuyết QHQT ở khu vực châu Á không phải là để phát triển các trường phái lý thuyết của ―bản địa‖ mà là định hướng lại chính những lý thuyết QHQT của phương Tây trong tình hình mới
Và gần đây nhất, sau 10 năm xuất bản cuốn sách tổng hợp về vấn đề lý thuyết QHQT ở khu vực châu Á, năm 2017, Amitav Acharya và Barry Buzan
đã công bố bài viết ―Why is there no Non - Western International Relations Theory? Ten years on‖ [59], trong bài viết này, các tác giả đã khảo sát, đánh
giá các tài liệu từ năm 2007 đến 2017 để đánh giá sự quan tâm của các học giả trên thế giới đối với vấn đề này, cũng như sự tham gia của các lý thuyết QHQT trong quá trình phát triển QHQT của các quốc gia châu Á, cuối cùng
là so sánh, đánh giá và đặt ra các vấn đề mà những người nghiên cứu lý thuyết QHQT ở châu Á cần quan tâm Theo đó, tác giả cho rằng thách thức của lý thuyết QHQT ở châu Á là phát triển hệ thống lý thuyết QHQT mang tính toàn cầu Chủ nghĩa QHQT riêng của châu Á cần được khái quát từ những vấn đề
Trang 2926
đặc biệt trong lịch sử, bản sắc, văn hóa riêng của khu vực Tìm ra con đường
để phát triển lý thuyết cho QHQT ở châu Á, làm phong phú thêm các khái niệm, lý thuyết có khả năng ứng dụng vượt ra ngoài khu vực hoặc các quốc gia riêng lẻ Tác giả cũng kết luận rằng việc xem xét lý thuyết QHQT ở châu
Á cần dựa trên những mô hình phân cấp, lý thuyết chính trị phù hợp với từng quốc gia, dân tộc Ví dụ như các quốc gia ở Đông Á thường chịu ảnh hưởng chung bởi những tư tưởng của nho giáo, và các vấn đề phát triển nền văn hóa quốc gia cũng lấy tư tưởng này làm trung tâm
1.2.2 Cách tiếp cận của lý thuyết quan hệ quốc tế về quan hệ quốc tế ở Châu Á
Trong các công trình nghiên cứu về vấn đề này ở quốc tế, cần phải kể
đến cuốn sách ―The Oxford Handbook of The international relations of Asia‖
của nhà xuất bản Đại học Oxford [106] Trong một phần tư thế kỷ qua, tầm quan trọng của châu Á trong quan hệ quốc tế đã tăng lên theo cấp số nhân Cuốn Sổ tay này đã tập hợp nhiều công trình của các học giả quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ quốc tế của Châu Á để giải thích, đánh giá sự thay đổi quan trọng của khu vực này trong chính trị thế giới Các biên tập viên và cộng tác viên tập trung vào ba chủ đề cơ bản: đánh giá các lý thuyết thích hợp để giải thích sự phát triển của quan hệ quốc tế của các nước châu Á trong khu vực với phần còn lại của thế giới; đánh giá theo tiến trình lịch sử phát triển của châu Á trong chính trị thế giới; và tập trung vào các xu hướng mới
Trong chương 2 của cuốn sách này với tiêu đề ―Cách tiếp cận lý thuyết‖, các nội dung đã được chia nhỏ theo những cách tiếp cận từ nhiều hệ thống lý thuyết khác nhau về QHQT ở Châu Á Trong đó, có 3 hệ thống lý thuyết được đề cập tới nhiều nhất là CNHT, CNTD và CNKT
Đối với CNHT, Michael Mastanduno [106, pp.29-40] đã chỉ ra 5 luận điểm quan trọng cho sự phát triển quan hệ quốc tế ở Châu Á nói chung gồm: Trật tự khu vực ở châu Á sau Chiến tranh Lạnh đòi hỏi một nền tảng chính trị
(Political Foundation); Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang tạo ra cuộc chuyển
Trang 3027
giao quyền lực tiềm ẩn nguy hiểm; Các quốc gia ở châu Á sẽ hợp tác với nhau
để cân bằng quyền lực và giảm mối đe dọa; Chủ nghĩa Dân tộc và sự đối đầu trong lịch sử vẫn làm tăng khả năng xứng đột ở châu Á; Hợp tác kinh tế là khó khan trong một môi trường an ninh không ổn định Tác giả cũng cho rằng những người theo CNHT thường ít niềm tin đối với những sự ổn định có thể có khác, họ cho rằng các thể chế khu vực như ASEAN, APEC…chỉ mạnh khi có các cường quốc đứng sau chúng Tuy nhiên, họ cũng đánh giá cao nền kinh tế khu vực, sự phụ thuộc lẫn nhau có thể giúp củng cố quan hệ an ninh hòa bình
Stephan Haggard [106, pp.45-59] đánh giá quan hệ quốc tế khu vực dưới góc nhìn của CNTD với những vấn đề chính gồm: Thách thức về tính
không đồng nhất (Heterogeneity) trong hợp tác và ưu đãi của khu vực, thể
hiện bởi cấu trúc chính trị đặc trưng rất đa dạng của từng quốc gia, những khác biệt chính trị này không chỉ giới hạn mức độ mà các chính phủ sẵn sàng hợp tác, ủng hộ các thể chế quốc tế mà còn đặt ra những câu hỏi cơ bản hơn
về triển vọng hòa bình Vấn đề tiếp là các tổ chức quốc tế ở Châu Á – Thái Bình Dương, có sự tồn tại của các hình thức hợp tác lỏng lẻo trong khu vực, thành viên được mở rộng những không đồng nhất, nói cách khác là vẫn có sự hạn chế trong tác dụng đối với việc duy trì hòa bình khu vực của các thể chế ở Châu Á Cuối cùng, là vấn đề về hòa bình thương mại, sự phụ thuộc lẫn nhau
về hợp tác kinh tế ở Châu Á – Thái Bình Dương, tác giả cho rằng, Châu Á đang trở nên hội nhập hơn với chính mình, nhưng hầu như không tự chủ về kinh tế, bản thân các nước Châu Á cũng không muốn như vậy Đối với cả giá trị mậu dịch và lựa chọn chiến lược, hầu hết các quốc gia thương mại lớn ở châu Á phụ thuộc rất nhiều vào Hoa Kỳ và châu Âu cũng như họ dựa vào các quốc gia châu Á khác, bao gồm cả Trung Quốc Ở cấp độ vi mô, mật độ ngày càng tăng của các mạng lưới sản xuất xuyên biên giới (CPN), khiến khó có thể hình dung sự xuất hiện của các thể chế khu vực khép kín hoặc có đủ năng lực lâu dài để tránh Trung Quốc hay một số nước lớn khác thao túng đầu tư và
Trang 3128
quan hệ thương mại vì mục tiêu chiến lược Tuy nhiên, có những lý do lý thuyết và thực nghiệm đúng đắn để tin rằng hội nhập kinh tế có tác động hạn chế hành vi chính sách đối ngoại của các quốc gia Hội nhập kinh tế tạo ra những xung đột riêng và các quốc gia sẽ cố gắng vận dụng các mối quan hệ này để có lợi cho họ Nhưng quỹ đạo của các chính sách quốc gia trong khu vực cho thấy có rất ít rủi ro rằng châu Á có thể rút lui vào một khối kinh tế khép kín Hội nhập kinh tế đang gia tăng ở châu Á, nhưng điều đó bao gồm việc mở rộng đáng kể các mối quan hệ khi cải cách lan rộng và được thu hút vào khu vực năng động
Một lý thuyết quan trọng nữa được sử dụng để đánh giá quan hệ quốc tế trong khu vực là CNKT, David Leheny [106, pp.77-78] cho rằng vẫn có một số vấn đề nan giải đối với các học giả khi xem xét việc sử dụng các lập luận của CNKT trong nghiên cứu về Châu Á CNKT đánh giá không phải từ nhận thức rằng các ý tưởng và bản sắc là quan trọng, mà là từ sự thừa nhận rằng những ý tưởng và bản sắc này được xây dựng và tái tạo về mặt xã hội cũng như sự tác động của chúng tới chính sách quan hệ quốc tế của các quốc gia Trong trường hợp Châu Á, các học giả đã xem xét sự khác biệt của khu vực này với phần còn lại của thế giới, những vấn đề đã được đặt ra dưới góc nhìn của lý thuyết CNKT như khung tôn giáo, quan niệm văn hóa, quan niệm nhân quả hoặc tri thức cũng có nhiều sự khác biệt Tuy nhiên, tác giả cho rằng Châu Á hay bất kỳ khu vực nào trên thế giới đều được xây dựng trên một nền tảng ―xã hội‖ – một phạm trù khái niệm mà người ta gắn những ý nghĩa đấu tranh, tranh giành giữa các cá thể Cuối cùng, mục tiêu của CNKT không phải nằm ở chỗ đánh giá sự thay đổi ở khu vực này mà là cách thức những quốc gia ở Châu Á tương tác và giải quyết sự xung đột dựa trên ―bản sắc‖ riêng của họ
Trong nghiên cứu về an ninh Đông Nam Á dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tân tự do, Sheldon W.Simon [110] đánh giá CNHT và chủ nghĩa tân tự do là hai trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế,
Trang 3229
đưa ra những giải thích về hành vi cạnh tranh của nhà nước trong hệ thống quốc tế Các nhà nghiên cứu tin rằng sự hợp tác giữa các quốc gia sẽ tạo ra các tổ chức và thể chế đối với việc giải quyết hòa bình các xung đột Các lập luận trước Chiến tranh lạnh cho rằng chỉ có ―tự giúp đỡ‖ (việc tăng cường khả năng quân sự nhà nước) mới có thể đảm bảo rằng lợi ích nhà nước sẽ được bảo vệ Tuy nhiên, khi xem xét lại các chính sách an ninh Đông Nam Á từ sau Chiến tranh lạnh cho thấy rằng cả hai mô hình có khả năng cùng tồn tại khi các thành viên trong khu vực đều tự chủ động nâng cao năng lực quân sự của
cá nhân mình vì các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, đồng thời tham gia vào các thỏa thuận hợp tác mới như Diễn đàn Khu vực ASEAN Trong đó, ARF đã bắt đầu như một thể chế để thảo luận và bình ổn xung đột giữa các quốc gia Đông Nam Á và các cường quốc bên Ngoài với hy vọng rằng đặc tính tổng bằng 0 của CNHT thuần túy có thể được vượt qua
Khi xem xét con đường ASEAN trên lĩnh vực văn hóa và an ninh dưới góc nhìn của chủ nghĩa đa phương, Amitav Acharya [51] cho rằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang phát triển một ―bản sắc văn hóa chung‖ độc đáo về an ninh khu vực; một sự kết hợp trên nguyên tắc quan hệ quốc tế của Đông và Tây Nó kết hợp cả hai khái niệm phương Tây (ví dụ, chủ quyền quốc gia cũng như thể chế khu vực) và quan điểm của phương Đông, chỉ có một vài sự khác biệt về quản lý Đây cũng là một mô hình QHQT tốt nhất hiện nay, được tìm thấy ở Đông Nam Á
Bàn về CNKT và an ninh Đông Nam Á, Nikolas Busse [98] nhận định nhiều học giả đi trước đã nghiên cứu và chỉ ra rằng Đông Nam Á là một trường hợp của CNHT Các luận điểm tự giúp đỡ và cân bằng của cán cân quyền lực thường được coi là những yếu tố chính hình thành quan hệ khu vực Trong công trình của mình, Nikolas Busse đã phản biện lại những luận điểm này bằng cách giới thiệu CNKT như một khung lý thuyết thay thế Theo đó, Lập luận chính là trong khu vực Đông Nam Á, các thành viên sáng lập của
Trang 3330
ASEAN, đã rời xa sự cân bằng thuần túy về chính trị quyền lực trong hành vi quốc tế của họ Các quốc gia này đã thiết lập thành công quy tắc ứng xử khu vực xoay quanh các chuẩn mực như không sử dụng vũ lực, không can thiệp
và tính phi chính thức trong quản lý xung đột Điểm cốt yếu là việc tuân thủ các quy tắc này theo thời gian đã dẫn đến sự xuất hiện của một bản sắc chung giữa các thành viên của Hiệp hội: quy tắc ứng xử đã trở thành một phần không thể thiếu trong chính sách đối ngoại của các quốc gia ASEAN và ngày nay đang được coi là một cơ sở của ―lợi ích quốc gia‖ mà họ theo đuổi Kết quả là, các quốc gia này đã loại bỏ nhiều chiến lược mà CNHT đề xuất khỏi chương trình nghị sự chính sách đối ngoại của họ, chẳng hạn như phòng chống xung đột vũ trang hoặc xây dựng liên minh chống lại bên ngoài
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 và những rối loạn chính trị và xã hội ở một số quốc gia không chỉ khiến an ninh khu vực bị đe dọa mà còn thách thức nghiêm trọng đến vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong các vấn đề khu vực Công trình của KaiHe [90] giới thiệu một lý thuyết thể chế mới (CNHT thể chế) để giải quyết các câu hỏi được tranh luận rộng rãi: ASEAN có quan trọng không? Nếu vậy, làm thế nào? Nó lập luận rằng (1) ASEAN vẫn còn vấn đề về đối phó với các mối đe dọa ngoài khu vực thông qua một chiến lược cân bằng thể chế; (2) Tương lai của ASEAN phụ thuộc vào việc củng cố thể chế trong việc giải quyết các vấn đề
an ninh nội khối Trong đó, ông cũng đề cao vai trò của thể chế, coi đó như một nhân tố quan trọng có tác động tới quan hệ quốc tế giữa những quốc gia trong khu vực ASEAN
Cuộc tranh luận hậu Chiến tranh lạnh giữa các nhà lý thuyết thực chứng
và hậu thực chứng về an ninh quốc tế, đặc biệt là những người theo CNHT, những người theo CNTD và những người theo CNKT vẫn chưa giảm bớt Cả hai CNHT và CNKT hiện nay đã được các học giả sử dụng để phản biện lẫn nhau trong nhiều nghiên cứu về an ninh khu vực Đông Nam Á Sorpong Peou
Trang 3431
[111] đã phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về an ninh Đông Nam Á theo trục lịch sử Trong nghiên cứu này, ông đánh giá các tác phẩm chính của hai nhà khoa học chính trị hàng đầu: Michael Leifer, một giáo sư tại Trường Kinh tế London và Khoa học Chính trị và một người hiện thực và Amitav Acharya, một giáo sư tại Đại học York và là một nhà kiến tạo Bài viết tổng quan này đưa ra lập luận sau: thuyết kiến tạo sâu sắc hơn CNHT đối với vấn đề cân bằng quyền lực, nhưng nó có nhiều khả năng phù hợp với vấn
đề cân bằng các mối đe dọa phức tạp khác, một dạng của chủ nghĩa hiện thực
―tối giản‖ hoặc ―mềm mại‖, mà có thể giúp giải thích các nhiệm vụ khó khăn của việc xây dựng cộng đồng an ninh chung
Một nghiên cứu khác của Acharya [55] lại đánh giá đóng góp của Michael Leifer trong việc nghiên cứu chủ nghĩa khu vực ở Đông Nam Á, đặc biệt là vai trò của ASEAN và Diễn đàn Khu vực ASEAN Theo ông đánh giá thì Leifer là không phải chỉ một người theo CNHT hay một người theo chủ nghĩa tân hiện thực, người hoàn toàn bác bỏ vai trò của ASEAN trong trật tự khu vực Bài báo này lập luận rằng sự khác biệt thực sự giữa cách hiểu của Leifer và những người theo CNKT mới hơn về Đông Nam Á không nằm ở việc liệu chủ nghĩa khu vực có quan trọng hay không, mà là đánh giá trong những điều kiện nào thì nó vẫn quan trọng Leifer coi các lực lượng vật chất, chẳng hạn như sự tồn tại trước đây của sự cân bằng quyền lực lớn là điều kiện tiên quyết để chủ nghĩa khu vực hiệu quả Ông ít chú ý đến các động lực chuẩn mực và chính trị của việc hình thành bản sắc khu vực Ông không coi
họ là lực lượng độc lập trong trật tự khu vực Bài báo này lập luận rằng việc
áp dụng cách tiếp cận xã hội học, bao gồm vai trò của các chuẩn mực khu vực
và sự hình thành bản sắc mang lại lời giải thích đầy đủ hơn về những thành tựu và thất bại của ASEAN so với các nghiên cứu của Leifer khi tập trung vào cán cân quyền lực Điều này cũng mở ra không gian cho sự hiểu biết mang tính chuyển đổi hơn về trật tự an ninh châu Á, trong đó xã hội hóa và xây
Trang 3532
dựng thể chế không chỉ được coi là những yếu tố bổ trợ cho sự cân bằng của động lực quyền lực, mà còn là những tác nhân tạo nên sự cân bằng quyền lực trong khu vực.‖
Đánh giá quan hệ quốc tế khu vực dưới góc nhìn của chủ nghĩa tân hiện thực và CNKT, Sharah Eaton & Richard Stubbs [109] đặt câu hỏi: ―ASEAN có quyền lực không?‖ Lập luận được đưa ra rằng có sự chia rẽ về câu hỏi này giữa hai nhóm học giả lớn được gọi là ―tân hiện thực‖ (bao gồm cả những người theo chủ nghĩa hiện thực) và ―những người theo chủ nghĩa kiến tạo‖ Tập trung chú ý vào câu hỏi này rất hữu ích vì nó giúp đưa ra quan điểm chung dựa trên cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa kiến tạo và những người theo chủ nghĩa tân hiện thực trong các đánh giá của họ về ASEAN
1.2.3 Những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do
và Chủ nghĩa Kiến tạo
Mỗi trường phải lý thuyết đều trải qua một thời gian dài xây dựng và phát triển Theo đó, các luận điểm của từng lý thuyết đều được cập nhật theo thời gian để phù hợp với sự biến chuyển trong thực tiễn Đã có rất nhiều công trình của nước ngoài tổng hợp và hệ thống lại những luận điểm của các hệ thông lý thuyết này Tuy nhiên, để lựa chọn một công trình có tính cập nhật
và phù hợp với nghiên cứu của mình, NCS sẽ điểm lại những luận điểm cơ
bản của 3 trường phải lý thuyết thông qua cuốn sách ―Lý thuyết quan hệ quốc tế‖ của tác giả Hoàng Khắc Nam chủ biên, xuất bản năm 2017[24]
Chủ nghĩa hiện thực
CNHT quan tâm chủ yếu tới các nhân tố quy định hành vi và quan hệ giữa các quốc gia trong QHQT hơn là việc các quốc gia hành động như thế nào Các lý luận và luận điểm của nó được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định Các cơ sở này bao gồm quan hệ về môi trường vô chính phủ bất biến, vai trò chủ thể cơ bản của quốc gia, bản chất của con người, chủ nghĩa duy vật, thực tiễn lịch sử chiến tranh và xung đột, hệ thống
Trang 36- Sống trong môi trường vô chính phủ vốn không ai lo cho mình, sống trong sự cạnh tranh thường xuyên với các quốc gia khác, quốc gia phải tự lực hay tự cứu mình (self-help) chứ không thể trông mong vào sự giúp đỡ của một chính quyền nào đó ở trên như công dân trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước bên trong quốc gia
- Cũng bởi quốc gia có lý trí nên nó hiểu được rằng để tồn tại được trong
môi trường như vậy, quốc gia cần phải có quyền lực (Power) Chủ nghĩa Hiện
thực coi quyền lực như sự cứu cánh của quốc gia trong thế giới vô chính phủ
- Vì bản chất vô chính phủ của thế giới và luôn sống trong môi trường cạnh tranh, vì nhu cầu quyền lực tất yếu của quốc gia, nên mọi quốc gia đều tìm cách có được quyền lực để bảo vệ chủ quyền và lợi ích cũng như đảm bảo sự tồn tại lâu dài của mình Do đó, mọi quốc gia đều theo đuổi quyền lực trên trường quốc tế và vì thế nền chính trị quốc tế sẽ là ―cuộc đấu tranh
vì quyền lực‖
- Bởi quyền lực là thứ quốc gia nào cũng muốn và không có giới hạn do quốc gia không bao giờ hài lòng với quyền lực mình đang có cho nên quan hệ quyền lực là luôn biến động Bởi sự gia tăng quyền lực được thực hiện chỉ bằng hai cách hoặc mình mạnh lên hoặc làm đối phương yếu đi nên đấu tranh quyền lực là không tránh khỏi trong quan hệ giữa các quốc gia
- Do quan niệm coi xung đột là tuyệt đối, là bản chất nên Chủ nghĩa Hiện thực nhìn hợp tác trong QHQT chỉ là tương đối và hiện tượng chứ không hẳn là quá trình Hợp tác được coi là trạng thái ngưng nghỉ trước khi
Trang 37- Bởi quyền lực gắn liền với sức mạnh và an ninh nên lực lượng quân
sự được coi là thành tố quyền lực quan trọng nhất
- Tình trạng xung đột và chiến tranh vì quyền lực có thể được hạn chế bằng việc thiết lập cân bằng quyền lực chứ không phải bằng luật pháp quốc tế
quốc tế (International System)
Từ các luận điểm trên, có thể tóm lược nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Hiện thực như sau: Sống trong môi trường vô chính phủ, quốc gia buộc phải mưu tìm quyền lực để cạnh tranh nhằm đảm bảo an ninh cho mình Vì thế, xung đột sẽ là thường xuyên trong QHQT
Chủ nghĩa Tự do
CNTD là cách giải thích QHQT có tính ―khả biến‖ theo hướng tiến bộ hơn khác với CNHT vốn coi đó là sự ―bất biến‖ Sự tiến bộ này được coi là sự phát triển của hợp tác ngày càng thay thế cho xng đột trong QHQT Hướng đi này của CNTD được xây dựng trên một số cơ sở lý luận và thực tiễn Các cơ sở này bao gồm quan niệm về mối quan hệ giữa môi trường vô chính phủ và xung đột trong QHQT, tính đa nguyên về chủ thể QHQT, bản chất của con người, chủ nghĩa duy vật kết hợp duy tâm chủ quan, quan điểm về sự vận động của
Trang 3835
thực tiễn lịch sử, quan niệm về tự do Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn
đó, CNTD có những luận điểm cơ bản về QHQT [24, tr.64-78] như sau:
- Chủ nghĩa Tự do cho rằng trong QHQT, bên cạnh quốc gia còn các
chủ thể phi quốc gia (Nonstate Actor) Các chủ thể phi quốc gia đang tham gia
ngày càng nhiều vào QHQT với vai trò ngày càng tăng
- QHQT chịu tác động đáng kể của nhiều yếu tố đối nội (Domestic Factors)
- Bên cạnh đó, Chủ nghĩa Tự do cũng coi quốc gia là chủ thể duy lý
(Rational Actor)
- Lợi ích quốc gia (National Interest) là đa dạng và QHQT là đa lĩnh
vực Sự đa dạng lợi ích này được quy định bởi quốc gia được cấu thành từ nhiều nhóm lợi ích khác nhau và bởi sự đa dạng trong lợi ích con người
- Trong các lợi ích của con người và quốc gia, có cả lợi ích riêng và lợi ích chung Do đó, Chủ nghĩa Tự do cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa người với người và từ đó là khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau
- Theo Chủ nghĩa Tự do, xung đột không phải là hình thái QHQT duy nhất trong môi trường vô chính phủ (Anarchy) Vẫn có chỗ cho hợp tác trong môi trường vô chính phủ
- Hợp tác (Cooperation) sẽ ngày càng tăng, ngày càng thay thế dần cho
xung đột và trở thành xu thế chính trong QHQT
- Chủ nghĩa Tự do cho rằng hợp tác chính là xu hướng phát triển của lịch sử QHQT thế giới Xu thế hợp tác phát triển không chỉ về bề rộng mà còn
về bề sâu với sự phát triển của hội nhập quốc tế (Integration)
- Chủ nghĩa Tự do đề ra nhiều phương cách để thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT Đầu tiên là dân chủ tự do
(Liberal Democracy), sau này đã được phát triển thành thuyết Hòa bình dân chủ (Democratic Peace)
Trang 3936
- An ninh tập thể (Collective Security) là một phương cách khác Nó
được đưa ra bởi những người theo trường phái Chủ nghĩa Lý tưởng An ninh tập thể có nghĩa là an ninh được nhận thức là vấn đề có tính tập thể và bảo vệ
an ninh là trách nhiệm của tập thể hơn là của cá nhân quốc gia nào đó
- Chủ nghĩa Tự do, nhất là những người dựa trên Chủ nghĩa Tự do
kinh tế, cũng coi phát triển kinh tế thị trường (Market Ecomomy) như phương
cách quan trọng để thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT
- Bên cạnh đó, kinh tế thị trường phát triển còn đem lại một thực tế khác nữa rất có ý nghĩa đối với hòa bình và hợp tác trong QHQT Đó là sự
phụ thuộc lẫn nhau (Interdependence)
- Chủ nghĩa Tự do, nhất là những người dựa trên Chủ nghĩa Tự do có
điều tiết, cũng đề cập đến vai trò của luật pháp quốc tế (International Law)
như phương cách khác dù không quá đề cao như dân chủ tự do, kinh tế thị trường hay thể chế quốc tế
- Trường phái quan trọng nhất của Chủ nghĩa Tự do là Chủ nghĩa Tự do
Mới đặc biệt đề cao vai trò của thể chế quốc tế (International Institution) như
phương án chủ yếu để xây dựng và sắp xếp lại QHQT theo tinh thần của lý thuyết này
- Chủ nghĩa Tự do Mới cũng thừa nhận sự tồn tại của hệ thống quốc tế
(International System) nhưng không đánh giá cao vai trò đối với QHQT
Nhìn chung, hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Tự do phức tạp và đa dạng hơn Chủ nghĩa Hiện thực Lý thuyết này không chỉ xuất phát từ những luận điểm ban đầu mà còn có sự phát triển thêm qua cuộc tranh luận với Chủ nghĩa Hiện thực Không những thế, Chủ nghĩa Tự do còn có sự bổ sung từ nhiều lý thuyết thuộc các ngành học khác cũng như từ những thay đổi của thực tiễn QHQT trong thời hiện đại
Trang 4037
Chủ nghĩa Kiến tạo
CNKT được đưa vào QHQT tương đối muộn so với các lý thuyết chính thống khác như CNHT hay CNTD Tuy nhiên, CNKT đã từng bước hoàn thiện được một hệ thống lý thuyết tương đối hoàn thiện về QHQT Điều này được thể hiện thông qua một số cơ sở của một lý thuyết như bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận cũng như hệ thống quan điểm về các vấn
đề trong QHQT CNKT xác định vị trí của mình trong hệ thống các lý thuyết QHQT khác thông qua một số quan điểm chính về các chủ đề cơ bản trong QHQT [24, tr.97-107] như sau:
- Các quy chuẩn mang tính tạo dựng sẽ xác định bản sắc bằng việc cụ thể hóa các hành động khiến các chủ thể khác thừa nhận bản sắc đó và có phản ứng tương thích Các cấu trúc vật chất sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành bản sắc và lợi ích của chủ thể thông qua ba cơ chế là: hình dung, tương tác và kiềm chế
- Chủ nghĩa Kiến tạo cho rằng vô chính phủ được hình thành bởi việc thực hành các quy chuẩn có tính chất tạo dựng và thực hành xã hội của chủ thể
- Chủ nghĩa Kiến tạo xem lợi ích như một nhân tố quan trọng để hiểu
về hành vi và hành động của chủ thể Những kỳ vọng về hành động giữa các quốc gia đòi hỏi phải có những bản sắc liên chủ thể tương đối ổn định để bảo đảm những phương thức hành động có thể dự đoán được Bản sắc của quốc gia sẽ hàm ý những ưu tiên và hành động đi kèm của quốc gia đó
- Chủ nghĩa Kiến tạo lập luận rằng quyền lực vật chất và quyền lực phi vật chất đều quan trọng như nhau trong cách hiểu về chính trị quốc tế Chủ nghĩa Kiến tạo đặc biệt nhấn mạnh đến quyền lực phi vật chất hay còn gọi là quyền lực của những thực hành xã hội
- Chủ nghĩa Kiến tạo có quan điểm bất khả tri về thay đổi trong chính trị quốc tế Chủ nghĩa Kiến tạo cho rằng vô chính phủ là do các quốc gia tạo
ra Điều này hàm ý rằng có nhiều cách hiểu khác nhau về vô chính phủ và