1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ 1995 đến nay

99 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 711,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách cụ thể, chuyên sâu về quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với TháiLan, chỉ có những nghiên cứu mang tính chất toàn diện trên t

Trang 1

sử Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang có nhiều biến đổi, xu thế toàncầu hoá và đa cực hoá thế giới đang diễn ra nhanh chóng, nhu cầu về sự liên kếtgiữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung và giữa từng quốc gia vớinhau nói riêng đang trở nên rất cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia.

Chưa đầy 20 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới (1986),Đảng và nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, trở ngại đưanước ta dần dần đi vào ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế và hòa nhập vàonền kinh tế thế giới Về mặt đối ngoại, Đảng ta tiếp tục thực hiện chính sách đốingoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoạivới phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới".Chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia lớn nhỏ trong khu vựccũng như ngoài khu vực, đặc biệt là tăng cường quan hệ với các nước láng giềngtrong khối ASEAN trong đó có Thái Lan

Trên thực tế, Thái Lan có quan hệ rất sớm với Việt Nam Việt Nam và TháiLan cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, hai nước láng giềng dù không liền núi,không liền sông, không chung một đường biên giới nhưng có vị trí gần nhau, chỉ cáchnước Lào và Campuchia Hai nước đã có quan hệ lâu đời trên mọi mặt trong đó cóquan hệ kinh tế thương mại Trải qua quá trình lịch sử, với nhiều sự thay đổi Nhìnchung mối quan hệ này chưa có sự phát triển Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đổimới, mối quan hệ này dần dần được thay đổi Đặc biệt là từ sau khi Việt Nam gianhập ASEAN (1995), quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan thực sự đivào chiều sâu Từ đó tới nay Thái Lan luôn là một trong các bạn hàng lớn nhất của

Trang 2

Việt Nam Thái Lan đã khẳng định tầm quan trọng của mình trong mối quan hệ hợptác với Việt Nam Và mối quan hệ hữu nghị hợp tác về kinh tế thương mại giữa ViệtNam và Thái Lan ngày càng lớn mạnh Thực tế cho thấy trong những năm gần đây,Thái Lan luôn là một trong 10 nước và vùng lãnh thổ dẫn đầu về đầu tư nước ngoàitại Việt Nam, với khoảng 112 dự án còn hiệu lực có tổng vốn đầu tư đăng kí khoảng1.168 triệu USD Thái Lan là nước ASEAN lớn thứ 2 đầu tư tại Việt Nam, chỉ sauSingapo

Có thể nói, nghiên cứu quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan,chẳng những giúp chúng ta hiểu sâu sắc thêm mối quan hệ kinh tế thương mại ViệtNam với Thái Lan, mà còn hiểu hơn mối quan hệ Việt Nam với các nước trong khuvực và trên thế giới

Bên cạnh đó, nghiên cứu quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với TháiLan còn góp phần giúp ta hiểu được tình hình quan hệ Việt Nam và Thái Lan,những thành tựu, cũng như những hạn chế của mối quan hệ này Từ đó thấy đượcvai trò và những tác động của quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan đốivới nền kinh tế Việt Nam Đồng thời, nó cũng phản ánh tình hình quan hệ kinh tế,ngoại giao Việt Nam và Thái Lan trong thời kỳ này Trên cơ sở đó, góp phần đánhgiá khái quát về chính sách, vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, vai trò của cácdoanh nghiệp thương mại Việt Nam và Thái Lan Từ đó, rút ra những bài học kinhnghiệm phục vụ phát triển kinh tế thương mại giữa Việt Nam với Thái Lan tronggiai đoạn tiếp theo

Nghiên cứu quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan, ta có thêm tưliệu lịch sử nghiên cứu, biên soạn, dạy và học về mối quan hệ Việt Nam với Thái Lan,Việt Nam với khu vực và trên thế giới trong thời kỳ đổi mới Đề tài này còn là tài liệutham khảo góp phần giáo dục truyền thống đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và TháiLan cho thế hệ trẻ, cũng như nhân dân cả nước

Ngày nay thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, đòi hỏi sự hội nhậpkinh tế với quốc tế nói chung và Thái Lan nói riêng ngày càng tăng, nghiên cứu đềtài này còn góp phần hoạch định chính sách của Việt Nam với Thái Lan cho hiệu

Trang 3

quả hơn “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ 1995 đến nay ” là

một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Vì thế tôi chọn đề tài này làm đề tàikhóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan đóng một tầm quan trọngvào sự phát triển kinh tế của nước ta Ngay khi hai nước bình thường hoá quan hệ vàonăm 1976 thì vấn đề quan hệ giữa hai nước được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý.Nhất là khi Việt Nam gia nhập ASEAN thì mối quan hệ này đã được các tác giả, báo,tạp chí… Tập trung nghiên cứu Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách cụ thể, chuyên sâu về quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với TháiLan, chỉ có những nghiên cứu mang tính chất toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao hoặc nghiên cứu về sự phát triển mối quan hệ hainước Có thể dẫn ra một cách cụ thể một số công trình nghiên cứu đã được công bốsau:

Nguyễn Tương Lai (chủ biên) Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong thập kỷ

90 Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2001.

Tác giả trình bày một cách rõ nét những nhân tố tác động đến quan hệ hainước, cũng như nội dung của quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên các phương diệnchính trị, ngoại giao và kinh tế; đồng thời tác giả cũng định đoán tương lai của mốiquan hệ Việt Nam – Thái Lan Nhưng đó là mối quan hệ từ 1989 – 1999, trong cáclĩnh vực nêu trên, phần quan hệ ngoại giao được tác giả chú trọng hơn cả Các vấn

đề được tác giả đề cập sâu là những vấn đề liên quan đến chính trị, ngoại giao củahai nước như quan hệ trong thời kỳ phong kiến giữa các vương triều, chuyến thămngoại giao của các thủ tướng, lãnh đạo cấp cao giữa hai nước, giải quyết các vấn đềgiữa hai bên: vấn đề vịnh Thái Lan, vấn đề thềm lục địa, vấn đề lập lại trật tự trênbiển, Việt Kiều ở Thái Lan… Còn phần kinh tế được tóm lược ngắn gọn trong phầnnói về kinh tế Các vấn đề cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu của Việt Nam với TháiLan, kim ngạch xuất - nhập cũng chưa được nói rõ Hơn nữa trong khi trình bàynhững nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam – Thái Lan, tác giả trình bày nhiều

Trang 4

về tác động của Mỹ, Nhật đối với Đông Nam Á mà chưa đề cập đến sự chuyển biếnchung của thế giới, khu vực và sự chuyển biến nội tại hai nước để cho hai nước xíchlại gần nhau không chỉ trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao mà cả lĩnh vực kinh tế

Trong cuốn: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1976 – 2000 của tác giả

Hoàng Khắc Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đề cập đến mối quan hệsong phương Việt Nam – Thái Lan một cách toàn diện trên cả 3 lĩnh vực kinh tế,chính trị, ngoại giao Trong đó đi sâu lý giải về mối quan hệ hai nước trong từnggiai đoạn chịu sự chi phối của bối cảnh quốc tế và khu vực Thông qua các giaiđoạn đó tác giả khẳng định mối quan hệ này là một quá trình phát triển Đồng thờitác giả cũng mở rộng hơn tìm hiểu về mối quan hệ Việt Nam – ASEAN để hiểu rõhơn về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan Tuy nhiên tác giả chỉ đề cập đến mốiquan hệ này trong thời kỳ 1976 – 2000, còn giai đoạn từ 2000 đến nay chưa đề cậpđến Hay vấn đề quan hệ thương mại chưa được nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ, ởmỗi một thời kỳ tác giả đề cập quan hệ thương mại song phương, nhưng chưa đi sâuphân tích quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, chỉ trình bày những nét kháiquát Các vấn đề như kim ngạch xuất, nhập khẩu, cơ cấu hàng hóa xuất, nhập khẩuchưa được tác giả đi sâu phân tích, cần được bổ sung bằng các nguồn tài liệu khác

TS Vũ Phạm Quyết Thắng với cuốn: Kinh tế đối ngoại Việt Nam Nxb Thống

kê, 1994 Tác giả đề cập đến mối quan hệ Việt Nam với các nước ở các khu vựctrên thế giới Công trình này nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế đối ngoại của ViệtNam, nó bao gồm có lĩnh vực thương mại, đầu tư, dịch vụ, du lịch và tập trungnhiều vào nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cácnước, đồng thời tác giả cũng đưa ra những giải pháp thúc đẩy mối quan hệ đối ngoạicủa Việt Nam phát triển hơn trong tương lai Trong cuốn sách này tác giả chỉ đề cậpmột cách sơ lược quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các khu vực chứ không đivào cụ thể với một nước nào

Bên cạnh những cuốn sách, còn có một số bài báo, Tạp chí nghiên cứu về mốiquan hệ Việt Nam – Thái Lan như:

Trang 5

Nguyễn Thị Hoàn Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 1, 2005 Tác giả trình bày khái quát

về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao

và khoa học kỹ thuật Về kinh tế, tác giả trình bày sơ lược sự chuyển biến trongbuôn bán hai chiều từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976 đến năm 2004,những xu hướng cải thiện quan hệ của cả hai nước để thúc đẩy kinh tế phát triểnnhư Thái Lan ủng hộ sáng kiến của Việt Nam phát triển hành lang Đông – Tây, nốicác tỉnh Đông Bắc Thái Lan qua Lào sang cảng biển miền Trung Việt Nam, gópphần phát triển các khu vực này Về văn hóa, khoa học kỹ thuật và ngoại giao, tácgiả chỉ trình bày tóm lược, nêu lên ý nghĩa của những mối quan hệ này

Tiếp đó tác giả viết tiếp bài: 30 năm quan hệ hợp tác Việt Nam – Thái Lan, tạp

chí nghiên cứu Đông Nam Á số 5, 2005 Bài viếtnày thực chất là sự tiếp nối của bài:

Vài nét về quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả đi

sâu phân tích về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên các lĩnh vực, đề cập thêmlĩnh vực văn hóa giáo dục Trong đó, đặc biệt chú trọng lĩnh vực quan hệ chính trị,ngoại giao, là những chuyến viếng thăm của các phái đoàn cấp cao của Chính phủhai nước…

Hầu hết những bài báo, Tạp chí đề cập đến mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan,song thông tin cụ thể về mối quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan còn ít, hầunhư chỉ nói sơ lược về mối quan hệ chính trị, ngoại giao

Như vậy cho đến nay dù quan hệ Việt – Thái đã được nghiên cứu, nhưng người

ta chủ yếu nghiên cứu về chính trị, văn hóa, còn kinh tế thương mại được trình bàycòn sơ lược, chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về quan hệkinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ năm 1995 đến nay Vì vậy, tôi mạnh dạnchọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế thương mại

của Việt Nam với Thái Lan

Trang 6

* Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở nguồn sử liệu, công trình nghiên cứu về tình

hình, thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn

1995 đến nay, về các mặt như: chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạtđộng thương mại, những thành tựu cũng như những hạn chế tác động đến mối quan

hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan

Trên cơ sở đó đánh giá khách quan, khoa học về đường lối chính sách kinh tếđối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Thái Lan, Việt Nam với cácnước trong khu vực và trên thế giới Đồng thời thấy được vai trò của các doanhnhân, doanh nghiệp quan hệ với Thái Lan

Cuối cùng nghiên cứu quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan đểrút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần thúc đẩy không chỉ quan hệ kinh tếthương mại Việt Nam với Thái Lan, mà còn thúc đẩy quan hệ đối ngoại giữa ViệtNam với các nước khác

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

- Ở đề tài này, tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tài liệu để nghiên cứu đề tài

+ Văn kiện Đảng, Nhà nước về “kinh tế đối ngoại”, “ngoại thương” trong thời

kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế

+ Tài liệu lưu trữ, Tạp chí, Báo cáo, thống kê tình hình thương mại Việt Namvới thế giới và Thái Lan những năm 1995 – 2010 của Bộ Công Thương, Cục HảiQuan Việt Nam, Tổng cục Thống kê…

+ Các sách, báo cáo nghiên cứu khoa học về ngoại thương, quan hệ kinh tếthương mại Việt Nam với Thái Lan, cung cấp cho những tài liệu để nghiên cứu đềtài, đồng thời để so sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài

Trang 7

Ngoài ra, tôi cũng tiến hành chọn lọc, phân tích những tin về quan hệ kinh tếthương mại Việt Nam với Thái Lan trên trang Web lấy từ Nguồn tin của Bộ Ngoạigiao, Bộ Công thương…

- Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu khoahọc là: phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc Trong đó phương pháp lịch

sử là chủ yếu Đồng thời sử dụng kết hợp với các phương pháp khác khi nghiên cứu như:

so sánh, phân tích tổng hợp, toán học thống kê…

Là đề tài nghiên cứu khoa học lịch sử nên tôi rất chú trọng làm tốt công tác tưliệu lịch sử, để đề tài của mình có hiệu quả hơn

5 Đóng góp của đề tài khóa luận

Nghiên cứu Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan nhằm làm rõmột số vấn đề như:

+ Khóa luận là đề tài nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, toàn diện về mốiquan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan từ 1995 đến nay, với những thànhtựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó

+ Góp phần đánh giá khách quan về mối quan hệ kinh tế thương mại ViệtNam với Thái Lan từ 1995 đến nay, để thấy được sự đúng đắn, sáng tạo về chínhsách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước

+ Rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ cho phát triển kinh tế thươngmại Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn mới

+ Đề tài còn góp phần cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu, học tập lịch sử ViệtNam từ 1986 đến nay

6 Bố cục đề tài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục những chữ viết tắt trong khóaluận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát tình hình quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Thái

Lan trong lịch sử từ năm 1995 trở về trước

Chương 2: Tình hình quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Thái Lan

từ năm 1995 đến nay

Trang 8

Chương 3: Nhận xét về quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam với Thái Lan từ

năm 1995 đến nay và một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển quan hệ kinh tếthương mại Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn tiếp theo

Trang 9

B NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM - THÁI LAN TRONG LỊCH SỬ TỪ NĂM 1995 TRỞ VỀ TRƯỚC

1.1 Tổng quan về đất nước Thái Lan

1.1.1 Vị trí địa lý

Thái Lan là một trong những nước lớn của khu vực Đông Nam Á Phía Bắcgiáp Lào và Myanma, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giáp vịnh TháiLan và Malaysia, phía Tây giáp Myanma và biển Andaman Lãnh hải Thái Lan phíaĐông Nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp vớilãnh hải Indonesia và Ấn Độ ở biển Andaman

Thái Lan có khí hậu nhiệt đới gió mùa và có 4 mùa rõ rệt : Mùa khô kéo dài

từ tháng 1 đến tháng 2, mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6 đếntháng 10, mùa mát từ tháng 11 đến tháng 12 Trong đó mưa nhiều nhất (90%) xảy ravào mùa mưa Nhiệt độ trung bình của thời tiết Thái Lan cao hơn Việt Nam, nhiệt

độ thường từ 320C vào tháng 12 và lên tới 350C vào tháng 4 hàng năm.

Với diện tích 513.000 km² (tương đương diện tích Việt Nam cộng với Lào),Thái Lan xếp thứ 50 trên thế giới về diện tích, rộng thứ 3 tại Đông Nam Á, sauIndonesia và Myanma

Thái Lan là mái nhà chung của một số vùng địa lý khác nhau, tương ứng vớicác vùng kinh tế Phía Bắc có địa hình đồi núi, với điểm cao nhất (2.576 m) là Doi Inthanon Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên về phíaĐông là sông Mê Kông đây là vùng trồng nhiều sắn nhất của Thái Lan do khí hậu

và đất đai phù hợp với cây sắn Trung tâm của đất nước chủ yếu là vùng đồng bằngsông Chao Phraya đổ ra vịnh Thái Lan Miền Nam là eo đất Kra mở rộng dần vềphía bán đảo Mã Lai

1.1.2 Dân số, văn hóa và xã hội

- Dân số

Trang 10

Thái Lan là một nước đông dân ở Đông Nam Á với khoảng 67 triệu người,với 80% là người Thái, 10% người Hoa, 4% người Mã Lai cùng với các dân tộc ítngười Lào, Môn, Khmer, và Ấn Độ Sự đa dạng sắc tộc cho thấy đất nước này từ rấtlâu đã là giao lộ quan trọng trong vùng Đông Nam Á Người Thái thân thiện vàkhoan dung với một lòng tôn sùng đức tin Phật giáo

- Văn hóa – xã hội

+ Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại gọi Thái Lan là "Đất nước củanhững vị sư áo vàng" Điều này đã phản ánh vai trò mang nhiều ý nghĩa của tôngiáo trong đời sống văn hóa xã hội của người dân Thái Lan

Khoảng 95% dân số Thái Lan theo Đạo Phật, chủ yếu là theo trường pháiHinđu Đạo Phật và những nghi lễ của Đạo Phật đã đóng một vai trò quan trọngtrong xã hội Thái hơn 700 năm qua

Từ xưa các vị sư đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục.Các trường học đầu tiên ở Thái Lan đều được xây dựng trên mảnh đất của nhà chùa

và các vị sư ngoài bổn phận của người tu hành, họ còn dạy trẻ em địa phương họcđọc, học viết và đạo làm người

Đạo Phật là một phần không thể tách rời của người dân Thái Lan bởi vìchính Đạo Phật đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các giai đoạn của đờingười như ra đời, cưới xin, ma chay Điều đặc biệt là Đạo Phật dạy những ngườitheo Đạo phải tu nhân tích đức, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác và hạn chế bớtnhững dục vọng của con người

+ Hiện nay, khi mà sự bùng nổ công nghiệp ở Thái Lan đang diễn ra với mộtcường độ vô cùng mạnh mẽ, Chính phủ lại can thiệp quá ít nên không thể khôngxuất hiện những cơn sốt làm rung chuyển tận gốc rễ nền văn hóa xã hội (môi trường

bị hủy hoại; sự phân hóa giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn gia tăng;

sự phân tầng xã hội sâu sắc; nạn mại dâm lan rộng; giới quân sự bị tước bỏ độcquyền chính trị, và sự bùng nổ kinh doanh đã làm giới doanh nghiệp trở thành lựclượng chính của sự vận động xã hội)

Trang 11

Do đó vấn đề quan trọng đặt ra trong xã hội Thái là làm thế nào để nâng cao

"chất lượng cuộc sống", Thái Lan đã và đang tích cực theo đuổi mục tiêu này, mộtphần thông qua nguồn tài nguyên có giới hạn của mình, mặt khác hợp tác cùng các

tổ chức quốc tế

1.1.3 Thể chế chính trị

Nền chính trị Thái Lan đã có một bước ngoặt hết sức có ý nghĩa vào ngày 24tháng 6 năm 1932 khi một nhóm trí thức trẻ tuổi đi du học từ nước ngoài trở vềmang theo tư tưởng dân chủ phương Tây, đã dấy lên phong trào đòi thay đổi chế độquân chủ độc quyền sang quân chủ lập hiến Để tránh gây ra đổ máu, Vua Rama VII

đã chấp nhận xóa bỏ chế độ quân chủ độc quyền và chuyển giao quyền lực chochính phủ mới dựa trên thể chế hiến pháp Đến tháng 10 năm 1932, ông đã ký bảnhiến pháp đầu tiên của Thái Lan và kết thúc 800 năm tồn tại của chế độ quân chủđộc quyền ở đất nước này

Với thể chế chính trị này thì Nguyên thủ quốc gia là nhà Vua: Được coi làthiêng liêng và bất khả xâm phạm Về danh nghĩa nhà Vua là người đứng đầu nhànước, Tổng Tư lệnh quân đội và là người bảo trợ Phật giáo

Quốc hội: Theo Hiến pháp ngày 24 tháng 8 năm 2007, Quốc hội Thái Lan làQuốc hội lưỡng viện Hạ viện (cơ quan lập pháp) gồm 480 ghế và Thượng viện gồm

150 ghế

Chính phủ: bao gồm 36 thành viên gồm 3 Phó Thủ tướng, 21 Bộ trưởng và11Thứ trưởng Ngoài ra còn có một số Ủy ban của Chính phủ được lập ra để phốihợp thực hiện các chính sách chung

Từ khi lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế năm 1932, Thái Lan đã có 17 hiếnpháp và sửa đổi Trong suốt quá trình đó, chính phủ liên tiếp chuyển đổi qua lại từchế độ độc tài quân sự sang chế độ dân chủ, nhưng tất cả các chính phủ đều thừanhận triều đại cha truyền con nối của Hoàng gia Thái Lan như lãnh đạo tối cao củadân tộc

Trang 12

Trong suốt 6 thập kỷ qua, nền quân chủ lập hiến ở Thái Lan đã tạo nên mộtquốc gia hiện đại và thịnh vượng ở Đông Nam Á Thái Lan đã và đang tiếp nhậnnhững tư tưởng dân chủ của phương Tây trước đòi hỏi của đất nước song vẫn giữđược bản sắc dân tộc và nền văn hóa đáng trân trọng

1.1.4 Quá trình phát triển kinh tế

Cho đến năm 1996, nền kinh tế Thái Lan đã phát triển qua 7 kỳ kế hoạch 5năm Với 7 kỳ kế hoạch 5 năm này đã đưa lại kết quả là trình độ phát triển kinh tếcủa Thái Lan tương đối cao so với một số nước ASEAN-10 Khu vực tư nhân tươngđối phát triển Các chính sách kinh tế vĩ mô và công nghệ hóa của đất nước đangchuyển dần từ thay thế nhập khẩu sang khuyến khích xuất khẩu Các quyết địnhkinh tế được đưa ra theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường chứ không phải theohướng can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế

Có thể nói Thái Lan đã thực hiện một bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế hết sứcmạnh mẽ Từ một đất nước chủ yếu là sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng sơchế, Thái Lan đã phát triển lên thành một quốc gia công nghiệp lớn trong khu vực.Hiện nay, nông nghiệp chỉ chiếm 11,5% hoạt động kinh tế của Thái Lan trong khisản xuất công nghiệp đóng góp khoảng 31,4% Chiến lược cơ cấu tăng tỉ trọng cácngành công nghiệp dùng nhiều lao động và tài nguyên là hợp lí đối với một nướcnông nghiệp như Thái Lan

Chuyển đổi cơ cấu thấy rõ nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu Các mặt hàngcông nghiệp sản xuất để xuất khẩu tăng gần gấp đôi, chiếm khoảng 38% trong tổng

số các mặt hàng xuất khẩu trong năm 1982, tăng lên 72% trong năm 1993 Các mặthàng dệt cùng lúa gạo đã trở thành những mặt hàng xuất khẩu chính của Thái Lan

và Thái Lan cũng là quốc gia xuất khẩu lớn các sản phẩm tinh xảo như ổ đĩa cứngmáy tính, micro chuẩn xác và các phụ kiện, vi mạch

Qua đây có thể nhận xét rằng quy mô của nền kinh tế Thái Lan tương đốilớn Về GDP, Thái Lan xếp hàng thứ hai trong số các nước ASEAN, sau Indonesia.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan luôn đạt mức cao so với các nước trongkhu vực Ngành công nghiệp tương đối hiện đại và đang vượt khu vực cả về tỉ trọng

Trang 13

Ngay trước khi vương quốc Sukhothaya được thành lập (thế kỷ XIII), ngườiThái đã đóng thuyền, vượt biển đến Đại Việt buôn bán Thời điểm sớm nhất đượcghi chép trong sử liệu là vào năm 1149 Các thuyền buôn của ba nước Trảo Oa(Java), Lộ Lạc (La Hộc thuộc Thái Lan) và Xiêm La đã vào vùng biển Hải Đông(thuộc Quảng Ninh ngày nay) xin được buôn bán Vua Lý Anh Tông đã cho họ ở lạibuôn bán và cho thiết lập trấn Vân Đồn.

Năm 1184, cũng thấy có thương nhân các nước Xiêm La và Tam Phật Tề(Palembang, Srivijaya ở Sumatra) vào trấn Vân Đồn dâng vật quý xin buôn bán.Vân Đồn từ đó trở thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt và là đầu mối giao lưukinh tế giữa Đại Việt và Xiêm Từ cơ sở quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị đã đượcthiết lập Sự kiện đầu tiên ghi chép về sự thiết lập mối quan hệ chính trị trong sửliệu của Việt Nam là vào năm 1182, dưới thời vua Lý Cao Tông, vua Xiêm đã cử sứthần sang Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao [28;32]

Dưới thời Sukhothaya ở Xiêm La và nhà Trần ở Đại Việt, cả hai nước đềuphải đối mặt với hoạ xâm lăng từ bên ngoài đó là đế quốc Mông – Nguyên Tuynhiên mỗi nước có một cách đối phó khác nhau, Đại Việt ba lần cầm vũ khí đánhgiặc Mông Nguyên, còn Sukhothaya thì dùng biện pháp ngoại giao Cuối cùng cảhai đều thành công Điều này ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của hai nước về

Trang 14

1485, nhà Lê đã đặt ra luật lệ về việc các nước đến triều cống, trong đó có Xiêm La.Cho đến khi người Việt xuống phía Nam, quan hệ giữa hai nước đã bắt đầu gia tăng

và ngày càng phát triển Xiêm và Đại Việt bắt đầu trở thành đối tác của nhau trênnhiều lĩnh vực Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh cho đến thời kỳ Tây Sơn,quan hệ giữa Đại Việt và Xiêm diễn ra chủ yếu ở Đàng Trong của Đại Việt, do điềukiện giao thông thuận lợi và sự xuất hiện những lợi ích ngoại biên Vào thời kỳ này,quan hệ kinh tế trực tiếp giữa Xiêm và Đàng Trong đã có bước phát triển mạnh mẽ,quan hệ thương mại diễn ra khá thường xuyên với quy mô đáng kể Cả hai bên đãtrở thành đối tác thương mại của nhau bất chấp cơ sở kinh tế tự cung, tự cấp lúc đó.Năm 1789, 1793, khi Xiêm có nạn đói và yêu cầu được mua gạo, Vua Gia Long đã

ra lệnh cho hơn 8.800 phương gạo hoặc ra lệnh bán gạo cho người Xiêm Ngược lại,năm 1791, khi Gia Định bị hạn hán, Nguyễn Ánh đã khuyến khích các thuyền buôn

cả công lẫn tư sang Xiêm buôn gạo và giảm một nửa thuế buôn cho các thuyềnbuôn nước ngoài vào Long Xuyên buôn bán Không chỉ buôn bán nguyên mặt hànglúa, gạo mà còn buôn bán cả đồ sắt Tầm quan trọng của mối quan hệ kinh tế nàycòn ở chỗ, Việt Nam nằm trên tuyến thương mại của Xiêm với Trung Quốc và làmột ngả trong quan hệ thương mại của Xiêm với Campuchia Thuyền buôn củaXiêm buôn bán với Trung Quốc dọc theo ven bờ biển Việt Nam vẫn thường ghé lạicác cảng của Việt Nam, nhiều lần thuyền Xiêm xin phép nhà Nguyễn đi qua Gia

Trang 15

Định để vào Campuchia buôn bán Đến thời kỳ này chính trị trở thành một lĩnh vựcchính trong mối quan hệ Việt – Xiêm, biểu hiện là việc Nguyễn Ánh sang Xiêm cầucứu viện trợ để chống quân Tây Sơn Mối quan hệ này càng có điều kiện phát triển

kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi và đất nước được thống nhất Trong thế kỷ XIX,hàng năm có khoảng 40 – 50 thuyền buôn của Xiêm đến buôn bán ở Việt Nam, mức

độ buôn bán giữa hai nước khá tấp nập, nên nhà Nguyễn đã phải đặt thuế riêng gồm

13 điều đối với thuyền buôn của Xiêm và Hạ Châu (Singapo) [28;36]

Nhìn lại suốt tiến trình lịch sử, đến thời kỳ nhà Nguyễn, quan hệ

Việt Nam – Thái Lan đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn so với thời kỳ trước Trongkhi mối quan hệ láng giềng thân thiện đang phát triển thì xuất hiện sự xung đột vì

có sự tranh chấp ảnh hưởng của hai nước ở Campuchia, Lào Tham vọng bànhtrướng chính là nguyên nhân gây ra xung đột giữa Xiêm - Nguyễn trong lịch sử DoXiêm từ lâu đã coi Campuchia và Lào thuộc phạm vi lợi ích của mình và coi ảnhhưởng của nhà Nguyễn ở đây như nguy cơ đe doạ quyền lợi của mình Như vậy tínhhai mặt trong quan hệ Việt – Xiêm đã tồn tại: vừa giao hảo, vừa cạnh tranh Quan

hệ thương mại đóng vai trò chính thúc đẩy quan hệ hai nước Đến giữa thế kỷ XIXcác nước đế quốc phương Tây xâm lược các nước Đông Nam Á, trong đó có ViệtNam và Xiêm, thì quan hệ Việt Nam và Thái Lan bước sang thời kỳ mới, với nhữngtính chất và đặc điểm mới

Nửa cuối thế kỷ XIX, các nước Đông Dương lần lượt rơi vào ách thống trị củathực dân Pháp Xiêm tuy vẫn giữ được độc lập tương đối nhưng vẫn bị phụ thuộcnặng nề vào thực dân Pháp Sau hiệp ước Hác măng 1883 và Patơnốt 1884, thựcdân Pháp đã thống trị Việt Nam và chi phối quan hệ Việt Nam với Xiêm Điểm nổibật trong mối quan hệ Pháp – Xiêm là sự tranh chấp lãnh thổ Đông Dương Phápxâm chiếm Campuchia và Lào đã khiến Xiêm phản ứng mạnh mẽ Do thế yếu hơnnên Xiêm chấp nhận Pháp thống trị Campuchia Ngược lại Pháp công nhận chủquyền của Xiêm ở hai tỉnh

Xiêm Riệp và Battambang của Campuchia Đến ngày 3/10/1893, Xiêm thừa nhận

sự bảo hộ của Pháp tại Lào Cũng như Campuchia, một số đất đai của Lào đã được

Trang 16

chuyển giao cho Xiêm Tuy bị mất ảnh hưởng ở Campuchia và Lào nhưng Xiêm lợidụng mâu thuẫn Pháp – Anh để duy trì nền độc lập tương đối của mình và có thêmmột phần đất đai Như vậy, thời kỳ này do thực dân phương Tây xâm lược, dù bịmất chủ quyền hay không thì cả Việt Nam và Thái Lan đều mất đi tự do vốn có,thay vào đó là sự thống trị của Pháp đối với Việt Nam, sự chi phối của Pháp đối vớiThái Lan Chính vì thế từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, quan hệ giữa Việt Nam

và Thái Lan có sự giảm sút, nhất là quan hệ thương mại, nếu có thì đó là quan hệgiữa chính quyền thực dân với chính quyền của Xiêm Tuy nhiên thì những ghichép về quan hệ này rất ít, vì thế nghiên cứu về thương mại thời gian này có thiếusót

Trên thực tế thì mối quan hệ Việt – Xiêm thời kỳ này còn được duy trì trongmối quan hệ giữa nhân dân hai nước Đã có rất nhiều người Việt sang Xiêm sinhsống, với sự giúp đỡ của nhân dân Xiêm, kiều bào ta có điều kiện sinh sống hoàbình với cộng đồng sở tại, góp phần gắn kết thêm mối quan hệ giữa hai dân tộc.Trong hoàn cảnh Việt Nam bị bao vây, nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã sangnương náu ở đây Mối quan hệ hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước là yếu tốquan trọng khiến Xiêm trở thành nơi tin cậy của những người yêu nước Việt Nam.Đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đảng bộ Việt kiều tại Xiêm cũngđược thành lập Việt kiều ở Xiêm ngày càng chi viện đắc lực cho cách mạng ViệtNam Trong chiến tranh thế giới thứ hai, bộ đội “Việt Nam độc lập quân” của kiềubào ta ở Thái Lan được thành lập nhằm bảo vệ Việt kiều và giúp nhân dân Tháichống lại phát xít Nhật Họ được Đảng Thái tự do của Pridi Banomyong giúp đỡ về

vũ khí, hai bên đã cùng thảo luận về việc phối hợp tác chiến với nhau Sự kiện này

đã đặt cơ sở cho tình cảm và sự giúp đỡ của chính phủ Pridi đối với cách mạng ViệtNam thời gian sau này

Như vậy, trong thời gian này, quan hệ Việt Nam – Thái Lan đã chịu thêm thửthách rất lớn từ bên ngoài Mối quan hệ này không chỉ bị đứt đoạn về mặt nhà nước

mà còn bị biến dạng đi bởi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân phương Tây Nhưngcũng chính trong thời kỳ này nhân dân hai nước đã có cơ hội hiểu nhau hơn Mối

Trang 17

quan hệ thân thiện và hữu nghị đã được lịch sử chứng tỏ là một dòng chảy thôngsuốt và bền vững Đây là cơ sở để duy trì và phát triển mối quan hệ Việt Nam –Thái Lan trong giai đoạn này và trong các giai đoạn sau

1.2.2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1945 - 1975

Cách mạng tháng 8/1945 đã dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủCộng hoà Với sự xuất hiện một thể chế chính trị mới thay thế cho thực dân Pháp,quan hệ Việt Nam – Thái Lan bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ hai quốc gia cóchủ quyền ở Đông Nam Á

Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, mối quan hệ hai bên bị giánđoạn trong một thời gian ngắn, do cả hai bên đang phải tập trung đối phó với nhữngvấn đề của nước mình và tình trạng này chấm dứt với việc Đảng Thái Tự do của Pridi Banomyong lên cầm quyền ở Thái Lan năm 1946 Mối quan hệ hữu nghị haibên lại được thiết lập Điểm đáng chú ý thời kỳ này là mối quan hệ chủ đạo giữa hainước là chính trị và ngoại giao, còn quan hệ thương mại ít được đề cập đến Trongnhững ngày đầu của cuộc kháng chiến, nhiều kiều bào Việt Nam ở Lào đã tản cưsang Thái Lan để tránh cuộc tấn công lớn của Pháp vào các đô thị của Lào Chínhphủ Pridi Banomyong và nhân dân Thái đã có thái độ tích cực và hành động kịp thời

để tạo điều kiện cho kiều bào ta ổn định sinh sống Người Việt đã được hỗ trợ hạ tầng

cơ sở, lương thực, thuốc men, đất đai và việc làm Đồng thời, với sự tạo điều kiện củachính phủ Pridi và nhân dân Thái Lan, Thái Lan đã trở thành một cơ sở hậu cần chocuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam

Những chuyển biến to lớn trên thế giới với cuộc tập hợp lực lượng ráo riết củahai phe và sự trở lại của Pháp ở Đông Dương đang đưa chiến tranh lại gần TháiLan Chính vì lý do này mà Thái Lan đã thực hiện chính sách trung lập trong cuộcchiến Đông Dương lần thứ nhất, tuy nhiên đó là sự trung lập tích cực Chính phủViệt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đặt được cơ quan đại diện đầu tiên tại Bang Kook

Cơ quan này hưởng quy chế ngoại giao và chính thức đi vào hoạt động từ ngày14/4/1947 Tháng 2/ 1948, cơ quan thông tin của Việt Nam được thiết lập tại BangKook Lúc này Bang Kook vô cùng quan trọng đối với ta vì nó là cửa ngõ duy nhất

Trang 18

bộ Việt kiều và tìm cách trục xuất Việt kiều về nước… Với những chính sách nàythì Chính phủ Thái Lan đã không nhận được sự ủng hộ của nhân dân Thái, ngườidân vẫn tìm cách che trở, bảo vệ Việt kiều, đấu tranh đòi Chính phủ Thái bãi bỏ cácchính sách phân biệt.

Đến năm 1954, sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, độc lập của Việt Namkhông trọn vẹn, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, còn miềnNam đấu tranh chống Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước Trước khí thế đang lên củacách mạng Đông Dương, Thái Lan tiếp tục tìm kiếm chỗ dựa an ninh là Mỹ và coi

đó là nền tảng chiến lược trong chính sách đối ngoại của mình Tháng 9/1954, TháiLan tham gia ký hiệp ước Manila thành lập khối quân sự SEATO do Mỹ đứng đầu.Hành động này của Thái Lan đã cho thấy chính sách đi cùng Mỹ trong cuộc đối đầu

Trang 19

Đông – Tây ở Đông Dương vẫn không thay đổi Sau năm 1954, Việt Nam và TháiLan đã chính thức đứng vào hai phe trong cuộc đối đầu Đông – Tây đang diễn racăng thẳng trên thế giới Tuy nhiên ban đầu mối quan hệ này chưa căng thẳng lắm

Sự đối đầu này biểu hiện bằng việc Thái Lan quan hệ thân thiết với chính quyền SàiGòn, tham chiến trên chiến trường Việt Nam… Cao hơn nữa, mối quan hệ giữaThái Lan và chính quyền Sài Gòn là sự hợp tác về chính trị và quân sự trong mộtliên minh quân sự do Mỹ cầm đầu Chiến tranh càng lên cao thì Thái Lan càng tỏthái độ gay gắt với Việt Nam, Đế quốc Mỹ càng leo thang thì sự can thiệp của TháiLan càng lớn Nếu như trong chiến tranh đơn phương, Thái Lan chưa có một hànhđộng quyết liệt nào chống lại Việt Nam, thì đến giai đoạn chiến tranh đặc biệt, TháiLan đã công khai cùng với Mỹ và chính quyền Sài Gòn chống lại Việt Nam Dânchủ Cộng hoà, Thái Lan đã dấn thân vào cuộc đối đầu thực sự với Chủ nghĩa Cộngsản Đến “chiến tranh cục bộ” 1964 – 1972, mức độ ủng hộ chính quyền Sài Gòn và

Mỹ đã lên đến đỉnh điểm Binh lính Thái Lan theo gót viễn chinh Mỹ vào chiếntrường Việt Nam tham chiến Bằng việc tham chiến ở Việt Nam, Thái Lan đã đẩyquan hệ Việt Nam – Thái Lan lên tình trạng đối đầu gay gắt Các khoản viện trợ của

Mỹ gia tăng theo tỷ lệ thuận với sự tham chiếm của Thái Lan Tuy nhiên, hành độngnày do Mỹ lôi kéo nhằm tập hợp lực lượng chống lại các nước Xã hội Chủ nghĩa vànhằm can thiệp sâu hơn vào các quốc gia ở Đông Dương

Năm 1975, sau khi Hiệp định Pari được ký kết, chính sách đối với Việt Namcủa Thái Lan đã có sự điều chỉnh Mỹ rút quân về nước, trong khi ký hiệp định TháiLan đã vài lần công bố công khai về mong muốn bình thường hoá với Việt NamDân chủ Cộng hoà Đến tháng 3/1973, Thái Lan rút toàn bộ quân đội ra khỏi miềnNam Việt Nam Vào thời điểm trước cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, căn

cứ vào tình hình và yêu cầu của cuộc chiến tranh giải phóng lúc đó, chính phủ ViệtNam Dân chủ Cộng hoà đã chủ trương xúc tiến cải thiện quan hệ với Thái Lan vàThái Lan cũng có phản hồi tích cực Tuy nhiên thì mối đe doạ lớn nhất lúc này lànguy cơ can thiệp trở lại của Mỹ Trong đó có lực lượng quân sự Mỹ đang đóng lạiThái Lan Sự lo ngại này là có cơ sở khi chiến tranh vẫn đang tiếp diễn ở Đông

Trang 20

Dương, Mỹ vẫn ủng hộ cho chính quyền Sài Gòn, chống lại Việt Nam Dân chủCộng hoà Còn Thái Lan thì duy trì chính sách hai mặt, vừa vì có quan hệ với Mỹ,vừa vì chiến tranh ở Đông Dương chưa kết thúc, kết quả chưa rõ ràng Họ vừamuốn cải thiện quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, vừa muốn duy trì căn cứquân sự của Mỹ ở Thái Lan Ý đồ đó của chính quyền Thái Lan đã không thúc đẩyđược mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Thái Lan phát triển caohơn Như vậy, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, mối quan hệ giữa Việt Nam

và Thái Lan là mối quan hệ thù địch Mối quan hệ này suy cho cùng là sự tranhgiành ảnh hưởng giữa hai nhóm nước trong khu vực Đông Nam Á; nhóm nướckhông cộng sản đứng đầu là Thái Lan và nhóm nước cộng sản đứng đầu là ViệtNam

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chế độ nguỵ quyền Sài Gòn sụp đổ, đồng thời ởThái Lan chính phủ mới do Hoàng thân Kukrit Pramoj làm thủ tướng cũng đượcthành lập Ngay sau đó, Việt Nam đã cử hai phái đoàn sang thăm Thái Lan, mộtphái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Đại

sứ Nguyễn Minh Phương làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủCộng Hoà do Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền làm trưởng đoàn, để đàm phán vềviệc bình thường hoá quan hệ hai nước Tuy nhiên một loạt vấn đề sau chiến tranhgiữa Việt Nam và Thái Lan vẫn chưa được tháo gỡ như vấn đề tài sản của chínhquyền Nguỵ đưa sang Thái Lan, phía Việt Nam yêu cầu Thái Lan trả lại… Còn cácvấn đề khác được tháo gỡ dần dần

Như vậy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam và TháiLan chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực chính trị và ngoại giao Thực chất nó là sự chiphối của mối quan hệ Đông – Tây mà đứng đầu là Mỹ, sự can thiệp của Mỹ và sựphụ thuộc ngày càng nhiều của Chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ là nguyên nhân đưađến mối quan hệ giữa hai nước ngày càng đi vào bế tắc, hai bên đã có nhiều hànhđộng hiềm khích, mà chủ yếu là Thái Lan Vấn đề mấu chốt của tình hình lúc nàychính là giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam, chiến tranh chưa được giải quyếtthì quan hệ hai bên chưa thiết lập trở lại được và như thế thì các mối quan hệ khác

Trang 21

cũng chưa được thiết lập Vì thế mà các vấn đề khác đều được lui lại, trong đó cóvấn đề thương mại hai nước Nếu có quan hệ thương mại trong thời kỳ này, thì đó làquan hệ giữa Thái Lan và chính quyền Ngụy Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhaunhư chiến tranh, vấn đề chính trị, mà những ghi chép về mối quan hệ này hầu nhưkhông nhiều Còn quan hệ giữa chính quyền Thái Lan với chính quyền Việt NamDân chủ Cộng hòa không có Đánh dầu bằng sự kiện tháng 11 năm 1952, Thái Lanban hành “đạo luật chống Cộng” Đây là sự bày tỏ thái độ đối lập dứt khoát củaThái Lan với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sự kiện ngày 30 – 4 – 1975 đã đánh dấu

sự chấm hết cho những vướng mắc trong quan hệ hai nước, từ đây hai nước bắt tayvào giải quyết những vấn đề còn tồn đọng sau chiến tranh, trên tình thần thiện chícủa cả hai bên Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên cơ sở đó cũng sẽ được thiết lập

1.2.3 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 1976 đến 1986

Từ năm 1976 đến năm 1986, quan hệ Việt Nam và Thái Lan vẫn chịu sự chiphối của quan hệ quốc tế, nên thời kỳ này quan hệ hai bên vẫn còn ở mức hạn chế,các quan hệ thương mại, văn hoá đã có nhưng còn khiêm tốn

Trên tinh thần cả hai bên đều mong muốn sớm thiết lập quan hệ ngoại giao trởlại Ngày 6 – 8 – 1976, Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan – Phichay Rắtlacun đã tớithăm Hà Nội cùng với bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh ký Hiệpđịnh thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước trên cơ sở nguyên tắc 4 điểm màViệt Nam đưa ra là: Việt Nam tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ củacác nước; cam kết không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào sử dụng đểchống lại nước khác; thiết lập quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác kinh tế, trao đổivăn hoá với các nước; ra sức phát triển hợp tác nhiều mặt với các nước Sau khi kýHiệp định bình thường hoá quan hệ, hai bên đã có nhiều cuộc tiếp kiến ngoại giao

để thúc đẩy bình thường hoá quan hệ hai bên

Tháng 1 năm 1978, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh sang thăm chính thức TháiLan, hai bên đã ra thông cáo chung khẳng định quyết tâm củng cố và phát triểnquan hệ giữa hai nước trên cơ sở Thông cáo ký tại Hà Nội ngày 6 – 8 – 1976; thoảthuận về việc lập Đại sứ quán và trao đổi Đại sứ giữa hai nước càng sớm càng tốt;

Trang 22

cùng nhau giải quyết những vấn đề còn lại giữa hai nước; ký Hiệp định Thươngmại; hợp tác kinh tế, kỹ thuật và Hiệp định vận chuyển hàng không giữa hai nướcsau khi thiết lập quan hệ ngoại giao Hai bên đã cho rằng chuyến đi thăm Thái Lancủa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã mở ra kỷ nguyên mới trong quan

hệ giữa hai nước Tháng 5 năm 1978, đoàn thương mại của Thái Lan bay sang ViệtNam thoả thuận Việt Nam bán cho Thái Lan một vạn tấn than, sự kiện này đã mởđầu cho mối quan hệ thương mại giữa hai nước

Tuy nhiên, sự kiện Việt Nam đưa quân sang Campuchia ngày 7 – 1 – 1978,cùng với mục đích giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng đã làm choquan hệ Việt Nam – Thái Lan bế tắc không phát triển được Các nước ASEAN màđứng đầu là Thái Lan đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và trao quyền tựquyết cho nhân dân nước này Thái Lan đã để cho những đạo quân còn sót lại củaPôn Pốt lánh nạn, thậm chí còn lập căn cứ trên đất Thái Lan, giáp phần ranh giớivới Campuchia Thái Lan không hiểu rằng sự hiện diện của quân đội Việt Nam trênđất Campuchia là bất đắc dĩ Nó chỉ liên quan đến mối quan hệ giữa các nước ĐôngDương, trước hết là Việt Nam và Trung Quốc Đồng thời Thái Lan cũng dùng sức

ép ngoại giao, chính trị và kinh tế để gây sức ép với Việt Nam về vấn đềCampuchia Thái Lan tuyên bố đình chỉ quan hệ thương mại với Việt Nam Nhưvậy mối quan hệ thương mại hai bên mới được thiết lập chưa bao lâu thì vấn đềquan hệ quốc tế, cụ thể là vấn đề Campuchia đã khiến mối quan hệ này đi vào bế tắc

và kết quả là quan hệ thương mại đã bị đình chỉ hoạt động Tuy nhiên, hai bên vẫnduy trì quan hệ ngoại giao ở mức độ thích hợp như đón Bộ trưởng ngoại giaoNguyễn Cơ Thạch sang thăm Thái Lan Tháng 11 – 1980, có các cuộc tiếp xúc ởcấp Thứ trưởng ngoại giao

Những sự kiện về Campuchia đã đẩy quan hệ Việt Nam và Thái Lan bế tắctrong suốt 10 năm liền không tiến triển được Chỉ đến năm 1985, sau khi Việt Namtuyên bố đơn phương rút hết quân đội ra khỏi Campuchia thì mối quan hệ hai bênlại được thiết lập trở lại, mặc dù nó vẫn còn bị kìm chế bởi chính sách đối ngoại củamỗi nước Cũng chính vì vậy, năm 1985, Ngoại trưởng Thái Lan tuyên bố: không

Trang 23

ngăn cản cũng như không khuyến khích thương nhân Thái Lan buôn bán ở ViệtNam Như vậy sau 10 năm quan hệ Việt Nam và Thái Lan dù vẫn còn nhiều chỗchưa thông suốt, nhưng mối quan hệ này đã được cải thiện rất nhiều Vấn đề còn lạiđối với hai bên lúc này chính là có những cuộc tiếp xúc, trao đổi hai bên, tiến tới nốilại các mối quan hệ hai bên trên mọi lĩnh vực

Bên cạnh cố gắng thúc đẩy đối thoại, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam vớiThái Lan vẫn được duy trì Mặc dù quan hệ kinh tế vẫn còn chiếm một tỉ lệ nhỏtrong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng như Thái Lan, nhưng việc duytrì quan hệ này vẫn có ý nghĩa quan trọng Đối với Thái Lan đó là vấn đề thị trườngcho hàng xuất khẩu, tạo thêm kênh thương mại để thu hút đầu tư nước ngoài, gópphần duy trì quan hệ kinh tế góp phần giữ cho sự đối đầu chính trị ở trong mức cóthể kiểm soát được Đối với Việt Nam, mối quan hệ kinh tế với Thái Lan không chỉxuất phát từ nhu cầu kinh tế mà còn ý nghĩa chính trị đáng kể trong cố gắng phá thế

bị bao vây cô lập trên trường quốc tế Dù kim ngạch buôn bán còn nhỏ bé và bị chiphối bởi mối quan hệ chính trị nhưng vẫn tồn tại bất chấp sự đối đầu trở nên gaygắt Đó là sự chứng minh cho nhu cầu hợp tác kinh tế giữa hai nước vẫn tiếp tục, là

sự phản ánh xu hướng cải thiện quan hệ vẫn còn chỗ đứng Quan hệ này sẽ nhanhchóng phát triển trở lại khi cơ hội mở ra

Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam với Thái Lan

từ năm 1978 đến năm 1983

Đơn vị: Triệu VNĐ

Trị giá xuất nhập khẩu 1978 1979 1980 1981 1982 1983

Xuất khẩu của Việt

Nam sang Thái Lan

Nhập khẩu của Việt

Nam từ Thái Lan

(Nguồn: IMF “sách chỉ dẫn thương mại hàng năm”, 1984)

Trang 24

Như vậy quan hệ buôn bán hai chiều thời kỳ này tuy còn hạn chế, song đó làbước tiến đầu tiên trong quan hệ Việt Nam và Thái Lan Một điều dễ nhận thấy cáncân buôn bán thời kỳ này đã có sự chênh lệch, nước ta nhập siêu từ Thái Lan, trị giáxuất khẩu của nước ta còn nhỏ Sự mất cân đối này còn kéo dài cho những năm vềsau Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng kinh tế của ta lúc bấy giờ

Về mặt hàng buôn bán thời kỳ này, chúng ta xuất khẩu sang Thái Lan chủ yếuhàng nông sản chưa qua chế biến như lạc nhân, thuỷ hải sản, hàng thủ công mỹnghệ,… còn nhập về từ Thái Lan là những mặt hàng phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp và một số hàng tiêu dùng như phân bón, thuốc trừ sâu, xe máy,… Như vậymặt hàng buôn bán giữa nước ta và Thái Lan còn khá đơn giản, cơ cấu mặt hàngchủ yếu là hàng nông nghiệp, thủ công nghiệp Những hàng mà kỹ thuật công nghệchúng ta chưa sản xuất được nên chưa có trong danh mục xuất khẩu sang Thái Lan

1.2.4 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ năm 1986 đến năm 1995

Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu bước tiến trong quan hệ hai nước, trên

cả lĩnh vực ngoại giao và kinh tế thương mại Sau 10 năm quan hệ Việt Nam – TháiLan có nhiều bế tắc Việt Nam đã nhận thức được rằng, muốn vượt qua khó khăn vềđối nội và đối ngoại với những nguyên nhân chủ quan và khách quan, thì phải khẩntrương và triệt để thực hiện công cuộc đổi mới, coi đó là con đường dẫn dắt ViệtNam hội nhập kinh tế với quốc tế để cùng phát triển Tháng 12 năm 1986, Việt Namtiến hành công cuộc đổi mới, về chính sách đối ngoại Việt Nam, Đại hội VI chỉ rõ:

“Nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương,góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Động Nam Á và trên thế giới” [20; 99] Trong chính sách ngoại giao, Việt Nam đưa ra nguyên tắc 4 điểm của mình,mong muốn mở rộng quan hệ ngoại giao kinh tế với tất cả các nước không phân biệt

về hệ tư tưởng Tiến hành mở cửa nền kinh tế, phát triển kinh tế thị trường Tất cảnhững việc làm đó là nhằm tạo ra một cơ sở cần thiết để phát triển nền kinh tế đấtnước, mong sao nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh mà 10 năm qua ViệtNam chưa có điều kiện làm được nhiều Đồng thời, đó cũng là nhằm tạo ra một Việt

Trang 25

Nam mới đang sẵn sàng kêu gọi sự hợp tác, đầu tư của tất cả các nước trên thế giới

và khu vực

Trong khi đó ở Thái Lan cũng đang thực hiện những kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội của mình Trên đà thắng lợi của những kế hoạch đó, kinh tế phát triểnnhanh chóng, dư luận Thái Lan đòi hỏi chính phủ thi hành chính sách mềm dẻo đểtạo điều kiện mua bán và đầu tư vào các nước Đông Dương Chính vì vậy, ngay khilên làm thủ tướng, ông Chạt – chai đã tuyên bố “biến Đông Dương từ chiến trườngthành thị trường” Tình hình trên đã khiến hai nước bắt tay nhau nhiều hơn để cùngbước vào thập kỷ 90 với những nỗ lực mới và quyết tâm mới Tuy vậy thì mối quan

hệ này ngay từ đầu đã không suôn sẻ mà muốn có được điều đó thì cả hai phải cùng

bỏ qua những nghi kỵ, tiến tới những quan hệ tốt đẹp hơn

Từ năm 1986 đến năm 1990 quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan chưanhiều, điều này xuất phát từ các vấn đề về chính trị, ngoại giao nhưng vấn đề quantrọng là Việt Nam vừa thoát ra khỏi chế độ bao cấp, nền kinh tế thị trường vừa mớiđược thiết lập, cơ sở kinh tế còn yếu kém, cơ cấu kinh tế thì lạc hậu, bên cạnh đó là

sự bao vây và cấm vận kinh tế của Mỹ… Tất cả những vấn đề đó đã làm cho sảnxuất trong nước không đáp ứng kịp nhu cầu cơ bản của nhân dân, chứ chưa nóiđến xuất khẩu Vì vậy, quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ nàycòn khiêm tốn Khi Việt Nam đổi mới đưa ra chính sách đối ngoại với các nướcASEAN thể hiện tinh thần muốn được hợp tác Trong ba chương trình kinh tế lớncủa Việt Nam (nông nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) Thái Lan đượcnhìn nhận là một đối tác kinh tế đối ngoại hợp lý Hợp lý bởi vị trí địa lý gần gũi,trình độ phát triển không quá chênh lệch, những tương đồng trong nền nôngnghiệp, giá cả chấp nhận được và sự quen thuộc nhất định của người tiêu dùng đốivới hàng hoá Thái Lan Trên phương diện chính sách đối ngoại, chủ trương cảithiện chính sách quan hệ với các nước trong khu vực nhằm phá vỡ thế cô lập vềchính trị, thiết lập môi trường ổn định cho xây dựng kinh tế cũng đặt quan hệ ViệtNam – Thái Lan vào vị trí tâm điểm do vai trò của mối quan hệ này đối với quan

hệ Đông Dương – ASEAN

Trang 26

Nhận thức cùng lợi ích kinh tế như vậy đã khiến nhu cầu cải thiện quan hệcùng tăng từ cả hai phía Xu hướng cải thiện quan hệ Việt Nam – Thái Lan lúc nàydiễn ra nhiều trên lĩnh vực kinh tế mặc dù mức độ còn khá khiêm tốn Tuy vẫn cònlệnh cấm vận của Mỹ, nhưng mối quan hệ chưa chính thức về mặt nhà nước này đãbắt đầu phát triển về khối lượng trao đổi Năm 1989 tổng kim ngạch buôn bán giữahai nước đạt 1.591,8 triệu bạt, còn hàng Việt Nam xuất sang Thái Lan đạt 1.178,6triệu bạt:

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với Thái Lan thời kỳ 1986 – 1990.

Đơn vị: Triệu USD

(Nguồn: Bộ thương mại)

Quan hệ này không còn chỉ là đơn thuần mua bán trao đổi mà đã xuất hiệnhình thức hợp tác như liên doanh về đánh cá giữa Công ty xuất khẩu hải sản ViệtNam và Công ty Thuỷ sản Thái Lan Tờ bưu điện Bang Kook viết: “năm 1987 lànăm đặc biệt có nhiều thương gia Thái Lan đến Việt Nam” [14; 135] Báo này còncho biết một số công ty của Thái Lan còn thành lập cơ sở xuất khẩu hàng tiêu dùngsang Việt Nam tại Singapo, nhằm tránh việc chính phủ gây khó khăn

Về hàng hoá Việt Nam xuất nhập khẩu sang Thái Lan thời kỳ 1986 đến 1990vẫn là những mặt hàng nông nghiệp, như lạc nhân, cafe, điều, thủ công nghiệp, hảisản đông lạnh và một số ít hàng tiêu dùng Sự đơn giản hoá các mặt hàng này vẫnphản ánh trình độ kinh tế của chúng ta còn thấp Những hàng mà chúng ta nhập từThái Lan thời điểm này là xăng, dầu, hàng tiêu dùng, có cả xe máy… Và Việt Namvẫn nhập siêu từ Thái Lan

Như vậy, bất chấp những trở ngại về chính trị vẫn còn tồn đọng, quan hệ kinh

tế giữa Việt Nam với Thái Lan đã bắt đầu có sự tăng trưởng đều đặn Ban đầu, quy

mô còn bé, Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Khi quy mô thương mại bắtđầu tăng mạnh từ năm 1988, Thái Lan nhập khẩu nhiều hơn hàng hoá của Việt

Trang 27

Nam Bên cạnh đó khi vẫn còn tình trạng đối đầu thì đối với Thái Lan nhập khẩu antoàn hơn xuất khẩu, còn đối với Việt Nam thì phù hợp với chủ trương xuất khẩu.Những tiến bộ nhất định trong quan hệ thương mại, dù chưa phải chính thức vàđược thực hiện chủ yếu bởi các thương gia, cũng phản ánh sự hoà hợp hơn giữa hainước

Từ năm 1990 đến năm 1995, quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan pháttriển mạnh mẽ Đánh dấu cho mối quan hệ hai bên ở cấp nhà nước là vào tháng11/1989, Ngoại trưởng Thái Lan Sitthi tuyên bố: “Việt Nam không còn là mối đedoạ đối với Thái Lan nữa” Điều này được khẳng định thêm bằng tuyên bố củaNgoại trưởng Sitthi tại Uỷ ban đối ngoại Quốc hội Thái Lan (17/1/1990) rằng:

“Thái Lan sẽ mở rộng hợp tác tay đôi với Việt Nam mà không chờ có một giải phápcho vấn đề Campuchia” [28;171] Như vậy vấn đề quan hệ Việt Nam và Thái Lan

đã được khai thông, từ đây quan hệ thương mại hai bên có điều kiện phát triển hơn.Hàng hoá trao đổi giữa hai bên tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và cơ cấu mặthàng, tính chất đơn giản của hàng hoá Việt Nam đã được khắc phục, thay vào đó lànhiều mặt hàng hơn, phong phú hơn Từ năm 1990 đến năm 1995 chúng ta xuấtkhẩu sang Thái Lan các mặt hàng như: cafe, gạo, hàng may mặc, giày dép, hàngthuỷ sản (tôm, cá, mực đông lạnh) dù số lượng chưa nhiều so với tiềm năng hai bên

Bảng thống kê 5 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan

Trang 29

trạng thái cơ cấu kinh tế hiện tại của nước ta cũng như Thái Lan Từ đó có thể thấyViệt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô cho Thái Lan Điều này sẽ thay đổikhi Việt Nam từng bước công nghiệp hoá Nó đòi hỏi nước ta phải có những chínhsách điều chỉnh kịp thời

Về kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ này, chúng ta vẫn thấy cán cân thươngmại giữa Việt Nam với Thái Lan có sự mất cân đối, chúng ta nhập siêu, còn xuấtkhẩu thì rất ít

Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với Thái Lan thời kỳ

1991 – 1995.

Đơn vị: Triệu USD

Xuất khẩu của Việt Nam 52,34 57,75 71,50 71,67 39,41 42,95

Nhập khẩu từ Thái Lan 17,08 14,23 14,22 95,11 255,20 465,92

Cán cân XNK 35,06 43,52 57,28 -23,44 -215,79 -422,97

Tổng kim ngạch 69,42 71,98 112,72 166,78 294,61 508,87

(Nguồn: Hải quan Việt Nam, Hà Nội, 2002)

Các số liệu bảng trên cho thấy, trong mấy năm gần đây hoạt động trao đổi mậudịch giữa Việt Nam và Thái Lan có xu hướng gia tăng mạnh mẽ Tuy nhiên trong sựgia tăng đó, bộc lộ một số xu hướng sau:

- Năm 1994, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan giảm mạnh.Năm 1995, có sự gia tăng trở lại nhưng cũng chỉ đạt 1/2 kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang Thái Lan so với năm 1993

- Kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan sang Việt Nam không ngừng tăng lên.Mức tăng kim ngạch nhập khẩu từ Thái Lan cao hơn nhiều so với mức tăng trưởngkim ngạch nhập khẩu chung của Việt Nam thời kỳ này Xu hướng này cho thấyhàng hoá Thái Lan ngày càng được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận Như vậytốc độ tăng nhập khẩu từ Thái Lan sang Việt Nam nhanh hơn tốc độ tăng xuất khẩu

từ Việt Nam sang Thái Lan, dẫn đến mức nhập siêu của Việt Nam ngày càng lớn

Trang 30

Năm 1995, giá trị nhập khẩu hàng hoá Thái Lan của Việt Nam là 439,7 triệu USDtrong khi xuất khẩu sang Thái Lan đạt 101,3 triệu USD, thâm hụt thương mại 338,4triệu USD

Như vậy thời kỳ 1986 đến 1995, nhờ chính sách đổi mới nền kinh tế của Nhànước ta mà quan hệ buôn bán giữa nước ta với Thái Lan không ngừng gia tăng, mặc

dù kim ngạch buôn bán hai bên còn nhỏ, lúc đầu còn bấp bênh, cán cân thương mạicủa ta luôn thấp hơn Thái Lan, chúng ta nhập siêu còn Thái Lan xuất sang Việt Namnhiều hơn Cơ cấu mặt hàng thời kỳ này đã có sự phong phú hơn so với thời kỳtrước nhưng sự cải thiện đó vẫn ở mức độ chậm, chưa có thay đổi đáng kể Chúng

ta vẫn xuất những mặt hàng thô, chưa qua chế biến, còn nhập về những mặt hàngtiêu dùng có giá trị cao Đây là thực trạng của một nền kinh tế vừa trải qua bao cấp,tiếp cận nền kinh tế thị trường chưa lâu Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta ngàycàng có những chính sách điều chỉnh kịp thời để thích ứng với nền kinh tế thịtrường, đặc biệt là giảm tình trạng nhập siêu, tăng xuất khẩu

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng:

Trong suốt thời kỳ phong kiến, thực dân, Việt Nam và Thái Lan đã thiết lậpđược mối quan hệ truyền thống tốt đẹp trên tất cả lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, vănhóa, kinh tế Tuy nhiên thì mối quan hệ này không được bền vững, vừa hòa hảo vừacạnh tranh, cả hai bên vẫn thường xuyên có những bất hòa, xoay quanh các vấn đềnhư tranh chấp ảnh hưởng ở Lào và Campuchia Nhìn chung, trong suốt thời kỳphong kiến, thực dân quan hệ Việt Nam và Thái Lan chủ yếu trên lĩnh vực chính trị,ngoại giao Duy trì mối quan hệ này ở hai chiều hướng, đó là đối đầu và xuôi chiều.Quan hệ thương mại có diễn ra nhưng còn rất ít, chủ yếu là giữa những người dâncủa hai bên với nhau Đến giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp đến xâm lược, quan hệViệt Nam và Thái Lan phụ thuộc vào Pháp, Anh Nhà Nguyễn ở Việt Nam chịu sựchi phối của Pháp, nhất là sau khi Việt Nam mất chủ quyền vào tay Pháp năm 1883,

1884, vì thế dù có muốn thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại đi nữa thì do nhiềuyếu tố mà quan hệ này ít diễn ra Nếu có thì cũng chỉ rải rác, không được thườngxuyên Thêm vào đó là các tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan ở Lào và

Trang 31

Campuchia vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp Nó làm cho quan hệ Việt Nam và TháiLan ngày càng xấu đi Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến quan hệViệt, Thái rơi vào bế tắc ở thời kỳ 1945 – 1975

Như đã trình bày ở trên, quan hệ Việt Nam và Thái Lan càng ngày càng cónhững bế tắc Từ năm 1945 trở đi, quan hệ trở nên phức tạp hơn Quan hệ chính trị,thương mại chưa có nhiều do sự chi phối của mối quan hệ giữa các nước đế quốc

Từ năm 1954 đến năm 1975, quan hệ Việt – Thái càng trở nên căng thẳng Cuộcchiến tranh ở Việt Nam và sự tham gia của Thái Lan ủng hộ Mỹ, chống lại ViệtNam làm cho mối quan hệ hai bên trở nên phức tạp nhất Cuối năm 1950 đầu năm

1960, quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Thái Lan có cải thiện, nhưngnhững thống kê về thương mại hầu như không có, do Việt Nam cần tập trung sứclực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên quan hệ hai bên diễn ra chủ yếu trên lĩnhvực ngoại giao Đó là các cuộc tiếp xúc giữa hai bên trong việc hồi hương người tịnạn Ngoài ra có một số liên hệ yếu ớt khác giữa các tổ chức đoàn thể như côngđoàn, nhà báo… Khi Mỹ vào Đông Nam Á, Mỹ đã chi phối hoàn toàn mối quan hệViệt Nam và Thái Lan, với việc thiết lập chính quyền Ngụy tay sai Mỹ đã cắt đứtquan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Thái Lan Trong thời gian Mỹ ở ViệtNam, Thái Lan quan hệ với miền Nam Việt Nam chứ không quan hệ với miền Bắc.Quan hệ này diễn ra trên các mặt như hồi hương Việt kiều, cùng tham gia khai thácsông Mê công… đặc biệt là hợp tác quân sự và chính trị Quan hệ thương mại chưa

có tài liệu ghi chép Tuy nhiên, những hợp tác thời vụ giữa chính quyền Sài Gòn vớiThái Lan không mang tính chất đại diện cho quan hệ Việt Nam và Thái Lan

Từ sau năm 1975, tưởng chừng quan hệ Việt Nam và Thái Lan được cải thiện,sau khi Mỹ rút quân về nước Nhưng thực tế thì mối quan hệ Việt - Thái càng trở nênphức tạp hơn (trừ những năm 1975 – 1977 quan hệ hai bên có cải thiện tốt), khi nảysinh vấn đề Campuchia Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã làm cho quan hệViệt - Thái trở nên xấu đi Thái Lan trở thành căn cứ của lực lượng Khơme đỏ, chốnglại nhân dân Campuchia Đến khi Việt Nam rút khỏi Campuchia và năm 1986 ViệtNam tiến hành đổi mới đất nước, quan hệ Việt Nam - Thái Lan được cải thiện rõ rệt

Trang 32

Cũng từ đây, quan hệ thương mại hai bên chính thức được thiết lập trở lại và ngàycàng phát triển hơn, kim ngạch buôn bán hai bên không ngừng gia tăng, nó chính là

cơ sở, điều kiện thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan phát triển hơn

ở giai đoạn tiếp theo, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN

Chương 2 TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – THÁI LAN

Trang 33

sự chi phối của các cường quốc, bởi lợi ích của quốc gia vẫn là động lực chủ yếutrong quan hệ quốc tế Sự cạnh tranh giữa các nước lớn có xu hướng làm sâu sắcthêm mâu thuẫn giữa các nước lớn, khi cố gắng thúc đẩy tự do hóa kinh tế và áp đặtthể chế hoá theo hướng có lợi cho mình.

Tình hình đó đặt ra cho các nước vừa và nhỏ trong đó có Việt Nam và TháiLan những cơ hội và thách thức mới Một mặt, chiều hướng này góp phần củng cốmôi trường hoà dịu, tạo thêm cơ hội cho sự phát triển thương mại Việt Nam vớiThái Lan, nhưng cũng tạo ra những nguy cơ bất lợi trong xu thế toàn cầu hoá kinh

tế, nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào các nước lớn… Hợp tác là cách thức tốt nhất

để nâng cao sức mạnh và khả năng nói chung, giảm thiểu tiêu cực yếu kém Nhưvậy những xu hướng này đều dẫn đến yêu cầu tăng cường hợp tác nhiều mặt giữacác nước để tận dụng cơ hội và hạn chế thách thức Hợp tác với các nước trong khuvực Đông Nam Á nói chung, cũng như quan hệ thượng mại với Thái Lan, Việt Namđều chịu những tác động mạnh mẽ của những vận động của môi trường quốc tế.Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế đa cực hoá cũng đồng hành với thực

tế những nước lớn, nước mạnh sẽ chi phối cả thế giới về kinh tế và chính trị Thực

tế này, hiện nay ứng với những nước có nền kinh tế lớn mạnh như Trung Quốc, Mỹ,Nhật Còn nước Nga sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nền kinh tế sa sút, từ năm

1995 đến nay có phục hồi nhưng chưa đáng kể, chưa thể chi phối mạnh mẽ nền kinh

tế thế giới Như vậy vai trò chi phối kinh tế thế giới những năm đầu thế kỷ XXIthuộc về một số nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật và ngày càng trở nên quan

Trang 34

ở khu vực này theo hướng có lợi cho Mỹ Mỹ tìm cách củng cố quan hệ với cácnước trong khu vực, đặc biệt là cải thiện quan hệ với Việt Nam, cụ thể vào ngày

14 – 7 – 2000, hai nước đã kí hiệp định thương mại Việt - Mỹ, điều này đã tạo điềukiện cho thương mại Việt Nam phát triển đồng thời cũng củng cố niềm tin củanhững nước thân Mỹ (trong đó có Thái Lan) trong việc quan hệ hợp tác kinh tế vớiViệt Nam Tuy nhiên thì việc Mỹ lớn mạnh trong khi Trung Quốc cũng đang vươnlên một cách nhanh chóng chỉ đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Áp lực đặt lên vai cácnhà chức trách Mỹ, đòi hỏi phải có những chính sách thích hợp để tận dụng những

cơ hội thúc đẩy thương mại hai bên nhưng cũng tìm cách để kìm chế Trung Quốctrở thành bá chủ khu vực (ví dụ như việc phản đối Trung Quốc xuất khẩu tên lửatầm trung sang bắc Triều Tiên…) Mỹ vẫn được coi là một đối tác khổng lồ khôngchỉ bởi sức mạnh mà còn bởi vai trò chi phối của nó trong các thể chế kinh tế quốc

tế và khu vực Đồng thời Mỹ cũng ngăn cản nỗ lực thể chế hoá hợp tác Đông Á màkhông có Mỹ tham gia (phản đối Nhật với ý kiến thành lập AMF năm 1997) Vì vậyvai trò cường quốc hàng đầu trong khu vực của Mỹ vẫn được khẳng định Trong mộtchừng mực nào đó thì chính sách này của Mỹ cũng góp phần tạo môi trường ổn định

có lợi cho sự phát triển thương mại Việt Nam với Thái Lan, việc Đông Nam Á khôngcòn là khu vực lợi ích sống còn, cũng như chính sách ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ

đã góp phần hạn chế chính sách lôi kéo, chia rẽ Mặc dù vậy cũng cần phải nhận thấyrằng, dù quan hệ Việt - Mỹ đã có cải thiện hơn trước nhưng chưa khai thác hết tiềmnăng Thái độ đứng ngoài một số vấn đề không can thiệp của Mỹ cũng gây nênnhững khó khăn nhất định cho việc thống nhất hành động ở khu vực, trong đó cóThái Lan và Việt Nam

Trang 35

Từ năm 1991 nước Nga không còn đóng vai trò chi phối đối với khu vực,trong đó có Việt Nam Kinh tế Nga sau năm 1991 sa sút nghiêm trọng, đến nayđang phục hồi nhưng chưa gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của khu vực Trongkhi đó Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ đang chi phối và giữ vị trí quan trọng trongkhu vực Chính sách của Trung Quốc trong giai đoạn này vẫn không thay đổi mụctiêu là đạt được địa vị cường quốc khu vực Một mặt Trung Quốc ủng hộ nỗ lực hợptác trong khu vực có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc Mặt khác, Trung Quốcluôn tranh thủ cơ hội để khẳng định vai trò của mình Các biện pháp của TrungQuốc lúc mềm, lúc cứng khá đa dạng, gồm cả hợp tác, cạnh tranh, xoa dịu lẫn đedoạ (cạnh tranh với ASEAN về FDI và xuất khẩu nhưng lại trợ giúp đáng kể trongcuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998, ủng hộ hợp tác trong ASEM và ASEAN +

3 nhưng lại phản đối sáng kiến quỹ tiền tệ Châu Á của Nhật Bản) Với tiềm năng,thực lực và chính sách như vậy, Trung Quốc vẫn là nước có sự chi phối mạnh mẽđến quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan Một mặt, tiếp tục cải thiện và tăngcường hợp tác với Việt Nam Mặt khác có chính sách khác nhau đối với từng nướcASEAN cũng có thể tạo nguy cơ làm yếu sự thống nhất hành động trong ASEAN

Sự khác nhau giữa quan hệ Trung - Việt và quan hệ Trung – Thái cả về tính chất,mức độ lẫn quy mô rõ ràng không hoàn toàn thuận lợi cho quan hệ Việt Nam –ASEAN nói chung và quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan nói riêng

Với địa vị là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới (trước là thứ hai nhưng từ năm

2010, Trung Quốc đã vươn lên thứ hai) Nhật bản trong khu vực đã có ảnh hưởngrất lâu, ảnh hưởng của Nhật Bản ở đây chủ yếu là kinh tế còn vị thế chính trị khákhiêm tốn Vì thế Nhật Bản cũng muốn duy trì hoà bình, ổn định và tăng cường hợptác ở Đông Nam Á, vừa để phát triển kinh tế, vừa tăng cường tầm ảnh hưởng củamình Nhật Bản chú ý hợp tác kinh tế với ASEAN còn để ngăn chặn ảnh hưởng củaTrung Quốc ở đây Cố gắng hợp tác kinh tế như sáng kiến thành lập quỹ tiền tệChâu Á và sự hình thành hệ thống kinh doanh quy mô khu vực của Nhật Bản, đãgóp phần thúc đẩy hợp tác khu vực trong đó có quan hệ thương mại Việt Nam –Thái Lan

Trang 36

Trước tình hình trên, quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan thời kỳ nàycàng chịu tác động mạnh mẽ của các xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới.Chiến tranh lạnh kết thúc và xu hướng hoà dịu trong quan hệ quốc tế đã tạo cơ hộicho tất cả các nước tập trung vào lợi ích phát triển Chính sự tập trung này đã làmcho kinh tế ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế Quá trình vậnđộng của nền kinh tế thế giới đã được định hình và vì thế, tác động chi phối của nóđối với quan hệ quốc tế trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Đó là môi trường kinh tếtoàn cầu hoá có tính cạnh tranh với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thếgiới Bên cạnh đó sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật với những mạnglưới thông tin liên lạc đã làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, trên quy môtoàn cầu và làm cho quá trình trao đổi buôn bán diễn ra nhanh hơn Toàn cầu hoákinh tế còn tạo cơ hội cho sự hoạt động kinh tế cả trong lẫn ngoài nước Xu hướngthể chế hoá nền kinh tế thế giới đang tăng lên qua sự phát triển của hệ thống tàichính quốc tế và luật kinh tế quốc tế… Các xu thế này ít nhiều đều có tác động đếnquan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan, mặc dù kinh tế hai nước chưa lớn, traođổi buôn bán chưa nhiều nhưng nó là cơ hội cho sự phát triển hợp tác Bên cạnh đóthì những thách thức mới của toàn cầu hoá cũng đòi hỏi thúc đẩy hợp tác Vì vậy cảThái Lan và Việt Nam đều phải chuyển mình để thích ứng Hợp tác kinh tế phảiđược tập trung hơn, nhất là thương mại, mức độ hợp tác phải được tăng cường hơntrên cả bình diện song phương và đa phương, hợp tác để duy trì ổn định cho sự pháttriển

Vì vậy quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan từ 1995 đến nay khôngngừng gia tăng, có thể nói nó đang là quan hệ chủ đạo giữa Việt Nam và Thái Lan,góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước trên cả lĩnh vực chính trị và ngoại giao

2.1.2 Tình hình khu vực

Ngày 28 – 7 – 1995, tại thủ đô Banda Seri Begawan của Brunej, lễ kết nạp ViệtNam thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN đã được tổ chức trọng thể Sựkiện này đã mở ra một trang sử mới trong quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á nói chung,quan hệ Việt Nam với Thái Lan và Việt Nam với từng thành viên ASEAN nói riêng

Trang 37

Quan hệ hợp tác Việt Nam với Thái Lan trong giai đoạn này có thêm cơ hội và điềukiện để tiếp tục phát triển, quá trình này đã được củng cố thêm bởi những tác độngtích cực từ bên ngoài

Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội cũngnhư những thách thức mới, đòi hỏi Việt Nam phải tranh thủ những thuận lợi từ bốicảnh quốc tế và khu vực để phát triển kinh tế đối ngoại của mình Mở rộng hợp tácvới các nước trên thế giới chứ không chỉ với ASEAN Việc Việt Nam trở thànhthành viên chính thức có sự ủng hộ của dư luận Thái Lan Kavichong kitavora,phóng viên báo Thái Lan The Nation năm 1992, đã có một bài phân tích với nhan

đề “Việt Nam cần ASEAN và ngược lại” đăng trên báo Yomuri ngày 12 tháng 5năm 1992, thúc giục các nhà lãnh đạo Thái Lan sớm chấp nhận Việt Nam trở thànhthành viên chính thức của ASEAN vì sự ổn định, thịnh vượng của cả khu vực.Thiện chí tốt đẹp này của Thái Lan đã được đánh giá cao Kể từ khi Việt Nam gianhập ASEAN mối quan hệ đa phương đã được tăng cường, mà ở đây vai trò hợp tácgiữa Việt Nam và Thái Lan đóng vai trò cực kỳ quan trọng Đặc biệt Việt Nam vàThái Lan đã tham dự AFTA và những quy định về hợp tác kinh tế trong khuôn khổAFTA, sẽ làm cho Việt Nam và Thái Lan có cơ hội trong phát triển sản lượng hànghoá trao đổi giữa hai nước một cách nhanh chóng

Hoạt động của ASEAN đã tạo ra những địa bàn hoạt động mới cho quan hệsong phương ASEAN là một tổ chức khu vực có chức năng chung với hệ thống các

cơ quan chuyên môn tương đối toàn diện Càng ngày càng mở rộng hợp tác trênnhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị đến kinh tế, văn hoá, xã hội… Thông qua sự

mở rộng hợp tác này quan hệ song phương giữa các nước thành viên được mở rộngtheo Hơn nữa ASEAN cũng là đại diện cho các thành viên trong quan hệ với cácquốc gia và tổ chức bên ngoài Thông qua ASEAN, quan hệ song phương cũng cókhả năng tận dụng những thuận lợi và hạn chế những thách thức từ những xu thếtrên thế giới hiện nay Như vậy, việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã tạo cơ sở vàđiều kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan

Nó còn làm tăng thêm sự gắn bó lợi ích, mở rộng diện hợp tác, thúc đẩy hoà hợp và

Trang 38

nâng cao vị thế quốc tế không chỉ riêng với Việt Nam mà cả với Thái Lan Qúatrình phát triển quan hệ thương mại Việt Nam với Thái Lan đã được củng cố thêmbởi điều này

Với ý nghĩa và vai trò như vậy, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là rất quantrọng, không chỉ đối với sự phát triển thương mại Việt Nam với Thái Lan mà cònquan trọng đối với an ninh của mỗi nước Năm 1995 quá trình mở rộng ASEAN ratoàn Đông Nam Á bắt đầu Sau Việt Nam là Lào và Mianma kết nạp năm 1997,Campuchia năm 1999 Sự tham gia đầy đủ của các quốc gia Đông Nam Á vào trongmột tổ chức khu vực, đã đặt cơ sở cho sự hợp tác toàn khu vực, trong đó kinh tế làmột lĩnh vực rất quan trọng hiện nay Đó là sự thúc đẩy hợp tác trong khối nhưAFTA, AIA, AICO, các tam giác, tứ giác phát triển Cuộc khủng hoảng tài chính,tiền tệ Đông Á năm 1997 – 1998 càng củng cố thêm lợi ích và cả nhận thức mới vềkinh tế của các nước Qua đó Việt Nam cũng có thêm kinh nghiệm để quản lý kinh

tế, cũng như mở rộng hợp tác với các nước Sự tàn phá của cuộc khủng hoảng vàhiệu ứng lan truyền của nó đã cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau và tính dễ tổn thươngcủa các nền kinh tế trong khu vực, mà Thái Lan cũng là một nước chịu ảnh hưởngnặng nề từ cuộc khủng hoảng này, còn Việt Nam thời điểm đó kinh tế còn chậmphát triển nên mức độ ảnh hưởng của nó không cao Nhưng cũng cần nhận thấyrằng, từ sau năm 1995 kinh tế Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh, hợp tácquốc tế ngày càng sâu rộng Vì thế Việt Nam càng cần phải hợp tác với các nước đểtránh những thiệt hại không đáng có xảy ra Việc Việt Nam gia nhập ASEAN và sựphát triển của ASEAN không chỉ giúp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam vớiThái Lan Đó còn là sự phù hợp với tình hình khách quan, vì sự phát triển củaASEAN và đáp ứng nhu cầu phát triển của hai nước

Ngay khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á kết thúc, hai nước đã có

sự trao đổi giữa các phái đoàn cấp cao, đáng chú ý là chuyến thăm chính thức TháiLan của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tháng 10 – 1998 Đây là chuyến thăm lầnthứ hai của Chủ tịch nước đến một nước thành viên ASEAN, chuyến thăm nàynhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương Vì vậy cùng đi với Chủ tịch còn

Trang 39

một phái đoàn lớn gồm 60 quan chức Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam Đây là

cơ hội quan trọng để các nhà doanh nghiệp Việt Nam liên hệ với các nhà doanhnghiệp Thái Lan Việt Nam và Thái Lan sẽ phát động một kế hoạch khu vực lớn đểphát triển một con đường thương mại và công nghiệp, nối liền bờ biển phía Đôngcủa Thái Lan vào Đà Nẵng của Việt Nam, thông qua trung Lào Thủ tướng TháiLan đã nêu bật sự hợp tác này như một “đường huyết mạch của sự phồn vinh” giữa

ba nước láng giềng trong diễn văn của ông đọc tại bữa tiệc chiêu đãi Chủ tịch nướcTrần Đức Lương Hiện nay khu vực ASEAN đang phát triển rất sôi động, quá trìnhhợp tác trong khu vực đang diễn ra mạnh mẽ Việt Nam không chỉ hợp tác với TháiLan mà còn hợp tác với nhiều nước khác Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh,nhu cầu trao đổi với ASEAN, cũng như với Thái Lan vì thế cũng tăng lên

Như vậy tình hình quốc tế và khu vực đem lại cơ hội cũng như thách thức chonền thương mại Việt Nam Nó chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, khó lường, cáctranh chấp, xung đột cục bộ… Các nước lớn cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế

và tìm cách áp đặt các rào cản trong thương mại với các nước nghèo và đang pháttriển Ở trong nước, chúng ta có những thuận lợi cơ bản là thành tựu to lớn vànhững bài học kinh nghiệm quan trọng trong 20 năm đổi mới Nhưng cũng nhiềuyếu kém, khuyết điểm Trong khi yêu cầu hội nhập với kinh tế khu vực, thế giớingày càng khẩn trương, sâu rộng hơn Vì vậy, nó đòi hỏi Việt Nam cần nhanhchóng nắm bắt thời cơ, tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập kinh tế khu vực, cũngnhư với thế giới, thúc đẩy thương mại phát triển, nhất là ngoại thương với Thái Lan

2.2 Tiềm năng và lợi thế kinh tế Việt Nam

Để phát triển kinh tế không chỉ với Thái Lan mà với tất cả các nước trongkhu vực cũng như trên thế giới Việt Nam tranh thủ những lợi thế của mình đểphát huy thế mạnh cạnh tranh với các nước, nhất là trong quan hệ kinh tế thươngmại Việt Nam cũng như Thái Lan, hai nước đều có cơ sở kinh tế tương đối giốngnhau, tận dụng những lợi thế đó, Việt Nam tranh thủ phát huy những thế mạnh củamình để cạnh tranh với các nước, trong đó có Thái Lan

Trang 40

Về vị trí địa lý: Việt Nam và Thái Lan bị tách riêng biệt bởi Lào vàCampuchia Tuy nhiên thì Việt Nam và Thái Lan cũng chỉ cách nhau vài km đườngbiển Năm 1986, nền kinh tế Việt Nam bước vào thời kì đổi mới, cải cách kinh tế và

mở cửa với thế giới bên ngoài Việt Nam được Thái Lan biết đến trước hết là mộtthị trường lao động và dân cư rộng lớn, có sức mua tăng nhanh theo đà tăng trưởngkinh tế Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các tuyến giao thông quốc tếquan trọng, nhất là nối liền Đông Bắc Á với khu vực Đông Nam Á, là những nơiđang phát triển nhanh và năng động nhất thế giới Bên cạnh đó Việt Nam còn cónhiều nguồn lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên để phát triển mạnh nền kinh tế

mở, đảm bảo sự tăng trưởng nhanh Trong một số mặt hàng Việt Nam xuất khẩusang Thái Lan có dầu thô, cao su… là những mặt hàng mà lợi thế của tự nhiên đemlại cho Việt Nam Ngoài ra nguồn lao động dồi dào với truyền thống cần cù, với mặtbằng dân trí cao hơn công nhân Thái Lan, do đó tiếp thu về khoa học công nghệnhanh hơn và khả năng tạo ra sản phẩm nhiều hơn, đẹp, tinh xảo hơn Vì thế có thểViệt Nam sẽ cạnh tranh được với Thái Lan trên một số mặt hàng như đồ mỹ nghệnếu như Việt Nam khai thác tốt lợi thế này

Việt Nam cũng là nơi có tài nguyên đất nước đa dạng về nông, lâm, thuỷ sảnphục vụ cho phát triển nhiều ngành sản xuất nông nghiệp trong nước và cho xuấtkhẩu Với khí hậu ấm ẩm, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt,nguồn nước dồi dào là môi trường thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ, hải sản Hàngnăm, lượng cá, sản lượng lúa của Việt Nam đang đứng thứ hai thế giới, đây là mộtthế mạnh không thua kém gì Thái Lan Nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng dồidào mặc dù không phải là bất tận nhưng đó cũng là những mặt hàng chủ yếu choxuất khẩu của nước ta Với tiềm năng về kinh tế như vậy Việt Nam hoàn toàn cókhả năng xuất khẩu hàng hoá của mình, thậm chí cạnh tranh với hàng Thái Lanngay tại nước này

Cùng với nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, con người còn là sự ổn định về

an ninh, chính trị cũng như kinh tế của nước ta, nó thể hiện sự đúng đắn của Đảng

và Nhà nước ta trong việc hoạch định đường lối Sự đoàn kết nhất trí, ủng hộ với sự

Ngày đăng: 04/04/2015, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Thực, Đỗ Điều Đình, 1988, Một số vấn đề kinh tế đối ngoại của một số nước đang phát triển Châu Á, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế đối ngoại của một số nước đang phát triển Châu Á
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
2. Lê Mậu Hãn, 1999, Lịch sử Việt Nam tập 3, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam tập 3
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
3. (1997) Hệ thống chính sách thương mại nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam, Bộ Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính sách thương mại nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam
4. Trương Duy Hoà, 2009, Kinh tế Thái Lan, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Thái Lan
Nhà XB: Nxb Thế giới
5. Nguyễn Đình Hương, 1999, Quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN và chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN và chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Nguyễn Tương Lai, 2001, Quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong những năm 90, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong những năm
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
7. Nguyễn Phan Long - Nguyễn Tương Lai, 1998, Lịch sử Thái Lan, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thái Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
8. Võ Đại Lược, 1995, Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
9. Hoàng Khắc Nam, 2007, Quan hệ Việt Nam – Thái Lan (1976 – 2000), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan (1976 – 2000)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
10. (2009) Niên giám thương mại Việt Nam 2009, Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thương mại Việt Nam 2009
Nhà XB: Nxb Lao Động
11. Vũ Công Quý, 1998, 25 năm nghiên cứu các nước Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm nghiên cứu các nước Đông Nam Á
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
12. Bùi Thanh Sơn, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Nguyễn Anh Thái, 1999, Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Nguyễn Quang Thái, 2004, Toàn cảnh kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. Phạm Đức Thành, 2006, Việt Nam trong ASEAN, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong ASEAN
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
16. Nguyễn Xuân Thắng, 1996, Việt Nam và các nước châu Á – Thái Bình Dương: các quan hệ kinh tế hiện nay và triển vọng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và các nước châu Á – Thái Bình Dương: các quan hệ kinh tế hiện nay và triển vọng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
17. Hoàng Đức Thân, 2001, Chính sách thương mại trong điều kiện hội nhập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thương mại trong điều kiện hội nhập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Lê Văn Toàn, 1992, Kinh tế các nước ASEAN và khả năng hòa nhập của Việt Nam, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế các nước ASEAN và khả năng hòa nhập của Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
19. (1999) Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN
Nhà XB: Nxb Thống kê
20. (2005) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (ĐH VI,VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (ĐH VI,VII, VIII, IX)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê 5 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan - Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ 1995 đến nay
Bảng th ống kê 5 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan (Trang 27)
Bảng thống kê 5 mặt hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan - Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ 1995 đến nay
Bảng th ống kê 5 mặt hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ Thái Lan (Trang 28)
Bảng số liệu thương mại Việt Nam với Thái Lan từ năm 1995 đến 2000. - Khoá luận tốt nghiệp Lịch sử Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Thái Lan từ 1995 đến nay
Bảng s ố liệu thương mại Việt Nam với Thái Lan từ năm 1995 đến 2000 (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w