1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan hệ kinh tế việt nam hàn quốc (1992 2010)

121 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn khép lại quá khứ hướng tới tương lai, hai nước cùng chung quyết tâm phát triển mối quan hệ, hợp tác trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền dân tộc, phấn đấu vì sự ổn định và h

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình hoàn thành luận văn với đề tài: Quan hệ kinh tế Việt-Hàn 2010), tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của cô hướng dẫn Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Tiến sĩ Lê Huỳnh Hoa, cô đã hết lòng giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu, động viên cho tôi hoàn thành đề tài luận văn này

T.p Hồ Chí Minh, ngày tháng 08 năm 2011

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Ch ương I: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC 1.1 Một số điểm tương đồng về lịch sử giữa hai dân tộc Việt -Hàn 7

1.1.1 Truyền thuyết về cội nguồn dân tộc 7

1.1.2 Việt Nam-Hàn Quốc cùng đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc 8

1.2 Một số nét tương đồng về văn hóa giữa Việt Nam - Hàn Quốc 15

1.2.1 Nét tương đồng trong phong tục tập quán: ăn, uống 15

1.2.2 Nét tương đồng trong phong tục hôn nhân truyền thống giữa Việt Nam- Hàn Quốc 18

1.2.3 Nét tương đồng trong phong tục thờ cúng tổ tiên 20

1.2.4 Nét tương đồng trong các ngày lễ tết truyền thống 21

1.2.5 Nét tương đồng trong hệ thống văn tự chữ Hán 23

1.2.6 Nét tương đồng về tôn giáo tín ngưỡng 24

1 3 Quan hệ bang giao Việt – Hàn trước 1992 26

13.1 Quan hệ bang giao Việt –Hàn thời trung đại 26

1.3.2 Quan hệ Việt –Hàn thời cận đại 28

1.3.3 Sơ lược quan hệ Việt- Hàn giai đoạn từ sau 1954 đến 1975 30

1.3.4 Quan hệ Việt – Hàn giai đoạn 1975 đến năm 1992 31

1.3.5 Quan hệ bang giao năm 1992 - Nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt – Hàn 32

Ch ương II: QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC (1992-2010) 2.1 Những khái niệm liên quan đến quan hệ kinh tế quốc tế và tiềm năng hợp tác kinh tế Việt – Hàn 35

2.1.1 Những khái niệm liên quan hệ kinh tế quốc tế và tính tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế 35

2.1.2 Tiềm năng hợp tác từ phía Việt Nam 36

2.1.3 Tiềm năng hợp tác từ phía Hàn Quốc 38

2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (1992-2010) 39

2.2.1 Khái quát chung quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc trước khi hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao (1983 - 1992) 39

Trang 5

2.2.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc (1992-2010) 44

2.3.1 Mặt tích cực 53

2.3.2 Mặt hạn chế 54

2 4 Quan hệ đầu tư Việt – Hàn (1992-2010 ) 56

2.4.1 Đầu tư của Việt Nam vào Hàn Quốc (1992-2010 ) 56

2.4.2 Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam (1992-2010) 58

2.4.3 Đánh giá chung về quan hệ đầu tư Việt –Hàn ( 1992-2010 ) 64

Ch ương III: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP 67

3.1 Triển vọng và định hướng của quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc 67

3.1.1 Triển vọng của quan hệ kinh Việt Nam – Hàn Quốc 67

3.1.2 Định hướng phát triển cho quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc 74

3 2 Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc 76

3.2.1 Giải pháp về chính trị 76

3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao quan hệ thương mại Việt - Hàn 77

3 3 Các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam 88 3.3.1 Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư 88

3 3 2 Phát triển cơ sở hạ tầng 89

3 3 3 Cải cách thủ tục hành chính 90

3 3.4 Nâng cao trình độ cho các doanh nghiệp và người lao động Việt Nam 91

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 : Trình tự hôn lễ truyển thống giữa Việt Nam và Hàn Quốc 23

Bảng 1.2 : Các cuộc viếng thăm cấp cao giữa Việt Nam – Hàn Quốc 37

Bảng 1.3 : Các Hiệp định được ký kết giữa Việt Nam- Hàn Quốc 38

Bảng 2.1: Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Hàn Quốc (1983-1992) 47

Bảng 2 2: Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam –Hàn Quốc (1992- 2003) 50 Bảng 2 3: Kim ngạch thương mại Việt Nam- Hàn Quốc(2004-2010) 50

Bảng 2.4: Mười thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam 51

Bảng 2.5: Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc(2001-2003) 54

Bảng 2.6: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2004-2010 56

Bảng 2.7 : Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc(2004-2010) 57

Bảng 2.8: Mộ số hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc (2007-2010) 57

Bảng 2.9: Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc(2001 -2003) 59

Bảng 2.10: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc(2004-2010) 61

Bảng 2.11: Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc (2007-2010)

61

Bảng 2.12 : Nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc (1998-2003) 64

Bảng 2.13 : Nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc (2004-2010) 64

Bảng 2.14 : Một số thị trường nhập khẩu của Hàn Quốc năm 2010 65

Bảng 2.15: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989 - 2009 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu 67

Bảng 2.16: Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ( 1991- 2003) 68

Bảng 2.17 : Một số dự án hàng đầu của Hàn Quốc tại Việt Nam (1992-2005) 69

Bảng 2.18:Đầu tư của một số nước vào Việt Nam được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư chủ yếu 70

Bảng 2.19 : Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam theo ngành kinh tế 71

Bảng 2.20: Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam phân theo ngành 90 72

Bảng 2.21 : Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam phân theo địa phương 73

Bảng 3.1: Một số dự án đầu tư lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam 83

Trang 7

Bảng 3.3 : Tiềm năng thủy sản nước mặn của Việt Nam 91

Bảng 3.4: Các nước nhập khẩu thủy sản chính trên thế giới 92

Bảng 3.5: Thị trường xuất khẩu cao su Việt Nam 2006 92

Bảng 3.6 : Một số hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc 97

DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 : Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc ( 2004-2010) 79

Biểu đồ 3.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc ( 2004-2010) 80

Biểu đồ3.3: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc (1993-2003) 81

Biều đồ 3.4: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc (2004-2010) 82

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia ở Đông Á, có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa Trong lịch sử cả hai dân tộc đã nhiều lần phải đương đầu với thế lực ngoại xâm lớn hơn mình gấp nhiều lần Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm đã hun đúc nên tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc bất khuất của nhân dân hai nước

Đều nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, Việt Nam và Hàn Quốc đều sớm tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của nền văn minh ra đời sớm và nổi tiếng này Mặt khác cả hai dân tộc đều sớm có một nền giáo dục và thi cử theo tinh thần nho giáo Phật giáo cũng sớm du nhập vào hai nước và trong lịch sử, phật giáo đã từng một thời giữ vị trí

quốc giáo của hai nước và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục phát triển

Những nét tương đồng về lịch sử, văn hóa nêu trên đã khiến cho hai dân tộc dễ xích gần

lại với nhau Trong lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước đã có từ nhiều thế kỷ trước: Thế kỷ XII, XIII, hai Hoàng tử của vương triều Lý (1010-1225) là Lý Dương Côn - em Lý Dương Hoán- tức vua Lý Thần Tông (1128-1138), kế tiếp là Hoàng tử Lý Long Tường- Hoàng tử

thứ của vua Lý Anh Tông (1138-1175), cháu nội của vua Lý Thần Tông, em vua Lý Cao Tông (1176-1210) đã từng đặt chân đến Hàn Quốc và đã có nhiều đóng góp to lớn cho đất nước này Hiện Nay ở Hàn Quốc vẫn còn nhiều hậu duệ dòng họ Lý đang sinh sống và làm

Sau chiến thắng 30-4-1975 của nhân dân Việt Nam, quan hệ giữa hai nước rơi vào

thời kỳ đóng băng trong một thời gian dài (1975-1992) Thời gian này mối quan hệ giữa hai nước có chăng chỉ diễn ra qua hình thức trung gian

Với mong muốn khép lại quá khứ hướng tới tương lai, hai nước cùng chung quyết tâm phát triển mối quan hệ, hợp tác trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền dân tộc, phấn đấu

vì sự ổn định và hợp tác phồn thịnh ở khu vực cũng như trên thế giới, ngày 22-12-1992,

Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức ký kết quan hệ ngoại giao Từ đó đến nay, quan hệ

Trang 9

có những tiềm năng to lớn để có thể hợp tác bổ sung cho nhau trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội

Hiện nay quan hệ giữa hai nước đang phát triển tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, văn hóa Thương mại giữa hai nước và đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ngày càng tăng trưởng nhanh Giao lưu văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước cũng được quan tâm dưới nhiều hình thức như: hội thảo khoa học, trao đổi chuyên gia, sinh viên, các đoàn nghệ thuật Tại Hàn Quốc, khoa tiếng Việt đã được mở ở một số trường Đại Học

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và đào tạo về Hàn Quốc học cũng đã bắt đầu sau khi hai nước ký kết quan hệ bang giao

Tuy nhiên quan hệ kinh tế là nổi bật nhất, thường xuyên giữa hai quốc gia Trong điều kiện khả năng của mình, tôi chỉ đi vào nghiên cứu ở khía cạnh quan hệ kinh tế với mong muốn có cách nhìn toàn diện đầy đủ hơn về lịch sử phát triển đất nước cũng như kinh

tế -văn hóa giữa hai dân tộc Vì tất cả những lý do trên, tôi đã chọn đề tài quan hệ kinh tế

Việt Nam –Hàn Quốc ( 1992-2010 ) làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng chính của luận văn là mối quan hệ kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2010) Ngoài ra những nét tương đồng về lịch sử và văn hóa giữa hai quốc gia cũng được xem xét trong luận văn này

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giai đoạn từ 1992, thời điểm bắt đầu đặt quan hệ ngoại giao cho đến năm 2010 Trong quan hệ kinh tế, luận văn tập trung nghiên cứu hai vấn đề: Quan hệ thương mại và quan hệ đầu tư Trong quan hệ thương mại, chủ yếu tìm hiểu, nghiên cứu tình hình xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Hàn Quốc (1992-2010) Trong quan

hệ đầu tư, chủ yếu tìm hiểu tình hình đầu tư giữa Việt Nam và Hàn Quốc (1992-2010)

3 L ịch sử nghiên cứu vấn đề và các nguồn tài liệu

Quan hệ kinh tế Việt- Hàn giai đoạn từ 1992 đến 2010 là đề tài mới, những công trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa hai nước có thể tìm thấy qua các sách, báo, tạp chí, internet Xin được liệt kê dưới đây

+ V ề lĩnh vực kinh tế có các bài viết sau:

- H ội nhập kinh tế Đông Á và tác động của nó tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc

của PGS TS Ngô Xuân Bình – Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Tác giả tập trung phân tích

những vấn đề: Nhận dạng hội nhập kinh tế Đông Á, liên kết phi hiệp định khu vực, khu vực

Trang 10

thương mại tự do (FTAs), hiệp định tư do song phương (FTAs) sau đó chỉ rõ sự hội nhập kinh tế Đông Á tác động tới quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc

- FDI và ODA c ủa Hàn Quốc vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng của TS Trần

Quang Minh và Th.S Võ Hải Thanh – Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Tác giả tập trung phân tích nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA)

của Hàn Quốc vào Việt Nam góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng và quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung

- H ợp tác kinh tế Việt Nam Hàn Quốc thông qua đầu tư hợp tác trực tiếp nước ngoài (FDI) của GS.TS Hwy- Chang Moon Bài viết dừng lại ở việc nói rõ đầu tư của Hàn Quốc

tại Việt Nam, phân tích môi trường FDI không đề cập đến quan hệ thương mai Việt – Hàn

- Quan h ệ thương mại Việt Nam –Hàn Quốc của PGS TS Phạm Thị Quý – Đại Học

Kinh tế Quốc Dân Bài viết tập trung đi sâu vào phân tích quan hệ thương mại giữa hai nước

từ năm 1992 đến năm 2003, sau đó vạch ra giải pháp và triển vọng thúc đầy quan hệ hai nước lên tầm cao mới

- Quan h ệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc: 15 năm hợp tác và phát triển của Tiến sĩ

Trần Quang Minh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á Nội dung đề cập đến

viện trợ phát triển của Hàn Quốc dành cho Việt Nam, tổng kết 15 năm quan hệ kinh tế Việt

- Hàn, sơ lược tình hình đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam Nội dung bài viết mang tính

chất khái quát, tham khảo là chính

- Thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc là nghiên cứu khoa học của Ngô

Xuân Bình và Đặng Khánh Toàn, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5 ( 111) 5-

2010 Nội dung chủ yếu đưa ra những nhận định, đánh giá trong quan hệ kinh tế Việt – Hàn

Mặt khác bài viết còn tập trung phân tích tiềm năng hợp tác và triển vọng quan hệ kinh tế

Việt – Hàn trong bối cảnh quốc tế

- Nguyễn Hồng Nhung với Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam- Hàn Quốc và vấn

đề nhập siêu của Việt Nam, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1 ( 107) 1-2010

Nội dung đề cập đến quá trình trao đổi hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc, tình hình đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam, mối liên hệ thương mại- đầu tư trong quan hệ song phương Việt- Hàn và vấn đề nhập siêu của Việt Nam Người đọc có thể hiểu một cách khái quát quan hệ kinh tế Việt – Hàn Tuy nhiên bài viết đi sâu vào phân tích tình hình xuất, nhập khẩu của hai nước trong các năm 1993, 2000, 2008, chưa chỉ rõ được sự phát triển vượt bậc trong

Trang 11

quốc gia, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc khái quát những con số, chưa chỉ rõ được nguyên nhân của sự hạn chế đầu tư của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc

- Vi ệt Nam trên đường đồi mới – Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc: triển vọng

t ốt đẹp của Nguyễn Sinh đăng trên Tạp chí Cộng Sản số ra ngày 6/1/2011 Tác giả đã cho

người đọc thấy được những kết quả to lớn trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Hàn Quốc

Nội dung ngắn gọn, chỉ hơn 2 trang, tuy nhiên ưu điểm của bài viết chỉ rõ được tầm quan

trọng cũng như những hạn chế trong quan hệ kinh tế Việt- Hàn

- Tác giả Nghi Phương, trong bài viết Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2010, đăng trên

trang web của Tổng cục Hải quan Việt Nam ngày 4/3/201 Nghi Phương đã khái quát tổng kim ngạch 5 tháng đầu năm 2010 trong quan hệ thương mại Việt – Hàn, bên cạnh đó cũng

chỉ rõ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2007 Tuy nhiên bài viết này mang tính chất tổng kết hơn là đi sâu phân tích kết quả đạt được trong quan hệ kinh tế Việt- Hàn

- H ợp tác thương mại và công nghiệp song phương giữa Hàn Quốc và Việt Nam của

GS.TS Inshik Oh ( đại học tổng hợp Sangmyung) Bài viết đưa ra những khái quát trong quan hệ thương mại của Hàn Quốc ( 1992-2003), tình hình phát triển thương mại của Hàn

Quốc, cơ cấu thương mại song phương Việt – Hàn, những hợp tác công nghiệp giữa hai

quốc gia Quan hệ kinh tế Việt- Hàn chưa được đề cập đẩy đủ trong bài viết này

- Ngô Thị Trinh ( Viện kinh tế và chính trị thế giới ) có bài viết: Quan hệ hợp tác

Vi ệt Nam – Hàn Quốc trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực việt Nam: Thực trạng, xu hướng và kiến nghị giải pháp Nội dung chủ yếu đề cập đến sự hợp tác nguồn nhân lực giữa

hai bên, cũng như chỉ ra được tiềm năng hợp tác giữa hai quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực nội dung quan hệ kinh tế Việt- Hàn đề cập rất ít trong bài viết này

- Trong luận án Tiến sĩ lịch sử Việt Nam: Mối quan hệ Việt – Hàn trong và sau chi ến tranh của Mỹ tại Việt Nam (1955-2005) của Ku –Su- Jeong, có đề cập đến mối quan

hệ kinh tế Việt - Hàn, tuy nhiên chỉ là những nét sơ lược về quan hệ kinh tế trong và sau chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam (1955-2005), tác giả không đi vào phân tích tình hình xuất,

nhập khẩu và tổng kim ngạch giữa hai quốc gia cũng như chưa chỉ ra được những hạn chế trong quan hệ kinh tế giữa hai nước

+ V ề lĩnh vực văn hóa- xã hội

Luận văn quan tâm đến những nét gần giống về lịch sử- văn hóa giữa Việt Nam – Hàn Quốc trước khi nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia Tuy nhiên chưa thấy một

Trang 12

công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách đầy đủ Đây là một công việc khó khăn

Có một số bài viết đề cập đến những nét gần nhau trong lịch sử - văn hóa Việt – Hàn, tuy

nhiên đều sơ lược Xin được liệt kê dưới đây:

- Vi ệt Nam – Hàn Quốc những nét gần nhau và khác nhau trong quá trình phát

tri ển dân tộc của PGS TS Mạc Đường Bài viết không nêu bật được sự giống và khác nhau

về văn hóa giữa hai dân tộc mà đi vào những nét khái quát

- Gia l ễ trong văn hóa Việt – Hàn của TS Ahn Kyong Hwan Bài viết khái quát về

gia lễ trong văn hóa Việt- Hàn, chưa chỉ rõ được những nét giống và khác nhau trong gia lễ

của hai nước

- Cuốn: Một chuyến du lịch Hàn Quốc NXB Quảng Đông Trung Quốc Nội dung

cuốn sách chỉ tập trung ở việc khái quát lịch sử Hàn Quốc, tuy nhiên cuốn sách cung cấp

thêm cho đọc giả về nét văn hóa truyền thống, những điểm du lịch hấp dẫn của Hàn Quốc

- Bước chân thần kỳ trong hệ thống giáo dục Hàn Quốc- Tạp chí giáo dục và thời

đại Nội dung cung cấp về sự phát triển vượt bậc của nền giáo dục Hàn Quốc cũng như

những chính sách hấp dẫn nhằm lôi kéo du hoc sinh nước ngoài đến Hàn Quốc trong đó có

Việt Nam

- Đất Nước Hàn Quốc do An Châu và Trung Vinh biên soạn Nôi dung cuốn sách

cung cấp tương đối đầy đủ về lịch sử đất nước con người, văn hóa của Hàn Quốc Cuốn

sách cung cấp một số những sự kiện quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc

(1992-2006)

- Đối thoại với các nền văn hóa Triều Tiên biên dịch Trịnh Huy Hóa Nội dung đưa

đến cho người đọc hiểu rõ được những nét khái quát nhất về lịch sử văn hóa của Hàn

Quốc không đề cập đến những nét giống nhau trong lịch sử- văn hóa giữa hai quốc gia

Tuy nhiên người đọc có thể rút ra được những nét khái quát nhất về lịch sử- văn hóa của

Hàn Quốc để từ đó so sánh đối chiếu với văn hóa- lịch sử Việt Nam

- S ổ tay du lịch và khám phá Hàn Quốc do Nguyễn Lư biên soạn, được NXB văn hóa

thông tin xuất bản năm 2007 Nội dung sách giới thiệu khái quát về văn hóa lịch sử con

người Hàn Quốc

Ngoài các tư liệu từ sách báo, tạp chí nói về mối quan hệ kinh tế Việt - Hàn, từ

internet có thể tìm thấy nhiều nguồn tài liệu qua các trang web sau :

+ B ộ ngoại giao Việt Nam : http://WWW mofa.gov.vn

Trang 13

+ T ổng cục thống kê Việt Nam:http: WWW.gso.gov.vn

+ B ộ kế hoạch và đầu tư http: //WWW mpi.gov.rn

4 Phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn

- Để tiến hành nghiên cứu nghiên cứu đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng chủ yếu Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: tổng hợp, phân tích, loại suy, thống kê để làm rõ mối quan hệ kinh tế giữa hai nước

- Bố cục luận văn ngoài phần dẫn luận, phần kết luận, nội dung chính chia làm 3 chương :

C hương I : CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC

C hương II: QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC (1992-2010)

C hương III: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC

5 Đóng góp của luận văn

+ V ề mặt khoa học: Nghiên cứu mối quan hệ về kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc

trong giai đoạn từ 1992-2010 để có điều kiện tái hiện quá trình bang giao Việt – Hàn từ khi hai nước chính thức đặt quan hệ Từ đó có thể đưa ra những nhận định, đánh giá, và tổng kết

lại những mặt tích cực và hạn chế trong mối quan hệ kinh tế giữa hai nước qua đó vạch ra được những định hướng phát triển cho mối quan hệ kinh tế Việt – Hàn ở các giai đoạn tiếp sau

+ V ề mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu có thể giúp nhân dân hai nước hiểu biết hơn về

lịch sử và văn hóa của nhau, từ đó thúc đẩy và nâng cao mối quan hệ Việt – Hàn lên tầm cao

mới, ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn, đặc biệt là quan hệ kinh tế

Trang 14

Chương I: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ

VIỆT NAM - HÀN QUỐC

1.1 Một số điểm tương đồng về lịch sử giữa hai dân tộc Việt -Hàn

1.1.1 Truyền thuyết về cội nguồn dân tộc

Nhìn lại lịch sử hình thành đất nước Hàn Quốc, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Cả hai quốc gia có đều có truyền thuyết nói lên quá trình hình thành dân tộc mình Cả hai truyền thuyết đều chứa đựng những môtip đặc trưng dân tộc của vùng Đông Nam Á như

mô tip hôn nhân lưỡng hợp, kết hợp

Truyền thuyết về buổi đầu dựng nước của Hàn Quốc nói tới hôn nhân kết hợp mang

sắc thái bán đảo Đông Bắc Á Đó là cuộc hôn nhân giữa hoàng tử Hwang ( Hoàng Hùng) con trai đấng tối cao trên thiên đường bay xuống ngọn núi Taebaek San (núi Thái Bạch) với

3000 người hầu để xây kinh thành, kết hôn với con gái gấu, sinh ra con trai là Tagun Tagun

lập vương quốc Choson (vào khoảng năm 233 trước Công nguyên) - tổ tiên của người Hàn

Quốc hiện nay [14, 30] Thuở ấy, ở núi Taebaek có một con gấu và một con hổ cùng sống Hai con đến gặp Hwang để xin được trở thành người Hwang cho chúng lá ngải và hai mươi nhánh tỏi thần và bảo chúng ăn hết những thứ đó trong một trăm ngày thì sẽ biến thành người Sau đó gấu trở thành một cô gái xinh đẹp vì thực hiện đúng lời vua dặn, còn hổ thì không Vua Hwang biến thành chàng trai xinh đẹp, đến xin kết hôn với cô gái gấu ( Hoàng

nữ) Họ sinh được một con trai tên là Tan Gun Wang Keun Tan Gun lên ngôi vua tại Choson đóng đô ở Pyong-yang (Bình Nhưỡng) và đặt tên nước là Choson (Hàn Quốc) Lúc này bên Trung Quốc, vua Nghiêu lên ngôi được mười năm Tan Gun cai quản đất nước

1500 năm, nhường ngôi cho Cơ Tử, lên núi ở ẩn tại vùng Chang Tang Kieng, rồi trở thành

Thần núi [25, 207]

Đối với Việt Nam, truyền thuyết dựng nước cũng bắt đầu bằng huyền thoại với cuộc hôn nhân mang tính lưỡng hợp, kết hợp Âu Cơ (giống Tiên) từ vùng núi xuống kết hợp cùng Lạc Long Quân (giống Rồng) từ biển lên, sinh ra trăm trứng nở trăm người con, sau lại chia đôi, một nửa ở miền đồi núi, một nửa miền sông nước, lập ra họ Hồng Bàng cùng các triều đại vua Hùng Theo sách Lĩnh Nam chính quái, cuộc kỳ ngộ giữa Lạc Long Quân và

Âu Cơ như sau: Lạc Long Quân là cháu mấy đời của vua Thần Nông là con của Kinh Dương Vương là con gái của Thần Núi Ngũ Lĩnh tức bà Vu Tiên Kinh Dương Vương lấy

Trang 15

sinh ra Lạc Long Quân, tên thật là Sùng Lãm Lạc Long Quân lớn lên được Kinh Dương vương cho cai quản đất Lạc Việt Bờ cõi nước Xích- Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp hồ Động Đình (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thụ (Tứ Xuyên), phía Đông giáp Nam Hải.[52, 9-10]

Bấy giờ Đế Lai trị ở phương Bắc, vốn giòng dõi thần Nông đi thăm nước Xích –Quỷ

ở phương Nam Trong lúc ấy Long Quân đang ở Thủy phủ Đế Lai để con gái Âu Cơ cùng

những kẻ theo hầu ở lại, còn mình đi thăm các địa phương Dân chúng khổ sở vì những nỗi phiền nhiễu của họ hàng phương Bắc của Lạc Long Quân, bèn cùng nhau to tiếng, gọi lên

“ Bố ơi ở đâu? Sao để cho chúa phương Bắc đến quấy nhiễu dân chúng?” Long Quân đến,

thấy Âu Cơ nhan sắc đẹp đẽ thì đem lòng yêu thương Long quân biến thành một chàng trai

khỏe mạnh, phong độ, hiện ra trước cửa đàn, hát tỏ tình ghẹo Âu Cơ, Ậu cơ trông thấy có

cảm tình, vui theo Long Quân đưa Âu Cơ về Long Trang Không lâu sau Âu Cơ sinh hạ được một cái bọc có trăm trứng, mỗi trứng lại nở thành một người con trai Về sau do hoàn

cảnh khác nhau, kẻ trên cao người vùng biển, Lạc Long Quân và Âu Cơ buộc phải chia tay Năm mươi con theo mẹ về núi, năm mươi con theo cha về biển, chia nhau cai quản các nơi

Tổ tiên người Việt bắt đầu từ đó Âu Cơ cùng năm mươi con ở Phong Sơn, nay thuộc huyện

Bạch Hạc (Phú Thọ), tôn người con trưởng làm chúa Gọi là Hùng Vương, tức thủy tổ của dân tộc Việt Nam

Có nhiều nghi vấn về khởi thủy lập quốc bằng truyền thuyết của Việt Nam và Hàn

Quốc, mốc thời gian dựng nước của hai quốc gia cũng còn nhiều vấn đế cần nghiên cứu rõ hơn Khoảng 2333 trước công nguyên Hàn Quốc đã thành lập được quốc gia đầu tiên (cũng

có tài liệu cho rằng quốc gia cổ Choson Hàn Quốc ra đời muộn nhất vào khoảng thế kỷ IV TCN) [17, 70] Theo các nhà nghiên cứu, Nhà nước đầu tiên của Việt Nam ra đời vào khoảng thế kỷ VII TCN [36, 40] Mặc dù có nhiều vấn đế cần nghiên cứu và xem xét lại về quá trình hình thành lịch sử dân tộc của hai quốc gia, tuy nhiên việc dựa vào truyền thuyết

để nói về quá trình lập quốc là một điều tương đồng Nét tương đồng này được xem như bước mở đầu cho mối quan hệ Việt – Hàn Từ khi lập quốc cho đến suốt quá trình xây dựng

và kiến tạo lịch sử, hai dân tộc còn nhiều điểm tương đồng khác, sự tương đồng ấy thể hiện

rõ qua quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc

1.1.2 Việt Nam-Hàn Quốc cùng đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc

1.1.2.1 Ch ống phong kiến Trung Hoa

Trang 16

Việt Nam cũng giống như Hàn quốc, lịch sử dựng nước đi đôi với lịch sử giữ nước

chống ngoại xâm Việt Nam Và Hàn Quốc đều có kẻ thù chung là Trung Hoa phong kiến, cả hai dân tộc đã kiên trì trong một thời gian dài để đánh tan sự xâm lược của ngoại bang Sự tương đồng trong việc chống ngoại xâm Trung Hoa giữa hai dân tộc được thể hiện qua các

Giống như Hàn Quốc Việt Nam bị nhà Hán xâm lược vào năm 111 trước Công nguyên, trước Hán Quốc 3 năm, tương tự, nước Việt nam bị chinh phục và bị người Hán chia làm 3 quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) [36, 56]

- Ch ống ách cai trị của nhà Tùy

Từ cuối thời Đông Hán đến thời Nam –Bắc triều, xã hội trung Hoa luôn luôn hỗn loạn

vì nội chiến và sự xâu xé của các tộc ở phương Bắc nên các triều đại phong kiến Trung Hoa không thể xâm lược ra bên ngoài được Nhưng khi đất nước được thống nhất, nhà Tùy (581-681) liền phát động những cuộc chiến tranh xâm lược ra bên ngoài để thôn tính các nước xung quanh, trong đó thể hiện rõ mưu đồ xâm chiếm bán đảo Hàn

Thời gian từ năm 53 đến 668, bán đảoTriều Tiên thường diễn ra các cuộc đối địch

giữa 3quốc gia (thường được gọi là thời kỳ tam quốc); Koguryo, Paekche và Shilla, chia cắt bán đảo này thành 3 vùng riêng biệt (giống như một cuộc nội chiến chia cắt đất nước) Ba

quốc gia đếu có cơ cấu đẳng cấp xã hội chặt chẽ và tổ chức quân sự hùng mạnh, tiến hành chiến tranh nhằm giành lấy uy quyền tối cao trên bán đảo

Koguryo gồm miền Bắc bán đảo Hàn và hai tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm, một phần tỉnh

Hắc Long Giang của Trung Quốc ngày nay Paekche nằm ở Tây Nam bán đảo Hàn Shilla ở Đông Nam bán đảo Hàn

Để gây sự với Koguryo, năm 597, Tùy Văn Đế (người mở đầu triều đại nhà Tùy) gửi thư kể tội vua Koguryo nhiều lần sai quân giết hại cư dân ở biên giới và ngầm mua chuộc

Trang 17

598, Tùy Văn Đế lấy cớ vua Koguryo cho quân cướp phá ở biên giới nên đã huy động 30

v ạn quân thủy bộ chia đường đánh Koguryo Tuy nhiên cuộc tấn công không thành công

Năm 605, Tùy Dưỡng Đế (còn gọi là Tùy Dượng Đế) lên ngôi, nhà Tùy cho rằng Koguryo

là đất của Trung Quốc, nay mới không thần phục, lập thành một vùng riêng Vì vậy, năm

611, Dưỡng Đế hạ chiếu chuẩn bị đánh Koguryo Đầu xuân năm 612, Tùy Dưỡng Đế huy động 1.130.000 quân chia làm hai đạo tấn cống Koguryo [35, 113]

Do bị thất bại trong trận đánh vào năm 612, năm 613, tùy Dưỡng Đế tự mình đem quân xâm lược Koguryo lần thứ hai Khi quân Tùy đang tấn công Liêu Đông nghe tin

Thượng trụ quốc Dương Huyền Cảm khởi binh, Tùy Dưỡng Đế phải vội vàng ra lệnh rút quân, bỏ lại quân trang, quân nhu chất cao như núi Dẹp xong cuộc nổi dậy của Dương Huyền Cảm, năm 614, Tùy Dưỡng Đế lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng tấn công Koguryo lần

thứ ba Nhưng thời gian này, nông dân khắp nơi trong nước nổi dậy khởi nghĩa Tùy Dưỡng

Đế vội vàng kéo quân viễn chinh về để đối phó Như vậy trong vòng 16 năm, nhà Tùy đưa đại quân sang xâm lược nước Koguryo 4 lần, nhưng đều thất bại

Đối với Việt Nam, cũng giống Hàn Quốc, cũng bị quân Tùy tấn công Năm 544, Lý

Bí đã đánh bại quân xâm lược Lương, thành lập nước Vạn Xuân, giành lại quyền tự chủ cho

Tổ quốc Năm 602, Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đem 10 vạn quân sang tấn công nước Vạn Xuân Lý Phật Tử huy động nhân dân tổ chức anh dũng chiến đấu Nhiều trận chiến đấu

diễn ra ác liệt ở vùng biên giới đất nước Do quân Tùy đông, tổ chức đánh nhanh, đánh gấp, quân Lý Phật Tử không chống cự nổi Quân Tùy tiến xuống vây thành Cổ Loa, vừa uy hiếp

vừa dụ dỗ đe dọa, buộc Lý Phật Tử đầu hàng, rồi bắt đem về Trường An [36, 70] Nhà nước

Vạn Xuân kết thúc, nước Vạn Xuân rơi vào ách thống trị của nhà Tùy

- Ch ống quân xâm lược nhà Đường

Năm 618 Lý Uyên thành lập nhà Đường, mở ra thời đại mới cho lịch sử Trung Hoa Đến thời Đường Thái Tông Trung Quốc bước vào thời kỳ thống nhất ổn định Cũng giống như các vương triều trước của Trung Quốc, nhà Đường lại phát động nhiều cuộc chiến tranh xâm lược các nước xung quanh Việt Nam và Hàn Quốc không nằm ngoài đối tượng xâm lược của Trung Hoa

Năm 643 Shilla bị liên quân Koguryo và Paekche tấn công, nên sai sứ sang Trung

Quốc xin cứu viện Nhân cơ hội này, dưới chiêu bài “báo thù cho em của Trung Quốc và

rửa nhục cho vua cha Koguryo”, Đường Thái Tông quyết định tấn công Koguryo Với 10

vạn quân thủy bộ và 500 thuyền chiến, năm 645, Đường Thái Tông đích thân chỉ huy cuộc

Trang 18

viễn chinh Shilla cũng đem 5 vạn quân cùng tác chiến Quân Đường hạ được một số thành

ở Liêu Đông, nhưng khi vây đánh thành An Thị (Liêu Ninh ngày nay) qua 88 ngày vẫn không hạ được, trái lại quân Đường bị tổn thất nặng nề Vì vậy đến tháng 9 năm 645, lấy lí

do “ vùng tả ngạn sông Liêu rét sớm, cỏ khô, nước đông, người ngựa khó ở lâu được, vả lại lương thực sắp hết ” [47, 121] Đường Thái Tông ra lệnh rút quân Năm 649 Đường Thái Tông chết, mưu đồ chinh phục bán đảo Hàn phải gác lại

Đến thời Đường Cao Tông, sự xung đột giữa các nước ở bán đảo Hàn vẫn tiếp diễn

Với sự súp đỡ của Koguryo, Paekche nhiều lần xâm nhập Shilla Năm 660, Shilla lại cầu

cứu nhà Đường Năm 660 nhà Đường mang 10 vạn quân phối hợp với Shilla cùng tấn công Paekche, Paekche bị diệt vong Koguryo bị cô lập Năm 666 nội bộ Koguryo xảy ra xung đột vũ trang làm thế nước này càng suy yếu Lợi dùng tình thế ấy, năm 667, nhà Đường tiếp

tục phối hợp với Shilla tấn công Koguryo Năm 668, Koguryo bị chinh phục Ngay năm 668, nhà Đường thành lập An Đông đô họ phủ ở Bình Nhưỡng và chia đất đai chiếm được thành châu, quận để cai trị

Như vây, lực lượng hùng mạnh nhất của lịch sử sơ khai Hàn Quốc đã bị đánh bại; Shilla phải chống lại sức mạnh của nhà Đường Sau thắng lợi, nhà Đường đã thiết lập các

quận trên lãnh thổ Koguryo và Paekche, bắt đầu đối xử với Shilla như một nước chư hầu Tuy nhiên, năm 676 Shilla thành công trong việc đuổi quân nhà Đường ra khỏi quốc vương Paekche cũ và thành lập ở đó một nhà nước có biên giới phía Bắc cắt ngang bán đảo từ cửa sông Taedong Tất nhiên, điều này không có nghĩa khôi phục lại toàn bộ lãnh thổ của ba vương triều trước kia

Đối với Việt Nam, sau khi nhà Tùy sụp đổ, nhà Đường kế tục sự nghiệp và tiếp tục chính sách cai trị Việt Nam Nhà Đường đã bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập, đặt Giao Châu

đô hộ phủ (622) rồi đặt An Nam đô hộ phủ (679) Địa danh An Nam có từ đó Những thủ đoạn cai trị xảo quyệt và âm mưu đồng hóa, ngu dân của chính quyền đô họ nhà Đường vẫn không làm cho nhân dân Việt Nam khuất phục Trái lại, trong ba thế kỷ đô hộ của nhà Đường cũng chính là ba thế kỷ đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân Việt Nam mà đỉnh cao là các cuộc khởi nghĩa vũ trang của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722) Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân đã cùng ông đi gánh vải nộp

cống nổi dậy khởi nghĩa Mai Thúc Loan đã phát triển cuộc khởi nghĩa ra khắp vùng Hoan,

Diễn, Ái ( vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh Việt Nam bây giờ) Theo cựu Đường thư , Mai Thúc

Trang 19

Nghệ An), có sông sâu rừng rậm, ông chọn làm căn cứ và đóng đại bản doanh, đắp một chiến lũy dài hơn 10.000 mét dọc bờ sông Lam, lấy núi Đụn làm chỗ dựa, gọi là thành Vạn

An Nơi trữ lương thực đặt ở phía trong núi, nhiều đồn trại đóng ở sườn núi phía ngoài, sông Lam vây bọc quanh núi như con hào tự nhiên [36, 74] Mai Thúc Loan xưng đế, đóng đô ở thành Vạn An, sử cũ gọi là Mai Hắc Đế ( ông vua đen họ Mai) Tuy nhiên lúc này nhà Đường còn mạnh, nhà Đường đã cử Dương Tư Húc đem 10 vạn quân tiến quân sang đàn áp

cuộc khởi nghĩa Do lực lượng yếu hơn, Mai Thúc Loan thất trận, nghĩa quân tan vỡ Thất

bại cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan càng làm tăng thêm tinh thần quyết chiến của người dân Việt Khoảng nửa sau thế kỷ VIII, một hào trưởng ở Đường Lâm (Ba Vì ) tên là Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi lớn chống chính quyền đô hộ ( 783-791)

Tiếp sau cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng là khởi nghĩa của Dương Thanh (819-

820 ) Vốn là một hào trưởng Việt, có nhiều thế lực, làm thứ sử châu Hoan Ông đã tập hợp lưc lượng chiếm phủ Tống Bình, giết chết Lý Tượng Cổ và hơn 1000 bộ hạ của y

Cuối thế kỷ IX, triều đình nhà Đường rơi vào tình trạng khủng hoảng, suy vong Nạn cát cứ của các tập đoàn quân phiệt ngày càng ác liệt, khởi nghĩa của Hoàng Sào (874-884)

đã làm lung lay tận gốc chính quyền của nhà Đường Chính trong bối cảnh này, một hào trưởng ở Hồng Châu (Hải Dương ) là Khúc Thừa Dụ được nhân dân ủng hộ đã tiến quân ra chiếm đánh phủ Tống Bình (Hà Nội), tư xưng là tiết độ sứ, thực chất là xóa bỏ chế độ đô hộ

để khéo léo chuyển sang giành độc lập dân tộc một cách vững chắc hơn Triều đình nhà Đường buộc phải công nhận một sự đã rồi Tuy còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng

thực chất Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, kết thúc về cơ bản ách thống

trị hơn 1000 năm của triều đại phong kiến phương Bắc năm 905

Như vậy, nhìn lại lịch sử Hàn Quốc và lịch sử Việt Nam trong giai đoạn chống ách

thống trị của Trung Hoa phong kiến có nhiều điểm tương đồng Cả hai dân tộc cùng chống ách xâm lược của nhà Hán, Tùy, Đường Cả hai dân tộc đã vùng lên đấu tranh để thoát khỏi ách thống trị của trung Hoa rộng lớn Tuy cũng có những điểm khác nhau, nhưng tựu chung

cả hai dân tộc là đối tượng mà Trung Hoa nhắm tới để xấm chiếm, mở rộng lãnh thổ Cuối cùng cả hai dân tộc đã vùng lên đấu tranh, thoát khỏi sự lệ thuộc của phong kiến Trung Hoa

1.1.2.2 Vi ệt Nam- Hàn Quốc cùng đấu tranh chống quân xâm lược Mông Cổ

Việt Nam - Hàn Quốc cùng có kẻ thù chung là Trung Hoa phong kiến, tuy nhiên cả hai dân dân tộc còn có kẻ thù chung là Mông Cổ

Trang 20

Cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, người Mông Cổ sống thành bộ lạc, liên minh bộ lạc trên vùng lãnh thổ Châu Á rộng lớn từ hồ Bai-can và sông A-mua phía Đông đến thượng lưu sông I-ê-ni-xê-i, phía Tây miền Nam Xi-bê-ri đến Vạn Lý Trường Thành ở phía Nam Danh từ “ Mông Cổ ” chính thức được xuất hiện trong sách vở sau khi Thành- Cát – Tư- Hãn lập nên quốc gia Mông Cổ thống nhất (1206), sử sách Trung Quốc gọi là người Thát Sau khi thống nhất, Thành –Cát- Tư –Hãn dốc toàn bộ lực lượng quân sự vào những cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn

Quân Mông Cổ ào ạt tiến sang phương Đông, phương Tây Tiến đánh Trung Quốc (1219), tràn vào trung Á (1218), tiến đánh nước Nga (1223) Tiếp nối là những cuộc viễn chinh xâm lược đẫm máu về phía Tây, phía Đông rồi tràn xuống phía Nam Trong bối cảnh chung của khu vực, Việt Nam và Hàn Quốc không thể thoát khỏi sự xâm chiếm và mở rộng lãnh thổ của Mông Cổ Tuy nhiên có một điểm khác với Hàn Quốc là Việt Nam đã đánh tan

ba lần xâm lược của quân Nguyên- Mông giữ yên bờ cõi đất nước

Trước khi cho quân xâm lược Đại Việt, Mông Cổ nhiều lần cho sứ sang dụ hàng, nhưng sứ đi mà không trở lại Vua Trần kiên quyết kháng chiến, ra lệnh bắt giữ sứ của Mông Cổ Năm 1258, quân Mông Cổ chia làm hai đường tấn công vào Đại Việt Trần Thái Tông tự thân chỉ huy chiến đấu Quân Mông Cổ bị Đại Việt đánh tan ở Đông Bộ Đầu, Thăng Long, buộc phải quay ngựa chạy về Vân Nam – Trung Quốc Sau khi đánh bại được Trung Hoa rộng lớn, Mông Cổ đã thành lập triều Nguyên ở Trung Quốc (1271-1368) Với

bản chất hiếu chiến, nhà Nguyên tiếp tục chính sách mở rộng lãnh thổ

Năm 1282 nhà Nguyên yêu cầu Đại Việt phải cho mượn đường để tiến đánh Chiêm Thành nhưng bị vua Trần kiên quyết khước từ Viện lý do Đại việt không chịu khuất phục, đầu năm 1285, Hốt Tất Liệt sai con mình là Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh, nhưng đến giữa năm 1285, quân Nguyên bị bất bại hoàn toàn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng

để quân lính khiêng mới sống sót về nước [35, 152] Nhục nhã vì bị thất bại trước Đại Việt,

Hốt Tất Liệt quyết định ngừng xâm lước Nhật Bản để tập trung lực lượng tấn công Đại Việt

một lần nữa Năm 1287, Thoát Hoan lại được giao nhiệm vụ dẫn 50 vạn quân tấn công Đại

Việt Một lần nữa quân Nguyên bị thất bại Một số tướng lĩnh như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ bị bắt sống

Tại bán đảo Hàn, năm 1231 Goryo ( Cao Ly ) bị Mông Cổ xâm chiếm Toàn dân tộc Goryo đã đứng lên chiến đấu dũng cảm trước sự tấn công mạnh mẽ của Mông Cổ nhưng kết

Trang 21

thiệp của Mông Cổ, Goryo để mất nhiều tính tự chủ Mông Cổ chiếm đóng nhiều vị trí quan

trọng về quân sự và kinh tế của Goryo Ở miền Đông Bắc và Tây Bắc, Mông cổ còn lập cơ quan như “Song thành Tổng quan phủ” và “Đồng minh phủ” để khống chế Goryo [34, 292]

Năm 1359, nhân khi triều Nguyên ở Trung Quốc suy yếu, vua Goryo là Kongmin (Cung Mẫ Vương) đem quân đánh bại đội quân chiếm đóng của nhà Nguyên, thu hồi toàn

bộ đất đai Năm 1396, Kongmin chính thức tuyên bố không thần phục nhà Nguyên [34, 293]

Như vậy cả hai dân tộc đều có chung một kẻ thù là quân Mông – Nguyên Tuy nhiên quá trình đặt ách thống trị của quân Mông- Nguyên không thành công ở Việt Nam Nhà

Trần đã ba lần chỉ huy quân sĩ và quần chúng nhân dân đanh tan quân xâm lược Tại bán đảo Hàn, quân Mông cổ đã đặt được ách thống trị lên quốc gia này Người Hàn phải mất nhiều thời gian đấu tranh mới thoát khỏi ách thống trị của quân Mông –Nguyên

1.1.2 3 Vi ệt Nam – Hàn Quốc cùng đấu tranh chống quân phiệt Nhật

Vào thế kỷ thứ XIX, Việt Nam và Hàn Quốc đều thất bại trong cuộc chiến chống xâm lược của các cường quốc phương Tây, hứng chịu nỗi đau là nạn nhân của thời kỳ thuộc địa Hàn Quốc bị Nhật Bản xâm lược và phải chịu ách áp bức bóc lột của chế độ cai trị thuộc địa kéo dài suốt 36 năm ( 1910-1945) Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ XIX, cũng

là nạn nhân của chế độ cai trị thuộc địa khắc nghiệt của thực dân Pháp sau đó là Nhật- Pháp

Năm 1940, trên con đường bánh trướng ra bán đảo Đông Dương, Nhật Bản vượt qua Trung Quốc tiến đánh Việt Nam Trước cuộc tấn công của quân Nhật, thực dân Pháp chống

cự yếu ớt, sau đó chính thức đầu hàng Nhật, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của

Nhật ( 1940-1945) Năm 1945, Việt Nam và Hàn Quốc thoát khỏi chế độ cai trị thuộc địa

của Nhật, giành lại độc lập, thế nhưng, đất nước lại bị phân chia và rơi vào vòng xoáy của

thời kỳ Chiến tranh lạnh Năm 1950, Hàn Quốc đã trải qua bi kịch của cuộc nội chiến giữa hai miền Nam Bắc Khi chiến tranh kết thúc, những gì còn lại chỉ là sự đổ nát, hoang tàn, chia cắt Đối với Việt Nam sau năm 1945, Pháp quay trở lại thôn tính Trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp( 1946-1954), sau đó là kháng chiến chống Mỹ kéo dài hơn 20 năm (1954-1975), đến năm 1975 Việt Nam được giải phóng, đất nước thống nhất Sau giải phóng Việt Nam nỗ lực cố gắng vượt qua mọi khó khăn để hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng đất nước

Cùng trải qua thời kỳ bị quân phiệt Nhật thôn tính, cùng trải qua thời kỳ đất nước bị chia cắt, cùng trải qua những mất mát do chiến tranh để lại, chính những điểm tương đồng

Trang 22

này là bước đệm tiếp theo cho sự phát triển quan hệ kinh tế Việt – Hàn Bên cạnh những nét tương đồng về lịch sử, Việt Nam- Hàn Quốc cùng có những nét tương đồng về văn hóa Nghiên cứu nét tương đồng này để khẳng định thêm một bước đệm tiếp theo cho mối quan

hệ kinh tế Việt –Hàn

1.2 Một số nét tương đồng về văn hóa giữa Việt Nam - Hàn Quốc

1.2.1 Nét tương đồng trong phong tục tập quán: ăn, uống

Trong bữa ăn của người Việt, từ xưa đến nay cơm là thực phẩm chính trong bữa ăn

hằng ngày

Trong bữa cơm người Việt có nhiều loại thực phẩm từ động vật, thực vật, tuy nhiên

thực vật nhiều hơn động vật Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, vô cùng phong phú Rau xanh đủ loại như: rau muống, rau dền, rau ngót, rau cải luôn có mặt trong

mỗi mâm cơm của mỗi gia đình Tuy nhiên nói đến rau trong bữa ăn Việt Nam không thể không nhắc đến hai món đặc thù là rau muống với dưa cà Sự tích Thánh Gióng gắn liền với

quả cà Thánh Gióng nhờ ăn “ bảy nong cơm, ba nong cà” mà trở thành người khổng lồ đi

cứu nước Cà và rau cải đem muối dưa tạo thành những món ăn độc đáo phù hợp với thời

tiết và khẩu vị của người Việt nên tục ngữ mới có câu: Có dưa, chừa rau; Có cà thì tha gắp

mắm; Thịt cá là hoa, tương cà là gia bản.[52, 189]

Các loại gia vị có hành, gừng tỏi, ớt, riềng, rau mùi, rau răm, rau húng, thì là, hồ tiêu, tía tô, kinh giới, lá lốt, diếp cá cũng là những thứ không thể thiếu trong bữa cơm của người

Việt

Trong bữa ăn của người Việt, đứng đầu thức ăn động vật là các loại thủy sản- sản

phẩm của vùng sông nước Từ các loại thủy sản, người Việt đã chế tạo ra một loại nước

chấm đặc biệt là nước mắm và mắm các loại Thiếu nước mắm chưa thành bữa cơm Việt Nam Danh từ “nước mắm” đã đi vào ngôn ngữ loài người, có mặt trong nhiều cuốn từ điển bách khoa Đông – Tây [52, 189] Ở vị trí cuối cùng trong bữa ăn của người Việt mới là thịt, bao gồm : thịt lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, chó, dê bò nhưng thông dụng nhất vẫn là thịt lợn

và thịt bò

Thông thường, bữa ăn hằng ngày của người dân Việt rất thanh đạm Người nông dân xưa thường ngày hay dùng rau xanh (đặc biệt là rau muống) với tương cà mắm muối, thịt cá xôi gà không phải ngày nào cũng có

Ngoài bữa cơm hàng ngày, người Việt Nam còn có nhiều thứ quà bánh ăn thêm hoặc

Trang 23

tiếu Song, một món hấp dẫn, nổi tiếng cả trong nước lẫn ngoài nước là phở Phở ở Hà Nội được mọi người ưa thích nhất và trở thành món quà sáng phổ biến

Trong bữa ăn, mọi thành viên trong gia đình quây quần bên một mâm cơm thường là hình tròn Người Việt Nam quen dùng đũa, thìa và muôi Muôi dùng múc canh, thìa dùng

lấy nước chấm hoặc sử dụng trong khi ăn Khi ăn một tay bưng bát, một tay cầm đũa Nếu

muốn sử dụng thìa hoặc muôi thì một tay đặt đôi đũa xuống mâm, tay kia vẫn cầm bát

Về đồ uống, trong bữa ăn người Việt thường ít uống Nếu có uống thì thường là đàn ông từ tuổi trưởng thành trở lên và rượu là đồ uống chính Rượu Việt Nam thường được làm

từ gạo tẻ hoạc gạo nếp Gạo được đem nấu thành cơm, ủ cho lên men rồi cất ra Trong dân gian rượu là thức uống không thể thiếu được trong các bữa ăn có tính chất đình đám Hơn

nữa, rượu còn đi vào cuộc sống của người dân Việt Nam, rượu ngâm với các loại thảo dược

hoặc rắn, mật gấu, ong chúa dùng để chữa bệnh Rượu có nhiều loại: rượu trắng, rượu cẩm, rượu nếp, rượu cần mọi miền đất nước Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược đều có

những loại rượu ngon nổi tiếng.Cúng ông bà tổ tiên của người Việt thường phải có li rượu

trắng (rượu màu, rượu thuốc và các thứ rượu phương Tây không thể dùng để cúng được )

Cây chè là một loại cây đặc sản của Việt Nam Tuy Việt Nam chưa nói nhiều đến

“trà đạo” Việt Nam, nhưng cách pha trà thơm của người Việt và cách chế biến các loại chè cũng rất cầu kỳ và đặc sắc Các ấm chén chuyên dùng cho uống trà ở Việt Nam đã xuất

hiện khá sớm, tương truyền xuất hiện từ đời nhà Lý (1010 – 1225), các loại đồ gốm, đồ sành

sứ sử dụng cho việc uống trá cũng rất tinh xảo Người Việt Nam uống chè tươi, chè khô, ướp chè với các loại hoa như hoa sen, hoa nhài, hoa ngâu, hoa cúc

Đối với người Hàn Quốc bữa ăn cũng thanh đạm như người Việt Cơm trắng cũng là món chính Ngoài ra, cơm trộn với 5 loại đậu đen, đỏ, trắng, vàng, xanh là một món ăn người Hàn ưa dùng (người Hàn Quốc gọi là Ô- kốc - bap: cơm ngũ cốc) Cơm cuốn rong

biển với ít trứng và cà rốt (Kim – bap) là món ăn mang tính nghệ thuật cao Nó đòi hỏi người phụ nữ phải khéo léo để làm sao vừa thổi cơm dẻo vừa cuộn rong biển đã ép mỏng như tờ giấy, trong đó Cơm vẫn là món chính

Rau xanh ở Hàn Quốc cũng đủ loại, ngoài các loại rau ở vùng đồng bằng như: rau cải, rau cần, rau rền giống như ở Việt Nam, Hàn Quốc còn có rất nhiều loại rau rừng (người Hàn gọi là rau núi) Trong tất cả những món ăn đi kem theo bũa cơm của người Hàn thì Kim chi- là một loại dưa chua, món rau củ muối có gia vị không thể thiếu Đây là món ăn nổi

tiếng nhất của Hàn Quốc Kim chi gắn liến với tên tuổi quốc gia đến mức được chính phủ

Trang 24

Hàn tuyên bố là một quốc bảo.[14, 188] Người ta cho rằng món dưa chua cao lương mỹ vị này có chứa rất nhiều vitamin và chất bổ và luôn được dọn lên bàn ăn cùng với cơm Món

ăn này được yêu thích đến nỗi một bảo tàng Kim chi duy nhất trên thế giới được mở ra tại Seoul, giới thiệu về lịch sử hình thành Kim chi, những kiến thức và những truyền thuyết về món Kim chi cũng như cách thức chế biến món này

Đối với người Hàn, bữa cơm hàng ngày cũng không thể thiếu thịt và cá- hai thực

phẩm rất phong phú về chủng loại Xưa kia, người Hàn Quốc nổi tiếng săn bắt giỏi nên thịt thú rừng được ưa chuộng nhiều Trong bữa ăn hằng ngày, thịt lợn và thịt bò là món ăn chủ đạo và thường được làm chín bằng phương pháp nướng trên bếp lửa Phong tục này vẫn còn, bởi vậy, khi người Hàn Quốc sang Việt Nam, món bún chả của Việt Nam được người Hàn rất ưa thích chẳng khác gì người Việt

Cá biển ở Hàn Quốc được ưa dùng hơn cá nước ngọt Điều này cũng giống như cá

miền biển Việt Nam, cư dân chuyên nghề bắt cá và ăn đồ biển là chính

Đặc điểm nổi bật trong món ăn Hàn Quốc là vừa cay vừa mặn Màu đỏ là màu đặc trưng trong các món ăn, ớt được sử dụng nhiều trong chế biến các loại món ăn

Khi dùng bữa, cũng như người Việt Nam, người Hàn cũng quây quần bên một mâm cơm Theo truyền thống của người Hàn, bữa ăn được bày ra trên một cái bàn thấp nhỏ, thức

ăn để trong những cái tô nhỏ được xếp đặt gọn gàng Âu cơm đặt giữa bàn bởi vì cơm được coi là món ăn chính Xung quanh mâm cơm người ta xếp những món ăn kèm khác nhau Cũng giống như Việt Nam, trong bàn ăn của người Hàn nếu có đông người thì đồ ăn sẽ được dọn lên nhiều lần trong bữa cơm Bàn ăn được xếp sẵn trong nhà bếp trước khi mang

ra Khi ăn, người Hàn Quốc cũng dùng đũa và thìa Có điều, sự khác biệt ở đây, người Hàn không dùng đũa và thìa cùng lúc như người Việt thường sử dụng khi ăn phở mà dùng riêng

rẽ Điều đặc biệt là người Hàn không bưng bát cơm lên mà hay để ở mâm Bởi vây, bát đựng cơm của họ không có cái trôn bát và mâm cơm củng được nâng cao lên cách mặt đất khoảng 30 đến 40 cm Mâm cơm là cái bàn thường là hình chữ nhật, đôi lúc cũng thấy mâm cơm nhỏ hình vuông hay hình tròn

Người Việt Nam có câu: “ăn trồng nồi, ngồi trông hướng” Người Hàn Quốc cũng

vậy Khi ngồi xuống bàn ăn, người ít tuổi phải trông trước, trông sau, khi người lớn tuổi

nhất cầm đũa lên ăn thì người bé mới được cầm đũa Khi uống rượu, người dưới phải rót rượu mời người trên và phải rót bằng hai tay Người Hàn Quốc không tự rót rượu cho mình

Trang 25

cũng uống rượu nhưng kín đáo hơn và phải được sự đồng ý của người trên Mặc dù người ta

ít khi hay thường là không nói chuyện trong bữa ăn, nhưng phòng ăn ít khi yên tĩnh Người

ta ồ à để thể hiện sự hài lòng với bữa ăn, húp canh hay húp mỳ soàn soạp trở thành một thói quen Tương tự, người lớn tuổi thường ợ to sau bữa ăn đễ thể hiện sự hài lòng

Trà và cà phê là hai loại đồ uống khá phổ biến ở Hàn Quốc Các loại đồ gốm, sành sứ dùng để uống trà xuất hiện khá sớm ở Hàn Quốc và tinh xảo Đồ sành sứ Koryo với men xanh ngọc cũng được xếp vào hàng tinh xảo ở phương Đông Cũng giống như Việt Nam, tuy uống trà chưa được nâng lên thành trà đạo như Nhật Bản, Trung Quốc nhưng là đồ uống thường xuyên, nhất là khi có khách đến nhà chơi

1.2.2 Nét tương đồng trong phong tục hôn nhân truyền thống giữa Việt Nam- Hàn Quốc

Từ xa xưa, do chịu ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo phong kiến Trung hoa, xã hội truyền thống Việt Nam và Hàn Quốc dần dần hình thành một phong tục cưới hỏi khá tương đồng

Trước đây, chuyện dựng vợ gả chồng cho con ở Việt Nam và Hàn Quốc thường do cha mẹ quyết định , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Chuyện trai gái tự do tìm hiểu, tự do yêu đương thường ít được đặt ra Cha mẹ tìm vợ cho con mục đích chính là để “nối dõi tông đường” Nhưng điều các bên quan tâm đầu tiên chưa phải là con người cụ thể mà là các vấn

đề như xem gia đình hai bên có “môn đăng hộ đối” không, nam nữ có hợp tuổi hợp số không? Kế đến mới là chàng trai có tài ba, có chí lớn không ? Cô gái có khỏe mạnh, xinh đẹp tháo vát, đảm đang hay không? Bởi vậy, trong xã hội truyền thống, người mai mối rất quan trọng Đối với gia đình quyền quý, hôn nhân phải có mai mối và việc thành lứa đôi hay không, hai nhà thông gia có “thông cảm” với nhau hay không đều phụ thuộc vào “nhân vật trung gian” này

Cũng giống nhau ở một điểm trong chuyện hôn nhân ở Việt Nam và Hàn Quốc là ,

nếu cuộc gặp gỡ ban đầu giữa hai bên thành công, đôi trai gái sẽ tìm hiểu nhau thêm một

thời gian nữa Nếu thấy không hợp nhau, họ không bắt buộc phải kết hôn, nhưng nếu thấy

hợp nhau, họ sẽ thông báo cho cha mẹ hai bên để chọn ngày kết hôn Cho dù cặp vợ chồng

trẻ Hàn hay Việt tiến đến hôn nhân là do yêu thương hay sắp đặt, thì ít ra cũng có một trong hai bà mẹ sẽ tìm đến một ông thầy bói, để nhờ thầy đọc hộ lá số tử vi của đôi vợ chồng trẻ xem có hợp nhau hay không Hay chí ít cũng để thầy tìm cho một ngày lành tháng tốt để có

Trang 26

thể tổ chức lễ cưới Một lễ đính hôn ngắn gọn thường được tổ chức trước ngày cưới khoảng hai ba tháng

Các nghi thức của việc hôn nhân trong xã hội truyền thống của hai nước đều mô

phỏng theo nghi lễ của Trung Hoa Đó là thực hiện theo luật lệ (sáu lễ) trong cưới hỏi

• Lễ nạp thái: sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn" để tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy

• Lễ vấn danh: là lễ do nhà trai sai người làm mối đến hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng

đẻ của người con gái

• Lễ nạp cát: lễ báo cho nhà gái biết rằng đã xem bói được quẻ tốt, nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, nếu tuổi xung khắc thì thôi

• Lễ nạp tệ (hay nạp trưng): là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, tang chứng cho sự hứa hôn chắc chắn

• Lễ thỉnh kỳ: là lễ xin định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới Và sau cùng là

• Lễ thân nghinh (tức lễ rước dâu hay lễ cưới): đúng ngày giờ đã định, họ nhà trai mang lễ đến để rước dâu về [85]

Sáu lễ này được xã hội Việt Nam đơn giản hóa còn ba, như sau:

1 Lễ dạm: sự đánh tiếng muốn kết thân của nhà trai Lễ này có cùng ý ngĩa như

“ nạp thái” của Hàn Quốc

2 Lễ hỏi: bao gồm ý nghĩa chung cho vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ và nạp tệ “Nạp tệ” chính là lễ hỏi ở Hàn Quốc hiện nay Trong ngày này nhà trai mang lễ vật gồm trà rượu, bánh, nữ trang, và một ít tiền đến nhà gái Từ lúc này, đôi trai gái trở thành căp vợ chồng chưa cưới, xem cha mẹ người hôn phối như cha mẹ mình

3 Đám cưới (rước dâu): nhà trai mang lễ vật gồm bánh trái, đồ tranh sức, trà rượu,

trầu cau làm lễ trước bàn thờ tổ tiên xin phép rước dâu về nhà Đây chính là lễ “ Thân nghinh ” ở Hàn Quốc [60, 36]

Tại Hàn Quốc, hôn lễ truyền thống cũng chịu ảnh hưởng của hôn lễ trung Hoa Từ

“ lục lễ ”của Trung Hoa, Hàn Quốc rút xuống còn 4 lễ chính; lễ nghị hôn, lễ nạp thái, lễ nạp

tệ, thân nghinh Nhưng thực ra 4 lễ đó là để thực hiện hai công đoạn trong hôn nhân là chuẩn bị hôn lễ và cử hành hôn lễ Công việc chuẩn bị hôn lễ bao gồm: nghị hôn, nạp thái,

nạp tệ; còn cử hành hôn lễ là thân nghinh.[44, 71]

B ảng 1.1 : Trình tự hôn lễ truyển thống giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Trang 27

Trình t ự hôn lễ truyển thống

Hàn Qu ốc Trình t ự hôn lễ truyền thống Vi ệt Nam

1 Nghị hôn: hai nhà cùng cử người đi

hỏi tên tuổi, gia thế của đối tượng,

2 Nạp thái: nhà trai nhờ người mai

mối gửi tứ trụ của tân lang và nạp

thái văn cho nhà gái và chọn ngày

cưới xin

3 Nạp tệ: nhà trai đem lễ vật sang

nhà gái để xin cưới cố gái

4 Thân nghinh: lễ cưới được tổ chức

tại nhà tân nương, tân lang đón tân

nương cùng về

1 Lễ đi nói: người mai mối cùng cha

mẹ người con trai qua nhà gái để ướm lời

2 Lễ bỏ trầu cau: nhà trai hỏi tên tuổi

cô gái và xem tuổi

3 Nhà trai báo với tổ tiên và nhà gái

kết quả xem tuổi

4 Lễ hỏi chính thức: nhà trai đem lễ

vật sang nhà gái để xin cưới sô dâu

5 Nhà trai mang thư chọn ngày sang nhà gái và báo giờ rước dâu

6 Nhà trai đón cô gái về nhà và cử hành hôn lễ

Ngu ồn: [45, 75]

Mấy thập kỷ trở lại đây, do sự phát triển mạnh của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, cùng với sự du nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây, nên nghi thức hôn nhân truyền

thống trong hôn lễ của hai quốc gia cũng như quan niệm về hôn nhân ngày càng mai một đi

Ở Hàn Quốc hiện nay, chỉ có các gia đình quý tộc, giàu sang mới thực hiện đầy đủ sáu lễ, còn phần đông đều giảm xuống còn ba lễ chính: Nạp thái, thỉnh kỳ, thân nghinh Ở Việt Nam cũng vậy, không phải nhà nào cũng thực hiện đầy đủ sáu lễ trong cưới hỏi, chỉ có khi

cả hai bên gia đình đều thuộc hàng quyền quý, đại gia mới tuân thủ, còn theo tục lệ cổ truyền, thông thường chỉ có ba lễ: Chạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới

Ngày nay, ở thành thị Hàn Quốc cũng như Việt Nam, lễ cưới thường được tổ chức ở phòng cưới (phòng cưới thường là nhà hàng, khách sạn) Nhà trai , nhà gái tổ chức một bữa

tiệc mời họ hàng, bạn hữu thân thiết đến chia vui cùng gia đình

1.2.3 Nét tương đồng trong phong tục thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên cũng là việc quan trọng trong đời mỗi người dân Việt Nam và Hàn

Quốc

Đối với các dòng họ lớn, tổ tiên có chức tước phẩm hàm, giàu sang hoặc khá giả thì

việc thờ cúng được tiến hành ở từ đường (Việt Nam còn gọi là bàn thờ họ), còn việc thờ cúng gia tiên phải lập bàn thờ ở nhà

Đối với người dân bình thường, thờ cúng tổ tiên hay gia tiên đều làm ở nhà Nhà nào cũng có bàn thờ Chưa rõ triều đình phong kiến Việt Nam trước kia có quy định như vậy không, nhưng triều đình Choson (1392 – 1910) của Hàn Quốc quy định cụ thể như vậy Nếu

Trang 28

nhà nào không lập bàn thờ cúng tổ tiên thì bị phạt Dù luật pháp của triều đình phong kiến

Việt Nam có hay không quy định nhưng thực tế là mỗi gia đình Việt nam đều lập bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ [13, 55]

Bàn thờ thường đặt ở nơi trang nghiêm nhất trong ngôi nhà Ở nông thôn Việt Nam, bàn thờ được đặt ở gian giữa Ở thành thị tùy theo gia cảnh và thiết kế ngôi nhà, bàn thờ được đặt ở chỗ cao ráo, sạch sẽ, tôn nghiêm Ngày nay, Việt Nam vẫn thế, nhưng ở Hàn

Quốc đã thay đổi Bàn thờ không có trong nhà, chỉ tới ngày giỗ ông bà cha mẹ thì mới lập bàn thờ, hương án và làm cơm canh cúng giỗ

1.2.4 Nét tương đồng trong các ngày lễ tết truyền thống

Việt Nam và Hàn Quốc đều sử dụng song song hai loại lịch: Âm lịch và Dương lịch

Những ngày lễ tết chủ yếu trong năm đều tính theo âm lịch Đó là tết Nguyên đán, rằm tháng giêng, Tết đoan ngọ, Tết trung nguyên (rằm tháng bảy), Tết Trung thu (rằm tháng tám)

- T ết Âm lịch (Tết Nguyên đán) là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm

vi phổ biến rộng rãi nhất, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của hai dân tộc Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là tết của gia đình, tết

của mọi nhà Người Việt Nam cũng như người Hàn Quốc có tục hàng năm mỗi khi tết đến,

dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilomet,

vẫn mong muốn được trở về sum họp gia đình trong ngày tết, được khấn vái tổ tiên

Mặc dù Dương lịch của phương Tây đã được được dùng phổ biến trên thế giới, nhưng

Việt Nam Hàn Quốc vẫn tính các ngày lể cổ truyền theo âm lịch Tuy nhiên khác với Việt Nam là người Hàn ăn tết hai lần trong năm Đón Tết Dương lịch xong, người Hàn lại tiếp

tục đón Tết âm lịch vì trên thực tế Tết âm lịch mới thực sự là Tết cổ truyền của dân tộc Hàn

Theo trình t ự thời gian trong một năm có các ngày lễ như sau:

Tết âm lịch cổ truyền của người Hàn Quốc theo tiếng Hàn gọi là Seol thường rơi vào

cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch, là đại lễ quan trọng nhất trong năm, còn có tên

Trang 29

dù năm mới được tính từ thời khắc giao thừa song trên thực tế không khí Tết đã tràn ngập từ

những ngày cuối năm âm lịch Vào ngày 30 Tết, các gia đình dọn vệ sinh nhà cửa Buổi tối trước giao thừa, họ thường tắm bằng nước nóng để tẩy trần Các thanh tre được đốt trong nhà lúc giao thừa để xua đuổi tà ma vì tục truyền do tiếng nổ của các thanh tre sẽ làm cho

ma quỷ khiếp sợ bỏ chạy Đêm giao thừa không ai ngủ cả, vì theo truyền thuyết nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy

Trong ngày đầu tiên của năm mới, mọi người thường tập trung ở nhà anh cả và cùng nhau chào đón năm mới Người lớn thường mặc lễ phục truyền thống Hanbok Trẻ con được

bố mẹ chuẩn bị quần áo mới từ trước Ngay sau khi mọi người tập trung đông đủ thì lễ cúng

tổ tiên bắt đầu, cả nhà lại tiến hành tiếp nghi lễ cúng tổ tiên gọi là Jesa do trực tiếp người trưởng nam đứng ra làm nghi lễ Đồ cúng cùng với rượu gạo được bày trên mặt bàn giữa nhà Trên đó cũng đặt các bài vị tổ tiên viết trên giấy sớ sẽ đốt đi sau khi cúng Chủ gia đình

thắp hương, khấn mời tổ tiên, cả nhà cùng bái lạy làm lễ

Sau lễ Chesa là lễ Seba, con cái bái lạy cha mẹ, ông bà Trẻ con trong bộ quần áo sặc

sỡ cúi lạy ông bà, cha mẹ và nói những câu chúc tết và được người lớn thưởng tiền mừng

tuổi

- T ết Nguyên tiêu 15-1 ( rằm tháng giêng )

Đây là một trong những ngày lễ lớn khác trong năm của người Việt Nam và đồng

thời cũng là một ngày tết với người Hàn Ngày lễ này được tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên trong năm Vào ngày này, nông dân và ngư dân Hàn Quốc thường cầu nguyện cho họ sẽ

có một vụ mùa trồng trọt và một vụ cá bội thu Các gia đình cầu mong một năm làm ăn phát đạt, tránh mọi điều rủi ro, xui xẻo bằng cách chuẩn bị các món ăn đặc biệt từ các loại rau xanh có trong mùa Có thể nói, đây là một ngày lễ rất được chú trọng sau ngày lễ tết Nguyên Đán

So sánh một chút với tết Nguyên Tiêu của Việt Nam có thể thấy đây cũng là một ngày lễ khá quan trọng trong năm.Người Việt nam thường làm cơm cúng tổ tiên và gia đình thì tụ tập thật đông đủ

- T ết Đoan ngọ 5-5

Tết Đoan Ngọ hay Tết Đoan Dương, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Hàn Quốc, Việt Nam Tết Đoan ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Phương Đông và có ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá

Trang 30

Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam còn gọi là "ngày giết sâu bọ", tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng, trong đó nhiều loài sâu có thể ăn được và chúng được coi như

là chất bổ dưỡng Người ta tin rằng khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết Trong ngày này mọi người cũng thờ cúng tổ tiên, sum họp Đối với Hàn Quốc - Đây là một trong ba lễ hội truyền thống lớn nhất của Hàn Quốc cùng với Tết Nguyên Đán và Tết trung thu Diễn ra vào thời điểm bắt đầu của mùa hè và là ngày cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu.Vào ngày này người nông dân thường nghỉ công việc đồng áng cả ngày để tham gia lễ hội, nó cũng là ngày đánh dấu công việc gieo trồng đã hoàn tất

- T ết trung thu 15-8

Ở Việt Nam, trung thu là ngày hội lớn Vào ngày này, mọi người cũng đi chơi chủ yếu

là thanh niên nam nữ và là của trẻ con Trẻ con được tổ chức vui chơi với những lồng đèn

chỉ dành riêng cho ngày này với đủ hình dạng và màu sắc rực rỡ, cùng ngắm trăng và ăn bánh trung thu

Đối với Hàn Quốc đây cũng là cũng là dịp nghỉ lễ lớn nhất trong năm của người Hàn

Quốc (ngày trăng tròn nhất trong năm rơi vào 15 tháng 8 theo âm lịch) Đó là lễ hội tạ ơn đối với những vụ mùa bội thu Giống như ngày tết, các gia đình từ khắp nơi trong nước trở

về nhà để cùng nhau ăn tết

1.2.5 Nét tương đồng trong hệ thống văn tự chữ Hán

Trong trong quá khứ hai dân tộc Việt- Hàn đều bị nhà Hán đô hộ từ những năm trước Công nguyên và chữ Hán đã được du nhập Từ đó theo suốt chiều dài của lịch sử, chữ Hán được sử dụng phổ biến và được coi là văn tự chính thức của nhà nước phong kiến hai nước Nho sĩ hai nước Việt- Hàn thời phong kiến đã sử dụng chữ Hán rất thành thạo, có thể nói không thua kém gì mọi nho sĩ Trung Quốc Trên cơ sở chữ Hán, nho sĩ hai nước còn sáng

tạo ra một thứ chữ mới để ghi tiếng nói của dận tộc mình mà chữ Hán không thể đảm đương nổi

Tại Việt Nam, văn tự chữ Hán được sử dụng trong giao dịch hành chính từ sớm Trên cơ sở của chữ Hán, người Việt đã biến đổi thành chữ nôm ( chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương Thời Tây Sơn, Quang Trung đã mở rộng sử dụng chữ nôm trong lĩnh vực hành chính và giáo dục Nguyễn Thiếp được Quang Trung giao nhiệm vụ tổ chức

dịch Tứ thư Ngũ kinh và các sách giáo khoa từ chữ Hán ra chữ nôm [52, 267]

Trang 31

Tại Hàn Quốc, Hán tự được sử dụng phổ biến ở thời Tam Quốc Việc vận dụng nguyên xi số văn tự ngoại lai mà không cải biên đã phát sinh nhiều bất lợi Dân tộc Hàn đã

biến đổi chữ Hán thành chữ viết riêng của dân tộc mình- chữ Idu Vì tiếng nói của hai dân

tộc khác nhau nên cách cấu tạo chữ viết không thể giống nhau hoàn toàn Nhưng nét tương đồng thể hiện rõ ở chỗ là trên cơ sở của chữ Hán cả hai dân tộc đã biến thành chữ viết riêng

của dân tộc mình, thể hiện rõ niềm tự tôn dân tộc Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, Hàn Quốc và Việt Nam đã có chữ viết riêng của dân tộc mình, thoát khỏi hoàn toàn từ sự lệ thuộc biến đổi từ chữ Hán Năm 1446, vua Thế Tông ban hành bản chữ cái Hangul với 28

chữ cái [68, 274].Việc sáng tạo ra chữ Hàn là một thành tựu lớn đối với người dân Hàn

Quốc bởi nó là một loại chữ dễ đọc, dễ ghép vần, bất cứ ai cũng có thể đọc được chữ Hàn

chỉ cần bỏ ra vài giờ để học chữ cái và ghép vần

1.2.6 Nét tương đồng về tôn giáo tín ngưỡng

Trong xã hội truyền thống của Việt Nam – Hàn Quốc sự tương đồng về tôn giáo tín ngưỡng thể hiện rõ nét nhất ở sự hội nhập hai tôn giáo; nho giáo và phật giáo Trong sự hội

nhập đó, theo từng thời kỳ lịch sử, Nho giáo hay Phật giáo thay nhau chiếm vị trí độc tôn

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ sớm và theo hai hướng Hướng thứ nhất từ

Ấn Độ, hướng thứ hai từ Trung Quốc Các nhà sư Ấn Độ theo đường biển đã đến Việt Nam

từ đầu Công nguyên Luy Lâu, trụ sở của Giao chỉ trở thành trung tâm của phật giáo [52, 241] Từ Trung Hoa Phật giáo cũng được truyền vào Việt Nam Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo được phổ biến rộng rãi Đến thời Lý- Trần Phật giáo phát triển cực thịnh Toàn dân theo đạo Phật, nhiều chùa tháp được xây dựng Nhà Nho Lê Quát, học trò Chu Văn An đã nhận xét như sau “ từ kinh thành đến châu phủ, đường cùng ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thể mà tin; hễ chỗ nào có nhà ở thì có chùa Phật; bỏ đi thì làm lại, hư thì sửa lại” [52, 241]

Tại Hàn Quốc, Phật giáo được du nhập vào năm 372 [46, 112] sau đó nhanh chóng được tiếp thu Sở dĩ Phật giáo này được tiếp nhận vì nó thích hợp để trở thành chỗ dựa tâm linh, tăng cường cơ cấu cai trị cho tầng lớp vương quyền Năm 668 Phật giáo được coi như

quốc giáo ở Shilla Từ vua đến dân đều theo đạo Phật Vào thời này đã có nhiều cao tăng sang Trung Quốc học (thời Đường), 5 tông phái chính được hình thành ở Shilla; phái Niết bàn tông, phái Giới luật tông, phái Pháp tính tông, phái Pháp tướng tông, phái Hoa nghiêm tông [68, 110]

Trang 32

Như vậy có một điểm chung là Phật giáo được truyền vào Việt Nam và Hàn Quốc từ

rất sớm, tôn giáo này đã nhanh chóng được tiếp thu và đã từng trờ thành quốc giáo ở hai nước với hai thời gian khác nhau Chùa được xây dựng khắp nơi, dân chúng khắp nơi theo đạo Phật Rõ ràng đây là một minh chứng cho sự phát triển rộng khắp của đạo phật, mặc dù

có lúc hưng, lúc suy, tuy nhiên lòng thành với với đức Phật ở cả hai dân tộc vẫn tồn tại cho đến nay

Đối với Nho giáo- đây là một tôn giáo cũng được du nhập vào Việt Nam và Hàn

Quốc từ sớm, tuy nhiên phải mất thời gian dài, tôn giáo này mới có chỗ đứng trong xã hội

của hai quốc gia

Tại Việt Nam, Hán Nho được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diêm,

Sĩ Nhiếp tích cực truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên Đây là thứ thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt, cho nên trong suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công và Khổng Tử Đây được xem là sự kiện Nho giáo được tiếp nhận chính thức [52, 265]

Đến thời hậu Lê, Nho giáo phát triển mạnh, trở thành quốc giáo dưới thời Lê sơ (1428-1527) Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 với nội dung lấy Nho học làm nội dung thi cử Điều này là một minh chứng cho sự tồn tại và chỗ đứng vững chắc của tôn giáo này trong xã

hội Việt Nam

Tại Hàn Quốc Nho giáo xuất hiện ở thời trung hưng của Shilla, xuất hiện như một hệ

tư tưởng độc lập với Phật giáo Nho giáo đã phát triển manh dưới thời kỳ này Năm 682 Hàn quốc thành lập Quốc Học- một minh chứng cho sự phát triển của Nho giáo Năm Năm

717 chân dung Khổng Tử được mang từ Trung Quốc (thời Đường) sang shilla được bày trong nhà Quốc Học Năm 750 Quốc Học được đổi tên thành Thái Học Giám- như một trường Đại học về Nho giáo [68, 114] Chương trình học tại đây gồm 3 khóa trình với các môn học

Khóa 1 Lu ận Ngữ, Hiếu kinh, Lễ ký, Kinh dịch

Khóa 2 Lu ận Ngữ, Hiếu kinh, Tả truyện, Thi kinh

Khóa 3 Lu ận Ngữ, Hiếu kinh, Kinh thư, Văn tuyển [68, 114]

Trang 33

Để học tại trường Thái Học Giám, phải là con em quan lại, quý tộc Năm 788 khoa thi đầu tiên được áp dụng để tuyển chọn người ra làm quan Các thí sinh phải vượt qua 3 vòng đọc hiểu văn bản chữ Hán Khoa thi dựa vào kinh điền của Nho giáo, chữ Hán được

giảng dạy tại đây [68, 114]

Đối chiếu với quá trình du nhập, tồn tại của Nho giáo tại Hàn Quốc và Việt Nam, rõ ràng đều có nét tương đồng Nho giáo đã có mặt tại hai quốc gia từ sớm, ban đầu cũng gặp khó khăn cho sự xuất hiện của mình Tuy nhiên sau một thời gian dài, tôn giáo này cũng chính thức được chấp nhận và đã trở thành quốc giáo của hai quốc gia Mặt khác cả hai nước đều đã xây dựng nơi thờ Khổng Tử- vị khai sinh ra đạo nho Văn Miếu của Việt Nam cũng như Thái học giám của Hàn Quốc

Sang thời kỳ cận hiện đại, Công giáo và đạo Tin lành của phương Tây đều ảnh hưởng

tới hai quốc gia Nhà nước phong kiến của hai quốc gia, tức chính quyền Choson (Hàn Quốc)

và nhà Nguyễn (Việt Nam) đều chống đối quyết liệt nhưng vẫn không thể ngăn cản Công giáo và tin lành đã có mặt ở hai nước( đạo tin lành phát triển ở Hàn Quốc mạnh hơn Việt Nam) và ngày lễ giáng sinh trở thành ngày lễ chung của các giáo dân, một ngày lễ tính theo dương lịch

Như vậy trên cở sở tìm hiều và rút ra những nét tương đồng về văn hóa, có thể đưa ra

những những nhận xét sau:

Th ứ nhất, sự tương đồng văn hóa hai nước là ngẫu nhiên, không phải có sự thỏa thuận hay

bố trí sắp xếp của các triều đại phong kiến

Th ứ hai, sự tương đồng về văn hóa có nguồn gốc sâu xa, được hình thành trong suốt hàng

ngàn năm và có sự bền vững lâu dài

Th ứ ba, sự tương đồng văn hóa có nguồn gốc sâu xa bền vững lâu dài này là cơ sở vững

chắc, tạo dựng mối quan hệ bang giao Việt – Hàn [13, 58]

1 3 Quan hệ bang giao Việt – Hàn trước 1992

13.1 Quan hệ bang giao Việt –Hàn thời trung đại

Có hay không quan hệ Việt –Hàn trong lịch sử thời trung đại? Đây là một vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn Chính sử Việt Nam không nói đến mối quan hệ này Theo Giáo sư Pyon Hong Kee ( nhà nghiên cứu tộc phả Hàn Quốc, ngày 31-1—1996 đến thăm trường ĐH.KHXH- Nhân Văn TP.Hồ Chí Minh, tham dự buổi Hội thảo khoa học về quan hệ Việt Hàn) , cộng đồng Hàn được hình thành từ 502 nhóm tộc họ, gồm 366 nhóm bản địa và 136

Trang 34

nhóm từ các nước ngoài sinh sống trong đó có 2 dòng tộc Lý từ Việt Nam đến là dòng tộc

Lý Tinh Thiện và Lý Hoa Sơn [2]

Dòng tộc Lý Tinh Thiện: Tổ là Lý Dương Côn, hoàng tử thứ 3 của Lý Càn Đức ( Lý Nhân Tông), cháu đời thứ 5 của Lý Công Uẩn ( Lý Thái Tổ ), em Lý Thần Tông ( Lý Dương Hoán) (116-1138) Lý Dương Côn đến Cao Ly ( Koryo) từ thế kỷ 12, ông được coi

là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Hàn Quốc Cháu đời thứ 5 của Lý Dương Côn là

Lý Nghĩa Mẫn, làm quan dưới triều vua Minh Tông của Koryo được thăng chức “ Trung thư môn hạ Bình chương sự phán bộ binh sự” tức là Tể tướng thứ hai, sau chức “ Môn hạ thị trung”, nhưng thực tế ông làm quan suốt 14 năm ( 1183-1196) [2] Trong nhiều bộ chính sử Hàn Quốc đều ghi chép về sự kiện và nhân vật này Tuy nhiên trong lịch sử Việt Nam không đế cập đến Lý Dương Côn mà chỉ ghi chép về Lý Dương Hoán Vấn đề này cần làm

rõ thêm Theo Giáo sư Pyon Hong Kee, dòng họ Lý sinh sống lâu đời ở Tịnh Thiện Hiện nay một bộ phận hậu duệ của dòng họ Lý này sống ở Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên, chỉ

một phần sinh sống ở Hàn Quốc [2]

Dòng tộc Lý Hoa Sơn: Tổ là Hoàng thúc Lý Long Tường, là một hoàng tử họ Lý Lý Long Tường là hoàng tử thứ của vua Lý Anh tông (1138-1175), cháu nội của của vua Lý

Thần Tông, em của vua Lý Cao Tông (1176-1210) Sau khi nhà Lý mất ngôi vào tay nhà

Trần (1225) Lý Long Tường cùng gia quyến đã thoát khỏi sự bức bại của nhà Trần Lý Long Tường đến Cao Ly vào đời vua Cao Tông (1251-1264) Năm 1226, Lý Long Tường trú tại Trấn Sơn Năm 1253, Lý Long Tường tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, lập nhiều công, được vua Cao Ly phong tước Hoa Sơn Quân Năm 1994, cháu đời thứ 26 của Lý Long Tường là Lý Xương Căn đã về thăm xã Đình Bảng ( Bắc Ninh), quê gốc họ lý, lập Hội giao lưu văn hóa dân tộc Hàn – Việt [2]

Nhân vật thứ ba của Việt Nam cũng được coi là đã có quan hệ với Cao Ly là Mạc Đĩnh Chi Mạc Đĩnh Chi là danh nhân nhà Trần, nổi tiếng học giỏi từ nhỏ Năm 1304 thi đậu Trạng nguyên Ông làm quan ba triều vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông.[29, 108] Năm 1308, Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, ông đã xướng họa thơ văn và được vua Nguyên khen tài giỏi ứng thí, trí tuệ thông minh và đã được vua Nguyên phong là

“ Lưỡng quốc trạng nguyên” [28, 26-27] Tại đây Mạc Đĩnh Chi gặp nhiều sứ thần Cao Ly,

nể tài trí thông minh đối đáp của Mạc Đĩnh Chi các sứ thần Cao Ly mời ông sang thăm Cao

Ly Trong chuyến viếng thăm đó, ông được một sứ thần Cao Ly gả cháu gái và để lại di duệ

Trang 35

ở đây [12, 50] Chuyện này được một số con cháu họ Mạc và báo chí Việt Nam đề cập đến, tuy nhiên, vẫn cần bổ sung sử liệu thành văn để được thấu đáo hơn

Ba sự kiện nêu trên, được coi là những sự kiện mở đầu cho mối quan hệ Việt-Hàn trong lịch sử Trong chính sử không ghi chép mối quan hệ trực tiếp giữa hai quốc gia, nhưng quan hệ Việt – Hàn vẫn được duy trì thông qua các cuộc gặp gỡ của các sứ thần hai nước khi đi sứ sang Trung Hoa

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) trong một lần đi sứ sang Trung Hoa gặp sứ thần Triều Tiên, nói lên tâm sự cùng hội cùng thuyền, trong đó có câu: “ Cổ vân: tứ hải giai huynh đệ, tương tế đồng chu xuất công xa” ( Người xưa: bốn bề là nhà Thuyền xa cùng

chống, ngựa xe xùng ngồi) [ 43, 339]

Sang thế kỷ XVII, Lê Quý Đôn (1726-1784) khi đi sứ sang Trung Hoa cũng kết bạn

với sứ thần Triều Tiên là Hồng Khải Hy Hai bên có dịp trao đổi văn thơ với nhau, trong hai tác phẩm của Lê Quý Đôn là cuốn Quần Thư Khảo biện và Thánh mô hiền phạm đều có lời

đề tựa của Hồng Khải Hy Năm 1769, Lê Quý Đôn biên soạn cuốn Bắc sứ thông lục kể lại chuyến đi sứ nhà Thanh năm 1760 Còn phía Hàn Quốc, thời trung đại, các tác phẩm của các học giả Hàn Quốc biên soạn như: Triều kinh thi thiếp, Chi phong tập và bộ sử Triều Tiên vương triều thực lục đã được lưu hành tại Việt Nam, trong đó đều có những tư liệu phong phú nói về mối quan hệ Việt – Hàn [51, 52 ]

1.3.2 Quan hệ Việt –Hàn thời cận đại

Từ thế kỷ XIX trở đi, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây tiến hành xâm lược các nước phương Đông, Việt- Hàn đều cùng nhau đứng cùng một chiến tuyến chống kẻ thù

Ở Việt Nam, sau khi thực dân Pháp xác lập ách thống trị trên lãnh thổ nhỏ bé này cũng là lúc các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp lên cao Phan Bội Châu (1867-1940) đã sáng lập ra Duy Tân Hội (1904), nhằm đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Viêt Nam Phan Bội Châu tiếp tục phát động phong trào Đông Du (1905-1909) xuất dương cầu

học tại Nhật Bản

Nhật Bản, sau cuộc Duy Tân của vua Minh Trị đã trở thành một nước cường thịnh, Tokyo trở thành trung tâm văn minh của phương Đông, có sức thu hút mạnh mẽ nhiều nhà yêu nước cuả Châu Á đến đây học tập Tại đây người Việt và người Hàn lại một lần nữa

gắp nhau, cùng trao đổi kinh nghiệm vận động cách mạng giải phóng dân tộc Năm 1905,

tại Tokyo, Phan Bội Châu đã viết tác phẩm Việt Nam vong quốc sử- tác phẩm mang nội dung tố cáo tội ác của thực dân Pháp tại Việt Nam Tác phẩm được xuất bản tại Tokyo và

Trang 36

ngay lập tức được các chí sĩ Hàn Quốc dịch ra tiếng Hàn và phổ biến ở Hàn Quốc, có tác

dụng tuyên truyền tư tưởng yêu nước căm thù giặc Giáo sư Kim – So- Un ( 1908-1982) đã đọc tác phẩm này và hồi ức lại như sau: “ Vào những năm ở Chihae ( Trần Hải – một thành

phố gần Pusan), tôi bắt đầu đọc những truyện nhi đồng dịch sang tiến Hàn như: Sans famille ( của Hertor Malot ) và A Dog of Flanders ( của Ouida tức De La Ratmée, thỉnh thoảng tôi cũng đọc những sách loại khoa học giả tưởng Trong những sách đọc lúc này cảm động

nhất là cuốn Việt Nam vong quốc sử Nội dung nói đến nỗi đau khổ không thể nào tả xiết

mà dân tộc An Nam (tên gọi Việt Nam lúc bấy giờ) đã phải chịu đựng dưới ách đô hộ của người Pháp Mỗi cái cửa sổ cũng bị đánh thuế, khi kết hôn cũng bị đánh thuế ba lần Biết người An Nam dùng nhiều muối trong thức ăn, họ tăng giá muối lên 10 lần hoặc 20 mươi

lần ”[43, 327-328]

Có một điều đặt biệt thú vị là năm 1905, Phan Bội Châu cũng gửi từ Nhật Bản về

Việt Nam cho Đông Kinh Ngĩa Thục một tác phẩm có cùng chủ đề gọi là Triều Tiên vong

quốc sử ( không biết rõ tác giả là ai, là người Triều Tiên hay cũng chính là Phan Bội Châu?) (Theo giáo Tiến sĩ Youn Dae Yeong cho biết tác giả của Triều Tiên vong quốc sử là Lương

Khải Siêu qua mạn đàm 29- 6-07 tại Đại Học Inha) Trong lời nói đầu, có tựa đề “ Hãy nhìn xem tình hình của Cao Ly mất nước” [51, 54]

Như vậy, sự kiện trên cho thấy phần nào quan hệ Việt- Hàn đã từng bước có sự gắn

bó, cùng cảm thông với nhau trong giai đoạn này

Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động tại Pháp đã có quan hệ với nhiều nhà cách

mạng Trung Hoa, An- giê- ri, Tuy-ni-di, Triều Tiên trong đó Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến Triều Tiên Những tư liệu này tuy tản mạn nhưng khá rõ, Việt Nam ( đại diện

là Nguyễn Ái Quốc), Triều Tiên ( đại diện là Kim Khuê Thực), từng trình kiến nghị, yêu sách đòi độc lập đến Hội nghị Versailles (1919) Trước và sau việc trình kiến nghị này Nguyễn Ái Quốc cũng đã có nhiều liên hệ, nhận sự trợ giúp từ những nhà yêu nước Triều tiên tại Pháp Kết quả đầu tiên của tình đoàn kết giữa các nhà yêu nước Việt Nam và Triều Tiên là bài viết Đông Dương và Triều Tiên - một sự so sánh thú vị của Nguyễn Ái Quốc ( báo Le populaire ngày 04-09-1919) Nguyễn Ái Quốc cùng các nhà cách mạng Triều Tiên, Trung Quốc, Ấn Độ đã tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á ( 09-07-1925) Sự quan tâm của Nguyễn Ái Quốc dành cho Triều Tiên được thể hiện rõ qua các bài viết, các lần trả lời phóng vấn báo chí, tác phẩm Đường cách mệnh Nếu tính cả 12

Trang 37

tập của Hồ Chí Minh toàn tập thì Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhắc đến Triều Tiên hơn 20 mươi lần dưới nhiều hình thức khác nhau.[69, 60]

Như vậy bước sang thời cận đại, vì chung hoàn cảnh vong quốc nên những nhà yêu nước của Việt Nam và Hàn Quốc đã chia sẻ, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau để cùng đấu tranh

giả phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của pháp, Nhật

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho hai quốc gia vùng lên giải phóng dân tộc Tuy nhiên khát vọng độc lập của hai dân tộc đã bị chủ nghĩa để

quốc phương Tây chà đạp Với sự can thiệp của Mỹ đã đẩy Việt Nam và Hàn Quốc vào giai đoạn chia cắt tàn khốc nhất trong lịch sử

Nhìn lại quan hệ Việt- Hàn trong giai đoạn này, vẫn là quan hệ mang tính chất cá nhân, hoặc gián tiếp thông qua nước thứ ba (Trung Quốc, Nhật Bản ) chưa phải là mối quan

hệ mang tính chất cấp cao của hai nhà nước, và mối quan hệ này này cũng không được diễn

ra thường xuyên Trong giai đoạn sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, bán đảo Hàn

bị chia cắt, mối quan hệ Việt- Hàn phát triển theo chiều hướng xấu, không còn là mối quan

hệ tốt đẹp như đã từng diễn ra trong lịch sử

1.3.3 Sơ lược quan hệ Việt- Hàn giai đoạn từ sau 1954 đến 1975

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là quốc gia giàu nhất thế giới, nuôi giấc mộng

muốn làm bá chủ toàn cầu Bằng chiến lược toàn cầu, Mỹ phát động chiến tranh lạnh nhằm

mục đích ngăn chặn sự phát triển của Chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam và bán đảo Hàn cũng

nằm trong chính sách ngăn chặn ấy Mỹ đã can thiệp sâu vào nội bộ của hai quốc gia, dựng nên hai chính quyền chống cộng và thân Mỹ Tại Việt Nam Mỹ dựng nên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm đứng đầu Tại bán đảo Hàn, Mỹ dựng nên Đại Hàn Dân

Quốc do Lý Thừa Vãn đứng đầu Âm mưu của Mỹ muốn biến hai quốc gia này thành tiền đồn chống cộng ở châu Á

Chính trong bối cảnh này, Hàn Quốc và Việt Nam Cộng hòa đã đặt mối quan hệ mật thiết với nhau, tất nhiên với chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, mối quan hệ với Hàn Quốc trong giai đoạn này trở nên thù địch, vì Hàn Quốc không còn đứng chung với

Việt Nam trên con đường dành độc lập, thống nhất đất nước Cả Hàn Quốc và Việt Nam

Cộng Hòa đều là chính quyền do Mỹ dựng nên, đều có chung mục đích chống cộng, thân

Mỹ, và đều là “ con đẻ ” trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, và tất nhiên mối quan hệ giữa hai quốc gia sẽ diễn ra tốt đẹp trên nhiều phương diện

Trang 38

Ngày 27-10-1955, Việt Nam Cộng Hòa và Đại Hàn Dân Quốc chính thức đặt quan

hệ bang giao, tức chỉ một ngày sau khi Ngô Đình Diệm tuyên bố thắng cử trong một cuộc trưng cầu dân ý tại miền Nam Việt Nam (26-10-1955) Hàn Quốc nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cộng hòa Ngày 26-05-1956, Tòa công sứ Hàn Quốc được thiết lập tại Sài Gòn Tháng 6 năm 1956, Việt Nam cộng hòa cũng đặt Tòa công sứ tại Seoul Tháng 3-1958, cả hai bên đồng ý nâng cấp quan hệ ngoại giao lên cấp Đại sứ [69, 70]

Trong suốt giai đoạn dài của lịch sử (1954-1975), mối quan hệ Việt- Hàn chính thức được xác lập trên cơ sở bang giao quốc gia Tuy nhiên mối quan hệ đó chỉ diễn ra với tư cách của nhà nước Việt Nam Cộng hòa ( một nhà nước do Mỹ dựng nên, thân Mỹ và chống

cộng ) với Đại Hàn Dân Quốc Còn về phía Việt Nam Dân Chủ cộng hòa với Hàn Quốc trong giai đoạn này không có bất kỳ mối quan hệ nào, có chăng đó là mối quan hệ đối đầu mang tính thù địch Giống như lính Mỹ, trong suốt thời kỳ gửi quân chiếm đóng tại duyên

hải miền Trung Việt Nam, lính Hàn cũng gây nên nhiều tội ác với người dân Việt- tội ác

thảm sát Tội ác này đối với người dân Việt phải mất rất nhiều thời gian mới có thể quên đi được

1.3.4 Quan hệ Việt – Hàn giai đoạn 1975 đến năm 1992

Sau chiến thắng 30-04-1975, Việt Nam được thống nhất trở lại, quan hệ bang giao

Việt- Hàn bị đứt đoạn Từ 1975 đến 1982 hai bên có sự qua lại bằng hình thức buôn bán tư nhân qua trung gian, đến năm 1983 hai bên bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp cùng một

số quan hệ phi chính phủ

Có thể lý giải cho sự gián đoạn trong quan hệ hai quốc gia giai đọan này là do sự bất hòa trong quá khứ (1954-1975), lính Hàn đã gây nhiều tội ác trong cuộc chiến tại Việt Nam

với tư cách là nước đánh thuê cho Mỹ Năm 1986, Đại Hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần

thứ VI đề ra đường lối đổi mới với phương châm “ủng hộ chính sách tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau” và “ mở rộng quan hệ với tất cả các nước” Tại Hàn Quốc, năm 1980, chính phủ Hàn đã tiến hành chính sách ngoại giao phương Bắc, chủ trương quan hệ ngoại giao với tất các các nước không đối đầu, bất chấp sự khác biệt về thể

chế chính trị Từ đó hai bên đã từng bước xích lại gần nhau Ngày 22-12-1992 Việt Nam – Hàn Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ sau 17 năm bị gián đoạn Đây là cột mốc quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ tốt đẹp hai nước trên mọi lĩnh vực

Trang 39

1.3.5 Quan hệ bang giao năm 1992 - Nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt – Hàn

Ngày 22/12/1992, Việt Nam và Hàn Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao Sự kiện này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử quan hệ hai nước, thúc đẩy nhanh những tiến triển trong quan hệ hợp tác kinh tế kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc

Từ năm 1992 đến năm 2010, mối quan hệ hai nước luôn tiến triển theo chiều hướng

đi lên trong tất cả các lĩnh vực Trong thời gian đó hai bên đã có những cuộc viếng thăm qua lại một cách thường xuyên giữa các đoàn đại biểu các cấp Nhà nước, Chính phủ, Bộ

B ảng 1.2 : Các cuộc viếng thăm cấp cao giữa Việt Nam – Hàn Quốc

Thời gian Các cuộc viếng thăm

Tháng 5 - 1993 Thủ tướng Lee Young Dok thăm Việt Nam

Tháng 8 - 1994 Thủ tướng Lee Young Dok thăm Việt Nam

Tháng 4 - 1995 Tổng bí thư Đỗ Mười thăm Hàn Quốc

Tháng 8 - 1996 Chủ tịch Quốc hội Kim su han thăm Việt Nam

Tháng 11-1996 Tổng thống Kim Young Sam thăm Việt Nam

Tháng 12-1998 Tổng thống Kim Dae Jung thăm Việt Nam

Tháng 8-2001 Chủ tịch nước Trần Đước Lương thăm Hàn Quốc

Tháng 4 - 2002 Thủ tướng Lee Han Dong thăm Việt Nam

Tháng 9 - 2003 Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Hàn Quốc

Tháng 7-2004 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm Hàn Quốc

Tháng 10 - 2004 Tổng thống Roh Moo-hyun thăm Việt Nam

Tháng 4 - 2005 Thủ tướng Lee Hae Chan thăm Việt Nam

Tháng 11 - 2006 Tổng thống Roh Moo-hyun thăm Việt Nam tham dự Hội

nghị Thượng đỉnh APEC Tháng 11 - 2007 Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thăm Hàn Quốc

Tháng 5 - 2009 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hàn Quốc

Tháng 10/2009 Tổng thống Lee Myung-bak thăm chính thức Việt Nam

Ngày 20/10 Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak thăm chính thức Việt

Nguồn: Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam (www.hanquocngaynay.com)

Bên cạnh các cuộc viếng thăm lẫn nhau giữa hai nhà nước Việt –Hàn, hai quốc gia còn ký nhiều Hiệp ước và thỏa thuận song phương nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai

quốc gia

Trang 40

B ảng 1.3 : Các Hiệp định được ký kết giữa Việt Nam- Hàn Quốc

Thời gian Hiệp định ký kết

Tháng 2-1993 Hiệp định hợp tác kinh tế-khoa học kỹ thuật

Tháng 5-1993 Hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư

Tháng 12-1993 Hiệp định thương mại, Hiệp định hàng không

Tháng 7-2000 Thỏa thuận hợp tác kiểm tra hàng thuỷ sản

Tháng 2-200 Thỏa thuận hợp tác giữa các cơ quan kiểm dịch động vật

Tháng 7-2002 Bản ký kết thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực xây dựng

Tháng 8-2002 Hiệp định về hợp tác du lịch

Tháng 9-2003 Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm, - Hiệp định tương trợ tư

pháp về hình sựTháng 4-2005 Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật

Tháng 11- 2006 Hiệp định hợp tác phát triển điện nguyên tử

Tháng 1- 2007 Biên bản ghi nhớ hợp tác về y học phóng xạ

Tháng 5- 2009 Biên bản ghi nhớ hợp tác đào tạo ngành dược

2010 Hiệp định vay vốn ODA của Chính phủ Hàn Quốc

Nguồn: Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam ( www.hanquocngaynay.com)

Việc thiết lập quan hệ bang giao năm 1992, các chuyến thăm qua lại giữa các nguyên thủ của hai quốc gia, cũng như các Hiệp định được ký kết, đã tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt – Hàn thêm tầm cao mới, ngày càng phát triển bền vững Sự phát triển được thể hiện rõ nét nhất ở lĩnh vực thương mại, đầu tư và hợp tác lao động

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w