1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ kinh tế việt nam liên hiệp châu âu trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế của việt nam

143 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 5,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề này Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đổi mới kinh tế và thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại theo định hướng “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác ti

Trang 1

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các báng số iiệu

Bàng chữ viết tát

Lời nói đầu

Lời cam đoan

Mục lục

Danh m ụ c các báng số iiệu

Bàng ch ữ viết tát

Lời nói đầu

Chương 1 Cư sở lý luận và thực tiễn của q uan hệ kinh tế Việt

Nil 111 - Liên hiệp C h âu  u 5

LI Quan hệ kinh tế quốc tế và vai trò của nó đỏi với sự phát triển kinh tế quốc gia 5

1.1.1 Các vàn đề cơ bán của quan hệ kinh lế quốc t ố 5

1.1.2 Vai trò của quan hộ kinh tế quốc tế đối với sự phát Iriổn kinh tè quốc d ân 14

1.2 Phát triển quan hệ kinh tế với Liên hiệp Cháu Âu là quá trình tát yểu troiiíỊ tiến trinh phát trien kính tế Việt Nam 16

1.2.1 Xu hướng phát trien chung của nền kinh tế thố üió’i 16

1.2.2 Vị the của Lien hiệp Châu Âu trong nén kinh tế thế giới và chiến lược của EU đối với khu vực Châu Á 28

1.2.3 Lợi ích của Việt Nam trong phái triển quan hệ kinh tố với E U 34

Chuông 2 T hục trạ n g VÌ 1 tác động của q uan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp C hâu Âu trong tiến trình phát trien kinh tế Việt N am 38

2.1 Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam - ÌẢên hiệp Châu Ắti .38

2.1 I Quan hệ lhương mại 38

2.1.2 Quan hệ hợp tác đầu t ư 51

Trang

Trang 2

2.2 Tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Lién hiệp Châu Ầu đôi

với sự phát triển kinh tế Việt Nam 61

3.ỉ Các yếu tỏ tác động đến việc mở rộng quan hệ Việt Nam Liên

minh Châu Âu trong thời gian tới 74

Trang 5

BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay xu hướng toàn cầu hoá đã gắn kết tất cả các quốc gia, các khu vực và làm cho mối liên kết kinh tế giữa các nước, các khu vực trên thế giới ngày càng gắn bó và phụ thuộc vào nhau Điều này mang lại nhiều cơ hội cũng như các thách thức lớn lao cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nhận thức được vấn đề này Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đổi mới kinh tế

và thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại theo định hướng “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình và độc lập phát triển”, “Tiến trình đổi mới kinh

tế trong nước phải gắn với tiến trình hội nhập quốc tế nhằm phục vụ tốt mục tiêu phái triển đất nước, giữ vững độc lập, tự chủ”, thực hiện “đa phương hoá

và đa dạng hoá trcn cơ sở cân bằng lợi ích giữa các đối tác, phòng ngừa những chấn động đột ngột, tận dụng mọi khả năng cho sự phát triển kinh tế đất nước ” [20,74-76] Với định hướng phát triển đó, Liên hiệp Châu Âu (EU) đã trở thành một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam Sự gia tăng trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và EƯ kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (22/10/1990) đến nay, đặc biệt là những tác động của mối quan hệ này tới tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế của nước ta đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thường xuyên và sâu rộng Do vậy, việc nghiên cứu để làm rõ mối quan hệ này trong tiến trình phát triển kinh tế của nước ta là hết sức cần thiết.

Với tính thực tiễn cao và tầm quan trọng như vậy nên tôi chọn vấn đề:

“Quan hệ kinh lế Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.

Trang 7

Do đó việc nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và EU không phải là một chủ đề hoàn toàn mới Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu như:

“Thúc đẩy quan hệ thương mại - đầu tư giữa liên hiệp Châu Âu và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21” của GS.TS Bùi Huy Khoát với mục đích nghiên cứu những cơ hội và thách thức mà EU đang tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh vực thương mại và đầu tư vào những năm đầu của thế kỷ

21, “Quan hộ Việt Nam- Liên minh Châu Âu” của TS Trần Thị Kim Dung với trọng tâm nghiên cứu về lịch sử quá trình hình thành và phát triển của quan hệ giữa hai bên trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá , “Hợp tác kinh tế và thương mại với E U ” của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với những nghiên cứu tổng quát về họp tác kinh tế, thương mại giữa hai bên trong giai đoạn trước năm 1997 Trên một số tạp chí nghicn cứu chuyên ngành như:

“Những vấn đề kinh tế thế giới”, “Nghiên cứu Châu Âu”, tạp chí “Thương

Tuy nhiên các công trình khoa học kể trên chỉ nghiên cứu ở từng khía cạnh của mối quan hệ kinh tế Việt Nam - EU mà chưa đánh giá một cách tổng quát các mặt hợp tác và tác động của mối quan hệ này tới sự phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiên nay.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là: trên cơ sở phân tích thực trạng và đánh giá tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu tới tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam, làm rõ quan điểm và đề xuất các giải pháp để mở rộng quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới “giai đoan Việt Nam đẩy mạnh phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tể”.

Trang 8

4 Đôi tưựng và phạm vi nghiên cứu

- D ối tượnq nghiên cứu của luận văn là: n h ữ n g q u a n h ê k i n h t ế , t h ư ơ n g

m ạ i g i ữ a V i ệ t N a m v à L i ê n h i ệ p C h â u  u v à m ộ t s ố v ấ n đ ể v ề k i n h t ế n h ư :

G D P , c ơ c ấ u k i n h t ế , v i ệ c l à m

- Phạm vi nạhiên cứu: Luận v ă n chỉ giới h ạ n ở v i ệ c p h â n tích 3 l ĩ n h v ự c

chính của mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp châu Âu, đó là: quan hệ

chính thức (ODA) của EU cho Việt Nam Đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn vận dụng các phương pháp khoa học trong nghicn cứu môn kinh tế chính trị học, lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp lôgíc, thống kê, so sánh, tổng hợp để làm

rõ vấn đề nghiên cứu.

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- H ệ thống h o á lý thuyết, luận giải rõ h ơ n cơ sở lý luận v à thực t i ễ n của quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Liên hiệp châu Âu.

- Trên cơ sở phân tích thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp châu Âu, luận văn đưa ra những đánh giá về tác động của mối quan hộ này tới tiến trình phát triển kinh tế Viột Nam.

- Phân tích những yếu tố tác động đến việc mở rộng quan hệ kinh tế Việt Nam - EU từ đó dự báo triển vọng của mối quan hệ này, xác định rõ hơn quan điểm và đưa ra những giải pháp thúc đẩy mối quan hệ này trong tương

3

Trang 9

Ngoài phần IĨ 1 Ở đầu và kết luân, luận văn bao gồm ba phần và được bố cục như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp châu Âu

Chương 2: Thực trạng và tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu trong tiến trình phát triển kinh tế quốc tế Việt Nam.

Chương 3: Triển vọng và giải pháp mở rộng quan hộ kinh tế Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam.

7 K ết cấu củ a luận văn

Trang 10

CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIEN CÜA QUAN HỆ KINH TÊ VIỆT NAM - LIÊN HIỆP CHÂU Âu

1.1 Quan hệ kinh té quốc tế và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế quốc gia

1.1.ĩ Những vấn đề cơ bản về quan hệ kinh tế quốc tế

* K hái niệm

Có rất nhiều khái niệm khác nhau xoay quanh thuật ngữ “Quan hệ kinh

tế quốc tế ”, khó có thể nói được đâu là khái niệm chính xác nhất Tuy nhiên, các khái niệm này đều tựu chung ở một điểm : đó là mối quan hệ kinh tế vượt

ra ngoài biên giới quốc gia Trong bài viết của mình, tác giả phân tích các vấn

đề trên cơ sở khái niệm sau: “Quan hệ kinh t ế quốc t ế là tổng th ể các quan hệ

về vật chất và tài chính, các quan hệ này diễn ra không những trong lĩnh vực kinh t ế mà cả trong lĩnh vực khoa học - công nghệ vá có liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, chúng diễn ra giữa các quốc gia với nhau cũng như giữa các quốc gia với các tổ chức kinh t ế quốc t ể ’ [2,31] -

Chủ thể của các quan hệ kinh tế quốc tế là các quốc gia cùng với các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân trong các quốc gia đó cũng như các tổ chức kinh tế quốc tế Các công ty đa quốc gia và công ty xuyên quốc gia là những chủ thổ có vị l ó quan trọng trong việc hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế Phạm vi vận động của các quan hộ kinh tế quốc tế thường vượt

ra ngoài biên giới một quốc gia.

* N ộ i dung: Quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm các hoạt động chủ yếu

sau:

Thương mai quốc tố; Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua

5

Trang 11

hoạt động mua hán, lấy tiền tệ làm môi giới Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hoá - tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến trong các quan hệ kinh tế quốc tế.

Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Nội dung của thương mại quốc tế bao gồm:

bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng ) Đây là bộ phận chủ yếu

và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

sáng chế phát minh, phần mềm máy lính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch

vụ lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch và nhiều loại hình dịch vụ khác ) Đây là bộ phận có tỷ trọng ngày càng gia tăng phù hợp với sự bùng

nổ của cách mạng khoa học - công nghệ và việc phát triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.

- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nưóc ngoài gia công Gia công quốc tế là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia

Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tuỳ theo vai trò của bên đặt hàng và bên nhận gia công Khi trình độ phát triển của mộl quốc gia còn thấp,

thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thi các doanh nghiệp thường ờ vào

vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài, thí dụ như đối với Việl Nam hiện nay Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình

Trang 12

gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương.

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hoá từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành

xuất khẩu sang một nước thứ ba Như vậy ở đây có cả hành động mua và hành

động bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao Còn trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch

vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản

- Xuất khẩu tại chỗ: Trong trường hợp này hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong khi vẫn có thể thu được ngoại tộ.

Ngoài những nội dung chủ yếu trên đây, thương mại quốc tế có thể tiếp tục phát triển nhiều loại hình mới tuỳ theo sự phát triển của khoa học cồng nghệ, sự phân công lao động quốc tế hay sự đa dạng hoá trong nhu cầu của các quốc gia.

Dầu tư quốc tế: Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh doanh trong đó vốn đầu tư được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích sinh lời.

Trong đầu tư quốc tế thường có hai hoặc nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng phối hợp với nhau để triển khai một dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên Khác với hoạt động thương mại quốc tế có thể chỉ diễn

ra theo từng vụ việc, đẩu tư quốc tế là một quá trình được kéo dài trong thòi gian khá lâu, thường là lừ 5-20 năm, có trường hợp đến 30 năm, 50 năm hoặc lâu hơn nữa Vốn đầu tư quốc tế có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức

Trang 13

khác nhau, như bằng các loại tiền mặt hoặc giây tờ có giá trị, máy móc thiết

bị, nguyên vật liệu, quyền sử dụng đất đai, các sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá, v.v Lợi ích do hoạt động đầu lư mang lại thường là lợi ích kinh tế, đồng thời còn có cả lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa -

xã hội, lợi ích về bảo vệ môi trường sinh thái .

Vốn đẩu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư của tư nhân và hỗ trợ phát triổn chính thức (ODA) của các chính phủ, các tổ chức quốc tế.

- Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới 3 hình thức:

+ Đầu tư trực tiếp:

Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu

tư toàn bộ hay phần đầu tư lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại .

+ Đầu tư gián tiếp:

Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua cổ phẩn của các công ty ở nước sở tại (ở mức khống chế nhất định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực liếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.

Trang 14

trợ Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển trên được gọi chung là dối tác viện trợ nước ngoài.

Hơp tác quốc tố vé kinh tế và khoa hoc - cống nghê

Là hoạt động bao gồm việc chuyên môn hoá và họp tác hoá ở tầm quốc

tế giữa các tổ chức kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau trong việc sản xuất một loại sản phẩm, trong nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiêm, trong đào tạo cán bộ với các hoạt động cụ thể sau:

- Chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế trong sản xuất.

Việc chuyên môn hoá có thể diễn ra theo các ngành, trong nội bộ từng ngành (theo từng sản phẩm), theo chi tiết sản phẩm và theo quy trình công nghệ Chuyên môn hoá theo các ngành diễn ra khi có sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhicn, sự chênh lệch đáng kể về trình độ công nghệ, trong đó mỗi quốc gia sẽ tập trung vào những ngành mà bản thân họ có điều kiện sản xuất thuận lợi và đạt dược hiệu quả cao Việc chuyên môn hoá theo chi tiết sản phẩm và theo quy trình công nghệ đòi hỏi sự tương đồng về trình độ công nghệ, trong

đó mỗi bén chịu trách nhiệm chế tạo một số chi tiết sản phẩm cuối cùng Đây

là việc chuyên môn hoá có tính chất chiều sâu và nó phát huy được thế mạnh công nghệ của từng quốc gia.

Việc chuyên môn hoá thường gắn Hển với việc hợp tác hoá vì đây là hai mặt của một vấn đề: Việc chuyên môn hoá đòi hỏi việc hợp tác hoá và việc hợp tác hoá phải trôn cơ sở chuyên môn hoá.

Quá trình chuyên mồn hoá và hợp tác hoá trong sản xuất gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia Những công ty lớn có chi nhánh ở hàng chục quốc gia có khả năng thực hiện quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá một cách

ăn khớp trên những phạm vi rộng lớn Đặc biệt sự ra đời của các khối liên kết

9

Trang 15

kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của việc chuyên môn hoá và việc hợp tác hoá quốc tế trong lĩnh vực sản xuất.

- Hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học - công nghệ:

+ Sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học - công nghệ:

Là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành nghiên cứu, thông tin khoa học - công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất Sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học - công nghệ là một đòi hỏi khách quan trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có khả năng lự mình giải quyết mọi vấn đề khoa học - công nghệ mà thực tiễn đặt ra Khoa học - công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và những thành tựu khoa học - công nghệ phải trở thành tài sản chung của nhân loại Điều đó không loại trừ tình hình thực tế là vẫn có việc giữ bí mật những kết quả nghiên cứu và nhiều khi nó còn là phương tiện để khống chế lẫn nhau.

+• Việc chuyển giao công nghệ:

Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ là một hoạt động mua bán đơn thuần vì hàng hoá công nghệ có những đặc điểm riêng Quá trình chuyển giao công nghệ phải giải quyết các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật và pháp ]ý thì mới bảo đảm cho việc chuyển giao đạt kết quả mong muốn Việc chuyển giao công nghệ không chỉ đơn thuần là việc mua bán máy móc, thiết bị Đó mới chỉ

là “phần cứng” của công nghệ đã được vật chất hoá, có giá cả xác định và được mua bán theo mối quan hệ thương mại thông thường Công nghẹ còn có

“phần mềm” bao gồm các kiến thức khoa học, các công thức và bí quyết kỹ

th u ậ t Đó là hàng hoá “vô hình” và không có giá cả xác định Các dạng khác nhau của công nghệ và quyén sử dụng chúng vào sản xuất được phản ánh bằng các khái niệm “kiểu dáng công nghiệp”, “nhãn hiệu hàng hoá” , “sáng chế”,

“bí quvết kỹ thuật” , “bằng bảo hộ sáng chế” , “giấy phép sử dụng”, v.v

Trang 16

Là các hoạt dộng kinh tế quốc tế dưới dạng các dịch vụ quốc tế như du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, bảo hiểm quốc tế, thanh toán và tín dụng quốc tế, xuất và nhập khẩu sức lao động, v.v Yếu tố quốc tế ở đây thể hiện ở phạm vi hoạt động hoặc chủ thể sản xuất và đối tượng tiêu dùng thuộc các quốc tịch khác nhau Để thuận tiện, người ta quy ước tính quốc tế của các dịch vụ này đồng nhất với hình thức thanh toán

là việc thu được ngoại tệ Các dịch vụ thu ngoại tệ có quy mô ngày càng lớn, nội dung ngày càng phong phú và hình thức ngày càng trở nên đa dạng.

Như vậy, quan hệ kinh tế quốc tế có nội dung rộng lớn hơn nhiều so với thương mại quốc tế (theo nghĩa thông thường) Theo nghĩa rộng, người ta có thể dùng khái niệm thương mại quốc tế để chỉ toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, bởi vì hình thức biểu hiện phổ biến hiện nay trong các quan

hệ kinh tế quốc tế là thông qua buôn bán hàng hoá và dịch vụ.

* Tính chất của quan hệ kỉnh tế quốc tế

- Quan hệ kinh tế quốc tế là các mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện giữa

các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân.

- Quan hộ kinh tế quốc tế diễn ra theo yêu cầu của các quy luật kinh tế.

- Quan hê kinh tế quốc tế chịu sự tác đông của các hê thống quản iý khác nhau, của các chính sách, luật pháp, thể chế của từng quốc gia cũng như của các điều ước quốc tế.

- Quan hệ kinh tế quốc tế được vận hành gắn liền với sự gặp gỡ và chuyển đổi giữa các loại đổng tiền.

- Các khoảng cách về không gian địa lý tác động trực tiếp đến quá trình phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế vì nó ảnh hưởng đến thời gian và chi phí

v ậ n t ả i

* Quá trình phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế

C á c d i c h v u t h u n g o a i tê

Trang 17

Các quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện lừ hàng ngàn năm nay do ycu cầu tất yếu của việc giao lưu quốc tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất vượt

ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia Việc hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế dựa trên những cơ sở thực tien và lý thuyết nhất định Ban đầu, chủ yê'u và trước hết là do thực tiễn đòi hỏi, người ta tổ chức và triển khai các quan hệ kinh tế quốc tế một cách tự phát Càng về sau này, việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế đòi hỏi một cơ sở iý luận vững chắc với sự chứng minh về những lợi ích đem lại từ thương mại quốc tế cũng như các hoạt động kinh tế quốc tế khác Các học thuyết kinh tế đc cập đến nguồn gốc của thương mại quốc tế bao gồm chủ nghĩa trọng thương, lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết về lợt thế tương đối của David Ricardo, lý thuyết về sự cân bằng giữa các yếu tố sản xuất của Heckscher - Ohlin, các lý thuyết hiện đại về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm, về hiệu suất theo quy mô, về làn sóng công nghệ, v.v

Các quan hệ kinh tế quốc tế ra đời là một tất yếu khách quan của thực tiễn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong hệ thống phân công lao động quốc tế:

- Ban đầu, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia như đất đai, khí hậu, khoáng sản đưa đến tình trạng mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất một số loại sản phẩm nào đó và họ phải trao đổi cho nhau nhằm cân bằng giữa phẩn dư thừa về loại sản phẩm này với sự thiếu hụt về loại sản phẩm khác.

- Tiếp theo, do sự phát trien không đều về kinh tế và khoa học - kỹ thuật giữa các quốc gia đưa đến sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất giữa chúng, thí dụ khác nhau về nguồn vốn, về trình độ kỹ thuật, về bí quyết công nghệ, về nguồn nhân lực và cả trình độ quản lý Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng phạm vi trao đổi quốc tế sang các yếu tố nói trên: di chuyển về vốn, về

Trang 18

sức lao động, về công nghệ Khi ấy đối tượng tham gia vào việc trao đổi quốc

tế dược m ở rộng hơn nhiều.

- Quá t r ì n h p h á t t r i ể n kinh t ế t ấ l yếu dẫn đ ế n p h â n công lao động S ự

phản công lao động này dần dần vượt ra ngoài pham vi biên giới quốc gia đưa đến sự chuyên môn hoá và sự hợp tác hoá lăn nhau giữa các công ty thuộc các quốc gia khác nhau Điều đó càng làm mở rộng đối tượng và phạm vi trao đổi quốc tế sang các bán thành phẩm, nguyên liệu, các chi tiết sản phẩm.

- Đặc biệt, xuất hiện một yêu cầu khách quan là cần phải tiến hành chuyên môn hoá giữa các quốc gia nhằm đạt tới quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất Điều này có nghĩa là, không phải mỗi nước đều tự mình sản xuất moi thứ hàng hoá để tự đáp ứng nhu cầu của mình kể cả họ có đầy đủ các nguồn lực cần thiết cho điều đó Trái lại, chính dung lượng của thị trường thế giơi đòi hỏi mỗi quốc gia phải biết tập trung vào một số ngành và sản phẩm nhít định mà họ có lợi thế để đạt tới quy mô sản xuất tối ưu Thí dụ như ngành chế tạo máy bay chở khách đòi hỏi và cho phép chỉ ncn tập trung chuycn môn hoá vào một số hãng nhất định, không thể đàn trải ra nhiều quốc gia được Đáy cũng là một căn cứ quan trọng để các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phít triển về bề sâu.

- S ự đa dạng h o á trong nhu cầu tiêu dùng ở mỗi quốc gia là một cơ s ở

qu in Irọng của việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc t ế Khi đời sống kinh

tế ngày càng phong phú thì người tiêu dùng tìm đến các mặt hàng phù hợp với thị hiếu và khả năng thanh toán của họ Chính điều này giải thích nguồn gốc

về quv mô trao đổi thương mại hết sức lớn giữa các nước công nghiệp phát triển (khoảng 70% tổng kim ngạch thương mại quốc tế).

Như vậy cơ sở của sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ

là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, về trình độ phát triển, về các nguồn lực sẵn có giữa các quốc gia mà còn ở sự đa dạng hoá nhu cầu, ở sự ưu việt vế

13

Trang 19

chuvôn môn, hợp tác hoá và ưu thê' của quy mô tối ưu trong sự phân công lao động quốc tế.

1.1.2 Vai trò của quan hệ kỉnh tế quốc tế đối với sự phát triển của

nền kinh tế quốc gia

Quan hệ kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng và sản xuất của mỗi nước Nó đóng vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trôn phạm vi toàn thế giới, nó gắn các quá trình kinh tế trong nước với kinh tế khu vực, kinh

tế thế giới Ý nghĩa bao trùm của quan hệ kinh tế quốc tế là sử dụng có hiệu quả hon các nguồn lực của mỗi quốc gia, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế Thực tế lịch sử đã chứng minh, các nước đi nhanh trên con đường tăng trưởng và phát triển kinh tế là các nước có nền ngoại thương mạnh, năng động, quan hộ kinh tế quốc tế phát triển.

Trong thời đại ngày nay, không một nền kinh tế nào có thể phát triển nhanh nếu không tiến hành phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, “mở cửa” hội nhập vào nền kinh tế thế giới Đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ và lạc hậu như Việt Nam, nếu không mở cửa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới thì không thổ phát triển nhanh được và sẽ vĩnh viễn bị “tụt hậu” so với thế giới và khu vực Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ có ý nghĩa quyết định đến “độ mở” chung của nền kinh tế cũng như nhịp độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vì vậy, mở rộng hoạt động kinh

tế quốc tế, phát triển nhanh ngoại thương đặc biộl là xuất khẩu sẽ là một trong những động lực trực tiếp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và hội nhập của nền kinh

tế nước ta Mặt khác, các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Trang 20

qua hơn các nguồn l ự c , góp phần đẩy nhanh tốc d ộ tăng trưởng G D P Đồng thời, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, hình thành và cơ cấu lại

triển Phát triển quan hệ kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh quốc tế Tham gia cạnh tranh quốc tế trên thị trường trong và ngoài nước sẽ tạo môi trường và đồng thời là áp lực liên tục buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiến công tác quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ, tiết kiệm nguồn lực góp phần tao động lưc thúc đẩy sự tăng trưởng cho nền kinh tế.

Đối với cơ cấu nền kinh tế, phát triển quan hệ kinh tế quốc tế sẽ trực tiếp thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH, tận dụng tối đa các lợi thế so sánh của đất nước Tạo ra nguồn vốn hằng ngoại tệ cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; tranh thủ kỹ thuật hiện đại, công nghệ liêìi bộ, tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài như FDI,

O D A , tiếp nhận kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở rộng thị trường để phát triển và mở rộng sản xuất xã hội, khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của nền kinh tế, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học kỹ thuật, đổi mới cơ cấu kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế với nhịp độ nhanh.

Trong lĩnh vực đối ngoại, sự mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế sẽ góp phần mở rộng các quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam

và đưa Việt Nam gần lại với các tổ chức trong khu vực và trên thế giới Đồng thời, góp phần củng cố an ninh, quốc phòng và tăng cường vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

15

Trang 21

1.2 Phát triển quan hệ kinh tế với Liên hỉệp Châu Âu là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tê Việt Nam

1.2.1 Các xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thê giới

nghệ thông tin với vai trò chuyển đổi một thời đại phát triển từ nền kinh t ế

cồnq nghiệp samỊ nền kinh tế tri thức

Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học lần

thứ 4 (còn gọi là cuộc cách mạng công nghệ) được bắt đầu từ thập kỷ 80 với

nội dung chính là khẳng định vai trò quan trọng của công nghệ thông tin tới

mọi ngành, mọi quốc gia, mọi thể chế khu vực và quốc tế Điều này đã thúc

đẩy cải cách mở cửa giữa các tập đoàn doanh nghiệp, giữa các nước và các

khu vực đánh dấu sự phát triển toàn diên theo xu hướng mở cửa lự do hoá

nền kinh tế thế giới, xu hướng chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền

kinh tế tri thức xuất hiện và đang Irở thành sợi chỉ xuyên suốt trong các động

thái phát triển của nền kinh tế thế giới với những nội dung chính sau:

Thứ nhất, đó là một nền kinh tế mà kiến thức và tri thức trở thành nội

dung chủ yếu của sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ Tri thức đang trở

thành yếu tổ có sức sống và quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất, là hạt

nhân của viêc gắn liền, tổ chức và lôi kéo, thúc đẩy đổi mới các yếu tố khác

Hướng vào việc sáng tạo các ngành nghề mới và tôn trọng quyền uy của tri

thức Trong nền kinh tế tri thức, các ngành kinh tế truyền thống được hiện đại

hoá bằng kỹ thuật mới, công nghệ mới.

Thứ hai, đó là một nền kinh tế lấy công nghệ thông tin làm hạ tầng cơ

sở, nghĩa là truyền thông thông tin (bao gồm thiết kế, truyền và xử lý thông

tin) và các dịch vụ có liên quan ngày càng chiếm vị trí hàng đầu trong nền

kinh tế quốc dân Điều này làm cho nhịp độ cuộc sống, hoạt động sản xuất,

kinh doanh ngày càng tăng lên.

Trang 22

T hứ ba, đó là một nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu làm phạm vi hoạt động Tri thức và thông tin qua mạng Internet sẽ đưa hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi bicn giới quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Vốn, hàng hoá, dịch vụ, kỹ năng quản lý, sức lao động, thông tin và công nghệ đều hoạt động xuyên quốc gia Các mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa các nước, các doanh nghiệp đã xoắn bện chặt chẽ vào nhau và theo

đó, hợp tác kinh tế toàn cầu ngày càng tăng cường và đồng thời mức độ cạnh tranh cũng ngày càng quyết liệt.

Thứ tư, đó là nền kinh tế mới lấy mạng lưới hoá các xí nghiệp làm phương tiện để truyền tải.

Thứ năm, nền kinh tế mới là nền kinh tế có đặc trưng làm biến tướng chu kỳ kinh tế với những biểu hiện khác trước: Thời gian mở rộng tăng trưởng của chu kỳ kinh tế kéo dài, thời gian của những cuộc suy thoái có xu hướng ngắn lại; nền kinh tế không thay đổi bất thường; tỷ ỉệ thất nghiệp và lạm phát thấp; quy mô kinh tế được coi là ưu thế để phát huy hiệu quả tối đa của các tập đoàn kinh doanh.

Thứ sáu, nén kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững, giúp các quốc gia dân tộc giữ được bản sắc văn hoá trong điều kiện giao thoa, hội nhập giữa các nền vãn hoá dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của cồng nghệ thông tin.

Với những đặc trưng trên nền kinh tế tri thức sẽ giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong thời gian tới Nó đang tạo tiền đề cho thương mại dịch vụ và thương mại điện tử phát triển, cho sự phát triển mạnh mẽ và chi phối sâu rộng của các tập đoàn xuyên quốc gia, cho sự thúc đẩy lưu chuyển nhanh của các dòng vốn quốc tế, cho sự thay đổi lại các quan niệm về tổ chức và điểu hành nền kinh tế Nó đặt ra cơ hội cho các nước nói chung và các nước đang phát triển nói riêng là rất lớn Nó mở lối cho các nền kinh tế đang phát triển khả năng tiếp nhận công nghệ mới nhất là công nghệ thông tin để điểu chỉnh mô thức và cơ cấu kinh tế, coi phát triển

17

Trang 23

công nghệ thông lin là ưu tiên hàng đầu để hội nhập vào nền kinh tế quốc tế; thực hiện chiến lược phát triển rất ngắn thông qua các hoạt động tiếp nhận chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý.

* Xu hướng toàn cầu huá, khu vực hoá trỏ thành đặc trưng của th ế giới

Ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các nước trên thế giới Các nước đều cần có môi trường hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa; các nền kinh tế ngày càng gắn bó, tuỳ thuộc lẫn nhau, tạo động ỉực cho lăng trưởng kinh tế; các thể ch ế đa phương trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phái triển của ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các dân tộc.

Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã

và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Những tiến bộ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đưa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn tới sự hình thành những mạng lưới toàn cầu Trước những biến đỏi to lớn về khoa học - công nghệ này, tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hon, mở đường cho kinh tế quốc tế phát triển.

Xu thế khu vực hoá xuất hiện ở những năm 1950, cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay, với sự ra đời của trên 40 tổ chức kinh tế, thương mại khu vực, trong đó đáng chú ý là sự ra đời của Liên minh châu Âu -

EU năm 1993 với 15 nước thành viên, Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEÀN năm 1967 với 10 nước thành viên, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -

Trang 24

Thái Bình Dương - APEC năm 1989 với 21 nước thành viên chiếm trôn 60% GDP và 50% kim ngạch thương mại thế giới, Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm

1996, Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ - NAFTA năm 1994

Các tổ chức kinh tế - thương mại khu vực đều dựa trên nền tảng của WTO, tuân thủ các nguyên tắc của WTO, được WTO công nhận, đểu nhằm mục tiêu đẩy mạnh hợp tác, thực hiện tự do hoá, Ihuận lợi hoá thương mại và đầu tư, tạo lập lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế Các tổ chức khu vực đều

đề cập tới các nội dung trùng với WTO, nhưng mỗi tổ chức đều chọn những lĩnh vực mà mình có lợi thế hơn để tập trung nguồn lực, hợp tác chiều sâu, theo những phương thức đa dạng nhằm tạo lợi thế cạnh tranh riêng cho khu vực.

để thị trường Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là sản phẩm của quá trình cạnh tranh giành giật thị trường gay gắt giữa các thực thể kinh tế quốc tế Với

sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sức sản xuất ngày càng phát triển kéo theo sự đòi hỏi cấp bách của vấn đề thị trường tiêu thụ Với sự hợp tác quốc tế, những hàng rào cản trở giao lưu thương mại

và đầu tư ngày càng giảm đi, kinh tế thế giới có xu thế ngày càng trở thành một thị trường chung.

Tất cả các nước, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của chính mình Đây thực chất là quá trình vừa hợp tác vừa dấu tranh phân chia thị trường Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ ở Châu Á vừa qua không những không đảo ngược xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc

tế về thương mại, đầu tư trên thế giới mà thậm chí còn có phần kích thích xu Ihế đó phát triển Tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước tăng lên làm cho tất

cả các nước phải thường xuyên có những cải cách kịp thời trong nước để thích

19

Trang 25

ứng với những sự biến động trên thế giới Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế

thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố

an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc của mỗi nước thông qua

việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan xen, nhiều chiều và ở

nhiều tầng nấc với các nước khác.

* Xit hướng thi trường hoá nền kinh tế th ế giới và sự tất yếu chuyển sang mô thức thi trườnẹ m ở cửa ở tất cả các nền kinh t ể quốc gia

Thị trường hoá nền kinh tế thế giới là một xu hướng lớn khác của thế

giới bước vào những năm đầu của thập kỷ 21 Xu hướng này phản ánh một

quá trình hiện thực khách quan là cùng với toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới,

ngày càng nhiều thị trường quốc gia và khu vực lần lượt nối liền vào quỹ đạo

vào thị trường thế giới và theo đó, phạm vi và dung lượng của thị trường thế

giới không ngừng mở rộng với một kết cấu nhiều tầng lớp để cuối cùng hình

thành một thị trường thống nhất toàn cầu Xu hướng này có những đặc điểm

quan trọng sau:

Biểu hiện quan trọng nổi bật của xu hướng thị trường hoá của nền kinh

tế thế giới là tổng lưu chuyển hàng hoá toàn cầu ngày càng tăng Việc gia tăng

tốc độ buôn bán của thế giới hay là gia tăng xu hướng thị trường là kết quả

của việc tự CỈO hoá các chính sách thương mại được thực hiện ở hầu khắp các

khu vực và các nước trên thế giới, những hạn chế thương mại đã được giảm

bớt, những hạn chế về số lượng này được thay bằng biện pháp thuế quan

cuộc cải cách chính sách thương mại này đã mở rộng danh giới quốc gia, giúp

giải quyết những sai lệch về thị trường, khắc phục những chính sách làm hạn

chế sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài Mặc dù

mức độ thực hiện của từng khu vực khác nhau, nhưng đa số các nước hiện nay

đều tham gia vào các chương trình cải cách chính sách thương mại theo xu

hướng tự do hoá.

Trang 26

Mức độ liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống hữu cơ ngày càng gia lăng Khối lượng thương mại quốc tế tăng khá nhanh so với sự gia lăng GDP toàn thế giới Chu chuyển thương mại giữa các quốc gia được bổ sung mạnh mẽ bởi xu hướng tăng cường sự chu chuyển thương mại nội bộ các công ty xuyên quốc gia Với cấu trúc phát triển theo mô hình mạng lưới để

thực hiện cắm nhánh sâu, rộng ở hầu hết các quốc gia và khu vực, tự các tập

đoàn xuyên quốc gia đã trở thành chất kết dính làm sâu sắc hơn sự liên kết thị trường thế giới Điều đáng lưu ý là khi các thị trường quốc gia và khu vực gắn chặt với nhau, quy định và chi phối lẫn nhau thì các quan hệ kinh tế quốc tế đã trở nên rộng mở và tự do hơn.

Nội hàm của thị trường thế giới và hệ thống các chi nhánh đã được làm cho đầy đủ và phong phú lên rất nhiều, không chỉ bao gồm thị trường hàng hoá với rất nhiều chủng loại phức tạp mà còn bao gồm các thị trường đang phát triển nhanh chóng về lưu thông tiền tệ, vốn quốc tế, dịch vụ lao động, tin học và khoa học kỹ thuật thế giới Trong đố sự lưu thông tiền vốn quốc tế đã bao gồm và mang tính dẫn dắt đối với trao đổi hàng hoá và dịch vụ, đang trở thành một lực lượng chi phối quan trọng đối với nền kinh tế thế giới Theo nhiều đánh giá, cùng với sự phát triển của sức sản xuất xã hội, sự mở rộng và thay đổi của nhu cầu con người các bộ phận hợp thành của hộ Ihống thị trường thế giới sẽ còn có thể mọc thêm ra nhiều chi nhánh nữa.

Vẻ mặt hình thái thị trường thế giới sẽ được mở rộng hơn nữa bao gồm các thị trường trôn bể mặt các lục địa, các thị trường tài nguyên thiên nhiên chìm sâu dưới lòng đất, dưới đáy biển và lòng đại dương và cả thị trường hàng không vũ trụ bao la.

Việc thị trường thế giới hình thành như một chỉnh thể thống nhất đã bắt buộc mọi nền kinh tế quốc gia cải cách và chuyển đổi tích cực để trở thành một bộ phận hĩru cơ của nó, không phụ thuộc vào nền kinh tế quốc gia đó có

mô hình và trình độ phát triển nào Hầu hết các nền kinh tế đang phát triển

Trang 27

dang trong quá trình cải cách đổ thích ứng với các chiều hướng phát triển mới

đó của nền kinh tế thế giới Dù được bắt đầu là các mô hình hướng nội dựa vào thay thế nhập khẩu hay hướng ngoại dựa vào xuất khẩu các nguồn tài nguyên thì cuối cùng các nền kinh tế này đều tiến tới mô hình phát triển hướng ngoại dựa vào đa dạng hoá xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế tạo.

Các thị trường tài chính tiền tệ quốc gia, khu vực và quốc tế theo đó cũng ngày càng đươc tư do hoá Quá trình này diễn tiến theo từng giai đoan để loại bỏ dần những độc quyền, những ngăn cấm, giới hạn của Nhà nước đối với

tư nhân, của tư bản trong nước đối với nước ngoài, cả trong lĩnh vực kinh doanh tài chính tiền tệ lẫn trong tỷ lệ sở hữu cũng như phạm vi tỷ lệ trao đổi, lưu chuyển vốn đầu tư Trôn thực tế sự lưu thông vốn quốc tế đã trở thành phổ biến và vượt hơn cả trao đổi hàng hoá và địch vụ lao động, trở thành một lực lượng quan trọng chi phối nền kinh tế thế giới Tự do hoá tài chính tiền tệ đang trở thành sức ép trực tiếp chi phối các chính sách của các nước, dù là nước phát triển hay dang phát triển, là nội dung các thương lượng điều chỉnh;

là điều kiện đằng sau những khoản viện trợ; là mục tiêu của các cam kết và là đích của WTO đặt ra cho các nước phát triển vào năm 2010 và các nước đang phát triển vào năm 2020.

Rõ ràng kinh tế thị trường mở cửa với tính cách là một xu hướng phổ biến của nền kinh tế thế giới trong thiên niên kỷ thứ 3 đang đặt ra những tư duy mới cho mọi nến kinh tế quốc gia dân tộc trong vấn đề bắt kịp và thích ứng với tự do hoá; trong việc phải có quan niệm đúng hơn về vấn đề bảo hộ mậu dịch; trong thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá thông qua việc gia nhập các

tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế; trong việc cần thiết phải cải cách các thể chế kinh tế bên trong để thực hiện sự kết hợp đúng đắn hơn các nguồn lực bên trong và bên ngoài.

Trang 33

1.2.2 VỊ thê của Liên hiệp châu Ầu trong nền kinh tẻ thê giới và chiến lược của EU đôi với các nước Châu Á

Trang 38

đ ã th ôn g q ua văn k iện quan trọng dưới ticu đề “T iến tới m ộ t c h iế n lư ợc m ớ i

đ ố i với C hâu Á ” vào n g à y 1 4 /7 /1 9 9 4 với n h ữ n g vấn đ ề n ổi bật sau:

1 Đ ã v là lẩn đầu tiên EU h oạch đ ịn h tổ n g th ể c á c b iện pháp tron g

c h ín h sá ch c ủ a liên h iệp đ ố i với m ộ t khu vực Đ iề u đ ó c h ứ n g tỏ E U

đ ã nhận ra sự cầ n th iết phải c ó đ ịn h hư ớn g m ớ i v ề ch ín h sá ch đ ố i vớ i khu vực C hâu Á đ a n g phát triển kh á n ă n g đ ộ n g

4 N g o à i ra, m ụ c đ íc h củ a c h iế n l ư ợ c này c ò n k h u y ến k h í c h c á c n ư ớ c

Châu Á tham g ia tích cự c vào c á c tổ ch ứ c q u ố c tế, c ó quan h ệ đa phư ơng trong đ ò i s ố n g q u ố c tế và khu vự c, g iú p cá c n ư ớ c n à y trong

Ngày đăng: 16/02/2020, 17:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w