Vì vậy nghiên cứu và áp dụng một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tiêu biểu đối với sản xuất và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là việc làm cần thiết n
Trang 1BỘ GIÁO DUC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP
DÀI NGÀY TỈNH ĐỒNG NAI
Mã số: CS.2010.19.78
Cơ quan chủ trì: Khoa Địa lí
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Bình
TP HỒ CHÍ MINH –5/2011
Trang 2BỘ GIÁO DUC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP
DÀI NGÀY TỈNH ĐỒNG NAI
Mã số: CS.2010.19.78
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Bình Thành viên tham gia: ThS Bùi Vũ Thanh Nhật
TP HỒ CHÍ MINH –5/2011
Trang 3CHỮ CÁI VIẾT TẮT
KT- XH: Kinh tế - xã hội TCLT: Tổ chức lãnh thổ PGS.TS: Phó Giáo sư , tiến sĩ TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh CCN dài ngày: Cây công nghiệp dài ngày
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn KTTĐFN: Kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 4TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài : “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài
ngày tỉnh Đồng Nai”
Mã số: CS.2010.19.78
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Bình
Điện thọai: 01699950668
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm TPHCM
Cơ quan và các nhân phối hợp:
- ThS Bùi Vũ Thanh Nhật – Giảng viên khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TPHCM
Thời gian thực hiện: Từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011
1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng phát triển cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai, từ đó tìm hiểu mối liên kết giữa trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn toàn tỉnh Nhằm khai thác tối đa các nguồn lực, tăng hiệu quả sản xuất và đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai nói chung và phát triển cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn toàn tỉnh nói riêng
- Đưa ra một vài kết hợp tổ chức lãnh thổ giữa vùng nguyên liệu với các cơ
sở chế biến cây cây công nghiệp dài ngày
- Xây dựng một vài mô hình kết hợp nông – công nghiệp với các địa phương
có ưu thế về sản xuất các cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 5- - Địa chỉ để ứng dụng: Các vùng sản xuất cây công nghiệp dài ngày chiếm
ưu thế trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
SUMMARY OF RESULTS BASE-LEVEL SCIENCE SUBJECT
Title: "Territorial organization of agriculture about cultivation and processing
of long-term industrial crops in Dong Nai province"
Code: CS.2010.19.78
Chief: Ma Nguyen Thi Binh
Telephone: 01699950668
Responsible agency: HCMC University of Pedagogy
Agency and individuals to coordinate: Ma Bui Vu Thanh Nhat - Lecturer in
Geography, HCM University of Pedagogy
Implementation Time: From April 2010 to April 2011
1 Common goal
Researching and assessing the development status of long-term industrial crops
in Dong Nai province so that we discern the rapports between - growing and processing long-term industrial crops in the province This helps us to exploit maximum of resources, to increase productivity and to meet the needs of agricultural development
in Dong Nai province in general and development of long-term industrial crops in the province in particular
Trang 6- Discerning the real situation of the plantation and processing plant long-term industrial research in the area
- Orientating the territorial organization in agriculture - industry appropriately between cultivation and processing of long-term industrial crops in Dong Nai
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục tiêu – Nhiệm vụ – Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu của đề tài 3
2.2. Nhiệm vụ của đề tài 4
2.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Quan điểm nghiên cứu 5
4.1.1 Quan điểm hệ thống 5
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh 6
4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
4.2.1 Phương pháp thống kê 6
4.2.2 Phương pháp điều tra thực địa 7
4.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ 7
4.2.4 Phương pháp hệ thống thông tin Địa lí (GIS) 7
4.2.5 Phương pháp dự báo 7
5 Cấu trúc của đề tài 7
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY 9
1 1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của cây công nghiệp dài ngày 9
1.1.2 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Một sồ hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam 11
1.2.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai 16
Trang 8CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ
CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY
CÔNG NGHIỆP DÀI NGÀY Ở TỈNH ĐỒNG NAI 17
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai 17
2.1.1 Nhóm các nhân tố tự nhiên 17
2.1.2 Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội 22
2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai 28
2.2.1 Vai trò của cây công nghiệp đối với sự phát triển nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai 28
2.2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở Đồng Nai 33
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG NGHIỆP DÀI GÀY TỈNH ĐỒNG NAI 59
3.1 Quan điểm để xây dựng định hướng 59
3.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày 59
3.2.1 Đối với cao su 59
3.2.2 Đối với cà phê 60
3.2.3 Đối với điều 61
3.2.4 Đối với cây tiêu 61
3.3 Một số giải pháp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 62
3.3.1 Đối với trồng và chế biến cao su 62
3.3.2 Đối với trồng và chế biến cà phê 64
3.3.3 Đối với trồng và chế biến điều 67
3.3.4 Đối với trồng và chế biến tiêu 68
PHẦN KẾT LUẬN 70
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đồng Nai là một tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi có nhiều trang trại, tổ hợp tác và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế cao Với những thành công của các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất đó, có vai trò to lớn và ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của ngành nông nghiệp Đồng Nai nói riêng
và nền kinh tế của tỉnh nói chung Tuy nhiên, những kết quả đạt được đó vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh Đồng Nai, cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra Vì vậy nghiên cứu và áp dụng một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tiêu biểu đối với sản xuất và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là việc làm cần thiết nhằm đưa ngành trồng trọt nói riêng và ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung đi lên Trên cơ sở lý luận của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đề
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai
để thấy được sự tác động tổng hợp của các nguồn lực đối với tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày Đồng thời tìm hiểu tiềm năng, thực trạng phát triển và phân bố của một số cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn toàn tỉnh cũng như thấy được mối liên hệ giữa việc trồng với chế biến cây công nghiệp dài ngày để từ đó tìm ra những giải pháp và định hướng phát triển nông nghiệp sao cho tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động và giảm thiểu về sự chênh lệch lãnh thổ giữa các vùng trong lãnh thổ nghiên cứu Đây là một công việc có ý nghĩa thiết thực
cả về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của Đồng Nai nói chung và ngành nông ngiệp của tỉnh nói riêng
2 Mục tiêu – Nhiệm vụ – Phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, mục tiêu cơ bản của đề tài là nghiên cứu, đánh giá thực trạng sản xuất các cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai (gồm cây cao su, cà phê, tiêu và diều) Đồng thời nghiên cứu một hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền với cây công nghiệp dài ngày đó là mối liên kết giữa trồng và chế biến nhằm khai thác tối đa
Trang 10các nguồn lực, tăng hiệu quả sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của tỉnh nói chung
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Tổng quan những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày
- Phân tích, đánh giá các nguồn lực ảnh hưởng đến sản xuất cây công nghiệp dài ngày ở Đồng Nai;
- Tìm hiểu thực trạng của việc tcrồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu mối liên kết giữa trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày (vùng nguyên liệu, các cơ sở chế biến) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
2.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về thời gian: Từ năm 2000 đến nay
- Về không gian: tỉnh Đồng Nai
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến các lọai cây công nghiệp dài ngày:cà phê, điều, tiêu và cao su
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến nông sản cũng như liên kết nông – công nghiệp đã được nghiên cứu từ lâu và đi vào thực tiễn sản xuất của nhiều nước trên thế giới Ở Châu Âu
có mô hình đồn điền, trang trại, các công ty trồng và chế biến nông phẩm, v.v…
Ở Việt Nam, mô hình liên kết nông – công nghiệp đã được nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Về lý luận, PGS.TS Lê Thông với cuốn sách: “Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
trên thế giới”, NXB Giáo dục (1986) đề cập đến bản chất và nội dung của liên kết nông –
công nghiệp; PGS.TS Ngô Dõan Vịnh, TS Nguyễn Văn Phú với tài liệu dành cho hệ đào tạo
Sau Đại học: “Tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội” đề cập đến phân vùng, kinh tế vùng và
phân bố lực lượng sản xuất; PGS.TS Đặng Văn Phan, TS Nguyễn Kim Hồng với giáo trình
“Tổ chức lãnh thổ” do trường Đại học Sư phạm TP.HCM xuất bản (2002) đề cập đến các
khái niệm, nội dung tổ chức lãnh thổ, tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội Việt Nam.; PGS.TS Đặng Văn Phan với giáo trình “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam” do NXB GD xuất
Trang 11bản năm 2008 đã đề cập tới khái niệm và nội dung của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp có liên quan đến nước ta
Về thực tiễn, một số luận án tiến sĩ đề cập đến nội dung này trong lĩnh vực trồng và chế
biến cao su (Ông Thị Đan Thanh – 1986); trồng và chế biến mía (Phạm Xuân Hậu – 1993); trồng và chế biến sắn (Trịnh Thanh Sơn – 2004)
Các đề tài nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo vô cùng qúi giá và thật sự bổ ích cho nhóm nghiên cứu chúng tôi khi thực hiện đề tài này Tuy nhiên, về vấn đề tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở Đồng Nai thì vẫn còn là một vấn đề bỏ ngỏ Trong khi vấn đề này rất cần thiết đối với quá trình phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp của Đồng Nai nhằm từng bước xóa đói giảm nghèo và đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về phép biện chứng là kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Đề tài vận dụng các quan điểm truyền thống cũng như quan điểm hiện đại trong nghiên cứu Địa lí học Đó là:
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai luôn biến đổi do ảnh hưởng bởi sự phát triển KT – XH của tỉnh, của vùng và quốc gia cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước Vì vậy, trồng và chế biến cây công nghiệp dài này luôn chịu ảnh hưởng bởi hệ thống KT – XH lớn hơn
Hệ thống KT – XH tỉnh Đồng Nai gồm các phân hệ nhỏ hơn và sự phát triển của nó phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên, các đặc điểm dân cư, xã hội, v.v… Do vậy, việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày phải được xem xét như là các sự vật, hiện tượng trong một hệ thống hoàn chỉnh và không thể tách rời với sự phát triển KT – XH chung của tỉnh Đồng Nai và cả nước
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trang 12Đây là quan điểm cơ bản của Địa lí học Tức là phải nghiên cứu các đối tượng trên một lãnh thổ để thấy sự khác biệt của lãnh thổ đó trên cơ sở đánh giá tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến những nét khác biệt của vùng Đề tài trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày cần được đặt trong bối cảnh KT – XH của tỉnh Đồng Nai có những nét đặc thù về vị trí Địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT – XH, lịch sử phát triển, v.v… để hình thành các khu vực trồng trọt năng suất cao, các khu vực chế biến hiện đại với nhiều sản phẩm chất luợng cao, có giá trị kinh tế
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vấn đề trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày được phân tích theo chuỗi thời gian Mỗi một giai đọan mang một màu sắc, một đặc điểm riêng Vận dụng quan điểm lịch sử trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai nhằm đánh giá thực trạng của vấn đề này trong từng giai đọan nhất định Trong đó đặc biệt quan tâm đến các thời điểm lịch sử quan trọng, những biến đổi KT – XH đáng chú ý nhằm đánh giá, phân tích vấn đề một cách biện chứng, khoa học
4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày có tác động rất lớn đến môi trường Do vậy, quán triệt quan điểm sinh thái trong nghiên cứu nhằm mục đích giảm thiểu những tổn hại đối với môi trường sinh thái như suy thoái đất, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v… Việc thiết lập hệ thống liên kết nông – công nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày cũng như việc đưa ra các giải pháp cho vấn đề này cũng phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững nhằm đảm bảo không làm cạn kiệt tài nguyên và suy giảm môi trường sinh thái của tỉnh Đồng Nai mà trái lại làm tăng tỷ lệ che phủ và bảo vệ môi trường
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Đề tài cũng sử dụng các nguồn số liệu của các tổ chức, ban ngành, số liệu thống kê về nông nghiệp, công nghiệp, dân cư, kinh tế của các vùng để so sánh, phân tích khi cần làm sáng tỏ vị trí của tỉnh Đồng Nai so với cả nước hay các địa phương trong vùng
4.2.2 Phương pháp điều tra thực địa
Để có được những số liệu bổ sung và những luận cứ đánh giá đúng nhân tố ảnh hưởng cũng như thực trạng trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày của tỉnh Đồng Nai, ngòai những số liệu thống kê thu thập được, nhóm nghiên cứu chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu thực địa, phỏng vấn nhân dân và các cán bộ lãnh đạo Kết quả thu thập được là cơ sở thẩm định lại những nhận định, đánh giá, dự báo trong quá trình nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ của
4.2.4 Phương pháp hệ thống thông tin Địa lí (GIS)
Hệ thống thông tin Địa lí (GIS) được sử dụng phổ biến để lưu trữ, phân tích, xử lý các thông tin về mặt không gian Sử dụng công nghệ GIS cho phép chồng xếp các thông tin Địa lí
để thấy được nét đặc trưng riêng cho đối từng đối tượng Địa lí Đề tài chủ yếu sử dụng phần mềm MapInfo để tính toán, thiết kế, biên tập bản đồ, kết hợp với công cụ vẽ biểu đồ, đồ thị minh họa cho nội dung đề tài
4.2.5 Phương pháp dự báo
Phương pháp mà chúng tôi sử dụng ở đây là phương pháp ngọai suy Phương pháp này dựa trên nghiên cứu lịch sử của đối tượng và sự chuyển động mang tính qui luật đã được hình thành trong quá khứ và hiện tại để dự báo tương lai bằng phương pháp xử lý chuỗi thời gian của các đối tượng nghiên cứu cụ thể
5 Cấu trúc của đề tài
Trang 14Ngòai phần mở đầu, kết kuận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến
cây công nghiệp dài ngày
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và
chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Định hướng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công
nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai
Trang 151.1.1.1 Khái niệm
Cây công nghiệp dài ngày hay còn gọi là cây công nghiệp lâu năm là cây trồng có thời gian sinh trưởng, cho thu hoạch dài trên một năm và sản phẩm chủ yếu làm nguyên liệu cho ngành công nghệp chế biến, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản và sản xuất hàng tiêu dùng
- Ở nhiều nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt đới như nước ta thì việc phát triển cây công nghiệp dài ngày trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng và mang lại nguồn thu ngoại
tệ lớn cho đất nước
Trang 161.1.2.1 Tổng quan về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là một hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội Trong khoa học Địa lí, đặc biệt là Địa lí Xô Viết có rất nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi đã công bố nhiều công trình liên quan tới tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Theo K.I Ivanov tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các quy trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hoá, tập trung hoá và hợp tác hoá sản xuất, cho phép sử dụng hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ
về điều kiện tự nhiên, kinh tế và đảm bảo năng suất lao động cao nhất
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn liền với quan điểm triết học lịch sử, nghĩa là với mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có các kiểu hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tương ứng Hiện nay, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp gắn bó mật thiết với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật [7]
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp liên quan chặt chẽ với hệ thống lãnh thổ nông nghiệp Giữa phân hệ sản xuất và chế biến nông sản có mối quan hệ khăng khít với nhau và hình thành nên nhóm xí nghiệp liên quan trực tiếp, liên quan gián tiếp đến đất đai hoặc nhóm xí nghiệp có cả 2 đặc điểm này tuỳ theo từng thời kì Các xí nghiệp như là thành phần của hệ thống liên hệ thông qua dòng vận chuyển nhằm đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của
cả hệ thống Cơ sở của mối liên hệ này là quy trình kĩ thuật và chuyên môn hoá của các xí nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm do những khác biệt về lãnh thổ tạo nên
Ở nhiều nước kinh tế phát triển đã và đang hình thành nhiều hệ thống lãnh thổ nông nghiệp, trong đó phổ biến rộng rãi nhất là các hệ thống lãnh thổ sản suất và chế biến các sản phẩm chăn nuôi Để minh chứng cho điều này có thể kể tới hệ thống lãnh thổ sản xuất thịt, sữa và hệ thống lãnh thổ sản xuất, chế biến sữa ở các nước Tây Âu và Bắc Mĩ
Trang 17Quá trình xuất hiện các hệ thống lãnh thổ nông nghiệp mới và hoàn thiện trong điều kiện hiện nay không chỉ tiêu biểu cho ngành chăn nuôi mà nó còn xâm nhập sâu vào ngành trồng trọt nhất là các ngành sản xuất các sản phẩm phải qua khâu chế biến công nghiệp Việc hình thành các hệ thống lãnh thổ trong ngành trồng trọt cũng dựa trên cơ sở chuyên môn hoá theo các giai đoạn :tập trung hoá, hợp tác hoá và liên hợp hoá trong sản xuất Sự thống nhất về
tổ chức của các giai đoạn trồng và chế biến nguyên liệu từ nông nghiệp vào một xí nghiệp có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành các hệ thống lãnh thổ, từ đó hoạt động nông nghiệp (trồng và chế biến) đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
1.1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói chung và các hình thức tổ chức của
nó theo lãnh thổ tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực về tự nhiên, kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của từng vùng, từng địa phương
- Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tạo ra những điều kiện để đẩy mạnh và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp Khi chuyên môn hóa phát triển đến một mức độ nhất định, tất yếu sẽ dẫn đến quá trình hợp tác hóa, liên hợp hóa trong phạm vi vùng, quốc gia và quốc tế
- Việc hoàn thiện các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động xã hội
- Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp góp phần vào quy hoạch theo lãnh thổ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Một sồ hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam
1.2.1.1 Nông hộ
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta thừa nhận “hộ” là “gia đình” và “kinh tế hộ” là “kinh tế gia đình” Hộ là một đơn vị kinh tế- xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống Mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập và đảm bảo cuộc sống của cả gia đình Hộ còn là một đơn vị sản xuất, đồng thời là đơn vị tiêu dùng Hộ là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các nước đang phát triển thuộc châu Á, trong đó có Việt Nam Các thành viên trong hộ
Trang 18nhà, cùng tiến hành sản xuất và có chung một nguồn thu nhập Các đặc điểm cơ bản của hộ là:
- Về đất đai: qui mô canh tác nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông ở Ấn Độ bình quân diện tích đất canh tác < 2ha/hộ, ở Philippin < 3ha, ở Việt Nam từ 0,5ha (ở miền Bắc từ 0,6 đến 1ha ở đồng bằng sông Cửu Long) Ở nước ta, hộ không có quyền sở hữu ruộng đất
mà chỉ có quyền sử dụng đất
- Về vốn: đại bộ phận có rất ít vốn để sản xuất, qui mô nhỏ, khả năng tích luỹ thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ tiền bán nông phẩm
- Về lao động: chủ yếu sử dụng lao động gia đình Sức lao động của nông hộ không phải hàng hoá, mà là tự phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của gia đình
- Về kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến đổi, mang nặng tính truyền thống
Là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đa số các tỉnh thành trong cả nước đều có ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP Trong đó hộ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại và thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn tiến lên sản xuất hàng hóa
1.2.1.2 Trang trại
Trang trại có nguồn gốc từ nông hộ, được phát triển dần dần trong quá trình chuyển dịch của nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc sang nền kinh tế thị trường Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ cao hơn hộ, là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá Chính công nghiệp hoá đã tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất nông sản hàng hoá, tạo điều kiện cho kinh tế trang trại hình thành và phát triển Trang trại là kết quả tất yếu của hộ gắn với sản xuất hàng hoá, là hình thức tiến bộ của sản xuất nông nghiệp thế giới Trang trại xuất hiện lần đầu tiên ở các nước Tây Âu gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, sau đó phổ biến ở tất cả các nước công nghiệp châu Âu, Bắc Mỹ, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc và hiện nay xuất hiện ở nhiều nước đang tiến hành công nghiệp hoá thuộc khu vực Nam Á, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Hoạt động của kinh tế trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo qui luật thị trường
Trang 19Hình thức trang trại tồn tại ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Du ít hay nhiều và ở lĩnh vực trồng trọt hay chăn nuôi nó đều mang các đặc điểm nổi bật sau [13]:
- Mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất nông phẩm hàng hoá theo nhu cầu của thị trường Đây là bước tiến bộ từ nền sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá
- Tư liệu sản xuất (đất đai) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như ở Việt Nam) của một người chủ độc lập (tức là người có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh)
- Qui mô đất đai tương đối lớn, tuy có sự khác nhau giữa các nước Ví dụ: qui mô trung bình của trang trại ở Hoa Kỳ là 180ha, ở Anh 71ha, Pháp 29ha, Nhật 1,38ha, còn ở Việt Nam trung bình là 6,3ha
- Cách thức tổ chức sản xuất tiến bộ, đẩy mạnh chuyên môn hoá (chứ không sản xuất đa canh), tập trung vào những nông sản có lợi thế so sánh và khả năng sinh lợi cao hơn, áp dụng biện pháp thâm canh (đầu tư tương đối lớn về vốn, công nghệ, lao động trên một đơn vị diện tích) trong sản xuất
- Các trang trại đều có thuê mướn lao động (lao động thường xuyên và lao động thời vụ)
Trang trại có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp ở các nước phát triển, bởi vì phần lớn nông phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất ra từ các trang trại Còn tại các nước đang phát triển, vai trò tích cực và quan trọng của trang trại thể hiện rõ nét ở cả ba mặt: kinh tế (phát triển cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá ); xã hội (tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động) và môi trường (sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, trồng rừng và bảo vệ rừng, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái)
1.2.1.3 Hợp tác xã
Hợp tác xã nông nghiệp (HTX) là hình thức phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới ở
cả các nước phát triển và đang phát triển, tuy tên gọi có thể khác nhau như : Hợp tác xã ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Nam Á ; Nông trang tập thể ở Liên Xô và các nước Đông
Âu ; Công xã nhân dân ở Trung Quốc
Ở nước ta, sự ra đời và hoạt động của hợp tác xã trải qua các giai đoạn lịch sử sau :
Trang 20Giai đoạn 1958 – 1980: HTX là sản phẩm của nền kinh tế tập trung, dựa trên nền tảng
công hữu về tư liệu sản xuất, tập thể hóa lao động và thống nhất sản xuất, phân phối theo kế hoạch tập trung từ Nhà nước
- HTX ra đời và phát triển tới đâu, thì chức năng kinh tế của nông hộ bị triệt tiêu tới đó Nông dân trở thành xã viên và làm việc theo chế độ lao động tập thể, được phân phối thu nhập theo sơ đồ chung với số lượng ngày công đã đóng góp Ngoài nguồn thu nhập đó, xã viên còn có nguồn thu từ kinh tế phụ của gia đình
- Để vận hành một nền kinh tế tập trung như vậy, bộ máy quản lí HTX ngày càng phình
to với nhiều bộ phận phức tạp, với số người rời khỏi lao động sản xuất sang quản lí ngày càng lớn Quy mô và sự phức tạp của bộ máy quản lí đã vượt xa sự hiểu biết và năng lực quản
lí của nông dân, nên hiệu quả hoạt động thấp kém, tạo ra khe hở làm nảy sinh tiêu cực
- Nét nổi cộm có thể nhận thấy được của mô hình HTX trong giai đoạn này (1958 – 1980) là : tập trung cao độ lên cấp HTX lớn, đã làm cho đại bộ phận nông dân – xã viên từ chỗ là chủ thể kinh tế trong nông thôn thành những người chỉ biết những công việc cụ thể và công điểm để dự phần phân phối Do đó, ở HTX ngày càng mất đi cái nền tảng cơ bản là quyền hạn, trách nhiệm, sức năng động sáng tạo của quần chúng Tập trung cao độ cũng dẫn đến sự bất cập về quản lí, dẫn đến tập trung quan liêu, xa rời đại chúng và nảy sinh tiêu cực trong bộ máy quản lí
Giai đoạn 1981 – 1988: HTX của giai đoạn này là HTX của sự chuyển đổi từ kinh tế
tập trung sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với những nét đặc trưng chính là:
- HTX giao khoán ruộng đất cho gia đình xã viên, theo đó giao một phần công việc trực tiếp canh tác trên đồng ruộng về cho gia đình xã viên chủ động làm nhằm thực hiện kế hoạch sản lượng của HTX và phấn đấu tạo phần sản lượng vượt kế hoạch cho hộ gia đình xã viên
- Từ nét đặc trưng đó, có thể cho thấy sự xuất hiện những dấu hiệu của sự tái xác lập chức năng kinh tế của hộ gia đình nông dân và trở về với chức năng đích thực của HTX là hoạt động dịch vụ
- Như vậy, tín hiệu của sự tái xác lập chức năng kinh tế nông hộ, và HTX dần trở lại với chức năng phổ biến của nó là hoạt động dịch vụ đã xuất hiện
Trang 21- Vấn đề còn lại của quá trình chuyển đổi ở giai đoạn này là chọn cơ chế vận hành nào cho việc phân công và hợp tác giữa hai mảng công việc của gia đình xã viên và của HTX Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đang đứng trước một sự đòi hỏi phải thay đổi
Giai đoạn 1988 nay:Với việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, nghị quyết
6 của ban chấp hành TW khoá VI (1988 và 1989) Luật đất đai (1993)
Đây là giai đoạn trực tiếp tục chuyển đổi và xác lập những yếu tố cơ bản cho HTX kiểu mới Những đặc trưng chính của giai đoạn này là:
- Giao khoán đất ổn định lâu dài, giao hết các khâu trực tiếp canh tác trên đồng ruộng cho hộ gia đình xã viên, ổn định sản lượng khoán ít nhất 5 năm; hoá giá trâu, bò và các tư liệu sản xuất gắn với các khâu canh tác giao khoán cho hộ; bỏ chế độ phân phối theo công điểm
và thực hiện khoán gọn theo đơn giá thanh toán
- Như vậy, quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích đối với hai mảng sản xuất trực tiếp của gia đình và hoạt động dịch vụ của HTX đã được phân định rạch ròi Chức năng kinh tế của hộ thực chất đã được khẳng định với sự hội tụ đủ các yếu tố và sự tự chủ của hộ Kinh tế hộ đã thoát ra khỏi sự lệ thuộc và đã có đủ tư cách trong quan hệ bình đẳng sòng phẳng với HTX và
là cơ sở tồn tại của HTX kiểu mới
- HTX từ hoạt động sản xuất nói chung chuyển sang hoạt động dịch vụ trong quan hệ bình đẳng, sòng phẳng với kinh tế hộ Theo đó bộ máy quản lí HTX được tinh giảm gọn nhẹ thiết thực hơn
Sự khác biệt giữa HTX kiểu cũ và HTX kiểu mới
HTX kiểu cũ ra đời và hoạt động trong môi trường không có kinh tế nông hộ HTX kiểu mới lấy kinh tế nông hộ và trang trại gia đình làm cơ sở tồn tại và phát triển Chủ hộ, chủ trang trại có nhu cầu hợp tác và tự nguyện góp nguồn lực xây dựng HTX
HTX kiểu cũ hoạt động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp HTX kiểu mới hoạt động trong cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh HTX kiểu cũ hoạt động trong không gian kinh tế đóng, bị giới hạn bởi phạm vi địa lí hành chính còn HTX kiểu mới là một tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình không gian kinh tế mở, không bị giới hạn bởi phạm vi hành chính trong hoạt động và bình đẳng với các
tổ chức kinh tế khác
Trang 22HTX kiểu mới ở Việt Nam ra đời và phát triển từ sự chuyển đổi HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới và từ xây dựng mới (bao gồm cả từ các hình thức hợp tác phát triển lên) HTX chuyển đổi và HTX mới xây dựng được hình thành và hoạt động theo Luật Hợp tác xã 1996 Hợp tác xã nông nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ do nông dân tự nguyên lập ra
1.2.1.4 Liên kết nông công nghiệp gắn với vùng trồng cây công nghiệp dài ngày
Bên cạnh những hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp như chúng tôi trình bày ở trên,
ở Việt Nam hiện nay còn hình thành nhiều vùng trồng cây công nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến thành một tổ hợp nông công nghiệp giống của Liên Xô (cũ) vào những năm
1980 Đó là hình thức tổ cức lãnh thổ nông nghiệp đã đang tồn tại ở nước ta và phát triển có hiệu quả Hình thức này tồn tại phổ biến ở các địa bàn sản xuất cây công nghiệp tiêu biểu như
cà phê, tiêu, điều, cao su, chè, mía Tại các vùng này người ta ứng dụng công nghệ cao và kỹ thuật canh tác tiên tiến, đồng thời gắn với nhà máy chế biến có công nghệ hiện đại tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng cao đem lại giá trị lớn
1.2.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai
Theo theo Quyết định số 43/2007/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc thực hiện phát chương trình các cây trồng và vật nuôi trên địa bàn tỉnh xác định các cây trồng và vật nuôi: tiêu, điều, cà phê, cao su, bưởi, xoài, heo và gà là những cây con chủ lực và tiến hành nuôi trồng theo các vùng chuyên canh cụ thể Nhằm sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ, nâng cao sức cạnh tranh, giữ vững thị trường nội địa, tăng cường năng lực xuất khẩu, tăng thu nhập cho người sản xuất, góp phần ổn định cuộc sống cho gần 60% dân số sống ở khu vực nông thôn, trong điều kiện hội nhập là cấp thiết đối với ngành nông nghiệp Đồng Nai Sự hình thành và phát triển của các vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phải
kể tớicác công ty, doanh nghiệp như : Tổng công ty cao su Đồng Nai, công ty DONAFOOD Đồng Nai, Công ty Nestlé cà phê, nhà máy cà phê hòa tan Biên Hòa, và một số doanh nghiệp khác cùng phối hợp đảm nhiệm cung cấp giống cây trồng và vật nuôi cũng như thực hiến chế biến để bán ra thị trường trong nước và xuất khẩu
Trang 23CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÂY CÔNG
NGHIỆP DÀI NGÀY Ở TỈNH ĐồNG NAI
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Nhóm các nhân tố tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Đồng Nai là một trong 8 tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Phước; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp tỉnh Bình Dương; phía Tây Nam giáp TP Hồ Chí Minh với tổng diện tích tự nhiên là 5.903,940 km2 (bằng 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ) [4] Nằm ở vĩ độ từ: 100
31' 17’’đến 110
34' 49''vĩ độ Bắc; từ 1060 44' 45’’ đến 1070
34' 50’’kinh độ Đông
Đồng Nai hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm thành phố Biên Hoà, thị
xã Long Khánh và 9 huyện (Tân Phú, Định Quán, Cẩm Mĩ, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom và Thống Nhất) Trong đó, thành phố Biên Hoà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, là đô thị loại II (nằm cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30km )
Nằm ở trung tâm lãnh thổ Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN, Đồng Nai đã tận dụng được những lợi thế so sánh của vùng về vị trí Địa lí, hệ thống giao thông, nguồn tài nguyên đất và nước dồi dào, lại được sự chỉ đạo chặt chẽ và sát sao của Đảng và Chính Phủ trong công cuộc đổi mới, nên đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là trong giai đoạn từ năm
2000 đến nay Đó là những thuận lợi rất cơ bản mà trong giai đoạn chiến lược mới tỉnh sẽ chủ động phát huy sức sáng tạo của Đảng bộ, của quân và dân trong tỉnh Phát huy các lợi thế so sánh để vượt qua khó khăn thách thức, nắm lấy thời cơ lớn của đất nước, giành thắng lợi ngày
Trang 24càng lớn trong sự phát triển kinh tế- xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước
Với vị trí Địa lí thuận lợi, nó có vai trò quan trong đối với ngành nông nghiệp của Đồng Nai, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp chế biến từ cây công nghiệp dài ngày phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Trang 26* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như: đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía Nam, Đông Nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch) Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ … một số cây
ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều …
* Các loại đất hình thành trên phù sa mới như: đất phù sa, đất cát Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả …
Với 81% diện tích đất tự nhiên thích hợp cho viêc trông các cây công nghiệp lâu năm
và cây công nghiệp hàng năm, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, cao su, điều
và tiêu Yếu tố này đã tạo cho Đồng Nai hình thành các vùng chuyên canh mang tính chất sản xuất hàng hoá, góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp của tỉnh đi lên
+ Nước
Đồng Nai có nguồn nước mặt rất phong phú, quan trọng nhất là nguồn nước sông Đồng Nai, với lưu lượng đến 880m3/s, ; hồ Trị An có diện tích 323km2 dung tích khoảng gần 2,8 tỷ m3, trữ lượng nước ngầm khoảng 3 triệu m3/ ngày đủ cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt [13]
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn tỉnh khá chằng chịt, với trên 60 sông suối lớn nhỏ Sông Đồng Nai, có ý nghĩa quyết định đối với chế độ thuỷ văn và cân bằng sinh thái của vùng Nguồn nước mặt bảo đảm cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân tỉnh Đồng Nai, ngoài ra còn cung cấp thêm một phần cho tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Đó cũng là điều kiện tự nhiên để thực hiện liên kết kinh tế chặt chẽ giữa Đồng Nai với các địa phương khác của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 27Với nguồn tài nguyên nước phong phú này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp Đồng Nai phát triển, đặc biệt là việc tưới tiêu cho một số cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, điều ở những vùng trồng mới và thời kì mùa khô
Tuy nhiên thời gian qua do nhiều nguyên nhân như: gia tăng dân số, chất thải từ chăn nuôi, sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, việc khai thác không hợp lý nguồn nước, đặc biệt là tình trạng nước thải tại các khu công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn đang làm nguồn nước ngày càng ô nhiễm Do đó, để bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước, thiết nghĩ chúng ta cần thực hiện đồng bộ các biện pháp khai thác, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước; bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; đồng thời tiến hành tuyên truyền cả cộng đồng chung tay bảo vệ tài nguyên nước và các hệ sinh thái dưới nước Có như vậy mới mong bảo vệ vững chắc nguồn tài nguyên nước phục vụ cho hôm nay và mai sau
+ Khí hậu
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25,40C đến 27,20C; độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83,5% Lượng mưa trung bình là 1.800 mm/năm, nhưng phân phối không đều, chủ yếu tập trung vào mùa mưa Khí hậu Đồng Nai mang nét đặc trưng của khí hậu miền Đông Nam bộ: có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô
từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau Hướng gió chủ yếu trong năm là hướng Tây - Tây Nam
và Bắc - Đông Bắc, là khu vực ít có lốc xoáy hay bão Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa á xích đạo, độ tích nhiệt cao và ổn định quanh năm rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày
Trang 282.1.2 Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội
2.1.2.1 Dân cư và nguồn lao động
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển kinh tế - xã hội thì dân cư là một nhân tố rất quan trọng và ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của nền kinh tế xã hội Dân cư vừa là người trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần, đồng thời lại là người tiêu thụ những sản phẩm do chính sức lao động của mình làm nên Ngoài ra, với những tập quán tiêu dùng và chất lượng lao động có vai trò to lớn trong việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, tập quán tiêu dùng và nhu cầu tiêu dùng cũng thuờng xuyên thay đổi làm thay đổi cơ cấu cây trồng, từ đó dẫn đến
sự thu hẹp hay mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp nói cung và cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh nói riêng
Căn cứ vào những nhận định ở trên, soi vào thực trạng phát triển dân số của Đồng Nai chúng ta thấy: Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 là 2.559.673 người Trong đó thành thị là: 855.703 người (chiếm 34,6% dân số toàn tỉnh); nông thôn là 1.703.970 người (chiếm 65,4% dân số toàn tỉnh)
Dân số Đồng Nai có nguồn gốc từ nhiều tỉnh thành trong cả nước, có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau nhưng chủ yếu là thiên chúa giáo và đạo phật sinh sống trên địa bàn tỉnh
Do vị trí Địa lí thuận lợi về giao thông, là cửa ngõ quan hệ với các tỉnh của miền Đông Nam Bộ, đặc biệt với TP Hồ Chí Minh nên nguồn nhân lực của tỉnh cũng đã được bổ sung
và tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật từ trung tâm đào tạo thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời kết hợp được truyền thống văn hoá của địa phương và của cả nước nên nguồn nhân lực của tỉnh từng bước được nâng cao
Trong những năm trước đây, do những điều kiện khó khăn khách quan của thời kỳ
“khởi động” nền kinh tế nên Đồng Nai phải sử dụng nhiều lao động được đào tạo của các tỉnh khác di chuyển đến Nhưng ngày nay, yêu cầu tiến hành công nghiệp hoá đã được đề ra cho
cả nước, thì nhiệm vụ đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tiến hành đào tạo và đào tạo lại
có một ý nghĩa rất quan trọng và tỉnh sẽ chủ động thực hiện, xem đó là một trong những biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong tương lai
Trang 292.1.2.2 Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật
- Giao thông vận tải
Đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ Cùng với hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5km đã được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp II đồng bằng như quốc lộ 20 (đoạn qua tỉnh 75km), QL56 Riêng quốc lộ IA trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã hoàn thành nâng cấp toàn bộ 102 km, mặt đường từ 12,5 – 24m, đưa vào hoạt động có hiệu quả Quốc lộ
51 đã hoàn thành toàn bộ 45km trên địa bàn tỉnh và cả đoạn tránh một chiều qua thị trấn Long Thành, đạt tiêu chuẩn cấp I đồng bằng Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339km, trong đó gần 700km đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường do xã, phường quản lý, hệ thống đường ở các nông lâm trường, các KCN tạo nên một mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường đã có đường ô tô đến trung tâm huyện
Mặt khác, theo quy hoạch đến 2015 hệ thống đường cao tốc (đoạn 1, đoạn 2) đi Bà Rịa – Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh, hệ thống đường sắt Biên Hoà – Vũng Tàu, đường QL1 tránh Biên Hoà (Hố Nai 3 - Cổng 11 Long Bình), nâng cấp đường tỉnh lộ 769 thành quốc lộ
sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam [13]
Hệ thống cảng biển, cảng sông đã được quy hoạch và xây dựng tương đối nhanh, gồm
hệ thống cảng Long Bình, cảng Gò Dầu A, B có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải đến 15.000 tấn Sản lượng hàng hoá thông qua các cảng đã đạt 700.000 tấn/năm Đường sắt quốc gia qua tỉnh dài 87km cũng đã được tu sửa bảo đảm cho việc lưu thông bình thường
Với hệ thống giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh và sự đa dạng của các loại hình vận tải, có vai trò hết sức quan trọng đối với vấn để thực hiện liên kết giữa nông nghiệp với ngành công nghiệp chế biến, trong đó có trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn toàn tỉnh
- Bưu chính viễn thông
Ngành bưu chính viễn thông phát triển nhanh và được hiện đại hoá ngang trình độ các nước trong khu vực Hiện nay 100% phường, xã và thị trấn đã có điện thoại, thư báo về kịp thời trong ngày Đây là yếu tố góp phần thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp, các hộ
Trang 30- Cung cấp điện
Đã tập trung phát triển lưới điện quốc gia phục vụ sản xuất và ánh sáng trên khắp địa bàn, nhất là đáp ứng được nhu cầu điện phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp ở những địa bàn các xã miền núi của tỉnh nói chung và thúc đẩy sản xuất, chế biến, bảo quản các sản phẩm cây công nghiệp dài ngày nói riêng
- Cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 400 cơ sở cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, trong đó các cơ sở là đơn vị quốc doanh và HTX chỉ chiếm 3,5% tổng số cơ
sở, còn lại 96,5% là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ cá thể, đặc biệt là mới có 8 trạm kinh doanh vật tư nông nghiệp của nhà nước phân bố trên địa bàn 5 huyện thị là Tân Phú, Long Khánh, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc và Vĩnh Cửu
Bảng 2.1: Hệ thống cơ sở cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
Huyện, thị Tổng số KD phân Chia ra
KD thuốc
cơ sở Bón Trạm VTNN HTX DN tư nhân Hộ cá thể BVTV TOÀN TỈNH 400 35 8 6 5 16 365
Nguồn: Sở Nông nghiệp và phá triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, báo cáo rà soát các công trình phục vụ
nông nghiệp nông thôn năm 2009
Hàng năm các cơ sở kinh doanh vật tư nông nghiệp nêu trên cung ứng khoảng 300.000 tấn phân bón và 2.000 tấn thuốc sâu, theo giá thị trường thông qua các hình thức khá đa dạng như bán lấy tiền mặt, bán trả chậm, bán thu qua sản phẩm sau khi thu hoạch…Cơ bản đáp ứng nhu cầu phân bón, thuốc trừ sâu, bệnh cho sản xuất Bên cạnh đó, tình trạng chênh lệch giá giữa khu vực vùng sâu, vùng xa với khu vực thị tứ, thị trấn tuy đã được thu hẹp những vẫn còn, chất lượng một số loại vật tư nông nghiệp không bảo đảm Do đó, việc tăng cường hệ
Trang 31thống cung ứng vật tư từ các trạm vật tư nông nghiệp thuộc khu vực nhà nước và các hợp tác
xã cần được củng cố và tăng cường
- Cơ sở chế biến nông sản:
Đây là nghề có nhiều lợi thế phát triển ở Đồng Nai, nhờ lợi thế về vị trí Địa lí – kinh tế,
là nơi tập trung nguồn nguyên liệu hạt điều để xuất khẩu Hiện tại đây là nghề giải quyết việc làm trong nông thôn xếp thứ 3 trong các loại ngành nghề nông thôn ở Tỉnh (sau cơ khí sửa chữa và dệt may giày dép), với 4.275 lao động tham gia, chiếm đến 41,6% lao động nhóm ngành nghề chế biến, bảo quản nông sản và chiếm 15% lao động ngành nghề nông thôn tỉnh Đồng Nai
+ Cơ sở chế biến và bảo quản cao su của tỉnh Đồng Nai
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, việc sơ chế, bảo quản cao su của tỉnh do tổng công
ty cao su Đồng Nai (donaruco) đảm nhiệm với 4 nhà máy do tổng công ty trực tiếp quản lý và một nhà máy cổ phần công ty góp vốn 50% Sản lượng chế biến cao su thiên nhiên của 5 nhà máy ổn định từ 50.000 đến 55.000 tấn/năm Đây cũng chính là sản lượng mủ cao su thiên nhiên của toàn tỉnh Đồng Nai
+ Cơ sở chế biến điều
Các cơ sở ngành nghề nông thôn trong lĩnh vực này nhận làm gia công cho Công ty DONAFOOD và các công ty trung gian khác trên địa bàn, hoặc mua hạt điều của dân, bóc vỏ
và bán lại cho các công ty trên Đầu tiên hạt điều thô được xử lý nhiệt bằng phương pháp chao dầu làm cho vỏ hạt điều mềm ra trước khi tách vỏ bằng máy cơ khí đạp chân, sau đó nhân hạt điều được đưa qua công đoạn sấy, bóc vỏ lụa, phân loại, khử trùng và đem đóng gói bằng thùng thiếc hoặc bao nilon hút hết không khí và bơm vào một lượng nhỏ khí nitơ để chống ẩm, mốc Người nhận làm gia công chỉ làm công đoạn nhận hạt điều đã được xử lý nhiệt về bóc tách vỏ cứng bên ngoài bằng máy cơ khí bán tự động và bóc vỏ lụa bằng thủ công rồi giao lại cho công ty, các công đoạn còn lại đều do DONAFOODS thực hiện Chi phí gia công 1kg hạt điều thành phẩm 4.200 đồng, các cơ sở khoán lại cho người làm gia công 3.700 đồng/kg, trung bình thu nhập 1 lao động khoảng từ 1,5 – 1,7 triệu đồng/tháng
Theo số liệu điều tra, tổng hợp hiện có 122 cơ sở, bao gồm 1 công ty, 1 HTX và 120 cơ
sở cá thể Phân bố chủ yếu ở Cẩm Mỹ 33 cơ sở, Định Quán 25 cơ sở, Xuân Lộc 15 cơ sở, Tân
Trang 32cơ sở sơ chế hạt điều thường có số lượng người làm khá đông, do phần lớn các công đoạn phải làm thủ công và bán thủ công, bình quân mỗi cơ sở có 34,76 lao động, cao nhất trong các ngành nghề nông thôn ở Đồng Nai Giá trị sản lượng ngành sơ chế hạt điều năm 2008 đạt 384,76 tỷ đồng, chiếm đến 40,5% GTSL nhóm ngành chế biến, bảo quản nông lâm sản và chiếm 18,8% tổng GTSL ngành nghề nông thôn Đồng Nai
+ Cơ sở sơ chế, bảo quản cà phê
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước (có diện tích trồng cà phê) đều chưa có cơ sở sơ chế và bảo quản theo đúng yêu cầu mà chủ yếu là được các hộ nông dân hay các chủ trang trại phơi sấy bằng phương pháp thủ công và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên chất lượng cà phê nhân bị giảm Đa số các hộ nông dân
sử dụng phương pháp sơ chế khô nên chất lượng không cao và giá thành xuất khẩu giảm không cạnh tranh được với thị trường cà phê của các nước khác trên thế giới
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 2 công ty chế biến cà phê hòa tan và cà phê bột (công ty cà phê Biên Hòa và công ty Nestle), nhưng sản lượng cà phê nhân trên địa bàn tỉnh chỉ chiếm có 0,36% sản lượng cà phê được đưa vào chế biến Phần lớn sản lượng cà phê của tỉnh vẫn được xuất khẩu dưới dạng sơ chế (cà phê nhân) nên giá thành thấp do đó thiệt thòi cho người trồng cà phê
+ Cơ sở chế biến tiêu
Hầu hết sản lượng tiêu của tỉnh chỉ qua khâu phơi sấy thủ công ở trong các hộ nông dân
phục vụ nhu cầu xuất khẩu là chủ yếu Chỉ có một phần rất nhỏ được tiêu thụ trong nước dưới dạng thô và xay nhỏ
2.1.2.3 Đường lối chính sách
Trong những năm qua, tuy còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời biến đổi khí hậu, thời tiết, dịch bệnh có lúc bất lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng với tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư mở rộng, thúc đẩy phát triển các mặt kinh tế - xã hội trên địa bàn Sản xuất nông nghiệp được chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế và
Trang 33thu nhập cho người nông dân Hoàn thành việc cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cây hàng năm sang trồng cây lâu năm; hình thành một số vùng chuyên canh như Điều, Cao Su, tiêu… Đối với cây công nghiệp lâu năm, UBND tỉnh đã đưa ra QĐ43 ngày 12 tháng 7 năm
2007 về việc xác định các cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, trong đó có cây cao
su, cà phê, tiêu và điều nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng
Ngoài ra tỉnh còn có nhiều chính sách ưu tiên và hỗ trợ trong sản xuất nông nghiệp nhất
là đối với những vùng miền núi và những vùng có lợi thế phát triển nông nghiệp của tỉnh nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện hiện nay
2.1.2.4 Nguồn vốn và thị trường tiêu thụ
- Nguồn vốn để phát triển sản xuất và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chủ yếu từ các nguồn sau:
+ Nguồn vốn tự có trong dân đối với các hộ trồng tiêu, cà phê và một số hộ sản xuất cao
su, điều; riêng đối với trồng và chế biến cao su và điều thì lấy từ nguồn vốn tự có của tổng công ty cao su Đồng Nai (đây chủ yếu là nguồn vốn của nhà nước) và công ty DONAFOOD + Ngoài ra, để duy trì hoạt động sản xuất các hộ kinh doanh và các doanh nghiệp chế biến còn được vay vốn ưu đãi từ các ngân hàng thông qua các chính sách phát triển nông nghiệp của tỉnh
- Thị trường tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói chung và cả thị trường trong nước là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy đầu ra của nông sản tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên các sản phẩm nông sản từ cao su, cà phê, tiêu chủ yếu phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, chỉ có sản phẩm sơ chế từ điều thì được tiêu thụ trong nước nhiều hơn cả
Có thể nói với hơn 86 triệu dân trong nước và các nước láng giềng của Việt Nam, đặc biệt là Trung Quốc cho thấy một tiềm năng tiêu thụ nông sản rất lớn của Việt Nam nói chung
và của Đồng Nai nói riêng góp phần thúc đẩy việc trồng và chế biến các sản phẩm nông nghiệp từ cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay và tương lai những năm tới
Trang 342.1.2.5 Khoa học công nghệ
Trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã từng bước thực hiện cho các hoạt động chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông dân; ưu tiên đầu tư ứng dụng các giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và đáp ứng được yêu cầu của thị trường Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào công tác chuyển giao khoa học- công nghệ ở huyện; thực hiện tốt chính sách thu hút trí thức trẻ về nông thôn nhất là các ngành y tế, giáo dục và văn hóa; nâng cao năng lực hiệu quả của công tác khuyến nông ở huyện và các
xã, thị trấn Tập trung xây dựng các vùng sản xuất nông sản an toàn, công nghệ cao, xây dựng thương hiệu cho các loại nông sản địa phương có thế mạnh Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân và thành viên các câu lạc bộ năng suất cao Tạo bước đột phá trong công tác đào tạo nghề nông nghiệp; khuyến khích việc xã hội hóa công tác đào tạo nghề ở nông thôn Đây là một trong những nhân tố góp phần nâng cao năng suất, tăng lợi nhuận, góp phần tăng quy mô của các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày gắn với những cơ sở chế biến và tiêu thụ nông sản Như vậy, các nhân tố tự nhiện và kinh tế xã hội có vai trò quan trọng đối với tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Trong đó nhóm nhân tố kinh tế giữa vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh
2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Vai trò của cây công nghiệp đối với sự phát triển nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai
2.2.1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh
Đồng Nai là một tỉnh có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Mặc
dù tỷ trọng nông nghiệp của tỉnh chỉ chiếm 10,2% trong cơ cấu GDP của tỉnh nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp lại đứng thứ 2 trong vùng kinh tế trong điểm phía Nam sau tỉnh Tiền Giang (chiếm 21% trong cơ cấu giá trị sản xuất của vùng)
Trong cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh năm từ năm 2001 đến năm 2008 có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng của các ngành trong khu vực I và tăng tỷ trọng của các ngành trong khu vực II và khu vực III, cụ thể như bảng số liệu 2.2dưới đây:
Trang 35Bảng 2.2 : Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế giai
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4]
Căn cứ vào bảng số liệu trên cho chúng ta thấy cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai có sự chuyển dịch theo hướng tích cực (tăng tỷ trọng của các ngành trong khu vực II và III, giảm tỷ trong của các ngành trong khu vực I) Mặc dù tỷ trọng của ngành nông, lâm ngư nghiệp giảm
từ 20,97% năm 2001 xuống còn 10,60% năm 2008 trong cơ cấu khu vực kinh tế, nhưng giá trị tổng sản phẩm theo giá thực tế lại tăng xấp xỉ 3,7 lần (tăng từ 15.257.325 triệu đồng năm
2001 lên 53.854.960 triệu đồng năm 2008) Nếu so với giá cố định năm 1994 thì tổng sản phẩm của khu vực I trên địa bàn toàn tỉnh cũng tăng từ 11.638.671 triệu đồng năm 2001 lên 29.169.467 triệu đồng Mặt khác, đối với các ngành trong khu vực I thì nông nghiệp chiếm 0,966% Do đó nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và nó quyết định quy mô của nhóm ngành thuộc khu vực I nói riêng
2.2.1.2 Vai trò của cây công nghiệp dài ngày đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh
- Cơ cấu ngành trồng trọt trong nông nghiệp tỉnh Đồng Nai
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt và tỷ trọng của nó so toàn ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 đến 2008 (tính
theo giá cố định năm 1994)
Trang 36Năm
GTSX ngành NN (triệu đồng)
GTSX ngành TT (triệu đồng) Tỷ trong ngành TT trong NN (%)
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4]
Qua bảng số liệu 2.3 trên cho thấy: tỷ trọng của ngành trồng trọt vẫn chiếm vị trí quan trọng đối với nền nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai Mặc dù trong một thời gian khá dài (từ
2000 đến 2008) tỷ trọng của ngành trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp có giảm, song
nó vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn (dao động từ 68 đến 72%) trong cơ cấu ngành nông nghiệp Điều này cho thấy cơ cấu ngành nông nghiệp của Đồng Nai cũng mang nét đặc trưng chung của nền nông nghiệp nước ta Nó biểu hiện một nền nông nghiệp của một nước đang phát triển có tổng giá trị sản phẩm ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành nông nghiệp (chiếm trên 70%) Cơ cấu ngành nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể hiện bảng bảng số liệu 2.4 và biểu đồ 2.1 dưới đây
Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp nước ta giai đoạn
2000 – 2008 (tính theo giá cố định năm 1994)
Trang 37Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn [16]
- Vai trò của cây công nghiệp dài ngày đối với ngành trồng trọt
Bảng 2.5: Tỷ trọng giá trị sản xuất của cây công nghiệp dài ngày so với giá trị sản xuất của ngành trồng trọt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ 2000 đến 2008
(tính theo giá cố định năm 1994)
Năm
GTSX ngành TT (triệu đồng)
GTSX CCN dài ngày (triệu đồng)
Tỷ trong cây công nghiệp dài ngày
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4],[16]
Từ thực tiễn phát triển nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai trong những năm qua cho thấy: mặc dù tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt có giảm trong cơ cấu ngành nông nghiệp (giảm 4% trong giai đoạn từ 2000 đến 2008), nhưng giá trị sản xuất của ngành vẫn tăng (từ
3141809 triệu đồng lên 4468223 triệu đồng) chứng tỏ khả năng tăng trưởng của ngành tương đối đều theo từng năm tuy rằng không nhiều lắm
Bảng 2.6 :Tỷ trọng giá trị sản xuất của cây công nghiệp dài ngày so với cây lâu lăm
(tính theo giá cố định năm 1994)
Trang 38Năm
GTSX Cây lâu năm (triệu đồng)
GTSX CCN dài ngày (triệu đồng)
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4]
Qua bảng số liệu 2.6 ta thấy: trong nội bộ ngành trồng trọt của tỉnh Đồng Nai, cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng và nó chiếm tỷ trọng khoảng 30% giá trị sản xuất của ngành trồng trọt và chiếm khoảng trên 50 % giá trị sản xuất của cây lâu năm (giai đoạn từ
2000 đến 2006), năm 2008 là 46% giá trị sản xuất của cây lâu năm Điều này cho thấy ưu thế
và khả năng nổi trội của nhóm cây công nghiệp dài ngày so với các cây trồng khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Chỉ tính riêng giá trị sản xuất của cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong những năm qua (từ 2000 đến 2008) cũng xấp xỉ bằng giá trị sản xuất của cây hàng năm Điều này càng chứng tỏ đó là nhóm cây ưu thế của tỉnh, vì thế từ năm 2007 đến nay chúng trở thành nhóm cây chủ lực của tỉnh (theo QĐ43/UBND tỉnh Đồng Nai) Mặt khác, hầu hết các cây công nghiệp dài ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thường được trồng trong các trang trại (đối với cà phê, tiêu và điều) hoặc ở các nông trường quốc doanh trực thuộc Tổng công ty cao su Đồng Nai (đối với cây cao su) nên được đầu tư về vốn, giống cây trồng và trang thiết bị kĩ thuật chăm sóc hiện đại hơn hẳn so với trồng ở các hộ gia đình nên năng suất ngày càng cao và cho chất lượng tốt Do đó giá trị sản xuất tăng cho dù diện tích gieo trồng có xu thế bị thu hẹp do chuyển đổi múc đích sử dụng hoặc một số trang
Trang 39trại chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng các cây ăn quả Tuy vậy thu nhập từ các trang trại trồng cây công nghiệp dài ngày vẫn tương đối cao so với các trang trại trồng cây ngắn ngày (thu nhập trung bình của 1 trang trại cây tiêu là 50 triệu đồng/ha/năm (thông thường khoảng
từ 1 đến 2ha /trang trại), thu nhập trung bình của trang trại cà phê là 25 triệu đồng/ ha/năm (trung bình diện tích đất của 1 trang trại đạt 4,27ha)…trong khi đó thu nhập của các trang trại cây ngắn ngày chỉ đạt tối đa khoảng 40triệu đồng/trang trại /5,5ha
Như vậy, hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cây công nghiệp lâu năm có một vai trò hết sức quan trọng đối với ngành trồng trọt nói riêng và ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung Chính vì vậy, trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ 2006 đến 2010 UBND tỉnh đã đề ra QĐ 43/2007- UBND ban hành chương trình phát triển các loại cây trồng và vất nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai QĐ 43 đã xác định rõ
4 cây chủ lực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 – 2010 là cao su, cà phê, điều và tiêu Đây cũng đồng thời là 4 cây công nghiệp dài ngày mà chúng tôi đang tập trung nghiên cứu để thấy được thực trạng và xu thế phát triển của chúng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
2.2.2 Thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trồng và chế biến cây công nghiệp dài ngày ở Đồng Nai
2.2.2.1 Thực trạng phát triển cây công nghiệp dài ngày
a) Thực trạng phát triển cây cao su
Bảng 2.7 :Tỷ trọng diện tích gieo trồng cao su của tỉnh Đồng Nai so với cả
nước giai đoạn từ năm 2000 đến 2008
Năm Đồng Nai (ha) Cả nước (ha)
Tỷ lệ diện tích gieo trồng cao su Của Đồng Nai so với cả nước (%)
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4],[16]
Căn cứ vào bảng số liệu 2.7 cho thấy: tổng diện tích gieo trồng cao su của tỉnh Đồng
Trang 40thứ 3 về diện tích gieo trồng cao su so với các tỉnh thành khác trong cả nước (sau tỉnh Bình Phước và Bình Dương) Năm 2000 chiếm 9,85% diện tích gieo trồng của cả nước và đến nay (năm 2008) chiếm 6,81 % diện tích gieo trồng cao su cả nước Điều này cho thấy Đồng Nai là một tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây cao su
Tuy nhiên, cao su của Đồng Nai chủ yếu được các nông trường do Tổng công ty cao su Đồng Nai quản lý và khai thác, chỉ có một phần nhỏ (chiếm 11%) diện tích cao su của tỉnh được người nông dân quản lí 11% diện tích gieo trồng cao su (khoảng 4700ha) tồn tại dưới hình thức sản xuất kinh doanh tiểu điền hoặc ở các trang trại trồng cây lâu năm
Bảng 2.8: Tỷ lệ diện tích cao su thu hoạch so với diện tích gieo trồng của tỉnh
Đồng Nai giai đoạn 2000 - 2008
DT thu hoạch cao su (ha) DT gieo trồng cao su của ĐN Tỷ lệ %
Nguồn: Tác giả xử lí từ nguồn[1],[2],[3],[4]
Từ bảng số liệu trên cho chúng ta thấy diện tích thu hoạch cao su của tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2000 đến 2008 giảm từ 37422ha (năm 2000) xuống 32244ha (năm 2008) và tỷ
lệ diện tích thu hoạch so với diện tích gieo trồng cũng giảm tương ứng từ 92,25% xuống còn
74,97% Như vậy trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2008 giảm 17,28% tỷ lệ diện tích thu
hoạch so với diện tích gieo trồng Điều này cho thấy trên địa bàn toàn tình đã thực hiện cính sách trồng mới vườn cây cao su đã già cỗi và thay thế bằng những vườn cao su giống mới cho năng suất cao (đặc biệt là đang thực hiện trồng mới và nhân rộng diện tích cao su kiến thiết cơ bản Vì thế sản lượng thu hoạch mủ cao su tăng tương đối nhanh thông quả bảng số liệu 2.9 dưới đây