1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

108 304 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG HỒNG TẬP LỘC ĐỀ TÀI: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG

HỒNG TẬP LỘC

ĐỀ TÀI:

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ

BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TP Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG

HỒNG TẬP LỘC

ĐỀ TÀI:

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ

BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn “Các yếu tố tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến chế tạo Thành phố Hồ Chí Minh” này là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu, luận văn, tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016

Hồng Tập Lộc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Kết quả của luận văn này là thành quả của quá trình học tập chăm chỉ vả nổ lực không ngừng của chính bản thân tác giả và những người đã giúp tác giả thực hiện đề tài này.Vì vậy, để tri ân những tấm chân tình đó, tác giả:

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Quốc Tế Hồng Bàng đã tận tâm dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài này

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Nam Khánh Giao đã dành những quỹ thời gian quý báu để chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp, các doanh nghiệp và những người đã giúp tôi trả lời bảng câu hỏi khảo sát để có đủ cơ sở dữ liệu thực hiện luận văn này

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính chúc bạn bè, đồng nghiệp, quý thầy cô giáo sức khoẻ, hạnh phúc và phát triển

Hồng Tập Lộc

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2

1.1Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 2

1.2Vấn đề nghiên cứu: 4

1.3Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4Mục tiêu nghiên cứu 4

1.4.1Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 4

1.4.2Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 4

1.5Phạm vi nghiên cứu 4

1.6Đối tượng nghiên cứu 4

1.7Tính mới của đề tài 5

1.8Ý nghĩa nghiên cứu 5

1.9Kết cấu luận văn 5

Kết luận chương: 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7

2.1Khái niệm hoạt động xuất khẩu 7

2.2Vai trò của hoạt động xuất khẩu 7

2.3Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa 8

2.4Vai trò của DNNVV TPHCM đối với kinh tế thành phố 9

2.5Cơ sở lý thuyết 10

2.5.1Lý thuyết lợi thế so sánh: 10

2.5.2Lý thuyết thương mại mới: 11

2.5.3Lý thuyết hành vi: 11

2.5.4Lý thuyết tỷ lệ nhân tố: 12

2.5.5Lý thuyết thị trường không hoàn hảo 12

2.5.6Lý thuyết chu kỳ vòng đời sản phẩm 12

2.5.7Lý thuyết sản xuất quốc tế 13

2.6Tổng quan các nghiên cứu trước 13

Trang 6

2.6.1Tình hình nghiên cứu trong nước 13

2.6.2Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14

2.7Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước 17

2.8.Mô hình nghiên cứu 20

Kết luận chương: 20

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1Tổng quan kinh tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 22

3.2Thực trạng xuất khẩu của các DNNVV TPHCM, giai đoạn 2010-2015 23

3.2.1Thuận lợi và cơ hội 25

3.2.2Khó khăn và thử thách 26

3.3Phương pháp nghiên cứu 28

3.4Thiết kế nghiên cứu 31

3.5Quy trình nghiên cứu 31

3.6Công cụ nghiên cứu 33

3.7Định nghĩa các biến nghiên cứu 33

3.8Chọn mẫu nghiên cứu 38

3.8.1Cách tính mẫu 33

3.8.2 Thu thập số liệu 33

3.8.3Xử lý số liệu và thành lập mẫu nghiên cứu 38

Kết luận chương: 40

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

4.1Phân tích thống kê mô tả 41

4.1.1Tuổi đời công ty 41

4.1.2Vị trí nhà máy của doanh nghiệp 41

4.1.3Quy mô doanh nghiệp 42

4.1.4Trình độ học vấn của CDN/NQL 43

4.1.5Chứng nhận chất lượng quốc tế 43

4.1.6Quảng cáo sản phẩm 44

4.1.7Đổi mới công nghệ 45

4.1.8Hỗ trợ của chính quyền 45

4.2Kết quả hồi quy các yếu tố tác động tới hoạt động xuất khẩu 46

Trang 7

4.2.1Kiểm tra sự tương quan 46

4.2.2Kiểm tra đa cộng tuyến 47

4.2.3Kết quả hồi quy các yếu tố tác động đến sự tham gia xuất khẩu 48

4.2.4Kết quả hồi quy mức độ tác động của các yếu tố lên tỷ lệ xuất khẩu: 50

4.2.5Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư và phương sai sai số thay đổi 51

4.3Phân tích kết quả nghiên cứu: 52

4.3.1Tác động của tuổi đời công ty 52

4.3.2Tác động của vị trí nhà máy 53

4.3.3Tác động của quy mô doanh nghiệp 54

4.3.4Trình độ học vấn của người quản lý 55

4.3.5Chứng nhận chất lượng quốc tế 56

4.3.6Quảng cáo sản phẩm 57

4.3.7Đổi mới công nghệ 58

4.3.8Hỗ trợ của chính quyền 60

4.4Thảo luận kết quả nghiên cứu 61

Kết luận chương 70

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 71

5.1Tóm tắt kết quả nghiên cứu: 71

5.2Đóng góp và hạn chế của nghiên cứu 71

5.3Một số hàm ý quản trị 72

5.4Hàm ý cho những nghiên cứu về sau 77

5.5Kết luận chung 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC i

ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TPHCM 2015 xi

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.9.1: Mô hình nghiên cứu 21 Biểu đồ 3.2.1: Kim ngạch xuất khẩu của TPHCM, 2010-2015 (Tỷ USD) 24 Biểu đồ: 3.2.2: Tỷ lệ % đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước của các doanh

nghiệp TPHCM 24

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.2.1: Kim ngạch xuất khẩu của TPHCM, 2010-2015 (Tỷ USD) 23

Bảng 3.7.2.1: Tóm tắt các biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu 36

Bảng 4.2.1: Kiểm tra sự tương quan 47

Bảng 4.2.2.1: Kiểm tra đa cộng tuyến 47

Bảng 4.2.3.1: Các yếu tố tác động đến quyết định xuất khẩu 48

Bảng 4.2.3.2: Tác động biên của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu 48

Bảng 4.2.4.1: Mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ xuất khẩu 50

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ LĐ-TB & XH: Bộ Lao động-Thương Binh và Xã Hội

STINET: Mạng thông tin khoa học & công nghệ

TPHCM

Trang 11

TÓM TẮT

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu bao gồm: quyết định tham gia thị trường xuất khẩu và tỷ lệ xuất khẩu trên tổng doanh thu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến chế tạo thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bộ số liệu tự điều tra khảo sát 147 doanh nghiệp, kết hợp với mô hình kinh tế lượng Probit và Tobit tác giả phát hiện ra rằng: Các yếu tố như vị trí nhà máy sản xuất chính, quy mô doanh nghiệp, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của người quản lý và giấy chứng nhận chất lượng quốc tế có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Biến quảng cáo có tác động âm và có ý nghĩa thống kê đối với quyết định tham gia xuất khẩu nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ xuất khẩu Biến đổi mới công nghệ có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với quyết định tham gia xuất khẩu nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ xuất khẩu trên tổng doanh thu Hai biến tuổi đời công ty và hỗ trợ của chính quyền không có ý nghĩa thống kê đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

ABSTRACT

The study of factors effect to performance export including: export decision and ratio of export on sales from manufacturing small medium-sized enterprises in Ho Chi Minh city based on self-survey data with 147 observations combined with Probit and Tobit econometrics models the author realized that: the factors such as the location of main factory, company size, education level, technical skill of enterprises owner or managers, international quality certificates have a positive effect and significant statistic

to export activities The advertisement has a negative effect and significant statistic to export decision but not with ratio of export The technological innovation has a positive effect and significant statistic to export decision but not with ration of export on sales The age of company and government supports have no significant statistic to the export activities

Trang 12

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

Chương này trình bày lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu:

Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ của đổi mới và hội nhập Các hoạt động kinh tế diễn

ra ngày càng mạnh mẽ không chỉ trong thị trường nội địa mà còn vượt qua phạm vi quốc gia, tiến đến thị trường nước ngoài để mở rộng thị phần, tìm kiếm cơ hội hợp tác, nâng cao lợi nhuận Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu hướng chủ đạo giúp các nền kinh tế tiến lại gần nhau hơn Việc hình thành các khu vực mậu dịch tự do, các hiệp định thương mại song phương, đa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia Hàng hoá được tự do trao đổi, dòng vốn được tự do di chuyển đã mở đường cho đầu tư nước ngoài gốp phần giảm nhập khẩu, tăng cường xuất khẩu, thu hút ngoại tệ để duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và quan trọng hơn hết là phát triển bền vững doanh nghiệp

Với vai trò đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế, TPHCM là trung tâm của hoạt động xuất khẩu Theo niên giám thống kê Hải quan năm 2015, trong giai đoạn từ năm 2010-2015 kim ngạch xuất khẩu của Thành phố trung bình đạt hơn 28 tỷ đô la Mỹ, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, con số này chắc chắn sẽ không dừng lại ở đây

mà được kỳ vọng còn tiếp tục tăng cao hơn nữa trong thời gian tới nhờ sự mở cửa toàn diện nền kinh tế Việc ký kết hiệp định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), thành viên cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã tạo bước đệm cho hàng hoá Việt Nam nói chung và hàng hoá của các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM nói riêng có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường nước bạn Nhờ thế hoạt động xuất khẩu trở nên sầm uất và nhộn nhịp hơn Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ khách quan hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế hiện có và chưa thoả mãn với kỳ vọng của doanh nghiệp Kim ngạch xuất khẩu không những thấp mà còn phân bổ không đồng đều giữa các doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường xuất khẩu vẫn còn ít, chưa tận dụng hết các lợi thế có được hoặc chưa khai thác hiệu quả thị trường xuất khẩu Bên cạnh đó, chất lượng hàng hoá xuất khẩu chưa cao, không đạt tiêu chuẩn yêu cầu từ nước nhập khẩu dẫn đến những khó khăn trong quá trình thâm nhập thị

Trang 13

trường và mở rộng thị phần Đặc biệt, hầu hết các khó khăn này đều xảy ra với các DNNVV

Tại TPHCM, số lượng các DNNVV chiếm 97% trong tổng số 266.471 doanh nghiệp trên địa bàn, đóng góp 40% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu và giải quyết 60% việc làm (STINET, 2016) Nhưng trong những năm gần đây,biến động kinh tế toàn cầu cùng với môi trường cạnh tranh khốc liệt đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Trước sức ép từ cạnh tranh, họ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất Thậm chí, một số doanh nghiệp phải rút dần khỏi thị trường xuất khẩu hoặc tuyên bố phá sản Doanh nghiệp gặp hết khó khăn này đến khó khăn khác Khó khăn không chỉ đến từ các yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và ngoài nước, các vấn đề lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất mà còn đến từ các yếu tố bên trong doanh nghiệp như thiếu vốn, thiếu lao động kỹ năng, chi phí lao động cao, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém, công nghệ lạc hậu và chiến lược marketing không phù hợp, thiếu mối quan hệ với đối tác và nhà cung ứng, thiếu thông tin về thị trường, thông tin khách hàng nước ngoài, thiếu sự bảo vệ cần thiết trong các trường hợp tranh chấp Đây là các nguyên nhân chủ yếu làm chùn bước tham vọng vươn mình ra biển lớn của doanh nghiệp Do đó, giải quyết được các vấn đề này sẽ là động lực to lớn giúp doanh nghiệp tự tin hoà mình vào thị trường thế giới, vững bước tiến vào sân chơi chung với các đối thủ tầm cở hơn Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp nhận diện được đâu là nhân tố giúp họ thêm sức mạnh trên thị trường xuất khẩu trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay Để có đáp án cho các câu hỏi này, cần có các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV Nhưng cho đến nay, các nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu của các DNNVV ở Việt Nam hầu hết tập trung trên phạm vi quốc gia Các nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu của các DNNVV trên địa bàn TPHCM tương đối còn hạn chế Vì thế, cần thiết phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV trên địa bàn TPHCM nhằm nhận ra yếu tố nào

có vai trò kích thích hoặc kìm hãm hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp tự đánh giá bản thân để tìm ra chiến lược kinh doanh hiệu quả nhất Hơn nữa, dựa trên kết quả nghiên cứu này, các cơ quan chức năng liên quan có thể sử dụng làm tham chiếu trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích thêm các doanh nghiệp khác tham gia xuất khẩu, cũng cố và phát triển bền vững thị trường xuất khẩu, duy trì ổn định sự tăng trưởng doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế TPHCM Vì

các lý do trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài: Các yếu tố tác động tới quyết định

Trang 14

tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến chế tạo Thành Phố Hồ Chí Minh

1.2 Vấn đề nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định xuất khẩu và mức độ tác động của các yếu tố đó đến tỷ lệ xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo TPHCM

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

 Yếu tố nào tác động đến quyết định tham gia xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo TPHCM ?

 Mức độ tác động của các yếu tố đó đến tỷ lệ xuất khẩu là như thế nào?

 Doanh nghiệp và các cơ quan chức năng cần thực hiện những giải pháp gì để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới?

1.4 Mục tiêu nghiên cứu:

1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là nhằm xác định các yếu tố tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến chế tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2015

1.4.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được ba mục tiêu cơ bản sau:

 Xác định các yếu tố tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo TPHCM

 Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đó đến tỷ lệ xuất khẩu

 Đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và nâng cao kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi nghiên cứu là các DNNVV đóng trên địa bàn TPHCM trong năm 2015

 Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: năm 2015

1.6 Đối tượng nghiên cứu:

 Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Trang 15

 Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế biến chế tạo hoạt động trên địa bàn TPHCM trong năm 2015

 Khách thể nghiên cứu: là các chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý cao nhất

1.7 Tính mới của đề tài:

 So với các nghiên cứu trước tại Việt Nam, đa phần nghiên cứu trên phạm vi toàn

bộ lãnh thổ Việt Nam Nghiên cứu về các yếu tố tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu của các DNNVV trên địa bàn TPHCM hầu như chưa có

 Việc nghiên cứu tác động của biến giấy chứng nhận chất lượng quốc tế đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp có thể xem là nhân tố mới của đề tài

1.8 Ý nghĩa nghiên cứu:

Đối với doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu của đề tài giúp doanh nghiệp có thể tự đánh giá vai trò của từng nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu Trên cơ

sở đó, tiến hành sàng lọc và tiếp tục đầu tư, dành nhiều nguồn lực hơn nữa để gia cố và

ưu tiên phát triển thế mạnh của những nhân tố có vai trò then chốt, quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu Đồng thời khắc phục những mặt còn yếu kém để từng bước nâng cấp năng lực hoạt động trong lĩnh vực này Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng là nguồn tham khảo đáng tin cậy cho các doanh nghiệp có ý định tham gia thị trường xuất khẩu trong thời gian tới Dựa trên các đặc điểm, các tình huống, các vướng mắc từ những công ty đã và đang tham gia vào thị trường xuất khẩu để nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm và xây dựng chiến lược hành động phù hợp cho công ty mình Đối với các cơ quan chức năng có thể dựa trên kết quả nghiên cứu này để đánh giá, xây dựng chính sách và thi hành những biện pháp hữu hiệu nhằm hỗ trợ tốt hơn nữa cho doanh nghiệp, góp phần kích thích, thu hút và nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho toàn thành phố Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, luận văn này sẽ là nguồn cảm hứng, là gợi ý cho các nhà nghiên cứu, sinh viên những người đang rất quan tâm đến lĩnh vực này có thể sử dụng đề tài như một tài liệu tham khảo cho những dự án nghiên cứu về sau sâu sắc hơn, ở cấp độ cao hơn

1.9 Kết cấu luận văn:

Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Đặt vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu

Trang 16

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận, các kiến nghị, hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo

Kết luận chương: Trong chương này tác giả tóm tắt sơ lược về nội dung và kết

cấu của luận văn để giúp độc giả hình dung được quy trình và nội dung nghiên

cứu mà các chương tiếp theo sẽ trình bày

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu Định nghĩa và vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài này

2.1 Khái niệm hoạt động xuất khẩu:

 Xuất khẩu là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ một nước hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của một nước được coi là khu vực hải quan riêng biệt theo quy định của pháp luật nước đó (Điều 28, Luật Thương mại Việt Nam, 2005)

 Xuất khẩu là hoạt động bao gồm tất cả các giao dịch giữa công dân của một nước với phần còn lại của thế giới liên quan đến việc thay đổi quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ

từ công dân nước này sang công dân nước khác (WB, 2016)

2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu:

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, xuất khẩu là hoạt động cần thiết và quan trọng không những giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng trưởng doanh thu, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn góp phần thu hút ngoại tệ, duy trì tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân thanh toán và ổn định kinh tế vĩ mô Thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới để áp dụng vào quy trình sản xuất, tiết kiệm chi phí đầu vào, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng ngày càng tốt hơn sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài Không những thế, xuất khẩu còn là phương tiện để gắn kết các quốc gia lại với nhau thông qua việc trao đổi hàng hoá giữa quốc gia này với quốc gia khác Nguồn lực là hữu hạn trong khi nhu cầu của con người là vô hạn dẫn đến hiện tượng khan hiếm nguồn lực cho sản xuất hàng hoá Các quốc gia nói chung, các doanh nghiệp nói riêng chỉ có thể sản xuất hàng hoá mà họ có lợi thế so sánh tốt nhất và tiến hành mua bán các loại hàng hoá khác với các quốc gia và doanh nghiệp khác Trên cơ sở đó, hoạt động xuất nhập khẩu được hình thành và phát triển để thực hiện nhiệm vụ này Vì vậy, xuất khẩu có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn lực, đáp ứng đầy đủ nguyên vật liệu cho sản xuất Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo thêm động lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế nhờ cơ chế nhập khẩu để xuất khẩu Nhập khẩu các máy móc, thiết bị hiện đại để sản xuất và xuất khẩu lại các sản phẩm hoàn chỉnh chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế

Trang 18

2.3 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Định nghĩa DNNVV là một phạm trù phức tạp và cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào về khái niệm của nó giữa các tổ chức, các nhà nghiên cứu với nhau Mỗi nhà nghiên cứu khác nhau với những mục tiêu nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm khác nhau về DNNVV Sau đây là một số khái niệm phổ biến thường thấy nhất:

 Khái niệm của Uỷ Ban Bolon (1971):

Trong báo cáo về các doanh nghiệp nhỏ, Uỷ Ban Bolton phát biểu rằng doanh nghiệp nhỏ là các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh độc lập, được quản lý bởi một người sở hữu hoặc đồng sở hữu bởi nhiều người và có thị phần nhỏ Báo cáo này nhận thấy rằng quy mô lớn nhỏ của doanh nghiệp có liên quan đến khu vực Với quy mô cho trước, một doanh nghiệp có thể là doanh nghiệp nhỏ trong khu vực mà thị trường tại đó quá lớn và có nhiều đối thủ cạnh tranh Ngược lại, cũng với quy mô đó doanh nghiệp có thể được xem là doanh nghiệp lớn trong những khu vực khác gồm những doanh nghiệp nhỏ hơn Để đo lường quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ, Uỷ ban này dùng hai chỉ tiêu: số lượng nhân viên chính thức và doanh thu Theo đó:

Một doanh nghiệp được gọi là nhỏ nếu có ít nhất hai trong số các tiêu chí sau đây:

 Doanh thu hàng năm không lớn hơn 2,8 triệu bảng Anh

 Tổng bảng cân đối kế toán không nhiều hơn 1,4 triệu bảng Anh

 Không quá 50 nhân viên

Một doanh nghiệp được gọi là vừa nếu đáp ứng ít nhất hai trong số các tiêu chí sau đây:

 Doanh thu hàng năm không lớn hơn 11,2 triệu bảng Anh

 Tổng bảng cân đối kế toán không nhiều hơn 5,6 triệu bảng Anh

 Không quá 250 nhân viên

 Khái niệm của Cộng đồng Châu Âu (2003):

Một doanh nghiệp được gọi là nhỏ nếu có ít nhất hai trong số các tiêu chí sau đây:

 Doanh thu hàng năm không lớn hơn 10 triệu Euro

 Tổng bảng cân đối kế toán không nhiều hơn 10 triệu Euro

Trang 19

 Không quá 50 nhân viên

Một doanh nghiệp được gọi là vừa nếu đạt ít nhất hai trong số các tiêu chí sau đây:

 Doanh thu hàng năm không lớn hơn 50 triệu Euro

 Tổng bảng cân đối kế toán không nhiều hơn 43 triệu Euro

 Không quá 250 nhân viên

 Khái niệm của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam (2001):

DNNVV là các doanh nghiệp có trụ sở và hoạt động sản xuất độc lập, được đăng ký phù hợp theo những quy định của pháp luật hiện hành với vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động hàng năm không quá 300 người

Tổng nguồn vốn (Tỷ đồng)

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (Tỷ đồng)

Số lao động (Người) Nông, lâm

nghiệp

và thuỷ sản <10 <20 >10-200 >20-200 >200-300 Công nghiệp

và xây dựng <10 <20 >10-200 >20-200 >200-300 Thương mại

và dịch vụ <10 <20 >10-50 >20-50 >50-100

2.4 Vai trò của DNNVV TPHCM đối với kinh tế thành phố:

Nói đến sự thành công của Thành phố Hồ Chí Minh không thể không kể đến vai trò của các DNNVV.Với số lượng chiếm 97% trong tổng số các doanh nghiệp trên địa bàn, các DNNVV là thành phần quan trọng nhất trong việc góp phần tăng trưởng GDP của thành phố Theo Cục thống kê TPHCM trong năm 2015, GDP thành phố tăng 9,8% so với năm 2014 Trong đó, các DNNVV đóng góp khoảng 40% tổng giá trị GDP Tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn đạt 30,6 tỷ đô la Mỹ Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của các DNNVV chiếm tới 30%, tương đương với 9,18

Trang 20

tỷ đô la Mỹ Sở dĩ, Thành phố Hồ Chí Minh được biết đến là một trung tâm kinh tế sầm uất và phát triển bậc nhất khu vực Đông Nam Á bởi những cơ sở hạ tầng hiện đại phục

vụ cho các hoạt động giao thương buôn bán diễn ra liên tục cũng như đảm bảo các vấn

đề an sinh xã hội cho người dânlà nhờ có sự đóng góp không nhỏ vào ngân sách của các DNNVV Trong năm 2015, tổng thu ngân sách thành phố là 281 nghìn tỷ đồng Trong

đó, thu từ các DNNVV là 42,2 nghìn tỷ, chiếm 15% Các nguồn thu này được thành phố phục vụ cho việc xây dựng các tiện ích công cộng như giao thông, thuỷ lợi và các chương trình cộng đồng như xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa Nhờ thế, tỷ lệ hộ nghèo thành phố trong năm 2015 giảm xuống đáng kể, chỉ còn 0,5% so với 4,5% tỷ lệ hộ nghèo cả nước Ngoài ra, với số lượng đông đảo nhất trong các thành phần kinh tế, các DNNVV là nhân tố thiết yếu trong việc góp phần giảm thiểu các tệ nạn xã hội thông qua giải quyết hơn 60% việc làm cho người lao động Giảm thiểu các hiện tượng thất nghiệp, không có việc làm, không có thu nhập dẫn đến cướp giật, trộm cắp, ma tuý, mại dâm, lừa đảo Bên cạnh đó, với tư cách là nhà sản xuất trung gian cho các doanh nghiệp lớn, các DNNVV đã giúp nền kinh tế đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thu hút một lượng lớn lao động nhàn rỗi, giá rẻ từ lĩnh vực nông nghiệp sang phục

vụ các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Với những đóng góp ấy, các DNNVV ngày càng khẳng định vai trò không thể thay thế trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và duy trì phúc lợi xã hội cho toàn bộ người dân thành phố Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các DNNVV sẽ là lá cờ tiên phong dẫn dắt mọi hoạt động của nền kinh tế tiến tới vũ đài của

sự cạnh tranh và phát triển Sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn và thử thách

2.5 Cơ sở lý thuyết:

Trên thế giới, có rất nhiều cơ sở lý thuyết có thể dùng để giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp quyết định tham gia hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả lựa chọn các cơ sở lý thuyết sau để làm cơ sở lý luận cho đề tài của mình:

2.5.1 Lý thuyết lợi thế so sánh:

Lý thuyết lợi thế so sánh được đề cập đầu tiên bởi nhà kinh tế chính trị người David Ricardo vào năm 1817 Lý thuyết này phát biểu rằng ngay cả quốc gia đang tận hưởng lợi thế sản xuất tuyệt đối, sẽ hưởng lợi hơn từ việc chuyên môn hoá vào việc sản xuất loại hàng hoá mà họ có lợi thế tốt nhất và tham gia trao đổi ngoại thương các mặt

Trang 21

Anh-hàng còn lại với các nước khác Lý thuyết này cho phép các quốc gia mua những Anh-hàng hoá và dịch vụ mà họ kém lợi thế kinh tế từ những nguồn có chi phí sản xuất thấp hơn khi những nguồn lực địa phương phục vụ cho việc sản xuất các loại hàng hoá đó ngày càng trở nên khan hiếm và đắt đỏ Hay nói một cách khác, lý thuyết này giải thích việc

hình thành thương mại xuất nhập khẩu giữa các quốc gia

2.5.2 Lý thuyết thương mại mới:

Lý thuyết thương mại mới được xây dựng bởi Paul Krugman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế năm 2008 cho những đóng góp của ông trong việc xây dựng mối liên quan giữa các mô hình thương mại và địa điểm hoạt động kinh tế Lý thuyết này hàm ý rằng các nhân tố chủ đạo trong việc quyết định tham gia thương mại quốc tế là lợi thế kinh tế theo vi mô và những tác động của hệ thống trong các ngành công nghiệp chủ lực Ngoài ra, lý thuyết này cũng nêu lên quan điểm các công ty tham gia sớm vào thị trường

dể dàng chi phối thị trường hơn các công ty đến sau bởi vì các công ty đi đầu sẽ chiếm được lợi thế kinh tế theo vi mô Các công ty đến sau phải đương đầu với sự cạnh tranh hết sức khốc liệt Điều này đồng nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh, các công ty lớn có lợi thế kinh tế theo vi mô sẽ thống lĩnh thị trường, tạo ra thế độc quyền và hạn chế sự tham gia của các đối thủ cạnh tranh khác Lý thuyết thương mại mới được xem như là một trong những nhân tố quan trọng góp phần giải thích sự tăng trưởng toàn cầu và hình thành các thế lực độc quyền quốc tế

2.5.3 Lý thuyết hành vi:

Dưới góc độ hành vi, các doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế một mặt nhằm nâng cao sự hiểu biết về thị trường Mặt khác nhằm điều chỉnh những nguồn lực sẵn có của họ để đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của thị trường mục tiêu Các nghiên cứu khoa học đã xây dựng nên mối liên kết giữa sự thành công của toàn cầu hoá và đặc điểm của công ty Đây là một quy trình tích luỹ tăng dần trong ngữ cảnh không có gì là chắc chắn và chứa đựng nhiều rủi ro Sự tích luỹ kiến thức về thương mại quốc tế, về xuất nhập khẩu giúp gia tăng năng lực học hỏi của doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro, nâng cao

vị thế cạnh tranh và khả năng nắm bắt được các cơ hội mới ở nước ngoài Nhờ đó, các công ty trong nước sẽ được bù đắp sự thiếu hụt về kiến thức từ các thị trường mục tiêu nước ngoài có những đặc tính tương tự như nước mình

Trang 22

2.5.4 Lý thuyết tỷ lệ nhân tố:

Trái với lý thuyết lợi thế so sánh, lý thuyết tỷ lệ nhân tố có thể giải thích sự khác biệt

về lợi thế tương đối giữa các quốc gia tham gia trao đổi thương mại với nhau Theo lý thuyết này các quốc gia có xu hướng sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá và dịch vụ

mà họ sở hữu một lượng lớn các nhân tố sản xuất phong phú đồng thời nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ yêu cầu một số lượng lớn nhân tố sản xuất mà họ tương đối khan hiếm (Hecksher and Ohlin, 1933) Một cách dễ hiểu hơn, các quốc gia có xu hướng chuyên môn hoá vào việc sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà họ có dư thừa nhiều nhất về nguồn lực cho việc sản xuất hàng hoá đó Xét trên khía cạnh này, lý thuyết tỷ lệ nhân tố

mở rộng thêm khái niệm lợi thế kinh tế thông qua việc xem xét giữa những nguồn lực có sẵn và chi phí của các nhân tố sản xuất

2.5.5 Lý thuyết thị trường không hoàn hảo:

Lý thuyết này gợi ý rằng các công ty luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường mới

và quyết định đầu tư của họ ở thị trường nước ngoài được giải thích như là một chiến lược để tận dụng một khả năng nào đó chứ không phải được chia sẽ bởi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài (Hymer, 1970) Khả năng của công ty được giải thích bởi sự không hoàn hảo của thị trường đối với sản phẩm và các nhân tố sản xuất Nghĩa là, các công ty sản xuất ra những sản phẩm đồng nhất và có được mức độ tiếp cận như nhau đối với các nhân tố sản xuất Tuy nhiên, do thực tiễn của vấn đề cạnh tranh không hoàn hảo nên các doanh nghiệp có các loại lợi thế cạnh tranh khác nhau và mỗi lợi thế khác nhau sẽ khác nhau về mức độ Lý thuyết này là cơ sở để các doanh nghiệp lựa chọn thị trường xuất khẩu mục tiêu

2.5.6 Lý thuyết chu kỳ vòng đời sản phẩm:

Lý thuyết chu kỳ vòng đời sản phẩm nhấn mạnh rằng chu kỳ thương mại xuất hiện ở những nơi sản phẩm được sản xuất ra bởi các công ty mẹ sau đó tới các công ty con ở nước ngoài và cuối cùng là ở bất cứ đâu trên thế giới miễn sao chi phí sản xuất là nhỏ nhất có thể (Vernon 1966; Wells, 1968, 1969) Lý thuyết này giải thích sản phẩm xuất hiện như thế nào khi mà xuất khẩu của một quốc gia thông qua chu kỳ vòng đời cuối cùng lại trở thành sản phẩm nhập khẩu của chính quốc gia đó Chu kỳ này tiếp diễn như sau: thế mạnh xuất khẩu của quốc gia được xây dựng, sau đó sản xuất bắt đầu thực hiện

ở nước ngoài hình thành nên sự cạnh tranh ở thị trường xuất khẩu và cuối cùng thiết lập

Trang 23

nên sự cạnh tranh nhập khẩu ở thị trường trong nước Đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường là vấn đề then chốt giúp giải thích mô hình thương mại quốc tế này Công nghệ là nhân tố quan trọng trong việc tạo ra và phát triển sản phẩm mới trong khi quy mô và cấu trúc thị trường ảnh hưởng đến việc xác định mức độ và loại hình thương mại quốc tế phù hợp

2.5.7 Lý thuyết sản xuất quốc tế:

Lý thuyết sản xuất quốc tế hàm ý rằng xu hướng khởi đầu sản xuất ở nước ngoài phụ thuộc vào sự hấp dẫn cụ thể của quốc gia đó so với nguồn lực và lợi thế của các quốc gia khác (Dunning, 1980) Hoạt động đầu tư ở nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào sự khác nhau về nguồn lực và lợi thế mà còn phụ thuộc vào chính sách của chính phủ nước ngoài thể hiện ở các thủ tục đầu vào cho các doanh nghiệp Lý thuyết này có vai trò vừa thúc đẩy vừa hạn chế tiến trình toàn cầu hoá Vai trò thúc đẩy được thể hiện khi chính phủ quyết tâm mở cửa hội nhập và kêu gọi đầu tư nước ngoài Vai trò hạn chế phát huy tác dụng khi chính phủ muốn bảo hộ một ngành công nghiệp non trẻ trong nước

2.6 Tổng quan các nghiên cứu trước:

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước:

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tham gia xuất khẩu của các DNNVV tư nhân trong nước ngành công nghiệp sản xuất ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Trong Cô cùng với các cộng sự khác, chuyên ngành tài chính, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 Bài nghiên cứu dựa trên bộ số liệu điều tra khảo sát DNNVV năm 2011 và

mô hình Probit kết luận rằng doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh không có tác động đến xu hướng xuất khẩu Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khả năng xuất khẩu cũng ít hơn Trong khi đó, đổi mới và công nghệ là thành phần quan trọng có tác động dương đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp khác tham gia thị trường xuất khẩu Ngoài ra, nhóm tác giả cũng phát hiện rằng các doanh nghiệp ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM

có xu hướng tham gia xuất khẩu nhiều hơn các doanh nghiệp ở vùng miền do có nhiều lợi thế về cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu

Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của các DNNVV có định hướng xuất khẩu ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo ở Việt Nam Tác giả Trần Quốc Trung và các cộng sự, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, năm 2008 Bài báo dựa trên bộ số liệu bảng

Trang 24

điều tra doanh nghiệp của TCTK từ năm 2000-2005 kết hợp với mô hình Logit phát hiện

ra rằng các yếu tố lao động, vốn, đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, hình thức sở hữu, quy mô doanh nghiệp, khu vực, mối quan hệ làm ăn có tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu Trong đó vốn và lao động là hai nhân tố có tác động lớn nhất tới xuất khẩu Doanh nghiệp có vốn nước ngoài có tác động đến quyết định xuất khẩu lớn hơn doanh nghiệp trong nước Doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm hơn (hoạt động lâu hơn) có tác động đến quyết định tham gia xuất khẩu lớn hơn so với các doanh nghiệp mới hoạt động Ngoài ra, các doanh nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, Sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ tham gia xuất khẩu nhiều hơn so với vùng Cao Nguyên

Nghiên cứu vấn đề đổi mới và xuất khẩu của các DNNVV Tác giả Nguyễn Ngọc Ánh và cộng sự Trung tâm nghiên cứu chính sách và phát triển thuộc Hội đồng quốc gia

về chính sách công nghệ và khoa học, Hà Nội, năm 2007 Bài nghiên cứu dựa trên bộ số liệu điều tra DNNVV năm 2005 kết hợp với mô hình probit và phương pháp biến công

cụ phát hiện rằng đổi mới thông qua cải tiến sản phẩm, áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới và phát triển sản phẩm mới là những nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động xuất khẩu Cả ba nhân tố này đều có tác động dương và có ý nghĩa thống kê tới hoạt động xuất khẩu

2.6.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu Mặc dù có sự khác nhau về thời gian, địa điểm cũng như dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Nhưng nhìn chung kết quả nghiên cứu không có nhiều khác biệt Phải chăng chỉ là sự khác biệt ở mức độ tác động do sự khác biệt về đặc điểm quốc gia, vùng miền, các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Đa phần các nghiên cứu trước đều tìm thấy các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu của các doanh nghiệp phải kể đến như loại hình doanh nghiệp, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, lao động có kỹ năng, quy mô công ty, vị trí địa lý, công nghệ, hỗ trợ của chính phủ, quảng cáo sản phẩm, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở Ai Len và Bắc Ai Len Tác giả Roper và Love, chuyên ngành kinh doanh, trường đại học Aston-Birmingham-Anh, năm 2004 Trong bài nghiên cứu này tác giả dựa trên bộ số liệu Bảng Đổi Mới của Ai Len (IIP-Irish Innovation Panel) trong hai

Trang 25

giai đoạn 1996-1997 và 1999-2000 kết hợp với mô hình Tobit nhận thấy rằng các yếu tố tác động mạnh đến quyết định xuất khẩu và kết quả xuất khẩu bao gồm lao động có kỹ năng, vị trí công ty, quy mô công ty, loại hình sở hữu, tuổi đời của công ty, đầu tư nghiên cứu và phát triển, ngành nghề hoạt động Trong đó, lao động có kỹ năng càng nhiều, càng dễ thành công khi tham gia thị trường xuất khẩu, là nhân tố có tác động lớn nhất đến hoạt động xuất khẩu Ngoài ra, hai tác giả cũng tìm thấy doanh nghiệp có quy

mô lớn hơn, có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn Nhận định này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Zaclicever, (2015) Áp dụng công nghệ mới, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển cũng là các nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng xuất khẩu

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tham gia xuất khẩu và kết quả xuất khẩu của các DNNVV trong ngành công nghiệp sản xuất ở Thái Lan Tác giả Amonrkitvikai và Charoenrat, chuyên ngành kinh doanh và thương mại, thuộc trung tâm nghiên cưu Online, trường đại học Wollongong, năm 2012 Bài nghiên cứu sử dụng bộ

số liệu điều tra công nghiệp Thái Lan năm 2007 và các mô hình kinh tế lượng như Logit, Tobit, Probit, mô hình xác suất tuyến tính kết luận rằng tuổi đời công ty, quy mô công ty, năng suất lao động, lao động có kỹ năng, đầu tư cho R&D, các hỗ trợ của chính phủ, công ty có vốn nước ngoài, nhà máy đóng tại các đô thị lớn có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với quyết định xuất khẩu và kết quả xuất khẩu

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến xu hướng xuất khẩu của các DNNVV ở Thổ Nhĩ Kỳ Tác giả Senturk và Erdem, chuyên ngành kinh tế, trường đại học Gaziosmanpasa, Thổ Ngĩ Kỳ, năm 2008 Bài báo dựa trên bộ số liệu điều tra khảo sát các DNNVV -KOBINET- thông qua mô hình kinh tế lượng Logit và Tobit nhận thấy rằng ngoài quy mô công ty, vị trí công ty nằm trong các thành phố năng động, các công ty có phòng marketing và chiến lược xúc tiến sản phẩm cũng như có giấy chứng nhận quốc tế

sẽ giúp các doanh nghiệp thêm động lực tham gia xuất khẩu

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp rượu ở Pháp Tác giả Manurel, trường đại học Avignon-Pháp, năm 2006 Bài báo dựa trên bộ số liệu EEAFV-2006 bằng phương pháp phân tích nhân tố phát hiện rằng các đặc tính của người ra quyết định như trình độ học vấn, tuổi, lĩnh vực chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tham gia xuất khẩu Đổi mới chiến lược marketing, đầu tư vào marketing, sự quyết tâm và động cơ xuất khẩu cũng

Trang 26

như uy tín của doanh nghiệp có tác động dương đến xuất khẩu Tuy nhiên, trong nghiên này tác giả cũng thừa nhận rằng các chiến lược cạnh tranh như chiến lược cạnh tranh về giá, về chất lượng, về sự khác biệt thương hiệu, mối quan hệ với đối tác, sự thành thạo nghiệp vụ xuất khẩu và tuổi của người quản lý không có tác động đến hoạt động xuất khẩu khi áp dụng phương pháp phân tích ANOVA

Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của các DNNVV trong ngành công nghiệp da ở Nigeria Tác giả Abubakar, khoa quản lý sau đại học, trường đại học Putra-Malaysia, năm 2012 Bài báo dựa trên bộ số liệu tự điều tra khảo sát 623 doanh nghiệp ở vùng Tây nam Nigeria bằng phương pháp phân tích hồi quy bội Tác giả nhận thấy rằng các yếu tố như kiến thức, hình ảnh/danh tiếng của doanh nghiệp, nguồn lực marketing có tác động đến hoạt động xuất khẩu khi Doanh nghiệp thiếu những kiến thức hoặc kỹ năng cần thiết để quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu như thiếu hiểu biết về thị trường xuất khẩu tiềm năng, không nắm bắt được các cơ hội kinh doanh ở nước ngoài, không hiểu được văn hoá của khách hàng thì sự thành công trong xuất khẩu sẽ không có gì chắn chắn Tương tự như vậy, khi thiếu đi nguồn lực để thực hiện các chiến lược marketing quốc tế, không có sự khác biệt nỗi bật trong việc nhận diện thương hiệu cũng như uy tín của công ty sẽ làm giảm đi hiệu quả kinh doanh xuất khẩu

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp ở các thành phố nhỏ Tác giả Wu và Cheng, khoa kinh tế, viện quản lý và kinh doanh, trường đại học Hồng Kong, năm 1999 Bài báo dựa trên bộ số liệu bảng 8 năm từ năm

1987 đến 1994 gồm 200 doanh nghiệp từ niên giám thống kê các doanh nghiệp ở các thành phố nhỏ được xuất bản bởi bộ nông nghiệp Trung Quốc bằng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu thông thường (OLS) nhận thấy rằng chi phí lao động đơn vị có tác động âm tới xuất khẩu Điều này hàm ý rằng chi phí lao động đơn vị càng cao, các doanh nghiệp ít có xu hướng muốn tham gia thị trường xuất khẩu nhưng ngược lại trình

độ học vấn của người lao động càng cao doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu càng nhiều Hỗ trợ của chính phủ có tác động dương tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Chi phí vận chuyển hàng hoá từ các thành phố nhỏ về các thành phố lớn để xuất khẩu có tác động nghịch biến với xu hướng xuất khẩu của doanh nghiệp Nghĩa là, chi phí vận chuyển càng lớn làm trở ngại hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp càng nhiều

Trang 27

2.7 Tóm tắt kết quả các nghiên cứu trước:

Số liệu bảng IIP-Irish Innovation Panel 1996-1997 và 1999-

2000

Mô hình Tobit

Nhận thấy rằng các yếu tố như lao động có kỹ năng,

vị trí công ty, quy mô công ty, loại hình sở hữu, tuổi đời của công ty, đầu R&D, ngành nghề hoạt động có tác động mạnh đến quyết định xuất khẩu

và kim ngạch xuất khẩu

Amonrkitvikai và

Charoenrat 2012

Hoạt động xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp sản xuất ở Thái Lan

Bộ số liệu điều tra công nghiệp Thái Lan năm 2007

Mô hình Logit, Probit, Tobit

Kết luận rằng tuổi đời công ty, quy mô, năng suất lao động, lao động có

kỹ năng, đầu tư cho R&D, hỗ trợ của chính phủ, công ty có vốn nước ngoài, nhà máy đóng tại các đô thị lớn có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với quyết định xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu

Senturk

và Erdem 2008

Xu hướng xuất khẩu của các DNNVV ở

Bộ số liệu điều tra khảo sát các doanh nghiệp DNNVV -KOBINET

Mô hình Logit

và Tobit

Cho rằng ngoài quy mô công ty, vị trí công ty nằm

trong các thành phố năng động, các công ty có phòng marketing và có chiến lược xúc tiến sản phẩm, có giấy chứng nhận quốc tế sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm động lực xuất khẩu

Trang 28

Maurel 2006

Hoạt động xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp

Bộ số liệu

EEAFV-2006

Phân tích nhân tố;

ANOVA

Nhận định rằng các đặc tính của người ra quyết định như trình độ học vấn, tuổi, lĩnh vực chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu Đổi

áp dụng phương pháp phân tích ANOVA

Abubakar 2012

Hoạt động xuất khẩu của các DNNVV thuộc ngành công nghiệp da ở Nigeria

Bộ số liệu tự điều tra khảo sát 623 doanh nghiệp

Phân tích hồi quy bội

Phát biểu rằng các yếu tố

hình ảnh, danh tiếng của doanh nghiệp, nguồn lực marketing, am hiểu thị trường nước ngoài, hiểu được văn hoá của khách hàng có tác động đến hoạt động xuất khẩu

Bình phương tối thiểu thông thường (OLS)

Phát hiện rằng chi phí lao động đơn vị có tác động

âm tới xuất khẩu nhưng trình độ học vấn của người lao động càng cao, doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu càng nhiều Hỗ trợ của chính phủ có tác động dương tới hoạt động xuất khẩu Chi phí vận chuyển có tác động nghịch biến với xu hướng xuất khẩu của

Trang 29

Bộ số liệu điều tra khảo sát DNNVV năm

2011

Mô hình Probit

Cho rằng doanh nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động không có tác động đến xu hướng xuất khẩu Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khả năng xuất khẩu cũng ít hơn Trong khi đó, đổi mới và công nghệ là thành phần quan trọng có tác động dương đến hoạt động xuất khẩu, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp khác tham gia thị trường xuất khẩu Các doanh nghiệp ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM có xu hướng tham gia xuất khẩu nhiều hơn các doanh nghiệp ở vùng miền khác

Tran Quoc Trung

và cộng sự 2008

Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp định hướng xuất khẩu nhỏ và vừa ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo ở Việt Nam

Bộ số liệu bảng điều tra doanh nghiệp của TCTK, năm 2000-

2005

Mô hình Logit

Phát hiện ra rằng các yếu

tố lao động, vốn, đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, hình thức

sở hữu, quy mô doanh nghiệp, khu vực, mối quan hệ làm ăn, kinh nghiệm hoạt động có tác động tới quyết định tham gia xuất khẩu Doanh nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, Sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ tham gia xuất khẩu nhiều hơn so với vùng Cao Nguyên

Trang 30

Trình độ học vấn NQL/CDN

Bộ số liệu điều tra DNNVV năm 2005

Mô hình Probit và phương pháp biến công cụ

Phát hiện rằng đổi mới thông qua cải tiến sản phẩm, áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới

và phát triển sản phẩm mới là những nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động xuất khẩu, đều

có tác động dương và có

ý nghĩa thống kê

2.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước như vừa trình bày ở trên, tác giả

đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Mô hình nghiên cứu:

Trang 31

Hình 2.9.1 Mô hình nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu:

H 1 : Tuổi đời của doanh nghiệp có quan hệ đồng biến với hoạt động xuất khẩu

(+)

H 2 : Doanh nghiệp có nhà máy nằm trong các khu công nghiệp có quan hệ đồng

biến với hoạt động xuất khẩu (+)

H 3 : Quy mô doanh nghiệp càng lớn có tác động cùng chiều tới hoạt động xuất

khẩu (+)

H 4 : Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý càng cao có

quan hệ đồng biến tới hoạt động xuất khẩu (+)

H 5 : Doanh nghiệp có chứng chỉ chất lượng quốc tế có tác động dương tới hoạt

động xuất khẩu (+)

H 6: Quảng cáo có tác động dương tới hoạt động xuất khẩu (+)

H 7: Áp dụng công nghệ mới để cải tiến sản phẩm có tác động dương tới hoạt

động xuất khẩu (+)

H 8 : Doanh nghiệp được nhận hỗ trợ về mặt tài chính hoặc kỹ thuật từ các cơ

quan nhà nước có tác động dương tới hoạt động xuất khẩu (+)

Kết luận chương: Chương hai giới thiệu khá chi tiết các khái niệm liên quan đến

hoạt động xuất khẩu cũng như các khái niệm phổ biến nhất về DNNVV Đồng thời cũng nêu rõ cơ sở lý thuyết mà đề tài lấy làm tham chiếu cho các lập luận Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước cũng giúp cho độc giả nắm bắt được tình hình các nghiên cứu trước đây, trên cơ sở đó có những so sánh cần thiết với nghiên cứu của tác giả như được trình bày trong các chương tiếp theo

Trang 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày vài nét về tổng quan kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp, những khó khăn và thuận lợi Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, công cụ nghiên cứu, định nghĩa các biến nghiên cứu, thu thập và xử lý số liệu

3.1 Vai trò của DNNVV TPHCM đối với kinh tế thành phố:

Nói đến sự thành công của Thành phố Hồ Chí Minh không thể không kể đến vai trò của các DNNVV Với số lượng chiếm 97% trong tổng số các doanh nghiệp trên địa bàn, các DNNVV là thành phần quan trọng nhất trong việc góp phần tăng trưởng GDP của thành phố Theo Cục thống kê TPHCM trong năm 2015, GDP thành phố tăng 9,8% so với năm 2014 Trong đó, các DNNVV đóng góp khoảng 40% tổng giá trị GDP Tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn đạt 30,6 tỷ đô la Mỹ Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của các DNNVV chiếm tới 30%, tương đương với 9,18

tỷ đô la Mỹ Sở dĩ, Thành phố Hồ Chí Minh được biết đến là một trung tâm kinh tế sầm uất và phát triển bậc nhất khu vực Đông Nam Á bởi những cơ sở hạ tầng hiện đại phục

vụ cho các hoạt động giao thương buôn bán diễn ra liên tục cũng như đảm bảo các vấn

đề an sinh xã hội cho người dânlà nhờ có sự đóng góp không nhỏ vào ngân sách của các DNNVV Trong năm 2015, tổng thu ngân sách thành phố là 281 nghìn tỷ đồng Trong

đó, thu từ các DNNVV là 42,2 nghìn tỷ, chiếm 15%.Các nguồn thu này được thành phố phục vụ cho việc xây dựng các tiện ích công cộng như giao thông, thuỷ lợi và các chương trình cộng đồng như xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa Nhờ thế, tỷ lệ hộ nghèo thành phố trong năm 2015 giảm xuống đáng kể, chỉ còn 0,5% so với 4,5% tỷ lệ hộ nghèo cả nước Ngoài ra, với số lượng đông đảo nhất trong các thành phần kinh tế, các DNNVV là nhân tố thiết yếu trong việc góp phần giảm thiểu các tệ nạn xã hội thông qua giải quyết hơn 60% việc làm cho người lao động Giảm thiểu các hiện tượng thất nghiệp, không có việc làm, không có thu nhập dẫn đến cướp giật, trộm cắp, ma tuý, mại dâm, lừa đảo Bên cạnh đó, với tư cách là nhà sản xuất trung gian cho các doanh nghiệp lớn, các DNNVV đã giúp nền kinh tế đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thu hút một lượng lớn lao động nhàn rỗi, giá rẻ từ lĩnh vực nông nghiệp sang phục

vụ các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân

Trang 33

Với những đóng góp ấy, các DNNVV ngày càng khẳng định vai trò không thể thay thế trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và duy trì phúc lợi xã hội cho toàn bộ người dân thành phố Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các DNNVV sẽ là lá cờ tiên phong dẫn dắt mọi hoạt động của nền kinh tế tiến tới vũ đài của

sự cạnh tranh và phát triển Sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn và thử thách

3.2 Thực trạng xuất khẩu của các DNNVVTPHCM, giai đoạn 2010-2015:

Kinh tế thế giới trong giai đoạn 2010-2015 biến động không ngừng do những bất ổn

về kinh tế, chính trị Điều này đã tác động không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM nói riêng và cả nước nói chung Theo thống kê trong bảng 3.2, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM tăng giảm không ổn định Trong khoảng thời gian từ năm 2010-2012 kim ngạch xuất khẩu tăng đều đặn, trung bình mỗi năm tăng 16,5% Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu mặc dù chỉ tăng 7,5 % so với năm 2011 nhưng đây là năm đánh dấu một cột mốc quan trọng, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của thành phố đạt hơn 30 tỷ đô la Mỹ và Thành phố Hồ Chí Minh cũng là thành phố duy nhất tính đến thời điểm hiện tại có kim ngạch xuất khẩu trên 30 tỷ

đô la Mỹ trong một năm Tuy nhiên, bước sang năm 2013, kim ngạch xuất khẩu có sự giảm nhẹ, giảm 2,9% so với năm 2012 nhưng cũng kịp phục hồi và lấy lại con số ấn tượng trong năm 2014 với 31,35 tỷ đô la Mỹ, tăng 6,3% so với năm 2013 và đây là lần thứ hai kim ngạch xuất khẩu của thành phố đạt hơn 30 tỷ đô la Mỹ Đến năm 2015, dưới tác động của giá dầu thế giới giảm mạnh cùng với việc một số mặt hàng công nghệ cao dành cho xuất khẩu bị tạm ngưng sản xuất không những kìm hãm sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của thành phố mà còn làm cho kim ngạch xuất khẩu giảm 2,4% so với năm 2014 dù cho kim ngạch xuất khẩu lần thứ ba duy trì ở mức trên 30 tỷ đô la Mỹ Bảng 3.2.1: Kim ngạch xuất khẩu của TPHCM, 2010-2015 (Tỷ USD)

Trang 34

Biểu đồ 3.2.2: Kim ngạch xuất khẩu của TPHCM, 2010-2015 (Tỷ USD)

Nguồn: Theo tính toán của tác giả

Biểu đồ: 3.2.3: Tỷ lệ % đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước của các doanh nghiệp TPHCM

Nguồn: Theo tính toán của tác giả

Ngoài ra, một điểm đáng chú ý ở đây là tỷ lệ phần trăm đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước của các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng giảm dần, kể cả những năm kim ngạch xuất khẩu tăng cao và đạt mức 30 tỷ đô la Mỹ

2010 2011 2012 2013 2014 2015

Cả nước TPHCM

2010 2011 2012 2013 2014 2015

Tỷ lệ %

Trang 35

Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn đóng góp 31,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước nhưng đến năm 2015 chỉ còn chiếm 18,9%, giảm 12,3 điểm phần trăm trong vòng 5 năm Như vậy, trung bình mỗi năm giảm 2,5 điểm phần trăm Một trong những nguyên nhân có thể giải thích cho sự suy giảm tỷ lệ đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia của các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là do trong những năm gần đây kinh tế của các tỉnh, thành phố khác đã phát triển hơn nhiều so với trước đây Sự dịch chuyển cơ cấu cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu công nghiệp tại các tỉnh thành khác đã thu hút một lượng khá lớn nguồn vốn đầu tư vào các khu vực này kéo theo lượng hàng hoá xuất khẩu từ các doanh nghiệp tại đây tăng dần

và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Bên cạnh đó, lượng hàng xuất khẩu qua các cảng biển tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2015 có xu hướng giảm dần bởi sự cạnh tranh gay gắt của hệ thống cảng biển từ các khu vực khác nhờ có sự cải tiến vềcơ sở hạ tầng, sự thuận tiện về khoảng cách địa lý, chi phí xuất nhập khẩu và chi phí thủ tục hải quan thấp

Năm 2015, trong tổng số các loại ngành nghề, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến chế tạo có tỷ trọng đóng góp cao nhất vào tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố với mức 69,4% bao gồm các ngành công nghiệp trọng yếu như cơ khí chế tạo, điện tử, hoá chất, cao su, nhựa và chế biến lương thực thực phẩm Riêng kim ngạch xuất khẩu của các ngành này tăng 8,3% so với năm 2014 Thị trường xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các nước Châu Á với thị phần chiếm 57,49% bao gồm các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kong ; liên minh Châu Âu chiếm 17,94% gồm Đức, Anh, Bỉ; Tây Ban Nha, New Zealand, Nga, Thỗ Nhĩ Kỳ; Châu

Mỹ chiếm 21,26% phần lớn là Hoa Kỳ, Canada; Châu Phi và châu Đại Dương chiếm 3,31%, chủ yếu là Australia (Cục TKTPHCM, 2015)

3.2.1 Thuận lợi và cơ hội:

Với vai trò là trung tâm kinh tế cả nước, hàng năm Thành phố Hồ Chí Minh thu hút một lượng lớn lao động từ khắp mọi miền tổ quốc góp phần hình thành nên thị trường lao động dồi dào, giá rẻ Đây là đầu vào quan trọng và phù hợp nhất cho các DNNVV nơi cần nhiều lao động có trình độ kỹ thuật tay nghề không cao Hội nhập kinh tế quốc

tế, tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trên địa bàn tiếp cận với công nghệ khoa học hiện đại trên thế giới để vận dụng có hiệu quả vào quy trình sản xuất thực tế Có

Trang 36

nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các hoạt động liên doanh, hợp tác kinh tế quốc tế, mở ra cho các DNNVV nhiều cơ hội để học hỏi, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý và sản xuất Đồng thời cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước bạn bằng những sản phẩm đặc thù mang tính biểu tượng doanh nghiệp, biểu tượng quốc gia mà nước bạn không có Nhờ có cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại của thành phố lớn, các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

dễ dàng thu thập được các thông tin quan trọng trong và ngoài nước liên quan đến thị trường tiêu thụ, sức mua của người tiêu dùng, thông tin về sản phẩm của đối thủ, các biến động kinh tế, chính trị, xã hội để từ đó xây dựng chiến lược hành động phù hợp Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung đa dạng các tổ chức tín dụng như ngân hàng, quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm đã cung cấp nguồn vốn khổng lồ cho phép các DNNVV dễ dàng tiếp cận để mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm máy móc thiệt bị hiện đại, đổi mới công nghệ nhằm mở rộng thị trường, tăng trưởng doanh thu

3.2.2 Khó khăn và thử thách:

Bên cạnh những thuận lợi các DNNVV Thành phố Hồ Chí Minh cũng gặp không ít khó khăn và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế Trước hết, một trong những khó khăn lớn nhất và quan trọng nhất là vốn cho đầu tư và vốn để phát triển, mở rộng Đa phần các DNNVV có ngồn vốn rất hạn chế Theo Cục thống kê Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2015 trong tổng số các DNNVV trên địa bàn thành phố, số doanh nghiệp

có vốn dưới 2 tỷ chiếm 80% Tuy nhiên, việc tiếp cận với nguồn vốn từ tổ chức tài chính

là cực kỳ khó khăn Khó khăn không chỉ đến từ việc không có tài sản thế chấp hoặc giá trị thế chấp nhỏ, không có bảo lãnh tín dụng mà còn đến từ sự phức tạp trong hồ sơ, thủ tục, quá trình thẩm định, quy trình xét duyệt trước khi có quyết định chính thức Do đó, hầu hết các DNNVV phải dựa vào nguồn vốn từ các tổ chức phi tài chính, cộng đồng dân

cư, người thân, bạn bè Trong một số trường hợp vì khát vốn doanh nghiệp buộc phải vay thị trường chợ đen, vay nóng với mức lãi suất rất cao, cao gấp nhiều lần so với lãi suất ngân hàng dẫn đến hiện tượng vỡ nợ, phá sản do không chi trả kịp thời chi phí lãi vay trong điều kiện kinh tế khó khăn Thứ hai, chi phí thuê mặt bằng, kho bãi khá cao Phần lớn các DNNVV không được ưu tiên trong việc phân bổ quỹ đất cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Thông thường họ phải sử dụng nhà ở để làm cơ sở sản xuất hoặc phải thuê nhà tư nhân, thuê văn phòng với chi phí đắt đỏ Địa điểm sản xuất chủ yếu tập trung

Trang 37

ở các vùng ven thành phố, trong các con hẽm nhỏ với cơ sở hạ tầng thô sơ, khó khăn trong việc đi lại, vận chuyển hàng hoá, tiếp cận thông tin Thứ ba, nguồn lao động có trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế Thành phần lao động trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa chủ yếu là lao động di cư từ nông thôn không được đào tạo về chuyên môn, hoặc có đào tạo nhưng đào tạo trong ngắn hạn, đào tạo tức thời mang tính chữa cháy nên kỹ năng lao động yếu kém, năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất chưa cao Thứ tư, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu tăng mạnh, giá trị gia tăng trong hàng hoá xuất khẩu thấp Với chức năng là trung gian của mọi hoạt động sản xuất cho các doanh nghiệp lớn, đại đa số nguyên vật liệu đầu vào của các DNNVV đều được nhập khẩu từ nước ngoài với chi phí cao do sự khan hiếm nguyên vật liệu trong nước, cước phí vận chuyển bằng đường biển và hàng không ngày càng tăng, thuế nhập khẩu lớn, các chi phí phát sinh khác liên quan đến hàng xuất nhập khẩu được các hãng tàu, hệ thống cảng biển áp dụng ngày càng nhiều Thứ năm, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu Xuất phát từ nguồn vốn ít không có nhiều khả năng để đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới cộng với thiếu lao động có trình độ chuyên môn để vận hành là một trong những nhân tố cốt lõi kìm hãm việc tiếp cận công nghệ mới của các doanh nghiệp Thứ sáu, chậm chạp trong quá trình tiếp cận thông tin Thông tin đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp Nhưng đối với các DNNVV thông tin về thị trường, thông tin về các vấn đền kinh tế vi mô và vĩ mô dường như đến rất chậm và rất mơ hồ Một mặt là do họ bị hạn chế trong việc tiếp cận thông tin bởi cơ sở hạ tầng phục vụ cho tiếp cận thông tin còn yếu kém như hệ thống mạng Internet ở các khu vục

xa trung tâm thành phố thường có tốc độ yếu hơn nên thông tin đến chậm hơn Mặt khác, bản thân doanh nghiệp còn thờ ơ, chưa có sự đầu tư mạnh vào việc tiếp cận thông tin do rào cản về nguồn vốn Thứ bảy, thiếu sự quan tâm từ các cơ quan chức năng trong việc

hỗ trợ doanh nghiệp Trong những năm qua, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp như chương trình người Việt dùng hàng Việt, chương trình vay tín dụng ưu đãi, bình ổn thị trường đã có những dấu hiệu tích cực Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả vẫn chưa cao, còn

có sự phân biệt loại hình doanh nghiệp trong việc tiếp cận đến các chương trình này Các doanh nghiệp nhà nước là đối tượng được nhiều ưu tiên nhất nhưng hoạt động kém hiệu quả nhất Trong khi, các DNNVV là nòng cốt của kinh tế thành phố lại bị hạn chế hoặc được tiếp cận có giới hạn Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng là trong bối

Trang 38

cảnh hội nhập Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức thương mại thế giới như WTO, TPP, AFTA Theo đó, các rào cản về thuế xuất nhập khẩu dần dần được xoá bỏ đẩy các DNNVV vào bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt Bị giảm dần cơ hội hợp tác, liên doanh với bạn hàng nước ngoài do sự chuyển dịch cơ sở sản xuất sang các nước khác có lợi thế sản xuất tương đối tốt hơn, làm thu hẹp thị trường cũng như tiềm năng tiếp cận, học hỏi khoa học công nghệ và hiệu ứng lan truyền công nghệ từ các quốc gia phát triển Ngoài ra, sự lớn mạnh của các nền kinh tế xung quanh Việt Nam như Malaysia, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia đặc biệt là Trung Quốc cũng là một trong những thử thách đáng

kể ảnh hưởng đến hoạt động của các DNNVV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong việc chiếm lĩnh thị trường, thu hút đầu tư

3.3 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê, kinh tế học cùng với các học giả đã từng nghiên cứu các đề tài có liên quan cũng như bộ số liệu điều tra khảo sát doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội Tác giả thiết kế bảng câu hỏi để tiến hành điều tra, khảo sát 150 doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thu thập thông tin về các nội dung mà tác giả dự định nghiên cứu Sau đó sử dụng phần mềm thống kê STATA để xử lý và lọc ra bộ số liệu để phù hợp nhất Trên cơ sở bộ số liệu đó, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi quy thông qua mô hình Probit và Tobit hai giới hạn để xác địnhcác yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu của các DNNVV TPHCM Trong phương pháp thống kê mô tả, tác giả sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm, đặc trưng riêng biệt của các biến độc lập trong mô hình Đối với phân tích hồi quy: tác giả sử dụng đồng thời cả hai mô hình Probit và Tobit hai giới hạn

Mô hình Probit được dùng để xác định các yếu tố tác động đến quyết định tham gia

xuất khẩu của doanh nghiệp cũng như mức độ tác động của chúng Bởi vì biến phụ thuộc lúc này là biến nhị phân, nhận giá trị không và một Không là không tham gia hoạt động xuất khẩu, một là có tham gia hoạt động xuất khẩu Mô hình Probit được áp dụng với giả định là sai số hồi quy có tính độc lập và phân phối chuẩn

Mô hình Probit giả sử rằng biến phụ thuộc trong mô hình phụ thuộc vào một biến khác không quan sát được gọi là yi* và được xác định như sau:

*

yX e  i 1 N (3.3.1)

Trang 39

Trong đó:

 yi*: nhận giá trị trong khoảng (-∞;+∞)

X i: là vector của các biến độc lập

 : là vector hệ số hồi quy ước lượng

Mô hình Tobit hai giới hạn dùng để đo lường mức độ tác động của các biến độc lập

đến tỷ lệ xuất khẩu vì biến phụ thuộc lúc này được đo lường bằng tỷ lệ xuất khẩu nhận giá trị trong khoảng 0% đến 100% (0%; 100%) Điều này hàm ý rằng, biến phụ thuộc bị chặn dưới và bị chặn trên Không phần trăm có thể là kết quả hoạt động của các doanh nghiệp có tham gia hoạt động xuất khẩu trong những năm trước hoặc trong giấy phép kinh doanh có đăng ký ngành nghề này nhưng trong năm 2015 không có xuất khẩu lô hàng nào Kim ngạch xuất khẩu bằng không có thể vì lý do nào đó như doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hoặc do đối tác không đặt hàng trong năm khảo sát Kim ngạch xuất khẩu 100% áp dụng cho các doanh nghiệp chỉ chuyên về kinh doanh xuất khẩu, không buôn bán ở thị trường nội địa Các doanh nghiệp còn lại sẽ nằm trong giới hạn 0% và 100%, tức là vừa kinh doanh xuất khẩu vừa kinh doanh trong nước

Mô hình Tobit hai giới hạn là một trường hợp đặc biệt của mô hình Probit nhưng

điểm khác là mô hình Tobit hai giới hạn ngoài giá trị 0 và 1 nó có thể nhận các giá trị khác nằm trong khoảng 0 và 1 Mô hình Tobit hai giới hạn được chọn để tiến hành hồi

quy bởi các lý do sau: Mô hình Tobit giả định rằng biến phụ thuộc y có phân phối chuẩn

và bị giới hạn bởi giá trị 0 (không) về phía bên trái và giá trị L về phía bên phải Biến

phụ thuộc y trong đề tài này được đo bằng tỷ lệ phần trăm xuất khẩu trực tiếp trên tổng

Trang 40

doanh thu Nghĩa là giá trị của biến phụ thuộc y nằm trong giới hạn 0% ≤ y ≤ 100% Hay nói cách khác giá trị của biến phụ thuộc y nằm trong giới hạn 0 ≤ y ≤ L (L có thể bằng

1) Tuy nhiên, trong khoảng (0, L) biến phụ thuộc vẫn có thể nhận các giá trị khác ngoài giá trị 0 và 1 Chẳng hạn như, tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp trên tổng doanh thu trong năm nghiên cứu có thể là 0 ( 0%) nếu doanh nghiệp không xuất khẩu trong năm

đó, hoặc có thể là 15%, 25%, 50%, 75% hoặc là 1 (100%) nếu toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp chỉ dành cho xuất khẩu

Đề tài áp dụng mô hình Tobit hai giới hạn dựa theo nghiên cứu của Nelson (1976) và Maddala (1983) để tiến hành hồi quy và phân tích mức độ tác động của các biến độc lập đến tỷ lệ xuất khẩu của các DNNVV

Hàm khả năng của quan sát thứ n của mô hình Tobit hai giới hạn được xác định bởi công thức:

- Yn là giá trị quan sát cảu biến phụ thuộc phân phối chuẩn

- dnj ( j=0,1,2 ): ứng với mỗi quan sát một trong số mũ dnj (j= 0,1,2) sẽ nhận giá trị 1 (một) tuỳ thuộc vào giá trị quan sát yn bằng giới hạn dưới hay giữa hay bằng giới hạn trên Tất cả các số mũ khác sẽ nhận giá trị 0

Hàm Tobit hai giới hạn được biểu hiện qua biến ngầm Y*n như sau:

Ngày đăng: 27/06/2017, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.5.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hình 3.5.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu (Trang 42)
Bảng 4.2.1: Kiểm tra sự tương quan - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2.1 Kiểm tra sự tương quan (Trang 57)
Bảng 4.2.3.2: Tác động biên của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2.3.2 Tác động biên của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định xuất khẩu (Trang 58)
Bảng 4.2.3.1: Các yếu tố tác động đến quyết định xuất khẩu - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2.3.1 Các yếu tố tác động đến quyết định xuất khẩu (Trang 58)
Bảng 4.2.4.1: Mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ xuất khẩu - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUYẾT ĐỊNH THAM GIA XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 4.2.4.1 Mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ xuất khẩu (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm