1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông về khởi nghiệp trên kênh vtv1 đài truyền hình việt nam hiện nay (khảo sát chương trình quốc gia khởi nghiệp, cà phê khởi nghiệp và sáng tạo khởi nghiệp từ tháng 062017

139 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng loạt các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân, thanh niên và sinh viên khởi nghiệp đã được tổ chức như chương trình khởi nghiệp của VCCI, Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, cuộ

Trang 1

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN HỒNG HẠNH

TRUYỀN THÔNG VỀ KHỞI NGHIỆP TRÊN KÊNH VTV1

- ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

(Khảo sát chương trình: “Quốc gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp”

và “Sáng tạo khởi nghiệp” từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017)

Chuyên ngành : Phát thanh - Truyền hình

Mã số : 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Đinh Thị Xuân Hòa

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực khách quan, có xuất xứ rõ ràng Những số liệu, kết luận trong luận văn chưa được sử dụng, công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Hồng Hạnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTV : Biên tập viên CEO : Tổng giám đốc điều hành

DN : Doanh nghiệp DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa ĐTHVN : Đài Truyền hình Việt Nam HĐQT : Hội đồng quản trị

KH&CN : Khoa học và công nghệ

PV : Phóng viên TGĐ : Tổng giám đốc

Trang 5

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Harold Leswell 19

Hình 1.2 Mô hình truyền thông của Claude Shannon 20 Hình 2.1 Ảnh tĩnh của nhân vật được đánh chữ tạo thành clip được sử dụng

trong chương trình “Quốc gia khởi nghiệp” phát sóng ngày 14/10/2017 53

Hình 2.2 Một góc quay đẹp thể hiện được sự vất vả, khó khăn khi theo đuổi

nghề đầu bếp của nhân vật trong hương trình “Sáng tạo khởi nghiệp” phát sóng ngày 25/6/2017 54

Hình 2.3 MC cùng khách mời cùng trải nghiệm mô hình khởi nghiệp ‘Coffee

Bike’ trong chương trình “Sáng tạo khởi nghiệp” số 31 67

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê 3 chương trình khảo sát trên kênh VTV1 từ tháng 6/2017

đến tháng 12/2017 43

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Mức độ quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp trên các phương tiện

thông tin đại chúng 57

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ khán giả xem các chương trình truyền hình khởi nghiệp phát

sóng trên VTV1 62

Biểu đồ 2.3: Nhận xét của khán giả về thời gian phát sóng 70

Biểu đồ 2.4: Mức độ xem các chương trình truyền hình khởi nghiệp phát sóng

trên VTV1 76

Biểu đồ 2.5: Đánh giá của khán giả về số lượng của chương trình truyền thông

về khởi nghiệp 79

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TRUYỀN THÔNG VỀ KHỞI NGHIỆP TRÊN TRUYỀN HÌNH – MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG 14

1.1 Một số khái niệm cơ bản 14 1.2 Nội dung, phương thức truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình 24 1.3 Vai trò; thế mạnh, hạn chế của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình 28 1.4 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình 32

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ KHỞI NGHIỆP TRÊN KÊNH VTV1 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 40

2.1 Khái quát về VTV1 và các chương trình truyền hình khảo sát 40 2.2 Khảo sát thực trạng truyền thông về khởi nghiệp trên VTV1 43 2.3 Đánh giá chung về truyền thông khởi nghiệp trên kênh VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam 56

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG

VỀ KHỞI NGHIỆP TRÊN KÊNH VTV1 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 83

3.1 Vấn đề đặt ra từ thực tiễn 83 3.2 Một số phương pháp chung nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về khởi nghiệp trên kênh VTV1 86 3.3 Một số giải pháp và kiến nghị cụ thể để nâng cao chất lượng truyền thông về khởi nghiệp trên kênh VTV1 95

KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khởi nghiệp là thuật ngữ chỉ những hoạt động của một cá nhân hoặc nhóm người hoặc tổ chức trong việc phát triển sản phẩm; hay thành lập một hình thức, loại hình công việc nào đó có tính chất mới mẻ, rủi ro nhưng lại có tiềm năng phát triển lớn, lợi nhuận cao Khởi nghiệp không dùng để gọi những công việc kinh doanh mới bắt đầu mà chỉ để gọi một nhóm trong những doanh nghiệp khởi sự kinh doanh Đó là các dự án kinh doanh bắt đầu từ số 0 nhưng gắn với

sự sáng tạo rất mạnh và tạo thành mô hình kinh doanh cho phép nhân rộng nhanh với tốc độ tăng trưởng liên tục và mạnh Các doanh nghiệp mới thành lập ngoài việc đóng góp vào GDP của nền kinh tế còn tạo nhiều việc làm cho xã hội

và làm giàu cho bản thân chủ doanh nghiệp

Ở châu Âu và Mỹ, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp được coi là hạt nhân cho tăng trưởng kinh tế Các trường đại học ở Mỹ luôn tiên phong thúc đẩy đào tạo khởi sự kinh doanh trong nhà trường Học viện Công nghệ MIT hàng năm có khoảng 150 công ty mới được thành lập, hiện nay MIT có tổng số 5000 doanh nghiệp đã được thành lập tuyển dụng 1,1 triệu nhân viên và có doanh thu trung bình năm lên tới 230 tỷ USD Trường Stanford hiện có 1200 công ty do sinh viên trường sáng lập trong ngành công nghệ cao Các quốc gia trên thế giới như Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ,… đều có kế hoạch quốc gia và các hỗ trợ chính sách thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp nhỏ

Việt Nam sở hữu một môi trường kinh doanh thuận lợi cho khởi nghiệp kinh doanh như nền kinh tế tăng trưởng nhanh, dân số đông nên đã có những công ty khởi nghiệp thành công như Công ty Thương mại điện tử Vatgia có tốc

độ tăng trưởng trung bình 40 - 45% trong khoảng 3 năm trở lại đây và có trị giá khoảng 75 triệu USD; hay VNG (tiền thân của VinaGame) Ở Việt Nam, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được xã hội công nhận bằng việc đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của đất nước, với GDP chiếm

Trang 8

khoảng 45% tổng GDP của cả nước, hàng năm thu hút hơn 90% lao động mới vào làm việc

Theo thống kê, quý I.2017, cả nước có thêm 26.478 doanh nghiệp thành lập mới, con số cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây Trước đó, trong năm

2016, Việt Nam ghi nhận con số kỷ lục khi có tới 110.100 doanh nghiệp thành lập mới, mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là lần đầu tiên Việt Nam có hơn 100.000 doanh nghiệp thành lập mới trong một năm Đây chính là kết quả của tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ mà Chính phủ khởi xướng từ đầu năm 2016

Có thể nói, phong trào khởi nghiệp kinh doanh ở nước ta đang nhận được

sự quan tâm, hỗ trợ và đồng hành không chỉ của Nhà nước, cộng đồng xã hội mà còn có cả các cơ quan thông tấn báo chí từ trung ương đến địa phương Hàng loạt các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân, thanh niên và sinh viên khởi nghiệp đã được tổ chức như chương trình khởi nghiệp của VCCI, Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, cuộc thi “Thắp sáng tài năng kinh doanh trẻ”, chương trình truyền hình “Làm giàu không khó”, “Quốc gia khởi nghiệp”,

“Sáng tạo khởi nghiệp”,… Chính phủ cũng đã có chính sách khuyến khích và thúc đẩy thành lập doanh nghiệp và trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tích cực triển khai các hoạt động trợ giúp doanh nghiệp như việc thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân dân,… Đặc biệt, lực lượng báo chí và đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báo khắp cả nước đã liên tục sát cánh cùng phong trào khởi nghiệp, tích cực tham gia truyền thông về khởi nghiệp

Việc truyền thông hỗ trợ khởi nghiệp của các cơ quan báo chí trong thời gian gần đây là khá tích cực, nhanh nhạy, tuy nhiên vẫn còn thiếu các phân tích chuyên sâu, nhiều chiều về từng vấn đề, các dự án khởi nghiệp Phần lớn các kênh truyền thông chính của khởi nghiệp đang chạy đua trong cập nhật nhưng thông tin và xu hướng mới nhất trên thế giới thay vì tập trung tìm hiểu và phân tích thực trạng của khởi nghiệp Việt Nam như phát triển thiếu tính bền vững với tỷ lệ “chết” lên đến 80% trong ba năm đầu tiên (theo một nghiên cứu sơ bộ) hay khoảng cách trong quan điểm của những người nước ngoài về xây

Trang 9

dựng vốn cho khởi nghiệp tại Việt Nam, dẫn đến thông tin chiều sâu thì thiếu

mà thông tin bề nổi bị bão hòa, gây nhiễu trong định hướng phát triển của các đơn vị khởi nghiệp trẻ Truyền thông khởi nghiệp cũng là “con dao hai lưỡi”,

có thể khiến công ty khởi nghiệp đi chệch hướng, không tập trung vào phát triển sản phẩm

Thông tin về khởi nghiệp đang xuất hiện hàng ngày, hàng giờ trên các tờ báo, trang báo, các đài phát thanh, truyền hình Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Đài Truyền hình Việt Nam đã thể hiện được rõ ràng trọng trách của mình trong việc truyền thông vấn đề khởi nghiệp, điều này đã được phản ánh nhiều ở các kênh VTV1, VTV6, VTV4,… Trong đó, nội dung này nhiều và rõ nét nhất được phản ánh ở kênh VTV1 – kênh truyền hình quảng bá với nội dung tổng hợp về mọi mặt lĩnh vực về đời sống chính trính, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập trong việc truyền thông về vấn đề khởi nghiệp như công tác truyền thông trên kênh VTV1 chưa mang lại những hiệu quả thiết thực, chưa thực sự thu hút được sự quan tâm và chú ý của khán giả, cũng như cung cấp những thông tin hữu ích cho những nhà khởi nghiệp,…

Đó chính là những vấn đề chính đặt ra trong bối cảnh hoạt động khởi nghiệp đang diễn ra rầm rộ ở Việt Nam Trước thực trạng này, cần có những công trình nghiên cứu để khái quát thực trạng, tổng kết thực tiễn, kiến giải những giải pháp để nâng cao chất lượng truyền thông về vấn đề khởi nghiệp trên

truyền hình Với những lý do này, tôi xin chọn nghiên cứu đề tài “Truyền thông

về khởi nghiệp trên kênh VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam hiện nay (Khảo sát chương trình: “Quốc gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp” và “Sáng tạo khởi nghiệp” từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017) làm luận văn tốt nghiệp bậc

Thạc sỹ với mong muốn góp một phần kiến giải những vấn đề nêu trên

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu tài liệu để nghiên cứu về đề tài,có một số công trình nghiên cứu khoa học như sách, luận văn, giáo trình, bài giảng liên quan gần với đề tài, có thể tham khảo, xin tóm lược như sau:

Trang 10

* Nhóm thứ nhất: sách, giáo trình, tài liệu:

- Cuốn ‘Cơ sở lý luận của báo chí’ của E.P.Prokhorop (2004), Nxb Thông

Tấn, Hà Nội

Nội dung cuốn sách tập trung chỉ ra vị trí, vai trò của báo chí trong hệ thống các thiết chế xã hội Chính sách nhà nước trong lĩnh vực thông tin đại chúng Hiệu lực của báo chí, tính hiệu quả với tư cách là tính kết quả của sự tiếp xúc với công chúng

- Cuốn ‘Giáo trình báo chí truyền hình’ của tác giả Dương Xuân Sơn,

xuất bản năm 2009, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

Cuốn giáo trình này đã đề cập các lý thuyết chung về loại hình truyền hình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò, đặc điểm… của thể loại tác phẩm truyền hình như: khái niệm về tin, phỏng vấn, phóng sự, phim tài liệu, chương trình truyền hình,…

- Cuốn ‘Cơ sở lý luận bái chí’ của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, xuất bản

năm 2012, Nxb Lao động, Hà Nội

Nội dung cuốn sách đã làm rõ hệ thống lý thuyết về truyền thông như: khái niệm về báo chí, truyền thông, những đặc điểm cơ bản của báo chí truyền hình; đối tượng tác động, cơ chế tác động của báo chí và những chức năng cơ bản của báo chí Công chúng báo chí là gì, công chúng đích của báo chí, công

chúng trực tiếp và vai trò của công chúng đối với báo chí

- Cuốn ‘Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản’ của PGS.TS Nguyễn Văn

Dững, PGS Đỗ Thị Thu Hằng, xuất bản năm 2012, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Nội dung cuốn sách đã tập trung làm rõ các quan niệm về truyền thông,

mô hình truyền thông hai chiều, lý thuyết truyền bá cái mới và lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng, các chức năng cơ bản của truyền thông đại chúng, các nghiên cứu về công chúng – nhóm đối tượng Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, chi phối, điều chỉnh mà còn quyết định vai trò, vị thế của sản phẩm báo chí Tác giả đã nghiên cứu công chúng trên ba bình diện là nhân khẩu học xã hội, thực trạng nhận thức và thói quen, sở thích của công chúng

Trang 11

Bên cạnh cách giáo trình, tài liệu thì cũng có nhiều công trình nghiên cứu,

đề án về khởi nghiệp để xây dựng chiến lược, dự án, chương trình, kế hoạch cuộc, thi khởi nghiệp cho sinh viên, phụ nữ hay thanh niên như:

- ‘Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng

khởi nghiệp của sinh viên’ (2011) của Bùi Huỳnh Tuấn Duy, Lê Thị Lin, Đào

Thị Xuân Duyên, Nguyễn Thu Hiền, Tạp chí Phát triển KH&CN, tập 14, số Q3, 9/2011, trang 68 – 82

Bài nghiên cứu này hướng đến tìm hiểu các yếu tố tác động đến tiềm năng khởi nghiệp và kết quả cho thấy có 7 yếu tố tính cách cá nhân ảnh hưởng đến tiền năng khởi nghiệp của sinh viên Từ đó đem lại các hàm ý quản lý có ý nghĩa cho các nhà quản lý giáo dục trong việc xây dựng các chương trình khơi dậy và phát triển tiềm năng khởi nghiệp trong sinh viên

- ‘Nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam – Thực trạng và một số

kiến nghị’ (2012) của Phạm Văn Nam, Tạp chí Lao động Xã hội, số 440,

10/2012, trang 17-19

Nội dung bài nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam hiện nay, thiếu thời lượng thực tế và thiếu đào tạo kỹ năng mềm Đồng thời đưa ra các giải pháp, kiến nghị để tăng cường tính thực tiễn cũng như kinh nghiệm thực tế trong các doanh nghiệp cho sinh viên

- ‘Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại Thành phố Hồ Chí Minh’

(2013) của Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi, tạp chí Phát triển kinh

tế, số 271, 5/2013, pp 10-22

Bài nghiên cứu này điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM Đây là điểm mà các nhà hoạch định chính sách chính phủ, các tổ chức xã hội và các cá nhân quan tâm cần biết để đề ra các đường lối đúng đắn trong việc thúc đẩy khởi nghiệp từ một nguồn lực quý giá này, gia tăng lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát triển kinh tế quốc gia

- ‘Đánh giá tình trạng việc làm của sinh viên chính quy tốt nghiệp Trường

Đại học Kinh tế Quốc dân – Kết quả từ một cuộc khảo sát’ (2013) của Nguyễn

Trang 12

Quang Dong, Lê Anh Đức, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 189, 3/2013, trang

90 – 99

Nội dung bài nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng khởi nghiệp ở sinh viên Việt Nam còn thấp, phần lớn sinh viên ra trường đều có xu hướng đi đăng ký tuyển dụng ở các doanh nghiệp đang hoạt động, rất ít người muốn khởi nghiệp kinh doanh riêng

- ‘Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên

khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng ở thành phố Cần Thơ’ (2016) của Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc

Thanh, Tạp chí Nghiên cứu khoa học, số 10, 2/2016, trang 55 - 64

Nội dung của bài nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp cũnh như đề xuất một số khuyến nghị để nâng cao nhận thức và phát triển ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố Cần Thơ

- ‘Hướng tới mục tiêu quốc gia khởi nghiệp’ (2016) của ThS Trịnh Đức

Chiều, Tạp chí Tài chính, kỳ 1, 9/2016

Bài nghiên cứu nói lên quá trình hội nhập và khởi nghiệp ở Việt Nam cũng như chỉ ra những kết quả đã đạt được Bên cạnh đó còn chỉ ra những khó khăn và thách thức trong môi trường khởi nghiệp Việt Nam, đề xuất một số chính sách, giải pháp để có được hình ảnh của quốc gia khởi nghiệp

- ‘Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp: Thực trạng và giải pháp’ (2017) của

TS Nguyễn Hoàng Huy, Tạp chí Công thương, 31/05/2017, 17:00

Bài viết nghiên cứu các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp hiện nay tại Việt Nam và đưa ra 6 nội dung cơ bản liên quan đến chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cần ưu tiên đầu tư Từ đó, đề xuất một số giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới

- ‘Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng

công nghiệp lần thứ tư’ (2017) của Bùi Nhật Quang, Tạp chí Khoa học xã hội

Việt Nam, số 10, 9/2017, trang 36 – 43

Trang 13

Nội dung của bài nghiên cứu đánh giá đầy đủ về hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, coi đó như một giải pháp phù hợp, một cách thức ứng phó hiệu quả để tranh thủ các cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến cho Việt Nam

- ‘Phân tích thực trạng tinh thần khởi nghiệp của doanh nhân Việt Nam

trong thời kỳ hội nhập’ (2018) của ThS Nguyễn Thị Thanh Tâm, Tạp chí Công

Thương, 26/11/2018, 10:08

Bài viết giới thiệu khái quát tinh thần khởi nghiệp của các doanh nhân trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, trên cơ sở đó phân tích thực trạng về tinh thần khởi nghiệp kinh doanh của doanh nhân Việt Nam để đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp trở thành động lực phát triển cho các doanh nghiệp

*Nhóm thứ hai: các luận văn, luận án:

- ‘Mối quan hệ giữa kỹ năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh

doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh’, luận văn thạc sĩ của

Lý Thục Hiền, Đại học Kinh tế Tp HCM, 2010

Nội dung luận văn đã tập trung đề cập đến vai trò của kỹ năng chính trị, bao gồm năng lực mạng lưới, sự sắc sảo xã hội, ảnh hưởng cá nhân lẫn nhau và

sự chân thành rõ ràng đối với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên

- ‘Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam’,

luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Nam, Đại học Bách khoa Tp HCM, 2011

Nội dung luận văn đã nghiên cứ về tác động của tính cách cá nhân tới dự định khởi nghiệp kinh doanh cũng như đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ Việt Nam

- ‘Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh

của sinh viên đại học’, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Thủy, Đại học Kinh tế

Quốc dân, 2015

Nội dung luận án đã tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng, tác động tích cực tới khía cạnh tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên Đưa ra một số gợi ý,

Trang 14

khuyến nghị cho các trường đại học và các cơ quan quản lý vĩ mô để thúc đẩy tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Việt Nam

- ‘Ảnh hưởng của năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp

đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào’, luận án tiến sĩ

kinh tế của Sattakoun Vannasinh, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2017

Luận án đã đánh giá ảnh hưởng của năng lực của nhà khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ tại Lào

- ‘Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh’, luận văn thạc sĩ của Trương Đặng Thu Hiền, Học viên Khoa học xã

hội, 2018

Nội dung luận văn nêu rõ về các chính sách khuyến khích thanh niên khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu, tìm hiểu về quá trình thực hiện chính sách khởi nghiệp cho thanh niên Qua đó, đánh giá chính sách khởi nghiệp đã được ban hành cần phải điều chỉnh, bổ sung những gì và tìm ra giải pháp thực hiện tốt chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp

- ‘Thông điệp truyền thông về doanh nghiệp khởi nghiệp trên báo điện tử Việt Nam hiện nay’, luận văn thạc sỹ của Đào Thị Thúy Ngọc, Đại học

KHXH&NV, 2018

Luận văn đánh giá về công tác thông tin doanh nghiệp khởi nghiệp, đồng thời chỉ ra những thành công, hạn chế và đưa ra những giải pháp truyền thông đối với các báo điện tử trong hoạt động truyền thông về doanh nghiệp khởi nghiệp

Qua tìm hiểu đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài có thể thấy, các nghiên cứu phân tích, đánh giá công tác truyền thông và vấn đề khởi nghiệp cũng đã được quan tâm nghiên cứu nhưng truyền thông về vấn đề khởi nghiệp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam thì chưa có một công trình nghiên cứu riêng nào đề cập một cách bài bản Đây là đề tài mới, không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào đã được công bố, cần được thực hiện, đi sâu nghiên cứu, phân

Trang 15

tích cũng như đánh giá nhu cầu của công chúng, nhu cầu được trang bị kỹ năng truyền thông về vấn đề khởi nghiệp của những người làm báo truyền hình

Vậy nên tôi đã lựa chọn đề tài “Truyền thông về khởi nghiệp trên kênh

VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay” (Khảo sát chương trình: “Quốc gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp” và “Sáng tạo khởi nghiệp”từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017) để nghiên cứu với mong muốn giải quyết sâu

những vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu và trong thực tiễn Trong luận văn, tác giả xin sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước và coi đó là tiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát cụ thể một số chương trình truyền hình khởi nghiệp, mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm bổ sung thông tin khoa học về thực trạng hoạt động truyền thông về khởi nghiệp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay; đưa ra giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về khởi nghiệp trên ĐTHVN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm

vụ sau:

- Thứ nhất: Nghiên cứu các văn bản về chủ trương, chính sách, pháp luật

của Đảng và Chính phủ về việc khởi nghiệp phát triển sáng tạo ở Việt Nam, cũng như vai trò, nhiệm vụ của truyền thông khởi nghiệp

- Thứ hai: Khảo sát thực trạng sản xuất, nội dung, hình thức phát sóng

của 30 chương trình “Quốc gia khởi nghiệp”, 155 chương trình “Sáng tạo khởi nghiệp” và 30 chương trình “Sáng tạo khởi nghiệp” ở ĐTHVN để rút ra các kết luận và chứng cứ khoa học nhằm đánh giá khách quan hiệu quả hoạt động truyền thông khởi nghiệp trên kênh VTV1 của ĐTHVN

- Thứ ba: Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng

chương trình và hiệu quả thông tin về khởi nghiệp ở ĐTHVN

Trang 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu: truyền thông về khởi nghiệp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay

4.2 Đối tượng khảo sát

- Các chương trình truyền hình truyền thông về vấn đề khởi nghiệp trên kênh VTV1

Chúng tôi chỉ chọn kênh VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam để khảo sát bởi vì trên sóng truyền hình hiện nay, các chương trình chính luận tuy không chiếm số lượng lớn nhưng luôn là những chương trình ‘đinh’ của các đơn vị truyền hình, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nội dung chương trình Đặc biệt, ở những cơ quan báo chí nhà nước, điều này càng đúng do mật độ xuất hiện của các chương trình loại này dày đặc hơn Trong đó, VTV1 là kênh thông tin – thời sự - chính luận tổng hợp của Đài Quốc gia, phủ sóng khắp cả nước VTV1 cũng là kênh đang có số lượng chương trình chuyên sâu về chủ đề này nhiều nhất Các chương trình không chỉ được phát ở kênh VTV1 mà còn được phát lại

ở kênh VTV6

Chúng tôi chọn 3 chương trình để khảo sát đó là các chương trình:“Quốc

gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp” và “Sáng tạo khởi nghiệp” Đây là 3

chương trình thể hiện rõ nét nhất vai trò của truyền hình trong việc tuyên truyền

về vấn đề khởi nghiệp và đây cũng là những chương trình được đánh giá là có hiệu quả truyền thông lớn về vấn đề này trên Đài Truyền hình Việt Nam thời gian gần đây, nhận được sự quan tâm cao của đông đảo khán giả

- Một số nhà báo, nhà lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là các phóng viên,biên tập, những người trực tiếp làm các chương trình trên kênh VTV1

- Khán giả truyền hình - đây là những người đón nhận và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các chương trình phát sóng

Trang 17

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu việc chất lượng truyền thông về vấn đề khởi nghiệp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay

- Về thời gian khảo sát: Luận văn khảo sát hoạt động truyền thông ở 3

chương trình truyền hình là: “Quốc gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp” và

“Sáng tạo khởi nghiệp” trong 6 tháng từ tháng 06/2017 đến tháng 12/2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khởi nghiệp, về truyền thông và về báo chí nói chung, truyền hình nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, có sử dụng kết hợp một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng nhằm

thu thập, nghiên cứu, kế thừa những tài liệu đã được các tác giả công bố nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài này Trên cơ sở đó, sử dụng để so sánh, minh họa cho các kết quả khảo sát của mình, khẳng định những đóng góp mới của luận văn mình thực hiện

-Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê tài liệu, con số, dữ liệu có

được trong quá trình khảo sát

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để đánh giá các số

liệu, các kết quả khảo sát và rút ra những luận điểm khoa học, từ đó đề xuất những giải pháp cần thiết nhằm phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm, góp phần đổi mới các hình thức, thông tin về vấn đề khởi nghiệp…

- Phương pháp điều tra xã hội học:

Phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng, thu nhập ý kiến của công chúng đánh giá, nhận xét về chương trình truyền hình, tác động của chương trình và nhu cầu tiếp nhận thông tin về vấn đề khởi nghiệp trên sóng Đài

Trang 18

Truyền hình Việt Nam Cụ thể, tác giả lập bảng hỏi gồm 15 câu hỏi và 250

phiếu hỏi online được phát ngẫu nhiên cho công chúng xem truyền hình chủ

yếu sống ở Hà Nội như sinh viên, công nhân viên chức, lao động tự do, Từ

kết quả điều tra xã hội học, tác giả qua đó thu nhận những thông tin cần thiết

cho việc nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu với 1

lãnh đạo Ban Thời sự, 02 nhà báo, biên tập viên phụ trách sản xuất các chương

trình khởi nghiệp “Quốc gia khởi nghiệp”, “Cà phê khởi nghiệp” và “Sáng tạo

khởi nghiệp” trên kênh VTV1 Bên cạnh đó, cũng phỏng vấn 02 chuyên gia,

doanh nhân về tầm quan trọng của truyền thông khởi nghiệp trên truyền hình

Qua đó nhằm thu thập ý kiến, nhận xét một cách chính xác và khách quan để

làm cơ sở đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa lý luận

Truyền thông về phong trào khởi nghiệp là một vấn đề cấp thiết hiện

nay Có không ít tài liệu, cuốn sách nghiên cứu về truyền thông trên báo chí

truyền hình cũng như tình hìnhphong trào khởi nghiệp Tuy nhiên, hầu như

chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về việc truyền thông về vấn đề

khởi nghiệp trên sóng Đài truyền hình Việt Nam Vì vậy, hy vọng kết quả

nghiên cứu sẽ góp phần đóng góp, bổ sung thêm về cả phần lý luận và thực

tiễn về báo chí, truyền thông về vấn đền khởi nghiệp

Đồng thời qua đó làm nổi bật vai trò của truyền hình trong truyền thông

về vấn đề khởi nghiệp Đặc biệt là cụ thể hóa các chính sách của Đảng và Nhà

nước để tiếp cận và thực hiện trong tương lai

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Mặc dù đây là một đề tài được nghiên cứu ở một góc độ hẹp nhưng thực

tế cho thấy lại có ý nghĩa thiết thực, thực tiễn cao Nếu luận văn nghiên cứu

thành công, kết quả sẽ là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn liên

quan đến công tác truyền thông về vấn đề khởi nghiệp tại các cơ quan báo chí

Trang 19

nói chung và tại Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng Góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông, cơ quan báo chí nắm bắt được nhu cầu của công chúng để sản xuất các chương trình truyền thông về vấn đề khởi nghiệp phù hợp với từng đối tượng Đồng thời giúp các nhà báo viết về khởi nghiệp xác định những kiến thức

và kỹ năng khi viết về vấn đề khởi nghiệp hiện nay

Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài này cũng là cơ hội để tác giả tổng hợp, vận dụng các kiến thức đã học, đặc biệt là thời gian học Cao học chuyên ngành Phát thanh - Truyền hình tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền để luận giải vấn

đề nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình - Một số lý luận chung

Chương 2: Thực trạng truyền thông về khởi nghiệp trên kênh VTV1 -

Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về khởi nghiệp trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam thời gian tới

Trang 20

Chương 1 TRUYỀN THÔNG VỀ KHỞI NGHIỆP TRÊN TRUYỀN HÌNH

– MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khởi nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo

Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt được giải nghĩa là bắt đầu

sự nghiệp Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khác nhau Đến đầu thế kỉ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người

khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó Khởi nghiệp (Entrepreneural)

thường được nhiều người hiểu theo nghĩa rộng là khởi sự doanh nghiệp Nó thường liên quan đến các hoạt động chuẩn bị cho cá nhân như tìm ý tưởng kinh doanh, tìm hiểu thị trường, điều kiện sẵn có về tài chính, nhân lực… Khởi nghiệp là việc cá nhân tự làm chủ, tự mở công ty [12; tr.12] Khái niệm này

được giải thích chủ yếu theo nghĩa rộng nên phần nào vẫn mang tính khái quát, việc hiểu nó đòi hỏi phải hiểu được một số khái niệm khác nên về cơ bản là khó hiểu

Theo businessdictionary.com thì “Khởi nghiệp là giai đoạn đầu trong

vòng đời của một doanh nghiệp (DN) khi chủ DN đó chuyển từ giai đoạn ý tưởng sang giai đoạn đảm bảo được nguồn tài chính, hình thành cơ cấu cơ bản của DN và bắt đầu có những hoạt động hoặc trao đổi thương mại” [50] Với

cách định nghĩa này, nội hàm cơ bản của khởi nghiệp là giai đoạn DN bắt đầu kinh doanh nói chung, nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các DN trong giai

đoạn đầu thành lập

Theo Cơ quan phát triển DN nhỏ và vừa Hoa Kỳ đưa ra: “Khởi nghiệp lại

là đơn vị kinh doanh với đặc thù phát triển dựa trên định hướng công nghệ và

có khả năng tăng trưởng nhanh” [50] Quan niệm này đã dễ hiểu hơn bởi sự đơn

giản, định danh và không giải thích vòng vo

Trang 21

Đối với giới học thuật, “khởi nghiệp là quá trình một cá nhân hay nhóm

tìm kiếm và theo đuổi một cơ hội kinh doanh” hoặc đó là “quá trình sáng tạo ra giá trị bằng cách huy động các nguồn lực để tận dụng cơ hội” hoặc đó là “quá trình biến các ý tưởng kinh doanh ban đầu trở thành hiện thực” [33]

Nhìn một các tổng quan có thể thấy khái niệm “khởi nghiệp” đã được nhắc tới trong các quan niệm nêu trên khá đa dạng, có thể cách trình bày khác nhau tuy nhiên nội dung đã tập trung nêu rõ tính chất, nội hàm của khái niệm này Và tựu chung “khởi nghiệp” đó là quá trình thực hiện ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp, đề cập tới việc một cá nhân hay nhóm người khởi sự công việc kinh doanh và theo đuổi con đường kinh doanh như một lựa chọn nghề nghiệp Đây có thể xem là khởi nghiệp tự doanh, hay nói cách khác là tương tự với khởi sự doanh nghiệp

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây có một khái niệm khởi nghiệp được nhắc rất nhiều đó là Startup – khởi nghiệp sáng tạo Ban đầu thuật ngữ

“Startup” thường được dùng với nghĩa hẹp để chỉ các hoạt động khởi nghiệp hoặc công ty khởi nghiệp về công nghệ Nguyên nhân của điều này đến từ việc thành công của một ngành công nghiệp mới - công nghệ thông tin trong giai đoạn 1990 và bởi đây là những ngành mới phát triển gắn mật thiết với sự đổi mới và sáng tạo [16] Theo thời gian khái niệm này đã chuyển hóa dần và hiện nay thuật ngữ Startup được dùng chung cho các hoạt động khởi nghiệp trong tất

cả các lĩnh vực, ngành nghề

Khởi nghiệp sáng tạo (startup) là khởi nghiệp dựa trên nền của sáng tạo Tức là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có sự khác biệt không chỉ với các doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây

và cả với các doanh nghiệp khác trên thế giới Vì đặc điểm đó nên doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhanh chóng thu hút được đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh, ví dụ như Facebook, Google chỉ trong 2-3 năm đã phát triển để trở thành các tập đoàn lớn

Trang 22

Tại Việt Nam, phải cho đến năm 2016 thì văn bản chính thức đầu tiên liên quan tới khởi nghiệp mới được ban hành Đó là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” Đề án này đã làm rõ khái niệm của Việt Nam về

doanh nghiệp khởi nghiệp là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng

nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới”

[52; tr.37]

Ở góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và

vừa năm 2017 định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là

doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh” [38]

Nếu bỏ qua yếu tố nhỏ và vừa thì doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 được xác định trên cơ

sở 03 tiêu chí:

- Thứ nhất, về tư cách pháp lý: Phải là doanh nghiệp

- Thứ hai, về hoạt động: Phải dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới

- Thứ ba, về triển vọng: Có khả năng tăng trưởng nhanh

Nói đơn giản, startup phải bảo đảm được hai yếu tố là “start” và “up”

“Start” có nghĩa là bạn bắt đầu với một ý tưởng mới, hoặc nếu ý tưởng đó không mới thì cách làm phải đột phá và thường thì gắn với ứng dụng công nghệ Còn

“up” liên quan đến khả năng thương mại hóa và quy mô của thị trường, nghĩa là

ý tưởng đó phải có khả năng được triển khai trong thực tế, có khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng, đồng thời phải có khả năng mở rộng được để “up” trong thời gian càng nhanh càng tốt [21]

Trên cơ sở phân tích nêu trên kết hợp với thực tiễn có thể khái quát: khởi

nghiệp sáng tạo (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để

Trang 23

nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh

1.1.2 Truyền thông

Truyền thông (communication) là truyền đạt trao đổi ý nghĩa và ý kiến, thông điệp qua các phương tiện hình ành, âm thanh hoặc chữ viết

Truyền thông có gốc tiếng Mĩ La Tinh là “communicare” có nghĩa là biến

nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải Truyền thông được mô tả như việc truyền ý nghĩa thông tin, ý tưởng, ý kiễn hoặc kiến thức, từ một số người hoặc một nhóm người bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu

Có thể nói truyền thông bao hàm ý nghĩa hết sức rộng lớn Hiện nay trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông

Trên thế giới, theo quan niệm của Martin P.Adelsm thì: “Truyền thông là

quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống” [7; tr.11] Theo quan niệm này, truyền thông được nhìn nhận là

một quá trình luôn thay đổi, có chủ thể truyền thông và đối tượng tiếp nhận truyền thông Nhiệm vụ của truyền thông chính là truyền tải thông tin làm sao để chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông hiểu được lẫn nhau

Bên cạnh đó, truyền thông còn được nhìn nhận một cách khái quát và cũng có thể rất cụ thể Với cách khái quát về truyền thông, Frank Dance (1970)

cho rằng: “Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của

một hoặc một vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người” [7;

tr.11]; còn với cách nhìn nhận cụ thể, Dean C – Banrlund (1964) thì cho rằng:

“Truyền thông là quá trình liên tục nhằm giảm độ không rõ rằng để có thể có hành vi hiệu quả hơn” [6; tr.13]

Tại Việt Nam, khái niệm này xuất hiện khá muộn Trong lần xuất bản năm 2001, Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng đã đưa ra cách hiểu

chung nhất và trừu tượng nhất về truyền thông là quá trình “truyền dữ liệu giữa

Trang 24

các đơn vị chức năng” [41; tr.1017] Ở các từ điển xuất bản trước đó, khái niệm

này còn chưa được đề cập đến

PGS, TS Tạ Ngọc Tấn đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về

truyền thông: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên

hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [34;

tr.8] Theo quan điểm này, truyền thông là việc chuyển đổi thông tin và nhận thức được ý nghĩa của những biểu tượng được truyền từ người này sang người khác, đó là tiến trình gởi, nhận và chia sẻ các ý tưởng, quan điểm, ý kiến và các sự kiện

PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn sách “Báo chí truyền thông hiện đại – Từ hàm lâm đến đời thường” đã đưa ra quan niệm truyền thông như sau:

“Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững” [5; tr.10] Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích

truyền thông Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều diễn

ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng

Ngoài ra có hàng trăm định nghĩa về truyền thông Tuy nhiên các quan niệm này có những điểm chung và những nét tương đồng rất cơ bản Trên cơ sở phân tích những quan niệm về truyền thoog ở trên, kết hợp với thực tiên xin khái

quát: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình

cảm, kĩ năng, nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi

và nhận thức

Như vậy có thể hiểu bản chất của truyền thông đó là:

+ Truyền thông là một quá trình tức là không phải việc làm tức thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta

Trang 25

chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đấy Đấy là quá trình trao đổi, chia sẻ, nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không phải là một bên cho một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận

+ Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa

* Mô hình truyền thông:

Trong lịch sử vận động và phát triển của truyền thông, người ta thấy lần lượt xuất hiện 2 mô hình chính Đó là mô hình truyền thông một chiều áp đặt và

mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo

Mô hình truyền thông một chiều do Harold Leswell, nhà xã hội học Mỹ

đã đưa ra vào năm 1948 – mô hình được nhắc đến nhiều nhất [25; tr.28]

Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Harold Leswell

Đây là mô hình truyền thông đơn giản, song rất thuận lợi khi cần chuyển những thông tin khẩn cấp Tuy nhiên trong mô hình này, những thông tin phản hồi từ phía đối tượng tiếp nhận như là một yếu tố quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông lại chưa đề cập đến

Để khắc phục những nhược điểm của mô hình truyền thông một chiều, năm

1949, Claude Shannon đã đưa ra mô hình truyền thông hai chiều, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận Vì thế, mô hình này thể hiện rõ hơn tính tương tác, bình đẳng cũng như sự chuyển đổi giữa chủ thể và khách thể truyền thông trong quá trình giao tiếp Đồng thời cũng chú ý đến hiệu quả truyền thông có phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông hay không

Trong mô hình này, Claude Shannon cho rằng thông tin sẽ bắt đầu từ nguồn phát (S), thông qua các kênh truyền thông để đến với người nhận (R) và thu được hiệu quả truyền thông (E)

Trang 26

Hình 1.2 Mô hình truyền thông của Claude Shannon

Các yếu tố trong mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon bao gồm:

S (Source, Sender): Nguồn phát, chủ thể truyền thông

M (Messager): Thông điệp, nội dung truyền thông

C (Channel): Kênh truyền thông

R (Receiver): Người nhận thông điệp (đối tượng)

E (Effect): Hiệ quả truyền thông

N (Noise): Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp)

F (Feedback): Phản hồi

Lý giải tường tận dựa trên mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon, trong cuốn sách “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã nêu chi tiết các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông [6; tr.13]:

Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình

truyền thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác

Thông điệp: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối

tượng tiếp nhận, chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật,… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu – tức là có khả năng giải mã Tiếng nói,

Trang 27

chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người sử dụng để truyền tải thông điệp

Kênh truyền thông: Là các phương tiện, con đường, cách thức truyền tải

thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện,…

Người nhận: Là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong

quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen với nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước

Phản hồi/Hiệu quả: Là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ

người nhận trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả của hoạt động truyền thông Trong một số trường hợp, mạch phản hồi bằng không hoặc không đáng kể Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạo được sự quan tâm của công chúng

Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá

trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật,…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch

Bên cạnh đó, quá trình truyền thông còn tính đến hai yếu tố khác là hiệu lực và hiệu quả truyền thông Hiệu lực có thể hiểu là khả năng gây ra và thu hút

sự chú ý cho công chúng – nhóm đối tượng truyền thông Hiệu quả là những hiệu ứng xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng do truyền thông tạo ra, phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau

Trang 28

1.1.3 Truyền thông về khởi nghiệp

Từ phân tích khái niệm về “truyền thông” và khái niệm “khởi nghiệp”

như nêu trên kết hợp với thực tiễn có thể khái quát: “Truyền thông khởi nghiệp

là quá trình trao đổi liên tục những thông tin về khởi nghiệp giữa chủ thể truyền thông khởi nghiệp với công chúng, nhằm nâng cao nhận thức xã hội về khởi nghiệp, vai trò của khởi nghiệp đối với phát triển đất nước”

Truyền thông khởi nghiệp góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, khai phóng sức mạnh nội sinh của từng cá nhân, một thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp kiểu mới tận tụy nghiên cứu; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tới cộng đồng khởi nghiệp và doanh nghiệp trên toàn quốc, tạo diễn đàn để những doanh nghiệp khởi nghiệp nói lên vấn đề của họ, đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung kiến nghị, đề xuất và phản biện chính sách, trong bối cảnh Việt Nam mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới như hiện nay; thúc đẩy khát vọng khởi nghiệp, làm cầu nối cho những ước mơ khởi nghiệp, cung cấp tri thức, kinh nghiệm phát triển của thế giới trong nhiều lĩnh vực và quan trọng hơn

cả là lan tỏa những thông tin hữu ích, thiết thực và truyền cảm ứng phát triển cho xã hội

Có thể nói truyền thông đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng hệ sinh thái trên internet cũng như mạng xã hội Truyền thông với vai trò và sứ mệnh là nguồn động lực, là cầu nối giữa Startup với công chúng, với các nhà đầu tư cần phát huy hơn nữa lợi thế, chức năng của mình Qua đó cùng chung tay giúp những ý tưởng trở thành hiện thực, đồng thời xây dựng một cộng đồng khởi nghiệp lớn mạnh, bền vững và phát triển

Như vậy, khái niệm truyền thông về khởi nghiệp bao gồm:

Chủ thể truyền thông: Chính là nơi nguồn thông tin về khởi nghiệp

được phát ra Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về khởi nghiệp

Nội dung truyền thông: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát

(chủ thể truyền thông) đến đối tượng tiếp nhận, chính là thông tin, thông điệp về

Trang 29

khởi nghiệp, liên quan đến khởi nghiệp; là tâm tư, tình cảm, mong muốn của những người liên quan đến vấn đề khởi nghiệp gửi đến công chúng (doanh nhân, doanh nghiệp, những người quan tâm…)

Kênh truyền thông và phương pháp truyền thông: Bên cạnh hình thức

truyền thông trực tiếp thông qua mở các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm…về khởi nghiệp, thì để đạt hiệu quả cao nhất và sức lan tỏa rộng lớn nhất, thì truyền thông khởi nghiệp cần phải thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

để truyền tải toàn bộ những thông tin “nóng” nhất, mới nhất, quan trọng nhất tới công chúng Các kênh truyền thông đại chúng chủ yếu chính là báo in, báo điện

tử, phát thanh, truyền hình…

Công chúng của truyền thông về khởi nghiệp: Theo nghiên cứu của luận

văn, công chúng của truyền thông về khởi nghiệp, trước hết họ là giới doanh nghiệp, doanh nhân, nhà đầu tư; những người có quan tâm đến các vấn đề chính sách, cơ hội, môi trường khởi nghiệp tại Việt Nam

Trước kia, các nội dung về khởi nghiệp còn ít, công chúng thông thường rất khó có cơ hội tiếp thu những thông tin, trào lưu cũng như những ý tưởng khởi nghiệp và mô hình kinh doanh mới mẻ trên thế giới Song hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động khởi nghiệp, cũng như với tham vọng trở thành Quốc gia khởi nghiệp với hơn 1 triệu doanh nghiệp trong năm 2020, đã

có nhiều khuyến khích ưu tiên cho các bạn trẻ, doanh nghiệp cũng như những người sáng tạo, ham học hỏi và đầy khát vọng khởi nghiệp, nên các chương trình về khởi nghiệp ngày càng có nhiều hơn những khán giả mới, đó lànhững người có mơ ước khởi nghiệp, đang trong quá trình xây dựng và biến ước mơ lập nghiệp thành hiện thực, những đối tượng đang quan tâm và cần được định hướng về tương lai như học sinh, sinh viên

Ngoài ra, các chương trình về khởi nghiệp đang ngày càng có nội dung cũng như hình thức thể hiện đa dạng, phong phú hơn, khiến công chúng “dễ” tiếp thu hơn, gần gũi hơn, hấp dẫn nhiều hơn với công chúng, do vậy những người xem truyền hình về khởi nghiệp hiện nay không chỉ nhà doanh nghiệp,

Trang 30

doanh nhân hay các học sinh, sinh viên mà cả người dân cũng đều quan tâm hơn tới các chương trình này

1.2 Nội dung, phương thức truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

1.2.1 Nội dung truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

Trong bối cảnh quốc gia hội nhập mạnh mẽ với thế giới, khởi nghiệp được

kỳ vọng sẽ tạo sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho cộng đồng và xã hội Xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, báo chí truyền hình đã và đang khẳng định nỗ lực trong công tác truyền thông chủ trương, đường lối, chính sách và những vấn đề liên quan đến khởi nghiệp Hiểu một cách khác đó chính là đối tượng phản ánh của báo chí truyền hình Nội dung truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình bao gồm:

- Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề khởi nghiệp

Là một kênh thông tin quan trong trong việc tuyên truyền, phổ biến, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về vấn đề khởi nghiệp – truyền hình cung cấp thông tin về các văn bản, quy định, chính sách, cụ thể là các luật, nghị định, thông tư hướng dẫn,… Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những thông tin riêng lẻ, trong các trường hợp cụ thể, truyền hình còn cần phải phân tích các văn bản luật, những cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành một cách đúng đắn, thống nhất, giúp cho công chúng – bao gồm các cấp chính quyền và đông đảo quần chúng nhân dân hiểu đúng và thực hiện theo đúng các quy định, pháp luật nhà nước về khởi nghiệp

Bên cạnh đó, bằng vốn hiểu biết, bằng những phát hiện, phân tích của mình, truyền hình còn góp phần nâng cao nhận thức về khởi nghiệp - sáng tạo trong thanh niên và các cơ quan, cấp ngành, quần chúng nhân dân, tạo ra tâm thế tích cực cho những người hỗ trợ khởi nghiệp và những người tham gia khởi nghiệp sáng tạo Tuyên truyền phổ biến thông tin kiến thức về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, góp phần hình thành văn hóa khởi nghiệp

Trang 31

- Thông tin hoạt động khởi nghiệp, tạo diễn đàn để những doanh nghiệp khởi nghiệp nói lên vấn đề của họ

Hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đối diện với các thách thức, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ Để khởi nghiệp thành công đòi hỏi nhiều yếu tố, quan trọng nhất là người khởi nghiệp cần được đào tạo, tư vấn và hỗ trợ kiến thức chuyên môn trước khi tiến hành các hoạt động khởi nghiệp Vì vậy, báo chí truyền hình chính là nơi cung cấp thông tin, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm khởi nghiệp từ các mô hình kinh doanh có hiệu quả; tìm kiếm các ý tưởng kinh doanh tốt phát triển thành các dự án kinh doanh khả thi; giúp thúc đẩy khát vọng khởi nghiệp, làm cầu nối cho những ước mơ khởi nghiệp, cung cấp tri thức, kinh nghiệm phát triển của thế giới trong nhiều lĩnh vực và quan trọng hơn cả là lan tỏa những thông tin hữu ích, thiết thực và truyền cảm ứng phát triển cho xã hội

- Biểu dương về những mô hình khởi nghiệp thành công đến cộng đồng, tôn vinh các tập thể, các nhân có đóng góp tích cực vào hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp

Công chúng hiện nay rất quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp, nhiều mô hình khởi nghiệp đang được nhân rộng, tạo động lực cho các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp noi theo và học tập Việc truyền thông về hoạt động, mô hình khởi nghiệp thành công đến cộng đồng, tôn vinh các tập thể, các nhân có đóng góp tích cực vào hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tác nhân khác để cộng đồng khởi nghiệp ngày một phát triển rộng rãi và bền vững hơn

Bên cạnh đó, các hoạt động khởi nghiệp đều tiềm ẩn rủi ro và thực tế chỉ

ra rằng, không phải tất cả các hoạt động khởi nghiệp đều thành công Thế nên báo chí truyền hình, bằng vốn hiểu biết, bằng những phát hiện, phân tích của mình đã chỉ ra những nguyên nhân thất bại của các mô hình khởi nghiệp, các cá nhân, tập thể khởi nghiệp thất bại, để cộng đồng khởi nghiệp rút ra bài học, biến thất bại thành động lực tái khởi nghiệp

Trang 32

- Những trào lưu kinh doanh mới của thế giới, những tiến bộ khoa học

và công nghệ đạt được

Môi trường và hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam còn non trẻ so với thực tế phát triển của thế giới Tuy nhiên, Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ, với bối cảnh nền kinh tế phát triển cùng mục tiêu thực hiện quốc gia khởi nghiệp với cơ cấu dân số vàng Để xây dựng được tinh thần và văn hóa khởi nghiệp tại Việt Nam, báo chí truyền hình chính là nhân tố quan trọng xây dựng, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong giới trẻ bằng cách truyền thồng những trào lưu kinh doanh mới của thế giới, những tiến bộ khoa học và công nghệ đạt được, khả năng áp dụng những kết quả, chuyển giao công nghệ vào tổ chức quản trị, sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Gợi ý những ý tưởng khởi nghiệp, đầu vào các công ty khởi nghiệp có ý tưởng kinh doanh xuất sắc, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, thúc đẩy tinh thần quốc gia khởi nghiệp

1.2.2 Cách thức truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

Đối với các vấn đề về khởi nghiệp thì truyền hình là phương tiện không thể thiếu để truyền tải, phổ biến một cách nhanh và hiệu quả nhất những thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm khởi nghiệp từ các mô hình kinh doanh có hiệu quả,…đến với công chúng khán giả để thuyết phục, hướng dẫn quần chúng hành động theo mục đích đề ra

Để truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình hiệu quả, cần sử dụng

đa dạng và linh hoạt các hình thức và phương thức truyền thông Các chương trình truyền hình cần sử dụng đa dạng các thể loại như tin, phóng sự, phỏng vấn, bình luận,… nhằm đưa thông tin về khởi nghiệp đến công chúng phù hợp

và hiệu quả nhất

Các hình thức truyền thông bao gồm:

- Truyền thông trong các chương trình truyền hình chính luận như Thời

sự, bản tin,…

Trang 33

Các tin bài thuộc nhóm này thường có kết cấu ngắn gọn, nội dung chủ yếu mang tính chất thông tin, thông báo về các sự kiện, chủ trương, chính sách, những vấn đề về khởi nghiệp đang hoặc mới diễn ra

- Truyền thông trong các chương trình truyền hình chuyên đề cố định

như Quốc gia khởi nghiệp, Sáng tạo khởi nghiệp,…

Đây là hình thức truyền thông phổ biến, tập trung vào chính đối tượng công chúng là những người có ý định khởi nghiệp, các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp, các tổ chức liên quan,… Thông qua các thể loại như tin, phóng sự, tường thuật, phỏng vấn – trao đổi, … đề cập đến nhiều vấn đề

về khởi nghiệp, phản ánh tình hình khởi nghiệp, giới thiệu mô hình khởi nghiệp mới, những kinh nghiệm khởi nghiệp, những điển hình tiên tiến,… Nội dung các tác phẩm trong nhóm chuyên đề chỉ tập trung giải quyết một vấn đề và vấn đề đó được khai thác sâu ở các góc độ tiếp cận khác nhau Ngoài ra, thông qua đó phân tích, vận động, khuyến khích công chúng tham gia vào phong trào khởi nghiệp

- Lồng ghép thông tin khởi nghiệp thông qua tổ chức các chương trình

giải trí (trò chơi truyền hình, truyền hình thực tế…)

Nếu như các chương trình chính luận truyền hình có ưu thế trong việc cung cấp thông tin nóng hổi, cập nhật về chủ trương đường lối chính sách của Đảng, các sự kiện trong xã hội thì các chương trình giải trí lại có thế mạnh trong việc đem đến thông tin một cách vui vẻ, mềm mại giúp khán giả có thông tin trong những giây phút thư giãn Chính vì vậy, nếu nắm được thế mạnh của từng dạng chương trình từng thể loại truyền hình sẽ dễ dàng lồng ghép những thông tin về khởi nghiệp một cách mềm dẻo, hiệu quả Chương trình Shark Tank -Thương vụ bạc tỷ trên VTV3 – ĐTHVN là những ví dụ cụ thể

Bên cạnh đó, truyền hình nếu biết tận dụng mạng xã hội cũng sẽ là một cách để nâng cao hiệu quả truyền thông khởi nghiệp trên truyền hình

Thực tế cho thấy, càng tăng cường truyền thông bằng nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau, càng thu hút nhiều người dân biết và hiểu rõ hơn về các vấn đề khởi nghiệp Trong đó truyền hình đóng vai trò trung tâm, xây dựng hệ

Trang 34

sinh thái xoay quanh mạng xã hội và internet Phương thức này cũng mang lại hiệu quả khá hữu hiệu

1.3 Vai trò; thế mạnh, hạn chế của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

1.3.1 Vai trò của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

- Giúp đưa thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và

Chính phủ, cùng các bộ ngành có liên quan về vấn đề khởi nghiệp nhằm nâng cao hiểu biết của công chúng về vấn đề truyền thông

Đây được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng để gắn kết Đảng, Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp Trước hết, truyền thông khởi nghiệp trên truyền hình chính là cầu nối hữu hiệu giữa doanh nghiệp với nhà nước và cộng đồng Nhờ đó mà người dân cũng như các doanh nhân, doanh nghiệp, nhà đầu tư cùng các cấp quản lý ý thức được vai trò của khởi nghiệp có tính chất quyết định phát triển lực lượng sản xuất,tạo việc làm và là động lực quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Thời gian qua, Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp như Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 hay Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21 tháng 02 năm 2017 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế

Với các Nghị quyết và nhiều văn bản khác nhau được ban hành, cho thấy Đảng ta thực sự coi trọng vấn đề khởi nghiệp và đã thổi “luồng gió mới” cho hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam Truyền thông khởi nghiệp chính là kênh quan trọng để tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của nhân dân về các chính sách, cơ chế liên quan đến khởi nghiệp, góp phần đưa các luật, chủ trương chính sách về khởi nghiệp đi vào cuộc sống

Trang 35

- Tạo ra diễn đàn trao đổi, chia sẻ ý kiến về khởi nghiệp

Bên cạnh các chức năng khác thì chức năng thông tin tuyên truyền của truyền hình có nhiệm vụ truyền bá, giải thích cho toàn xã hội những quan điểm, đường lối, chính sách có quyết định của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực của đời sống, trong đó có vấn đề khởi nghiệp Vấn đề khởi nghiệp hiện nay đang là câu chuyện thời sự, đặc biệt việc khởi nghiệp không chỉ có ý nghĩa với mỗi người mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển và tương lai của đất nước Thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, văn hóa khởi nghiệp nở rộ trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt là trong thế hệ trẻ Việt Nam thực sự là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế - xã hội, hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, trở thành Quốc gia Khởi nghiệp với hơn 1 triệu doanh nghiệp trong năm 2020

Không chỉ cung cấp thông tin về các mô hình, những trào lưu kinh doanh mới của thế giới, gợi mở hướng tư duy mới về tinh thần khởi nghiệp,… truyền hình còn có vai trò định hướng dư luận và đưa các cơ chế, chính sách, các quy định của nhà nước đến với công chúng Giúp doanh nghiệp khởi nghiệp kịp thời thay đổi các chiến lược kinh doanh cho phù hợp, dễ dàng có được định hướng thị trường, nhanh chóng mang các sản phẩm, dịch vụ của mình đến gần hơn với công chúng và biết được phản hồi của thị trường, khách hàng Đây cũng là công

cụ hữu hiệu, cầu nối giữa nhà quản lý, nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân

- Truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình góp phần thúc đẩy nền

kinh tế - xã hội

Một vai trò trọng yếu khác của truyền thông khởi nghiệp trên truyền hình

là tuyên truyền, phổ biến mọi thông tin, hình ảnh truyền thông, thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ cũng như định hướng thị trường, giúp các doanh nhân, doanh nghiệp đến với gần hơn với công chúng khách hàng Bên cạnh đó, còn có vai trò giúp những doanh nghiệp khởi nghiệp nói lên vấn đề của họ, đặc biệt là những nội dung kiến nghị, đề xuất và phản biện chính sách Vì thế, hoạt động truyền thông khởi nghiệp cũng cần bám sát vào các hoạt động khởi nghiệp, tập trung giới thiệu

Trang 36

những mô hình khởi nghiệp hay để nhân rộng tinh thần khởi nghiệp, gợi ý những

ý tưởng khởi nghiệp, đầu vào các công ty khởi nghiệp có ý tưởng kinh doanh xuất sắc, gương điển hình, doanh nhân thành đạt và nổi tiếng,… Qua đó, góp phần thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các dự án, mô hình khởi nghiệp tiềm năng

1.3.2 Thế mạnh của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

- Truyền hình có ưu thế phản ánh hiện thực bằng âm thanh và hình ảnh

Tích hợp đầy đủ các đặc điểm và ưu thế của loại hình báo chí truyền hình, nhưng đối với các chương trình khởi nghiệp nói riêng thì với thế mạnh về hình ảnh, âm thanh là ưu điểm nổi bật nhất, giúp cho nội dung các chương trình khởi nghiệp hấp dẫn hơn, đạt hiệu quả cao hơn

Trước hết nói đến truyền hình người ta có thể hiểu đơn giản đó là kỹ thuật truyền tín hiệu bằng hình ảnh và âm thanh đến với người xem, thị giác, thính giác của con người được tác động bởi những hình ảnh chuyển động và những

âm thanh sống động trên màn hình Đây được coi là thế mạnh lớn nhất của truyền hình Với các chương trình khởi nghiệp, bằng sự tích hợp hình ảnh và âm thanh sẽ chuyển tải đến khán giả những hình ảnh chân thực nhất, sống động nhất

từ nhiều góc độ khác nhau của một vấn đề khởi nghiệp

Bên cạnh đó, truyền hình còn có kỹ thuật dựng, sự sắp xếp những cảnh quay, những góc máy theo một cách nhất định không chỉ đảm bảo tính logic cho câu chuyện mà còn tạo nên những điểm nhấn, khiến người xem dễ tiếp cận nội dung truyền thông về khởi nghiệp

- Thông tin tuyền hình đa dạng, mang tính khách quan

Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ khả năng giao tiếp với con người bằng cả thị giác và thính giác sâu sát với các mảng nội dung như phân tích, phản biện, phát hiện và giới thiệu các mô hình khởi nghiệp mới, các nhân tổ tích cực trong lĩnh vực khởi nghiệp trong và ngoài nước; có khả năng tác động mang giá trị can thiệp xã hội, nhằm tác động với hiệu lực và hiệu quả cao

- Truyền hình có phạm vi ảnh hưởng rộng rãi, lượng công chúng rộng lớn

Với hình ảnh và âm thanh, truyền hình đạt tới độ tuyệt đối về sự thuyết phục với công chúng xã hội Bất cứ người nào, dù là thuộc hệ thống ngôn ngữ

Trang 37

gì, ở độ tuổi nào cũng có thể xem và hiểu (ít hay nhiều) những gì thể hiện trên truyền hình miễn là người đó không bị khiếm khuyết về một trong hai giác quan

là thị giác và thính giác

Đặc biệt sức mạnh của truyền hình ngày càng tăng lên do phạm vi ảnh hưởng rộng rãi của nó Điều này giúp truyền hình dễ dàng hơn trong việc truyền thông về khởi nghiệp, thông tin về những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, thông tin tuyên truyền hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp, truyền thông kiến thức khởi nghiệp để doanh nghiệp khởi nghiệp nắm được những kiến thức về khởi nghiệp, định giá đúng được giá trị của doanh nghiệp,… từ đó thu hút được nhiều nguồn tài trợ và tạo ra những hiệu quả xã hội rộng lớn

1.3.3 Hạn chế của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

Bên cạnh những lợi thế nêu trên, trong truyền thông về khởi nhiệp, truyền hình cũng có những hạn chế của nó Những gì làm nên sức mạnh, ưu thế của truyền hình từ mối quan hệ này thì trong mối quan hệ khác, chúng lại là nguyên nhân của những khiếm khuyết

- Ưu thế âm thanh và hình ảnh đôi khi cũng là hạn chế của truyền hình Điều này thể hiện ở quá trình sản xuất tác phẩm Trong khi các thể loại báo chí khác chỉ cần những thiết bị tác nghiệp đơn giản: bút, giấy, máy ghi âm, điện thoại,… thì truyền hình cần một ê-kip hùng hậu với các thiết bị hiện đại máy quay, mic, đèn,… Các loại hình báo chí khác có thể thông qua đội ngũ cộng tác viên biết về mô hình khởi nghiệp của nhân vật từ đó sáng tạo ra tác phẩm còn truyền hình, bắt buộc phải xuống tận hiện trường khảo sát và ghi hình Điều này gây cản trở lớn trong việc di chuyển tác nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn

- Tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm cho đối tượng công chúng hoàn toàn bị động về tốc độ, trình tự tiếp nhận thông tin Cái đã qua thì không lặp lại và trong nhiều trường hợp thì những chi tiết đó làm mất đi tính liên tục của logic, làm cho thông tin không đầy đủ hay bị hiểu sai lệch Đặc biệt, khi xem truyền hình, người tiếp nhận thông tin

Trang 38

hầu như tập trung toàn bộ các giác quan vào những gì diễn ra trên màn hình Điều này cản trở các khả năng kết hợp tiếp cận thông tin truyền hình với các hoạt động sống khác của con người, từ đấy giới hạn bộ phận chông chúng theo dõi

- Truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình mang tính tuyên tuyền, ít mang tính giải trí nên khó thu hút người xem Từ đấy khó nhận được tài trợ không giống như các gameshow giải trí

- Ngoài ra, việc sản xuất các chương trình truyền hình về khởi nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là trong khâu tìm kiếm nhân vật, kiểm định thông tin, đánh giá mô hình khởi nghiệp sáng tạo

- Truyền hình có vai trò tiên phong trong công tác truyền thông cho khởi nghiệp Tuy nhiên, những năm gần đây, truyền hình đang gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với mạng xã hội Điểm giống nhau giữa truyền hình và mạng xã hội là cùng sử dụng video để làm phương tiện truyền thông Điểm khác nhau là truyền hình với tư cách là cơ quan ngôn luận nên nguồn tin phải kiểm định chặt chẽ, kể cả những thông tin quảng cáo Trong khi đó, mạng xã hội thì nguồn tin không được kiểm định nên có nhiều thông tin sai sự thật

- Nội dung truyền thông về khởi nghiệp thường dễ bị trùng lặp đề tài, cách thể hiện Vì vậy việc thể hiện tác phẩm phải khéo léo, không phô trương, đòi hỏi đội ngũ phóng viên, biên tập viên phải không ngừng sáng tạo, tìm ra cách thể hiện mới

1.4 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình

1.4.1 Về nội dung (thông điệp) truyền thông

- Nội dung phải phong phú, rõ ràng

Trong một chương trình truyền thông về khởi nghiệp, nếu chỉ đề cập đến một vấn đề, hoặc một nhóm nhỏ vấn đề sẽ dẫn đến sự nhàm chán Chính vì vậy, thông tin trên chương trình phải đảm bảo cân đối giữa thông tin chính trị, kinh tế

xã hội địa phương Nội dung càng phong phú, rõ ràng sẽ đáp ứng được nhu cầu

của công chúng và đem lại sự thỏa mãn

Trang 39

Bên cạnh đó, nội dung truyền tải cũng phải gọn gàng, súc tích, dễ hiểu Đặc thù của truyền hình, phát thanh đó là nói một lần, vì vậy nếu không kịp theo dõi sát người xem rất khó có thể hình dung được nội dung của thông tin Nếu quá dài, không chỉ làm đối tượng khó tiếp nhận, khó nắm bắt được nội dung, mà

nó còn chiếm thời lượng của các chương trình khác

- Nội dung thông tin phải chính xác, đảm đảo tính định hướng

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu với tất cả các cơ quan báo chí Sự xác thực của thông tin trong chương trình truyền thông về khởi nghiệp là yêu cầu mang tính chất bắt buộc, bên cạnh đó thông tin này cũng phải mang tính định hướng dư luận, định hướng công chúng báo chí Bởi nếu thông tin có được một cách không chính xác, thiếu định hướng thì sẽ dấn đến hệ lụy rất lớn

- Nội dung thông tin phải thiết thực, bổ ích với công chúng

Đây cũng là một yếu tố hết sức quan trọng Nếu như trước đây, thông tin trong chương trình truyền thông về khởi nghiệp cơ bản là đơn chiều thì ngày nay, thông tin của báo chí là đa chiều Nếu thông tin đưa lại không có nội dung hoặc nội dung không hấp dẫn, gần gũi, thiết thực thì sẽ dẫn đến sự nhàm chán Tất cả các đài truyền hình đều phải tuân thủ những nguyên tắc, yêu cầu chung như đã nói ở trên

Chương trình truyền thông về khởi nghiệp của ĐTHVN không năm ngoại

lệ này Nội dung truyền thông ngoài việc khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, tinh thần

nỗ lực và không ngừng sáng tạo thì cũng phải luôn cập nhật cho các start-up những thông tin về hành lang pháp lý, các đơn vị hỗ trợ hay các tổ chức, cá nhân đáng tin cậy để học hỏi cũng là cách truyền thông thể hiện sự quan tâm với khởi nghiệp sáng tạo

Bên cạnh đó, đài cũng cần đưa ra các thông tin quốc tế nhưng có liên quan, tác động đến nhu cầu, ý tưởng, trào lưu kinh doanh khởi nghiệp Nội dung thông tin vừa phải phù hợp, khách quan, mang tính định hướng chính trị

- Thông tin nhanh nhạy, kịp thời

Bản chất để làm nên các chương trình truyền hình nói chung, chương trình truyền thông về khởi nghiệp nói riêng, đó là tính nhanh nhạy của thông tin Giá trị của thông tin nằm ở chỗ thông tin đó có mới hay không

Trang 40

Trong xu thế cạnh tranh thông tin như hiện nay, ngoài phát thanh, truyền hình, hệ thống báo mạng điện tử cũng có khả năng cập nhật thông tin rất nhanh Nếu không phát huy được lợi thế của mình, đài sẽ dần mất đi công chúng

1.4.2 Về hình thức, phương thức truyền thông (kênh)

- Hình thức truyền thông phù hợp nội dung, sinh động, hợp lý

Đối với hình thức truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình, đầu tiên cần phải đảm bảo hình ảnh phản ánh đúng nội dung thông tin Nói một cách cụ thể, hình ảnh và thông tin đưa ra trên kênh truyền hình phải đảm bảo tính liên quan, hình ảnh thể hiện rõ những gì mà thông tin đang truyền tải Yếu tố này vô cùng quan trọng trong công tác làm truyền hình bởi nếu không thông tin sẽ trở

nên nhầm lẫn, vô giá trị

Tiếp theo, hình thức của truyền thông về khởi nghiệp trên kênh truyền hình phải linh hoạt, mang tính kết nối với dụng ý và thông điệp rõ ràng Tiêu chí này đòi hỏi hình thức của thông tin phải trở nên đa dạng, rõ ràng, rành mạch và không bị trùng lặp Nếu như truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình không

có kết cấu khoa học, người xem sẽ khó nắm bắt nội dung Khi có sự kiện đặc biệt, kết cấu chương trình có thể thay đổi linh hoạt, rút ngắn phần tin tức và dành nhiều thời lượng cho đối thoại, phỏng vấn sâu hoặc tọa đàm…

Cuối cùng, hình ảnh và âm thanh của truyền thông về khởi nghiệp trên truyền hình cần phải đảm bảo đúng tính thẩm mỹ Việc hình ảnh và âm thanh không đáp ứng đúng tiêu chuẩn sẽ dễ tạo cho người xem cảm giác tiêu cực, về lâu dài dễ tạo cảm giác hoài nghi về các thông tin khởi nghiệp

+ Lựa chọn được hình ảnh điển hình

Khi nói đến truyền hình, yếu tố quan trọng hàng đầu đó là hình ảnh, vì nó trực tiếp tác động đến thị giác của người xem Hình ảnh là ký hiệu thông tin riêng biệt của truyền hình, là dấu hiệu để phân biệt truyền hình với các loại hình báo chí khác Hình ảnh trong chương trình truyền thông về khởi nghiệp cũng phải tuân thủ các nguyên tắc của nghệ thuật điện ảnh, để đáp ứng một cách cơ bản nhất nhu cầu nghe nhìn của công chúng Đó là nguyên tắc về khuôn hình, cỡ cảnh, góc quay,…

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lý Thục Hiền (2010), “Mối quan hệ giữa kỹ năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mối quan hệ giữa kỹ năng chính trị với xu hướng khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên chính quy ngành quản trị kinh doanh”
Tác giả: Lý Thục Hiền
Năm: 2010
13. Đinh Việt Hòa (2014), Tinh thần Khởi nghiệp kinh doanh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần Khởi nghiệp kinh doanh
Tác giả: Đinh Việt Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
14. Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ báo chí – truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ báo chí – truyền thông
Tác giả: Phạm Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
16. Võ Duy Khương (2015), “Tinh thần khởi nghiệp - động lực phát triển xã hội”, Báo Đà Nẵng Xuân 2015, 06/02/2015, 16:29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tinh thần khởi nghiệp - động lực phát triển xã hội”
Tác giả: Võ Duy Khương
Năm: 2015
17. Xuân Lan (2016), “Xây dựng quốc gia khởi nghiệp, thành phố khởi nghiệp cần những chiến lược dài hạn”, Báo Điện tử Công lý số ngày 21/9/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng quốc gia khởi nghiệp, thành phố khởi nghiệp cần những chiến lược dài hạn”
Tác giả: Xuân Lan
Năm: 2016
18. Trần Kim Lê (2014),‘Báo chí truyền hình với vấn đề thông tin bao động việc làm hiện nay’,luận văn thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Báo chí truyền hình với vấn đề thông tin bao động việc làm hiện nay’
Tác giả: Trần Kim Lê
Năm: 2014
19. Nguyễn Ngọc Nam (2011),‘Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam’, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Bách khoa Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam’
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nam
Năm: 2011
20. Phạm Văn Nam (2012),‘Nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị’, Tạp chí Lao động Xã hội, số 440 tháng 10/2012, trang 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị’
Tác giả: Phạm Văn Nam
Năm: 2012
21. Trương Lý Hoàng Phi, “Khởi nghiệp – ‘start’ và ‘up'”, Cổng thông tin điện tử chính Tp.HCM, 03/02/2017, 16:47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khởi nghiệp – ‘start’ và ‘up'”
22. Trần Hữu Quang (2000), Chân dung công chúng truyền thông, Nxb Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung công chúng truyền thông
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: Nxb Tp.HCM
Năm: 2000
23. Trần Hữu Quang (2008), Xã hội học truyền thông đại chúng, Đại học Mở Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học truyền thông đại chúng
Tác giả: Trần Hữu Quang
Năm: 2008
25. Trần Thị Quyên (2016), ‘Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam’, luận văn thạc sĩ báo chí, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam’
Tác giả: Trần Thị Quyên
Năm: 2016
26. Hồ Xuân Sang (2018), “Pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Tác giả: Hồ Xuân Sang
Năm: 2018
27. Nguyễn Hồng Sơn, Phan Chí Anh (2013), Phụ nữ khởi nghiệp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ khởi nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn, Phan Chí Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
28. Dương Xuân Sơn (2009), ‘Giáo trình báo chí truyền hình’, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Giáo trình báo chí truyền hình’
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
29. Dương Xuân Sơn (2011), ‘Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông’, Nxb Đại học Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông’
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HN
Năm: 2011
30. Chu Đức Thành (2018), ‘Truyền thông về an ninh văn hóa trên chuyên mục “An ninh văn hóa” – kênh truyền hình công an nhân dân hiện nay’, luận văn thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Truyền thông về an ninh văn hóa trên chuyên mục "“An ninh văn hóa” – kênh truyền hình công an nhân dân hiện nay’
Tác giả: Chu Đức Thành
Năm: 2018
31. Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi (2013),‘Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại Thành phố Hồ Chí Minh’, tạp chí Phát triển kinh tế, số 271, 5/2013, trang 10 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại Thành phố Hồ Chí Minh’
Tác giả: Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi
Năm: 2013
32. Nguyễn Thị Thanh Thảo (2015),‘Truyền hình các tỉnh Tây nam bộ truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay’, luận văn thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Truyền hình các tỉnh Tây nam bộ truyền thông về vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay’
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w