1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ Luật doanh nghiệp: Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 về thành lập doanh nghiệp

16 257 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 47,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường với chế độ sở hữu hàng hóa nhiều thành phần, đã có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập, tạo nên môi trường kinh doanh năng động. Đi cùng với sự đổi mới ngày càng phát triển hơn của nền kinh tế, các quy chế pháp lý về thành lập doanh nghiệp mạ cụ thể là trong Luật Doanh nghiệp cũng có những chuyển biến, thay đổi nhất định để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những nhà đầu tư, thương nhân dễ dàng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chính vì lí do đó, bài tiểu luận xin được lựa chọn và phân tích đề số 02: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 về thành lập doanh nghiệp”

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 2

I Khái quát chung về thành lập doanh nghiệp 2

1.1 Khái niệm thành lập doanh nghiệp 2

1.2 Ý nghĩa của hoạt động thành lập doanh nghiệp 3

II Phân tích, đánh giá những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 3

2.1 Về chủ thể thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp 4

2.2 Về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp 6

2.3 Về điều kiện tiền kiểm 8

2.4 Về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp 10

III Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 về thành lập doanh nghiệp 13

C KẾT LUẬN 14

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kế hoạch hóa tập trung- bao cấp sang nền kinh tế thị trường với chế độ sở hữu hàng hóa nhiều thành phần, đã

có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập, tạo nên môi trường kinh doanh năng động Đi cùng với sự đổi mới ngày càng phát triển hơn của nền kinh tế, các quy chế pháp lý về thành lập doanh nghiệp mạ cụ thể là trong Luật Doanh nghiệp cũng có những chuyển biến, thay đổi nhất định để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những nhà đầu tư, thương nhân dễ dàng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh Chính vì lí do đó, bài tiểu luận xin được lựa chọn và phân

tích đề số 02: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Doanh

nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 về thành lập doanh nghiệp (tối thiểu là ba điểm mới)” 1

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về thành lập doanh nghiệp

1.1 Khái niệm thành lập doanh nghiệp

Thành lập doanh nghiệp hiểu một cách đơn giản là việc nhà đầu tư hình thành, khởi tạo một doanh nghiệp mới trong nền kinh tế trên cơ sở các quy định của pháp luật về hình thức doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, tổ chức quản lý, quyền và nghĩa vụ,

Dưới góc độ kinh tế, đây là hoạt động của chủ đầu tư chuẩn bị những điều kiện, cơ sở vật chất cần thiết để doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động kinh doanh của mình như vốn, văn phòng, kho xưởng, máy móc thiết bị

kĩ thuật,

Dưới góc độ pháp lý, thành lập doanh nghiệp được hiểu là một thủ tục hành chính do các thành viên sáng lập của doanh nghiệp hoặc đại diện của họ tiến hành tại cơ quan đăng kí kinh doanh, nhằm “khai sinh” hợp pháp cho doanh nghiệp.2 Thủ tục này có tính chất bắt buộc chung đối với tất cả chủ thể

1 Bộ bài tập Luật Thương mại của Bộ môn Luật thương mại – ĐH Luật Hà Nội

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập I, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, tr 378.

Trang 3

khi tiến hành hoạt động kinh doanh, nếu không hoặc chưa đăng kí sẽ bị coi là

vi phạm pháp luật, kết thúc khi bên đăng kí được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

1.2 Ý nghĩa của hoạt động thành lập doanh nghiệp

Hoạt động thành lập doanh nghiệp qua việc đăng ký thành lập có ý nghĩa nhất định không chỉ đối với các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh

mà còn đối với Nhà nước

Thứ nhất, đối với các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh, việc thành lập doanh nghiệp một cách hợp pháp sẽ giúp doanh nghiệp có tư cách pháp lý, có những quyền và nghĩa vụ được nhà nước và pháp luật công nhận, bảo hộ

Thứ hai, đối với Nhà nước, thông qua hoạt động thành lập doanh nghiệp bằng cách đăng ký theo quy định pháp luật, “Nhà nước sẽ quản lý được số lượng, hình thức, ngành nghề kinh doanh dựa trên địa bàn Trên cơ

sở đó, Nhà nước sẽ nắm bắt được thực trạng kinh tế của địa phương, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu đầu tư kinh doanh để tìm ra các biện pháp quản lý thích hợp, đồng thời giám sát chủ thể kinh doanh hoạt động theo đúng pháp luật.”3

II Phân tích, đánh giá những điểm mới của Luật Doanh nghiệp

2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005

Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời đã đánh dấu một bước thay đổi lớn trong hoạt động thành lập doanh nghiệp với nhiều thay đổi so với Luật Doanh nghiệp 2005 trước đây Do giới hạn dung lượng nên bài tiểu luận xin được trình bày những điểm mới theo 4 phương diện cơ bản nhất, đó là: về chủ thể thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp; về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp; về các điều kiện tiền kiểm; về nội dung giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh Ở mỗi phương diện bài viết sẽ phân tích và đánh giá cụ thể về từng điểm mới

3 Vũ Thị Thùy Dung (2015), Đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm

2014, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 09.

Trang 4

2.1 Về chủ thể thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp 2014 đã mở rộng hơn đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam bằng việc bổ sung thêm viên chức (theo quy định của pháp luật về viên chức) và người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự Cơ sở pháp lý là Điểm b) và Điểm e) thuộc Khoản 2 Điều 18:

“Điều 18 Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp

và quản lý doanh nghiệp

2 Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù [ ]”

 Đối với việc bổ sung thêm viên chức, điều này được lý giải là do trước đây chưa có Luật Viên chức, dẫn đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể này chưa được quy định rõ ràng nên Luật Doanh nghiệp 2005 không liệt kê viên chức vào đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp như cán bộ và công chức (thời điểm đó đã được điều chỉnh bởi Pháp lệnh cán bộ, công chức năm

2000 sửa đổi, bổ sung 2003) Cho đến năm 2010 Quốc hội đã ban hành Luật

Viên chức 2010, tại Khoản 3 Điều 14 Luật này quy định viên chức “được góp

vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và

tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.” Vì vậy Luật Doanh nghiệp 2014 đã dựa vào quy định này để

cấm viên chức thành lập doanh nghiệp

Đánh giá: Việc bổ sung thêm viên chức là hoàn toàn hợp lý, bởi viên

chức là những người đảm nhận công việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, vì lợi ích xã hội, có tính chất thường xuyên và lâu dài, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập nên có nghĩa vụ phải tận tâm, hết mình

Trang 5

phục vụ nhân dân Nếu cho phép họ thành lập doanh nghiệp như trước đây thì không đảm bảo được thời gian và công sức họ dành cho công việc chính của mình tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việc cùng lúc đảm nhận nhiều công việc dễ làm ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, làm phân tâm, Hơn nữa, cũng giống như cán bộ và công chức thì viên chức nếu được thành lập doanh nghiệp cũng có nhiều khả năng lạm quyền để phục vụ cho lợi ích của riêng của công ti mình

 Đối với việc bổ sung thêm đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trước đây trong Luật Doanh nghiệp 2005 không quy định Cần hiểu khái niệm “người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự” là “người đang bị cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động điều tra kể từ khi có quyết định khởi tố bị can cho đến trước khi có bản án kết tội của Tòa án hoặc có quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra.”4 Việc cấm các chủ thể này thành lập doanh nghiệp là để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp khác trước nguy cơ làm ăn với một doanh nghiệp mà chủ sở hữu đang bị vướng vào vòng lao lí, không có khả năng chỉ đạo, góp ý kiến kinh doanh, không thực hiện được các nghĩa vụ khác có liên quan nếu bị kết án là có tội

Đánh giá: Việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành

lập doanh nghiệp tuy xuất phát từ mục đích để bảo vệ các nhà đầu tư khác như đã nêu trên, tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến trái chiều Bởi một người đang bị truy cứu trách nhiệm pháp lý thì chưa thể xác định được rằng họ có tội hay không, và quá trình điều tra thì diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài Khi kết thúc việc truy cứu, nếu họ được tuyên vô tội thì nhiều cơ hội làm

ăn đã biến mất, các điều kiện về vật chất, hoàn cảnh, thị trường cũng đã thay đổi, khiến họ khó có thể tiếp tục thực hiện ý định thành lập doanh nghiệp ban đầu Như vậy quy định này phần nào cũng cản trở nhiều trường hợp nhà đầu

tư muốn thành lập doanh nghiệp

2.2 Về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp

4 Trần Thị Thu Trang (2015), Quyền tự do thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp

năm 2014, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 32.

Trang 6

So với Luật Doanh nghiệp 2005, trình tự và thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những thay đổi theo hướng đơn giản, nhanh gọn hơn Để tiến hành thành lập doanh nghiệp cần trải qua 3 bước

cơ bản: Một là, người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền gửi

hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Luật này cho Cơ quan đăng ký

kinh doanh Hai là, cơ quan đăng kí kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ và đối

chiếu các điều kiện cấp giấy đăng kí doanh nghiệp, sau đó quyết định cấp

hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Ba là, công khai

thông tin về doanh nghiệp được thành lập trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Cơ sở pháp lý là Điều 27 và Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2014 Theo đó, những điểm mới có thể kể đến là:

 Thứ nhất, đã có sự thay đổi thuật ngữ từ “đăng ký kinh doanh” tại

Luật Doanh nghiệp 2005 sang “đăng ký doanh nghiệp” tại Luật Doanh nghiệp 2014 “Đăng ký kinh doanh” là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý đối với sự ra đời của doanh nghiệp Còn “đăng ký doanh nghiệp” bao gồm cả đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, đăng ký thay đổi và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác

Đánh giá: Sự thay đổi này mang ý nghĩa to lớn, đánh dấu sự tiến bộ

trong tư duy lập pháp của nước ta Điều này cũng tạo sự đơn giản cho các nhà đầu tư muốn thành lập doanh nghiệp, khi quá trình đăng ký doanh nghiệp tại

cơ quan đăng ký kinh doanh hiện đã kết hợp với rất nhiều thủ tục đăng ký khác nữa như đăng ký thuế, đăng ký bảo hiểm, đăng ký lao động Nhà đầu tư sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không còn phải thực hiện thêm các bước đăng ký khác tại nhiều cơ quan khác nhau, gây rắc rối, phức tạp như trước đây

 Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2014 có đề cập đến việc đăng ký và

công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử Mặc dù điều này

đã được đưa ra trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng kí doanh nghiệp nhưng việc quy định trong luật đã tạo một cơ sở pháp lý vững chắc và rõ ràng

Trang 7

hơn cho hoạt động này “Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Người thành lập doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký số hoặc xác thực hồ sơ hoặc thanh toán lệ phí qua mạng điện tử.”5 Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện việc thông báo công khai cũng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, thay vì quy định không thống nhất như Luật Doanh nghiệp 2005 (bao gồm cả báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp) Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia hiện nay là website: dangkykinhdoanh.gov.vn

Đánh giá: Trong thời đại công nghiệp điện tử phát triển mạnh thì việc

thêm một cách thức mới để đăng ký doanh nghiệp và công bố nội dung đăng

ký doanh nghiệp qua mạng là hoàn toàn phù hợp Điều này giúp các nhà đầu

tư dễ dàng hơn trong việc đăng ký khi chỉ cần ngồi tại nhà hay văn phòng là

có thể khởi tạo một doanh nghiệp mới hợp pháp, mà không bắt buộc phải đến tận nơi nộp hay gửi hồ sơ giấy đến cơ quan có thẩm quyền dễ gây thất lạc và tạo ra sự chậm trễ như trước đây Hơn nữa, đăng ký qua mạng điện tử cũng giúp Nhà nước dễ dàng số hóa hơn nội dung thông tin của doanh nghiệp, từ

đó nắm bắt và quản lý doanh nghiệp tốt hơn

 Thứ ba, thời hạn để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp

hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được rút ngắn xuống còn 03 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ theo Luật Doanh nghiệp 2014, thay

vì 10 ngày như Luật Doanh nghiệp 2005 Điều này xuất phát từ công cuộc cải

cách thủ tục hành chính nói chung và từ yêu cầu tinh giản thủ tục thành lập doanh nghiệp nói riêng, nhằm giải quyết được số lượng lớn các trường hợp muốn đăng ký trong thời đại ngày nay, rút ngắn thời gian để các nhà đầu tư tham gia thị trường, khuyến khích sự mạnh dạn thành lập doanh nghiệp để tạo thị trường năng động cũng như nâng cao được chất lượng bộ máy hành chính

5Vũ Thị Thùy Dung (2015), Đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm

2014, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 41.

Trang 8

2.3 Về điều kiện tiền kiểm

“Chế độ ‘tiền kiểm’ có nội dung là kiểm tra các điều kiện thành lập doanh nghiệp trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.”6 So với Luật Doanh nghiệp 2005 thì Luật Doanh nghiệp 2014 đã đơn giản hóa các điều kiện “tiền kiểm” và dần chuyển sang chế độ “hậu kiểm”, nhằm thực hiện hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường của doanh nghiệp Nhưng đồng thời điều kiện tiền kiểm cũng được quy định chặt chẽ hơn trong một số trường hợp Như vậy, một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 về điều kiện tiền kiểm có thể kể tới là:

 Thứ nhất, bỏ văn bản xác nhận vốn pháp định đối với doanh nghiệp

kinh doanh các ngành nghề yêu cầu cần phải có vốn pháp định Khái niệm

“vốn pháp định” theo Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 được hiểu:

“Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp.” Trước đây, văn bản xác nhận vốn pháp định là yêu

cầu bắt buộc phải có trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Đánh giá: Khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành đã có nhiều lý

do được đưa ra cho việc bãi bỏ yêu cầu này Một là, vốn pháp định làm hạn

chế quyền tự do lựa chọn loại hình, quy mô kinh doanh của nhà đầu tư khi Nhà nước đã bằng ý chí của mình ấn định quy mô vốn và quy mô doanh nghiệp cho nhà đầu tư trong khi chính họ mới biết được nhu cầu về vốn của mình là tới đâu Có những trường hợp quy định quy mô vốn rất lớn nhưng cuối cùng lại không sử dụng hết gây nên sự lãng phí và tạo nhiều hậu quả cho doanh nghiệp phải gánh chịu Không chỉ vậy, nhiều nhà đầu tư có tài, có hiểu biết nhưng không có nhiều vốn, muốn kinh doanh “từ hai bàn tay trắng” thì

lại bị quy định về vốn pháp định gây cản trở Hai là, quy định về vốn pháp

định không còn quá cần thiết bởi doanh nghiệp xuất phát từ mục đích tìm kiếm lợi nhuận của mình sẽ bằng mọi cách để huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả về sau này, còn tại thời điểm mới thành lập doanh nghiệp thì chưa

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập I, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, tr 384.

Trang 9

cần xét đến vấn đề này Và không phải cứ có số vốn lớn theo một mức nhất

định ngay từ đầu thì doanh nghiệp đó mới hoạt động hiệu quả Ba là, thời

điểm trước đây việc yêu cầu phải có vốn pháp định là để tránh trường hợp các

“công ti ma” xuất hiện- những công ty chỉ xuất hiện trên giấy tờ được thành lập để nhằm mục đích vụ lợi bất hợp pháp Tuy nhiên thực tế thì quy định này

đã không tạo được hiệu quả khi vẫn còn rất nhiều công ti ma được hình thành

Vì vậy, việc Luật Doanh nghiệp năm 2014 bỏ đi quy định về văn bản xác nhận vốn pháp định là hoàn toàn hợp lý, không chỉ có ý nghĩa dưới góc độ thủ tục hành chính mà còn dưới góc độ về quyền kinh doanh và bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật

 Thứ hai, bỏ quy định về chứng chỉ hành nghề trong hồ sơ đăng ký

doanh nghiệp đối với một số cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề “Chứng chỉ hành nghề”

là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho

cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật để hoạt động trong một ngành nghề nào đó.7 Ví dụ một số ngành kinh doanh có yêu cầu chứng chỉ hành nghề là: hoạt động y tế; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; dịch vụ môi giới bất động sản; thiết kế kiến trúc công trình; Trong Luật Doanh nghiệp 2014, yêu cầu này không còn thuộc diện “tiền kiểm”- không thuộc diện cơ quan đăng kí doanh nghiệp phải kiểm tra trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà chuyển sang diện

“hậu kiểm”

Đánh giá: Quy định này cũng góp phần quan trọng trong việc đơn giản

hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, đặt ra trọng trách của các thiết chế kiểm soát xã hội và xử lý các hành vi vi phạm Tức là sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải phải có chứng chỉ hành nghề để có thể thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật Nếu phát hiện cá nhân thuộc doanh nghiệp nào hoạt động mà không có

7 https://nganhangphapluat.thukyluat.vn/tu-van-phap-luat/lao-dong tien-luong/chung-chi-hanh-nghe-la-gi-121730

Trang 10

chứng chỉ hành nghề thì cá nhân và doanh nghiệp đó sẽ bị xử lý vi phạm.

 Thứ ba, bên cạnh việc loại bỏ một số giấy tờ khỏi diện “tiền kiểm”

thì Luật Doanh nghiệp 2014 có bổ sung thêm Phiếu lý lịch tư pháp theo Điểm

e) Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014: “Trường hợp Cơ quan đăng ký

kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.” Tuy nhiên, đây

không phải tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chỉ phải xuất trình khi Cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu với lý do chính đáng Điều này làm tăng thêm tính chặt chẽ nhằm kiểm soát một số chủ thể thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp như bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù,

2.4 Về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chính là minh chứng rõ ràng nhất từ hoạt động đăng ký doanh nghiệp Như đã đề cập tại các phần trên, hiện pháp luật nước ta đã có sự thay đổi thuật ngữ từ “đăng ký kinh doanh” sang “đăng ký doanh nghiệp” nên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo cách gọi tại Luật Doanh nghiệp 2005 cũng chuyển thành giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Cơ sở pháp lý về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014:

“Điều 29 Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

1 Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp.

2 Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp.

3 Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân;

họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành

Ngày đăng: 14/01/2020, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w