Luận án đóng góp vào mảng nghiên cứu sâu trong văn hóa học, đó là nghiên cứu tính cách của một cộng đồng, một dân tộc.. Bên cạnh những công trình của các học giả người nước ngoài nêu t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1 PGS.TS ĐINH CÔNG TUẤN
2 PGS.TS Đ NGỌC ANH PHẢN BIỆN:
1 TS NGUYỄN VĂN HIỆU
2 PGS TS Đ NGỌC ANH
3 PGS.TS ĐINH CÔNG TUẤN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận án tiến sĩ:
Tính cách văn hóa Đức
là công trình nghiên cứu của riêng tôi, mọi trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
TP HCM, ngày 05 tháng 05 năm 2020
Nguyễn Thị Bích Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã trực tiếp hướng dẫn về mặt khoa học, luôn tận tâm chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành Luận án này
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự hỗ trợ và hướng dẫn nhiệt tình của Quý Thầy, Cô trong Khoa Văn hóa học và các cán bộ Phòng Sau đại học cũng như các phòng ban chức năng thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – nơi tôi đang theo học chương trình Nghiên cứu sinh tiến sĩ Tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích
lệ và hỗ trợ tôi trong quá trình làm Luận án
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2020
Tác giả Luận án
Nguyễn Thị Bích Phượng
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 18
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 18
6 Đóng góp mới của luận án 19
7 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu của luận án 20
8 Bố cục của luận án 22
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 23
1.1 Cơ sở lý luận 23
1.1.1 Một số khái niệm 23
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 33
1.2 Cơ sở thực tiễn 39
1.2.1 Không gian văn hóa 39
1.2.2 Chủ thể văn hóa 43
1.2.3 Thời gian văn hóa 48
CHƯƠNG 2 TÍNH CÁCH VĂN HÓA ĐỨC THỂ HIỆN QUA CÁC THÀNH TỐ VĂN HÓA 52
2.1 Tính cách văn hóa Đức thể hiện qua văn hóa nhận thức 52
2.1.1 Nhận thức về vũ trụ 52
2.1.2 Nhận thức về con người 57
2.2 Tính cách văn hóa Đức thể hiện qua văn hóa tổ chức 59
2.2.1 Qua văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng 59
2.2.2 Qua văn hóa tổ chức đời sống cá nhân 67
2.3 Tính cách văn hóa Đức thể hiện qua văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 73
2.3.1 Văn hóa ẩm thực 73
2.3.2 Văn hóa trang phục 76
2.3.3 Văn hóa cư trú 77
2.3.4 Văn hóa giao thông 81
2.4 Tính cách văn hóa Đức thể hiện qua văn hóa ứng xử với môi trường xã hội 82
2.4.1 Với các nước trong Châu Âu 82
2.4.2 Với các nước ngoài Châu Âu 86
CHƯƠNG 3 NHỮNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA ĐỨC ĐẶC TRƯNG 90
3.1 Tính hệ thống của tính cách văn hóa Đức 90
3.1.1 Tính hệ thống xét theo nội dung 90
3.1.2 Tính hệ thống xét theo tần số xuất hiện 94
3.2 Hệ tính cách văn hóa Đức đặc trưng 95
Trang 63.2.1 Tư duy phân tích rành mạch rõ ràng 95
3.2.2 Yêu thích sự trật tự - trọng quy tắc 105
3.2.3 Kiên trì đeo đuổi mục tiêu 112
3.2.4 Đề cao sự hiệu quả 119
3.2.5 Bản lĩnh cá nhân mạnh mẽ 123
3.2.6 Định hướng vùng miền 131
3.3 Nền tảng hình thành hệ tính cách văn hóa Đức 138
3.3.1 Hoàn cảnh lịch sử – xã hội 138
3.3.2 Môi trường tự nhiên 145
3.3.3 Nội lực của người Đức 146
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: CÁC HÌNH ẢNH TRONG LUẬN ÁN
PHỤ LỤC 2: CÁC BẢNG BIỂU
PHỤ LỤC 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CH : Cộng hòa
- CHLB : Cộng hòa Liên bang
- CN : Công nguyên
- CDU : Christlich-Demokratische Union Deutschlands, nghĩa là
Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo Đức
- CSU : Christlich-Soziale Union, nghĩa là Đảng Liên minh Xã
hội Thiên chúa giáo tại Bayern
- EU : Liên minh Châu Âu
- NATO : North Atlantic Treaty Organization –
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
- SED : Sozialistische Einheitspartei Deutschlands là Đảng Xã hội thống nhất Đức (bên CHDC Đức
Ngoài ra, trừ một số địa danh và tên riêng đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng rộng rãi (như người Giecman…), các tên riêng và địa danh của Đức được thống nhất viết theo đúng nguyên văn tiếng Đức hoặc tiếng Anh để dễ tra cứu và tránh cách phiên âm theo tiếng Việt có thể gây hiểu lầm
Tên nước ngoài được thống nhất viết theo trật tự quen thuộc “Tên+Họ”, khi viết ngắn gọn thì chỉ viết “Họ” Ví dụ: Ruth Benedict, hoặc Benedict
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 01: Vương quốc Franken thời vua Karl Đại đế (768-814)
Hình 02: Lãnh địa Bajuwaren (Bayern) vào thế kỷ thứ 8 sau CN
Hình 03: Vương quốc Franken được phân chia theo Hiệp ước Verdun năm 843
Hình 04: Bản đồ các lãnh địa thời kỳ Đế chế thứ nhất
Hình 05: Bản đồ Đế chế La Mã Thần Thánh – thời kỳ Otto Đệ nhất Đại đế
Hình 06: Đế chế La Mã thần thánh dân tộc Đức khoảng năm 1000
Hình 07: Đế chế La Mã thần thánh (viền màu đỏ) năm 1803
Hình 08: Không gian ngôn ngữ Đức, bao gồm toàn bộ nước CHLB Đức, CH Áo, phần
nói tiếng Đức của Thụy Sĩ và công quốc Liechtenstein
Hình 09: Bản đồ các vùng ngôn ngữ ở Thụy Sĩ Vùng nói tiếng Đức màu cam
Hình 10: 5 vùng văn hóa của Đức
Hình 11: Số lượng người Do Thái ở Đức từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1933
Hình 12: Cộng đồng người Sorben ở Cottbus, bắc Đức ngày nay
Hình 13: Phân bổ số ghế trong Quốc hội liên bang khóa 19
Hình 14: Hội đồng liên bang Đức
Hình 15: Bánh mỳ đen – một trong những loại bánh mỳ truyền thống của Đức
Hình 16: Bữa sáng đủ đầy vào ngày Chúa nhật
Hình 17: Nhà gỗ (Fachwerkhaus) truyền thống
Hình 18: Bình dầu trong tầng hầm – để sử dụng cho lò sưởi
Hình 19: Cửa tầng hầm thông một nửa với mặt đất để lấy ánh sáng tự nhiên và không
khí
Hình 20: Nhà phố có nhiều căn hộ bên trong
Hình 21: Quảng cáo bán hầm tránh bom nguyên tử
Hình 22: Các thành viên trong gia đình cùng tham gia trò chơi đố vui
Hình 23: Garage của Sebastian
Hình 24: Bảng treo các vật dụng trên tường của Garage
Hình 25: Quảng trường hoàng gia tại trung tâm thành phố München (Munnich) – nơi
được mệnh danh là „Isar-Athen“
Hình 26: Bảo tàng điêu khắc ở München
Hình 27: Cổng thành nằm ở phía Tây quảng trường Königsplatz ở München
Trang 9Hình 28: Bảo tàng điêu khắc ở München (bên trong)
Hình 29: Tượng đồng Bavaria, một trong những biểu tượng của thành phố München Hình 30: Tượng thiên thần hòa bình
Hình 31: “Tứ trụ”: tượng 4 nhà hiền triết Hi Lạp Aristoteles, Homer, Thukydides và
Hippokrates trước một thư viện tại München
Hình 32: Công viên nhạc nước nhìn từ tượng thần Herkules tại thành phố Kassel
Hình 33: Nghi thức cầu nguyện của người Thiên chúa giáo ở Đức trước mỗi bữa ăn Hình 34: Không gian giữa cửa chính và cửa phòng khách, dùng để giày, treo áo khoác,
mũ, khăn và ô
Hình 35: Tuần dọn dẹp không gian chung (Kehrwoche), bao gồm hành làng và cầu
thang
Hình 36: Lối đi riêng dành cho xe đạp trên đường phố tại thành phố Wolfsburg
Hình 37: Rác được phân thành 4 loại (trái) và bảng quy định cách phân loại rác (phải) Hình 38: Túi đựng rác màu vàng được phát miễn phí, mỗi lần chỉ được nhận tối đa 2
cuộn (trái) – biểu tượng “điểm xanh” trên các bao bì (phải)
Hình 39: “Trật tự phải theo hệ thống” – Ý tưởng mang lại sự trật tự cho văn phòng của
Hình 42: Hệ thống giáo dục phổ thông Đức
Hình 43: Bảng giờ tàu tại nhà ga chính Dormund
Hình 44: Các sản phẩm xuất khẩu của Đức năm 2015, các giá trị không làm tròn, mà để
nguyên số lẻ
Hình 45: Phòng làm việc của nhà văn Thomas Mann - nơi cấm các con không được vào Hình 46: Các phương ngữ ở Đức
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: So sánh các khái niệm được sử dụng trong các công trình nghiên cứu……… tr 26 Bảng 2: Biểu đồ so sánh Đức và Việt Nam về Các chiều kích văn hóa ……… tr 35 Bảng 3: Hai loại hình văn hóa theo Trần Ngọc Thêm (2013, tr 86)……… tr 36 Bảng 4: Bản đồ văn hóa Đức và Việt Nam theo Meyer (2014)……… tr 38 Bảng 5 : Phân loại các tính cách Đức dựa theo nội dung……… tr 90 Bảng 6 : So sánh mức độ tương thích của năm nhóm tính cách
với kết quả nghiên cứu của một số tác giả………tr 92 Bảng 7: So sánh Kết quả nghiên cứu về Đức từ lý thuyết Các chiều kích văn hóa,
lý thuyết Bản đồ văn hóa với các nhóm tính cách trong Bảng 6……… tr 93 Bảng 8: Phân loại các tính cách Đức dựa theo tần số xuất hiện……… tr 94 Bảng 9: Những tính cách đặc trưng Đức cùng một số tính cách phái sinh……… tr 136 Bảng 11: Biểu đồ so sánh Đức với các nước trong cùng không gian ngôn ngữ tr 137 Bảng 12: Biểu đồ so sánh Cac chiều kích văn hóa Đức – Pháp – Anh tr 137
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cộng hòa Liên bang Đức là quốc gia đông dân nhất và có tiềm lực kinh tế mạnh nhất trong khối các nước thuộc Liên minh Châu Âu1 (EU) Đức cũng là dân tộc đã “sản sinh” cho nhân loại những nhân vật đặc biệt2, đồng thời, cũng là dân tộc có nhiều thăng trầm trong lịch sử, nhất là lịch sử hai cuộc Thế chiến, và sau nhiều biến cố đã vực dậy
để trở thành một trong những cường quốc như ngày nay3 Có rất nhiều nguyên nhân để
lý giải cho điều này, trong đó không thể không kể đến tính cách văn hóa của người Đức đã góp phần hình thành dân tộc Đức hiện tại
Việt Nam được xác định là đối tác quan trọng trong hợp tác phát triển của Đức tại Đông Nam Á4 Vì thế, trong khối Liên minh Châu Âu đầu tư vào Việt Nam, Đức là quốc gia đầu tư nhiều nhất5 ở các lĩnh vực như kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục và
văn hóa Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Đức Angela Merkel
năm 2011, nhiều thỏa thuận đã được ký kết, trong đó có bản “Tuyên bố chung từ Hà Nội” chính thức thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa Đức và Việt Nam, bao gồm cả những thỏa thuận nhằm “tăng cường kinh tế, thương mại và đầu tư, hợp tác phát triển, khoa học và văn hóa”6 Từ sau Tuyên bố chung này, nhiều chương trình và dự án hợp tác giữa hai nước đã được ký kết trong nhiều lĩnh vực Những hợp tác nói trên tạo điều kiện cho sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa người Việt và người Đức và sự hiểu biết tính cách lẫn nhau sẽ là tiền đề cho hợp tác thành công
Hiện ở Đức có gần 160.000 người Việt Nam đang sinh sống, làm việc và học tập (Schaland, 2016, tr 13) Ngược lại, ở Việt Nam, hơn 70.0007 người đã từng học tập,
1 “Tổng sản phẩn quốc nội GDP đạt 2,5 ngàn tỉ Euro, cao hơn GDP của Pháp và Anh khoảng 25%” (Level,
2015, tr 51)
2 Ví dụ như thiên tài Albert Einsetein, triết gia Immanuel Kant, nhà độc tài Adolf Hitler…
3 Theo Quỹ tiền tệ thế giới IWF thì GDP của Đức năm 2011 là 3,63 tỉ USD, đứng hàng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản
4 Phát biểu của ngài Đại sứ Claus Wunderlich trong chuyến viếng thăm của Thủ tướng Angela Merkel Nguồn: Đại sứ quán Nước CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức Truy xuất từ http://www.vietnambotschaft.org/viet- nam-va-duc-tang-cuong-hop-tac-phat-trien/
5 Truy xuất từ
http://www.hanoi.diplo.de/contentblob/4374280/Daten/4866373/141118_Interview_Botschafterin_Jutta_Fras ch_mit_Zeitschrift_Deutschlandde.pdf
6 http://baodientu.chinhphu.vn/Uploaded_VGP/thukybientap/20111011/Tuyenbochung.htm
7 Truy xuất từ https://vietnam.diplo.de/vn-vi/themen/kultur
Trang 12làm việc ở Đức và có thể nói được tiếng Đức Vì vậy, việc tìm hiểu tính cách người Đức một cách hệ thống dựa vào những luận cứ khoa học là rất cần thiết nhằm mang lại những nhận định xác thực và có cơ sở giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc
Nghiên cứu liên quan đến người Đức và dân tộc Đức, một dân tộc khá đặc biệt
như đã nêu, là điều cần thiết, bởi như Roth R nhận định: “không có một dân tộc nào trên thế giới đã và đang là tâm điểm cho những đánh giá trái chiều với nhau như dân tộc Đức” (Roth R 1979, tr 3) Vì sao họ là tâm điểm của những đánh giá? Họ được
đánh giá dựa theo những tiêu chí nào? Các đánh giá trái chiều với nhau ra sao?
Những lý do và những câu hỏi trên đây đã thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài Tính cách văn hóa Đức làm vấn đề nghiên cứu Dù đã có một số bài viết của tác giả người
Việt về tính cách người Đức, nhưng phần lớn đều ở dạng liệt kê hoặc tóm lược dựa vào kinh nghiệm cá nhân nên chưa mang tính hệ thống Nghiên cứu tính cách người Đức một cách hệ thống từ góc nhìn văn hóa học đem lại ý nghĩa nhất định về mặt khoa học Luận án đóng góp vào mảng nghiên cứu sâu trong văn hóa học, đó là nghiên cứu tính
cách của một cộng đồng, một dân tộc Thực hiện luận án Tính cách văn hóa Đức, chúng
tôi dựa vào cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ đem lại cái nhìn hệ thống, toàn diện hơn tính cách văn hóa Đức
Là người làm công tác giảng dạy tiếng Đức, gắn bó với Đức qua những đợt học tập, nghiên cứu và tiếp xúc thường xuyên với người Đức trong công việc, chúng tôi luôn
tự đặt câu hỏi làm thế nào để hiểu người Đức tốt hơn, cơ sở nào định hình cách nghĩ và cách sống của họ Thực hiện luận án chính là cơ hội giúp bản thân có thêm kiến thức và
kỹ năng nghiên cứu khoa học về văn hóa Đức và tính cách người Đức nhằm phục vụ có hiệu quả cho công việc giảng dạy ngôn ngữ Đức cũng như truyền tải văn hóa Đức qua
ngôn ngữ Đây chính là một trong những lý do thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài Tính cách văn hóa Đức cho luận án của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Văn hóa Đức, trong đó có tính cách Đức nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong lẫn ngoài nước Đức Các nghiên cứu đến từ nhiều lĩnh vực nên xem xét đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau Có thể tập trung các nghiên cứu thành hai nhóm, đó
Trang 13là các công trình mang tính lý luận và các công trình mang tính thực tiễn Mỗi nhóm được chia thành hai nhóm nhỏ, bao gồm các công trình nghiên cứu của học giả Đức và các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài, trong đó có học giả Việt Nam
Các công trình nghiên cứu mang tính lý luận
Trong nhóm này, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, phần lớn
là các học giả đến từ Mỹ, chiếm ưu thế so với công trình của các học giả Đức và học giả các nước khác
Trước hết, phải kể đến công trình nổi bật của trường phái Văn hóa và nhân cách
mang tên “Các mô thức văn hóa" (Patterns of culture – Nxb Mariner Books
1934/2005)củaRuth Benedict Benedict cho rằng “một nền văn hóa – cũng giống như một cá nhân – ít nhiều là một hình mẫu / mô thức tư duy và hành động nhất quán Mỗi một nền văn hóa tạo ra những mục đích đặc trưng mà họ không cần phải chia sẻ với những xã hội khác” (Benedict, 20058, tr 54) và phân loại văn hóa ra hai mô thức chính,
đó là mô thức kiểu “Apollo” (Apollonian) và mô thức kiểu “Dionysus” (Dionysian) Công trình rất có ý nghĩa nền tảng cho luận án của chúng tôi
1990 Edward T Hall trong “Chiều kích ẩn dấu 9” (The Hidden Dimension – Nxb Anchor, 240 tr.) đã nghiên cứu cách con người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau sử dụng không gian giao tiếp (proxemic) như thế nào Hall cho rằng phản ứng sở hữu không gian đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Nghiên cứu cách lựa chọn và ứng
xử trong vùng không gian xung quanh giúp hiểu rõ tâm thức văn hóa của từng cộng đồng hoặc quốc gia dân tộc Tác giả lý giải 4 vùng/ khoảng cách giao tiếp khác nhau tùy theo đối tượng giao tiếp cũng như văn hóa giao tiếp của mỗi cộng đồng khác nhau,
đó là vùng thân mật (intime distance), vùng riêng tư (personal distance), vùng xã giao (social distance) và vùng đại chúng (public distance) Lý thuyết không gian giao tiếp có thể được vận dụng hiệu quả để triển khai đề tài
1992 John G Jachbar và Kelvin Lause trong “Giới thiệu về Văn hóa đại chúng”
(Popular Culture – An Introductory Text – Nxb Popular Press) đã đề xuất lý thuyết
Ngôi nhà văn hóa với một tầng móng và hai tầng lầu, qua đó, tâm thức văn hóa, những
8 Công trình “Các mô thức văn hóa” (Pattern of culture) được xuất bản đầu tiên vào năm 1934 Bản gốc mà
chúng tôi tiếp cận được tái bản vào năm 2005 Vì vậy mọi thông tin về số trang được trích dẫn trong luận án đều từ bản in năm 2005
9 Ấn phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1966
Trang 14niềm tin và giá trị nền tảng, những niềm tin và giá trị bề mặt tương tác lẫn nhau Những sản phẩm văn hóa, những anh hùng hư cấu và anh hùng tồn tại thật trong thực tế được phân tích Tất cả giúp tìm ra hệ giá trị của một nền văn hóa Công trình có giá trị về mặt
lý luận để triển khai luận án
Erin Meyer trong “Bản đồ văn hóa”, xuất bản năm 2014, so sánh tính cách Đức
với tính cách Mỹ Theo đó, người Đức và người Mỹ có rất nhiều điểm tương đồng trong tính cách như: đánh giá người khác dựa vào năng lực và sự đúng giờ Một số tính cách khác biệt ở mức độ thể hiện Cụ thể, người Đức phê bình nhiều hơn và thẳng thắn hơn (tr 69) Khác biệt duy nhất là người Đức trọng lý thuyết còn người Mỹ trọng thực hành (tr 96) Đây là công trình rất có giá trị về mặt lý thuyết để vận dụng nghiên cứu nội dung luận án
2013 Trần Ngọc Thêm trong “Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng”
(Nxb Văn Nghệ, 675 tr.) đề xuất thuyết hệ thống - loại hình, theo đó văn hóa được chia theo hai loại hình chính, là “văn hóa trọng tĩnh” và “văn hóa trọng động” Giữa hai loại hình chính là loại hình trung gian Ở mỗi loại hình văn hóa, con người nhận thức, tổ chức và ứng xử khác nhau dẫn đến những tính cách được hình thành cũng khác nhau Đây là công trình của học giả Việt Nam thuộc lĩnh vực văn hóa học rất có giá trị tham khảo cho đề tài
2015 Trong “Văn hóa và tổ chức – phầm mềm tư duy” (bản tiếng Việt thuộc Nxb
ĐHQG Hà Nội, 668 tr.), Hofstede G., Hofstede G.J và Minkow M dựa trên hệ thống
dữ liệu gốc mà Hofstede G đã tổng hợp khi nghiên cứu các nhân viên MBI năm 1991,
2005 để đề xuất 6 chiều kích văn hóa giúp nhận diện đặc tính của mỗi quốc gia: khoảng cách quyền lực; chủ nghĩa cá nhân tương phản với chủ nghĩa tập thể; nam tính tương phản với nữ tính; tâm lý tránh bất định; định hướng dài hạn tương phản với định hướng ngắn hạn; đam mê, hưởng thụ tương phản với kiềm chế (tr 91-398) Nhóm tác giả có
mẫu dữ liệu khảo sát con người tại 50 quốc gia (tr.59), những số liệu mỗi nước được thống kê thành từng bảng riêng, trong đó có số liệu về Đức Thuyết các chiều kích văn hóa rất có giá trị tham khảo cho luận án của chúng tôi
Về cơ sở cho các khái niệm then chốt của luận án, có công trình của Larsen Knud
S và Lê Văn Hảo với tựa đề “Tâm lý học xuyên văn hóa” (Nxb ĐHQGHN- 2015) rất
đáng tham khảo Dù tựa sách có vẻ ít có liên quan đến đề tài của luận án, song chương
Trang 151 của công trình (từ trang 16 đến trang 48) bàn về lý thuyết hành vi (tr 16-17), các cách tiếp cận (tr 18), các giá trị và chiều cạnh văn hóa (tr.33-38) – là những nội dung rất hữu ích cho chúng tôi khi triển khai đề tài về mặt lý luận
Các công trình nghiên cứu mang tính lý luận của học giả Đức liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi tiếp cận được khá ít, cụ thể:
2005 Alexander Thomas trong “Khái luận về giao tiếp và hợp tác liên văn hóa”
(Handbuch Interkulturelle Kommunikation und Kooperation – Band 1- Nxb Vandenhoeck & Ruprecht Konast) cho rằng các chuẩn mực văn hóa là toàn bộ những đặc trưng quan trọng trong ứng xử của các thành viên một quốc gia, dân tộc hoặc của một cồng đồng văn hóa nhất định (tr 19-31) Dựa vào những đặc trưng này, Thomas đã
đề xuất 7 chuẩn mực văn hóa Đức: định hướng công việc, định hướng quy tắc, thẳng thắn/ trung thực, giữ khoảng cách giữa các cá nhân, kiểm soát bản thân, kế họach thời gian và phân biệt giữa lĩnh vực cá nhân và công việc Đây là những cở sở lý luận quan trọng bổ ích cho việc triển khai đề tài
Các công trình nghiên cứu mang tính thực tiễn
Các công trình nghiên cứu mang tính thực tiễn của các học giả nước ngoài (góc
nhìn khách thể) lẫn các học giả Đức (góc nhìn chủ thể) khá phong phú, được trình bày
lần lượt dưới đây
Những công trình liên quan trực tiếp đến người Đức và tính cách Đức từ góc nhìn khách thể được tập hợp vào nhóm này nhằm mang lại nhận xét đa chiều đối tượng nghiên cứu
Trong “Thế nào là Đức?” (Was ist deutsch?, 2005), giáo sư người Anh Gelfert,
H.-D đưa ra khá nhiều nhận định mới mẻ về tính cách Đức hiện tại Tác giả khẳng định rằng nhận xét về tâm tính một dân tộc rất khó chính xác, vì những tính cách đối lập thường tồn tại song song Ngay cả những tính cách của dân tộc cũng không mang tính phổ quát cho toàn thể thành viên của dân tộc đó Điều không thể phủ nhận là những đặc trưng trong ứng xử và giá trị của mỗi dân tộc phần lớn được nhận ra từ bên ngoài – nghĩa là từ quan điểm tiếp cận etic Người Đức ngày nay rất ít nét đặc trưng Đức, họ không còn ý thức phục tùng tuyệt đối, cũng ít siêng năng hơn trước đây Họ như những người Châu Âu bình thường khác, tập trung vào những mục đích cụ thể hàng ngày cũng
Trang 16như những nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Để có cái nhìn tổng thể về tính cách
Đức, Gelfert tập trung miêu tả các khái niệm bản lề như “quê hương”, “sự an toàn”, “sự siêng năng”, “ý thức trách nhiệm”, “nghiêm túc”, “trật tự”, “đúng giờ”, “tiết kiệm”,
“kỹ lưỡng” (tr 23-47)
2014 Deane, N trong “Modern Germany – an outsider’s view from the inside”
(Nxb Pro BUSINESS) đưa ra cái nhìn mới mẻ về nước Đức và người Đức từ quan điểm của một người Anh sống khá lâu năm ở Đức Deane dành chương 3 (từ trang 66 đến 86) để nói về người Đức và nhận xét rằng dù đời sống vật chất vương giả nhưng họ ít hài lòng với cuộc sống Họ luôn đi tìm cái tuyệt đối, cái hoàn hảo Khi chưa đạt đến mức độ hoàn hảo như mong đợi, họ luôn trong cảm giác lo sợ Dù dung lượng nhỏ (chỉ
20 trong số 240 trang của toàn bộ công trình) song tác giả đã cung cấp những nhận định quan trọng về tính cách người Đức hiện đại
2005 Tạp chí Tấm gương10 (der Spiegel) số đặc biệt kỷ niệm 60 năm Thế chiến
thứ 2 kết thúc, đăng bài của Matussek M “Fritz thời Nazi và Jürgen thời bình – Người Anh nhìn người Đức như thế nào”11 (Nazi-Fritz und Friendens-Jürgen – Wie die Briten die Deutschen sehen) Tác giả luận bàn về cái nhìn của người Anh đối với người Đức Theo Matussek, vì người Anh không thiện cảm với người Đức nên khi nhận xét, người Anh thường chú trọng vào những nhược điểm (Đức quốc xã, những kĩ sư không hài hước) Điều đáng chú ý là người Anh không quan tâm đến nước Đức hiện tại cũng như nước Đức trong quá khứ, họ chỉ quan tâm duy nhất thời kỳ Đức quốc xã Hình ảnh
người Đức trong mắt người Anh “mang giày ủng, kỷ luật, thô lỗ, không hài hước”
không được “cập nhật” nên mang nặng thành kiến Nguyên nhân: người Anh khó chấp nhận được thực tế rằng sau Thế chiến thứ 2, họ đã mất đi phần lớn các thuộc địa dẫn đến vương quốc bị thu hẹp lại, trong khi kẻ bại trận lớn nhất là Đức lại vươn lên thành cường quốc kinh tế lớn thứ 3 thế giới (tr 55, 56) Khảo sát TNS-Emnid được tiến hành
ở Anh, kết quả là người Anh nhận thấy người Đức siêng năng (56%), hiếu khách (37%), thiện cảm (36%), vui vẻ (26%), cởi mở với thế giới (26%) và vị tha (25%)
10 Tạp chí Der Spiegel là tạp chí hàng đầu ở Đức xét về chất lượng bài viết Nguồn:
Zeitschriften-und-Zeitungen-an-106612
https://www.horizont.net/medien/nachrichten/-Medien-als-Arbeitgeber-Spiegel-fuehrt-Ranking-deutscher-11 Nazi là từ víết tắt của Nationalsozialismus: Chủ nghĩa xã hội dân tộc / Spiegel special 2005: 43
Trang 172017 Từ góc nhìn chính trị, Lever trong “Berlin Rules Cách của người Đức”12
(Thanh Yên dịch, Nxb Tổng hợp TP.HCM) phân tích vai trò của Đức trong Liên minh châu Âu (EU), cách người Đức lãnh đạo, thể hiện sức mạnh chính trị và kinh tế, cách
họ đối diện và xử lý những vấn đề của EU hiện tại Không nhằm mục đích nghiên cứu tính cách Đức, nhưng tác giả gián tiếp lý giải khá nhiều tính cách đặc trưng của người Đức, đặc biệt là của giới chính trị gia Công trình cung cấp những dữ liệu cập nhật rất hữu ích cho luận án
2002 Wojciechowski Krzysztof công bố “Người Đức yêu qúy của tôi” (Meine lieben Deutschen, Nxb Westkreuz) Theo ông, người Đức rất kiệm lời trong giao tiếp, nghiêm túc, không đùa giỡn như người Ba Lan Họ có quá nhiều quy định, chẳng hạn
như những quy định ranh giới giữa đời sống cá nhân và đời sống công cộng rất chặt chẽ và ai cũng ý thức rằng những quy định này phục vụ các thành viên trong xã hội
Wojciechowski nhấn mạnh đến nỗi sợ của người Đức Để “đối phó” với sự sợ hãi luôn
bên mình, người Đức tính toán mọi thứ kỹ lưỡng, vận dụng tất cả các biện pháp an toàn
có thể để không xảy ra rủi ro Ý thức về sự ngăn nắp và sạch sẽ là đặc điểm nổi bật của người Đức Công trình rất có giá trị tham khảo cho luận án
Từ góc nhìn của người Pháp, Nuss B mượn tên của nhân vật chính trong tác
phẩm của Goethe J.W để đặt cho công trình của mình “Hội chứng Faust” (Das
Faust-Syndrom, 1993, Nxb Bouvier) với mục đích phân tích tâm lý của người Đức Nuss cho
rằng, người Đức hội đủ những “bệnh” của nhân vật Faust, “họ sống ở cả 3 cõi, đó là thiên đàng, trần thế và địa ngục Điều đó tạo ra bi kịch nhưng cũng đồng thời làm cho
họ trở nên vĩ đại” (tr 9) Theo Nuss, 3 yếu tố đóng vai trò quan trọng trong đời sống
tinh thần của người Đức là ngôn ngữ Đức, Tân giáo và Triết học (phần 1, từ trang 15 đến trang 43) Trong 5 phần còn lại (từ trang 44 đến trang 206), Nuss phân tích tỉ mỉ
từng tính cách gắn với người Đức thông qua dẫn chứng cụ thể và kết luận rằng “Những người con của Faust” đa tính cách, luôn khát khao đi tìm cái tuyệt đối và hứng chịu
những bi kịch trong cuộc sống Tác giả cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho đề tài
2005 Tạp chí Tấm gương (Der Spiegel) đăng bài “Cảm giác Châu Âu mạnh mẽ
- Người Pháp nhìn người Đức như thế nào” (Starkes europäisches Gefühl - Wie
12 Thanh Yên dịch từ bản tiếng Anh của Nxb First News
Trang 18Franzosen die Deutschen sehen) của tác giả Georges Marion13 Theo tác giả, quan hệ giữa hai nước trong lịch sử đã từng có những thăng trầm, nhưng giờ đây người Pháp đã quan tâm hơn đến người Đức Tuy vậy, những quan tâm trong lĩnh vực chính trị và văn hóa không giúp thay đổi những thành kiến tồn tại khá lâu trong suy nghĩ của người Pháp
về người Đức Nghĩa là, người Pháp vẫn ít thiện cảm với người Đức Năm 2004, Emnid14 cũng tiến hành khảo sát trên 500 người Pháp thông qua câu hỏi “Những tính
TNS-cách nào sau đây phù hợp với người Đức?” Kết quả: siêng năng (61%), hiếu khách (42%), thiện cảm (38%), vui vẻ (37%), cởi mở với thế giới (28%) và vị tha (28%) Điều
này cho thấy cái nhìn của người Pháp về người Đức đã thiện cảm hơn nhiều so với đánh giá của tác giả Marion Bài viết cho thấy những nghiên cứu mang tính định lượng về tính cách ít phản ánh đúng hiện thực và cần được làm rõ bằng những luận chứng cụ thể
Nga là dân tộc ở Châu Âu có nhiều gắn bó với dân tộc Đức Wladimir Kaminer
trong “Chào thân ái từ nước Đức” (Liebe Grüße aus Deutschland, 2011, Nxb Wilhelm
Goldmann) cho rằng chính điều kiện địa lý tạo hình tính cách của con người Nếu người Nga là con người của đồng cỏ thì người Đức là con người của rừng Kaminer phân tích
tầm quan trọng của “sự trật tự” đối với người Đức Giá trị của tính cách này vượt ra
ngoài ý nghĩa thông thường của khái niệm “trật tự” Vì vậy, theo Kaminer, cần phải lý giải tính cách này trong bối cảnh của nước Đức mới hiểu đúng và đầy đủ vai trò của sự trật tự Theo Kaminer, nhiều tính cách mang giá trị ở nước Đức nhưng là phi giá trị ở Nga Vì vậy không thể tách tính cách của một dân tộc ra khỏi không gian sống của họ Những đúc kết của tác giả ngắn gọn (chỉ trong 6 trang) nhưng rất có giá trị cho luận án khi phân tích tính cách Đức theo hệ tọa độ ba chiều: không gian – chủ thể - thời gian
Một số học giả đến từ Phương Đông cũng quan tâm nghiên cứu tính cách Đức
Cụ thể là một số nhà nghiên cứu đến từ Israel (“Một mình giữa những người Allein unter den Deutschen, 2012, Tenenbom, T.), Thổ Nhĩ Kỳ (“Thánh Alah tha tội, nhưng ông quản gia thì không” - Alah verzeiht, der Hausmeister nicht, 2009, Pemuk, K.), Tunisia (“Lời chào từ Châu Phi” - Grüß Gott aus Afrika, 2012, Kileo, E.), Ấn Độ (“Bằng ánh nhìn khác Nước Đức và người Đức từ góc nhìn của một người Ấn Độ” -
Đức”-Mit anderen Augen Deutschland und die Deutschen aus der Sicht einer Inderin, 2003,
13 Georges Marion là thư tín viên tờ nhật báo Le Monde tại Berlin
14 TNS-Emnid là một trong những Viện nghiên cứu, khảo sát ý kiến lớn nhất ở Đức được thành lập năm 1945
Trang 19Ogale S.) Mỗi người tập trung vào một nét riêng của người Đức mà theo họ là đặc trưng, cụ thể là người Đức trọng sự an toàn thể hiện qua hệ thống an sinh xã hội hoàn hảo (Kileo, K.), trọng sự yên tĩnh và ít ồn ào, quá nhiều quy định làm cho cuộc sống gò
bó (Pemuk, K.), đằng sau vẻ ngoài thô kệch là một tinh thần làm việc không mệt mỏi
và luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác trong mọi tình huống (Ogale S.), thực tế và rất cần mẫn trong kinh doanh (Tenenbom, T.) Các nghiên cứu, dù chỉ dừng lại ở mức đánh giá thông qua những trải nghiệm bản thân, cũng cung cấp thêm cái nhìn đa chiều đối tượng nghiên cứu
1988 Công trình “Người Đức các bạn, người Nhật chúng tôi: so sánh tâm tính
và tư duy” (Ihr Deutschen, wir Japaner: ein Vergleich von Mentaliät und Denkweise,
Nxb Econ) của Tatsuo O rất có giá trị tham khảo vì những kết luận mang tính khoa học của tác giả Tatsuo lý giải nhiều nét tính cách giống nhau và một số tính cách khác biệt giữa người Nhật và người Đức bằng những dẫn chứng cụ thể trong công việc và đời sống cá nhân Công trình rất có ý nghĩa lý giải sự giống nhau trong tính cách của một số dân tộc dù không gian sống khác nhau
Nhìn từ Việt Nam, bài “Quan hệ Việt-Đức nhìn từ góc độ giao tiếp liên văn hóa”
đăng trong Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm 35 năm Quan hệ ngoại giao giữa CHLB Đức và CHXHCN Việt Nam năm 2015 có giá trị nhất về mặt khoa học Tác giả Phạm Quang Minh dựa theo “Chuẩn mực văn hóa Đức” của Thomas A khái quát bảy đặc trưng cơ
bản của văn hóa Đức: 1) Tính định hướng trong công việc, vấn đề (Subject Orientation),
nghĩa là trong giao tiếp, người Đức tập trung vào nội dung công việc hơn là người trình
bày công việc (Tasks are more important than people) ; 2)Tính định hướng quy tắc (Rule orientation); 3) Tính thẳng thắn, chính xác (Directness - veracity); 4) Giữ khoảng cách giữa các cá nhân với nhau (Interpersonal distance differentiation); 5) Tính kiềm chế có tính chủ quan (Internalized control); 6) Tính kế hoạch thời gian và sự đúng giờ (Time- planing and Punctuality; 7) Tách bạch giữa lĩnh vực cá nhân và công việc (Seperation
from personal and livingsfield) Tác giả đã đưa ra nhiều ví dụ cụ thể cho những chuẩn mực này và phân tích, so sánh chuẩn mực văn hóa Đức với chuẩn mực văn hóa Việt (tr 69) Dù dung lượng nhỏ (10 trang), chỉ trong phạm vi một bài báo, nhưng những kết quả nghiên cứu của tác giả hữu ích ở cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn cho đề tài
Trang 20Ngoài ra, tính cách người Đức được nhắc đến trong một số công trình khác của các nhà nghiên cứu người Việt, có gia trị tham khảo khi thực hiện đề tài, cụ thể:
2004 Nguyễn Xuân Xanh trong “Nước Đức thế kỷ XIX – Những thành tựu khoa học và kỷ thuật” (Nxb Tổng hợp) nhắc đến “lao động cần cù, chân tay cũng như trí óc,
là sự đúng giờ, là tính chính xác, sống có nguyên tắc, kỷ luật, trật tự và vệ sinh” (tr 21)
“Phác thảo chân dung đời sống văn hóa Đức đương đại” là công trình của Lương
Văn Kế và Trần Đương - hai tác giả có nhiều năm học tập và nghiên cứu ở Đức (2004, Nxb ĐHQG Hà Nội) Bên cạnh những thông tin về điều kiện tự nhiên và xã hội, công trình cung cấp bức tranh khá toàn diện về văn hóa Đức, từ tôn giáo, phong tục, lễ hội, đến văn học nghệ thuật (từ trang 89 đến trang 262) mang lại những kiến thức nền tảng hữu ích cho luận án của chúng tôi
2011 Gia Khang và Kiến Văn trong “Trí tuệ dân tộc Đức” (Nxb Thời đại) không
bàn đến tính cách Đức mà phân tích những yếu tố địa lý, chính trị dẫn đến việc hình thành một nước Đức của Thế kỷ 20 với nhiều thăng trầm và biến cố Hai tác giả nhắc đến sự tỉ mỉ trong tư duy (tr 177), thẳng thắn và thành thực trong giao tiếp (tr 189),
tuân thủ nghiêm luật pháp, trật tự và rất nguyên tắc Tác giả nhận định “Đức đương nhiên là một quốc gia pháp chế…, về tính chặt chẽ trong lập pháp và tính nghiêm khắc trong chấp pháp, ít có nước nào đạt được trình độ như Đức” (tr 193)
Bên cạnh những công trình của các học giả người nước ngoài nêu trên còn có nhiều công trình của các tác giả người Đức nghiên cứu về chính dân tộc Đức, mang lại bức tranh chung nhất về đối tượng nghiên cứu là người Đức
Willy Hellpach trong “Tính cách Đức” (Der deutsche Charakter - 1954) đã phân
tích cấu trúc xã hội Đức (68 trang), những thay đổi của người Đức (80 trang) và đúc kết
thành sáu tính cách đặc trưng của dân tộc Đức (trong 58 trang), đó là khát khao hoàn thành (Schaffendrang), kỹ lưỡng (Gründlichkeit), sự trật tự, ngăn nắp (Ordnungsliebe), không trọng hình thức (Formabneigung), tính ương ngạnh (Eigensinn) và hay mơ mộng
(Schwärmseligkeit)
Caspar Schrenck – Notzing trong “Tẩy rửa tính cách” (Charakterwäsche - 1965)
phân tích giai đoạn nước Đức bị các nước đồng minh, cụ thể là Mỹ, chiếm đóng sau Thế chiến thứ 2 và những kế hoạch cải cách của Mỹ nhằm tẩy rửa tính cách người Đức
Trang 21Mỹ đã thực hiện 3 nhóm cải cách: bao gồm cải cách quân đội, cải cách cấu trúc xã hội
và cải cách tính cách
Năm 1967, Johannes Gross trong “Người Đức” (Die Deutschen – Nxb Heinrich
Scheffler) phân tích hoàn cảnh lịch sử xã hội cùng những yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến tính cách Đức, đó là vấn đề đối diện với lịch sử, đất nước chia cắt, phân chia đảng phái chính trị, vai trò của thủ tướng, quan niệm của người Đức về quyền trong hệ thống luật pháp Trong 6 trang (từ trang 24 đến trang 29), Gross phát họa chân dung người Đức
bằng những khái niệm cơ bản như “trung thành”, “thoải mái”, “quê hương”, “rừng”,
“dân tộc”, “vui sướng trên nỗi đau của người khác” và “chửi thề” Theo Gross, trường
nghĩa biểu tượng của những khái niệm này “hé lộ” nhiều điều về tính cách người Đức
Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh Bộ luật cơ bản (trang 60-70) tạo nên “trật tự nền tảng vững vàng” (unabänderliche Grundordnung) cho mọi hoạt động của người Đức Công trình
cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Năm 1984, Paul Münch công bố “Sự trật tự, siêng năng và tiết kiệm” (Ordnung,
Fleiß und Sparsamkeit – Nxb dtv) dài 367 trang Theo Münch, bản thân người Đức ngại nghiên cứu về tính cách, vì sợ chỉ tập trung vào những điểm tốt dẫn đến thiếu cơ
sở khách quan Tác giả viện dẫn nhiều minh chứng cho thấy 3 tính cách đã nêu trong tên của công trình có nguồn gốc lâu đời, có giá trị vượt thời gian, vẫn tồn tại qua bao thăng trầm của lịch sử xã hội Đức để trở thành những phẩm chất công dân của người Đức
Rolf Breitenstein trong “Người Đức xấu xí? – Chúng ta trong tấm gương phản chiếu của thế giới” (Der häßliche Deutsche? – Wir im Spiegel der Welt, 1968, Nxb Kurt Desch) đi tìm khái niệm “người Đức” Đây là một khái niệm khá phức tạp Vậy
người Đức nên đại diện cho tất cả hay hơn thế nữa? Có người Đức là “công dân trên
hộ chiếu” của CHLB Đức và CHDC Đức Theo tác giả, không có hình ảnh người Đức chung chung, chỉ có hình ảnh người Đức từ các góc nhìn khác nhau Con người chúng
ta tồn tại ở ba hình thức: 1) theo cách chúng ta tự nhìn mình (ngã tính); 2) theo cách người khác nhìn chúng ta (tha tính) và 3) như chính chúng ta (bản chất) Qua tiếp xúc với người Đức bằng con đường trực tiếp hoặc gián tiếp, mỗi người đều có một bức tranh riêng lẻ về người Đức với những chi tiết hoặc đối lập nhau hoặc bổ sung cho nhau Theo
đó, chân dung người Đức được miêu tả theo 4 kiểu: người Đức xấu xí nhằm ám chỉ diện
Trang 22mạo bên ngoài thô kệch, cao lớn, giọng trầm ít gây thiện cảm; người Đức kỹ lưỡng “đã làm thì làm cho đến cùng”; người Đức bị phân tán vì những tính cách khác biệt của người Đức bên Tây và bên Đông Đức, và người Đức mới trong nước Đức thống nhất từ
năm 1990 đã thay đổi rõ rệt trong tính cách
1972 R.-H Tenbrock xuất bản ấn phẩm dày dặn (673 trang) “Lịch sử Đức quốc”15 (Phủ quốc vụ khanh đặc trách xuất bản) Trong 26 chương, tác giả phân tích lịch sử Đức trải dài 2000 năm, từ cổ đại đến cận đại Đây là công trình hiếm hoi của người Đức có phiên bản tiếng Việt Tuy không nghiên cứu về tính cách Đức, nhưng tiến trình lịch sử của một dân tộc là “mảnh đất” sinh ra và nuôi dưỡng tính cách con người
Vì vậy, công trình rất có giá trị tham khảo cho đề tài
Rainer Roth trong “Điều gì là đặc trưng Đức?” (Was ist typisch deutsch? - 1979)
đã phân tích những tính cách đối lập của người Đức Những đánh giá dao động từ sự
“ngưỡng mộ tột cùng” đến “ác cảm ghê gớm” Ngay cả những đánh giá của chính người
Đức cũng rất khác biệt nhau: bên cạnh sự kiêu ngạo vô lối là tâm trạng luôn phủ nhận chính mình; một mặt có khả năng vượt qua mọi nghịch cảnh nhưng mặc khác lại hay sầu não, bi quan Từ góc độ văn hóa chính trị, Roth đã giải thích hình ảnh nước Đức và
người Đức trong sự so sánh với các nước khác nhằm tránh những thành kiến cũng như những cái nhìn sai lệch trước đây
Hermann Glaser với bộ công trình bao gồm 6 ấn phẩm: 1- “Thái độ chuẩn mực
và phi chuẩn mực ở Đức” (Haltungen und Fehlhaltungen in Deutschland, cb., 1966, Nxb Rombach); 2- “Nhận ra và hành động – Hiện tại và tương lai xã hội Đức”
(Erkennen und Handeln – Gegenwart und Zukunft der deutschen Gesellschaft, cb.,
1967, Nxb Rombach); 3- “Tiếng Đức công cộng” (Das öffentliche Deutsch, 1972,
Nxb S Fischer); 4-“Sợ hãi tương lai, nỗ lực hi vọng” (Angst vor der Zukunft, Versuche
der Hoffnung, 1978, Nxb Carl Hanser); 5- “Văn hóa Đức từ 1945-2000” (Deutsche Kultur 1945-2000, 1997, Nxb Carl Hanser); 6- “Hitler đã hủy hoại tinh thần người Đức như thế nào – Chính sách văn hóa thời kỳ Đế chế thứ 3” (Wie Hitler den deutschen
Geist zerstörte Kulturpolitik im Dritten Reich, 2005, Nxb Ellert & Richter) Glaser phân tích lịch sử văn hóa Đức thế kỷ 20, chính sách văn hóa thời kỳ Đức quốc xã, hoàn cảnh nước Đức sau Thế chiến, cách tái thiết, quá trình chia cắt, thống nhất, nỗ lực dung
15 Trần Đổng dịch từ nguyên tác Đức ngữ
Trang 23hòa hai miền Đông và Tây Đức Dù không chú trọng vào nghiên cứu tính cách Đức, nhưng những phân tích của Glaser về suy nghĩ và tâm trạng của người Đức trước những biến cố xảy ra, cách họ đối diện với những lỗi lầm trong quá khứ cũng như nỗ lực hiện tại nhằm xóa bỏ các thành kiến là những cứ liệu quan trọng giúp phân tích tính cách Đức qua những sự kiện lịch sử
1989 Norbert Elias xuất bản “Những nghiên cứu về người Đức” (Studien über
die Deutschen, Nxb Surkamp Nördlingen, 554 tr.) Được xem là “tiểu sử nước Đức”, công trình của Elias nghiên cứu quá trình hình thành nhà nước từ thời kỳ Wilhelm cho đến thời kỳ Cộng hòa Liên bang Tác giả trăn trở với câu hỏi “Những truyền thống nào của người Đức khiến cho đất nước của Kant, Goethe và Schiller gây ra những hành động man rợ trong lịch sử cận đại? Liệu người Đức ở hai miền Đông, Tây cùng một dân tộc nhưng thù ghét nhau sẽ mang lại điều gì? Tương lai nào cho nhà nước Cộng hòa Liên bang?” Tuy không nghiên cứu trực tiếp tính cách người Đức, nhưng công trình dày dặn của Elias cung cấp nhiều thông tin giá trị cho đề tài chúng tôi đang thực hiện
1994 Trong “Hai ngôi làng ở Đức” (Zwei Dörfer in Deutschland, Nxb Leske
+Budrich), Gebhardt W và Kamphausen G nghiên cứu sự khác biệt giữa Đông Đức và Tây Đức, trường hợp hai ngôi làng cụ thể ở hai miền Qua phân tích điều kiện tự nhiên và văn hóa của hai ngôi làng (chương 2, từ trang 27 đến trang 56), hai tác giả rút ra những giá trị ổn định và những giá trị đã phai mờ, nỗi lo chủ nghĩa cá nhân sẽ lấn áp tính cộng đồng vốn có trong ngôi làng ở Đông Đức và hi vọng tính cộng đồng sẽ giúp người dân trong ngôi làng ở Tây Đức bớt ích kỷ Công trình cung cấp dữ liệu về những khác biệt tính cách nội trong một cộng đồng dân tộc nên rất hữu ích cho luận án tham khảo
Otto May trong “Là người Đức nghĩa là trung thành” (Deutsch sein heißt treu
sein, 1998, Nxb August Lax) tập hợp và phân tích 13.000 bưu thiếp giai đoạn Đế chế Đức thời vua Wilhelm Đệ Nhị trị vì (1888-1918) để cho thấy các hình thức tuyên truyền
những tính cách Phổ truyền thống “sự trật tự”, “vâng lời”, “lòng trung thành” và ”ý thức thực hiện nghĩa vụ đối với tổ quốc”, cách Đế chế Đức rèn luyện công dân những
phẩm chất cần có của chủ nghĩa Wilhelm (Wilhelminismus) Tác giả cho rằng những bưu ảnh phản ánh khá rõ nét tính cách của con người thời đại đó Đây là nghiên cứu quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc của những tính cách Đức hiện tại
Trang 24Hermann Bausinger trong “Đặc trưng Đức” (Typisch deutsch, 2000, Nxb C.H Beck) đi tìm câu trả lời cho “Đâu là những đặc trưng rất Đức?” Tác giả phân tích sự
hợp lý và bất hợp lý của việc phân loại tính cách, vì người nhận xét về tính cách người Đức thường quy chiếu những tính cách ấy theo những tiêu chuẩn trong nền văn hóa của mình Kết quả là không có một hình ảnh người Đức thống nhất Vì định vị mình trong không gian vùng miền hơn là không gian của quốc gia, dân tộc, người Đức không thể hiện lòng tự hào dân tộc Nếu được hỏi, họ sẽ trả lời họ tự hào về nền công nghiệp, công nghiệp sản xuất xe hơi, những tiến bộ và thành tựu, sự trật tự và siêng năng Bausinger
nêu một số đức tính tốt của người Đức: tinh thần chiến đấu, sự bền bỉ, trật tự, kỷ luật
và cứng rắn, nếu trong thể thao người Đức nổi tiếng về việc “lội ngược dòng” Ngoài
ra, tác giả cũng cho rằng người Đức thích đi du lịch hơn là chỉ ở cố định một nơi, có tính cộng đồng và yêu thiên nhiên Những kết luận của Bausinger rất có giá trị cho
nghiên cứu của chúng tôi
Alexander Demandt trong “Bàn về người Đức” (Über die Deutschen, 2007, Nxb Propyläen) cho rằng “tính cách dân tộc” là một khái niệm khá phức tạp vì nó hàm chứa
trong đó những khuôn mẫu có sẵn (Klischee, cliché) Nhưng ông cũng khẳng định rằng những khuôn mẫu này dựa trên “nền tảng” giá trị và cần phải nghiên cứu Theo
Demandt, người Đức thường được gắn với những tính cách như ý thức trật tự, siêng năng, đáng tin cậy, giàu ý tưởng và trung thành (Demandt, 2007, tr 28), và điều đặc
biệt là họ luôn gìn giữ những tính cách này cho dù là đang sống ở đâu, nghĩa là sự thay đổi không gian sống không dẫn đến những thay đổi tính cách Minh chứng là nhiều người Đức nhập cư sang Mỹ còn thuần Đức hơn những người nước ngoài nhập cư vào Đức; hay người Đức nhập cư sang Nga vẫn bảo tồn văn hóa Đức thể hiện qua các ngôi làng Đức tại Nga Kết quả nghiên cứu của Demandt cung cấp cái nhìn toàn diện văn hóa Đức và mối tương qua giữa không gian sống và sự vận động của chủ thể và quá trình hình thành tính cách con người
2007, trong “Tâm tính người Đức - Cách chúng ta suy nghĩ, cảm xúc và hành động” (Die Psyche der Deutschen - Wie wir denken, fühlen und handeln, Nxb Patmos)
Klaus-Uwe Adam phân tích những biến đổi tâm lý của người Đức sau biến cố Thế chiến thứ 2 (chương 1- 18 trang) Họ mặc cảm tự ti, không muốn người khác biết mình là người Đức, tránh sử dụng cụm từ “chúng ta”; tâm lý bi quan, suy nghĩ tiêu cực (chương
Trang 254 – 21 trang) Tác giả cho rằng người Đức hành động theo lý trí và để lý trí điều khiển
mọi việc Sự thông minh, sự sáng suốt, có lý trí, có khả năng tư duy là những tính cách
mà họ hướng đến Họ đánh giá cao những người “có đầu óc minh mẫn” và làm việc bằng “cái đầu” Nếu một nhóm phác thảo kế hoạch mới trong lĩnh vực chính trị hoặc
khoa học xã hội, họ được gọi là một “cỗ xe tư duy” Tư duy phản biện được xem như
là một liều thuốc vạn năng giúp tìm ra những ý tưởng mới (tr 57) Sự bền vững, bảo vệ môi trường, tái chế và năng lượng thay thế là những điều người Đức quan tâm và họ yêu cầu tranh luận nghiêm túc về chúng Họ vận dụng tư duy để tạo ra các quy chuẩn tốt để dẫn đầu thế giới trong những lĩnh vực trên Nói cách khác, nhờ tư duy chính xác
và kỹ lưỡng, người Đức tạo ra những sản phẩm tối ưu Adam khẳng định người Đức ngưỡng mộ những nhà tư tưởng vĩ đại hơn là những người giàu cảm xúc với một trái
tim vĩ đại (2007, tr 51) Những tính cách gắn liền với tư duy là sự chân thật, sự cẩn thận, ý thức trách nhiệm, trung thành, ý thức về sự công bằng, sẵn sàng hy sinh và sự
kỹ lưỡng Nhưng trên hết là sự chân thật - tính cách này đã trở thành vốn quý Sự chân
thật luôn được xếp ở vị trí số một trong tất cả những khảo sát về giá trị ở Đức (tr 59)
Từ góc nhìn tâm lý học, những kết luận của công trình rất có giá trị tham khảo cho luận
án
2016 “Những điều tốt nhất ở Đức” (The Best of Germany, 2006, Nxb Gabler,
528tr.) do Langenscheidt F chủ biên 250 lý do để yêu nước Đức ngày nay được hội đồng các giáo sư và những người nổi tiếng trong tất cả các lĩnh vực bình chọn Đáng chú ý có ba lý do liên quan đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu, đó là vai trò của cây sồi trong đời sống vật chất cũng như tình thần của người Đức, Bộ luật cơ bản của Đức và người Đức đáng tin cậy (tr.128, 366, 480, 490)
Ngoài ra, một số công trình được viết theo kiểu “cẩm nang du lịch” như “1000
lý do để yêu nước Đức” (1000 Gründe, Deutschland zu lieben, 2009, Nxb edel entertainment, 800tr.) của Jutta Gay; “50 điều đơn giản đặc trưng Đức” (50 einfache
Dinge, die typisch deutsch sind, 2009, Nxb Westend, 208tr.) của tác giả Katrin
Wilkens; “Nước Đức tuyệt vời – chúng ta tốt hơn chúng ta nghĩ!” (Deutschland sehr
gut – Wir sind besser, als wir denken!, 2010, Nxb Fackelträger, 223tr.,) của C Schlesiger và M Werner Nổi bật nhất là tư duy phát triển bền vững của người Đức biểu hiện ở ngành công nghiệp “xanh” với các tiêu chuẩn hàng đầu thế giới về bảo vệ môi
Trang 26trường; hệ thống đào tạo nghề song hành được nhiều nước chọn làm hình mẫu và hàng loạt các trường đại học danh tiếng được Schlesinger và Werner đề cập trong vài trang (20-22,103) Còn lại, do tập trung chính vào liệt kê, các công trình chưa chú trọng đưa dẫn chứng khoa học cho các kết luận nên giá trị tham khảo cho đề tài tương đối ít
Qua các công trình nghiên cứu tính cách Đức mang tính thực tiễn và lý luận của các học giả Đức và học giả nước ngoài, có thể thấy mối quan tâm của họ đến đối tượng nghiên cứu không giống nhau
Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Điểm qua tình hình nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài, chúng tôi đưa ra mấy nhận định và tìm ra những khoản trống nghiên cứu sau:
Thứ nhất, đề tài được quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Dù
mức độ và cách thức khác nhau, nhưng giới nghiên cứu trong nước và ngoài nước dành
sự quan tâm đặc biệt cho văn hóa cũng như tính cách người Đức Điều này cho thấy, đề tài vẫn mang tính thời sự và cần được tiếp tục nghiên cứu
Thứ hai, rất nhiều công trình nghiên cứu công phu được thực hiện từ nhiều góc
độ vì các tác giả đến từ nhiều chuyên ngành khác nhau như lịch sử văn hóa, tâm lý học, nhân học, xã hội học, chính trị học, báo chí… cho thấy đây là đề tài mang tính liên ngành rõ rệt
Thứ ba, các khái niệm được sử dụng trong các công trình này không thống nhất,
có thể nêu ra đây vài ví dụ như tâm cách/ tâm tính (Mentalität/ mentality), tính cách (character), tính cách dân tộc (Nationalcharakter/ national character), bản sắc (Identität/ identity), bản sắc dân tộc (nationale Identität), tâm hồn (Seele), tâm lý (Psyche) Chúng tôi sẽ bàn cụ thể về những khái niệm này để khu biệt chúng với khái niệm bản lề được
sử dụng trong luận án là “tính cách văn hóa” của người Đức
Thứ tư, những nhận xét về văn hóa của chính mình hoặc tính cách văn hóa của
dân tộc mình mang tính khách quan hơn khi đối tượng được quan sát từ xa, nghĩa là chủ thể đứng bên ngoài không gian văn hóa để quan sát và đánh giá Ngoài ra, tính cách văn hóa của một cộng đồng khó được nhận diện riêng lẻ mà phần lớn được đặt trong so sánh với tính cách của một cộng đồng khác
Trang 27Thứ năm, phần lớn các tác giả là người nước ngoài đã được điểm qua đều có
khoảng thời gian sống ở Đức hoặc/ và làm việc với người Đức trong một thời gian dài Qua đó họ có điều kiện quan sát, đánh giá và đúc kết thành những nội dung trong các công trình của mình Nhận định về tính cách con người không thể thực hiện hời hợt mà
là những chiêm nghiệm dựa vào mức độ tiếp xúc sâu sắc và dày dạn Đây là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu của chúng tôi khi tìm hiểu cách nhìn của người Việt đối với tính cách văn hóa Đức, và cộng đồng người Việt ở Đức lâu năm sẽ là đối tượng để chúng tôi làm khảo sát
Thứ sáu, cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu tính cách
văn hóa Đức một cách hệ thống trên cơ sở phân tích các bình diện ảnh hưởng đến quá trình hình thành tính cách Đây chính là khoảng trống nghiên cứu đề tài mà luận án cần tìm cách giải quyết Kết quả từ những công trình nghiên cứu đã điểm qua sẽ là cơ sở rất quan trọng để chúng tôi triển khai luận án nhằm tìm ra bộ tính cách văn hóa Đức
Trên cơ sở đánh giá chung tình hình nghiên cứu, tác giả luận án sẽ kế thừa những kết quả đã nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết phù hợp và nghiên cứu vấn đề ở phương diện Văn hóa học nhằm cố gắng tìm ra những tính cách văn hóa đặc trưng (của người) Đức Góc nhìn của người Việt cũng được chúng tôi đề cập đến để có cái nhìn đa chiều đối tượng nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là Tính cách văn hóa Đức, nghĩa là tính cách
văn hóa của người Đức (với chủ thể là người Đức) Người Đức ở đây được hiểu là người
có quốc tịch Đức Những người Đức gốc nước ngoài cũng thuộc vào nhóm được nghiên cứu của luận án nhằm để đối chiếu so sánh quá trình hội nhập văn hóa của họ
Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu là nước Cộng hòa Liên bang Đức (đã thống nhất từ năm
1990) Ngoài việc tìm tài liệu, người viết thực hiện khảo sát tại nước Đức nhằm tìm hiểu tính cách Đức từ góc nhìn của người Việt ở Đức để có thêm cơ sở dữ liệu cho luận
án Vì luận án đề cập đến đối tượng người Đức ở Việt Nam cho nên Việt Nam, cụ thể
là Thành phố Hồ Chí Minh cũng thuộc vào không gian nghiên cứu của đề tài
Thời gian nghiên cứu: trên bình diện đồng đại, luận án tìm hiểu tính cách văn
hóa của người Đức hiện nay Trên bình diện lịch đại, luận án chủ yếu tìm hiểu quá trình
Trang 28hình thành tính cách Đức từ khi thành lập Đế chế La Mã thần thánh cho đến hiện tại vì hai lý do sau: 1) tính cách người Đức đã được định hình từ khi các giá trị văn hóa hình thành; 2) tính cách văn hóa thường là yếu tố ổn định và biến đổi chậm hơn so với các
yếu tố văn hóa khác
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án tập trung thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ sau:
- Phân tích các điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội Đức như là cơ sở hình thành tính cách văn hóa (của người) Đức
- Lý giải những tính cách văn hóa Đức thể hiện qua các thành tố văn hóa, đó là qua văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử của người Đức
- Đúc kết bộ tính cách văn hóa (của người) Đức, phân tích mức độ và phạm vi thể hiện những tính cách này
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng và lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi đặt ra các câu hỏi nghiên cứu liên quan để định hướng giải quyết vấn đề theo mục tiêu đề ra
- Tính cách văn hóa Đức được hình thành dựa vào những cơ sở nào? Vai trò của chủ thể là người Đức trong quá trình hình thành tính cách văn hóa Đức?
- Bộ tính cách văn hóa để nhận diện người Đức? Các bình diện thể hiện cũng như mức độ đặc thù hay phổ quát bộ tính cách này?
- Những tính cách văn hóa Đức nào giúp phân biệt Đức với những nước Châu Âu còn lại?
Vận dụng các lý thuyết nghiên cứu và dựa trên cơ sở tài liệu hiện có, chúng tôi đưa ra những giả thuyết nghiên cứu sau:
- Quá trình hình thành tính cách Đức chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên, lịch sử
xã hội và sự vận động của chính chủ thể là người Đức, trong đó, vai trò của chủ thể đóng vai trò vô cùng quan trọng
- Tính cách văn hóa (của người) Đức được nhận diện dựa vào hệ quy chiếu của người quan sát, nghĩa là dựa vào những chuẩn mực văn hóa của người đó
- Hệ tính cách văn hóa (của người) Đức bao gồm tư duy duy lý, trật tự, trọng quy tắc; kiên trì, xem trọng sự hiệu quả; bản lĩnh cá nhân mạnh mẽ; định hướng vùng miền
Trang 29Hệ tính cách này ít nhiều mang tính phổ quát Chính mức độ và phạm vi biểu hiện các tính cách mới tạo nên nét riêng của người Đức giúp khu biệt họ với những người châu Âu còn lại
6 Đóng góp mới của luận án
Về mặt lý luận, luận án vận dụng lý thuyết Các chiều kích văn hóa, thuyết Hệ thống - loại hình và lý thuyết Bản đồ văn hóa của những nhà nghiên cứu văn hóa tiêu
biểu trong và ngoài nước nhằm làm rõ những vấn đề chính như: xác định loại hình văn hóa Đức trên cơ sở định vị không gian, chủ thể văn hóa Đức và thời gian văn hóa; phân tích hệ giá trị Đức cũng như tâm thức văn hóa Đức nhằm rút ra những tính cách Đức đặc trưng giúp khu biệt người Đức với những người châu Âu khác vốn trong cùng một loại hình văn hóa Việc vận dụng các lý thuyết này nhằm mang lại những nhận thức mới
mẻ đối tượng nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa học chính là điểm mới của luận án Ngoài
ra, người viết kết hợp lý thuyết dựa theo kết quả nghiên cứu định lượng với lý thuyết dựa vào kết quả nghiên cứu định tính, kết hợp lý thuyết nghiên cứu nền tảng với lý thuyết nghiên cứu các biểu hiện nhằm phân tích đa chiều hệ tính cách văn hóa (của người) Đức nhằm tăng sức thuyết phục kết quả nghiên cứu của luận án Đây là đóng góp mới của đề tài trên phương diện lý luận
Đức là một dân tộc có rất nhiều đóng góp cho sự phát triển của nhân loại Những nhà khoa học tên tuổi, những triết gia lỗi lạc, những thành tựu mà người Đức mang lại đã góp phần làm thay đổi thế giới Vì vậy, nghiên cứu tính cách văn hóa (của người) Đức là điều cần thiết và có ý nghĩa khoa học sâu sắc Về phương diện này, luận án có đóng góp nhất định cho hướng nghiên cứu quan trọng trong Văn hóa học, đó là nghiên cứu tính cách văn hóa của một cộng đồng người, một dân tộc, cụ thể ở đây là người Đức
Về mặt thực tiễn, góc nhìn toàn diện về tính cách văn hóa (của người) Đức là tài liệu tham khảo quý báu cho người Việt trong quá trình hợp tác với người Đức Hợp tác giữa Đức và Việt Nam đang được tăng cường và mở rộng Không chỉ trong lĩnh vực kinh doanh, mà cả trong những lĩnh vực như khoa học, văn hóa, giáo dục… rất cần những hiểu biết sâu rộng về văn hóa cũng như cách nghĩ, cách ứng xử của đối tác là
Trang 30người Đức, nhằm tạo tiền đề cho những thành công và tránh những hiểu lầm không đáng có
Là người giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ Đức, thông qua kết quả nghiên cứu luận án, người viết muốn đóng góp những kiến thức nhất định của mình cho mảng nghiên cứu văn hóa Đức, qua đó tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc
7 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu của luận án
Luận án được thực hiện theo hướng tiếp cận Văn hóa học, dựa trên quan điểm liên ngành với sự tham chiếu các vấn đề lý thuyết, phương pháp của các ngành Nhân học văn hóa, Xã hội học, Lịch sử và Tâm lý học Để giải quyết những vấn đề đã đặt ra, luận án vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích định tính: luận án phân tích tính cách văn hóa Đức trên
bình diện lịch đại để tìm hiểu sự thay đổi tính cách qua nhiều giai đoạn lịch sử, phân tích những yếu tố tạo ra thay đổi và đúc kết thành những tính cách đặc trưng, có sức thuyết phục và tương đối ổn định qua thời gian Phương pháp này cũng được sử dụng
để phân tích các kết quả phỏng vấn Người viết vận dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc do Bryman (1987, tr 333) đề xuất để phỏng vấn những người Việt đã sống ở Đức lâu năm theo nhiều nhóm khác nhau, qua đó thu thập những thông tin thực tế về những nội dung luận án đề cập đến Cụ thể, chúng tôi chú trọng vào những vùng tập trung đông người Việt sinh sống, đó là thành phố Berlin, Hamburg, vùng Ruhr phía Tây Nam và vùng phía Đông của nước Đức Các đối tượng phỏng vấn là những người có thời gian tiếp xúc với người Đức đủ lâu16 để có cái nhìn bao quát về tính cách Đức, đối tượng người Đức mà họ tiếp xúc đa dạng để có đánh giá tương đối toàn diện về người Đức Chúng tôi lựa chọn đối tượng phỏng vấn theo tiêu chí lấy mẫu thuận tiện Ngoài
ra, để có thêm dữ liệu cho đề tài, chúng tôi tiến hành phỏng vấn người Đức tại Việt Nam
để xác định mức độ họ đồng ý với những tính cách đã được nêu trong các công trình nghiên cứu đến đâu cũng như khả năng bảo lưu và biến đổi tính cách văn hóa của họ trong điều kiện mới ra sao
16 Những người Việt sống lâu ở Đức nhưng không nói được tiếng Đức không thuộc nhóm phỏng vấn của chúng tôi, vì rào cản ngôn ngữ không làm cho họ có điều kiện tiếp xúc / tiếp xúc lâu với người Đức để có thể đưa ra những kết quả phỏng vấn có giá trị về mặt khoa học
Trang 31Phương pháp nghiên cứu so sánh được vận dụng để so sánh tính cách văn hóa
Đức trên cả hai bình diện lịch đại và đồng đại, cụ thể là so sánh tính cách văn hóa Đức qua các thời kỳ lịch sử quan trọng của nước Đức, tìm hiểu những nguyên nhân làm thay đổi những tính cách đó cũng như lý giải vì sao một số tính cách bị mờ nhạt dần; về mặt đồng đại, luận án so sánh tính cách văn hóa Đức từ góc nhìn chủ thể - tức của chính người Đức - với góc nhìn khách thể - tức của những người Châu Âu có nhiều tiếp xúc với Đức, nhằm làm nổi bật những tính cách đặc trưng Đức trong không gian văn hóa có nhiều điểm tương đồng Góc nhìn của người Việt cũng được luận án đề cập đến để nội dung so sánh được sắc nét hơn
Phương pháp hệ thống: “là phương pháp tư duy nhằm tìm kiếm, xác lập hoặc mô phỏng các mối quan hệ qua lại giữa các thành tố của đối tượng tư duy” (Trần Ngọc Thêm,
2013, tr 82) Vận dụng phương pháp này, người nghiên cứu chú ý đến các mối quan hệ giữa con người – môi trường sống, cá nhân – xã hội, tư duy – hành động, quan điểm của chủ thể - khách thể, giá trị - phi giá trị, tự ngã – siêu ngã Kết quả phân tích tương quan giữa các thành tố này giúp đem lại cái nhìn bao quát nhằm xác định những tính cách đặc trưng của người Đức
Hướng tiếp cận liên ngành được sử dụng trong luận án nhằm tổng hợp tri thức và
sử dụng tích hợp các phương pháp nghiên cứu của nhiều chuyên ngành có liên quan đã nêu ở trên Tính cách của con người có liên quan đến nhận thức, cách tổ chức đời sống
cá nhân và đời sống tập thể, đến tâm lý và cả những biến chuyển trong xã hội cũng như lịch sử của xã hội đó Cho nên hướng tiếp cận này rất quan trọng, giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài một cách toàn diện hơn
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, luận án sử dụng những nguồn tư liệu sau:
Nguồn tài liệu tham khảo: bao gồm các công trình nghiên cứu thuộc chuyên
ngành Văn hóa học và các ngành khác như lịch sử, tâm lý, xã hội học, nhân học, văn học …., các bài nghiên cứu, bài báo, tạp chí, các bài viết trên internet (hội đủ các điều kiện để trích dẫn) có liên quan đến đề tài Một số tự điển chuyên ngành cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo chủ yếu được viết bằng tiếng Việt, tiếng Đức và tiếng Anh, trong đó tài liệu viết bằng tiếng Đức giữ vai trò quan trọng, chiếm 2/3 nguồn tài liệu tham khảo
Trang 32Nguồn tư liệu khảo sát của luận án gồm các kết quả khảo sát định tính, cụ thể là kết quả khảo sát người Việt tại Đức, người Đức tại Việt Nam và các bảng biểu thống
kê Nguồn tư liệu này giúp chúng tôi có thêm dữ liệu thực tế để thực hiện đề tài
8 Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án
được chia thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn Ở chương này, chúng tôi đi vào trình bày
những cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu các vấn đề của luận án
Bên cạnh làm rõ lịch sử nghiên cứu vấn đề, chương 1 tập trung giải thích các
khái niệm bản lề như tính cách, tính cách văn hóa, các thành tố văn hóa, người Đức
Phần xác định tọa độ văn hóa Đức từ góc nhìn không gian, chủ thể, thời gian, qua đó, chúng tôi phân tích điều kiện tự nhiên, các giai đoạn văn hóa Đức, các vùng văn hóa Đức và quá hình trình thành các tộc người Đức Chương này đem lại cái nhìn chung nhất cũng như những dữ liệu cơ sở để triển khai những nội dung cụ thể trong các chương sau
Chương 2 Tính cách văn hóa Đức thể hiện qua các thành tố văn hóa Chương
này tập trung phân tích một số tính cách Đức thể hiện qua văn hóa nhận thức về vũ trụ
và về con người, văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng và đời sống cá nhân, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của người Đức Phần nghiên cứu trong chương này chủ yếu thực hiện trên bình diện đồng đại để rút ra tính cách Đức hiện tại Thực hiện chương 2 được hiểu là công việc “dò dẫm”, đi tìm những tính cách Đức, tuy còn rời rạc, nhưng là bản lề quan trọng để chúng tôi bắt đầu chương 3
Chương 3: Những tính cách văn hóa Đức đặc trưng Dựa vào kết quả nghiên
cứu trong chương 2 và kết quả khảo sát định tính, chương 3 tập trung phân tích những tính cách văn hóa Đức đặc trưng Trước tiên, người viết xác định mối tương quan một cách hệ thống giữa các tính cách được tập hợp, qua đó xác lập được hệ tính cách văn hóa Đức Sau phần phân tích mỗi tính cách, mặt trái của tính cách cũng được nhắc qua nhằm làm rõ nét hơn đối tượng nghiên cứu Nền tảng giúp hình thành hệ tính cách này cũng được nhận diện để làm cơ sở cho việc phát huy giá trị của nó trong đời sống cộng đồng của người Đức
Trang 33tố văn hóa
* Tính cách
Thuật ngữ tính cách có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là charaktíras (χαρακτήρας)
với nghĩa khởi nguyên là “hình nổi, con dấu ấn”, được sử dụng trong ngành in, sau được
sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học nhân văn với nghĩa là những nét nổi bật riêng của từng cá nhân Khái niệm tương tự trong một số ngôn ngữ Châu Âu như tiếng
Anh (character, particular trait), tiếng Pháp (caractère) hay tiếng Đức (Charakterzug, Wesenszug) đều mang nghĩa phái sinh này Theo đó, tính cách “là toàn bộ những đặc điểm riêng, nổi bật của một người” (Wermke, 2002, tr 243) Đây là khái niệm không
dễ nắm bắt vì còn nhiều tranh cãi giữa quan điểm tính cách đã được định hình khi con người sinh ra hay hoàn toàn là sản phẩm của văn hóa Quan điểm đầu tiên cho rằng tính
cách phần nào mang tính di truyền Mỗi cá nhân khi sinh ra đã thừa hưởng gien của bố
mẹ hoặc của gia đình, qua đó một số tính cách nhất định đã hiện hữu Quan điểm thứ
hai nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa, cụ thể là vai trò của giáo dục Không chỉ
hai yếu tố trên, mà cả môi trường sống cũng như sự vận động của riêng mỗi cá nhân cũng đóng góp vai trò rất lớn trong việc định hình tính cách Cho nên, sẽ rất cực đoan khi cho rằng tính cách hoặc mang nặng tính di truyền hoặc thuần túy chỉ do văn hóa tạo thành Cũng không thể lượng hóa mức độ tác động của bốn yếu tố là di truyền, văn hóa, môi trường sống và sự vận động của bản thân con người đến quá trình hình thành tính cách Tương tự, sự ảnh hưởng của bốn yếu tố này không thể ngang bằng nhau mà mức
độ cũng như tác động đến mỗi cá nhân sẽ khác nhau Điều đó vừa làm cho tính cách vô cùng đa dạng, mang nét riêng của mỗi cá thể, vừa làm cho việc nghiên cứu tính cách trở nên khó khăn
Trang 34Trong định nghĩa của Vũ Dũng, “tính cách là những đặc điểm tâm lý tương đối bền vững của cá nhân được hình thành trong hoạt động sống và giáo dục” (2008, tr
880) Vai trò của văn hóa và không gian sống quan trọng hơn yếu tố gien Thông qua những hoạt động sống, con người tiếp thu kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm bản thân
để hình thành hoặc điều chỉnh tính cách của mình Tính cách thể hiện trong mối quan
hệ với những người xung quanh, với cộng việc mình đang làm, với chính bản thân mình và với những tài sản mình đang có hay của xã hội (2008, tr 882)
Hoàng Phê cũng nhấn mạnh mức độ ổn định của tính cách khi cho rằng “tính cách là tổng thể nói chung những đặc điểm tâm lý ổn định trong cách xử sự của một người, biểu hiện thái độ điển hình của người đó trong những hoàn cảnh điển hình”
(2003, tr 1014)
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa tính cách “là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của từng người, … là nội dung của hành vi và quy định phương thức hành vi đặc trưng của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và bản thân” (2005, tr 427)
Như vậy, trong các định nghĩa17 đã nêu, tính cách được xem là những đặc điểm tâm lý ổn định, bền vững của con người Câu hỏi đặt ra là có nét chung nào trong tâm
thức cũng như cách ứng xử giữa những người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau? Larsen K.S và Lê Văn Hảo cho rằng, ngay cả khi đến từ nhiều nền văn hóa, con người
vẫn chia sẻ “những hành vi phổ quát” (2015, tr 16) như tình yêu thương gia đình, nuôi dạy con cái… Nhiệm vụ nghiên cứu “các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến hành vi” này
là của Tâm lý học xuyên văn hóa Hai tác giả dẫn lời của Berry và đồng sự về việc đề
xuất ba định hướng trong tâm lý học xuyên văn hóa, đó là 1- Thuyết tuyệt đối (absolutism), 2- Thuyết tương đối (relativism) và 3- Thuyết phổ phát (universalism) Thuyết tuyệt đối cho rằng “về cơ bản, tất cả con người ở khắp mọi nơi đều như nhau
và các hiện tượng tâm lý không bị tác động bởi văn hóa Các phẩm chất cơ bản của con người như trung thực hay tử tế đều có ý nghĩa như nhau và văn hóa đóng góp rất
ít đối với ý nghĩa cơ bản của các khái niệm tâm lý” (Larsen/ Lê Văn Hảo, tr 17) Thuyết
17 Người viết đã tìm hiểu kỹ, nhưng không thấy định nghĩa khái niệm “tính cách” hoặc những khái niệm gần
trong bộ Bách khoa thư về Nhân học xã hội và văn hóa (Spencer/ Barnard: Encyclopedia of social and cultural
Anthropology) vốn rất có giá trị để tham khảo trích dẫn
Trang 35tương đối ở thái cực ngược lại khi đề cao vai trò của không gian văn hóa, những giá trị bản địa đóng góp vào việc quyết định hành vi của con người Thuyết phổ quát dung hòa hai thái cực trên khi cho rằng các hiện tượng tâm lý, cách ứng xử, hành vi, tức tính cách con người ở các nền văn hóa về cơ bản là giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ phát triển và cách thể hiện Chẳng hạn tình yêu thương gia đình là giá trị phổ phát được tìm thấy ở tất cả các nền văn hóa Sự khác biệt nằm ở cách thức thể hiện tình thương giữa cha mẹ, con cái cũng như giữa các thành viên còn lại trong gia đình và nguyên nhân của cách ứng xử Nghĩa là theo Berry và đồng sự, Thuyết phổ quát thể hiện sự ưu việt hơn và mang tính thuyết phục cao hơn hai thuyết còn lại (Larsen/ Lê Văn Hảo, tr 18)
Tính cách có một số khái niệm gần như “tính tình”, “tâm tính”, “đặc điểm”, “cá tính” Tính tình là những đặc điểm về tình cảm, hành vi của con người Đặc điểm chỉ
những yếu tố để nhận diện một người, thường là về ngoại hình hoặc diện mạo Cá tính nhấn mạnh nét riêng của ai đó khác hẳn với những người khác Tâm tính được hiểu là tính nết riêng của từng người So với những khái niệm còn lại thì “tâm tính” có vẻ gần với “tính cách” nhất Những khái niệm còn lại khá hẹp và khá cụ thể
Trong các tài liệu tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Việt mà chúng tôi tiếp cận được, tần số xuất hiện khái niệm tính cách nhiều nhất, tiếp đến là khái niệm “tâm tính” Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đều sử dụng khái niệm tính cách (Bảng 1)
xb
Nước Tên công trình Khái niệm sử dụng
2 Angelo Condevilla 2009 Mỹ The character of nations Tính cách (character)
3 R Lynn 1971 Canada Personality and national
character
Tính cách
8 W Gebhardt & G
Kamphausen
10 K.A von Müller 1926 Đức Lịch sử Đức và tính cách Đức Tính cách
13 Otto May 1998 Đức Là người Đức nghĩa là trung
Trang 3617 Uwe Adam 2007 Đức Tâm lý người Đức Tâm lý
(deutsche Wesen)
20 Wolfgang Ruttkowski 1984 Đức German “National character”
and Cultural Profile: Some
thoughts
Tính cách
21 Đỗ Long, Đức Uy 2004 Việt
Nam
Tâm lý học dân tộc Tính cách (dân tộc)
Tính cách
Bảng 1: So sánh các khái niệm được sử dụng trong các công trình nghiên cứu
Ngoài ra, khái niệm “tính cách” cũng được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn khi tần số xuất hiện trong các tài liệu mạng nhiều hơn khái niệm “tâm tính”18 Vì vậy chúng tôi thống nhất lựa chọn khái niệm “tính cách” cho phần nghiên cứu của mình vì đây là khái niệm mang tính bao quát, có thể đặc tả một cá nhân hoặc cả một tập thể
Một người có thể có nhiều tính cách và nhiều người có thể có cùng một tính cách Khi nhiều người có cùng một tính cách thì được gọi là tính cách tập thể
* Tính cách dân tộc
Khi một dân tộc có những tính cách đặc trưng, tiêu biểu có thể hệ thống hóa được
để giúp phân biệt dân tộc đó với những dân tộc khác thì gọi là tính cách dân tộc Tính cách dân tộc được hình thành, thể hiện trong hoạt động thực tiễn và giao tiếp của những thành viên thuộc dân tộc đó
Quan niệm về tính cách dân tộc xuất hiện lần đầu tiên từ các phong trào cách mạng
ở Châu Âu cuối thế kỷ 18 với hệ tư tưởng Đức là “tinh thần dân tộc” (Volksgeist) Đến thế kỷ 19, Lazarus và Steinthal cổ xúy cho “tâm lý học các dân tộc”
(Völkerpsychologie) - được xem là một bộ phận của tâm lý học các cư dân Theo đó,
tính cách dân tộc bao gồm “những nét tâm lý và văn hóa thường hằng của một cư dân dân tộc với phạm vi được xác định là lãnh thổ của một nhà nước, dân tộc” (Claret P.,
2006, tr 29) Đến thế kỷ 20, xuất hiện rõ hai trường phái nghiên cứu về cá tính dân tộc theo hai hướng khác nhau, đó là trường phái anglo-saxon (chủ yếu diễn ra ở Anh và
Mỹ) và trường phái Pháp Theo đó, khái niệm “tính cách dân tộc” (National Character)
do các nhà nghiên cứu Mỹ như Benedict, Mead, Kardiner, Linton đưa ra bắt nguồn từ
Trang 37lý thuyết tâm lý – văn hóa tính cách Ngược lại, ở Pháp, ý tưởng cá tính dân tộc (chứ
không phải “tính cách dân tộc”) được nghiên cứu trong những công trình khoa học của
Tâm lý học chính trị
Nhà tâm lý học người Anh M Grinsberg đã nhấn mạnh tính nước đôi của khái
niệm “tính cách dân tộc” trong một công trình công bố năm 1942 Theo ông, khái niệm này “khi thì chỉ toàn bộ những nét ứng xử riêng của mỗi nhóm dân tộc trong tính tổng thể của chúng, khi thì chỉ một phương thức phân bố những nét ứng xử căn bản có tính đặc thù của một nhóm người” (Claret, 2006, tr 334) Sự khác nhau này chủ yếu do quan
niệm lý thuyết khác nhau vốn dựa trên kết quả các công trình nghiên cứu khác nhau của
những nhà nghiên cứu Dashdamirow cho rằng, “đặc điểm của tính cách dân tộc là sự phản ánh những phẩm chất đạo lý nhất định của con người dưới những biểu hiện cụ thể, là sự thống nhất bên trong có định hướng theo truyền thống và hình thành trong lịch sử bằng những giai đoạn phát triển xã hội cụ thể của một dân tộc, một tộc người nhất định” (Đỗ Long – Đức Uy, 2004, tr 73) Các nghiên cứu tính cách dân tộc tập
trung vào hai khía cạnh quan trọng, đó là tính độc đáo trong cách thức thể hiện tính cách phù hợp với nếp sống dân tộc và tính độc đáo của các thuộc tính trong tính cách được hình thành trong không gian sống cũng như thông qua những hoạt động văn hóa của dân tộc (Đỗ Long – Đức Uy, tr.74) Theo Dashdamirow, tính cách dân tộc hàm chứa giá trị, mang tính kế thừa và giúp định hướng cho những hoạt động của các thành viên thuộc dân tộc Nhà nghiên cứu cũng cho thấy tính cách không bất biến mà có thể thay đổi trong quá trình phát triển của dân tộc
Ngược lại, Vũ Dũng nhấn mạnh tính ổn định khi xem “Tính cách dân tộc là những đặc điểm tâm lý bền vững của một dân tộc, được hình thành và biểu hiện trong hoạt động thực tiễn và trong giao tiếp (2009, tr 211) Định nghĩa này tập trung vào kết
quả nên không cho thấy quá trình hình thành của tính cách dân tộc Lịch sử cho thấy, hiếm có dân tộc nào duy trì những thuộc tính tâm lý bền vững trong suốt chiều dài lịch
sử Điều kiện kinh tế xã hội thay đổi cũng như sự vận động của chính bản thân chủ thể
ít nhiều đóng góp vào việc điều chỉnh hành vi dẫn đến thay đổi tính cách
Một xã hội mà đặc trưng văn hóa thiên về trọng tĩnh như Việt Nam cũng đã cho thấy một số biến đổi trong tính cách dân tộc Như vậy, tính cách dân tộc chỉ mang tính tương đối Do điều kiện lịch sử bị xâm lược nhiều lần, người Việt hình thành ý thức đề
Trang 38cao tinh thần dân tộc Tinh thần dân tộc giúp người Việt đoàn kết, những tính cách dân tộc được tôn vinh vì chúng góp phần giữ vững độc lập và chủ quyền đất nước Vì vậy, cho đến nay, đối với người Việt, tính cách dân tộc vẫn mang ý nghĩa tích cực
Trong khi đó, ở Đức, khái niệm này bị chỉ trích, phần lớn do yếu tố lịch sử thời
kỳ Đức quốc xã mang lại Tính cách dân tộc bị Đức quốc xã lạm dụng để đề cao tính thượng đẳng của dân tộc Đức thuần chủng, làm cơ sở hình thành chủ nghĩa sắc tộc cực đoan bài ngoại Từ sau thế chiến thứ 2, người Đức “dị ứng” với tất cả những khái niệm nào gắn với “dân tộc”, trong đó có “tính cách dân tộc”
Vì luận án có sử dụng nhiều tài liệu tham khảo từ tiếng nước ngoài, trong đó phần nhiều là tiếng Đức nên để tránh hiểu lầm, chúng tôi không sử dụng khái niệm tính cách dân tộc, nếu có thì chỉ với nghĩa là tính cách tập thể của một cộng đồng người
Thay vào đó, chúng tôi lựa chọn khái niệm tính cách văn hóa, một mặt nhằm tránh sự
trùng lặp với khái niệm tính cách dân tộc vốn ít nhận được sự đồng thuận, mặt khác thể hiện đúng mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu tính cách người Đức dưới góc nhìn Văn hóa học
mô thức mà những tính cách tương ứng được nhận diện và phân tích Dù chưa đề cập cụ thể khái niệm nhưng kết quả nghiên cứu tính cách của Benedict là tiền đề để Mead
M tiếp bước nghiên cứu tính cách văn hóa
Tính cách văn hóa theo Mead là:
“Toàn bộ những nét cá tính điều hòa trong ứng xử của những thành viên thuộc cùng một đơn vị xã hội và được tổ chức thành một “cấu trúc tính cách văn hóa” Nói đúng hơn, đó là một sự trừu tượng hóa, một công cụ khái niệm dùng để chỉ
Trang 39cá tính nội tâm riêng của một tập hợp các cá nhân cùng chia sẻ một nền văn hóa tổng thể giống nhau: văn hóa dân tộc” (như được trích dẫn bởi Braylant19)
Theo định nghĩa này, tính cách văn hóa bao gồm hai khía cạnh đáng chú ý là cấu trúc và ứng xử Nghĩa là, tính cách văn hóa có tính hệ thống thể hiện qua cấu trúc
Thông qua văn hóa ứng xử của các thành viên thuộc một cộng đồng có thể rút ra những tính cách đặc trưng của họ
Trần Ngọc Thêm cũng nhấn mạnh đến cấu trúc các tính cách khi cho rằng “tính cách văn hóa là hệ thống các giá trị tinh thần tương đối bền vững của một cộng đồng người (chủ thể) trong điều kiện không gian và thời gian sinh tồn cụ thể của họ” (2016,
Vì vậy, hồ sơ văn hóa mang tính hồi cố và không hướng đến những phát triển văn hóa trong tương lai Theo Ruttkowski, có hai cách để kiểm chứng hồ sơ văn hóa của một dân tộc, đó là theo hướng tiếp cận lịch sử hoặc theo hướng tiếp cận các hiện tượng Cả hai hướng đều đi tìm những tính năng nổi bật, hoặc ở mức độ (ví dụ mức độ xuất hiện những tác phẩm triết học và âm nhạc Đức…) hoặc ở sự khác biệt so với những dân tộc khác (ví dụ nghệ thuật Đức thể hiện xu hướng hướng nội rõ rệt hơn nghệ thuật một số dân tộc khác ở châu Âu…) (1984, tr 3)
Ruttkowski cố gắng giới hạn nội hàm khái niệm như sau: 1- Hồ sơ văn hóa hướng đến các bình diện và thành tựu văn hóa của một dân tộc chứ không phải của những thành viên riêng lẻ của một dân tộc; 2- Hồ sơ văn hóa mang tính khái quát, có thể dùng
làm kênh tham chiếu nhằm hiểu rõ văn hóa dân tộc đó Ở phương diện này, hồ sơ văn
Trang 40hóa gần với khái niệm “Tính cách học”; 3- Hồ sơ văn hóa được lý giải từ góc tiếp cận
lịch sử chứ không phải tiếp cận sinh học, nghĩa là không phải yếu tố di truyền mà sự vận động lịch sử của dân tộc là cơ sở hình thành những đặc trưng văn hóa; 4- Hồ sơ văn hóa phần lớn mang tính hồi cố Những giá trị văn hóa hình thành qua quá trình biến đổi kinh tế, chính trị và văn hóa đều được lưu giữ, 5- Chúng không bị bất kỳ quan điểm triết học nào chi phối; 6- Khi cần thiết, hồ sơ văn hóa kết hợp cả hai hướng tiếp cận hiện tượng và lịch sử, nhưng trọng tâm vẫn là hướng tiếp cận các hiện tượng văn hóa, 7- Chúng vận dụng hệ giá trị (theo thứ bậc) hoặc các mô hình tâm lý học làm khung tham chiếu Khung tham chiếu tâm lý học sẽ giúp tìm ra những phong cách và khí chất khác biệt giữa các nền văn hóa; 8- Nếu dựa vào khung tham chiếu tâm lý học,
hồ sơ văn hóa có thể lý giải được những đặc trưng văn hóa của dân tộc mang tính đối kháng; 9- Như vậy, tìm ra hồ sơ văn hóa của một dân tộc sẽ giúp tránh những vấn đề phương pháp luận liên quan đến khái niệm tính cách dân tộc (1984, tr.5)
Có thể thấy Hồ sơ văn hóa mà Ruttkowski đề xuất bao gồm những biểu hiện cụ
thể của các giá trị văn hóa tinh thần, ít nhiều có thể “nắm bắt” hoặc “lượng hóa” được,
ổn định theo thời gian, qua đó gián tiếp thể hiện phần nào tính cách của những thành viên dân tộc Ưu điểm của khái niệm này là kết quả nghiên cứu mang tính khách quan, song đối tượng nghiên cứu là văn hóa rộng hơn đối tượng mà luận án đang đề cập là tính cách văn hóa Kết quả nghiên cứu Hồ sơ văn hóa Đức có giá trị tham chiếu với kết quả nghiên cứu “tính cách văn hóa” của đề tài để đảm bảo độ tin cậy của bộ tính cách văn hóa Đức mà luận án tìm ra
Thông qua những điều đã phân tích, chúng tôi thống nhất lựa chọn định nghĩa tính cách văn hóa Trần Ngọc Thêm đề xuất để triển khai đề tài Dựa vào định nghĩa này, có thể khái quát 3 đặc trưng đáng lưu ý:
Tính cách văn hóa là tính cách tập thể của một cộng đồng người hoặc của một
tộc người, thể hiện những nét chung nhất định hình tập thể hoặc cộng đồng đó
Tính cách văn hóa mang tính hệ thống, nghĩa là nội hàm các tính cách có liên hệ
mật thiết với nhau theo một cấu trúc nhất định thể hiện cách suy nghĩ và cách sống của những thành viên trong cộng đồng Hệ thống các tính cách được hình thành trong quá trình lịch sử, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của cộng đồng đó Vì vậy