1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI CỦA NGƯỜI M’NÔNG TỈNH ĐĂK NÔNG. TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

35 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng M’nông là thành tố quan trọng trong nghi lễ, lễ hội của người dân nơi đây.Nghiên cứu văn hóa M’nông, nhất là văn hóa tinh thần thực sự cần thiếtgiúp nhận diện, lý giải những g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -VÕ THỊ THÙY DUNG

TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI

CỦA NGƯỜI M’NÔNG TỈNH ĐĂK NÔNG

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62.31.70.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp

Luận án sẽđược bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ

sở đào tạo, họp tại

vào hồi ngày thángnăm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư việnTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

- Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

- Thư viện Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đăk Nông là địa bàn cư trú chính, tập trung đông nhất của ngườiM’nông ở Tây Nguyên Việt Nam Người M’nông ở Đăk Nông còn lưugiữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống hình thành trên nền tảng kinh tếnương rẫy tự cung tự cấp, trong đó có tín ngưỡng Tín ngưỡng M’nông

là thành tố quan trọng trong nghi lễ, lễ hội của người dân nơi đây.Nghiên cứu văn hóa M’nông, nhất là văn hóa tinh thần thực sự cần thiếtgiúp nhận diện, lý giải những giá trị văn hóa trong đời sống tộc người.Đây là lý do đầu tiên thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài làm vấn đề nghiêncứu

Hiện nay, số lượng những công trình chuyên sâu tìm hiểu về tínngưỡng, lễ hội của người M’nông còn khá hạn chế Điều đó kéo theonhững hiểu biết chưa thật sự sâu sắc, đầy đủ về thành tố quan trọng nàytrong đời sống văn hóa tinh thần cư dân M’nông Việc nghiên cứu mộtcách hệ thống từ góc nhìn văn hóa học về tín ngưỡng, lễ hội của ngườiM’nông sẽ đem lại ý nghĩa nhất định về mặt khoa học

Ngoài ra, theo thời gian, kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiềuđổi thay Người M’nông vì thế cũng đứng trước những thách thức đốivới sự phát triển cộng đồng Rõ nét nhất là sự biến đổi văn hóa truyềnthống, trong đó có tín ngưỡng, sâu xa hơn là hệ thống lễ hội bởi mốiquan hệ mật thiết giữa tín ngưỡng và lễ hội Trước thực tế đang diễn ra,việc nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông nhằm bảo tồn vàphát huy trong đời sống hiện nay là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn

Là người làm công tác giảng dạy văn hóa và sinh sống trên vùng đấtTây Nguyên, cũng là người gắn bó với Đăk Nông, chúng tôi rất trăn trởtrước những vấn đề trên Thực hiện luận án là cơ hội giúp bản thân cóthêm kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học về vùng đất, con ngườinhằm phục vụ có hiệu quả cho công việc lâu dài gắn bó với Tây Nguyên

Đó cũng là lý do thôi thúc chúng tôi lựa chọn Tín ngưỡng và lễ hội của

người M’nông tỉnh Đăk Nônglàm đề tài cho luận án của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước năm 1954, các công trình liên quan đến người M’nông chủ yếu

là của một số học giả người Pháp như H.Bernard, H Maitre, A Maurice

… Điểm chung nhất là các công trình nghiên cứu chỉ phác họa khái quát

về người M’nông trong bức tranh về các dân tộc thiểu số cao nguyênmiền Trung Việt Nam

Trang 4

Sau năm 1954, có một số công trình đáng chú ý như Minority groups

in the Republic of Vietnam(Shrock J.L and others) hay Sons of the mountains: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands to 1954và Free in the forest: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands

1954 – 1976 của G.C.Hickey… Nous avons mangé la forêtcủa Georges

Condominas

Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cũng có một số công trình có

đề cập đến người M’nông như Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam:

nguồn gốc và phong tục (1970) của Nguyễn Trắc Dĩ; Việt Nam chí lược:Cao nguyên miền thượng (1974) của Cửu Long Giang - Toan

Ánh….và một số bài báo của Nghiêm Thẩm Tóm lại, trước năm 1975,văn hóa dân tộc M’nông đã được chú ý nhưng chưa có công trình nghiêncứu chuyên sâu của người Việt Nam

Sau năm 1975, người M’nông nói riêng đã nhận được sự quan tâmnghiên cứu Với những công trình có nội dung liên quan đến luận án,chúng tôi tập trung thành hai nhóm vấn đề sau:

* Các công trình nghiên cứu chung về văn hóa tinh thần của người M’nông

Trong nhóm này có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như

Minority groups in the Republic of Vietnam (Các nhóm thiểu số ở Việt

Nam cộng hòa) do Bộ Quân lực Hoa Kỳ công bố năm 1966; Đại cương về

các dân tộc Ê Đê – M’nông ở Đăk Lăk(Bế Viết Đẳng chủ biên); Những khía cạnh văn hóa dân gian M’nông(Đỗ Hồng Kỳ); Văn hóa mẫu hệ M’nông (Trương Bi); Phong tục tập quán cổ truyền của một số dân tộc thiểu số Nam Tây Nguyên (Lê Văn Kỳ, Ngô Đức Thịnh); Văn hóa M’nông và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân tộc M’nông ở tỉnh Đăk Nông (Nguyễn Thế Nghĩa chủ nhiệm) ; Theo đó, các vấn đề từ

phân bố dân cư, thành phần dân tộc, những đặc điểm nhân chủng đếnđờisống vật chất, đời sống xã hội và văn hóa tinh thần … của người M’nôngđều được giới thiệu cụ thể

* Các công trình nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, lễ hội M’nông

Công trình đáng chú ý nhất là Chúng tôi ăn rừng đá - Thần Gôo của

G Condominasghi chép về người Mnông Gar tại làng Sar Luk, Đăk Lăkthời điểm năm 1949 Tiếp đó là hàng loạt các công trình chuyên sâu như

Văn hóa dân gian M’nông (Ngô Đức Thịnh chủ biên);Nghi lễ cổ truyền của người M’nông (Trương Bi); Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người M’nông (Bu Nong) (Tô Đông Hải); Nghi lễ và phong tục các tộc người ở Tây Nguyên (Ngô Đức Thịnh tuyển chọn); Nghi lễ truyền thống

Trang 5

của người Bu Nong (M’nông) (Tô Đông Hải) Nhìn chung, các công

trình đóng góp đáng kể trong nhận diện, làm rõ các hệ thống nghi lễ lễhội thuộc vòng đời người (sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma), hệ thống nghi lễ

lễ hội liên quan đến vòng sinh trưởng cây trồng (phát rẫy, canh tác, thuhoạch), những nghi lễ lễ hội liên quan đến phong tục tập quán và sinhhoạt cộng đồng của người M’nông

Ngoài ra, còn nhiều bài báo in trong các tạp chí chuyên ngành như

tạp chí Dân tộc học, Khoa học xã hội, Văn hóa dân gian,… cũng cung

cấp cái nhìn ở các góc độ khác nhau đối với đời sống tinh thần từ trướcđến nay của người M’nông

* Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Thông qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi rút ra một số nhậnđịnh sau:

Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu chung về người M’nông đã

đem lại cái nhìn tổng quan từ lịch sử, thành phần dân tộc, địa bàn cư trúđến đời sống kinh tế, sinh hoạt văn hóa của cư dân M’nông

Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng và lễ

hội của người M’nông cung cấp cái nhìn chi tiết, có nhiều công trình liênquan trực tiếp đến đề tài hơn khi đi sâu vào một số lĩnh vực quan trọng

mà đề tài chú trọng như nghi lễ vòng đời, nghi lễ vòng cây trồng…

Thứ ba, các công trình đã điểm luận nêu trên đều có ý nghĩa tham khảo

quan trọng ở hai khía cạnh lý luận và thực tiễn

Thứ tư, nhìn tổng quát, dù rất đầu tư nghiên cứu nhưng góc độ tiếp

cận và quy mô, mục đích của các công trình khoa học khác nhau nên cònnhững “khoảng trống” liên quan đến tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của

cư dân M’nông

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đặc điểm tín ngưỡng, lễ

hội1 truyền thống của người M’nông tỉnh Đăk Nông và mối quan hệ,chức năng, giá trị văn hóa của tín ngưỡng, lễ hội Thực trạng, xu hướngbiến đổi tín ngưỡng, lễ hội hiện nay dưới tác động của các yếu tố kháchquan lẫn chủ quan cũng được làm rõ

- Phạm vi nghiên cứu:

Không gian nghiên cứu: Việc nghiên cứu của chúng tôi trải rộng ở

các địa bàn trong tỉnh (7 huyện, 1 thị xã) nhưng tập trung nghiên cứu sâu

1 Đây là hai đối tượng nghiên cứu có mối quan hệ với nhau nên trong luận án, để tránh trùng

lặp và trong một số vấn đề chúng tôi sẽ sử dụng cách viết tín ngưỡng, lễ hội hoặc lễ hội (nhằm

nói đến tín ngưỡng nhưng đã được phản ánh bằng hình thức lễ hội)

Trang 6

tại một số xã thuộc huyện Đăk Song, Krông Nô, Cư Jut, Tuy Đức và thị

xã Gia Nghĩa

Thời gian nghiên cứu: Với tín ngưỡng, lễ hội M’nông trong quá khứ

đã xa (trước 1975), công trình của các nhà nghiên cứu đi trước sẽ lànguồn tư liệu quý báu để đối chiếu, so sánh và đưa ra những nhận địnhkhoa học Đồng thời, thông tin hồi cố từ những người cao tuổi là khôngthể thiếu giúp đem đến một cái nhìn khách quan hơn Trong điều kiệnhiện tại, người nghiên cứu tập trung tìm hiểu thời gian từ saunăm1975

Để nghiên cứu biến đổi của tín ngưỡng và lễ hội truyền thống, chúng tôichọn thời điểm thành lập tỉnh Đăk Nông năm 2004 đến nay

4.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu (data analyzed method): Các

công trình về tín ngưỡng, lễ hội của các nhà nghiên cứuvề các dân tộc bảnđịa Tây Nguyên nói chung, dân tộc M’nông nói riêng Ngoài ralàbáo cáo,

số liệu thống kê của Ban Dân tộc; Ban Tôn giáo; Cục thống kê; Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch; Sở Thông tin Truyền thông và các cấp chínhquyền từ huyện, xã đến thôn bon

- Phương pháp nghiên cứu định tính ( qualitative research method):

Là phương pháp quan trọng nhằm nghiên cứu, tìm hiểu, kiểm tra, thuthập tài liệu Khi thực hiện, chúng tôi sử dụng các phương pháp trong

nghiên cứu điền dã (fieldwork) như quan sát – tham dự, phỏng vấn…

Một số kỹ thuật như ghi âm, gỡ băng, chụp ảnhcũng được chú trọngnhằm phục vụ nghiên cứu một cách khách quan nhất

- Phương pháp nghiên cứu so sánh (comparative research method):Đề tài tìm hiểu vấn đề văn hóa trong tiến trình phát triển Sự kết

hợp phương pháp nghiên cứu so sánhbao gồm so sánh lịch đại và so

sánh đồng đại là không thể thiếu nhằm tạo một tọa độ trong phân tích,

tổng hợp, lý giải các dữ kiện văn hóa liên quan Nhờ đó, nhận ra cấu trúcchức năng của hiện tượng cũng như dấu hiệu, nguyên nhân biến đổi, sựvận hành của đối tượng nghiên cứu trong những bối cảnh xã hội khácnhau

- Phương pháp hệ thống cấu trúc(structural system method):Nghiên

cứu, xem xét tín ngưỡng, lễ hội trong sự toàn vẹn của nó, được hợp thànhbởi các yếu tố có mối liên hệ tương đối bền vững và xác định, tác động lẫnnhau tạo thành một chỉnh thể luôn vận động, phát triển Điều này giúp đemlại cái nhìn bao quát nhằm xác định những giá trị của tín ngưỡng lễ hộitrong đời sống văn hóa của người M’nông ở Đăk Nông

Ngoài ra, người nghiên cứu cũng sẽ vận dụng thêm phương pháp

nghiên cứu khác như phương pháp nghiên cứu liên ngành

Trang 7

(interdisciplinary method)… Tóm lại, tùy tình hình thực tế mà các

phương phápđược vận dụng với mức độ và cách thức khác nhau để đemlại hiệu quả nghiên cứu

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

- Tín ngưỡng truyền thống của dân tộc M’nông tỉnh Đăk Nông tồn tạidưới hình thức nào là chủ yếu?Các loại hình tín ngưỡng phản ánh nhânsinh quan, thế giới quan của đồng bào gắn với những đặc trưng đời sốngkinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống của người M’nôngnhư thế nào?-Đặc trưng lễ hội M’nông?Mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội?Chức năng, giá trị văn hóa của tín ngưỡng và lễ hội trong đời sống của

cư dân M’nông?

- Thực trạng, xu hướng biến đổi của tín ngưỡng và lễ hội M’nônghiện nay? Cần có những định hướng, giải pháp gì để bảo tồn cũng nhưphát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông?

Từ những câu hỏi nghiên cứuđã nêu, vận dụng các lý thuyết nghiêncứu và dựatrên cơ sở tài liệu hiện có, chúng tôi đưa ra những giả thuyếtnghiên cứu sau:

1 Tín ngưỡng truyền thống của dân tộc M’nông tỉnh Đăk Nông tồntại ở các hình thức khác nhau, rõ nét nhất là ba loại hình: Tôtem, hồnlinh, đa thần Các loại hình tín ngưỡng đều phản ánh nhân sinh quan, thếgiới quan của đồng bào gắn liền những đặc trưng kinh tế, xã hội và vănhóa truyền thống của người M’nông

2 Lễ hội truyền thống của người M’nông có thể phân thành ba nhómchính: Lễ hội vòng đời, lễ hội nông nghiệp và những lễ hội khác trongđời sống cộng đồng Thông qua lễ hội, cư dân M’nông có chỗ dựa vữngchắc về tinh thần, duy trì và liên kết các mối quan hệ xã hội Ngoài ra, lễhội cũng là môi trường giáo dục cũng như trao truyền những giá trị vănhóa tộc người

3 Tín ngưỡng và lễ hội có mối quan hệ mật thiết Tín ngưỡng là mộttrong những thành tố chính chi phối lễ hội, sinh hoạt lễ hội là nơi phảnánh tín ngưỡng, nhờ đó đem lại đời sống tinh thần phong phú và tạo nêncác giá trị văn hóa đậm bản sắc của cộng đồng trong suốt tiến trình lịchsử

4.Tín ngưỡng, lễ hội sẽ biến đổi theo xu thế phát triể xã hội Các tácnhân tạo nên sự biến đổi tín ngưỡng, lễ hội truyền thống là chính sách,kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học công nghệ.Sự biến đổi có thể theo xuhướng tích cực lẫn tiêu cực

5 Để bảo tồn, phát huy văn hóa tín ngưỡng và lễ hội của dân tộcM’nông, cần chú ý tính hệ thống của các thành tố, tính khả thi của các

Trang 8

giải pháp, tính đồng bộ trong thực hiện theo ba hướng chủ đạo là tuyêntruyền, chỉ đạo và thực hiện.

6 Đóng góp của luận án

Về mặt lý luận: Luận án sử dụng ba lý thuyết nghiên cứu là lý thuyết

chức năng, lý thuyết cấu trúc và chủ nghĩa duy vật văn hóa Việc vận

dụng ba lý thuyết trêngiúp đem lại cái nhìn cụ thể, sâu sắc đối tượng

nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa học Đây là điểm mớiso với các công

trình nghiên cứu về người M’nông trước đó

Với việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu điền dã, so sánh và hệ

thống cấu trúc, luận án tạo nên một góc nhìn hệ thống về vấn đề tín

ngưỡng và lễ hội từ truyền thống đến hiện đạicủa người M’nông ở Đăk

Nông Những tư liệu nghiên cứu (nhất là tư liệu thu thập trong điền dã)cũng là một đóng góp của luận án

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu, cơ sở khoa học

để các các cấp thẩm quyền có thể tham khảo đưa ra chủ trương chính sáchhợp lý nhằm giải quyết vấn đề bảo tồn, phát triển văn hóa, đặc biệt là vănhóa M’nông và các dân tộc bản địaTây Nguyên vốn rất nhạy cảm trongbối cảnh hiện nay.Đồng thời, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích vớinhững nhà nghiên cứu về Tây Nguyên

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Dẫn luận; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

dung luận án được chia thành ba chương, cụ thể:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài và tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông.

Chương 2 Đặc điểm tín ngưỡng truyền thống của người M’nông Chương 3.Đặc điểm lễ hội truyền thống của người M’nông.

Chương 4 Sự biến đổi tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông tỉnh Đăk Nông hiện nay.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI M’NÔNG Ở ĐĂK

NÔNG

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Tín ngưỡng: Hiện chưa có sự thống nhất về thuật ngữ tín ngưỡng.

Cách hiểu chung nhất được thống nhất đó chính là niềm tin vào thế giới

siêu nhiên Theo chúng tôi, tín ngưỡng nhằm chỉ niềm tin vào cái thiêng

liêng và sự thực hành trên cơ sở niềm tin đó, tín ngưỡngcó thể ra đời

Trang 9

sớm hay muộn trong lịch sử nhưng chưa hội đủ yếu tố để cấu thành tôngiáo

Nghi lễ: Thực hiện luận án, chúng tôi đồng ý với cách định nghĩa của

Victor Turner “Nghi lễ là hành vi được quy định có tính chất nghi thứcdành cho những dịp, không liên quan đến các công việc có tính chất kỹthuật hàng ngày, mà có quan hệ với những niềm tin vào đấng tối cao haysức mạnh thần bí”

Lễ hội: Đây cũng là khái niệm chưa thống nhất Nghiên cứu lễ hội ở

Tây Nguyên lại càng khó hơn khi có nhận định “Ở Tây Nguyên khôngnhất thiết có nghi lễ là phải có hội mà nhiều khi chỉ là nghi lễ thuần túy”

[Ngô Đức Thịnh] Trên nền tảng được tìm hiểu, chúng tôi cho rằng: Lễ

hội là một chỉnh thể thường bao hàm cả nghi lễ lẫn sinh hoạt cộng đồng.

Yếu tố trọng tâm thường là lễ Tùy lễ hội mà yếu tố hội đậm nhạt khácnhau Quan điểm này là cơ sở để trong luận án người nghiên cứu thường

xuyên sử dụng thuật ngữ nghi lễ gọi chung lễ hội của cư dân M’nông

Truyền thống: Chúng tôi chọn cách định nghĩa của Trần Văn Giàu để

nghiên cứu luận án “Truyền thống là những đức tính hay những thói tụckéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tácdụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực”

Giá trị:Quan điểm “Giá trị là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ

về các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm

ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu củahành động” [G.Endruweit và G.Trommsdorff] cơ bản đã chỉ ra được nộihàm của khái niệm này

Giá trị văn hóa:Chúng tôi chọn định nghĩa “Giá trị văn hóa là yếu tố

cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sửcủa mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhấtđịnh Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng củacộng đồng về những điều tốt đẹp, từ đó bồi đắp và nâng cao bản chấtNgười” [Ngô Đức Thịnh] làm nền tảng để tiếp cận giá trị văn hóa tínngưỡng, lễ hội của người M’nông ở Đăk Nông

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận vấn đề

- Chức năng luận (functionalism):Theo lý thuyết này, nền văn hóa nào

cũng được nghiên cứu dưới cái nhìn thực hiện các chức năng khác nhau củanó.Chúng tôi vận dụng cách tiếp cận chức năng tâm lý (B Malinowski) vàchức năng cấu trúc (R Brown)

B Malinowski đã cung cấp một khung thiết chế khả dụng trongnghiên cứu văn hóa Khung thiết chế của B Malinowski sẽ giúp tiếp cậnnhững yếu tố cơ bản cấu thành chỉnh thể lễ hội M’nông Từ đó, tìm ra

Trang 10

chức năng của tín ngưỡng, lễ hội trong đời sống văn hóa dân tộcM’nông

Trọng tâm lý thuyết chức năng của R Brown là mối liên hệ giữa cấutrúc và chức năng của chủ thể nghiên cứu Qua đó, tìm kiếm xem nó cóđóng góp gì vào việc duy trì liên kết xã hội.Với lý thuyết này, ngườinghiên cứu chỉ ra, lý giải đặc trưng các thành tố, mối quan hệ các thành

tố trong chỉnh thể tín ngưỡng, lễ hội Từ đó, làm rõ vai trò, chức năngđối tượng nghiên cứu trong đời sống cư dân M’nông

- Cấu trúc luận (structuralism):Thuyết cấu trúc của L Strauss tập

trung xem xét vấn đề trên hai mặt đối lập, tương phản để đi tìm ý nghĩacủa nó trong bối cảnh văn hóa cụ thể.Vận dụng lý thuyết cấu trúc của L.Strauss, chúng tôi giải mã các biểu tượng, tìm hiểu những cấu trúc tinhthần dưới hình thức các cặp đối lập ẩn sau những hành vi trong nghi lễ,

lễ hội để xem mối quan hệ, sự tác động cũng như chi phối của các cấutrúc này đối với hành động của cư dân M’nông

- Chủ nghĩa duy vật văn hóa (cultural materialism): Là sự vận dụng

quan điểm duy vật lịch sử để giải thích sự biến đổi văn hóa của nhà khoahọc với đại biểu là Marvin Harris Nội dung nhấn mạnh các điều kiện vậtchất quyết định suy nghĩ và hành vi của con người Sử dụng lý thuyếtnày, đề tài lý giải cho sự mai một, biến mất một số loại hình tín ngưỡng, lễhội truyền thống cũng như sự thay đổi văn hóa người M’nông dưới tác độngcủa các yếu tố như kinh tế, xã hội, tôn giáo

Bên cạnh ba lý thuyết tiếp cận chính, chúng tôi cũng sẽ vận dụng

những hạt nhân phù hợp của một số lý thuyết nghiên cứu sinh thái học

văn hóa (J.Stuard, M.Salins), lý thuyết biến đổi văn hóa (R.Inglehart,

E.Baker, C.Welzel)… để làm rõ hơn các vấn đề liên quan

1.2 Tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông

1.2.1 Nguồn gốc và lịch sử hình thành tộc người

Hiện tại, Đăk Nông có 7 huyện (Đăk Glong, Cư Jut, Đăk Mil, Krông

Nô, Đăk Song, Đăk Rlấp, Tuy Đức), 1 thị xã (Gia Nghĩa) Người M’nông

cư trú hầu khắp các xã trong 8 huyện thị của tỉnh

Người M’nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, dòng Nam Á.Nhiều nhà nghiên cứu còn gọi dân tộc này với tên gọi khác là người Ba

Na nam, được coi là đã có mặt ở Tây Nguyên cách đây hàng ngàn năm.Đồng thời, có ý kiến khẳng định người M’nông có nguồn gốc từCampuchia

Nhìn chung, vẫn chưa có sự thống nhất về nguồn gốc tộc ngườiM’nông

1.2.2 Địa bàn phân bố

Trang 11

Hiện người M’nôngchiếm trên 9% dân số tỉnh Đăk Nông và chiếmgần 50% số người M’nông trên cả nước Đăk Nông có 7 nhóm M’nôngđang sinh sống là Preh, Nong, Nâr, Prâng, Biăt, Gar, Đip cư trú rải rác ởnhiều địa bàn trong tỉnh với quy mô khác nhau Tuy nhiên, sự khác biệt

về phương ngữ, phong tục giữa các nhóm không rõ rệt, khó có thể nhận

ra Đa phần họ vẫn hiểu tiếng nói của nhau và vẫn thống nhất trong vănhóa tộc người cũng như có ý thức tộc người khá rõ nét

1.2.3 Hoạt động kinh tế

Nền kinh tế truyền thống của người M’nông tự cung tự cấp, dựa hoàntoàn vào thiên nhiên Họ đốt rừng làm rẫy, làm ruộng khô là chủ yếu vớihình thức luân canh trên một khoảng rừng khá rộng đủ để đất phụchồi.Trước đây, cây trồng chủ yếu của người M’nông là lúa Ngoài ra,trên nương rẫy còn trồng nhiều loại cây khác như ngô, đậu, cà, ớt, …đểcải thiện bữa ăn hàng ngày.Bên cạnh đó, người M’nông còn săn bắt, háilượm hoa quả, rau rừng phục vụ cho bữa ăn của gia đình

Nghề thủ công từ trước đến nay vẫn chậm phát triển, gắn chặt vớinông nghiệp, các nghề thủ công chủ yếu là thủ công gia đình như đan lát,dệt thổ cẩm, phục vụ nhu cầu bản thân do phụ nữ đảm nhiệm

Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong sảnxuất người M’nông đã sử dụng một số máy móc, biết xen canh, gối vụ

và phát triển kinh tế hộ gia đình với việc trồng các loại cây có giá trị caonhư hồ tiêu, cà phê,điều…

Bon là đơn vị xã hội cơ bản của người M’nông Mỗi bon M’nôngtruyền thống là một đơn vị tổ chức xã hội hoàn chỉnh độc lập về kinh tế,văn hóa, xã hội và tự quản theo các nguyên tắc của luật tục

Trong bon, ngoài dân làng còn một số người khá đặc biệt như: Chủlàng; người xử kiện; thầy cúng; tôi tớ.Ngày nay trong bon còn có thêmmột số cán bộ và tổ chức đoàn thể, ban ngành khác như: Chi bộ, ĐoànThanh niên, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, có nhiệm

vụ chủ yếu là tổ chức, vận động nhân dân trong bon thực hiện đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

Trang 12

1.2.5 Đời sống văn hóa

Văn hóa vật chất: Người M’nông truyền thống ở nhà dài, mỗi ngôi nhà

dài thường là nơi cư trú của vài ba gia đình mẫu hệ, mỗi gia đình nhỏtrong nhà dài có sự độc lập về bếp, không gian sống, sinh hoạt nhưng vẫndưới sự quản lý của bà chủ gia đình Nhà ở có hai loại là nhà sàn và nhàtrệt nhưng đại bộ phận làm nhà trệt

Về trang phục, cơ bản trang phục của nam nữ M’nông giống các dântộc Tây Nguyên, điểm khác biệt thường ở hoa văn, màu sắc trên thânkhố và váy áo Cả nam và nữ đều mặc áo chui đầu Người M’nông trướcđây có tục cà răng, căng tai

Bữa ăn phụ thuộc vào thiên nhiên, ngày thường ăn cơm gạo tẻ nấutrong nồi đất, ăn với các loại rau rừng, cá suối hoặc thịt thú săn bắt được.Gia súc gia cầm nhà nào cũng nuôi nhưng chủ yếu để phục vụ cho nghi lễcúng thần hoặc đãi khách

Văn hóa tinh thần: Người M’nông có niềm tin vào thế giới siêu

nhiên, vào mối liên hệ giữa con người với nhiều thế lực vô hình và cáchứng xử của con người với thế giới xung quanh cũng xuất phát từ cách họnhìn nhận, lý giải cuộc sống Trong thế giới tinh thần của người M’nông,còn có những sự vật, con người có những khả năng đặc biệt chi phối đờisống thực tiễn cũng như tinh thần của cả cộng đồng như ma lai, bùangải, phù thủy

Người M’nông cóphong tục tập quán và hệ thống lễ hội phong phú, giàu bản sắc.Văn hóa nghệ thuật khá đa dạng với nhiều thể loại như thần

thoại, truyền thuyết, truyện cổ, sử thi, lời nói vần, dân ca, v.v Ngoài ra,

người M’nông có nhiều loại nhạc cụ khác nhaulàm bằng đá, bằng tre, nứa, sừng trâu Nghệ thuật điêu khắc, tạo hìnhkhá đa dạng

Nhìn chung, sự tồn tại và phát triển của cư dân M’nông thể hiện rõ sựthích nghi của con người với môi trường tự nhiên, thể hiện quá trình vậnđộng trong chính cộng đồng để đảm bảo nhu cầu vật chất lẫn tinh thần mộtcách đa dạng

1.3 Khái quát một số địa bàn điền dã tiêu biểu

1.3.1 Huyện Krông Nô

Là huyện vùng cao của tỉnh có 11 xã, 01 thị trấn huyện lị với 70.003người cư trú trong 95 thôn bon, buôn, tổ dân phố.Việc nghiên cứu tậptrung ở xã Nâm Nung, ở 3 bon chínhlà Yok Ju, Rcập, Ja Răh với nhóm

cư dân M’nông Preh

1.3.2 Huyện Đăk Song

HuyệnĐăk Song có biên giới tiếp giáp Campuchia bao gồm 09 đơn

vị hành chính, dân số 66.718 người với 102 thôn, bon, bản, tổ dân

Trang 13

phố.Trong quá trình điền dã, chúng tôi chọn nghiên cứu ở hai xã TrườngXuân và Đăk N’drung với cư dân M’nông chủ yếu thuộc nhóm Nâr,Nong.

1.3.3 Huyện Cư Jut

Nằm vị trí “cửa ngõ” tỉnh Đăk Nông ở phía bắc và tiếp giáp thành phốBuôn Mê Thuột (Đăk Lăk) với07 xã và 01 thị trấn, dân số 97.765 ngườigồm 19 dân tộc chung sống trong 123 thôn, buôn, bon, tổ dân phố.Lựachọn của chúng tôi là thị trấn Ea T’ling - vùng đất giao thoa mạnh giữacác dân tộc thiểu số cùng người Kinh và có kinh tế phát triển Chúng tôikhảo sát hai bon U1 và U2 với cư dân M’nông thuộc nhóm Preh

1.3.4 Huyện Tuy Đức

Tuy Đức là huyện biên giới nằm ở Tây Nam tỉnh Đăk Nông cóđường biên giới giáp Campuchia với 06 đơn vị hành chính gồm 25 bon

và 23 thôn, dân số 45.725 người Địa bàn chúng tôi tập trung nghiên cứu

là xã Quảng Trực với 07 bon: Bu Prăng 1, Bu Prăng 2, Bu Lum, Bu Sop,

Bu Nung, Bu Krăk, Bu Gia với khá nhiều người M’nông thuộc nhómBiăt

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG CỦANGƯỜI M’NÔNG

Trang 14

Các loại hình tín ngưỡng hiện còn dấu ấn và ảnh hưởng sâu sắc đếnđời sống cư dân M’nông không nhiều Do đó, trọng tâm chương nghiêncứuba loại hình tín ngưỡng truyền thống là tô tem, hồn linh, đa thần vớinhững quan niệm và biểu hiện rất đặc trưng.

2.1.Tín ngưỡng tô tem

2.1.1 Đặc điểm của tín ngưỡng tô tem

Tôtem(totemism) hay còn gọi là thuyết vật tổ là hình thức tín ngưỡng

ra đời rất sớm trong xã hội loài người Theo nghĩa đen,tô tem có nghĩa

họ hàng hay có họ hàng Bản chấttô tem là niềm tin về mối liên hệ siêu

nhiên của con người với động/thực vật hoặc một đối tượng nhất định

Trong tô tem giáo, cách thể hiện thường là cấm kỵ Có thể lấy quan điểm

của S Reinach (1910) - người đã công thức hóa tô tem giáo thành 12điều - để khẳng định những đặc trưng cho loại hình tín ngưỡng này, dùbiểu hiện của nó có thể không đầy đủ hoặc khác biệt nhất định ở các nềnvăn hóa khác nhau như: Không được ăn, giết một số thú vật; con ngườinuôi một số cá thể thú vật ấy và chăm nom chúng cẩn thận; sự cấm chỉ

ăn uống đôi khi chỉ vào một bộ phận nào đấy trong thân thể con vật;người ta khi ở trong tình thế cần thiết giết một con vật thường xin lỗi nó

và tìm mọi cách làm giảm thiểu sự vi phạm tabu, tức là sự giết chóc;khicon vật bị hiến tế, nó được khóc thương một cách long trọng; các bộ lạc,các cá nhân lấy tên mình là tên của con vật tô tem…

2.1.2 Tín ngưỡng tô tem ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Minh đã chứng minh người Ve tồn tại tínngưỡngtô tem.Vương Hoàng Trùkhẳng định tô tem của người Chăm làCau và Dừa.Đặng Nghiêm Vạn nghiên cứu và chỉ ra những biểu hiệntôtem ở người Khơ Mú như tên dòng họ mang tên chim, thú, cây, đồ vật…cùng những huyền thoại, kiêng kị, nghi lễ liên quan đến tô tem.Ngoài ra,còn nhiều tộc người cũng có những bằng chứng cho sự tồn tại tínngưỡng tô tem như người Thái, Mường, Hrê, Dao

Ở Tây Nguyên, tín ngưỡng tô tem cũng được nhận diện ở một số dântộc như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê… và nhận định “Một vài tộc người ở TâyNguyên vốn có tục “cà răng” như dấu ấn về sự mong muốn có hình dánggần gũi với đặc trưng của tổ tiên (loài vật nhai lại)”được xem như mộttrong những dấu hiệu cụ thể chỉ ra mối liên hệ tô tem với con trâu củamột số tộc người trên vùng đất này

2.1.3 Tín ngưỡng tô tem của người M’nông

Tín ngưỡng tô tem ở người M’nôngcó hai biểu hiện cơ bản Trước hết là qua cách đặt tên dòng họ.Hiện người M’nông có trên hai trăm

dòng họ, trong đó có khá nhiều dòng họ đặt tên theo động vật, thực vật,

Trang 15

sự vật như Kpơr (lá cây); Ya (con cá sấu); Dâng Ja Reh (bãi cỏ tranh);

R’pu (con trâu);…Biểu hiện thứ hai trong tín ngưỡng tô tem của người M’nông làkiêng kị giết, ăn một số loài động thực vật.

Hiện nay, việc cấm giết/hái, ăn một số loài động thực vật nào đó ởngười M’nông còn khá nhiều dấu ấn Gần như tất cả những người đượcphỏng vấnđều khẳng định có biết những kiêng kị cấm giết, ăn thịt/háimột số loài động vật/thực vật Dấu ấn tín ngưỡng tô tem còn thể hiệntrong di sản văn hóa tinh thần của cư dân M’nông như các truyền thuyết,huyền thoại

Nghiên cứu về con trâu trong văn hóa M’nông, đã có khẳng định trâuchính là “vật tổ” xa xưa và “hồn trâu” giúp con người gần gũi với thầnlinh hơn “các hồn” khác Xét trên thực tế và dựa trên quan điểm củaReinach đã trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng trâu là con vật tô tem củangười M’nông bởi một số lý do nhưngười M’nông nuôi trâu với một sựyêu quý đặc biệt và chăm sóc rất cẩn thận; có những dòng họ kiêng ănthịt trâu; không tự tiện giết trâu nếu không có lý do liên quan đến tâmlinh; những dịp lễ lớn mới làm thịt trâu nhưng phải qua rất nhiều nghi lễ.Trâu được chăm sóc, “làm đẹp”, được khóc thương trước khi tiến hànhnghi lễ…

Nhìn chung, tư liệu còn lại không nhiều nhưng cũng giúp đưa ra ýtưởng vềsự tồn tại tín ngưỡng tô tem trong đời sống cư dân M’nông Vớicon trâu, tuy không kiêng kị theo kiểu cấm ăn thịt nhưng qua phân tích ởtrên và theo các biểu hiệntrong công thức tô tem của S.Reinach, chúng tôicho rằng trâu có thể là tô tem của người M’nôngvà một số dân tộc TâyNguyên trong một giai đoạn lịch sử nhất định

2.2 Tín ngưỡng đa thần

2.2.1 Về quan niệm

Tín ngưỡng đa thầnlà hình thức phổ biến không chỉ ở riêng dân tộcM’nông mà ở nhiều dân tộc trên thế giới Một trong những cơ sở giúphình thành tín ngưỡng này là nhận thức hạn chế của con người khi đốidiện với tự nhiên Vì thế, nảy sinh niềm tin vào sự chi phối của thế lựcthần thánh có sức mạnh và khả năng tác động đến con người Tínngưỡng đa thần quan niệm thế giới được tạo thành bởi hai phần là hữuhình và vô hình

Ở Tây Nguyên, tín ngưỡng này có mặt trong đời sống văn hóa tất cảcác tộc người Với người M’nông, niềm tin vào thần linh thể hiện khá rõnét Đó là thế giới gồm ba tầng: Tầng trời, tầng trên mặt đất và tầng dướimặt đất Mỗi tầng có nhiều bon, tầng nào cũng có thần (Brah) cư ngụ vàcai quản Các thần có vai trò, chức năng riêng, bên cạnh thần lành giúp

Trang 16

đỡ con người còn có thần dữ chuyên trừng phạt, làm hại con người Cácthần đều có gia đình, cũng biết yêu thương, giận hờn và cũng sinh hoạt,lao độngnhư con người Thông qua quan niệm về thế giới thần linh củadân tộc M’nông, dễ dàng nhận ra đó làánh xạ thế giới con người, conngười đã lấy thực tiễn cuộc sống của mình để xây dựng hình ảnh thế giớithần linh

Cơ sở hình thành tín ngưỡng này của người M’nông chính là môitrường tự nhiên, điều kiện sống và nhận thức hạn chế trong một giaiđoạn lịch sử nhất định

2.2.2 Về biểu hiện

Hệ thống nghi lễ được tổ chức thường xuyên trong đời sống dân tộcM’nông là dấu hiệu rõ nét của tín ngưỡng đa thần

Đối với cá nhân, nghi lễ trải dài theo suốt đường đời.Mỗi bước ngoặt

trong đời người đều có nghi lễ cầu cúng thần Khi một sinh linh đượchình thành trong bụng mẹ, người ta đã tổ chức lễ cúng cầu xin sự chởche Những năm tháng từ 1 tuổi, 2 tuổi đến trưởng thành, lập gia đìnhcũng như khi về già, qua đời, các nghi lễ cầu cúng với ước mong sức

khỏe, bình an được tổ chức thường xuyên.Với sinh hoạt cộng đồng, nghi

lễ cúng thần là một phần không thể thiếu Những vấn đề liên quan đến bonlàng từ chọn đất làng, làm nhà cộng đồng đến xử phạt, chiến tranh…đều

phải cúng tế cầu xin sự ưng thuận của các thần Tronghoạt động kinh tế

nông nghiệp nương rẫy, các công đoạn chọn đất, đốt rẫy, gieo hạt, thu

hoạchđều tổ chức lễ cúng thần Đất, thần Lúa….Kèm theo đó là nhữngkiêng cữ được thực hiện nghiêm túc tránh làm các thần bực mình, nổigiận gây nên tai họa như sâu bệnh, hạn hán, mất mùa

Theo cư dân M’nông, thần linh có thể gửi “thông điệp” hoặc bộc lộ

“quan điểm” qua hệ thống các “tín hiệu” nhận biết Đó là giấc mơ, điềm

báo, phép thử, bói điềm Nếu giấc mơ, điềm báo thể hiện điều xấu, sự

không hài lòng của các thần, mọi việc phải dời lại, không ai dám coithường Điểm đặc biệt trong tư duy ngườiM’nông là dù thế giới thầnlinhđa dạng, phong phú nhưng không tuyệt đối tôn thờ một vị thần nào vàcũng không xem vị thần nào có vai trò cai quản muôn loài

Tóm lại, mọi việc trong đời sống người M’nông đều có bóng dángthần linh, mối quan hệ với thần linh là sợi dây thiêng liêng gắn kết các cánhân trong cộng đồng lại với nhau trong số mệnh chung

2.3 Tín ngưỡng hồn linh

2.3.1 Đặc điểm của tín ngưỡng hồn linh

Hồn linh giáo (animism) là hình thức tín ngưỡng dựa trên niềm tinvào sự tồn tại của linh hồn, thế giới linh hồn Linh hồn có vaitrò quan

Trang 17

trọng hơn thể xác và có khả năng chi phối thể xác Mọi vật trong thế giớiđều tồn tại linh hồn

Theo S Freud, giấc mơ là cơ sở của tín ngưỡng hồn linh và cũng là

cơ sở để khẳng định sự bất tử của linh hồn kể cả khi thể xác đã tiêu tan.Linh hồn vẫn tiếp tục đời sống của nó sau khi rời bỏ thể xác, vẫn có khảnăng tác động đến những người xung quanh và trở thành nỗi sợ hãi vớingười còn sống

Qua xem xét cách “ứng xử” với linh hồn, chúng ta sẽ nhận ra niềm tin về linh hồn Dấu hiệu rõ nét nhất là thờ cúng linh hồn Ngoài ra, việc tiến hành tang lễ cho người chết và những nghi thứctrong tang lễ cũng

xuất phát từ niềm tin vào linh hồn và sự tiếp tục “sống” của con ngườisau khi chết Liên quan đến niềm tin về linh hồn còn có những biểu hiện

kiêng kịnhư không được vẽ lên mặt người đang ngủ hay kiêng đánh thức

người đang ngủ một cách đột ngột…

2.3.2 Tín ngưỡng hồn linh ở Việt Nam

Người Chăm quan niệm con người có hồn và xác Khi chết nếu hồnkhông được trở về với tổ tiên thì trở thành vong hồn.Người Dao khẳngđịnh con người có 12 hồn cư trú ở những bộ phận khác nhau của cơ thểngười như đầu, mắt, mũi, ngực, bụng….trong khi người Tà Mun chorằng mỗi người chỉ cómột hồn chính và một hồn phụ Hồn cũng có sựphân loại rõ ràng, có hồn của người sống, hồn người chết, hồn ác, hồnthiện

Đối với các dân tộc Tây Nguyên, niềm tin vào linh hồn càng thể hiệnđậm nét Người Xơ Đăng cho rằng mỗi người có rất nhiều linh hồn Linhhồn đi lạc thì chủ linh hồn sẽ bệnh.Theo người Gia Rai, con người có hai

phần là pô (thể xác) và bongat (linh hồn), bongat thường chui ra khỏi

nách, lỗ tai của người để đi với hình dạng con nhện hoặc con gián Nhiềutộc người ở Tây Nguyên quan niệm khi chết hồn thoát khỏi xác, biếnthành ma đi lang thang rồi đầu thai vào người phụ nữ nào đó Ngoài ra,đồng bào còn cho rằng con người đau ốm do linh hồn rời bỏ tạm thời vì

đi lạc, bị bắt Khi đau ốm, họ thường mời thầy cúng về cúng cho hồn là

2.3.3 Tín ngưỡng hồn linh ở người M’nông

Người M’nông quan niệm con người cũng có hai phần là linh hồn vàthể xác Hồn có ba loại gồm hồn trâu, hồn nai và hồn dế, cào cào Trong

Ngày đăng: 25/11/2021, 22:50

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w