1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của người chăm ninh thuận, bình thuận (1975 2015) (luận án tiến sĩ dân tộc học)

260 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến Đổi Kinh Tế, Văn Hóa, Xã Hội Của Người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận (1975 - 2015)
Tác giả Lý Hoàng Nam
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Xuân Biên
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại luận án tiến sĩ dân tộc học
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 260
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, xu hướng nghiên cứu biến đổi về kinh tế, văn hóa xã hội được các nhà khoa học xã hội chú ý để đánh giá quá trình phát triển của một cộng đồng hay quá trình tộc người của một d

Trang 1

LÝ HOÀNG NAM

BIẾN ĐỔI KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN, BÌNH THUẬN

(1975 - 2015)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2020

Trang 2

LÝ HOÀNG NAM

BIẾN ĐỔI KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN, BÌNH THUẬN

(1975 - 2015)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC

MÃ SỐ: 62.22.70.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS.TS PHAN XUÂN BIÊN PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP :

PGS.TS NGUYỄN NGỌC THANH PGS.TS PHAN AN

PHẢN BIỆN :

PGS.TS PHAN AN PGS.TS TRƯƠNG VĂN MÓN

TS NGUYỄN ĐỆ

TP HỒ CHÍ MINH - 2020

Trang 3

T

T C GI UẬN N

Lý Hoàng Nam

Trang 4

Trong quá trình th c hiện lu , ã c nhiều s ớng dẫn và

úp ỡ t các thầ , ồng nghiệp

T ớc h t, tôi xin bày tỏ lời c ơ s sắc nh t tới PGS.TS Phan Xuân Biên - thầ ã ớng dẫn và tạo mọ ều kiện cho tôi nghiên

c u trong su t nhữ ă a qua S t n tâm và nghiêm khắc với họ ò ũ

ò t với khoa học c a thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành lu n án

mà còn cho tôi những kinh nghiệ ý ờng nghiên c u khoa học

T ũ ửi lời c ơ s sắc tới các thầ ã sẻ các thông tin khoa học quý giá và góp ý cho lu n án c a tôi GS TS N Vă Lệ, PGS.TS Nguyễn Vă T ệp, PGS.TS T ơ Vă Mó , PGS.TS Thành Phần, TS P ú Vă

Hẳ , T S Đ Nă Hò , Vă H … ý ầy cô Khoa Nhân học, các anh chị công tác tại Trung tâm nghiên c ă ó ă ỉnh Ninh Thu n, các ban ngành, Ban Dân tộ , Đ ng y, Ủ d ị p ơ ỉnh Ninh Thu n và Bình Thu … cùng nhiều thầy cô nhiệt tâm khác

Tôi xin bày tỏ lời c ơ ồng nghiệp ơ

ã ộng viên và chia sẻ với tôi các công việc khác c ơ ể tôi có thêm thời gian t p trung cho lu n án

Cu i cùng, tôi xin dành s bi ơ ới nhữ ờ ã chia sẻ ó ă ộng viên tôi trong su t thời gian tôi th c hiện lu n án

Tôi xin chân thành c ơ !

Trang 5

DẪN LUẬN 1

1 Lý do - mục đích nghiên cứu 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 18

4 Câu hỏi nghiên cứu và giải thuyết nghiên cứu 19

5 Phương pháp nghiên cứu 20

6 Những đóng góp mới của luận án 24

7 Kết cấu của luận án 25

CHƯ NG 1: C SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CHĂM 26

1.1 Những khái niệm liên quan đến luận án 26

1.1.1 Truyền th ng 26

1.1.2 Bi ổi 26

1.1.3 Phát triển 26

1.1.4 Phát triển bền vững 26

1.1.5 Bi ổi kinh t 27

1.1.6 Bi ổi xã hội 30

1.1.7 Bi ổ ă ó 31

1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết của luận án 34

1 2 1 T p ể R I e 34

1 2 2 T ổ ã ộ 35

1.2.3 Lý thuy t diễn ngôn 35

1.3 Tổng quan về dân tộc Chăm tại địa bàn nghiên cứu 38

1 3 1 Đ ều kiện t nhiên và s phân b d 38

1 3 2 Đặ ểm kinh t , ă ó xã hội 42

Tiểu k ơ 1 48

Trang 6

2.2 Biến đổi kinh tế nông nghiệp 52

2.2.1 Bi ổi về trồng trọt 52

2.2.2 Bi ổi về ă nuôi 62

2.2.3 B ổ ề 68

2.3 Sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế 71

2 3 1 S ể dị ơ ề 71

2 3 2 S ể dị ơ ồ , 74

2.4 Phát triển ngành nghề mới 78

T ể ơ 2 84

CHƯ NG 3: BIẾN ĐỔI VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHĂM TỪ 1975 - 2015 85

3.1 Những biến đổi về cấu trúc xã hội 85

3.1.1 B ổi về 85

3.1.2 Bi ổi trong quan hệ họ tộc 97

3.1.3 Bi ổi trong tổ ch c làng 116

3.2 Biến đổi về văn hóa tộc người 123

3 2 1 Vă ó t ch t 123

3 2 2 Vă ó ần 140

T ể ơ 3 151

CHƯ NG 4: YẾU TỐ T C ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHĂM 152

4.1 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 152

4.2 Yếu tố nội tại của cộng đồng người Chăm 162

4.3 Sự phát triển của lực lượng sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất 168

4.4 Sự giao lưu hội nhập văn hóa giữa các dân tộc 175

Trang 7

PHỤ ỤC 200

Trang 8

UBND Ủy ban nhân dân

HTX

DVNN

Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Trang 9

Bảng số Tên bảng biểu Trang

Bảng 2.1

Cơ cấu hộ theo diện tích đất nông nghiệp được sử dụng ở người

Bảng 2.3 Các giống lúa vụ đông xuân năm 2013 - 2014 của xã Phước Nam 59 Bảng 2.4 Năng suất lúa ở các xã người Chăm qua một số năm 61 Bảng 2.5 Canh tác lúa nước trước và sau Đổi mới (năm 1986) 61 Bảng 2.6 Số lượng gia súc của người Chăm xã Phan Thanh qua một số năm 68 Bảng 2.7 Hoạt động kinh tế của người Chăm qua các năm 75

Bảng 2.8

Số lượng người Chăm đi làm ăn xa nhà trong giai đoạn 2011 - 2015

Bảng 3.2 So sánh về thức ăn uống hút của người Chăm 128

Bảng 3.3 Thực trạng ẩm thực truyền thống của các hộ được khảo sát 130 Bảng 3.4 Tỷ lệ người Chăm mặc trang phục truyền thống phân theo nhóm tuổi 136 Bảng 3.5 Tiện nghi và vật dụng sinh hoạt trong gia đình người Chăm 142

Trang 10

DẪN LUẬN

1 Lý do nghiên cứu

Nghiên cứu biến đổi là bước ngoặt thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà nhân học, dân tộc học và xã hội học đối với một số lĩnh vực cụ thể của khoa học xã hội như: đô thị, nông thôn hay đối với một cộng đồng dân tộc cụ thể Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các nhà Nhân học thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu trong sự gắn kết với quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội, gắn với bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện nay nghiên cứu biến đổi văn hóa đặt trong sự ảnh hưởng toàn cầu hóa, trong sự biến chuyển xã hội đang diễn ra mạnh

mẽ Ở nước ta, xu hướng nghiên cứu biến đổi về kinh tế, văn hóa xã hội được các nhà khoa học xã hội chú ý để đánh giá quá trình phát triển của một cộng đồng hay quá trình tộc người của một dân tộc Dân tộc Chăm là đối tượng được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu một cách toàn diện trên nhiều phương diện Tuy nhiên các nghiên cứu này, được tập trung chuyên sâu theo từng lĩnh vực riêng hay chỉ nhìn nhận với giác độ của một không gian cụ thể, mà rất ít có công trình nghiên cứu một cách toàn diện

Dân tộc Chăm là một trong 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ, đặc biệt là từ sau miền Nam giải phóng, dân tộc Chăm đã cùng với

cả nước tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được nhiều thành tựu to lớn

Trong quá trình phát triển của mình, người Chăm đã có nhiều biến đổi trên nhiều phương diện một cách căn bản toàn diện, đặc biệt từ năm 1975 đến 2015, là một gian đoạn tương đối đầy đủ để ta đánh giá toàn bộ đời sống về kinh tế, văn hóa

xã hội của dân tộc này Đến nay, sự biến đổi của người Chăm, chịu nhiều tác động của các yếu tố khác nhau, bên trong lẫn bên ngoài, chủ quan đến khách quan, quan phương và phi quan phương Tuy nhiên, yếu tố tác động chính đối với quá trình biến đổi này dẫn là tác động của chính sách của Đảng và nhà nước Từ những năm đầu sau giải phóng 1975, ngoài những chính sách chung cho cả nước và khu vực,

Trang 11

Đảng ta đã có chính sách chăm lo riêng đối với dân tộc Chăm, bắt đầu từ Chỉ thị

121/CT/TW, ngày 26/10/1981 của Ban Bí thư Trung ương về công tác đối với đồng bào Chăm

Sau 10 năm thực hiện các chỉ thị này, tình hình kinh tế, xã hội vùng Chăm

đã có những tiến bộ tích cực Các công trình cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và đời sống cho vùng đồng bào Chăm đã từng bước được xây dựng, cơ chế quản lý nông nghiệp trong vùng Chăm được đổi mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất được đồng bào tiếp cận và áp dụng có hiệu quả; năng suất, sản lượng lương thực ngày càng tăng Các loại ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống như dệt thổ cẩm, đồ gốm được phục hồi phát triển Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa có nhiều bước phát triển mới, giáo viên các cấp học, cán bộ y tế, văn hóa người Chăm ngày càng tăng Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện dần Quan hệ đoàn kết giữa đồng bào Chăm với đồng bào Kinh và các dân tộc sống cận cư, xen cư được củng cố1

Sau hội nghị tổng kết, Ban Bí thư Trung ương tiếp tục ban hành Thông tri

03-TT/TW ngày 17/10/1991 về công tác đối với vùng đồng bào dân tộc Chăm

Đồng thời, nhằm cụ thể hóa và tăng cường hơn nữa công tác đối với đồng bào Chăm, ngày 18 tháng 2 năm 2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị

06/2004/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - trật tự đối với vùng đồng bào Chăm trong tình hình mới Xác định việc chỉ

đạo triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng ở vùng có đồng bào Chăm sinh sống Đây là giai đoạn cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, bước ngoặt này cũng đã tác động đến đời sống của người Chăm trên toàn bộ các lĩnh vực

Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện thông tri 03, trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, được sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy, chính quyền các cấp và sự giúp đỡ của các bộ, ban, ngành

1 Ban Dân vận Tung ương (1991), Báo cáo Tổng kết 10 thực hiện chỉ thị 121/CT/TW về Công tác đối với

vùng đồng bào Chăm

Trang 12

Trung ương cùng với sự nỗ lực của đồng bào Chăm, tình hình kinh tế, xã hội vùng đồng bào Chăm đã có nhiều chuyển biến tiến bộ đáng kể trên nhiều mặt Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào như: điện, đường, trường, trạm, chợ, nước cho sản xuất và sinh hoạt đã, đang được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, góp phần tích cực làm thay đổi căn bản bộ mặt vùng đồng bào Chăm Sản xuất nông nghiệp phát triển, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi ngày càng tăng nhờ được tiếp cận nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật; nhiều nơi đã hình thành được vùng sản xuất thâm canh, chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành và phát triển các trang trại vừa và nhỏ, khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh từng vùng, từng địa phương Một số nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, làm gốm tiếp tục được khôi phục và phát triển; nhiều loại ngành nghề mới như mộc, nề, các loại hình dịch vụ kinh doanh, buôn bán nhỏ được hình thành ngày càng nhiều Đời sống của đồng bào dân tộc Chăm những năm gần đây thực sự đã được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ hộ khá, hộ giàu ngày càng tăng Nhiều gia đình

đã đầu tư mở mang sản xuất với quy mô lớn, các điển hình về sản xuất giỏi trong vùng đồng bào Chăm xuất hiện ngày càng nhiều

Kinh tế phát triển đã tạo tiền đề cho tình hình văn hóa - xã hội trong vùng Chăm những diện mạo và sắc thái mới Mạng lưới trường học, trạm y tế ở các xã

vùng đồng bào Chăm đều được phủ kín Số học sinh đến trường ngày càng tăng; đội ngũ cán bộ, trí thức người Chăm được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng đông Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa được đồng bào Chăm hưởng ứng mạnh mẽ và thực hiện nghiêm túc Đời sống văn hóa tinh thần vùng đồng bào Chăm ngày càng được nâng cao, các giá trị văn hóa được bảo tồn, khai thác và phát huy Hệ thống chính trị, tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể trong vùng Chăm ngày càng được củng cố, đáp ứng ngày càng tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo và vận động quần chúng thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội được ổn định2

2 Văn phòng Trung ương (2013), Báo cáo Tổng kết 20 năm thực hiện Thông tri 03/TT-TW về công tác đối với

vùng đồng bào Chăm

Trang 13

Những kết quả đạt được trong việc thực hiện thông tri 03 là rất đáng tự hào,

đã càng khẳng định chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào Chăm là hết sức đúng đắn, khẳng định sự quan tâm đầu tư đồng bộ về mọi mặt của các cấp, các ngành cho vùng Chăm là hết sức cần thiết Như vậy, phải khẳng định rằng: quá trình phát triển đi lên về mọi mặt của đồng bào dân tộc Chăm trong

40 năm qua gắn với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Những chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể là động lực mạnh mẽ, thúc đẩy động viên, tạo điều kiện cho đồng bào Chăm khắc phục mọi khó khăn để vươn lên, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần để hội nhập vào quá trình phát triển chung của đất nước

Với những bước ngoặt biến đổi như thế của người Chăm cả nước, mà tập

trung là khu vực Nam Trung bộ, tác giả chọn đề tài “Biến đổi kinh tế, văn hóa, xã

hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận (1975 - 2015)” làm luận án tiến sĩ

khoa học Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm hướng đến mục tiêu:

- Nghiên cứu và nhận diện những đặc điểm về kinh tế, xã hội và văn hóatruyền thống của người Chăm qua các giai đoạn Tập trung khảo sát thực trạng, làm sáng rõ những đặc điểm, những yếu tố, những khía cạnh khác nhau của sự biến đổi kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận từ trước và trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mà cụ thể là từ năm 1975 đến năm 2015

- Trên cơ sở lựa chọn, tiến hành khảo sát, đề tài chọn nghiên cứu một số cộngđồng dân cư tiêu biểu (case study - nghiên cứu trường hợp), có tính đại diện để tìm hiểu, mô tả về sự biến đổi kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người, qua đó tiến hành so sánh, làm rõ quá trình biến đổi, cũng như hệ quả của nó trong phát triển xã hội và nhìn sự biến đổi đó còn ở góc độ là sự lựa chọn phát triển của chính chủ thể hành động - là những con người cụ thể trong cộng đồng Từ đó có cái nhìn tổng thể

xã hội về những biến đổi kinh tế, văn hóa xã hội đã và đang diễn ra ở cộng đồng

Trang 14

người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận

- Trên cơ sở kết quả điền dã, tổng hợp và phân tích nhiều nguồn tài liệu khácnhau, chúng tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về những biến đổi trong đời sống kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm trong giai đoạn từ 1975 - 2015

- Phân tích bối cảnh, các yếu tố, nguyên nhân tác động đến quá trình biến đổiđời sống kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm Trên cơ sở

đó, đánh giá thực trạng các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm, đặc biệt là quá trình xã hội tộc người của người Chăm trong suốt giai đoạn từ 1975 - 2015

3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu về biến đổi của ngành Dân tộc học và Nhân học trước đây

Liên quan đến cơ sở lý thuyết, từ sau đổi mới 1986, nghiên cứu văn hóa mà

đặc biệt là nghiên cứu quá trình chuyển đổi văn hóa truyền thống được rất nhiều

nhóm tác giả quan tâm:

Công trình: Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986 - 2006 của Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh do Cao Tự Thanh (chủ biên) Nội dung công trình đề cập đến

nhiều vấn đề phong phú, đa dạng thay đổi trong các hoạt động văn hóa của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh Những thay đổi này là sự thể hiện và phản ánh các hiện tượng lĩnh vực vá quá trình xã hội trong sự nghiệp xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh suốt 20 năm qua

Gắn với các nghiên cứu đề cập đến bối cảnh kinh tế - xã hội thay đổi, công trình Nhân học nghiên cứu gần đây, những vấn đề văn hóa truyền thống được nhìn lại trong quá trình biến đổi và phát triển gắn với quá trình hiện đại hóa, toàn cầu

hóa, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học của tập thể các tác giả Lương Văn Hy, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp,

Phan Thị Yến Tuyết biên tập: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

đặc biệt, năm 2009 có công trình Quá trình biến đổi kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau từ

Trang 15

năm 1997 đến năm 2007 của Ngô Đình Khiêm; Những biến đổi kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc (1862 - 1945) của Lê Thị Huệ; Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở Khánh Hòa từ năm 1975 đến 2005 (2010) của

Nguyễn Thị Kim Hoa và năm 2011, Nguyễn Văn Hiệp với công trình sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương từ 1945 - 2007 đã khái quát khá đầy đủ quá

trình chuyển biến kinh tế - xã hội của các địa phương qua các giai đoạn lịch sử phát triển

Cuốn Cơ hội và thách th c đối với vùng d n tộc thiểu số hiện nay của Viện

Dân tộc (Viện Dân tộc, 2009) đã khái quát về thực trạng kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiếu số Bên cạnh những hạn chế, khó khăn là những cơ hội đang mở ra, các cơ hội đó cũng chính là những thách thức đối với các dân tộc cũng như cả cộng đồng trên các phương diện về nông nghiệp, thương mại và thị trường, nghề thủ công truyền thống cũng như phát triển ngành du lịch ở khu vực này, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế Trước tình hình đó, các tác giả đã đề xuất một

số yêu cầu đổi mới về: chính sách dân tộc; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng như nâng cao nhận thức trách nhiệm của đồng bào dân tộc thiểu số; phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số; bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế

Nguyễn Văn Quyết có luận án tiến sĩ (2013) với đề tài: Nghiên c u sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng nông nghiệp - nông thôn trong quá trình phát triển các khu công nghiệp (nghiên c u trường hợp tỉnh đồng Nai) Luận án tập trung vào

quá trình biến chuyển văn hóa đã được diễn ra ở những mức độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa khác nhau Có một sự tương ứng giữa tốc độ biến chuyển văn hóa và mức độ công nghiệp hóa, thể hiện trên các phương diện về cảnh quan và môi trường văn hóa, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và sinh hoạt văn hóa cá nhân Sự thay đổi trong đời sống văn hóa tinh thần ở Đồng Nai cho thấy một quá trình tái cấu trúc văn hóa trong bối cảnh dân nhập cư mạnh, nghề nghiệp thay đổi, thu nhập được cải thiện, các giao lưu kinh tế - văn hóa được tăng cường Văn hóa cộng đồng nông

Trang 16

nghiệp - nông thôn đang bị tác động bởi các khu công nghiệp đang trong quá trình biến đổi theo cách dung hợp những yếu tố mới

Công trình “Biến đổi kinh tế văn hóa xã hội của người Chăm và Khmer ở Thành phố Hồ Chí Minh” của tập thể các giáo sư đầu ngành, nghiên cứu sinh và

học viên của Khoa Nhân học, Đại học khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là công trình nghiên cứu có giá trị quý về phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu biến đổi và là nguồn tư liệu quý đế tác giả định hướng trong nghiên cứ luận án này

Sự tác động của Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa trên các bình diện khác nhau của đời sống văn hóa - xã hội cũng được phản ánh đa dạng trong các công trình:

Đào Công Bình, Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở một cộng đồng d n cư đang đô thị hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Xã hội, H., 2007; Nguyễn Duy Bắc (cb), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nxb Bách Khoa và Viện Văn hóa, 2008; Nguyễn Thanh Tuấn, Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hoá Thông tin và Viện Văn

hoá, 2006

Một loạt các nghiên cứu về làng Việt ở Bắc Bộ từ sau đổi mới 1986 nghiên cứu về sự thay đổi văn hóa truyền thống, tiếp cận từ góc nhìn lịch sử văn hóa, dân tộc học, nhân học, xã hội học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu phản ánh đa chiều,

đa góc nhìn về sự chuyển đổi, đổi thay văn hóa truyền thống làng xã ở đồng bằng

Bắc Bộ: tác giả Nguyễn Tùng, Mông Phụ: một làng Việt ở Châu thổ sông Hồng (1999); Latina: Người nông dân trong sự dịch chuyển: di cư từ nông thôn ra đô thị

ở Hà Nội (1996); Michio Suenari Michio (Đại học Tokyo), Nghiên c u về lễ hội truyền thống, tín ngưỡng d n gian, tín ngưỡng ở làng Triều Khúc (Hà Nội); Viện

Viễn đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội đã phối hợp với Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong chương trình nghiên cứu lớn về đồng bằng Bắc Bộ, một

phần in trong: Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002); Đến các chuyên gia nghiên cứu về văn hóa làng như Từ Chi, Cơ cấu tổ ch c làng Việt

Trang 17

cổ truyền ở Bắc Bộ (1984); Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế

xã hội (1992); Tô Duy Hợp, Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng (2000); và đến các công trình gần đây của các tác giả Nguyễn Thị Phương Châm, Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (2009); Lương Hồng Quang (nhóm cộng sự), Câu chuyện làng Giang (2010)

Tóm lại, các nghiên cứu trực tiếp, gián tiếp của các tác giả về những vấn đề biến đổi văn hóa - xã hội ở trên đã phân tích khá hệ thống về những biến đổi trong các lĩnh vực: kinh tế, dân số, văn hóa, cấu trúc xã hội Nổi bật, đó là sự biến đổi trong lĩnh vực kinh tế đã kéo theo nó sự chuyển đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, quá trình di dân, dân số tăng nhanh… Trong lĩnh vực văn hóa đó là chuyển dịch - thay đổi, biến đổi từ những giá trị văn hóa truyền thống sang việc tiếp nhận thêm những giá trị hiện đại… Tuy nhiên, qua điểm luận những công trình nghiên cứu này, ta thấy đa phần các tác giả đều tập trung nghiên cứu, quan tâm nhiều về sự chuyển đổi văn hóa ở các cộng đồng nông thôn và hay đô thị lớn của cả nước và các tỉnh có quá trình biến đổi từ nông nghiệp - nông thôn sang quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

3.2 Các công trình nghiên cứu về người Chăm

3.2.1 Nghiên cứu có liên quan đến biến đổi về kinh tế của người Chăm

Nghiên cứu về người Chăm, đầu tiên phải kể đến là nghững học giả người Pháp, vì có điều kiện đến vùng này Từ cuối thế kỷ XIX, những khám phá của khảo

cổ học và việc tiếp xúc với bi ký Champa đã gây nên sự chú ý của các nhà nghiên cứu về lịch sử Champa và những lĩnh vực khác liên quan đến lịch sử Có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm của người Pháp được công bố như công trình của J Crawford, A Bastian, E Aymonier, H Parmentier, E.M Durand, L Finot, A Cabaton, G.L Maspéro,… (Phan Quốc Anh, 2006, tr 19) Thư mục của P.D.Lafont và của Lương Ninh (1992) đă cho biết con số ít nhất là hơn 1000 tàiliệu Những công trình của người Pháp tập trung nhiều vào lĩnh vực ngôn ngữ, văn bia, khảo cổ học, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đền tháp, lịch sử, bang giao, đến tín ngưỡng, tôn giáo Nhìn chung, chủ yếu là văn hóa vật chất chưa tập trụng đến

Trang 18

đời sống kinh tế - xã hội người Chăm trong lịch sử Nhưng đó là những công trình kinh điển, chuẩn mực mang tính khoa học cao giúp chúng ta hiểu biết về người Chăm trong lịch sử phát triển của dân tộc

Đối với các nhà nghiên cứu người Việt, nghiên cứu về Champa không là một vấn đề mới Đã có nhiều thế hệ học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh

vực sử học, dân tộc học, khảo cổ học Tuy nhiên, công trình nghiện cứu toàn diện

về biến đổi kinh tế của người Chăm đến nay hầu như chưa có, chỉ có một số công

trình nghiên cứu có đề cập đến lĩnh vực này, tiêu biểu như:

- Công trình Người Chăm ở Thuận Hải (1989) quy tụ 10 nhà khoa học thực

hiện đã nêu lên một số vấn đề cơ bản về kinh tế nông nghiệp, ngành nghề thủ công, dân số, tổ chức xã hội truyền thống, hôn nhân gia đình, tín ngưỡng tôn giáo và những bước hòa nhập của người Chăm trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Đây là công trình khảo sát có tính chất tổng hợp về đời sống vật chất lẫn tinh thần của người Chăm

- Võ Công Nguyện có luận án tiến sĩ (1996) về Nghề thủ công cổ truyền của người Chăm ở Việt Nam, bằng phương pháp điền dã công phu, tác giả đã khảo tả

khá chi tiết về sinh hoạt kinh tế của người Chăm ở các ngành nghề từ truyền thống đến hiện đại Tuy nhiên, luận án chưa có những nhận định, đánh giá cũng như đưa

ra những thông số về sự biến đổi trong lĩnh vực kinh tế của người Chăm chưa được

- Các hình th c sở hữu đất đai truyền thống của người Chăm ở thôn Hậu Sanh xã Phước Hữu huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận, của tác giả Lê Trần Quyên

đã đề cập đến các loại hình sở hữu đất đai của người Chăm như: đất của cộng đồng, đất đền tháp, đất, đất dòng họ và đất của gia đình mẫu hệ Bài viết đã nêu lên quá

Trang 19

trình biến đổi của các loại hình sở hữu này dẫn đến những thay đổi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Chăm và đưa ra những nguyên nhân cơ bản tác động đến sự thay đổi này

3.2.2 Nghiên cứu có liên quan đến biến đổi văn hóa xã hội Chăm

Sau năm 1975, nghiên cứu về người Chăm được các nhà khoa học xã hội chú

ý nhiều thêm Các công trình nghiên cứu về người Chăm tăng lên về số lượng và chất lượng, đặc biệt là số trí thức Chăm nghiên cứu về dân tộc Chăm cũng tăng vọt

Tác phẩm Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam (1978) do Viện Khoa học

xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, là sự tiếp xúc đầu tiên của các nhà khoa học xã hội Việt Nam với văn hóa Chăm, đây là công trình khảo sát dân tộc học

có giá trị với sức mạnh tổng hợp của nhiều chuyên ngành khác nhau mà khi nghiên cứu về văn hóa Chăm không thể bỏ qua (Phan Quốc Anh, 2006, tr.29)

Hai năm sau đó, công trình Văn hóa Chăm (1991) nghiên cứu toàn diện hơn

về hoạt động của người Chăm ở Việt Nam Mặc dù, các tác giả chưa phân tích sâu

và làm nổi bật về ý nghĩa các giá trị văn hóa Nhưng việc mô tả, giới thiệu các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội và văn hóa Chăm là cần thiết Đặc biệt, là làm rõ nguồn

gốc của người Chăm Công trình Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam (1993) đã đặt ra vấn đề giáo dục tiếng dân tộc thiểu số thực trạng và giải pháp Trong đó có bài viết vấn đề chữ viết Chăm hiện nay của

Phú Văn Hẳn (nhiều tác giả, 1993, tr 115)

- Tiếp nối công trình Văn hóa Chăm, tác giả Phan Văn Dốp với Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ, (1993) là luận án được tác giả thể hiện

trên cơ sở kế thừa, bổ sung các nguồn tư liệu điền dã trước, đã được tác giả tích lũy trong suốt thời gia lui tới vùng Ninh Thuận Bình Thuận Đây là công trình nghiên cứu có giá trị cao về tôn giáo của người Chăm Tác giả cho ta cái nhìn tổng quan và

hệ thống về nguồn gốc lịch sử, sự ảnh hưởng, những biến đổi của các tôn giáo trong quá trình tiếp biến với văn hóa Chăm bản địa

Tác giả Ngô Văn Doanh có cuốn sách Văn hóa Champa (1994), Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm (1998), Thánh địa Mỹ Sơn (2003), Lễ hội chuyển mùa của

Trang 20

người Chăm (2006), Tháp Bà Thiên Ya Na hành trình của một nữ thần (2009) và có

nhiều bài viết khác đăng trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước Những tác phẩm kể trên đã trình bày và phân tích nhiều lễ hội văn hóa do người Chăm tiến hành hàng năm theo định kì và biến đổi với sự tác động của quá trình vận động của

xã hội hiện đại

Năm 2000, Inrasara cùng với Trà Vigia, Trầm Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tỷ

sáng lập đặc san Tagalau - Tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên c u Chăm đã ấn

hành được 11 số (năm 2010) Tuy không phải là tạp chí khảo luận chuyên sâu,

nhưng Tagalau có nhiều bài viết giá trị về văn hóa Chăm

Khảo cứu chuyên biệt về văn hóa Chăm, tác giả Phan Lạc Tuyên với công

trình Nghiên c u và điền dã (2007) đã khái quát về phong tục, nghệ thuật và những

lễ hội truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận Riêng lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến như Nguyễn

Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc với công trình Người Chăm những nghiên c u bước đầu (2003) nội dung chính là nói về người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam

(Sakaya, 2010, tr.29)

Phan Quốc Anh với Nghi lễ vòng đời người của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận (2006) Hoàng Minh Đô chủ biên tác phẩm Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận (2006) chứa đựng nhiều tư liệu về

chính sách của Đảng - Nhà nước và số liệu báo cáo về tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm Qua đó, đưa ra các kiến nghị về chính sách tôn giáo đối với người Chăm (Sakaya, 2010, tr 163)

Nguyễn Hồng Dương chủ biên công trình: Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay (2007) Đồng tác giả Ngô Thị Chính - Tạ Long với cuốn sách Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận (2007) đã phân tích bốn yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã

hội Chăm Đó là: yếu tố tộc người đến sự phát triển kinh tế, yếu tố tộc người tác động đến sự vận động và biến đổi của xã hội Chăm, yếu tố tôn giáo và các yếu tố

Trang 21

chi phối quan hệ cộng đồng tộc người Chăm Đây là công trình khảo sát thực tiễn, phân tích bằng số liệu mới làm rõ những đặc trưng văn hóa Chăm

- Nguyễn Văn Tỷ với các tác phẩm Giáo dục toàn diện vì sự phát triển xã hội (2005), Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm Việt Nam (2010) Tác giả đã

đặt ra nhiều vấn đề về giáo dục và văn hóa Chăm, bộc lộ nhiều tình cảm, sự trăn trở làm sao để người Chăm có thể dứt bỏ những tập tục xa xưa không phù hợp với hoàn cảnh sống mới, làm thế nào để sớm đưa người Chăm hòa nhập vào nhịp sống của xã

hội văn minh

Sự xuất hiện tác giả Sakaya với các công trình khảo cứu về văn hóa, lễ hội,

tín ngưỡng, tôn giáo và các ngành nghề truyền thống của người Chăm như Nghề gốm cổ truyền của người Chăm (2001), Lễ hội người Chăm (2003), Luật tục người Chăm và Raglai (2003) do Phan Đăng Nhật làm chủ biên, Văn hóa Chăm nghiên

c u và phê bình, tập 1 (2010) và nhiều bài viết khoa học khác đăng trên các tạp chí

chuyên ngành

Riêng lĩnh vực du lịch, Đàng Năng Hòa đã bảo vệ thành công luận văn cao

học ở Philippine với đề tài The Impact of tourism on people’s heritage-Acase study

of the Cham in Vietnam (Sự tác động của du lịch trong di sản văn hóa con người -

Nghiên cứu trường hợp của người Chăm ở Việt Nam)

- Tác giả Lý Hành Sơn có bài thiết chế xã hội phi quan phương ở người Chăm hiện nay Đây là bài viết có giá trị thực tiễn cao, tác giả đã nêu bật được thực

trạng các thiết chế xã hội phi quan phương của người Chăm và những biến đổi của các tổ chức cộng đồng này trong mối quan hệ giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại Đồng thời tác giả cũng nêu lên vị trí, vai trò của các thiết chế xã hội này đối với đời sống của người Chăm, nhất là các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người dân Chăm với các thiết chế xã hội phi quan phương

- Hai tác giả Trịnh Thúy Quỳnh, Nguyễn Ngọc Ánh có bài chuyển đổi tôn giáo trong vùng đồng bào Chăm tỉnh Ninh Thuận, với bài viết này, tác giả đã nêu

lên thực trạng chuyển đổi tôn giáo, những nguyên nhân của sự chuyển đổi tôn giáo,

Trang 22

sự tác động của chuyển đổi tôn giáo và dự báo xu hướng chuyển đổi tôn giáo của người Chăm trong đời sống hiện đại

- Tác giả Trần Văn Chung có bài sự chuyển đổi sang đạo Tin Lành của người Chăm Bà la môn tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Trong đó, tác giả nêu lên một

số hiện tượng cụ thể về sự chuyển đổi tôn giáo trong cộng đồng người Chăm, đồng thời đề ra một vài nhận định bước đầu về sự chuyển đổi này

Gần đây nhất, tác giả Trần Tiến Hưng vừa xuất bản công trình vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý nhà nước của chính quyền địa phương (2014), nội

dung cuốn sách đi vào lĩnh vực chuyên sâu và khá nhạy cảm trong mối quan hệ giữa luật tục truyền thống và pháp luật của nhà nước nhằm thực hiện tốt quy chế dân chủ

cơ sở ở các địa phương có đông người Chăm của tỉnh Ninh Thuận

Nhà nghiên cứu Thanh Trà - học giả người Chăm ở Pháp trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu viết về dân tộc Chăm bằng tiếng Anh và Pháp, năm 2012, ông đã

xuất bản công trình: Lược sử văn minh Champa, với nguồn tư liệu phong phú, tác

giả đã tổng hợp tương đối đầy đủ và khảo tả khá chi tiết về nền văn hóa vật chất, mà rập trung là đền tháp theo tiến trình lịch sử Champa

Gần đây nhất, có công trình 40 năm nghiên c u văn hóa Chăm, của nhóm tác

giả là những người có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu về dân tộc Chăm

Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh và Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ là nơi có nhiều cán bộ, học viên thực hiện luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong lĩnh vực khoa học xã hội về người Chăm Tiêu biểu có thể kể các luận án đã được hoàn thành của; Phú Văn

Hẳn: Cơ cấu ngữ m và chữ viết tiếng Chăm Việt Nam và Melayu Malaysia, (2003); Vương Hoàng Trù: Tín ngưỡng d n gian của người Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận, Luận văn tiến sĩ (2003); Huỳnh Ngọc Thu: Hiện trạng kinh tế - xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, (2003); đó là chưa kể các đề tài

lấy đối tượng là người Chăm để nghiên cứu đối sánh

Các luận văn, luận án trên là các công trình nghiên cứu cơ bản của các tác giả ngành Dân tộc học, có nhiều tâm huyết với lĩnh vực nghiên cứu về người Chăm,

Trang 23

các công trình thể hiện được nhiều tư liệu diền dã có giá trị về nhiều phương diện khác nhau đối với người Chăm Đây cũng là các công trình nghiên cứu kế thừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao

3.2.3 Nghiên cứu về chính sách và thực hiện chính sách dân tộc đối với

người Chăm

Về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận về dân tộc nói chung và người Chăm nói riêng, các công trình nghiên cứu về lý thuyết dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tôc, có các báo sơ kết, tổng kết, các báo cáo chuyên đề của các tác giả là những người làm công tác thực tiễn về nghiên cứu và quản lý chính sách dân tộc Bên cạnh

đó cũng có các bài báo cáo của một số cơ quan làm công tác về dân tộc của Ninh Thuận và Bình Thuận như: Ban Dân vận tỉnh ủy, y Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Ninh Thuận, Ban tôn giáo - dân tộc (Sở nội vụ), Ban dân tộc, y ban Mặt trận Tổ quốc các huyện (nơi có đông đồng bào dân tộc sinh sống) Trong số đó, phải

kể đến các bài:

- Quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với vùng đồng bào Chăm - Cần làm gì để hoàn thiện chính sách đối với vùng đồng bào Chăm, tác giả Mã Điền Cư - Phó chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, trình bày trong hội thảo Đổi mới nội dung và công tác vận động đối với người Chăm trong tình hình mới của Ban Dân vận Trung ương (2004) Đến năm

2016, tác giả bảo vệ luận án tiến sĩ Nhân học “Chính sách d n tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận từ Đổi mới đến nay” tại Học viện Khoa học xã hội Luận án này liệt kê đầy đủ các văn bản của

Ban Bí thư và Chính phủ có liên quan đến vùng đồng bào Chăm và người Chăm trong cả nước Qua đó, đánh giá những thành tựu và tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của người Chăm qua các giai đoạn Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để góp phần phát triển toàn diện đời sống của người Chăm

Trang 24

- Về công tác đối với dân tộc Chăm trong tình hình mới (lược ghi nội dung -

gỡ băng), cuộc tọa đàm với trí thức người Chăm do Vụ dân tộc Ban dân vận Trung ương tổ chức ngày 30/8/2005 tại thành phố Hồ Chí Minh) Thành phần của buổi tọa đàm là đại biểu của các cơ quan nghiên cứu về dân tộc của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Ban Dân vận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh và An Giang; lãnh đạo Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ; Hội Dân tộc học Thành phố Hồ Chí Minh và các trí thức người Chăm… các đại biểu đều tập trung vào các vấn đề hiện trạng đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo của người Chăm Đồng thời kiến nghị với Trung ương cần tăng cường hơn nữa việc thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm sao cho đồng bộ hơn giữa các vùng miền và tỉnh thành trong cả nước

- Thực trạng và công tác đối với trí th c - Sinh viên dân tộc Chăm trong tình

hình hiện nay, tiến sĩ Trần Thị Ngọc Lan - Ban Tuyên giáo Trung ương, đã nêu khái

quát về tình hình đời sống của người Chăm trong cả nước Đồng thời phân tích hiện trạng và mối quan hệ của giới trí thức người Chăm trong khu vực Đông Nam Á và quốc tế Tác giả nhấn mạnh cần có những chính sách cấp bách và căn bản hơn nữa trong việc xây dựng và quy hoạch đội ngũ cán bộ người Chăm từ nguồn trí thức, học sinh, sinh viên

Bên cạnh đó, các bài viết của các cơ quan quản lý địa phương phải kể đến đó

là: Một số vấn đề quan tâm trong công tác vận động đồng bào Chăm Hồi giáo

(2004) - Trần Tiến Thành, Ban Tôn giáo Chính phủ Năm 2010, tác giả này cũng đã công bố công trình nghiên cứu tổng quan về tình hình tôn giáo, và mối tương quan

giữa các tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, với tên gọi: Góp phần tìm hiểu từ Islam đến Hồi giáo Bà Ni ở Việt Nam Tác giả Hoàng Minh Đô có công trình nghiên cứu về: Vấn đề tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận Thực trạng và chính sách (2004) Báo cáo gồm 12 chuyên đề nghiên cứu về

thực trạng tôn giáo của đồng bào người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận với nhiều khía cạnh tương đối toàn diện về đặc điểm dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo Đưa ra dự báo về xu hướng biến động và

Trang 25

những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Ninh Thuận - Bình Thuận Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tôn giáo đối với đồng bào Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận.

Ngoài ra, Ban Dân vận tỉnh Ninh Thuận cũng có bài: Một số vấn đề về công tác mặt trận và các đoàn thể trong vùng đồng bào Chăm tỉnh Ninh Thuận trong tình hình mới Cùng với chủ đề này có bài: Công tác mặt trận và các đoàn thể; vấn đề cán bộ và công tác xây dựng lực lượng cốt cán trong dân tộc Chăm tỉnh Bình Thuận của Ban dân vận tỉnh Bình Thuận

Góp phần nghiên cứu vào hiện trạng sinh hoạt, cũng như những ảnh hưởng

của yếu tố tộc người đối với đời sống của người Chăm, có các bài: Văn hóa tộc họ của người Chăm ở Ninh Thuận của Thành Chiểu - Phó trưởng Ban Dân vận Ninh Thuận và bài: tìm hiểu một số vấn đề tộc họ người Chăm ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận của Cửu Văn Thắng - Huỳnh Tấn Đãi y ban Mặt trận Tổ quốc huyện Bắc Bình cũng có bài: Kế thừa, phát huy văn hóa Chăm và xóa bỏ tập tục lạc hậu

để xây dựng nếp sống mới trong việc tang, cưới, lễ hội ở huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận

Từ năm 2010, tác giả luận án cũng có nghiên cứu về dân tộc Chăm với đề

tài: Nghiên c u việc thực hiện chính sách d n tộc đối với người Chăm ở Thành phố

Hồ Chí Minh, đây là Luận văn thạc sĩ, được bảo vệ tại trường đại học Khoa học xã

hội và nhân văn, đại học Quốc giá Thành phố Hồ Chí Minh Đây là đề tài nghiên cứu bước đầu của tác giả, khái quát về dân tộc Chăm và những tác động của chính sách đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội Chăm tại Thành phố Hồ Chí Minh

Các bài viết trên, là kết quả đúc kết những bài học kinh nghiệm quý giá của các cơ quan nghiên cứu, tham mưu về chính sách cho tổ chức Đảng và đoàn thể ở địa phương Với nội dung, nêu lên phương thức triển khai và thực hiện các chính sách đối với dân tộc Chăm của hệ thống chính trị các cấp, đồng thời thông qua cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị đã góp phần tác động vào quá trình biến đổi các yếu tố trong sinh hoạt văn hóa - xã hội, cũng như quá trình xã hội tộc người của người Chăm

Trang 26

3.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến luận án

Qua việc tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, chúng tôi rút ta một số nhận định bước đầu như sau: trong thời gian qua, việc nghiên cứu về người Chăm đã được nhiều học giả nước ta quan tâm, nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau: lịch sử hình thành, quá trình tộc người, các vấn đề về chính sách, văn hóa, xã hội, giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo, các ngành nghề truyền thống, các lễ hội, lịch pháp, chữ viết, nhà cửa, trang phục,… các công trình nghiên cứu trước đây hầu như đã nghiên cứu khá đầy đủ tất cả các lĩnh vực trong đời sống của người Chăm

Trong số các công trình nguyên cứu về người Chăm, thì số công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa - xã hội Chăm có số lượng vượt trội, rất ít công trình nghiên cứu về sinh hoạt kinh tế, cơ cấu kính tế hay ngành nghề và sự chuyển đổi ngành nghề, vẫn còn ít công trình nghiên cứu về chính sách và thực hiện chính sách dân tộc đối với người Chăm của hệ thống chính trị các cấp; thiếu vắng các công trình chuyên sâu xuất phát từ mục tiêu khoa học thiết thực phục vụ cho nhiệm

vụ ổn định và phát triển dân tộc Chăm, cũng như thiếu các giải pháp phù hợp giúp người Chăm thuận lợi hơn trong hòa nhập và phát triển bền vững Tuy nhiên, các kết quả từ các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội đã công bố là nguồn tài liệu quý giá, giúp cho chúng tôi có được một nền tản khoa học nhất định, làm cơ sở để định hướng cho chúng tôi nghiên cứu tiếp theo về người Chăm, góp phần thiết thực và hiệu quả trong nghiên cứu về người Chăm thời gian tới Bên cạnh

đó, thông qua các công tình nghiên cứu về biến đổi văn hóa - xã hội đã nêu trên, chúng tôi đã kế thừa một số quan điểm, cơ sở lý thuyết và tư liệu để so sánh, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu về biến đổi kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm

Trang 27

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là biến đổi các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm từ năm 1975 đến năm 2015 Nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người; những tác động của chính sách, những ảnh hưởng của yếu tố tộc người đến quá trình biến đổi đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận

- Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian nghiên cứu: Đề tài được khu biệt trong phạm vi cộng đồng

người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Trong đó địa bàn khảo sát của

đề tài tập trung ở các xã có đông người Chăm và đặc trưng các biểu hiện về sinh hoạt kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm như: xã Phước Nam huyện Thuận Nam tỉnh Ninh Thuận, Thị trấn Phước Dân huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận và xã Phan Thanh huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận

+ Thời gian nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu của đề tài từ năm 1975 đến

2015, đây là giai đoạn cả nước ta bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, là bước ngoặt biến đổi căn bản, toàn diện về đời sống của cộng đồng người Chăm

+ Nội dung nghiên cứu: Đề tài được tiếp cận dưới giác độ của ngành Dân

tộc học, đồng thời để tập trung nhận định, đánh giá sâu hơn về sự biến đổi kinh tế,

xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm nên trong cấu trúc của luận án chúng tôi tập trung vào một số nội dung cụ thể sau: về phương thức kinh tế (gồm sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ), về văn hóa tộc người (gồm văn hóa vật chất: ẩm thực, trang phục và nhà ở; văn hóa tinh thần: lễ hội, tín ngưỡng - tôn giáo, cưới xin, tang ma), về cấu trúc xã hội (gồm: cấu trúc gia đình, dòng họ và tổ chức làng) Đây là những nội dung cơ bản, có các yếu tố biến đổi rõ nét nhất trong cấu trúc kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận

Trang 28

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của luận án, chúng tôi đặt ra những câu hỏi làm trọng tâm nghiên cứu:

- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận ?

- Dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan của thời kỳ Đổi mới, đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận đã và đang biến đổi như thế nào? Mức độ tác động của từng yếu tố đó ảnh hưởng đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm ? Yếu tố nào là tác động chủ yếu đến sự biến đổi đó?

- Cũng tương tự như vậy, trong bối cảnh biến đổi kinh tế, xã hội chung đó, nét văn hóa tiềm ẩn tạo nên bản sắc văn hóa Chăm có biến đổi không? Nếu có thì xu hướng biến đổi của nó ra sao?

Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi xây dựng một số giả thuyết nghiên cứu chính để kiểm chứng thông qua quá trình thu thập và xử lý tư liệu như sau:

- Dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan của thời kỳ Đổi mới, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm đã và đang có sự biến đổi khá mạnh mẽ Trong đó, đời sống kinh tế và văn hóa vật chất có sự thay đổi nhanh và mạnh mẽ hơn hai loại hình còn lại là xã hội tộc người và văn hóa tinh thần của người Chăm. Trong sự biến đổi chung đó, tính cố kết cộng đồng của người Chăm với tư cách là một thuộc tính làm nên bản sắc văn hóa Chăm đang ngày càng được mở rộng vượt qua khuôn khổ của cộng đồng (nhờ có các phương tiện sinh hoạt mới như: xe máy, điện thoại di động, internet, ), đồng thời nó cũng có sự chi phối trở lại đối với các lĩnh vực văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc Chăm

- Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm, trong đó yếu tố tác động chủ yếu, đó là sự tác động của đường lối đổi mới, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã

Trang 29

hội của người Chăm Tiếp đến là yếu tố nội tại của cộng đồng, là nguồn lực của cộng đồng, là sự tiếp thu có chọn lọc, nhằm định hướng cho cộng đồng phát triển theo hướng cách tân, trong công cuộc hội nhập và phát triển của đất nước Ngoài ra,

sự vận dụng các thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự giao lưu tiếp biến văn hóa với các dân tộc trong vùng cũng là yếu tố tác động đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm

- Sự thay đổi về tập quán sản xuất và công cụ sản xuất là nguyên nhân chính dẫn tới sự biến đổi về kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm.Trong sự biến đổi chung đó, có những yếu tố truyền thống đang bị mai một dần, có những yếu tố được cách tân, đổi mới, hoặc được bổ sung, song nhìn chung, văn hóa Chăm hiện nay vừa đáp ứng được yêu cầu hội nhập, vừa giữ gìn và phát huy được bản sắc vốn có của riêng mình

6 Phương pháp nghiên cứu

* Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

Trên cơ sở quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lên Nin, đồng thời vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhất là phương pháp và kỹ thuật của ngành Dân tộc học - Nhân học: phương pháp sưu tầm và phân tích tư liệu, phương pháp quan sát - tham dự, nghiên cứu định tính; nghiên cứu định lượng, phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố để nghiên cứu các hoạt động, cách thức tham gia các hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm

- Phương pháp nghiên c u định lượng

Để có nguồn dữ liệu định tính, bên cạnh nguồn tư liệu thứ cấp, chúng tôi đã xây dựng 300 bảng hỏi cơ bản, nhằm tìm hiểu khái quát về đặc trưng và sự biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận

và Bình Thuận

Để chọn địa bàn khảo sát các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người, chúng tôi đã chọn các điểm nghiên cứu dựa trên các tiêu chí đặc trưng của cộng đồng người Chăm như: có động người Chăm sinh sống và thực hành các phương thức kinh tế khác nhau, các mô hình cấu trúc xã hội và đời sống văn hóa tộc người

Trang 30

đặc trưng; có sự giao thoa giữa người Việt và người Chăm, nơi có các động thái kinh tế mới như có các ngành thương mại - dịch vụ phát triển Theo đó, qua tham khảo ý kiến của các cán bộ địa phương, và khảo sát bước đầu, chúng tôi đã chọn các

xã Phan Thanh của huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận và các xã Phước Nam của huyện Thuận Nam, thị trấn Phước Dân, của huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận để tiến hành nghiên cứu sâu và tiến hành điều tra bảng hỏi Bằng phương pháp chọn mẫu hệ thống, chúng tôi đã xây dựng 300 bảng hỏi để thu thập thông tin các vấn đề

về kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm, tiếp đó tiến hành xử lý bảng hỏi bằng công cụ SPSS

Tại Ninh Thuận, nơi có số người Chăm chiếm 2/3 khu vực hai tỉnh, chúng tôi

sử dụng 200 bảng hỏi cho hai địa bàn là thị trấn Phước Dân huyện Ninh Phước và

xã Phước Nam của huyện Thuận Nam Ở Bình Thuận, chúng tôi chọn xã Phan Thanh của huyện Bắc Bình với 100 phiếu điều tra cơ bản Ngoài ra, chúng tôi cũng kết hợp điền dã tại các xã lân cận như: xã Phước Thái, Phước Hữu huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận và xã Phan Hòa, Phan Hiệp huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận

Cơ sở để chúng tôi chọn các xã, thị trấn trên để tiến hành điều tra bảng hỏi vì chúng tôi cho rằng trong quá trình phát triển tộc người, người Chăm có thể duy trì

và phát triển các hoạt động kinh tế, không chỉ nhờ vào sự học hỏi, kế thừa kinh nghiệm giữa các thế hệ trong nội bộ tộc người theo chiều kích lịch đại mà thông qua chiều kích đồng đại, họ cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ việc tiếp thu các yếu tố kỹ thuật của nhà nước và tộc người Việt trong quá trình tiếp xúc giao lưu văn hóa Từ điều này, chúng tôi cho rằng trong khi nghiên cứu sự biến đổi kinh tế xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm không thể nào bỏ qua sự giao lưu các tộc người, một yếu tố có mức độ tác động rất quan trọng Thị trấn Phước Dân có đặc điểm nổi bật

là địa bàn có quá trình đô thị hóa mạnh, nơi có các làng nghề truyền thống được quy hoạch và đầu tư cơ bản của nhà nước, đó là các làng dệt Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, làng gốm Bàu Trúc… tại địa bàn này, chúng tôi muốn tìm hiểu sự giao thoa văn hóa

và việc học hỏi kinh nghiệm trong phương thức kinh tế giữa người Việt và người

Trang 31

Chăm, như cách thức làm ăn buôn bán, cách thức tư duy lĩnh vực ngành nghề thủ công và các hoạt động thương mại dịch vụ khác

Địa bàn tiếp theo là xã Phan Thanh huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận và Phước Nam của huyện Thuận Nam tỉnh Ninh Thuận mà chúng tôi tiến hành các bảng hỏi là vì hai địa bàn này là các xã thuần Chăm, thuần nông, có nhiều hộ làm nông nghiệp trồng lúa và trồng hoa màu, với nhiều hình thức tổ chức tổ chức sản xuất mới Ngoài ra, hai địa bàn này cũng có số hộ người Chăm tham gia vào các mô hình sản xuất hợp tác xã kiểu mới và các phương thức canh tác kết hợp khác do địa phương phát động Đây cũng là hai xã có số lao động người Chăm đi làm ăn xa nhà

ở các thành phố lớn hoặc các tỉnh lân cận Yếu tố này rất phù hợp cho chúng tôi khảo sát các nội dung về chính sách động thái kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm

- Phương pháp sưu tầm, ph n tích tư liệu thư tịch và tài liệu th cấp

+ Nguồn tư liệu thư tịch là các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã thực hiện về dân tộc Chăm và các nội dung có liên quan đến luận án tại các trung tâm lưu trữ và tại cộng đồng dân tộc Chăm Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các số liệu, nguồn thông tin liên quan đến người Chăm từ các cơ quan ban ngành trong hệ thống chính trị, dưới dạng báo cáo sơ kết, tổng kết, số liệu thống kê qua các giai đoạn thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào Chăm Những thông tin thu thập được chúng tôi phân tích và đánh giá một cách cẩn thận để có cái nhìn toàn diện về tình hình đời sống, về dân cư, các biến đổi trong hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận

+ Phương pháp thu thập thông tin định tính: là phương pháp lấy thông tin

định tính từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Phương pháp này được chúng tôi tiến hành cùng với quá trình thực hiện điền dã tại các cộng đồng, đồng thời thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung hầu hết các trí thức, nhà nghiên cứu, các doanh nhân là người Chăm có nguồn gốc từ Ninh Thuận và Bình Thuận Đặc biệt, chúng tôi quan tâm đến phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố… tùy theo từng vấn đề, từng mục đích yêu cầu của luận án, chúng tôi đã

Trang 32

lựa chọn cách thức phỏng vấn và đối tượng phỏng vấn khác nhau Đối tượng mà chúng tôi chọn để tiến hành phỏng vấn là các nhà quản quản lý trong hệ thống các

cơ quan Đảng và chính quyền các cấp, các cán bộ hưu trí là người Chăm, các chức sắc tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức, các doanh nhân, các nghệ nhân… là những đối tượng có quá trình trực tiếp thực hiện các hoạt động liên quan đến đời sống kinh tế,

xã hội và văn hóa của Chăm Trên cơ sở phỏng vấn, ghi âm, ghi chép một cách tỉ mĩ các nhận định, đề xuất của đối tượng phỏng vấn về tình hình biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của người Chăm, chúng tôi đã truyền tải các thông tin này vào nội dung của luận án một cách hệ thống và chặt chẽ nhất

- Phương pháp quan sát tham dự: là phương pháp đặc thù, là thế mạnh của

ngành nhân học - dân tộc học, buộc người nghiên cứu phải có quá trình diền dã lâu dài tại cộng đồng nghiên cứu, tham gia nhiều vào quá trình hoạt động của cộng đồng càng nhiều càng tốt Thực tế đối với cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận thì áp dụng phương pháp này có điểm thuận lợi và khó khăn cho chúng tôi Thuận lợi là chúng tôi có được mạng thông tín viên là các trí thức Chăm, nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp là người bản xứ, do đó chúng tôi có điều kiện thâm nhập, tham gia vào các hoạt động của cộng đồng một cách tự nhiên Điều khó khăn cho chúng tôi là cộng đồng nghiên cứu cách xa Thành phố Hồ Chí Minh, do đó chúng tôi không thường xuyên điền dã tại địa bàn, chỉ cố gắng thực hiện điền dã trung bình hai kỳ trong năm để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình đánh giá, phân tích các vấn đề cần phát sinh trong luận án

Quan sát tham dự và phỏng vấn sâu là hai phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng để thu thập tư liệu phục vụ cho công tác hoàn chỉnh luận án Bên cạnh

đó, phương pháp so sánh dân tộc học cũng được chúng tôi sử dụng phổ biến trong quá trình thực hiện luận án, chủ yếu là so sánh lịch đại

Phương pháp so sánh lịch đại được chúng tôi sử dụng để so sánh sự biến đổi

về đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm qua từng giai đoạn phát triển Vận dụng phương pháp này cho phép chúng tôi nhận biết những nguyên nhân ảnh hưởng và tác động đến quá trình biến đổi kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm

Trang 33

7 Những đóng góp mới của luận án

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Chăm, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và xuyên suốt về người Chăm, trong một giai đoạn lịch sử được xem là bước ngoặt biến đổi các sự kiện trọng đại trong đời sống xã hội của quốc gia dân tộc từ năm 1975 đến năm 2015 Luận án góp phần làm rõ hơn về góc độ nghiên cứu này

Bằng phương pháp nghiên cứu dân tộc học, nhân học về biến đổi xã hội, luận

án thể hiện những đóng góp mới như:

- Qua các nguồn tư liệu khác nhau (tư liệu thành văn, tư liệu điền dã) được

hệ thống hóa, chúng tôi đánh giá và phân tích quá trình biến đổi toàn diện về đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm

- Chứng minh, lý giải những nguyên nhân ảnh hưởng, tác động đến hóa trình biến đổi của người Chăm; mối tương quan giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội trong cấu trúc cộng đồng tộc người qua các giai đoạn gần 40 năm qua; từ đó đề xuất những khuyến nghị về chính sách đối với kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận

- Nội dung nghiên cứu về biến đổi kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận góp phần bổ sung vào các nhận định trong lĩnh vực dân tộc học, nhân học xã hội về quá trình xã hội tộc người của dân tộc Chăm trong giai đoạn từ 1975 - 2015; đồng thời góp phần minh chứng lý thuyết

về biến đổi của ngành Dân tộc học và Nhân học

8 Kết cấu của luận án

Dưới giác độ tiếp cận của chuyên ngành Dân tộc học, cấu trúc của luận án được giới hạn trong phạm vi của các nội dung cơ bản sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan về dân tộc Chăm

Trong chương này, chúng tôi tập trung tình bày nội dung cốt lõi của các lý thuyết nghiên cứu và khái lược đời sống kinh tế - văn hóa xã hội của người Chăm,

Trang 34

trong đó các lý thuyết được vận dụng cụ thể là: thuyết phát triển của R.I.nglehart, thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết diễn ngôn (discourse) và tổng quan về dân tộc Chăm

Chương 2: Biến đối kinh tế của người Chăm từ 1975 - 2015

Trong chương 2, chúng tôi phân tích sự biến đổi của các yếu tố kinh tế trong nông nghiêp, trồng trọt, chăn nuôi, các nghề làm gốm, dệt vải và thương mại - dịch

vụ qua các giai đoạn từ năm 1975 -1986 và từ 1986 - 2015

Chương 3: Biến đổi về cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm

từ 1975 - 2015

Trong chương này, các yếu tố về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần và những nội dung về cấu trúc xã hội được chúng tôi nhận định, đánh giá qua các giai đoạn từ 1975 - 1986 và từ 1986 - 2015

Chương 4: Yếu tố tác động đến biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận từ 1975 - 2015

Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích các yếu tố tác động đến sự biến đổi kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm, bao gồm: sự tác động của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; sự phát triển của lực lượng sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; yếu tố nội tại của cộng đồng người Chăm; sự giao lưu tiếp biến văn hóa với các dân tộc ở các địa bàn cộng cư trong khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận

Trang 35

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CHĂM

1.1 Những khái niệm liên quan đến luận án

1.1.1 Truyền thống: là những “thói quen hay có tính chất quen thuộc đã

được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” (A.A Belik, 2000, tr.135)

1.1.2 Biến đổi

"Biến đổi" là một thuật ngữ không chỉ định hướng giá trị mà thể hiện một sự mô phỏng của một nền văn hóa hay cấu trúc xã hội hiện hữu; trong xã hội học, phân biệt hai hình thức biến đổi lớn - tiến hóa và cách mạng; hai hình thức này phụ thuộc vào những yếu tố bên trong và bên ngoài Trong Dân tộc học có hai mức độ biến đổi là biến đổi và chuyển đổi

Trang 36

triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa

3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi

và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng

xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống

1.1.5 Biến đổi kinh tế

Kinh tế là “tổng thể nói chung các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất cho con người và xã hội”; “có tác dụng mang lại hiệu quả tương đối lớn so với sức người, sức của và thời gian bỏ ra tương đối không nhiều” (A A Belik,

2000, tr.168)

Khi đề cập đến chủ đề kinh tế, các nhà Nhân học thường nói đến hoạt động sản xuất vật chất của con người với các phương thức mưu sinh… kinh tế là ngành nghiên cứu nền tảng văn hóa xã hội của hành vi và thiết chế kinh tế của con người Xét khái niệm kinh tế ở phương diện tổ chức sản xuất thì kinh tế chính là sự phân

bổ các phương tiện (means) khan hiếm cho các mục đích (ends) cạnh tranh nhau (Khoa Nhân học, 2016, tr.139)

- Xã hội là “hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình

độ phát triển nhất định, được hình thành trong quá trình lịch sử” (A A Belik, 2000, tr.1452) Đó là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các

Trang 37

nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế

và có cùng văn hóa Sử dụng từ xã hội để nói đến một nhóm người tạo vựng một hệ thống xã hội một phần khép kín (hoặc một phần mở rộng), trong đó những người trong một nhóm hầu hết tương tác với những người khác thuộc cùng nhóm đó

Một xã hội được coi là mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể và cũng là một cộng đồng với các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau

- Kinh tế - xã hội: Theo quan điểm của C.Mác “sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Có nghĩa là sự vận động thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội, trong các giai đoạn lịch sử, chính là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội Tức là, sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình thái kinh tế xã hội khác luôn chịu tác động của các quy luật khách quan Và, xét đến cùng, lực lượng sản xuất chính là yếu tố quan trọng nhất, quyết định toàn bộ quá trình vận động, biến đổi và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên

Trong quá trình vận động và phát triển này, quy luật về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định Quy luật này chỉ rõ khi lực lượng sản xuất thay đổi, phát triển, đến mức độ nhất định sẽ kéo theo sự biến đổi và phát triển của quan hệ sản xuất; kiến trức thượng tầng của xã hội

Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C Mác và Ph Ăng-ghen cho thấy có thể tìm nguyên nhân, cách lý giải về sự biến đổi của các tổ chức xã hội từ những biến đổi trong đời sống kinh tế

- Biến đổi kinh tế: là sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Biến đổi

trong kinh tế được thể hiện ở cơ cấu, thành phần, vùng kinh tế, chính sách và thể chế kinh tế trong sinh hoạt kinh tế

+ Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng

Trang 38

Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần

về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội

+ Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh

tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là

sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Theo cách hiểu như vậy, phát triển kinh tế được xem như là quá trình lâu dài

và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định

Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức

- Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế, là điều cần thiết để nâng cao mức sống vật chất và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển

- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế của một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được

- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình

độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

1.1.6 Biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi,

các mối quan hệ, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng thay đổi qua thời

Trang 39

gian Trong quá trình vận động, xã hội chẳng bao giờ tĩnh tại, những biến chuyển về

xã hội, chính trị và văn hóa luôn diễn ra không ngừng Đó là tồn tại các cách gọi: biến chuyển xã hội/văn hóa, biến đổi xã hội/văn hóa, thay đổi xã hội/văn hóa, tiến hóa xã hội/văn hóa, tiến bộ xã hội/văn hóa hay gần đây gọi khái niệm "hiện đại hóa"

Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện, biến đổi xã hội được hiểu là thay đổi xã hội: chỉ

trạng thái vận động xã hội khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến hóa hoặc cách

mạng, bộ phận hoặc toàn bộ… Có thể thấy, với cách hiểu này, thay đổi xã hội được

nhìn ở tầm xã hội vĩ mô và là một khái niệm mang tính chất của một phạm trù triết học để chỉ sự vận động từ một giai đoạn xã hội gắn với một hình thái kinh tế - xã hội này sang một giai đoạn xã hội khác

Một quan điểm khác cũng xem biến đổi xã hội ở khía cạnh: "biến chuyển xã hội: là những thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội (patterns of social organization), cấu trúc, thiết chế và đời sống văn hóa xã hội" (A.A Belik, 2000,

192)

- Biến đổi xã hội: theo nghĩa thông thường, được quan niệm, đó là sự thay đổi

khi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước Trong phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng biến đổi xã hội là sự biến đổi ở cấu trúc xã hội (hay tổ chức xã hội), biểu hiện trong sự thay đổi ở khuôn mẫu hành vi, các quan hệ xã hội, định chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội và chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên xã hội (A.A Belik, 2000, 185)

Trang 40

- Tiến bộ xã hội: là khái niệm có tính chất đánh giá nhằm để chỉ sự thay đổi

xã hội theo hướng tích cực, theo hướng ngày một phát triển đi lên

Tóm lại, biến đổi xã hội (social change) theo lý thuyết xã hội học thì đó là sự

thay đổi so với tình trạng xã hội hoặc một lối sống có trước đó Có nghĩa là nhìn nhận những biến đổi xã hội không chỉ diễn ra trong cấu trúc tổng thể xã hội mà còn diễn ra trong nhận thức và suy nghĩ, hành động của cá nhân và trong đời sống xã hội

Trong quá trình biến đổi xã hội nói chung, (bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa) thì biến đổi vừa mang kết quả tốt, tích cực mà cũng có những hệ quả xấu, tiêu cực đan xen Đặc biệt trong xã hội hiện đại thì sự biến đổi sẽ diễn ra với tốc độ nhanh và chắc chắn phức tạp hơn

1.1.7 Biến đổi văn hóa (cultural change) là quy luật vận động của văn hóa

và biến đổi là để phát triển

Văn hóa là một phức hệ các vật thể, ý tưởng và các dạng thức hành vi, giá trị

được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như "một cách tổng thể của đời sống"

nên văn hóa tự thân đã có những biến đổi nhất định Đó là quá trình trong đó có các yếu tố văn hóa truyền thống bền vững, có yếu tố sẽ mất đi, có yếu tố biến đổi, có yếu tố cách tân lại cho phù hợp và có sự khác nhau về mức độ biến đổi, quá trình thích nghi Tuy nhiên, dù có sự khác biệt về tốc độ thay đổi văn hóa (có nền văn hóa tiếp xúc với kinh tế toàn cầu thay đổi chậm trong khi số khác thay đổi nhanh) nhưng không có nền văn hóa nào lại không thay đổi trong suốt quá trình tồn tại của

nó Lịch sử phát triển văn hóa của Việt Nam nói chung và nhiều nước trên thế giới chính là lịch sử của quá trình biến đổi: với những tiếp xúc, giao lưu, tiếp biến, hội

nhập, thích nghi và biến đổi để tạo nên một diện mạo văn hóa xã hội đặc trưng "Sự thay đổi là tất yếu và được xem như một quy luật của phát triển và phát triển ở đ y

có nghĩa là mở rộng cả về lượng và chất" (Đoàn Văn Chúc, 1997, Tr.355) Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cũng đã nhận xét: "văn hóa xét về mặt biểu hiện là một hiện tượng xã hội, ở đấy cái mới thắng cái cũ bằng cách ch ng minh tính thích

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w