1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh kiên giang hiện nay (luận án tiễn sĩ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử)

210 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc xây dựng và phát triển văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vừa là vấn đề vừa mang tính thời sự cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, góp phần vào sự phát triể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN ĐẶNG THÙY DIỄM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

U N ÁN TI N S CHỦ NGH A DUY V T BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGH A DUY V T ỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN ĐẶNG THÙY DIỄM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

Phản biện độc lập 1: GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn

Phản biện độc lập 2: PGS.TS Nguyễn Thanh

Phản biện:

Phản biện 1: PGS.TS Trịnh Doãn Chính Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thanh Phản biện 3: PGS.TS Vũ Đức Khiển

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 3

Cuối cùng, tôi xin được biết ơn sâu sắc gia đình, những người thân, bạn

bè, đồng nghiệp đã luôn là nguồn động viên to lớn về mọi mặt để tôi hoàn thành luận án

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Đặng Thùy Diễm

Trang 4

ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy PGS.TS Lương Minh Cừ Những kết luận khoa học nêu trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác ở Việt Nam

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Đặng Thùy Diễm

Trang 5

SVHTT: Sở văn hóa và Thể thao

SVHTTDL: Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

MỤC ỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 17

1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 17 1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới và Việt Nam với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 17 1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 29 1.1.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.44

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 52 1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về khái niệm văn hóa 52 1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và chức năng của văn hóa 61 1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóa 70

Kết luận chương 1 77 Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 79

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ỊCH SỬ, KINH T - XÃ HỘI VÀ TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG 79 2.1.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội ở tỉnh Kiên Giang 79 2.1.2 Tính chất cơ bản của văn hóa ở tỉnh Kiên Giang 95

2.2 THÀNH TỰU, HẠN CH TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 103 2.2.1 Thành tựu xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang 102 2.2.2 Một số hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang 125

Kết luận chương 2 135

Trang 7

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 138

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 138

3.1.1 Xây dựng và phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Kiên Giang 138

3.1.2 Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa kinh tế và văn hóa trong xây dựng, phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang 143

3.1.3 Xây dựng và phát triển văn hóa trên cơ sở phát huy đặc điểm, tiềm năng và thế mạnh ở tỉnh Kiên Giang 148

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ Y U NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở TỈNH KIÊN GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 155

3.2.1 Giải pháp về nhận thức, chỉ đạo, lãnh đạo trong xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 155

3.2.2 Giải pháp về xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.164 3.2.3 Giải pháp về nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong xây dựng, phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 171

3.2.4 Giải pháp về xây dựng, phát triển, hoàn thiện thiết chế văn hóa và đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở tỉnh Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa 180

Kết luận chương 3 188

K T U N CHUNG 190

DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 194

NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ IÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI CỦA U N ÁN 203

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, văn hóa đóng một vai trò rất quan trọng Bởi lẽ văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển toàn diện xã hội loài người Văn hóa là sự kết tinh của những giá trị cao quý, đẹp đẽ nhất của con người cũng như của đời sống mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong Tuyên ngôn thế giới về đa dạng văn hóa (2001), UNESCO đã khẳng định văn hóa là “tập hợp các nét đặc trưng

về tinh thần và vật chất, về mặt trí tuệ và tình cảm, đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng mang tính xã hội” (Nguyễn Văn Dân, 2006, tr 19) Qua

đó, đã nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của văn hóa cả về lý luận lẫn thực tiễn, gắn liền với sự phát triển nhiều mặt của con người trong đời sống xã hội Dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành, xây dựng và phát triển được một nền văn hóa rất đặc sắc của đất nước và con người Việt Nam Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nó được tạo nên trong quá trình lao động, sản xuất, chiến đấu của dân tộc, từ

đó hình thành nên các chuẩn mực, lối sống, cách sống… mang tính đặc thù của dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại, nhà chính trị lỗi lạc, nhà tư tưởng và là nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam Với tầm vóc một danh nhân văn hóa, Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản tư tưởng vô cùng quý báu về mọi lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… Trong những lĩnh vực đó, có sự đóng góp to lớn, quan trọng của Người về lĩnh vực

văn hóa Theo Người, văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận mang

tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam Đây là cả quá trình chắt lọc, tổng hợp những cái hay, cái tốt đẹp nhất từ những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, mà cốt lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tinh hoa và bản sắc của dân tộc Việt Nam Văn hóa

Trang 9

bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo

ra trong quá trình tồn tại và phát triển, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”

(Hồ Chí Minh, 2011a, tr XXV) Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa phản ánh bản sắc của nền văn hóa mới, không chỉ đã và đang định hướng cho việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam mà còn đóng góp vào sự tiến bộ của văn hóa, văn minh nhân loại

Kế thừa, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn đặc biệt quan tâm, chú trọng, đề cao vai trò to lớn của văn hóa trong tiến trình cách mạng Quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập đến từ rất sớm

như trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội

VII (1991), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và trong các văn kiện của Đảng Tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh đã trở thành đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã

đi vào cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và của toàn dân tộc Việt Nam, đem lại những biến đổi hết sức sâu sắc về tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, cũng như trong việc nâng cao dân trí và trong giáo dục – đào tạo, văn hóa, nghệ thuật Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr 29) Quan điểm đó của Đảng vừa có ý nghĩa chiến lược sâu sắc, vừa có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa trong cả nước Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, vào văn hóa truyền thống riêng của mỗi địa phương, trên cơ

sở đó có thể vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa một cách sáng tạo, linh hoạt ở các địa phương trong cả nước, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa ngày một bền vững, hiệu quả

Trang 10

Trên tinh thần đó, trong quá trình cách mạng cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Kiên Giang luôn chú trọng đến xây dựng, phát triển văn hóa cùng với phát triển kinh tế - xã hội Với sự thăng trầm của lịch sử đã để lại cho Kiên Giang những nét đặc trưng về văn hóa

vô cùng phong phú, đa dạng Những dấu ấn văn hóa đó được hình thành

và gắn liền với quá trình lịch sử khai mở vùng đất mới; lịch sử hình thành dân cư – dân tộc trên vùng đất Kiên Giang, đã tạo nên sự giao thoa về văn hóa dân tộc, tạo thành nếp sống cộng đồng và tạo thành nét văn hóa rất riêng của con người và vùng đất Kiên Giang Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo thời cơ và thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đã tạo nhiều điều kiện cho việc giao lưu, mở rộng tri thức, phát triển khoa học, kỹ thuật, phát triển tư duy, lối sống, sinh hoạt, học tập đối với mỗi một người trong xã hội Quá trình này cũng đem lại không ít những khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển, đó là “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc… nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr 46 - 47) Chính vì thế, việc xây dựng và phát triển văn hóa của tỉnh bên cạnh những thuận lợi cũng gặp rất nhiều khó khăn, thách thức Do đó, việc xây dựng và phát triển văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vừa là vấn đề vừa mang tính thời sự cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, góp phần vào sự phát triển hài hòa, bền vững giữa các yếu tố, các lĩnh vực

xã hội của tỉnh Kiên Giang, nhằm góp phần bổ sung những thiếu hụt, phát triển những nội dung mới do yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước đang đặt ra cũng như xu thế chung của thời đại đang đòi hỏi trong giai đoạn hiện nay

Chính vì những lý do trên mà nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề: “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở

Trang 11

tỉnh Kiên Giang hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người vào thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa mới ở Việt Nam nói chung, trong đó có tỉnh Kiên Giang đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau với các công trình nghiên cứu phong phú Có thể khái quát các thành quả đó bằng các nhóm như sau:

- Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về văn hóa: Về chủ đề này có các công trình của các tác giả như sau: Tác

phẩm Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh của Đỗ Huy do Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội phát hành năm 1997 Tác giả đã đi sâu phân tích tư tưởng văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa nghệ thuật Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất những giải pháp xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tác phẩm Hồ Chí Minh – văn hóa và đổi mới của Đinh Xuân Lâm và

Bùi Đình Phong do Nxb Lao động, Hà Nội phát hành năm 1998 Các tác giả đã nghiên cứu, phân tích xoay quanh những nội dung chính như sau: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam; tầm vóc trí tuệ văn hóa Hồ Chí Minh; tư tưởng Hồ Chí Minh với bản sắc văn hóa dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng văn hóa dân tộc với việc xây dựng văn hóa, văn nghệ dân tộc

Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa của Ban tư tưởng - Văn

hóa Trung ương do Nxb Hà Nội phát hành năm 2003 Công trình gồm bốn phần giới thiệu, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, phần một, phần hai, phần ba: Chủ yếu giới thiệu bài viết của các nhà khoa học đã được công bố trên các báo, tạp chí uy tín về con đường Nguyễn Ái Quốc trở thành nhà văn hóa tương lai; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mãi mãi soi sáng con đường xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam; những

Trang 12

chỉ dẫn cụ thể và sâu sắc của Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa; phần bốn: Giới thiệu một số bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về văn hóa

Công trình tiếp theo nghiên cứu về vấn đề này là Góp phần nghiên cứu

văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh của Thành Duy do

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2004 Tác phẩm bao gồm bốn chương, tác giả đã đi sâu phân tích một số vấn đề sau: Chương một: Khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội và nguồn gốc, quá trình hình thành, đặc trưng bản chất nền văn hóa Việt Nam; chương hai: Khái quát về tình hình nghiên cứu văn hóa Việt Nam – Thực trạng và quan điểm; chương ba: Những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; chương bốn: Một số lĩnh vực văn hóa thể hiện quan điểm phát triển nền văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Công trình Hồ Chí Minh nhà văn hóa của tương lai của các tác giả:

Hoàng Chí Bảo, Phạm Hồng Chương, Lê Kim Dung, Đinh Xuân Dũng, Đỗ Đình Hãng, Vũ Trường Giang và nhiều tác giả khác do Nxb Thanh niên phát hành năm 2009 Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, chọn lọc, giới thiệu những bài viết của các nhà khoa học đầu ngành về tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh như: Văn hóa ứng xử, văn hóa truyền thống, văn hóa soi đường cho quốc dân đi; giá trị thời đại của văn hóa Hồ Chí Minh; văn hóa Hồ Chí Minh tiếp cận từ góc độ hội nhập quốc tế; phong cách Hồ Chí Minh

Viết về chủ đề này còn có các công trình như: Cơ sở khoa học và nền

tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh của Thành Duy do Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1998; Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam của Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2000; Bác Hồ và

truyền thống văn hóa dân tộc của Thanh Lê, Nxb Thanh niên, 2001; Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa của Bùi Đình Phong, Nxb Lao động,

Hà Nội, 2001; Hồ Chí Minh và văn hóa, văn học dân tộc của nhiều tác giả, Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội, 2001; Từ Các Mác đến Hồ Chí Minh –

một dòng chảy văn hóa của Trần Đình Huỳnh và Trịnh Quang Cảnh, Nxb

Trang 13

Trẻ, Hà Nội, 2003; Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam của Lê Xuân Vũ, Nxb Văn học, Hà Nội, 2004; Đặc sắc văn hóa Hồ Chí Minh của Nguyễn Gia Nùng, Nxb Trẻ, 2010; Giá trị thời đại của văn hóa Hồ Chí

Minh của Bùi Kim Hồng, Đỗ Hoàng Linh, Văn Thanh Mai và Phạm Hoàng

Điệp, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2010; Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò

của văn hóa của Đinh Thị Thúy Hải, Luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị -

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011; Hồ

Chí Minh về văn hóa làm người của Nguyễn Khắc Nho, Nxb Chính trị

quốc gia, 2013; UNESCO với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh

hùng giải phóng dân tộc – Nhà văn hóa kiệt xuất của Mạch Quang Thắng,

Bùi Đình Phong và Chu Đức Tính, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2013;

Văn hóa lãnh đạo – triết lý phát triển bền vững trong tư duy văn hóa Hồ Chí Minh của Thành Duy, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2014; Triết học văn hóa trong đạo đức Hồ Chí Minh của Hồ Sĩ Vịnh, Nxb Dân trí,

2014; Hồ Chí Minh – những mạch nguồn văn hóa của Nguyễn Thanh Tú, Nxb Quân đội nhân dân, Tp Hồ Chí Minh, 2013; Văn hóa Hồ Chí Minh của Nguyễn Hữu Đảng, Lê Ngọc Y, Trần Thị Hồng Thúy, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2014; Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức của Trần Văn Bính, Nxb Thông tin và truyền thông, 2015; Tư tưởng Hồ Chí

Minh – Giá trị nhân văn và phát triển của Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2015; Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt

xuất của Song Thành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015; Bác Hồ với hoạt động văn hóa, nghệ thuật của Khắc Tuế, Nxb Chính trị quốc gia – Sự

thật, 2016; Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, nghệ thuật của nhiều tác giả,

Nxb.Văn hóa – văn nghệ, 2016.v.v

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được rất nhiều nhà khoa học

quan tâm Các công trình nghiên cứu nói trên đề cập đến những đóng góp của Hồ Chí Minh trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ và những quan điểm chung nhất của Người về văn hóa Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, các tác giả

Trang 14

đã đề cập đến những vấn đề như: Triết lý văn hóa, văn hóa ứng xử, văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, giao lưu văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và con người.v.v Tuy nhiên vẫn chưa có công trình khoa học nào trình bày một cách hệ thống vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về khái niệm văn hóa, về vị trí, vai trò, chức năng của văn hóa, về xây dựng và phát triển văn hóa

- Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển văn hóa: Về chủ đề này có các

công trình nghiên cứu của các nhà khoa học sau: Sách Tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam của Trường Đại học khoa học xã hội

và nhân văn Hà Nội do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành năm

1998 Các nhà nghiên cứu một lần nữa khẳng định Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hóa; đồng thời làm rõ nguồn gốc

tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, về xây dựng văn hóa Việt Nam và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam

Công trình khoa học cấp bộ Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn

hóa mới Việt Nam của Bùi Đình Phong chủ nhiệm, Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh chủ trì năm 1998 Ở đây, tác giả đã đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh; tính chất để xây dựng nền văn hóa mới: Tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng đồng thời đưa ra giải pháp thực hiện để đưa nội dung đó vào thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa ở Việt Nam

Công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người

của Đặng Xuân Kỳ (Chủ biên), Hoàng Chí Bảo và Vũ Khiêu do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2005 Trong công trình này, các tác giả tập trung làm rõ một số nội dung liên quan đến xây dựng và phát triển văn hóa, đồng thời đưa ra một số luận điểm về xây dựng văn hóa và phát triển

con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề văn hóa trong phát triển

của Đỗ Thị Minh Thúy do Nxb Văn hóa Thông tin phát hành năm 2006 Tác phẩm này bao gồm bốn phần, giới thiệu các bài viết của các nhà

Trang 15

nghiên cứu và đã tập trung đi sâu phân tích một số nội dung chính về văn hóa: Phần một: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Phần hai: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa – chính trị - kinh tế, về giáo dục Phần ba: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức, lối sống , cách sống và đời sống văn hóa Phần bốn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự đa

dạng văn hóa và giao lưu hội nhập quốc tế

Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng nền

văn hóa Việt Nam hiện nay của Thái Công Quận, Luận văn Thạc sĩ Triết

học, Tp Hồ Chí Minh, 2010 Trong bài viết của mình, tác giả đã đi sâu phân tích một số nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa như: Tính chất, chức năng, vị trí, vai trò, mục đích của văn hóa; văn hóa trong lĩnh vực đạo đức, giáo dục, nghệ thuật, chính trị đồng thời nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay

Bên cạnh các công trình nêu trên còn có nhiều công trình nghiên cứu

khác về vấn đề này như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển

nền văn hóa mới ở Việt Nam của Đỗ Huy, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

2000; Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh của Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Hồ

Chí Minh văn hóa và phát triển của Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình Phong,

Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí

Minh về văn hóa vào việc giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Ê

Đê ở Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay của Bùi Thị Hiền, Luận văn Thạc sĩ

Khoa học chính trị, Hà Nội, 2009; Phát triển văn hóa và con người Việt

Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc và

Phạm Văn Thủy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Tư tưởng Hồ Chí

Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con người mới, văn hóa mới

của Nguyễn Trung Thu, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2013;

Trang 16

Phát triển văn hóa từ quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của Trần Quốc Hoàn, Luận án Tiến sĩ Triết học,

Tp Hồ Chí Minh, 2017.v.v

Ngoài công trình là sách, đề tài khoa học, luận văn, luận án, còn có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là các bài báo

được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành: Bài Tư tưởng Hồ Chí

Minh về văn hóa của Đỗ Đình Hãng và Vũ Trường Giang, Tạp chí Khoa học

xã hội số 3 (55), 2002 Trong bài viết này, các tác giả đã làm rõ một số nội

dung về khái niệm văn hóa; sự kết hợp văn hóa với cách mạng; văn hóa góp phần khẳng định bản sắc dân tộc gắn liền với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; nhấn mạnh văn hóa, văn nghệ là một mặt trận và về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng

Bài báo Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá của Doãn Chính, Tạp chí Khoa học xã hội (4), tr 35 - 41, (2003) Tác giả đã khái quát

một cách tổng quát những quan điểm chung nhất của Hồ Chí Minh về khái niệm văn hóa, vai trò của văn hóa trong lịch sử của dân tộc Việt Nam

Bài Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân

loại của Hồ Văn Chiểu, Tạp chí Cộng sản, số 34, 2003 Dưới góc độ nghiên

cứu của mình, tác giả đã trình bày và phân tích những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam – cội nguồn của việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đồng thời những yếu tố tốt đẹp trong văn hóa của nhân loại mà Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng, phát triển ở Việt Nam

Công trình Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và

phát triển văn hoá của Nguyễn Đình Bắc và Phạm Thị Hằng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12, tr 3 - 8, 2011 Trong bài viết này, các tác giả đã tập

trung bàn về những nội dung chính trong quan điểm Hồ Chí Minh về khái niệm văn hóa, từ đó đưa ra mối tương quan giữa văn hóa và phát triển văn hóa trong đời sống xã hội

Trang 17

Công trình về chủ đề này còn có bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về

văn hóa và phát triển của Mạch Quang Thắng, Tạp chí Khoa học xã hội, số

2 (111), tr 32 – 39, 2017 Tác giả đã trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa văn hóa và phát triển

Ngoài ra còn có các công trình như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

và vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của Nguyễn Ngọc Quyến, Tạp

chí Triết học, số 11 (162), tháng 11 – 2004; Văn hóa Hồ Chí Minh: Đổi

mới, hội nhập để phát triển của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Lý luận chính trị,

số 7, 2010; Hồ Chí Minh về công tác văn hóa, văn nghệ - Đọc lại, nghĩ tiếp của Phong Lê, Tạp chí Khoa học xã hội, số 4, tr 51 – 60, 2010; Những nội

dung cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa - giá trị đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay của Phạm Xuân Nam, Tạp chí Khoa học

xã hội, số 4, tr 82 – 91, 2013.v.v

Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy rằng, dưới những góc độ nghiên cứu của mình mà các nhà khoa học đã đề cập một số vấn đề liên quan đến việc vận dụng tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh gắn với thực tiễn của địa phương, đơn vị, tuy nhiên vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa của tỉnh Kiên Giang hiện nay

- Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng và phát triển

văn hóa ở tỉnh Kiên Giang

Kiên Giang là một trong những tỉnh được nhiều người biết đến là vùng đất văn hoá và du lịch nổi tiếng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Hiện nay cũng có nhiều đề tài khoa học, sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu

về những vấn đề này, có thể khái quát một số công trình chính liên quan đến đề tài của luận án như sau:

Tác phẩm Thực trạng và giải pháp xây dựng làng xã văn hóa tỉnh Kiên

Giang của Đoàn Nô do Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2003 Tác

phẩm gồm bốn chương, tác giả đã tập trung đi sâu phân tích những vấn đề

Trang 18

sau đây: Chương một về khái niệm văn hóa làng xã; chương hai về mô hình làng xã văn hóa hiện có ở tỉnh Kiên Giang; chương ba là về thực trạng văn hóa làng xã; chương bốn là giải pháp xây dựng mô hình làng xã văn hóa

Tác phẩm Hà Tiên thập cảnh của Đông Hồ và Mộng Tuyết do Nxb

Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh phát hành năm 2006 Ở tác phẩm này, tác giả

đã khái quát đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển Hà Tiên, đồng thời tập trung giới thiệu những thắng cảnh ở Hà Tiên và Phú Quốc; giới thiệu những bài thơ nổi tiếng nói về Hà Tiên, trong đó có tập thơ nổi tiếng một

thời là Hà Tiên Thập Vịnh của Chiêu Anh Các, gồm 10 tập thơ nói về cảnh đẹp ở Hà Tiên

Công trình Di tích lịch sử - văn hóa và Danh lam thắng cảnh Kiên Giang

của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang ấn hành năm 2011 Tác phẩm này bao gồm 50 trang, giới thiệu một cách ngắn gọn về di tích lịch sử - văn hóa và một số danh lam thắng cảnh thiên nhiên tươi đẹp ở Kiên Giang

Công trình Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội anh hùng

dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh kiên Giang hiện nay của Võ Thanh

Xuân, Luận văn Thạc sĩ văn hóa học, năm 2014 Trong công trình này, tác giả đã phân tích, trình bày cuộc đời, sự nghiệp và những công lao đóng góp của Nguyễn Trung Trực đối với Kiên Giang; trình bày và làm rõ lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – một trong những lễ hội lớn nhất ở tỉnh được tổ chức thường xuyên vào mỗi năm

Công trình Tín ngưỡng dân gian Phú Quốc của Nguyễn Bình Phương

Thảo và Nguyễn Thanh Lợi do Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2016 Các tác giả đã trình bày tổng cộng là ba chương xoay quanh những vấn đề về lịch sử hình thành, phát triển; kinh tế - xã hội và văn hóa ở Phú Quốc; các loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung, vai trò của tín ngưỡng dân gian và đặc điểm, vai trò tín ngưỡng dân gian Phú Quốc

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác liên quan đến văn hóa

ở tỉnh Kiên Giang như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tỉnh Kiên Giang

Trang 19

(1930 – 1945) của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Kiên Giang, 1985; Nguyễn Trung Trực của Sơn Nam và Lê Đình Kỵ, Nxb Tổng hợp Kiên

Giang, 1987; Kiên Giang 30 năm chiến tranh giải phóng của Trịnh Hoàng Cầu (Chủ biên), Nhà máy in Chiến Thắng – Kiên Giang, 1987; Nghiên cứu

địa bạ Triều Nguyễn Hà Tiên (Kiên Giang, Minh Hải) của Nguyễn Đình

Đầu, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1994; Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung

Trực của Nguyễn Văn Khoa, Nxb Trẻ, 2001; Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các của Hà Văn Thùy, Nxb Văn học, 2002; Truyền thống đấu tranh cách mạng của nông dân Kiên Giang (1930 – 1975) của Ban chấp

hành Hội nông dân tỉnh Kiên Giang, Xí nghiệp in Hồ Văn Tẩu – Kiên

Giang, 2004; Kiên Giang, mùa xuân 1975 của Diệp Hoàng Du, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005; Kiên Giang kháng chiến chống Mỹ (1954 –

1975), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008; Di tích lịch sử văn hóa Nguyễn Trung Trực của Ban bảo vệ Di tích Đình Nguyễn Trung Trực, Xí nghiệp in Hồ

Văn Tẩu, 2010; Trại giam tù binh Phú Quốc - Những trang sử đẫm máu

1967 - 1973 của Trần Văn Kiêm, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2011; Phương ngữ Khmer Rạch Giá nhìn từ góc độ văn hóa của Danh Sol, Luận

văn Thạc sĩ Văn hóa học, 2014; Kiêng kị trong đời sống văn hóa của người

Khmer ở Kiên Giang của Danh Pho, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, 2014; Kiên Giang kháng chiến chống Pháp (1930 – 1945) của Ban Tuyên giáo

Tỉnh ủy Kiên Giang, Nxb Hồng Đức, 2015; Văn hóa, Ẩm thực và Sản vật

Kiên Giang của Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang, Nxb Thông Tấn, 2017; Ký sự Xẻo Rô dậy sóng của Ban Tuyên giáo tỉnh Kiên Giang, Xí nghiệp in Hồ

Văn Tẩu, xuất bản năm 2019.v.v

Như vậy, các công trình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh Kiên Giang đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó đề cập về lịch sử quá trình hình thành, phát triển của tỉnh từ thời Mạc Cửu khai mở đất cho đến ngày nay Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu khái quát toàn bộ các tiến trình lịch

sử văn hóa mà chỉ đề cập đến một hoặc một số giai đoạn, hay một hoặc hai

Trang 20

sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Kiên Giang mà thôi Bên cạnh đó còn có những tác phẩm đề cập đến một số danh lam thắng cảnh đẹp; di tích lịch sử

- văn hóa; lễ hội; ẩm thực, một số làng nghề và ngành nghề truyền thống, một số hoạt động văn hóa, nghệ thuật phổ biến ở tỉnh Kiên Giang Mặc dù các công trình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh đề cập rất nhiều vấn đề nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, khái quát và làm rõ thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa của tỉnh trong giai đoạn hiện nay và cũng chưa có công trình khoa học nào đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng, phát triển văn hóa của tỉnh trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tiếp cận và tham khảo các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng và phát triển văn hóa; các chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình hành động; các Báo cáo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa và Thể thao về xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang; một số chính sách, kế hoạch, chiến lược, dự án, đề án về phát triển kinh tế và phát triển du lịch; về xây dựng môi trường xã hội; phát triển khoa học - công nghệ; phát triển giáo dục – đào tạo; chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ trí thức, thu hút nhân tài; chính sách dân tộc, tôn giáo của các sở, ban, ngành trong toàn tỉnh Đây là cơ sở quan trọng, góp phần bổ sung cho luận án và trong quá trình nghiên cứu, phân tích đề tài của luận án

Tóm lại, trên đây là các công trình khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nói chung và việc vận dụng tư tưởng này của Người vào thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa ở Việt Nam; các công trình về văn hóa của tỉnh Kiên Giang Đây là những tài liệu có giá trị, đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, song chưa có công trình khoa học nào

nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên biệt “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện

Trang 21

nay” Tuy nhiên, những công trình khoa học trên là nguồn tư liệu có giá trị

để tác giả tham khảo, tiếp tục nghiên cứu và luận giải để làm rõ hơn nữa những vấn đề lý luận và thực tiễn trong đề tài của luận án

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Về mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

- Về nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những

nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, trình bày và phân tích điều kiện, tiền đề hình thành, nội

dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Thứ hai, trình bày và làm rõ những đặc điểm chủ yếu về điều kiện tự

nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và tính chất cơ bản của văn hóa ở tỉnh Kiên Giang; phân tích thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

Thứ ba, đề xuất, phân tích những phương hướng cơ bản và một số giải

pháp chủ yếu, nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang

- Về phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa từ năm 1998 (khi Ban

Trang 22

Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết Số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc) đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Về cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng và phát triển văn hóa

- Về phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp tổng hợp và phân tích, diễn dịch và quy nạp, lịch sử và lôgíc, phân tích tư liệu, trừu tượng hóa và khái quát hóa để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong luận án

6 Cái mới của luận án

Luận án thể hiện được những điểm mới so với những công trình nghiên cứu trước đó như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, luận án đã phân

tích, đánh giá, chỉ ra thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang

Thứ hai, luận án đề xuất những phương hướng cơ bản và một số giải

pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Về ý nghĩa khoa học

Luận án “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc xây dựng và phát

triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” góp phần làm rõ và sâu sắc thêm

Trang 23

quan điểm của Hồ Chí Minh về khái niệm, vị trí, vai trò, tính chất, chức năng và xây dựng, phát triển văn hóa; quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Về ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần cho Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang tham khảo trong việc định hướng, hoạch định chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa trong thời gian tới

Bên cạnh đó, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy đối với sinh viên, học viên, giảng viên các trường Đại học Cao đẳng và Chính trị trong cả nước ở các lĩnh vực như Chính trị học, Triết học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Văn hóa học.v.v

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận án gồm có 3 chương được chia thành 6 tiết và 17 tiểu tiết

Trang 24

Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG

CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA

- Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với

sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử - xã hội trên thế giới có những chuyển biến to lớn và phức tạp ở hầu hết các nước trên thế giới lúc bấy giờ, thể hiện ở những điểm chính như sau:

Ở phương Tây, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, kỹ thuật trong các lĩnh vực Vật lý, Y học, Hóa học, đã nâng cao trình độ nhận thức của con người lên một tầm cao mới Cùng với sự phát minh và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào thực tiễn cuộc sống là sự tác động mạnh

mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp làm cho các nước trên thế giới đi đầu trong phát triển sản xuất như Anh, Pháp, Mỹ, Đức Đây là thời kỳ mà “giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của các thế

hệ trước kia gộp lại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr 603) Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của công nghiệp cho nên dẫn đến sự phát triển không đều giữa các nước tư bản chủ nghĩa dẫn đến sự tranh chấp về thị trường và thuộc địa, đồng thời cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước

Trang 25

tư bản chủ nghĩa trở nên gay gắt Thêm vào đó, tình trạng mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, hiện tượng sản xuất vô chính phủ đã đẩy mâu thuẫn

đi đến đỉnh điểm dẫn tới các cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế: 1873 –

1879, 1882 – 1886, 1890 và 1900 – 1903 Trong đó, đặc biệt là cuộc khủng hoảng năm 1900 – 1903 có ảnh hưởng lớn đến việc xác lập quyền thống trị của các tổ chức lũng đoạn ở các nước tư bản chủ nghĩa và đồng thời dẫn đến có nhiều mâu thuẫn trong kinh tế giữa các nước, cho nên một số nước muốn chia lại thuộc địa để có thị trường riêng Những cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước tư bản để giành giật thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới lúc này là Mỹ – Tây Ban Nha (1898), Anh – Bôơ (1899 – 1902), Nga – Nhật (1904 – 1905) (Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng, 2006, tr 286) Đây cũng chính là một trong những nguyên do gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918) Như vậy, những năm 60 - 70, tự do cạnh tranh phát triển đến cao độ, tuy nhiên sản xuất công nghiệp tăng nhanh dẫn đến tập trung sản xuất và tích

tụ tư bản và dần dần tự do cạnh tranh được thay thế bằng những hình thức lũng đoạn dưới nhiều hình thức như Cácten, Xanhđica, Tơrớt Phải nói rằng,

sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho kinh tế phát triển và cuộc khủng hoảng kinh tế từ năm 1900 – 1903 được coi là cái mốc chung của bước chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở hầu hết các nước tư bản (Anh, Pháp, Đức) và ảnh hưởng đến các nước khác ở châu Âu như Ý, Áo – Hung và Mỹ

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội lúc này

là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Khi chủ nghĩa tư bản phát triển thì cùng với đó giai cấp công nhân cũng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng ở các nước Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Nga Ngoài ra, chủ nghĩa tư bản phát triển lên một giai đoạn mới đã thể hiện sự bành trướng của mình bằng cách xâm lược thuộc địa Do đó, đã hình thành mâu thuẫn mới giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với đế quốc, thực dân và làm thay đổi tình hình

Trang 26

kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của các nước này; các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp diễn ra, tuy nhiên chưa có phong trào nào thành công Vấn đề mở rộng thị trường bằng cách đi xâm chiếm nước khác không ngừng diễn ra như V.I.Lênin đã nhận định:

Chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên liệu càng thiếu thốn, sự cạnh tranh càng gay gắt và việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu trên thế giới càng ráo riết thì cuộc đấu tranh để chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn (V.I.Lênin, 2005, tr 481)

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin – Người kế tục sự nghiệp

vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới và “đấu tranh một cách không điều hòa chống bọn cải lương và bọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác đủ các loại, nâng chủ nghĩa xã hội khoa học lên một giai đoạn mới” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr 408), đã thành lập Quốc tế III (tháng 3 năm 1919) với nhiệm vụ lịch sử là mở ra một giai đoạn thắng lợi mới cho phong trào công

nhân quốc tế Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ

nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin

được công bố Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh

giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới Phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Cũng chính

từ bản Luận cương của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải

phóng cho dân tộc Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản

Khi các nước phương Tây phát triển thành chủ nghĩa đế quốc thì hầu hết các nước phương Đông chưa thoát khỏi chế độ phong kiến và phần lớn các nước ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh dần dần trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa đế quốc Do đó, các nước này cũng ở trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển bởi vì chủ nghĩa đế quốc tước đoạt tự do,

ra sức chiếm đoạt của cải đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những giá trị

Trang 27

văn hóa truyền thống, kinh tế và chính trị điển hình như ở Nhật Bản và Trung Quốc

Ở Nhật Bản, với chế độ phong kiến dưới thời Tokugawa thống trị đã rơi vào tình trạng bế tắc, không đáp ứng được tình hình của Nhật Bản lúc bấy giờ Vào năm 1967, khi Thiên hoàng Minh trị lên ngôi đã tiến hành canh tân đất nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó đã đẩy mạnh cải cách giáo dục Do đó, sau cải cách Minh trị Thiên hoàng với những chính sách hợp lý, mang tính đột phá là “là học tập phương Tây về mọi mặt, về kinh tế kĩ thuật và tư tưởng văn hóa” (Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng, 2006, tr 316) và sau cuộc Duy tân vào năm 1868, Nhật Bản đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Vì thế, đã làm thay đổi diện mạo đất nước là từ một nước nông nghiệp lạc hậu

đã trở thành một nước tư bản chủ nghĩa với nền công nghiệp phát triển vô cùng mạnh mẽ và hiện đại, đồng thời cũng nhanh chóng gia nhập vào các nước đế quốc, thể hiện sự bành trướng bằng việc đi xâm chiếm các nước khác Chính vì lẽ đó, ở các nước thuộc địa ở châu Á, xu hướng thân Nhật bắt đầu nổi lên ở các nước Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ… trong đó

có cả Việt Nam với hy vọng học hỏi Duy tân của Nhật để giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc

Còn ở Trung Quốc, từ cuối những năm 60 – 70 của thế kỷ XIX, bị nhiều đế quốc Anh, Mỹ, Nhật tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ở các vùng biên giới phía Đông và Tây Nam Trung Quốc Chiến tranh Trung – Pháp (1884 – 1885), chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895) và chính sách

“mở cửa” của Mỹ chen vào để chia cắt Trung Quốc Vì vậy, lãnh thổ bị chia

xẻ thành nhiều mảnh, triều đình Mãn Thanh “thối nát” đã làm cho đất nước rơi vào tình cảnh lộn xộn, rối reng… Trong xã hội bắt đầu xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới về cải cách, canh tân (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu), gắn liền với các phong trào Duy tân (nổi bật là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đã xóa bỏ triều đại phong kiến

Trang 28

cuối cùng của Trung Quốc, lập nên Trung Hoa dân quốc – đây là nhà nước

tư sản đầu tiên ở nước này), tuy nhiên những tư tưởng canh tân này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa phát huy hết tác dụng của nó trong thực tiễn xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Ngoài ra, thì một số nước cũng trở thành thuộc địa

và phụ phuộc vào đế quốc như Triều Tiên là thuộc địa của Nhật, Inđônexia là thuộc địa của Hà Lan, Mã lai là thuộc địa của Anh, Campuchia, Lào là thuộc địa của Pháp, Ấn Độ là thuộc địa của Anh…

Từ đó cho thấy rằng, dưới sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành các phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc Các phong trào giải phóng dân tộc

ở châu Á, châu Phi theo những con đường và cách thức khác nhau đã diễn ra như: Phong trào giải phóng dân tộc mang ý thức hệ tư tưởng phong kiến (Triều Tiên, Miến Điện, Campuchia), phong trào theo khuynh hướng tư sản (Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc), phong trào giải phóng dân tộc mang ý thức hệ tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo (Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc), Gandi, Nêru ở Ấn Độ (Doãn Chính, 2018, tr 537) Tuy nhiên, những phong trào theo những khuynh hướng trên đều thất bại Thêm vào đó, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất rất “tàn khốc”, đã làm tiêu hao biết bao nhiêu tiền của, sinh mạng con người và đã làm tăng mâu thuẫn giữa các nước

tư bản chủ nghĩa, đồng thời cũng làm cho chủ nghĩa tư bản trên thế giới bị suy yếu Chính những điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lênin lãnh đạo đã giành được thắng lợi vào năm 1917, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ một số nhà nước tư sản Việc thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một trang mới cho lịch sử xã hội loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Khi nhà nước Xô Viết ra đời đã làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính chất thời đại là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Trang 29

Đánh giá về thành công của cuộc Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã nhận định rằng:

Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế (Hồ Chí Minh, 2011o, tr 387)

Như vậy, điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX có những thay đổi: Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc; Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã

cổ vũ các phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới; nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới ra đời; Quốc tế Cộng sản được thành lập Những điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử -

xã hội của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam và đã tác động đến

sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng của Người về văn hóa Hồ Chí Minh đã nghiên cứu lịch sử - xã hội các nước trên thế giới, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản và kinh nghiệm trong phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức trên thế giới

từ khi còn ở quê hương cho đến lúc đi ra nước ngoài, bôn ba gần ba mươi năm tìm đường cứu nước và khi về nước lãnh đạo các phong trào cách mạng Với trí tuệ, tài năng vượt bậc, Người đã nghiên cứu thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, tranh thủ, tận dụng thời cơ, cơ hội để tìm tòi, tiếp thu những cái hay, cái tốt đẹp để lựa chọn con đường đi cho dân tộc Việt Nam Thành tựu khoa học kỹ thuật tiến bộ, vượt bậc; văn minh, văn hóa tiên tiến, hiện đại của các nước phát triển, của các nước đế quốc trên thế giới là điều

mà Người muốn học hỏi, chắt lọc, vận dụng sáng tạo ở Việt Nam để bổ sung cho nền văn hóa dân tộc, mở rộng tầm chiến lược văn hóa trên con đường đổi mới để làm giàu thêm cho nền văn hóa Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, văn hóa tiên tiến của thế giới sẽ góp phần làm cho nền văn hóa của dân tộc thêm phong phú, đa dạng, đặc sắc

Trang 30

- Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được hình thành không chỉ chịu sự tác động bởi những điều kiện lịch sử - xã hội ở các nước trên thế giới mà còn chịu sự ảnh hưởng của điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Nửa đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Ngày 01 – 09 – 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc tấn công xâm lược Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ hèn nhát từng bước thỏa hiệp với thực dân Pháp qua các Điều ước, Hiệp ước như: Điều ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Quý Mùi (1883) và đặc biệt là ngày 6 tháng 6 năm 1884 Pháp ký với triều đình nhà Nguyễn Hiệp ước Patơnốt Với việc ký Hiệp ước này triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp và “hoàn toàn xóa những biểu hiện quyền lực còn lại của chế độ phong kiến Việt Nam độc lập” (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 224), từ đó nước Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành thuộc địa nửa phong kiến, còn việc tồn tại của các triều vua Nguyễn về sau chủ yếu là do thực dân Pháp lập nên nhằm phục vụ cho lợi ích và sự thống trị của chúng ở thuộc địa Vì thế, đất nước Việt Nam lúc này có những thay đổi rất lớn ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội:

Về kinh tế: Pháp đã thi hành một chính sách kinh tế thực dân hết sức

bảo thủ và phản động: “Duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với

việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”

(Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng Trung ương, 1981, tr 27 - 28) nhằm phục vụ

đắc lực cho chúng trong việc khai thác thuộc địa

Trong nông nghiệp, chúng tiến hành cướp ruộng đất của nông dân trên diện rộng với đủ mọi mánh khóe tàn ác; năm 1913, chúng đã cướp đoạt ruộng đất tới 470.000 ha so với năm 1890 là 10.000 ha (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 231); thực hiện chính sách thuế khóa gồm thuế trực

Trang 31

thu là thuế đinh, thuế điền và thuế gián thu là thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện… Với việc giữ “độc quyền về kinh tế” và với những chính sách

tô thuế nặng nề, chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ trở nên nghèo nàn, lạc hậu; nhân dân bị cướp đoạt ruộng đất, vơ vét tài nguyên đã trở nên cơ cực, bần cùng, đói rách và phụ thuộc vào Pháp Bên cạnh đó, trong công thương nghiệp cũng vậy, tư bản Pháp tiến hành khai thác thiếc, vàng, kẽm, đá quý… để thu lợi nhuận, điển hình như năm 1913, Công ty than Hồng Gai thu lãi 2,5 triệu phrăng Các trung tâm công nghiệp bắt đầu hình thành và lan rộng khắp cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh – Bến Thủy, Đà Nẵng, Sài Gòn… Ngoài ra, để chiếm lĩnh thị trường, thực dân Pháp đã công bố các đạo luật về thương mại năm 1887 và 1892 với mục đích coi “Đông Dương là thuộc địa đồng hóa về thương mại” (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 231)

Về văn hóa: Văn hóa Việt Nam dần dần đã có sự thay đổi từ văn hóa

phong kiến sang văn hóa tư sản Tuy nhiên, sự chuyển biến đó diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Nước bảo hộ Pháp đã thực hiện chính sách “văn hóa nô lệ, phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan… ngăn chặn mọi ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ , đem văn hóa phản động, trụy lạc nhồi sọ nhân dân ta” (Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng Trung ương, 1981, tr 34) Ngoài ra, chúng tạo điều kiện để văn minh phương Tây dần chiếm lĩnh thị trường để đi đến xóa bỏ chữ Hán và Nho học, cấm học và thi chữ Hán; đồng thời cho xuất bản báo tiếng Pháp (Ở Nam Kỳ,

tờ báo đầu tiên ra đời là tờ Gia Định báo (15/04/1865), tiếp theo là các tờ báo khác như: Nhựt trình Nam Kỳ, Thông loại khóa trình, Phan yên báo,… và nhiều tờ báo khác nữa, chúng không ngừng phát hành để tác động vào thuộc địa làm cho người dân bị “pha tạp” văn hóa dẫn đến “hỗn loạn” với âm mưu

là dùng văn hóa Pháp để tấn công và đi đến xóa bỏ nền văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam) và thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ; đào tạo trí thức Tây học để phục vụ cho việc thống trị của chúng

Trang 32

Như vậy, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thì cũng từng bước có

sự xâm nhập những yếu tố mới của văn hóa mới Trong nền văn hóa mới ấy,

hệ tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây được du nhập mạnh mẽ vào nước Việt Nam đã tạo nên sự giao thoa giữa văn hóa Phương Tây nói chung, văn hóa Pháp nói riêng và văn hóa Việt Nam đã tạo nên sự biến đổi to lớn trong truyền thống văn hóa của người dân Việt Nam:

Những tư tưởng dân chủ tư sản của Pháp thì ảnh hưởng còn hạn chế và gián tiếp Nhưng số người Việt Nam biết chữ Quốc ngữ, chữ Pháp cứ đông dần Dù sao qua văn chương, qua sách vở học thuật, giới sĩ phu tân tiến nước ta dần dần phát hiện ra một kho tàng tư tưởng mới lạ ở chính xứ sở kẻ thống trị mình (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 238) Qua đó cho thấy rằng, văn hóa Pháp đã tràn vào Việt Nam một cách xô

bồ, chủ yếu cũng là phục vụ cho sự cai trị của thực dân Pháp vì chúng thực hiện chính sách văn hóa ngu dân, nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạt tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp; chúng phục hồi những mặt lạc hậu trong văn hóa phong kiến; khuyến khích truyền bá văn hóa phương Tây, chống lại văn hóa truyền thống dân tộc, dần dần đi tới thủ tiêu Nho học… (Lương Minh Cừ và Nguyễn Tấn Hưng, 2013, tr 24)

Về chính trị - xã hội: Thực dân Pháp đã dùng chính sách chia để trị để

chia nước Việt Nam thành ba miền với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ (chế độ nhượng địa), Trung Kỳ (chế độ bảo hộ), Nam Kỳ (chế độ thuộc địa)

“để chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo” (Hồ Chí Minh, 2011l, tr 93) Ngoài ra, chúng còn đàn áp nhân dân ta, thủ tiêu mọi sự tự do, dân chủ, “thi hành luật pháp dã man… lập ra nhà tù nhiều hơn trường học… tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr 1 - 2)

Như vậy, với cuộc khai thác của thực dân Pháp, Việt Nam là một xã hội thuộc địa với những yếu tố tư bản chủ nghĩa dưới dạng thực dân đan xen với quan hệ sản xuất phong kiến mà thực dân Pháp thống trị Hơn thế nữa,

sự phân hóa các giai tầng ngày một mạnh mẽ và đã hình thành các giai cấp,

Trang 33

tầng lớp mới như: Giai cấp công nhân ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất do nhu cầu của chủ nghĩa tư bản Pháp chứ không phải do kinh

tế tư bản dân tộc, tuy nhiên, họ còn “non trẻ”; tầng lớp tiểu tư sản, giai cấp

tư sản xuất hiện do tác động của phương thức khai thác thuộc địa của đế quốc và sự phát triển của các đô thị công thương nghiệp, tuy nhiên, lực lượng này trong xã hội là rất ít cùng với tư tưởng và nguồn gốc xuất thân cũng khác nhau

Trong xã hội lúc bấy giờ tồn tại nhiều mâu thuẫn, bên cạnh mâu thuẫn trong xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược, đã làm xuất hiện những giai cấp, tầng lớp mới thì cũng làm nảy sinh thêm những mâu thuẫn mới: Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam với tư bản Pháp; mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp Trước tình hình này, nhiệm vụ đặt lên hàng đầu là chống đế quốc và tay sai phong kiến để giải phóng cho dân tộc Do đó, dưới sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, các phong trào chống giặc không ngừng diễn ra trên khắp cả nước từ miền Bắc, miền Trung cho đến miền Nam với mục đích đánh đuổi thực dân Pháp

và lật đổ chế độ phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc Tiêu biểu là phong trào Cần Vương (1885 – 1896) – là phong trào chống chủ nghĩa thực dân kết hợp với việc chống triều đình phong kiến đầu hàng Pháp diễn ra sôi nổi, điển hình là các cuộc khởi nghĩa như: Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892), khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887 - 1892), Hương Khê (1885 - 1895) Tiếp theo sau đó là phong trào đấu tranh của nông dân Yên Thế kéo dài trong 30 năm (1883 – 1913) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Mặc dù các phong trào này đều phản ánh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam nhưng các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương và phong trào nông dân đều bị thất bại Điều đó chứng tỏ phong trào theo hướng hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, không còn phù hợp trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ Việc thất bại này cũng cho thấy rằng

Trang 34

giai cấp lãnh đạo cùng với hệ tư tưởng phong kiến đã hết vai trò lịch sử, không đảm trách được nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn này là đánh đổ đế quốc, giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc

Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc theo khuynh hướng hệ tư tưởng phong kiến được thay thế bằng những phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản do tác động của những nhân tố mới –

là một số trào lưu tư tưởng mới đã tràn vào Việt Nam như Tân thư là một trong những trào lưu tư tưởng tiến bộ của Nhật Bản; Tân văn, Tân thư thể

hiện trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu;

chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc đã ảnh hưởng rất lớn

đến các nhà yêu nước Việt Nam: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh - “chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng dân chủ tư sản, coi nền dân chủ Pháp là văn minh nhân loại” (Doãn Chính, 2015, tr 1257) Các ông đã đưa một số nội dung trên vào trong quá trình lãnh đạo, thực hiện các phong trào giải phóng dân tộc lúc này, chẳng hạn như: Phong trào Đông Du, phong trào Việt Nam Quang phục Hội; phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Tuy nhiên, các phong trào này chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, “kẻ trước ngã, người sau đứng dậy… tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy bị dìm trong máu” (Hồ Chí Minh, 2011l, tr 30) vì bị thực dân Pháp đàn áp rất dã man, vì thế, “các phong trào yêu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, tr 109), là do hạn chế về đường lối chính trị và năng lực của lực lượng lãnh đạo cách mạng mà nguyên nhân chủ yếu là chưa có phương pháp luận khoa học để nhận thức đúng sự vận động, phát triển của xã hội Việt Nam và của thế giới lúc bấy giờ; chưa có đường lối cách mạng đúng đắn và chưa tập hợp được sức mạnh của đại đa số quần chúng nhân dân vào các phong trào cách mạng để giải phóng dân tộc Tuy những phong trào này thất bại nhưng đã khơi dậy tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập tự do lan rộng từ

Trang 35

miền Bắc cho đến miền Trung, miền Nam Chính vì thế, cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này đòi hỏi phải có một phương pháp cách mạng mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới lúc bấy giờ, một đường lối mới, một lý luận tiên tiến, “soi đường”, dẫn dắt toàn dân tộc và một lực lượng lãnh đạo có đủ trí – lực để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân thực hiện các phong trào cách mạng

Trước tình hình đất nước và vận mệnh của dân tộc, Hồ Chí Minh đã phần nào hiểu được tình cảnh lúc bấy giờ khi tận mắt thấy cuộc sống của những người dân lao động nghèo khổ, Người rất đau xót khi chứng kiến trực tiếp sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp đối với người dân khi còn ở quê hương Nghệ - Tĩnh, lúc đi học ở Vinh, ở Huế, ở Bình Định, chứng kiến sự bắt bớ dã man của bọn thực dân ở Phan Rang…; đồng thời Người phân tích những hạn chế trong con đường cứu nước mà các vị tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám đã đi như sau:

Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương Anh nhận đó là sai lầm, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp Nhưng theo lời người ta kể thì Cụ còn nặng cốt cách phong kiến (Trần Dân Tiên, 2015, tr 14 - 15)

Tôn trọng và khâm phục ý chí của những nhà cách mạng ấy, nhưng Người không chọn theo con đường của một vị tiền bối nào cả vì theo Người, việc nhận định trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối đi trước còn

có những hạn chế nhất định do những nguyên nhân chủ quan và khách quan

khác nhau Tình hình đất nước lúc bấy giờ đòi hỏi phải có “một trình độ tư

duy lý luận cao hơn, không thể dừng lại ở thế giới quan về cơ bản là duy tâm

và phương pháp luận cơ bản là siêu hình” (Lương Minh Cừ và Nguyễn Tấn Hưng, 2013, tr 44) và Người đã lựa chọn con đường đi cho riêng mình, đi ra

Trang 36

nước ngoài, sang phương Tây để học hỏi những cái hay của các nước và tìm một hướng đi mới cho dân tộc Việt Nam

Như vậy, điều kiện lịch sử - xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX đã tác động rất nhiều đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Người đã tự hào về những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tự hào về lòng yêu quê hương đất nước, chống giặc ngoại xâm của toàn thể dân tộc qua bao thời kỳ dựng nước và giữ nước Chính văn hóa dân tộc là cội nguồn của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh Ngoài ra, việc tiếp xúc chưa trọn vẹn văn hóa các nước trên thế giới trong thời kỳ này ở Việt Nam cũng là một trong những lý do mà Người muốn ra nước ngoài để có dịp tiếp xúc với văn hóa tiến bộ của các nước như Pháp, Mỹ và các nước phương Tây khác, tiếp thu những cái tinh túy nhất trong văn hóa các nước để hoàn thiện, bổ sung kiến thức văn hóa của mình rồi sau đó vận dụng vào trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở Việt Nam

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa không chỉ có nguồn gốc từ tồn tại xã hội, từ những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể của thế giới và trong nước, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mà còn hình thành từ những tiền đề lý luận như giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông, tinh hoa văn hóa phương Tây và quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa

Một là, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam với

sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Ở Việt Nam, văn hóa truyền thống là tiền đề quan trọng trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa; là những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác Giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thể hiện qua các giá trị cơ bản như sau:

Trang 37

Trước hết là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường để dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước là “một trong những tình cảm sâu sắc nhất, được củng cố qua hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc” (V.I.Lênin, 1977, tr 226) Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với những nội dung phong phú và sâu sắc như yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người, yêu truyền thống văn hóa quý giá Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước Đối với người dân Việt Nam, yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta, còn “chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” (Trần Văn Giàu, 2011, tr 115)

Qua đó cho thấy, truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm đơn thuần mà đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước – chủ nghĩa dân tộc chân chính, thành dòng chủ lưu tư tưởng dân tộc, xuyên suốt lịch sử của đất nước và con người Việt Nam

Kế thừa truyền thống yêu nước, tự lực tự cường để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr 38)

Trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Người thường nêu cao chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nguồn lực chủ yếu, là sức mạnh tinh thần của dân tộc, là triết lý, là đạo lý sống của mỗi người dân Việt Nam Tất cả những truyền thống tốt đẹp đó được thể hiện ở những những di sản văn hóa vật chất

và tinh thần, trở thành nét văn hóa đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam Trong sự nghiệp cách mạng, cả trong kháng chiến và trong xây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm, tư tưởng về văn hóa hết sức sâu

Trang 38

sắc đến nay vẫn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới của dân tộc Việt Nam

Ngoài ra, giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam còn thể hiện ở ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết của dân tộc Tinh thần ấy thể hiện ở tất cả mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, không phân biệt trai gái, già trẻ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay ở ngoài nước tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc Do đó, trong lao động sản xuất và chiến đấu, từ rất sớm người Việt Nam đã biết đoàn kết, giúp đỡ nhau, gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm, luôn có mối quan hệ gắn kết giữa cá nhân – gia đình – làng xã – quốc gia; tinh thần đoàn kết của dân tộc ban đầu thường được thể hiện trong gia đình, làng xã rồi được mở rộng, nâng lên thành quốc gia, dân tộc Đoàn kết để cùng nhau vượt qua những khó khăn, thử thách, khắc nghiệt của tự nhiên, đắp đê phòng lũ lụt; đoàn kết để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc Điều đó cho thấy rằng, trong quá trình hình thành và phát triển, “khối đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, mở rộng và nâng cao, đoàn kết trở thành truyền thống cực kỳ quý báu của cả dân tộc” (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2017, tr 31)

Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và cho rằng:

“Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr 164), và Người tin vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân, tin vào sự tất thắng của chính nghĩa Theo Người, muốn thực hiện đoàn kết, thống nhất toàn dân tộc phải thực hiện chữ

“đồng” - đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh Bởi vì đoàn kết chính là sức mạnh, là then chốt đi đến thắng lợi hoàn toàn, Người khẳng định: “Tinh thần đoàn kết nhất trí và tinh thần dân chủ đó đã làm cho nhân dân ta cực kỳ phấn khởi, đã làm cho kẻ địch thất vọng” (Hồ Chí Minh, 2011j, tr 484)

Thêm vào đó, giá trị văn hóa truyền thống còn được thể hiện ở một dân tộc cần cù, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu Đây cũng là một trong nhiều chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam

Trang 39

Trải qua thời gian rất dài tham gia vào hoạt động thực tiễn để sản xuất

ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, con người không ngừng cải tiến công cụ lao động từ thời kỳ công cụ còn thô sơ, lạc hậu, từ con trâu, cái cày, lưỡi liềm đến máy cày, máy cắt để sản xuất ra sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần Điều đó chứng tỏ rằng người dân Việt Nam luôn cần cù, chịu thương, chịu khó và không ngừng sáng tạo, sáng chế

ra các loại công cụ mới đáp ứng nhu cầu mới của đời sống xã hội Những khó khăn, thử thách của thiên nhiên không làm người dân nản chí mà dũng cảm vượt qua để xây dựng nên cuộc sống của chính bản thân mình Bên cạnh

đó, trong những năm tháng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người người cùng nhau ra trận giết giặc cứu nước không phân biệt già trẻ, trai gái, đàn ông, đàn bà Có rất nhiều phong trào thể hiện truyền thống này như: “ba đảm đang”, “giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh”, từ vũ khí thô sơ là cuốc, xẻng, gậy gộc người Việt Nam đã chế tạo thành công các loại vũ khí như súng, đạn, xe bọc thép.v.v

Từ đó cho thấy rằng, trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, truyền thống cần cù, thông minh sáng tạo ngày càng được thể hiện và phát huy Hồ Chí

Minh cho rằng: Có tinh thần sáng tạo, biết tìm tòi cái mới, học tập cái mới,

ủng hộ cái mới và thực hiện cái mới thì việc gì chúng ta cũng nhất định sẽ làm được Hồ Chí Minh viết trong “Xây dựng những con người của chủ

nghĩa xã hội” tháng 3 năm 1961 như sau: “Nước ta còn nghèo Muốn sung

sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động Phải cố gắng

sản xuất Lao động là “nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh

phúc của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 2011m, tr 69)

Tóm lại, từ những giá trị căn bản trong văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, chiến đấu… “Đấy chính

là sức mạnh tiềm tàng, là nguồn nội lực vô tận cho dân tộc Việt Nam” (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 405) Từ những giá trị truyền thống tốt đẹp

Trang 40

của dân tộc, Hồ Chí Minh đã nâng những giá trị đó lên một tầm cao mới thích ứng với điều kiện lịch sử trong thời đại người sống và hoạt động cách mạng Trong đó, chủ nghĩa yêu nước là cội nguồn, là giá trị văn hóa truyền

thống tốt đẹp, là điểm xuất phát, là động lực lên đường cứu nước của Hồ Chí Minh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017, tr 339)

Hai là, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Ngoài giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc thì những thành

tố góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là những giá trị trong tinh hoa văn hóa phương Đông và tinh hoa văn hóa phương Tây Điều này thể hiện rất rõ trong những bài nói, bài viết, bài diễn thuyết của Người Gạt bỏ đi những yếu tố duy tâm, lạc hậu không còn phù hợp với thực tiễn đất nước và con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã kế thừa những yếu tố hợp lý trong giá trị tinh hoa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

Về tinh hoa văn hóa phương Đông: Văn hóa phương Đông với những

tư tưởng tích cực trong triết lý của các nhà nghiên cứu đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Nho giáo do Khổng Tử (551 - 479 TCN) đề xướng vào thời Xuân thu

được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần qua nhiều thời kỳ và nhiều người như Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư, Trình Hạo, Chu Hy, Vương Dương Minh.v.v

Khổng giáo chủ trương xây dựng xã hội Trung Quốc về chính trị, xã hội, đạo đức theo Tam cương (quân thần, phu phụ, phụ tử) và Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), vua phải là “minh quân”, còn bề tôi phải phấn đấu theo đạo “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để trở

thành “quân tử” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr 551)

Tư tưởng xuyên suốt của học thuyết Nho giáo là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nho giáo du nhập vào Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc, khi vào Việt Nam đã được Việt hóa và trở thành Nho giáo Việt Nam Từ giữa

Ngày đăng: 16/06/2021, 22:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w