1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1 nội dung luận văn

134 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Quản Lý Đội Ngũ Giảng Viên Trường Đại Học Thành Đô
Tác giả Ngô Thị Hải Lý
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô Quản lý đội ngũ GV là nhiệm vụ chủ yếu của Nhà trường, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra. Trong giáo dục và đào tạo, quản lý nguồn nhân lực chủ yếu là quản lý đội ngũ GV. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu mà trọng tâm là tìm bản chất của quá trình quản lý đội ngũ GV, những yếu tố cơ bản của quá trình quản lý GV (mục tiêu, chức năng, nội dung, quy trình, phương pháp quản lý), các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến quá trình quản lý GV. Quản lý ĐNGV là tạo thế ổn định và phát triển theo hướng đảm bảo đủ số lượng cần thiết, nâng cao chất lượng và cân đối về cơ cấu. Hai là:Trường Đại học Thành Đô mới được thành lập, tuy có những thuận lợi nhất định, nhưng khó khăn không phải là ít; cơ hội và thách thức vẫn đồng thời tác động trong quá trình phát triển. Điều đó cũng thể hiện rõ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển đội ngũ GV của Nhà trường. Có thể nêu khái quát một số đánh giá sau đây: Trong quản lý đội ngũ, thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả nhất định: lãnh đạo Nhà trường đã có ý thức trong việc chuẩn bị lực lượng GV cho việc thành lập Trường; quan tâm đưa GV đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là đào tạo sau đại học; các chính sách trong tuyển dụng, đãi ngộ cũng được áp dụng khá mềm dẻo; chế độ chính sách đối với GV được quan tâm khá tốt; đội ngũ GV của Trường là lực lượng trẻ, có điều kiện phát triển. Mặc dù vậy, so với yêu cầu phát triển, so với mục tiêu đào tạo; công tác quản lý đội ngũ GV vẫn bộc lộ những hạn chế bất cập mà biểu hiện rõ nhất là mất cân đối về cơ cấu và trình độ; khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào giảng dạy còn hạn chế; công tác NCKH có thể nói là đang mò mẫm,…. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ GV còn thiếu tầm nhìn chiến lược, bao quát, toàn diện; sự tham mưu của các cấp quản lý đến lãnh đạo Trường chưa đạt hiệu quả cao, nên chưa được sự quan tâm đúng mức; chính sách thu hút, công tác tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ GV còn nhiều bất cập,… Những tồn tại, yếu kém trên nếu không khắc phục kịp thời sẽ là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển đội ngũ GV của Nhà trường trong nhiều năm tới, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo và quá trình đổi mới giáo dục. Ba là:Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đội ngũ giáo viên của trường Đại học Thành Đô phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong giao đoạn hiện nay, luận văn đã đưa ra được các giải pháp khắc phục những hạn chế, đó là: Quy hoạch đội ngũ GV là yêu cầu mang tính định hướng cho việc phát triển đội ngũ GV; Đổi mới công tác tuyển dụng GV, tạo tiền đề xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cho những năm tiếp theo; Chú trọng công tác bố trí sử dụng đội ngũ hợp lý, khai thác tiềm năng tài nguyên con người để đạt hiệu quả cao trong lao động sư phạm; Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên. Thường xuyên nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên về chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó làm cho họ hiểu rõ vai trò của Nhà trường và trách nhiệm của bản thân; Có chính sách kích thích bằng cả vật chất lẫn tinh thần, tạo động lực nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục và hoạt động sư phạm nói chung của đội ngũ GV. Những biện pháp cơ bản nêu trên luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống không thể chia cắt, tách rời. Vì vậy các biện pháp ấy phải được thực hiện đồng bộ mới mang lại kết quả mong muốn. Tuy nhiên, do những hạn chế về năng lực, kinh nghiệm và điều kiện nghiên cứu của tác giả nên kết quả nghiên cứu chắc chắn không thể tránh những khiếm khuyết nhất định. Việc điều tra nghiên cứu chỉ có trong một phạm vi hẹp, chưa có tham khảo ở những trường cao đẳng và cao đẳng cộng đồng khác để so sánh, đối chứng; việc xử lý số liệu còn đơn giản. Bên cạnh đó, những giải pháp nêu ra cho dù đã được trưng cầu ý kiến về tính cấp thiết và khả thi của nó, nhưng thực tiễn mới chính là thước đo của chân lý. Vì những lý do đó, tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo và đồng nghiệp để có thể nghiên cứu sâu hơn về đề tài này.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-*** -NGÔ THỊ HẢI LÝ

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.05

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Khắc Bình

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là hướng đầu tư chiếnlược quan trọng có tính sống còn cho thành công trong tương lai của bất kỳnền kinh tế nào Thông tin, truyền thông, cách mạng khoa học - kỹ thuật vàcông nghệ đang đẩy nhanh sự phát triển của toàn thế giới Ảnh hưởng củatoàn cầu hóa đã khiến cho các xã hội và các thể chế khác nhau phải đối mặtvới những thách thức to lớn Giáo dục có bản chất xã hội rất cao càng cầnphải có những sự thay đổi và phát triển nhanh hơn nữa để thích ứng được với

sự thay đổi nhanh chóng của xã hội

Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàngđầu Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơbản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu họctập của nhân dân Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dụcđại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộquản lý và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn xã hội”

Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung ươngĐảng đã chỉ rõ: “xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm,tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển sự nghiệp giáo dụcđúng định hướng và có hiệu quả để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhânlực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đãnêu: “Giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xãhội tôn vinh Giảng viên phải có đủ đức đủ tài” Kết luận của Hội nghị lần thứ

6 ban chấp hành trung ương khóa IX cũng đã yêu cầu: “Bố trí cán bộ quản lý

Trang 3

giáo dục các cấp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán bộ; xây dựng

kế hoạch đào tạo lại đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấpđảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu thời kì đổimới; hoàn thiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý.”

Trường Đại học Thành Đô được thành lập theo Quyết định số 679/QĐ– TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập trườngĐại học Thành Đô trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghệ Thành

Đô Với chức năng, nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệchất lượng cao ở trình độ Cao đẳng, Đại học và nghiên cứu, triển khai ứngdụng khoa học - công nghệ vào thực tiễn nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng

và phát triển đất nước Trường Đại học Thành Đô là Trường Tư thục đượcthành lập theo chủ trương xã hội hoá công tác giáo dục, có những cơ chế tàichính và quản lý theo tinh thần điều lệ của Trường Đại học Tư thục

Công tác quản lý đội ngũ giảng viên là một trong những vấn đề thenchốt của hoạt động quản lý Trường Đại học Thành Đô, quyết định trực tiếpđến việc khẳng định chất lượng đào tạo và sự tồn tại, phát triển của Trường,góp phần hoàn thiện công tác quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản vàtoàn diện giáo dục đại học ngang tầm với sự phát triển xã hội, trong sự nghiệpđổi mới đất nước và hội nhập kinh tế thế giới

Đề án thành lập Trường Đại học Thành Đô đã đánh giá một cách toàndiện về thực trạng đội ngũ giáo viên của Trường Cao đẳng Công nghệ Thành

Đô (tiền thân của Trường Đại học Thành Đô), đưa ra định hướng phát triểnđội ngũ giảng viên để dần đáp ứng theo yêu cầu quy định của các cơ quanquản lý cũng như nhu cầu thực tế tại trường Cho đến nay, trường đã thựchiện đúng và vượt các cam kết với Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo khithành lập trường đại học về việc phát triển đội ngũ giảng viên, điều này đượcthể hiện trong kết luận kiểm tra của Ủy ban thanh thiếu niên nhi đồng củaQuốc hội và của Bộ Giáo dục và đào tạo trong hai đợt kiểm tra về tình hìnhthực hiện cam kết khi thành lập trường của các trường ngoài công lập

Trang 4

Mặc dù vậy, ngoài việc phát triển về số lượng, công tác quản lý đội ngũgiảng viên của Trường Đại học Thành Đô vẫn còn tồn tại và hạn chế, chưađược quan tâm và xác định đúng hướng; công tác bố trí sắp xếp đội ngũ giảngviên đôi chỗ còn chưa phù hợp, chưa phát huy được năng lực, sở trường củamỗi cá nhân; bên cạnh đó chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng đểkhuyến khích đội ngũ giảng viên và thu hút người tài Vì vậy, việc nghiên cứu

và đề xuất “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô”

là rất cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng của Trường nhằm xây dựngTrường Đại học Thành Đô ngày càng phát triển

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đánh giá thực trạng đội ngũ giảngviên, đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại họcThành Đô trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Đây là giai đoạn Trườngđang phấn đấu trở thành Trường Đại học có uy tín trong và ngoài nước

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý đội ngũ giảng viên

- Phân tích thực trạng về quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại họcThành Đô

- Đề xuất các biện pháp nhằm quản lý đội ngũ giảng viên đáp ứng yêucầu phát triển của Nhà trường trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học ThànhĐô

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viênTrường Đại học Thành Đô

5 Vấn đề nghiên cứu

Quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Thành Đô

Trang 5

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện tốt các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên, đặc biệt làkhai thác, phát triển tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này thì sẽ giúp cho Trườngxây dựng được đội ngũ giảng viên chất lượng cao, đáp ứng được nhiệm vụđào tạo đồng thời từng bước đưa Trường Đại học Thành Đô thành trường đàotạo đa ngành, đạt trình độ tiên tiến trong nước và khu vực

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảngviên tại Trường Đại học Thành Đô hiện nay và đề xuất các biện pháp quản lýđội ngũ giảng viên trên các mặt: tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Tổng kết thực tiễn về công tác quản lý đội ngũgiảng viên của Trường Đại học Thành Đô, chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếutrong công tác quản lý, cung cấp cơ sở khoa học để đưa ra các biện pháp quản

lý có hiệu quả và đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu, các đề xuất có thể được ápdụng tại Trường Đại học Thành Đô trong giai đoạn tới Nó cũng có giá trịtham khảo cho các nhà quản lý giáo dục

9 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích - tổng hợp, so sánh, khái quát hóa lý thuyết từ các công trìnhnghiên cứu, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáodục và Đào tạo, các tài liệu, giáo trình tham khảo và thông tin trên mạngInternet có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu

Trang 6

* Đối tượng điều tra: Giảng viên, cán bộ quản lý Trường Đại họcThành Đô

* Nội dung điều tra: tìm hiểu thực trạng về đội ngũ giảng viên; thựctrạng về công tác quản lý đội ngũ giảng viên; những giải pháp mà Trường Đạihọc Thành Đô đã áp dụng để phát triển đội ngũ giảng viên; tính khả thi củacác giải pháp và những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý đội ngũgiảng viên Trường Đại học Thành Đô

- Các phương pháp bổ trợ

* Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ quản lý, cán bộ, giảngviên nhằm thu thập thông tin và làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra

* Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động quản lý của cán bộ quản lý

để có thông tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên

* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: xin ý kiến các nhà lãnh đạo địaphương, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo có học vị cao, có nhiều kinhnghiệm nghiên cứu về khoa học quản lý và giảng dạy, nhằm bổ sung cơ sở lýluận và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho việc thực hiện đề tài

- Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phương pháp toán thống kê để phân tích và xử lý số liệu nhằmđịnh lượng kết quả nghiên cứu

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đạihọc

Chương 2: Thực trạng Quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại họcThành Đô

Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đạihọc Thành Đô

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Sự ra đời của khoa học quản lý – xu hướng tất yếu của xã hội

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét

từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn, đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia Đâycũng là một hoạt động có ý nghĩa quyết định, mang tính sống còn của các chủthể tham dự vào hoạt động xã hội và nhân loại Quản lý đúng, dẫn đến thànhcông, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững; còn quản lý sai sẽ dẫn đến thấtbại, suy thoái, lệ thuộc và đổ vỡ

Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert OWen (1771 – 1858 ), làmột trong những người tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng củanguồn nhân lực Quan điểm quản lý của ông mặc dù còn đơn giản nhưng đãbước đầu chuẩn bị cho sự ra đời một bộ môn khoa học quản lý độc lập

Andrew Ure (1778-1857) là người đã sớm nhìn thấy vai trò của quản lý

và việc đào tạo kiến thức cho nhà quản lý Ông cho rằng quản lý là một nghề

Charler Babbage (1792-1871) là người đầu tiên đề xuất phương pháptiếp cận có khoa học trong quản lý và ông cũng là người có đóng góp tích cựctrong việc đưa quản lý thành một bộ môn khoa học độc lập

Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trongcuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of ScientificManagement) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm

1911 F.W Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học với cácnguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học

Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc vềkinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm

về hành vi (quan điểm hệ con người) Học thuyết này giúp người quản lý ứng

xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người và khía cạnh nhân bảntrong một tổ chức Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý,

Trang 8

thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức

là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếptốt với những người dưới quyền

Trong các giai đoạn từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, các nhàquản lý phương Tây, tiêu biểu là P.Drucker đại diện khởi đầu cho trường phái

hệ thống, xây dựng nhiều lý thuyết quản lý hiện đại và để tiếp tục sau đó,người ta đưa vào sử dụng các thành quả của toán kinh tế (quy hoạch toán, xácxuất thống kê, điều tra xã hội học…) và tin học trong quản lý, đưa ra cácthành quả vượt bậc trong quản lý; đưa ra các dự báo chính xác hơn, cácphương án tối ưu hơn và được tính toán chặt chẽ và nhanh chóng hơn

1.2 Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục

Cho đến những năm cuối của thập kỷ 80, trong các sách báo khoa học

về tâm lý học sư phạm, về giáo dục học, "quản lý giáo dục" vẫn còn đượcxem như một bộ phận của "giáo dục học" Khi Viện sĩ Kôn- đa- cốp hoànthành công trình nghiên cứu đồ sộ của mình về quản lý giáo dục ở Liên xô(cũ) vào năm 1982, ông cũng rất khiêm tốn đặt cho nó cái tên "Những cơ sở

lý luận của quản lý nhà trường" Các giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạtkhi biên soạn sách giáo khoa "Giáo dục học" năm 1987, cũng có cách tiếp cậntương tự đối với quản lý giáo dục Trong chuyên luận "Sáng tạo một nhàtrường xuất sắc" xuất bản năm 1989, các học giả H Bear, B Caldwell và R.Millikan vẫn khẳng định rằng quản lý giáo dục như là một sự "ánh xạ" các ýtưởng quản lý kinh tế, quản lý xã hội vào hoạt động giáo dục với sự hoà trộncác tri thức tâm lý học, xã hội học và giáo dục học

Kể từ cuối thế kỷ XIX, thực tiễn quản lý giáo dục đã được "pháp điển"hoá đến mức độ cao bằng sự ra đời của các bộ luật giáo dục từ Tây sangĐông, với Pháp và Nhật bản là những điển hình Trong hơn một thế kỷ qua,giáo dục trên toàn cầu đã tiến dài gấp nhiều lần toàn bộ lịch sử loài ngườicộng lại Giáo dục cơ bản đã phổ cập ở khắp nơi trên địa cầu, từ những quốcgia giầu có nhất cho đến những nơi còn phải sống dưới ngưỡng nghèo khó

Trang 9

Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa họcquản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều côngtrình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục,trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (OrgannizationBehavior in Education) của Robert J Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lýthuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory,Resarch and Practice) của Wayne.K Hoy, Cecil G Míkel (1996)

Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem Thái Lan (tháng 3/1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “chươngtrình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi người Nhưvậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã song hành thúc đẩy để “Quản lý giáodục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầucủa “Thực tiễn quản lý giáo dục”

-1.3 Khái quát những nghiên cứu quản lý giáo dục ở Việt Nam

1.3.1 Quản lý giáo dục ở Việt Nam

Từ ngày đầu lập quốc đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừngquan tâm đến thực tiễn quản lý giáo dục với mức độ cao, và ngày càng sâusắc, toàn diện hơn Từ "Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường" vàotháng 9 năm 1945 của Bác Hồ - như một "chỉ thị nhiệm vụ năm học mới" ởcấp lãnh đạo cao nhất của đất nước, đến nghị quyết Hội nghị Trung ươngĐảng Cộng sản Việt nam lần thứ 2 (khoá VIII), tháng 12 năm 1996, về giáodục và đào tạo; Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành trên thực tiễn hoạt động

"quản lý giáo dục" liên tục trong hơn nửa thế kỷ

Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta coi “giáo dục thực sự là quốc sách hàngđầu”, Có nhiều văn bản chỉ đạo quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo như:

- Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Chính phủ vềviệc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010;

Trang 10

- Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xâydựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vàđào tạo;

- Quyết định số 09/2005/QĐ – TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt

Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáodục giai đoạn 2005 – 2010;

1.3.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục

Vào những năm 70 - 80 thế kỉ XX, ở nước ta đã có một số nhà giáo dụcnhư Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, PhạmMinh Hạc có những bài viết và những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này.Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu đã có các nhà khoa học như: PGS.TS ĐặngQuốc Bảo, PGS.TS Nguyễn Quốc Chí, GS.TS Nguyễn Đức Chính, PGS.TS.Trần Khánh Đức, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS.TS Đặng Bá Lãm…Trong những năm gần đây ở nước ta, việc nghiên cứu về phát triển và quản lýnguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã được quan tâm đặc biệt; trong đó

có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về “Công tác quản lý chất lượnggiáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về “Vấn đề đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt Nam” (2005)

Khái quát trên về những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nướcliên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu

đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục,quản lý nguồn nhân lực Bên cạnh đó, với chủ trương xã hội hóa giáo dục,hình thức trường đại học tư thục được ra đời, nhưng những nghiên cứu vềbiện pháp quản lý và phát triển cũng như các vấn đề liên quan đến ĐNGV của

hệ thống giáo dục ngoài công lập vẫn còn rất ít và chưa hệ thống Việc nghiên

cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường đại học Thành Đô” mong muốn có những đóng góp nhất định trong công tác quản lý giáo

dục ngoài công lập và là sự tổng kết thực tiễn giúp Nhà trường nâng cao hơnnữa hiệu quả quản lý ĐNGV

Trang 11

1.4 Một số khái niệm cơ bản

1.4.1 Quản lý

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nàotiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo đểtiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quanđộc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhưngmột dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”[26]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt độngquản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngườiquản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằmlàm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[5]

Để hoạt động quản lý đạt được hiệu quả cao thì quá trình quản lý khôngthể thiếu các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý Mỗi phương pháp

có sự tác động riêng tới từng mặt của người lao động Do đó, không có biệnpháp nào là chìa khoá vàng để quản lý tốt tất cả các hoạt động của tổ chức.Chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hóa một phương pháp, mà phải biết kếthợp để phát huy hết những ưu điểm của từng phương pháp và khắc phụcnhững mặt hạn chế

Các khái niệm quản lý trên có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh, giốngnhư một cơ thể sống Nó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theomột quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan

- Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ Đó là sự liên kết hữu cơ giữa chủthể quản lý và khách thể quản lý

- Tác động quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác độngquản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau, thường được thể hiện dưới dạng tổnghợp của một cơ chế quản lý

Trang 12

- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễncủa môi trường Quản lý phải gắn liền và phải phù hợp với quy luật

Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý

1.4.2 Quản lý giáo dục

Cũng như quản lý xã hội, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức củacon người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Nói đến quản lý giáodục là nói đến quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội:

“Quản lý giáo dục là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điềukiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệthống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.” [5]

“Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý giáo dụcnhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệuquả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.” [16]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lý giáo dục làhoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấpquản lý giáo dục tác động tới toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệthống đạt được mục tiêu của nó.”[5]

Khái niệm về quản lý giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng

cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất, dù ở cấp vĩ mô hay vi

mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của quản lý giáo dục, đó là: chủ thểquản lý tác động đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý (thông qua việc

Trang 13

thực hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp) nhằmđạt được mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục

- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục;

- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học;

- Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và ngườidạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ giữa báogiới - cộng đồng… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo,chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng vàchỉ đạo thực hiện chiến lược: Quy hoạch; kế hoạch; chính sách phát triển giáodục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục,tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộmáy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý,giáo viên; huy động quản lý sử dụng các nguồn lực…

Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục cóhai chức năng tổng quát sau:

- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiệnhành của nền kinh tế - xã hội

Trang 14

- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh

tế - xã hội

* Quản lý nhà nước về giáo dục

Nhà nước quản lý mọi hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Quản

lý về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằngpháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý từ trungương đến tỉnh – thành và quận - huyện để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kếtquả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả đào tạo Bộ máy quản lý giáo dục ởcác cấp từ Trung ương đến cơ sở đảm bảo thống nhất quản lý theo ngành vàtheo lãnh thổ;

Quản lý nhà nước về giáo dục là một loại hình hoạt động Tuy chuyênbiệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội Mọi quyết định, thay đổi của giáo dụcđều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội

1.4.3 Quản lý Nhà trường

Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệthống Giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm củanhà trường Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt độngtrung tâm này

Tác giả Phạm Minh Hạc đã quan niệm như sau: “Quản lý nhà trường làthực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêugiáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từnghọc sinh” [ 12 ]

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hộitrong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hainhân tố Thầy – trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồngmáy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”: [ 1 ]

Quản lý nhà trường là những công việc của nhà trường mà người cán

bộ quản lý nhà trường thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện nhiệm

Trang 15

vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch vàhướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trườngnhư: Quản lý giảng viên, quản lý sinh viên, quản lý quá trình dạy và học,quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trường học nhằm thực hiện các chức năng,nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học.

Quản lý nhà trường còn là những tác động quản lý của các cơ quanquản lý giáo dục cấp trên, đồng thời quản lý nhà trường cũng gồm nhữnghướng dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường có liên quantrực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hộiđồng giáo dục, nhằm định hướng, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhà trường pháttriển Như vậy ta có thể hiểu công tác quản lý nhà trường bao gồm sự quản lýcác quan hệ nội bộ của nhà trường và quan hệ giữa nhà trường với xã hội

Chất lượng của giáo dục nói chung là do chất lượng của các nhà trườngtạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục thì cũng là nói tới quản lý nhàtrường cùng với hệ thống giáo dục

1.4.4 Giảng viên – Đội ngũ giảng viên

Khái niệm “Giảng viên” được khẳng định trong Điều 70 Luật Giáo dục

2005 “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường đại học vàsau đại học gọi là giảng viên”

Nền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin ngày nay đặt ra cho giáo dụcđại học những yêu cầu cao về năng lực, phẩm chất đạo đức đối với ngườigiảng viên đại học Giảng viên là nhà giáo nghĩa là phải có trình độ chuyênmôn cao về lĩnh vực mình giảng dạy, có trình độ sư phạm nhất định, nắmđược nguyên tắc cơ bản của giáo dục học, tâm lý học, đặc điểm của đối tượnggiáo dục, vận dụng một cách mềm dẻo và khoa học các phương thức, phươngpháp trong quá trình tiến hành giáo dục…Bên cạnh đó người giảng viên cũngphải luôn luôn có ý thức trau dồi, rèn luyện không những về kiến thức chuyênmôn mà còn phải rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong… để mình thực sự

là một người thầy, đúng nghĩa cho người học noi theo

Trang 16

Giảng viên là nhà khoa học nghĩa là họ phải là người có trình độchuyên môn cao, có khả năng tư duy khoa học của nhà nghiên cứu và thườngxuyên tham gia nghiên cứu khoa học, kịp thời nắm bắt các thông tin khoa họcmới để truyền thụ cho sinh viên Yêu cầu đối với người giảng viên hiện nay làvừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học, đây là nhiệm vụ chính yếu của họ.

Giảng viên phải là người tâm huyết với nghề: đối với nghề “thầy giáo”thì yêu cầu “tâm huyết” phải đặt lên hàng đầu vì sản phẩm của giáo dục làhàm lượng trí thức, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống….của con người.Nếu người thầy không có tâm huyết với nghề thì hậu quả thật khó lường, bởi

vì sự tâm huyết này thể hiện ở lòng say mê nghề nghiệp và là động lực rất lớncho hoạt động sáng tạo và phấn đấu vươn lên trong mỗi người thầy, cũng nhưtruyền lại sự tâm huyết ấy cho các thể hệ học trò

Giảng viên được phân chia thành 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính

và giảng viên cao cấp

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là khối đông người được tập hợp cócùng chức năng, nghề nghiệp, cùng một nhiệm vụ, tập hợp thành một lựclượng” [ 36 ]

Đội ngũ được tạo thành bởi các yếu tố cơ bản sau:

- Là một tập hợp người

- Hoạt động theo một nguyên tắc

- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần

ĐNGV là một tập thể người có cùng chung một mục đích, đó là thựchiện giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả cao trên những cơ sở vật chất, trangthiết bị được giao để, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của ĐNGV đó

Có thể định nghĩa: ĐNGV là tập thể những nhà giáo được tổ chứcthành một lực lượng cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục

đã đặt ra cho tập thể người đó Được tổ chức thành một lực lượng tập hợp các

GV của một trường đại học, cao đẳng và được gọi là ĐNGV của trường đó

Trang 17

ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo: Họ là người trực tiếpthực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo và nghiêncứu trong các trường đại học ĐNGV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũngnhư vốn quý nhất của trường đại học, cao đẳng Với tri thức, tài nghệ và kinhnghiệm, sự hiểu biết sâu sắc, ĐNGV là nhân vật trung tâm trong nhà trường,quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường.

Vì GV có vai trò quan trọng như vậy trong nhà trường, nên cần thiếtphải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cũng như quản lý ĐNGV đểđảm bảo người giảng viên giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp, cóđạo đức lối sống trong sáng và xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội

1.4.5 Quản lý đội ngũ giảng viên

Quản lý đội ngũ giảng viên là tác động có định hướng, có chủ đích củanhà quản lý đến đội ngũ giảng viên nhằm đạt được mục tiêu phát triển đội ngũgiảng viên đạt 3 tiêu chí :

- Đảm bảo về số lượng ;

- Đảm bảo về chất lượng ;

- Có cơ cấu phù hợp

1.5 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của giảng viên trong trường đại học

1.5.1 Chức năng của giảng viên trong trường đại học

Chức năng cơ bản của giảng viên là dạy học và giáo dục sinh viên.Trong giảng dạy, GV không những truyền đạt thông tin, kiến thức cho sinhviên, mà còn hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của sinh viên, tạođiều kiện để họ có thể hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cầnthiết cho việc lao động và sinh hoạt trong một xã hội không ngừng phát triển.Ngoài ra, giảng viên còn NCKH và tham gia nhiều hoạt động xã hội khác

1.5.2 Nhiệm vụ của giảng viên trong trường đại học

Nhiệm vụ của GV quy định tại điều 72, Luật Giáo dục – 2005:

Trang 18

1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiệnđầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;

2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật

và điều lệ nhà trường;

3 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cáchcủa người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi íchchính đáng của người học;

4 Không ngừng học tập và nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chínhtrị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy

5 Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

1.5.3 Vai trò của giảng viên trong trường đại học

1.5.3.1 Giảng viên trong vai trò là người thiết kế

Giảng viên giảng dạy trong các trường cao đẳng – đại học trước hết họ

là người thiết kế mà thể hiện rõ nhất trong việc soạn thảo nội dung giảng dạy,tạo tình huống để người học tự giác trong học tập Trong quá trình soạn thảonội dung giảng dạy, GV phải gắn bài giảng phù hợp với mục tiêu của trường

và đối tượng của người học, khiến người học say mê học tập và do vậy làmtăng hiệu quả, chất lượng học tập của sinh viên

1.5.3.2 Giảng viên trong vai trò là người tổ chức

Giảng viên đồng thời là người tổ chức cho sinh viên học tập, làm việc,tìm hiểu, sáng tạo Vai trò tổ chức có ý nghĩa rất lớn tới việc nâng cao chấtlượng học tập của sinh viên Để lớp học trở thành một “Cộng đồng xã hội”,giảng viên phải cải tiến phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm,tạo mọi điều kiện để phát huy năng lực và trách nhiệm học tập sáng tạo củasinh viên, kết hợp hài hòa giữa học thầy với học bạn, chủ động trong học tập

1.5.3.3 Giảng viên trong vai trò là người cổ vũ

Giảng viên là người hướng dẫn, đồng thời là người động viên cổ vũsinh viên học tập GV có thái độ cởi mở, trân trọng và đánh giá đúng mức

Trang 19

sáng tạo của sinh viên, giúp cho sinh viên nhận thức đúng dắn vai trò sáng tạocủa mình trong học tập.

1.5.3.4 Giảng viên trong vai trò là người đánh giá

Giảng viên là người đánh giá nên phải đảm bảo chính xác, công bằng

và là người trọng tài thực sự tin cậy của sinh viên Giảng viên phải có phươngpháp đánh giá hợp lý để phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập

1.5.3.5 Đội ngũ giảng viên quyết định chất lượng đào tạo

ĐNGV được coi là nguồn lực quan trọng của việc thực hiện đổi mớigiáo dục đại học, cao đẳng Bởi lẽ GV là người trực tiếp thực hiện và quyếtđịnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hộinguồn nhân lực có trình độ khoa học kĩ thuật, tay nghề cao Vì vậy, chỉ khinào chú trọng tới việc nâng cao chất lượng ĐNGV mới có thể nâng cao chấtlượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “Nếu không có thầy giáothì không có giáo dục” Ngành giáo dục - đào tạo cũng đã khẳng định : “Độingũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo và là lựclượng chủ động thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học côngnghệ của trường đại học, cao đẳng”

Điều 15, Luật Giáo dục năm (2005) đã chỉ rõ:

“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng.Nhàgiáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.Nhànước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ,đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiệnvai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọngnhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”

1.5.3.6 Giảng viên đồng thời là nhà khoa học

Giảng viên đại học đồng thời vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học Họhội tụ đủ cả năng lực, phẩm chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học GV là những

Trang 20

người có kiến thức và vốn hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực chuyên môn.Ngoài nhiệm vụ lên lớp giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho người học ĐNGVcòn phải tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học của khoa, của trườnghay của ngành Mỗi một công trình nghiên cứu khoa học được hoàn thành là

GV lại tích lũy thêm được rất nhiều kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năngthực hành GV còn có trách nhiệm định hướng và hướng dẫn người học thamgia nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học phải đi kèm với công bố kết quả nghiên cứu.Điều này có hai ý nghĩa Thứ nhất, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạpchí chuyên ngành uy tín chính là thước đo chất lượng có ý nghĩa nhất đối vớimột công trình nghiên cứu Thứ hai, chỉ khi được công bố rộng rãi và đi vàoứng dụng nghiên cứu khoa học mới hoàn thành sứ mệnh xã hội của mình.Như vậy, Giảng viên đại học không chỉ phải nắm vững kiến thức chuyênmôn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa học

1.5.3.7 Định hướng nghề nghiệp, nhân cách đạo đức cho sinh viên

ĐNGV là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sư phạm GVkhông chỉ là người truyền đạt kiến thức mà nhân cách, tác phong và phẩmchất đạo đức của người GV cũng là tấm gương để người học noi theo

Công nghệ thông tin với việc toàn cầu hóa cũng kéo theo nhiều tệ nạn

xã hội và những quan niệm lệch lạc về lối sống của một bộ phận không nhỏsinh viên nên vai trò định hướng nhân cách, đạo đức cho sinh viên đúng lúc,kịp thời của người GV là vô cùng quan trọng Với kinh nghiệm thực tế củabản thân và sự tận tụy, nhiệt tình ĐNGV luôn là người có tiếng nói quan trọngđối với sinh viên vì vậy sau gia đình thì ĐNGV là người trực tiếp định hướngcho lối sống của sinh viên trong những năm theo học tại trường

1.6 Quản lý đội ngũ giảng viên trong trường đại học

1.6.1 Những vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên

Trang 21

Quản lý ĐNGV là một nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhàtrường Quản lý ĐNGV đại học không đồng nghĩa với quản lý viên chức nóichung Thành công của sự quản lý là không làm hành chính hoá ĐNGV, phải

để cho họ khoảng trời tự do trong hoạt động và sáng tạo khoa học, điều kiệnquan trọng để GV hoàn thành nhiệm vụ được giao

Đặc điểm của công tác quản lý GV là loại hình quản lý hàm chứa haikhía cạnh là quản lý hành chính và quản lý trí thức

* Về khía cạnh quản lý hành chính: là quản lý GV theo quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn, theo quy định của pháp luật, được thể hiện trong LuậtGiáo dục, Pháp lệnh cán bộ - công chức, các văn bản pháp lý của Nhà nước,của ngành, của nhà trường (như điều lệ, quy chế, ) Đây là nội dung quản lý

có tính chất bắt buộc, nhằm làm cho nhà trường, ĐNGV “sống và làm việctheo Hiến pháp và pháp luật”, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của ngành

* Về khía cạnh quản lý trí thức: Trước hết, người lãnh đạo cần phảihiểu rõ: đặc thù của đội ngũ trí thức là lao động trí óc theo thiên hướng cánhân và đặc trưng của lao động sư phạm là giảng dạy, giáo dục và nghiên cứukhoa học Sản phẩm của nhà giáo là nhân cách của người học, đó là giá trị gốc– “giá trị sinh ra mọi giá trị” Vì vậy, tác động quản lý lên ĐNGV, tức là phảikhai thác tiềm năng của chính họ, phải biết khơi dậy và làm tăng thêm tínhchủ động sáng tạo của từng người, của tập thể bằng một tổ chức và một cơchế quản lý thích hợp có hiệu quả cao

1.6.2 Các chức năng quản lý trong quản lý đội ngũ giảng viên

Bốn chức năng chủ yếu là: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

1.6.2.1 Chức năng kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổchức, xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai Kế hoạch hóa trongquản lý ĐNGV là quá trình xác định, tiên liệu, dự đoán nhu cầu về ĐNGV

Trang 22

trong tương lai đáp ứng yêu cầu đào tạo đa ngành, đa cấp và tính toán điềukiện, những giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu đó

Chức năng kế hoạch hóa bao gồm các quá trình: dự báo, xác định mụctiêu và xây dựng kế hoạch thực hiện để đạt mục tiêu đó

a Dự báo

Dự báo là công việc bắt đầu và rất quan trọng của chức năng hoạchđịnh quản lý ĐNGV Dự báo quản lý ĐNGV là một trong những cơ sở cầnthiết, quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng kế hoạch tổng thểcủa nhà trường, giúp nhà quản lý thoát khỏi tư duy kinh nghiệm, trực giác và

là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển giáodục của nhà trường

b Xác định mục tiêu

Mục tiêu quản lý ĐNGV là “xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, GV củatrường có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về sốlượng, đồng bộ về cơ cấu, tiêu chuẩn hóa về trình độ, bảo đảm sự chuyển tiếpgiữa các thế hệ GV của nhà trường.”[ 35 ] Cụ thể hóa yêu cầu về số lượng,chất lượng và cơ cấu ĐNGV như sau:

- Đủ về số lượng: Mục tiêu về số lượng GV phải đảm bảo theo yêu cầuNgoài ra, cũng phải căn cứ hướng dẫn cách xác định số sinh viên, học sinhquy đổi trên 1 GV, giáo viên quy đổi ban hành theo Công văn 1325/BGDĐT-KHTC ngày 09/02/2007 của Bộ GD&ĐT, để xây dựng biên chế ĐNGV

- Đạt chuẩn về chất lượng: Chuẩn về chất lượng ĐNGV cũng được quy

về ba khía cạnh chung, đó là: chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm; chuẩn

về nghiệp vụ sư phạm; chuẩn về đạo đức tư cách người thầy

- Đồng bộ về cơ cấu: Cơ cấu ĐNGV được xét trên khía cạnh giới tính,tuổi đời, tuổi nghề, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm

Mục tiêu có vai trò làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệthống quản lý và quyết định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý Vì vậy,khi xác định mục tiêu quản lý ĐNGV, người hiệu trưởng cần đáp ứng các yêu

Trang 23

cầu: đảm bảo tính liên tục và kế thừa; phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu địnhlượng là chủ yếu; nên có sự kỳ vọng và tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấucủa các thành viên; cần xác định mục tiêu trọng tâm để tập trung các nguồnlực; xác định rõ thời gian thực hiện và có các kết quả cụ thể.

c Xây dựng kế hoạch

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, các phương tiện quản lý, đặc biệt là cácnguồn thông tin khác từ công tác điều tra và nghiên cứu; hiệu trưởng xâydựng kế hoạch cụ thể cho công tác quản lý ĐNGV, trong đó thể hiện được cácnội dung về quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, sự quan tâm đãi ngộ, sự sànglọc, đào tạo bồi dưỡng, công tác phối hợp quản lý ĐNGV, và các điều kiện

về nguồn lực khác, để đảm bảo cho công tác quản lý ĐNGV đạt đến mục tiêu

về số lượng, chất lượng, cơ cấu Nội dung của kế hoạch quản lý ĐNGV phảixác định và đảm bảo chắc chắn về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực),lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu để thực hiện tốt kế hoạch đề ra

Kế hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh được hoạt động chung củanhà trường ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ, từng tháng, ),đồng thời cho thấy được trách nhiệm của từng thành viên trong nhà trường

1.6.2.2 Chức năng tổ chức

Tổ chức là quá trình sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc – conngười – bộ máy sao cho phù hợp, ăn khớp nhau cả trong từng yếu tố để đạtđến sự thành công Nhà quản lý phải hiểu rõ: yếu tố trung tâm của tổ chức làcon người Do đó đòi hỏi việc bố trí con người phải phù hợp với công việc(giỏi việc gì làm việc đấy theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ) Nội dung củachức năng tổ chức quản lý ĐNGV bao gồm việc xây dựng cơ cấu tổ chứcquản lý của nhà trường (đảm bảo các nguyên tắc tầm quản lý được, tính đẳngcấu, rành mạch, tiết kiệm và chuyên môn hóa); xây dựng và phát triển đội ngũnhà giáo đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu; xây dựngcác mối quan hệ trong tổ chức; phân công và tổ chức lao động cho ĐNGVmột cách khoa học

Trang 24

1.6.2.3 Chức năng chỉ đạo, lãnh đạo

Đối với quản lý con người thì chức năng lãnh đạo là vô cùng quantrọng Trong nhà trường, chức năng lãnh đạo là quá trình sử dụng quyền lựcquản lý của hiệu trưởng để tác động lên đối tượng quản lý (cán bộ, viên chức,nhân viên) một cách có chủ đích, nhằm phát huy tiềm năng của họ, biếnnhững yêu cầu chung của tổ chức, của nhà trường thành nhu cầu của mọingười, hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống

Trong quản lý đội ngũ giảng viên, chức năng lãnh đạo có thể coi là quátrình quyết định, là kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết địnhquản lý của hiệu trưởng Điều quan trọng là người hiệu trưởng phải thực hiệnquyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm thiết thực và cụthể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức, phải biết cáchtập hợp các thành viên trong nhà trường, trong đó chú trọng đến đội ngũ giảngviên, làm sao cho mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong nhà trườngliên kết chặt chẽ, thống nhất về ý chí hành động; đồng thời phải biết độngviên lực lượng này nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu chung và mục tiêu vềquản lý đội ngũ giảng viên

1.6.2.4 Chức năng kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra là một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của

cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định

Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kếtquả của công việc trên cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với nhữngmục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quan trọng của quản lý Có thểnói: không có kiểm tra là không có quản lý, kiểm tra là để quản lý và muốnquản lý tốt thì phải kiểm tra Kiểm tra nhằm thực hiện ba chức năng: pháthiện, điều chỉnh và khuyến khích Quá trình kiểm tra gồm ba bước: Xây dựngcác tiêu chuẩn; đo đạc việc thực hiện và điều chỉnh các sai lệch

Trang 25

Trong quản lý ĐNGV, để thực hiện các yêu cầu về kiểm tra, đánh giánêu trên, người hiệu trưởng cần phải chú trọng việc rà soát số lượng GV đã đủtheo yêu cầu của quy mô đào tạo chưa để có giải pháp khắc phục Phải tăngcường công tác kiểm tra nội bộ trường học để tác động vào ý thức tự bồidưỡng của GV; phát hiện những cá nhân có năng lực, phẩm chất, tạo điềukiện để họ phấn đấu và cống hiến tài năng và trí lực của mình cho sự pháttriển của nhà trường; đồng thời nhắc nhở, uốn nắn những cá nhân chưa hoànthành nhiệm vụ để họ khắc phục những hạn chế, vươn lên trong công tác Mặtkhác, cần đánh giá được sự mất cân đối trong cơ cấu GV của trường, để đềxuất các giải pháp tháo gỡ kịp thời.

1.6.3 Nội dung quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.3.1 Công tác tuyển dụng

Tuyển dụng GV là một quy trình gồm một tập hợp các hoạt động nhằmđáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu ĐNGV để thực hiện mụctiêu đào tạo của nhà trường

a Nguyên tắc tuyển chọn giảng viên

- Xuất phát từ yêu cầu thật sự của nhà trường;

- Phải căn cứ vào các tiêu chuẩn đã được cấp trên quy định, cụ thể hóacho từng chức danh công việc trong trường;

- Thu hút nhiều ứng viên tham gia tuyển chọn;

- Xây dựng và tuân thủ quy trình tuyển dụng, để chọn được người tốtnhất theo yêu cầu công việc

b Quy trình tuyển dụng giảng viên

Theo mục 2, Chương II, Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức,công tác tuyển dụng GV nói chung phải thực hiện theo quy trình sau:

- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng và quyết định hình thức tuyển dụng(thi tuyển hoặc xét tuyển), báo cáo cơ quan trực tiếp quản lý phê duyệt;

Trang 26

- Thông báo tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Thành lập Hội đồng tuyển dụng để:

+ Thực hiện nhiệm vụ tuyển dụng viên chức theo quy chế;

+ Báo cáo kết quả tuyển dụng lên cơ quan có thẩm quyền quản lý viênchức để xem xét và ra quyết định tuyển dụng ;

- Ký kết hợp đồng thử việc; làm việc và thực hiện việc bổ nhiệm ngạchviên chức

1.6.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo và bồi dưỡng là hai quá trình tác động đến con người nhằmtrang bị mới hoặc trang bị thêm kiến thức, kỹ năng cho mỗi người với mụcđích hoàn thiện, nâng cao khả năng hoạt động nghề nghiệp và các các hoạtđộng sống trong mỗi lĩnh vực nhất định

Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV không chỉ định hướng, chú trọng công việchiện tại của GV, giúp họ có tri thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt côngviệc mà còn phải trang bị cho họ có đủ năng lực để đảm bảo tốt công việctrong tương lai, phù hợp với đối tượng học tập mang tính “cộng đồng” và đảmbảo sứ mạng của nhà trường Việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV cần đáp ứng cácyêu cầu sau:

- Phải xem đây là yêu cầu có tính chiến lược; phải xây dựng đượcphong trào tự học, tự bồi dưỡng trong tập thể sư phạm;

- Cần thống nhất giữa bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng, chuyên môn,nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra trong thực tiễn;

- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng, có tính đến thành tựu mới nhất của khoahọc và kinh nghiệm thực tiễn;

- Phải có kế hoạch đảm bảo tính liên tục, có hệ thống và trách nhiệmnâng cao trình độ nghiệp vụ trong suốt thời kỳ hoạt động sư phạm;

- Chú ý đến trình độ đào tạo, nhu cầu bồi dưỡng của từng cá nhân, từ

đó xác định nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp

Có thể phối hợp bồi dưỡng với đào tạo, ngắn hạn với dài hạn, tập trung với

Trang 27

bán tập trung, cán bộ đương chức với cán bộ dự nguồn, dần tiến tới chính quy

và hiện đại; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng với sàng lọc và bổ nhiệm cán bộ

1.6.3.3 Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là 2 hoạt động cơ bản của giảngviên đại học Các hoạt động này có những đặc điểm riêng, nên quản lý độingũ giảng viên cũng có những đặc thù, đó là:

+ Vừa kiểm soát được theo kiểu hành chính, nhưng vừa không thể kiểmsoát theo kiểu quản lý hành chính được Ví dụ: phân công giảng dạy, thực địa,thực tập và thực tế,… theo ngày, giờ, số lượng có thể kiểm soát được; nhưngviệc soạn bài, chuẩn bị bài giảng, đầu tư nghiên cứu để thực hiện một đề tàikhoa học,…thì khó có thể kiểm soát được;

+ Hiệu quả của các hoạt động này được đánh giá qua chất lượng giảngdạy và nghiên cứu khoa học Đây là những nội dung khó đánh giá chính xáctheo định lượng;

- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV, có thể hiểu là quản lý về hệthống việc làm của người dạy trong quá trình dạy học, bao gồm từ xác địnhmục đích dạy học; soạn thảo chương trình dạy học vĩ mô và vi mô; xây dựngchương trình học tập cho học viên; soạn thảo tài liệu học tập; tổ chức hoạtđộng học tập và đánh giá kết quả học tập của học viên

- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của GV được xét ở năng lựcnghiên cứu khoa học, thể hiện ở số lượng các công trình khoa học và hiệu quảcủa nó Đối với nhà trường, thì hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi rất cao

ở việc có nhiều đề tài khoa học gắn với yêu cầu phát triển sản xuất kinh tế và

xã hội ở địa phương, đưa các đề tài khoa học đến với cộng đồng

Thực tế hiện nay, cách đánh giá GV thường chú trọng đến công tácgiảng dạy, chưa quan tâm nhiều đến năng lực nghiên cứu khoa học của GV.Đây là vấn đề cần được nhà quản lý quan tâm để đánh giá một cách đầy đủ vềviệc thực hiện nhiệm vụ của GV

Trang 28

1.6.3.4 Quản lý các hoạt động khác

- Ngoài quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đối vớicông tác quản lý đội ngũ giảng viên còn phải quan tâm các hoạt động kháccủa họ, đó là:

+ Việc rèn luyện tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức;

+ Việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; + Tham gia các hoạt động đoàn thể trong nhà trường, hoạt động xã hộimang tính “cộng đồng”; tham gia các công tác đột xuất khác khi được lãnhđạo, tổ chức phân công

- Về phía lãnh đạo nhà trường, đó là các vấn đề về việc tạo điều kiệncho giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ, cũng như việc hoàn thiện công tácquản lý của mình:

+ Tạo môi trường sư phạm cho hoạt động của giảng viên;

+ Xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp;

+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra trong quản lý đội ngũ giảng viên;

+ Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và trách phạt

1.6.4 Phương pháp và công cụ quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.4.1 Phương pháp quản lý đội ngũ giảng viên

Phương pháp quản lý giáo dục nói chung và quản lý đội ngũ giảng viêntrường đại học nói riêng, phải phù hợp với nguyên tắc quản lý và việc sử dụngphương pháp quản lý vừa mang tính khoa học, lại vừa đạt tính nghệ thuật.Các nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục đã quy về ba loại phương phápquản lý chung là: phương pháp hành chính – pháp luật; phương pháp giáo dục– tâm lý và phương pháp kích thích

Trang 29

Đặc trưng của phương pháp hành chính – pháp luật trong quản lý độingũ giảng viên là sự cưỡng bức đơn phương của hiệu trưởng, là quan hệ giữaquyền uy và phục tùng, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức.Phương pháp này nhằm hai mục đích tổ chức và điều chỉnh Hiệu trưởng banhành các văn bản pháp quy như quy chế tổ chức và hoạt động của trường, quyđịnh chuẩn hóa trình độ giảng viên, các quy định cụ thể về chuyên môn, vềchế độ chính sách của giảng viên, và thông qua các quyết định quản lý,mệnh lệnh hành chính bắt buộc các bộ phận và giảng viên phải thực hiệnnhiệm vụ, nhằm đảm bảo đúng hướng về phát triển đội ngũ giảng viên

Tuy nhiên, ở phương pháp này cũng cần tránh bệnh hành chính, quanliêu, nặng về giấy tờ, thiếu thông tin cần thiết, dễ xa dời quần chúng

b Phương pháp giáo dục – tâm lý

“Phương pháp giáo dục – tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ,tình cảm và tâm lý con người.” [ 16 ]

Mục đích của phương pháp này là thông qua các mối quan hệ liên nhâncách, hiệu trưởng tác động lên đội ngũ giảng viên nhằm cung cấp, trang bịthêm hiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, nâng cao khả năngcũng như trình độ thực hiện nhiệm vụ của người giảng viên (giảng dạy, giáodục, nghiên cứu khoa học, ); đồng thời chuẩn bị thêm tư tưởng, tình cảm, ýthức trách nhiệm, ý thức tự giác tự chủ, lòng kiên trì, tinh thần tự chịu tráchnhiệm, không khí đoàn kết – lành mạnh, trong đội ngũ giảng viên và tập thểnhà trường

Cơ sở khách quan của phương pháp này là các quy luật nhận thức – tưduy, các quan hệ và quy luật tâm lý – xã hội – giáo dục, rất phù hợp với đốitượng quản lý là đội ngũ giảng viên Đặc trưng của phương pháp này là tínhthuyết phục, mặt khác là do môi trường giáo dục, môi trường đụng chạm đếnnhiều học thuật, đối tượng quản lý là đội ngũ trí thức; vì vậy phương pháp nàyđược sử dụng nhiều và đem lại hiệu quả cao

c Phương pháp kích thích

Trang 30

“Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con ngườithông qua lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trítuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của

tổ chức.” [ 16 ]

Kích thích vật chất có thể là quan tâm đến chế độ lương, xây dựng quychế chi tiêu nội bộ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ để tăng thunhập ngoài lương cho đội ngũ giảng viên, chế độ thưởng khuyến khích cho

GV có thành tích xuất sắc, Kích thích về tinh thần cho GV là việc xét phongtặng các danh hiệu thi đua, các danh hiệu cao quý của nhà giáo, xét kết nạpĐảng, chọn cử GV cho đi học ở bậc cao hơn,

Trong quản lý ĐNGV, cần kết hợp cả hai loại kích thích trên Nếu quácoi trọng kích thích vật chất sẽ tầm thường hóa đội ngũ giảng viên Nếu quácoi trọng kích thích tinh thần sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí

1.6.4.2 Công cụ quản lý đội ngũ giảng viên

Công cụ quản lý được coi là những gì chủ thể quản lý sử dụng tronghoạt động quản lý để đạt mục tiêu quản lý

Công cụ quản bao gồm: chế định giáo dục và đào tạo; bộ máy tổ chức

và nhân sự; nguồn tài lực,vật lực; hệ thống thông tin và môi trường; cụ thể là:

a Chế định giáo dục và đào tạo

Chế định giáo dục và đào tạo là công cụ có tính pháp lý như: các chủtrương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địaphương; các quyết định của Bộ Giáo dục & Đào tạo Các văn bản này chỉ pháthuy hiệu lực khi nó đi vào thực tiễn, với việc áp dụng, vận dụng, cụ thể hóatrong nhà trường Nó được gắn với việc xây dựng các quy định quản lý nội

bộ Chế định giáo dục và đào tạo giúp cho công tác quản lý đội ngũ giảngviên được thông suốt, nên nó là chìa khóa, là phương tiện tiền đề cho việcthực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên

b Bộ máy tổ chức và nhân sự

Trang 31

Cơ cấu về bộ máy quản lý nhà trường bao gồm tất cả các bộ phận theophân cấp quản lý, từ lãnh đạo (ban giám hiệu), đến các phòng, khoa, các bộphận trực thuộc trường, các hội đồng tư vấn, các tổ chuyên môn, tổ bộ môn,cán bộ, GV, nhân viên và sinh viên Bộ máy tổ chức và nhân sự trong nhàtrường được xem là nhân tố quyết định để đạt được mục tiêu trong công tácquản lý phát triển ĐNGV Chính vì vậy, trong việc xây dựng, sắp xếp bộ máy

tổ chức và nhân sự phải được hiệu trưởng quan tâm hàng đầu, làm thế nào để

có bộ máy tổ chức tinh gọn, phân cấp, phân quyền rành mạch, bố trí nhân sựphù hợp (đúng người, đúng việc); thông qua đó để mọi người phát huy tốt vaitrò trách nhiệm của mình

c Nguồn tài lực, vật lực

Nguồn tài lực, vật lực để quản lý ĐNGV chính là nguồn tài chính, cơ

sở vật chất – kỹ thuật được huy động và sử dụng cho quá trình quản lý Trangthiết bị phục vụ cho hoạt động dạy – học đầy đủ và hiện đại, cùng với việcđáp ứng nguồn tài chính được huy động từ nhiều nguồn thu hợp pháp sẽ làphương tiện quan trọng, tất yếu cho công tác quản lý phát triển ĐNGV cả về

số lượng, chất lượng và cơ cấu, Trường nên chú trọng trang bị đủ cácphương tiện máy móc thiết bị (máy vi tính, projector, phòng học trực tuyếnqua mạng internet, ) phục vụ cho việc sử dụng giáo án điện tử, cho dạy họchiện đại và khai thác thông tin trên mạng Internet, cho nghiên cứu khoa học

d Hệ thống thông tin và môi trường

Thông tin quản lý được hiểu là tất cả những gì có thể cung cấp chongười quản lý những hiểu biết về đối tượng quản lý, nhằm giúp cho ngườiquản lý trên cơ sở đó có thể đưa ra được quyết định đúng đắn, kịp thời

Hệ thống thông tin và môi trường phục vụ cho công tác quản lý pháttriển ĐNGV là sự nắm bắt, hiểu biết và việc khai thác, xử lý tối ưu thông tin

về khoa học quản lý ĐNGV; về việc phát huy những tác động tích cực củamôi trường đối với công tác quản lý

Trang 32

Trong xã hội hiện đại, người nào chiếm lĩnh được nhiều thông tin sẽ cóquyền lực mạnh hơn Hệ thống thông tin và môi trường vừa là điều kiện, vừa

là phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu quản lý ĐNGV

1.6.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.5.1 Yếu tố chủ quan

Trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý

“Quản lý ngày nay là một nghề.” Cán bộ quản lý giáo dục ngày nayphải là những con người toàn năng, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa thànhthạo kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà trường, nghiệp vụ tổ chức sư phạm, vừabiết xử lý các tình huống gay cấn của cấp quản lý Trong đó, kỹ năng công tác

kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, xử lý thông tin cần theo kịp với sự phát triển củanhà trường trước bối cảnh hội nhập quốc tế

Một người hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng tìm cáchgiỏi hơn mọi GV, mà là người biết dùng GV giỏi; do đó, quản lý ĐNGV là cảmột nghệ thuật; người hiệu trưởng phải làm sao để xây dựng ĐNGV thànhmột tổ chức biết học hỏi Vậy việc đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục là một yêu cầu bắt buộc Bên cạnh đó, bản thân đội ngũcán bộ quản lý giáo dục các trường cũng phải luôn luôn “biết học hỏi”

Sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của giảng viên

Đất nước đang rất cần nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng sản phẩm của các cơ sở đào tạo Từ đó, đòi hỏi ĐNGV phải đáp ứng các yêucầu về trình độ, năng lực và phẩm chất tốt

cao-Quản lý ĐNGV là làm cho đội ngũ này luôn luôn vận động tự làm mớimình bằng con đường biết “Học - Hỏi - Hiểu - Hành” Đây là phương châmhành xử của con người hiện đại, cũng là phương châm hành xử của một tậpthể Người quản lý nhà trường phải tạo ra được phương châm hành xử nàycho từng người và cho cả tập thể - chủ yếu là ĐNGV

Trang 33

1.6.5.2 Yếu tố khách quan

Quan điểm, chủ trương về quản lý giảng viên

Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo, coiđây là “quốc sách hàng đầu”, từ đó có định hướng, có những nghị quyết, chỉthị, quyết định, về phát triển nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Đây là căn

cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bảnhướng dẫn thực hiện Đây cũng là cơ sở để hiệu trưởng các trường hoạch địnhchiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển ĐNGV cho phù hợp với yêu cầuphát triển trong thời đại mới

Các điều kiện hỗ trợ

Để công tác quản lý ĐNGV mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền vớicác điều kiện đảm bảo cho hoạt động này về nội dung chương trình vàphương pháp đào tạo; về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục

vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiệncác giải pháp quản lý ĐNGV, Trong quản lý ĐNGV có thể coi các yếu tốchủ quan như là nội lực, các yếu tố khách quan là ngoại lực Như vậy, nội lực

là nhân tố quyết định, còn ngoại lực là điều kiện hỗ trợ; song chúng không hềtách rời, mà luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau

1.7 Quản lý đội ngũ giảng viên ở trường đại học ngoài công lập

Công tác quản lý ĐNGV ở trường đại học tư thục là một nhiệm vụquan trọng vì không những nâng cao chất lượng cho ĐNGV mà nó còn khẳngđịnh vị thế của trường đại học đó trong toàn ngành giáo dục trên cả nước

Công tác quản lý ĐNGV ở trường đại học tư thục có đặc điểm sau:

Ở trường đại học tư thục các thủ tục hành chính thường nhanh, gọn vìvậy công tác quản lý thường nhanh chóng, chính xác

Trường đại học ngoài công lập khi mới thành lập đa phần là GV trẻ, họđầy hăng say nhiệt tình trong công việc nhưng lại thiếu kinh nghiệm và trình

độ học vấn chưa cao Do vậy nhà quản lý có những chế độ, chính sách thích

Trang 34

hợp để động viên khích lệ ĐNGV trẻ học tập nâng cao trình độ đồng thờihoàn thành nhiệm vụ được giao

Trường đại học ngoài công lập khi mới thành lập còn thiếu nhiều GV

do vậy phải mời GV ở các trường đến giảng dạy thỉnh giảng tại trường đâycũng là một khó khăn, thách thức trong công tác quản lý và nâng cao chấtlượng đào tạo vì họ có thể mang bài giảng, nội quy, quy chế và thói quen ởtrường họ áp đặt vào nhà trường

Một nguyên nhân khác khiến công tác quản lý GV ở các trường tư thụcgặp khó khan theo Báo cáo của Ngân hang thế giới (World bank, 2008) là tâm

lý của các giảng viên Việt Nam thích ở trường công hơn so với trường tư Họquan niệm GV trường đại học công lập mới là danh giá Chính vì vậy họthường muốn giảng dạy biên chế ở trường công và tham gia thỉnh giảng ởtrường tư để tăng thêm thu nhập ĐNGV chưa yên tâm với công việc còn

"đứng núi này trông núi khác", nhiều khi nhà trường trở thành nơi đào tạoĐNGV trẻ để có cơ hội là xin chuyển công tác

Trang 35

Tiểu kết Chương 1

Các cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực,

GV, ĐNGV, quản lý phát triển ĐNGV… mà tác giả đã tìm hiểu trong chươngnày thuộc phần lý luận chung cho việc quản lý nhằm phát triển độ ngũ GV.Dựa trên cơ sở lý luận này, trong các chương tiếp theo của luận văn tác giả sẽ

có những phân tích về thực trạng công tác quản lý, thực trạng của ĐNGVtrường đại học Thành Đô và kiến nghị các biện pháp quản lý phù hợp trongcác phần nghiên cứu tiếp theo của luận văn

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ

2.1 Giới thiệu tổng quát về trường Đại học Thành Đô

2.1.1 Sự hình thành và phát triển

Trường Đại học Thành Đô là trường đại học tư thục trong mạng lưới

giáo dục đại học quốc gia được thành lập theo quyết định số 679/QĐ-TTg

ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấptrường Cao đẳng Công nghệ Thành Đô

Trước đó, Trường Cao đẳng tư thục Công nghệ Thành Đô được thành

lập theo Quyết định số 7687/QĐ – BGDĐT – TCCB ngày 30/11/2004 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đổi tên thành Trường Cao đẳng Công

nghệ Thành Đô theo Quyết định số 3207/QĐ – BGDĐT ngày 26/6/2006 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Vào năm đầu thành lập 2004 – 2005 Trường mới có 467 sinh viên Caođẳng, 126 học sinh Trung cấp chuyên nghiệp cho 5 ngành học, với 17 phònghọc, 6 phòng thí nghiệm, thực hành, 57 máy vi tính và 30 giáo viên cơ hữu

Đến năm học 2013-2014, Trường Đại học Thành Đô đã có 12 Khoa:Khoa học cơ bản, Điện – Tự động hóa; Điện tử -Viễn thông; Công nghệ kỹthuật Ô tô; Công nghệ thông tin; Tài nguyên và Môi trường; Kế toán; Quảntrị-Thông tin Thư viện; Du lịch; Ngoại ngữ ; Y Dược; Tài chính – Ngân hàng

6 Trung tâm: Tuyển sinh và Giới thiệu việc làm; Khảo thí và Kiểm địnhchất lượng; Giáo dục Quốc phòng-An ninh; Thông tin - Thư viện; Ngoại ngữ

- Tin học và Đào tạo lái xe;

5 Phòng chức năng: Đào tạo; Tổ chức-Hành chính; Quản lý sinh viên

và Thanh tra Giáo dục; Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế; Kế toán

Trường đang đào tạo: 19 ngành trình độ Đại học, Cao đẳng: Công nghệthông tin; Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử; Công nghệ kỹ thuật điều khiển và

Trang 37

tự động hóa; Công nghệ kỹ thuật điện tử - Viễn thông; Công nghệ kỹ thuật ôtô; Công nghệ kỹ thuật môi trường; Quản lý tài nguyên và môi trường; Trắcđịa – Bản đồ; Quản lý đất đai; Kế toán; Tài chính - Ngân hàng; Quản trị kinhdoanh; Quản trị văn phòng; Việt Nam học (hướng dẫn Du lịch); Quản trịkhách sạn; Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành; Ngôn ngữ Anh; Dược học vàĐiều dưỡng.

Đội ngũ giáo viên của Trường hiện có 339 GV cơ hữu, trong đó có: 04 GS-TS, 12 PGS-TS, 25 TSKH và TS, 260 Thạc sỹ, 6 NCS ở trong nước và nước ngoài Riêng Khoa Y Dược có: 68 GV cơ hữu (Trong đó có: 03 GS-TS,

07 PGS-TS, 03 TS, 16 Thạc sỹ, 12 BS – DS CKI, 30 DSĐH và CNĐD) và

20 Kỹ thuật viên phục vụ thí nghiệm, thực hành

Hiện có gần 10.000 sinh viên đang học tập tại Trường;

Đến nay đã có trên 14.000 sinh viên - học sinh của Trường được nhậnbằng tốt nghiệp Có trên 80% sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay sau khitốt nghiệp và học liên thông lên bậc cao hơn

Trường có diện tích 103.528 m2 đất, đã xây dựng 194 phòng học vớitổng diện tích là: 16.380 m2, gồm 2 nhà 9 tầng, 1 nhà 5 tầng và 2 nhà 4 tầng.Riêng 2 tòa nhà 9 tầng đã có 144 phòng học

Đã xây dựng 42 phòng thí nghiệm, thực hành với diện tích 4.310 m2, đủtrang thiết bị, cả những thiết bị tiên tiến, hiện đại, kinh phí đầu tư lớn phục vụcho các ngành đào tạo của Trường Trong đó có 17 phòng thí nghiệm và thựchành Y Dược, 01 vườn dược liệu 1.000 m2 đã trồng 146 loại cây thuốc, 01cửa hàng thuốc thực hành và nhà nuôi súc vật

Thư viện Nhà trường đã được trang bị tương đối đầy đủ và hợp lý, gồm

6 phòng chức năng với diện tích sử dụng: 600m2 có: số lượng đầu sách là

1526 loại và tổng số tài liệu 14.782 bản Thư viện trường được tin học hóatoàn bộ bằng phần mềm tích hợp nghiệp vụ thư viện LIBOLLite 1.0 Thư việncũng đã xây dựng xong Thư viện điện tử, toàn bộ giáo trình đang được số hóa

và đưa lên trang Web của Thư viện

Trang 38

Toàn bộ hoạt động của Nhà trường được quản lý trên hệ thống phầnmềm chuyên dụng, đảm bảo chính xác, chặt chẽ, minh bạch Nhà trường thựchiện gắn kết với doanh nghiệp để sinh viên khi tốt nghiệp sớm có được việclàm và đáp ứng được các yêu cầu của cơ sở sử dụng lao động

Địa điểm của trường:

Xã Kim Chung, Huyện Hoài Đức, TP Hà Nội

2.1.2 Mục tiêu, tầm nhìn chiến lược:

Trường Đại học Thành Đô phấn đấu đến năm 2020 trở thành mộttrường đại học đạt chất lượng có đẳng cấp trong nước, tiến tới khẳng định uytín trong khu vực và quốc tế

Sứ mạng của Đại học Thành Đô là đào tạo những sinh viên có phẩmchất đạo đức chính trị, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chất lượng cao, đangành, đa lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của người học và cung cấp nguồn nhânlực cho xã hội trong thời đại phát triển kinh tế tri thức

Để hiện thực hóa sứ mạng này, Nhà trường đảm bảo một môi trườnghọc tập tiên tiến, sáng tạo, linh hoạt, phát huy năng lực của người học và sựchuyên nghiệp, tâm huyết của đội ngũ GV, cán bộ quản lý Đại học Thành Đôlấy người học làm trung tâm, chất lượng đào tạo là cốt lõi, phục vụ phát triển

kinh tế - xã hội làm mục tiêu, duy trì tiêu chí “Chất lượng – Uy tín – Hội nhập – Phát triển” là phương châm hành động.

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ

Trường Đại học Thành Đô có chức năng, nhiệm vụ sau đây:

1 Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học và sau đại học, đào tạo

đa ngành gồm các khối ngành: công nghệ kỹ thuật, môi trường, kinh tế, tàichính - ngân hàng, du lịch, ngoại ngữ, y - dược và chăm sóc sức khỏe

2 Tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh, quản lý người học, quản lýcác hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp theo quyđịnh của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học

Trang 39

3 Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đốivới các ngành được cấp phép đào tạo theo chương trình khung của Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành.

4 Xây dựng và đào tạo đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng, cânđối về cơ cấu trình độ, ngành nghề theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục

và Đào tạo

5 Tổ chức nghiên cứu khoa học, gắn Nhà trường với thực tế xã hội,góp phần phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực xã hộitrong chương trình đào tạo của Nhà trường Thực hiện tư vấn nghề nghiệp,giới thiệu việc làm cho sinh viên có nhu cầu sau khi tốt nghiệp

6 Thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiêncứu khoa học theo chức năng, nhiệm vụ của Trường phù hợp các quy địnhcủa pháp luật

2.1.4 Cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức của Trường được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến, đảmbảo các yêu cầu về cơ cấu tổ chức quy định trong Điều lệ trường đại học vàphù hợp với điều kiện, quy mô đào tạo trong từng giai đoạn phát triển Tất cảcác phòng, ban, khoa, tổ trong Trường đều có mối liên quan tương trợ nhau.Đứng đầu Trường là Hội đồng cổ đông được đại diện bởi Hội đồng Quản trị,Ban giám hiệu, hội đồng khoa học và đào tạo, các phòng chức năng, các khoa

và bộ môn trực thuộc và các tổ chức sự nghiệp khác

Hội đồng quản trị

Là tổ chức chịu trách nhiệm về phương hướng hoạt động của Trường,huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho Trường, gắn Nhàtrường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục Cóquyền quyết định những vấn đề thuộc về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản,quy hoạch và kế hoạch, phương hướng đầu tư phát triển của trường phù hợpvới quy định của pháp luật

Trang 40

Ban giám hiệu: Gồm Hiệu trưởng và ba Phó hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người đại diện cho trường triển khai thực hiện cácnhiệm vụ được giao; có trách nhiệm điều hành các hoạt động của trường vàchịu trách nhiệm về các quyết định của mình đối với các vấn đề liên quan đếntrường trước Hội đồng Quản trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo và pháp luật

Phó Hiệu trưởng là những người giúp Hiệu trưởng quản lý điều hànhcác hoạt động của trường, trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sựphân công của Hiệu trưởng và giải quyết các việc do Hiệu trưởng giao

Hội đồng Khoa học và Đào tạo

Là tổ chức tư vấn cho Hiệu trưởng về quy hoạch và chiến lược pháttriển Nhà trường, mục tiêu, chương trình đào tạo, kế hoạch dài hạn và kếhoạch hàng năm về đào tạo, khoa học và công nghệ Đào tạo, bồi dưỡng độingũ GV, cán bộ, nhân viên cơ hữu của trường

Ngày đăng: 15/06/2021, 08:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w