1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam

94 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên đánh giá hoạt động quản trị thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2014, nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém thanh khoản của các

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn

Tác giả luận văn:

Trần Nguyễn Bảo Trung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành bằng sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ quý báu của Tiến sĩ Lê Thị Anh Đào Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì sự đóng góp ý kiến và hướng dẫn tận tình của cô Trân trọng cảm ơn Thầy, Cô đã truyền cho tôi kiến thức và phương pháp học tập tốt nhất để tôi có thể thực hiện các nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn:

Trần Nguyễn Bảo Trung

Trang 3

Giai đoạn 2012 - 2014 trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng sau một thời gian khủng hoảng kinh tế kéo dài, môi trường kinh

tế vĩ mô Việt Nam được duy trì tương đối ổn định, tạo điều kiện ổn định hệ thống tài chính trong nước Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian vừa qua hệ thống ngân hàng với đặc điểm nhiều quy mô nhỏ, sở hữu chồng chéo, tín dụng tiềm ẩn rủi ro nợ xấu Dựa trên đánh giá hoạt động quản trị thanh khoản của

hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2014, nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém thanh khoản của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, như: Các biện pháp can thiệp của Ngân hàng nhà nước chưa cụ thể và phù hợp; công tác quản trị thanh khoản của các ngân hàng còn nhiều bất cập như tài sản thanh khoản trên tổng tài sản chiếm tỷ lệ thấp, tỷ lệ cho vay so với nguồn vốn huy động cao, nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn; việc thực hiện những quy định về quản trị thanh khoản mang tính chất đối phó, dựa dẫm vào nhà nước nên chưa đáp ứng được các vấn đề thanh khoản trên thực tế

Trên cơ sở phân tích thực trạng của hệ thống ngân hàng, xác định nguyên nhân ảnh hưởng tới rủi ro thanh khoản, nghiên cứu đề xuất các chính sách đối với chính phủ, ngân hàng nhà nước để tăng cường sự phối hợp nhất quán giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Cụ thể: Ngân hàng nhà nước cần giảm bớt các

Trang 4

mệnh lệnh hành chính, sử dụng công cụ thị trường, loại bỏ sở hữu chồng chéo, minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng để có các chính sách giám sát phù hợp Đồng thời là nhóm giải pháp đối với Ngân hàng thương mại như: đảm bảo tuân thủ các quy định của Ngân hàng nhà nước; đảm bảo cân đối an toàn mục tiêu lợi nhuận và tăng trưởng; tăng cường công tác xây dựng chiến lược, dự báo thanh khoản trong dài hạn; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để nâng cao hơn hiệu quả quản trị thanh khoản

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ

THANH KHOẢN 14

1.1 Thanh khoản ngân hàng 14

1.2 Rủi ro thanh khoản 14

1.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản 14

1.2.2 Hệ quả của mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng 15

1.3 Quản trị thanh khoản 16

1.3.1 Khái niệm quản trị thanh khoản 16

1.3.2 Nhận dạng rủi ro thanh khoản 18

1.3.3 Phân tích rủi ro thanh khoản 18

1.3.4 Đo lường rủi ro thanh khoản 19

1.3.5 Kiểm soát - Phòng ngừa rủi ro thanh khoản 25

1.3.6 Tài trợ rủi ro thanh khoản 27

1.3.7 Mô hình quản trị thanh khoản: 28

1.4 Một số cuộc khủng hoảng và bài học kinh nghiệm 29

1.5 Các nghiên cứu về thanh khoản hệ thống ngân hàng: 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 33

2.1 Sơ lược về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 33

2.2 Hoạt động quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại 37

2.2.1 Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng 38

2.2.2 Tỷ lệ cho vay so với nguồn vốn huy động cao 42

2.2.3 Độ an toàn vốn 45

2.2.4 Tài sản thanh khoản trên tổng tài sản chiếm tỷ lệ thấp 47

2.2.5 Mức độ phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng 49

2.2.6 Nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn 53

2.2.7 Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn 57

2.2.8 Tình hình nắm giữ tài sản tại các Ngân hàng Thương mại 59

2.3 Đánh giá chung về thanh khoản và quản trị thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 61

2.3.1 Những kết quả đạt được 61

Trang 6

2.3.2 Hạn chế còn tồn tại 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 69

3.1 Định hướng phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam 69

3.1.1 Định hướng phát triển của các Ngân hàng Thương mại đến năm 2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020: 69

3.1.2 Định hướng phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến năm 2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020 70

3.2 Giải pháp nâng cao hoạt động quản trị thanh khoản tại các NHTM 71

3.2.1 Nâng cao chất lượng tín dụng từ đó tạo nguồn ổn định cho hoạt động thanh khoản 71

3.2.2 Tăng cường dự báo các điều kiện giả định về nền kinh tế 75

3.2.3 Áp dụng chiến lược quản trị cân đối thanh khoản, tăng tỷ trọng của các khoản tài sản Có có mức độ thanh khoản cao 76

3.2.4 Nâng cao sự phối hợp, hỗ trợ giữa các Ngân hàng trong cùng một hệ thống 78

3.2.5 Vận dụng quản lý mô hình quản lý rủi ro theo thông lệ Basel III 79

3.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý rủi ro 80

3.2.7 Xây dựng chiến lược thanh khoản trong dài hạn, tăng cường công tác dự báo 84

3.2.8 Nâng cao công tác quảng bá hình ảnh, thương hiệu ngân hàng 85

3.3 Khuyến nghị chính sách 85

3.3.1 Về phía các cơ quan Nhà nước 85

3.3.2 Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ALCO Hội đồng quản lý tài sản Nợ - Có

BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam CAR Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

UBGSTCQG Ủy ban giám sát tài chính quốc gia

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.2 Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống 34

Bảng 2.3 Tín dụng nội địa được cung cấp bởi hệ thống tài chính tại

Bảng 2.4 Tỷ lệ cho vay so với huy động vốn của nhóm NHTM 43

Bảng 2.5 Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản trung bình của

Bảng 2.6 Cơ cấu huy động vốn thị trường liên ngân hàng trên tổng tài

Bảng 2.7 Lãi suất huy động áp dụng tại các NHTM tháng 04/2015 54

Bảng 2.8 Tỷ lệ tiền gửi ngắn hạn trên tổng tiền gửi khách hàng Quý 4

Bảng 2.9 Tỷ trọng tiền gửi ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài

Bảng 2.10 Tỷ trọng các khoản đầu tư trong tổng tài sản các NHTM 59

Bảng 2.11 Các phòng ban chịu trách nhiệm quản trị rủi ro thanh

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.1 Tình hình tăng trưởng tín dụng năm 2014 39

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM từ năm 2010-2014 41

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Việt Nam 46

Biểu đồ 2.4 Hệ số an toàn vốn của một số nước châu Á 46

Biểu đồ 2.5 Lãi suất bình quân liên ngân hàng từ năm 2011-2014 52

Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng tiền gửi dài hạn trên tổng số dư tiền gửi khách

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thanh khoản của Ngân hàng được hiểu là khả năng đáp ứng nguồn vốn cho việc tăng tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn, do đó thanh khoản được xem là yếu tố quan trọng đối với sự an toàn trong hoạt động của một ngân hàng cũng như sự phát triển lành mạnh của cả hệ thống Khi một ngân hàng không

có khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán tại một thời điểm nào đó hoặc phải huy động nguồn vốn với chi phí cao, rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra và khi đó việc sụt giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ có ảnh hưởng đến cả hệ thống Vì vậy quản trị rủi ro thanh khoản có vai trò vô cùng quan trọng đảm bảo cho sự ổn định của bất kỳ ngân hàng thương mại nào và cho cả hệ thống ngân hàng nói chung

Trong giai đoạn 2012 - 2014, nền kinh tế của Việt Nam đã phải trả giá cho những yếu kém nội tại của chính mình với mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, năng lực cạnh tranh thấp, năng lực điều hành của nền hành chính yếu, thể chế kinh tế không phát huy hiệu quả của các nguồn lực Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đã có sự tăng và mở rộng về số lượng, mạng lưới các ngân hàng Tuy nhiên sự phát triển chủ yếu là mở rộng về số lượng trong khi một số ngân hàng thương mại không không nâng cao về chất lượng dịch vụ cũng như chưa quan tâm tốt đến vấn đề rủi ro đặc biệt là rủi ro thanh khoản Theo đánh giá của Moody’s:

“Một trong những thách thức của Ngân hàng Việt Nam là đảm bảo thanh khoản trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng trong quá khứ” Các doanh nghiệp Việt Nam khó tiếp cận vốn hoặc phải chịu chi phí vốn cao gấp 3-4 lần trong khu vực Trong khi đó thị trường liên ngân hàng có sự tăng cao về lãi suất và doanh số hoạt động Với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, cùng với những gì

đã và đang diễn ra trên thị trường tiền tệ Việt Nam cho thấy hoạt động quản trị rủi

ro thanh khoản cần được cải thiện để thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế

Xuất phát từ những lý do đã nêu, trên cơ sở vận dụng những kiến thức được học trong chương trình đào tạo bậc cao học - Trường Đại học Ngân Hàng

Trang 11

Thành Phố Hồ Chí Minh vào điều kiện Việt Nam, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản trị thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm xác định

những vấn đề đang tồn tại trong hoạt động quản trị thanh khoản, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hoạt động quản trị thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng quản trị thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam;

- Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu hoạt động quản trị thanh khoản được khảo sát ở các NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2012 - 2014 Thu thập số liệu thông qua báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của các NHTM, báo cáo thường niên của NHNN Tổng hợp số liệu của các tổ chức đánh giá, báo cáo ngành ngân hàng để làm tư liệu đánh giá

2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng các quan điểm khách quan trong trạng thái luôn vận động và phát triển, áp dụng các phương pháp thống kê, quy nạp, tổng hợp,

có phân tích hoạt động, từ đó đề xuất những giải pháp tối ưu để nâng cao chât lượng quản trị thanh khoản tại các Ngân hàng Thương mại Việt nam

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

- Nghiên cứu các lý luận cơ bản về thanh khoản, rủi ro thanh khoản từ đó đưa ra lý luận về quản trị thanh khoản, mô hình đo lường rủi ro thanh khoản và các phương pháp nhận diện cũng như các dấu hiệu cho thấy tình trạng rủi ro thanh khoản phát sinh tại Ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu về các chiến lược quản trị

Trang 12

rủi ro thanh khoản cũng như tìm hiểu một số nghiên cứu khác tại Việt Nam và thế giới về quản trị thanh khoản;

- Từ cơ sở lý luận, nghiên cứu thực tiễn, dựa trên các số liệu thu thập được đánh giá về thực trạng quản trị thanh khoản tại các Ngân hàng Thương mại Từ đó tìm ra những nguyên nhân tồn tại và những khó khăn vướng mắc cần giải quyết;

- Nêu lên những giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng quản trị thanh khoản các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, hạn chế rủi ro thanh khoản có thể xảy ra

Nghiên cứu sẽ tập trung vào trả lời câu hỏi:

1 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản hiện nay của các NHTM Việt Nam đang có những vấn đề gì ?

2 Cần có những pháp giải pháp nào để hoàn thiện hoạt động quản trị rủi

ro khoản của các NHTM Việt Nam?

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều loại rủi ro và mang tính hệ thống, trong đó có rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng thiếu khả năng chi trả , không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng và cho vay bị mất cân đối, do

có các thông tin bất lợi về kinh tế vĩ mô, về ngân hàng khiến cho người dân rút tiền

ồ ạt để mua vàng, mua đô la tích trữ, hay chuyển sang các ngân hàng khác các ngân hàng đã và đang chủ động xây dựng các phương án, các biện pháp phòng thủ

và các biện pháp dự phòng rủi ro thanh khoản nhằm đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng mình và cả hệ thống nói chung Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, để phát triển bền vững và đứng vững trong cạnh tranh đòi hỏi các NHTM Việt Nam cần phải quản trị tốt các loại rủi ro, trong đó có quản trị thanh khoản

- Một trong 25 nguyên tắc về Giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel, nguyên tắc 14 – Rủi ro thanh khoản: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo rằng các ngân hàng có một chiến lược quản lý khả năng chi trả có thể tính toán được mọi rủi ro của tổ chức, ngân hàng phải có chính sách và quy trình để xác định, đo lường, theo dõi, kiểm soát được rủi ro thanh khoản và quản lý được

Trang 13

khả năng chi trả của mình hàng ngày Cơ quan quản lý nhà nước phải yêu cầu các ngân hàng có kế hoạch sẵn sàng đối ứng với các vấn đề thanh khoản phát sinh bất ngờ

- Để tạo khung pháp lý mới điều chỉnh toàn diện về giới hạn, hạn chế tỉ

lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, ngày 20/11/2014-NHNN đã ban hành Thông tư 36/TT-NHNN quy định các giới hạn đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài Thông tư 36 đã yêu cầu các TCTD ban hành quy định nội bộ, trong đó có quy định nội bộ về quản lý thanh khoản

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và bảng biểu, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thanh khoản và quản trị thanh khoản trong các

Ngân hàng Thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị thanh khoản của các Ngân hàng Thương mại

Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng quản trị thanh khoản tại các

Ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN

1.1 Thanh khoản ngân hàng

Theo định nghĩa của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức” Như vậy thanh khoản của

một ngân hàng liên quan đến tiền mặt và các dòng lưu chuyển tiền tệ để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm

Dưới góc độ tài sản: “Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại” Dưới góc độ Ngân hàng, thanh khoản được định nghĩa: “Là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác” (Ngân hàng Thương mại- NXB Thống kê-

2009)

Một Ngân hàng có tình hình thanh khoản tốt nếu ngân hàng đó giữ nhiều tài sản thanh khoản, dễ dàng chuyển sang tiền mặt hoặc có khả năng huy động thêm nguồn vốn với thời gian và chi phí thấp để đáp ứng nhu cầu vốn khi cần thiết, tại bất

kể thời điểm nào

1.2 Rủi ro thanh khoản

1.2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản

“Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn” (Duttweiler, 2010)

Trang 15

Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ ngân hàng nào là bảo đảm khả năng thanh toán đầy đủ Do đó, ngân hàng hoặc có sẵn lượng vốn khả dụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn từ bên ngoài với chi phí hợp lý và đúng thời điểm; hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh cũng và nhu cầu thanh khoản đa dạng của khách hàng

1.2.2 Hệ quả của mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò cơ bản như là người tạo thanh khoản cho nền kinh tế thông qua các hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và các hoạt động tài chính khác Do đó, khi một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ có ảnh hưởng đến cả hệ thống của Ngân hàng nói riêng cũng như hoạt động của toàn bộ nền kinh tế nói chung Như là:

- Rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến phá sản một ngân hàng tại một thời điểm mặc dù ngân hàng đó vẫn đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận

Do nhu cầu thanh khoản tại một thời điểm vượt quá mức dự trữ của một Ngân hàng hoặc các Tài sản Có của Ngân hàng chưa kịp chuyển đổi cho hoạt động thanh khoản Tình trạng thiếu thanh khoản có thể đánh giá là rủi ro rất nguy hiểm đối với một ngân hàng

- Rủi ro thanh khoản có thể làm cho các ngân hàng thiếu hụt tạm thời về thanh khoản

Khi thiếu hụt tạm thời về thanh khoản, các Ngân hàng phải tìm cách để nguồn bổ sung thanh khoản bằng việc vay mượn từ những ngân hàng khác hoặc vay NHTW để giải quyết các nhu cầu về vốn Tình trạng thiếu hụt tạm thời về thanh

Trang 16

khoản có thể gây hiệu ứng không tốt, dẫn đến thanh khoản của ngân hàng nhanh chóng cạn kiệt và ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả

- Rủi ro thanh khoản có nguy cơ làm giảm uy tín của ngân hàng

Do bất cân xứng thông tin trong giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, khi các biểu hiện thiếu thanh khoản xuất hiện sẽ nhanh chóng dẫn đến hiện tượng khách hàng rút tiền hàng loạt để bảo toàn vốn Điều này làm các ngân hàng cạn kiệt thanh khoản thậm chí phá sản

- Rủi ro thanh khoản của ngân hàng có hiệu ứng lan truyền và có khả năng gây đổ vỡ toàn hệ thống

Các ngân hàng thực hiện các khoản vay mượn lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng và tương hỗ Khi một ngân hàng không đủ khả năng chi trả các khoản nợ, sẽ làm ảnh hưởng đến các Ngân hàng khác và có khả năng kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống

1.3 Quản trị thanh khoản

1.3.1 Khái niệm quản trị thanh khoản

Từ khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản ta thấy rằng Quản trị thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản (tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục nguồn vốn nhằm đạt được mục tiêu tài sản và nguồn vốn có tính thanh khoản cao Một nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh

Một cách khái quát hơn, quản trị rủi ro thanh khoản nhằm đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu thanh khoản của ngân hàng với chi phí thấp Qua đó cho thấy quản trị rủi ro thanh khoản có tính chất vô cùng quan trọng đối với ngân hàng nói riêng

và mở rộng ra là ảnh hưởng gần như đến toàn bộ nền kinh tế vì nếu tình trạng thanh khoản không tốt có thể ảnh hưởng đến gần như toàn bộ hoạt động của ngân hàng bao gồm:

- Chức năng trung gian tín dụng - huy động vốn và cho vay;

Trang 17

- Chức năng trung gian thanh toán;

- Chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng

Như các loại rủi ro khác, rủi ro thanh khoản luôn tồn tại trong nội tại hoạt động của ngân hàng Đó là sự lựa chọn của ngân hàng giữa việc đảm bảo thanh khoản và khả năng sinh lời Do đó việc quản trị thanh khoản phải thực hiện thường xuyên để đảm bảo cân bằng giữa hai mục tiêu an toàn và hiệu quả Theo thông lệ tốt nhất về quản trị khả năng thanh khoản của các ngân hàng, chính sách thanh khoản cần được xây dựng bởi các nhà quản lý cao cấp nhất, trong đó xác định trạng thái thanh khoản thông qua các chỉ số phản ánh mức thanh khoản của từng ngân hàng Ngoài ra để duy trì nguồn vốn ổn định, chính sách thanh khoản cần đảm bảo quy

mô, cấu trúc của nguồn vốn và sự đa dạng các loại vốn huy động Ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ dễ dàng đối phó với những biến động trong huy động vốn và thực hiện cho vay một cách an toàn

Ngoài việc đo lường và quản lý các yêu cầu về vốn, để đối phó với các vấn

đề thanh khoản đòi hỏi các nhà quản lý rủi ro phải thực hiện các đánh giá về thị trường, dự báo các trường hợp có thể xảy ra sự suy giảm về thanh khoản, từ đó xây dựng kịch bản đối phó trong tình huống xảy ra khủng hoảng

Thanh khoản ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi của một ngân hàng, do đó quản lý thanh khoản đòi hỏi phải có sự giám sát thường xuyên của Ngân hàng trung ương (NHTW) Các cơ quan giám sát thể hiện vai trò của mình trong việc kiểm tra tính tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro, đồng thời đánh giá hiệu quả chính sách

đo lường, theo dõi rủi ro thanh khoản của các NHTM, ngăn ngừa sự suy giảm khả năng thanh khoản có thể lan truyền tới cả hệ thống

Nội dung của hoạt động Quản trị rủi ro thanh khoản cũng giống như quản trị các loại rủi ro khác, bao gồm: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa và tài trợ rủi ro

Trang 18

1.3.2 Nhận dạng rủi ro thanh khoản

Một số dấu hiệu cho thấy một Ngân hàng đang gặp rủi ro về thanh khoản như:

- Sự biến động giá của cổ phiếu khi thị giá cổ phiếu của ngân hàng đang giảm vì sự kỳ vọng của nhà đầu tư vào ngân hàng đang giảm;

- Ngân hàng áp dụng mức lãi suất cao hơn mức lãi suất thị trường để huy động vốn.;

- Ngân hàng đang bán gấp tài sản và sẵn sàng chịu lỗ từ việc bán tài sản này; đồng thời việc bán tài sản này diễn ra thường xuyên;

- Ngân hàng buộc phải từ chối một số khoản vay khả thi của khách hàng hoặc Ngân hàng không có khả năng giải ngân đúng hẹn và đầy đủ các cam kết tín dụng,

- Ngân hàng vay NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên

Các vấn đề nghiêm trọng về thanh khoản chỉ có thể phát sinh khi số tiền gửi được rút ra quá mức bình thường và không dự tính trước Điều đó xảy ra khi:

- Người gửi tiền lo ngại về khả năng thanh toán của ngân hàng này so với ngân hàng khác;

- Sự sụp đổ của một ngân hàng làm những người gửi tiền mất niềm tin vào khả năng thanh toán của ngân hàng;

- Sự đột ngột chuyển hướng ưu tiên đầu tư từ tiền gửi ngân hàng sang các tài sản tài chính phi ngân hàng (như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, cổ phiếu thương phiếu), rút tiền đầu tư vào bất động sản

- Sự bất ổn của hệ thống chính trị như: Chiến tranh, bạo loạn, sự mất lòng tin của người dân về tính ổn định của đồng tiền

1.3.3 Phân tích rủi ro thanh khoản

Phân tích rủi ro thanh khoản để xác định được những nguyên nhân gây ra rủi

ro nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu từ đó góp phần phòng ngừa rủi ro thanh khoản

Trang 19

Thanh khoản có vấn đề của một ngân hàng thương mại có thể do các nguyên nhân

cơ bản sau:

Một là, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các tổ

chức, cá nhân hoặc các định chế tài chính khác; sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn, dẫn đến mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và

người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất thấp hơn trước Như vậy lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng

Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp

và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả

1.3.4 Đo lường rủi ro thanh khoản

Khả năng và yêu cầu về thanh khoản được thể hiện qua đo lường cung thanh khoản và cầu thanh khoản Theo lý thuyết về quản trị NHTM của Peter S.Rose, trạng thái thanh khoản của ngân hàng được xác định thông qua mô hình Cung - Cầu

về thanh khoản

Cung về thanh khoản: Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả

năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm:

- Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1)

- Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2)

- Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3)

- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4)

- Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5)

Cầu về thanh khoản: Cầu về thanh khoản là nhu cầu vay vốn cho các mục

đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng Thông

Trang 20

thường trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm:

- Khách rút tiền từ tài khoản (D1)

- Đề nghị vay vốn của của khách hàng (D2)

- Thanh toán các khoản phải trả khác (D3)

- Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4)

- Thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5)

Trạng thái thanh khoản

Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau:

NLPt = Net Liquidity Position

= (S1+S2+S3+S4+S5) - (D1+D2+D3+D4+D5)

Ở đây xảy ra một trong hai trường hợp:

NLPt > 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thặng dư thanh khoản (liquidity surplus)

NLPt < 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thâm hụt thanh khoản (liquidity deficit)

Các phương pháp sau đây được các ngân hàng sử dụng để ước lượng nhu cầu thanh khoản:

- Phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn

- Phương pháp cấu trúc vốn

- Phương pháp các chỉ tiêu thanh khoản

Mỗi phương pháp dựa trên một số giả thuyết cụ thể, và kết quả thu được chỉ

là gần đúng so với nhu cầu thanh khoản thực sự tại thời điểm đã cho

Phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn

Phương pháp bắt đầu với hai thực tế đơn giản:

- Thanh khoản ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và tiền vay giảm

- Thanh khoản ngân hàng giảm khi tiền gửi giảm và tiền vay tăng

Trang 21

Bất cứ khi nào mà nguồn tạo ra thanh khoản và nhu cầu sử dụng thanh khoản không cân bằng với nhau, ngân hàng có sự chênh lệch thanh khoản (liquidity gap) có thể xác định như sau:

Độ lệch thanh

khoản (LG) =

Tổng các nguồn tạo thanh khoản

(1)

-

Tổng nhu cầu

sử dụng thanh khoản (2) Khi (1) > (2), ngân hàng có một độ lệch thanh khoản dương và phần thanh khoản thăng dư nhanh chóng phải được đầu tư vào những tài sản sinh lợi cho tới khi chúng được cần để trang trải nhu cầu tiền trong tương lai

Khi (1) < (2), ngân hàng có một độ lệch thanh khoản âm, trong trường hợp này, ngân hàng cần phải gia tăng thanh khoản từ nhiều nguồn cung cấp sẵn có khác nhau một cách kịp thời và với chi phí rẻ nhất

Tiến hành thực hiện các bước cơ bản trong phương pháp nguồn và sử dụng như là:

+ Tiền vay và tiền gửi phải được dự báo trong một khoảng thời gian hoạch định thanh khoản đã cho

+ Những thay đổi về tiền vay và tiền gửi phải được tính toán cho cùng khoảng thời gian xác định đó

+ Người quản trị thanh khoản ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng, hoặc thặng dư hoặc thâm hụt

Để dự báo các khoản tiền vay và tiền gửi cho một khoản thời gian trong tương lai (tháng hoặc quý), ngân hàng có thể dùng các biến số thống kê kinh tế và xác định mối quan hệ giữa chúng với xu hướng vận động của tiền vay và tiền gửi (A) Thay đổi của tổng số tiền vay trong khoảng dự báo tuỳ thuộc vào

- Tăng trưởng GDP dự kiến

- Lợi nhuận doanh nghiệp dự kiến

- Tỷ lệ tăng trưởng về cung ứng tiền của NHTW

- Tỷ lệ tăng trưởng của tín dụng

- Tỷ lệ lạm phát ước tính

(B) Thay đổi của tổng số tiền gửi và các khoản nợ phi tiền gửi trong khoảng

dự báo tuỳ thuộc vào:

- Tăng trưởng về thu nhập cá nhân dự kiến

- Mức tăng bán lẻ ước tính

- Tỷ lệ tăng tưởng của NHTW

Trang 22

- Lợi suất dự kiến cho tiền gửi trên thị trường tiền tệ

- Tỷ lệ lạm phát dự kiến

Sau khi dùng những biến số thống kê kinh tế dự đoán này, tiếp đó ngân hàng

có thể ước lượng nhu cầu thanh khoản bằng cách tính:

Ước lượng thanh khoản

thâm hụt (-), thặng dư (+)

Phương pháp cấu trúc vốn

Phương pháp này được tiến hành như sau:

- Chia các khoản tiền gửi và các nguồn vốn khác thành các loại trên cơ sở ước lượng xác suất (khả năng) rút tiền của khách hàng Ví dụ, có thể chia tiền gửi

và các khoản huy động phi tiền gửi của ngân hàng thành các loại sau:

+ Đối với loại 1: 95%

+ Đối với loại 2: 30%

+ Đối với loại 3: 15%

Như vây, nhu cầu dự trữ thanh khoản cho các khoản tiền gửi và các khoản huy động phi tiền gửi được xác định như sau:

Dự trữ thanh khoản = 95% (nguồn ổn định thấp - dự trữ bắt buộc+ 30% (nguồn ổn định vừa - dự trữ bắt buộc + 15% (nguồn ổn định cao - dự trữ bắt buộc)

Đối với các khoản tiền vay, ngân hàng phải sẵn sàng mọi lúc một khi khách hàng nộp đơn đề nghị vay tiền và thỏa mãn các tiêu chuẩn tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng Sau khi được chấp nhận, tiền vay có thể ra khỏi ngân hàng chỉ trong phạm vi vài giờ hoặc vài ngày sau đó:

Tổng nhu cầu

thanh khoản =

Dự trữ thanh khoản nguồn vốn huy động

+

Nhu cầu tiền vay tiềm năng

Trang 23

Phương pháp các chỉ tiêu thanh khoản

Phương pháp tính toán nhu cầu thanh khoản này dựa trên cơ sở kinh nghiệm riêng có của ngân hàng số trung bình ngành

Theo bộ chỉ số lành mạnh về tài chính FSIs (Financial Soundness Indicators) đánh giá mức độ lành mạnh về tài chính của tổ chức tài chính tín dụng do Quỹ Tiền

tệ quốc tế (IMF) đề xuất và hiện được hơn 120 quốc gia thành viên sử dụng, các chỉ

số quan trọng thường được sử dụng để đánh giá lành mạnh về thanh khoản của Ngân hàng bao gồm:

Vốn tự có của ngân hàng: Còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của

ngân hàng Đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của ngân hàng thương mại Về phương diện quản lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc ngân hàng phải có được để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời để thu hút các nguồn vốn khác

Vốn tự có cấp 1: Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp), quỹ dự trữ bổ

sung vốn điều lệ; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; lợi nhuận không phân chia; thặng

dư cổ phần vào vốn theo quy định của pháp luật trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ nếu có

Vốn tự có cấp 2: Phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định và của các loại

chứng khoán đầu tư được định giá lại, quỹ dự phòng tài chính, trái phiếu chuyển đổi

Trang 24

hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành có thời hạn dài, các giấy nợ thứ cấp có thời hạn dài

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR)

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) là tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản “Có” rủi ro quy đổi - còn gọi là hệ số kiểm soát tín dụng Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, còn gọi là hệ số Cooke, là chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng thương mại Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn, và đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại

Phương trình: Hệ số an toàn vốn tối thiểu

- Tài sản thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn:

Cho biết việc rút vốn ngắn hạn của khách hàng mà không ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng

- Tiền gửi của khách hàng so với tổng dư nợ

Dùng để phát hiện những vấn đề thanh khoản, tỷ lệ này thấp cho thấy nguy cơ căng thẳng trong hệ thống Ngân hàng và có thể là dấu hiệu dẫn đến suy giảm niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng

- Chênh lệch giữa lãi suất Liên ngân hàng cao nhất và thấp nhất

Đánh giá các vấn đề thanh khoản và rủi ro hệ thống ngân hàng, nếu chênh lệch càng lớn cho thấy một số ngân hàng đang gặp vấn đề thanh khoản

Trang 25

1.3.5 Kiểm soát - Phòng ngừa rủi ro thanh khoản

Để kiểm soát rủi ro thanh khoản, bất kỳ một ngân hàng thương mại nào cũng

phải xây dựng chiến lược quản trị thanh khoản, các ngân hàng có thể sử dụng các chiến lược sau đây:

- Tạo ra nguồn cung cấp thanh khoản từ bên trong (dựa vào tài sản Có); hoặc

- Vay mượn từ bên ngoài (dựa vào tài sản Nợ) để đáp ứng nhu cầu thanh khoản;

- Phối hợp cân bằng ở hai hướng trên

Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Có:

Khi thực hiện chiến lược này, ngân hàng chỉ cho vay ngắn hạn hoặc nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán ngắn hạn Trong trường hợp nhu cầu thanh khoản phát sinh, ngân hàng có thể thu hồi các khoản cho vay hoặc bán nợ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, bán các tài sản dự trữ

để lấy tiền cho đến khi tất cả nhu cầu thanh khoản được đáp ứng đầy đủ Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng này được gọi là sự chuyển hóa tài sản, bởi vì ngân hàng tăng nguồn cung cấp thanh khoản bằng cách chuyển đổi các tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt

Ưu điểm của chiến lược này là ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc tự đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho mình mà không bị lệ thuộc vào các chủ thể khác Tuy nhiên chiến lược này cũng có những nhược điểm sau:

- Mất chi phí cơ hội khi bán tài sản, bởi một khi bán tài sản tức là ngân hàng mất đi thu nhập mà các tài sản này tạo ra cũng như các nguồn lợi đầu tư mà nó mang lại;

- Tốn kém chi phí giao dịch như hoa hồng trả cho người môi giới, chi phí thực hiện giao dịch để bán được tài sản

- Tổn thất về giá: Xảy ra khi các tài sản đem bán trên thị trường có giá bán giảm so với giá gốc ban đầu, hoặc bị người mua bị ép giá do phải gấp rút bán để đáp ứng cho nhu cầu thanh khoản

Trang 26

- Ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng: Do Ngân hàng phải đầu tư nhiều vào các tài sản có tính thanh khoản cao, lại là các tài sản có khả năng sinh lợi thấp

Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Nợ (đi vay):

Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Nợ là chiến lược quản trị thanh khoản phổ biến được các ngân hàng lớn sử dụng vào những năm 60 và 70 của thế kỷ trước Trong chiến lược này, nhu cầu thanh khoản được đáp ứng bằng cách vay mượn trên thị trường tiền tệ Việc vay mượn chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời và chỉ thực hiện khi có nhu cầu thanh khoản phát sinh

Nguồn vay mượn thanh khoản yếu đối với một ngân hàng bao gồm: vay qua đêm, vay ngân hàng trung ương, bán các hợp đồng mua lại, phát hành chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng mệnh giá lớn…

Hạn chế của chiến lược này là ngân hàng bị phụ thuộc vào thị trường cho vay khi đáp ứng nhu cầu thanh khoản (nhưng đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cao nhất) do sự biến động về khả năng cho vay và lãi suất trên thị trường tiền tệ

Hơn nữa, một ngân hàng vay mượn quá nhiều thường bị đánh giá là có khó khăn về tài chính, khi thông tin này lan rộng ra, những khách hàng gửi tiền sẽ rút vốn hàng loạt hoặc phải huy động vốn với chi phí cao gấp nhiều lần Cùng lúc đó, các định chế tài chính khác, để tránh rủi ro có thể sẽ gặp phải, sẽ thận trọng, dè dặt hơn trong việc tài trợ vốn cho ngân hàng này để giải quyết khó khăn về thanh khoản

Chiến lược cân đối giữa tài sản Có và tài sản Nợ (Quản trị thanh khoản cân bằng)

Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản Có và dựa vào tài sản Nợ đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Do đó, phần lớn các Ngân hàng thường

sử dụng chiến lược dung hòa và kết hợp cả hai chiến lược trên để tạo ra chiến lược quản trị thanh khoản cân bằng

Định hướng của chiến lược này là: các nhu cầu thanh khoản thường xuyên, hàng ngày sẽ được đáp ứng bằng tài sản dự trữ tiền mặt, chứng khoán khả mại, tiền

Trang 27

gửi tại các ngân hàng khác Bên cạnh đó, các nhu cầu thanh khoản không thường xuyên nhưng có thể dự đoán trước như nhu cầu thanh khoản theo thời vụ, chu kỳ,

xu hướng sẽ được đáp ứng bằng các thỏa thuận trước về hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc nhà cung ứng vốn khác; các nhu cầu thanh khoản đột xuất không thể dự báo được đáp ứng từ việc vay mượn trên thị trường tiền tệ; các nhu cầu thanh khoản dài hạn được hoạch định nguồn và tài trợ là các khoản vay ngắn và trung hạn, chứng khoán có thể chuyển hóa thành tiền

1.3.6 Tài trợ rủi ro thanh khoản

Khi đã xảy ra rủi ro thanh khoản, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ rủi ro thanh khoản thích hợp Các biện pháp có thể thực hiện:

- Vay ngắn hạn NHNN và các tổ chức tín dụng khác, bán hoặc repo giấy tờ có giá qua thị trường mở, thị trường chứng khoán, bán ngoại tệ Có thể chấp nhận vay với lãi suất cao hoặc bán tài sản thanh khoản (giấy tờ có giá, ngoại tệ) với giá thấp hơn giá thị trường;

- Đẩy mạnh huy động vốn, phát hành giấy tờ có giá, có thể chấp nhận lãi suất huy động cao;

- Hạn chế cam kết cho vay mới, ngừng giải ngân tín dụng;

- Tích cực thu hồi nợ quá hạn

Trang 28

1.3.7 Mô hình quản trị thanh khoản:

Cũng giống như việc quản trị các loại rủi ro khác, quản trị rủi ro thanh khoản cũng có mô hình tổ chức như sau:

(Nguồn: Rudolf Duttweiler, 2009)

Quản trị rủi ro thanh khoản do Ủy ban quản lý tài sản Nợ - Có (ALCO) đảm nhiệm Chức năng chính của Ủy ban ALCO trong quản trị thanh khoản là:

- ALCO quyết định chỉ số yêu cầu thanh khoản: dư nợ vay/ tiền gửi chỉ số cấu trúc tiền gửi… các hạn mức yêu cầu thanh khoản

- Ban hành các quy chế, quy định điều hành thanh khoản đồng bộ với các loại rủi ro khác

Trang 29

1.4 Một số cuộc khủng hoảng và bài học kinh nghiệm

Luận văn đưa ra một số dẫn chứng về một số cuộc khủng hoảng xảy ra trên thế giới từ đó cho thấy tầm quan trọng trong việc quản trị thanh khoản của hệ thống ngân hàng

Rủi ro thanh khoản ở Argentina năm 2000

Năm 2000, Argentina thông báo kế hoạch cắt giảm chi tiêu và tìm kiếm sự giúp đỡ từ IMF Chính phủ Argentina cho rằng đầu tư của khối Doanh nghiệp gia tăng nếu tăng thanh khoản của hệ thống Ngân hàng, giảm thuế đối với mặt hàng vốn

và tăng thuế đối với mặt hàng tiêu dùng Về mặt tài khóa, Chính phủ áp thuế lên các giao dịch tài chính để tăng thu nhập Tuy nhiên, những hành động này đều có kết quả đi ngược lại với sự mong đợi Việc nới lỏng dự trữ bắt buộc tại các Ngân hàng với mục đích ban đầu là làm tăng thanh khoản nhưng thực tế đã làm giảm chất lượng tín dụng và giảm khả năng thu hút vốn của các ngân hàng Bên cạnh đó là sự mất niềm tin nghiêm trọng của công chúng, nhà đầu tư nước ngoài vào chính sách tiền tệ của Nhà nước

Từ tháng 01 đến tháng tháng 11 năm 2001, 15 tỷ đô đã bị rút ra tại tài khoản của các Ngân hàng Tháng 11/2001 người dân hoài nghi và đã rút 1,2 tỷ USD từ tài khoản Ngân hàng Tháng 12/2001, Chính phủ ra quy định chủ tài khoản chỉ được phép rút 1000USD/tháng/tài khoản và đến tháng 02/2002 lượng tiền được phép rút chỉ còn 500USD/tháng/tài khoản Các Ngân hàng thiếu tiền mặt nghiêm trọng vì người dân bắt đầu rút tiền hàng loạt 100 triệu USD mỗi ngày Tháng 04/2002, các Ngân hàng được yêu cầu đóng cửa vô thời hạn

Bài học rút ra: Ngân hàng cần thường xuyên cập nhật sự thay đổi của các

chính sách cũng như tình hình nội tại của quốc gia, của thế giới Từ đó lập ra những phương án quản trị rủi ro ứng với những giả định có thể xảy đến trong tương lai: phương án tạo nguồn dự trữ, phương án tạo nguồn thanh khoản Mặt khác, sự thay đổi chính sách của các cấp quản lý cũng cần phù hợp và cân nhắc có sự tham vấn của Ngân hàng- chủ thể và trung gian tài chính trong hệ thống tài chính của một

Trang 30

quốc gia; đồng thời có tính đến việc ổn định và tạo niềm tin vào Chính phủ, vào Ngân hàng trong công chúng

Rủi ro thanh khoản ở các NHTM Nga năm 2004:

Rủi ro thanh khoản ở Nga bắt đầu từ tháng 07/2004 Ngày 09/07/2004 Guta Bank- một Ngân hàng lớn của Nga thông báo tạm khóa các tài khoản tiền gửi, đóng cửa 76 chi nhánh và ngừng hoạt động hơn 400 máy ATM Ngày 10/07/2004, người dân đổ xô đi rút tiền ở các Ngân hàng khác vì lo sợ tình trạng tương tự Ngày 16/07/2004, các Ngân hàng từ chối cấp tín dụng cho nhau, lãi suất tiền gửi tăng đáng kể song khách hàng vẫn tiếp tục rút tiền ồ ạt Bên cạnh đó, Chính phủ phải áp dụng chính sách phạt 10% nếu rút tiền trước hạn Ngân hàng Trung ương Nga giảm

tỷ lệ dự trữ tiền mặt từ 7% xuống 3,5% để đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản

Theo các chuyên gia, khủng hoảng xảy ra do hệ thống Ngân hàng Nga có quá nhiều ngân hàng, trong đó phần lớn là các tổ chức tài chính nhỏ tồn tại bằng các hoạt động bất hợp pháp (90% Ngân hàng ở đây có số vốn dưới 10tr USD) Sự quản

lý thiếu tính hệ thống này chưa tạo được niềm tin của người gửi tiền và rất dễ xảy ra tình trạng câu kết, thao túng trong hệ thống

Bài học rút ra: Cần tạo niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống Ngân hàng,

cần có sự thống nhất phối hợp giữa các Ngân hàng trong hệ thống để phòng ngừa rủi ro thanh khoản có thể xảy ra, ảnh hưởng tới toàn hệ thống Ngân hàng

Rủi ro thanh khoản ở Anh

Nothern Rock là Ngân hàng thương mại ở tốp trung bình của Anh, trong lĩnh vực hoạt động thế chấp nhà đất là Ngân hàng lớn thứ 5 và có lịch sử hoạt động hơn

100 năm Một số thông tin đã công khai về việc Ngân hàng cho vay thế chấp tràn lan và đang gặp khó khăn, khan hiếm tiền mặt thanh khoản Hệ quả của thông tin này là hàng ngàn người gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng đã xếp hàng từ sáng tới tối tại 76 Chi nhánh của Ngân hàng để rút tiền Ngay lập tức giá cổ phiếu của Ngân hàng giảm 31,46% kéo theo sự sụt giảm của đồng bảng Anh nghiêm trọng NHTW Anh hỗ trợ lượng cung tiền cho Ngân hàng, Bộ Tài chính khẳng định Nothern Rock

là Ngân hàng an toàn, làm ăn có lãi Tuy nhiên, lượng người đến rút tiền tại Ngân

Trang 31

hàng không suy giảm và Ngân hàng rơi vào trạng thái đối mặt với rủi ro thanh khoản thực sự

Bài học rút ra: Thanh khoản của các tài khoản thế chấp là một nhân tố quan

trọng, các Ngân hàng cần cân nhắc đến các khoản đảm bảo tiền vay, có phương án cho vay hiệu quả và nguồn thu nợ ổn định Tránh tạo hoang mang và mất niềm tin trong công chúng, người gửi tiền và đầu tư

1.5 Các nghiên cứu về thanh khoản hệ thống ngân hàng:

Ủy ban Basel đã đưa ra thông lệ tốt nhất về quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng Trước hết, việc xây dựng cơ cấu cho việc quản lý thanh khoản cần được thực hiện ở cấp cao nhất của một ngân hàng Đối với việc phân tích khả năng thanh khoản của ngân hàng đòi hỏi phải đo lường một cách liên tục các chỉ số đảm bảo thanh khoản đồng thời xem xét khả năng thanh khoản trong nhiều tình huống khác nhau Đối với các cơ quan giám sát, cần thực hiện việc đánh giá chính sách liên quan đến thanh khoản của các ngân hàng một cách độc lập

A Vento (2009) đã thực hiện phân tích các kỹ thuật quản lý và giám sát thanh khoản tại một số nước Châu Âu để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và giám sát thanh khoản ngân hàng Nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng không

có một công cụ đầy đủ và chính xác để chống lại rủi ro thanh khoản nhưng các yếu

tố cơ bản không thể thiếu đối với các ngân hàng là phải có những nguyên tắc quản trị rõ ràng để xây dựng chiến lược về quản lý rủi ro thanh khoản , áp dụng các phương thức đánh giá vị trí thanh khoản thường xuyên và các kế hoạch về thanh khoản cần được xây dựng trong cả trường hợp khủng hoảng Đối với vấn đề thanh khoản các ngân hàng có mức độ vốn hóa càng cao thì chắc chắn sẽ dễ dàng tăng vốn thông qua thị trường liên ngân hàng, tuy nhiên , đó cũng chưa hẳn là giải pháp tối ưu khi các ngân hàng phải đối mặt với việc thanh khoản bị cạn kiệt Nghiên cứu này cũng đánh giá cao vai trò của các tổ chức đánh giá xếp hạng trong việc cung cấp thông tin và đưa ra những cảnh báo cho thị tường tài chính

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã khái quát các nội dung cơ bản về khái niệm thanh khoản, rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản Luận văn cũng chỉ ra các dấu hiệu nhận diện thanh khoản và hệ quả có thể xảy đến của rủi ro thanh khoản Qua đó, đưa ra vấn đề về kiểm soát thanh khoản, nghiên cứu phương pháp ước lượng nhu cầu thanh khoản Bên cạnh đó, luận văn đưa ra một số cuộc khủng hoảng thanh khoản trên thế giới làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, đồng thời thấy được vị trí quan trọng của quản trị thanh khoản trong hệ thống Ngân hàng Dựa trên cơ sở lý thuyết chương 1, tác giả vận dụng phương pháp chỉ số, sử dụng các chỉ số trong bộ chỉ số lành mạnh về tài chính FSIs ( Financial Soundness Indicators), trên cơ sở dữ liệu thu thập của các Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam để đánh giá hoạt động quản trị thanh khoản của Ngân hàng Từ đó nêu lên thành tựu và hạn chế trong hoạt động quản trị thanh khoản của các NHTM Viêt Nam

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

2.1 Sơ lược về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

Ngành Ngân hàng Việt Nam mới thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1990 Từ

hệ thống ngân hàng một cấp, đến nay ngành ngân hàng đã phát triển một cách vượt bậc, trở thành một hệ thống đông đảo các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng chỉ trong vòng 23 năm Hiện tại hệ thống bao gồm 38 Ngân hàng thương mại; trong

đó có 5 ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), 33 Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoài ra, hệ thống còn bao gồm 6 ngân hàng liên doanh, 66 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng nước ngoài (CNNG), khoảng 30 công ty tài chính và cho thuê tài chính, hơn 1.000 quỹ tín dụng

Bảng 2.1: Số lượng ngân hàng qua các năm

và các nhóm đối tượng phục vụ khác nhau ( doanh nghiệp FDI, công ty xuyên quốc gia, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập đoàn kinh tế và tổng công ty, cá nhân, hộ gia đình…) Sự đa dạng về nhu cầu dịch vụ ngân hàng chính là yếu tố quyết định tính

Trang 34

đa dạng của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam Tính trung bình hiện nay, với dân số khoảng 90 triệu người thì tính riêng các NHTM, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam bình quân mỗi Ngân hàng đang phục vụ khoảng 0,8 triệu người

Tính đến cuối năm 2014, Việt Nam có 5 NHTMNN, trong đó có 4 ngân hàng lớn nhất hệ thống: NHTMCP Ngoại thương (VCB), NHTMCP Công thương (CTG), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) với vốn điều lệ đều trên 20 tỷ đồng Tại các Ngân hàng này, Nhà nước vẫn nắm đa số cổ phần chi phối

Bảng 2.2 Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống

Đơn vị tính: %

( Nguồn: Báo cáo Ngân hàng Nhà nước)

NHTMNN giữ vị trí thống trị thị trường cả về mảng tín dụng lẫn huy động tuy nhiên trong những năm gần đây thị phần đang chuyển dần về nhóm thương mại

cổ phần năng động Trong khoảng thời gian 05 năm trở lại đây (từ 2010- 2015), NHTMCP giành được hơn 15% thị phần của NHTMNN Điều này là khá khác biệt

Trang 35

so với con số của năm 2000, khi thị phần tín dụng của nhóm NHTMNN chiếm hơn 70% tổng quy mô

Xét về quy mô, tài sản ngân hàng Việt Nam còn khá khiêm tốn so với Ngân hàng trong khu vực, quốc tế nói chung Năm 2000, tỷ lệ tín dụng/GDP chỉ đạt 35,1%, khá thấp so với các nước trong cùng khu vực (Thái Lan (138%), Singapore (78%), Philippines (58%), Trung Quốc (120%)) Tỷ lệ tín dụng/GDP hiện nay đạt 115,4%; vẫn thấp so với mức trung bình của các nước đang phát triển trong khu vực (125%)

Bảng 2.3 Tín dụng nội địa được cung cấp bởi hệ thống tài chính tại một

Trang 36

lần), và xấp xỉ đạt ~0,71 lần mức tỷ lệ của nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao Tỷ lệ đạt được năm 2010 có thể coi là mức tăng trưởng đỉnh của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển về số lượng lại chưa tương xứng về mặt chất lượng, mang tính chất tăng trưởng nóng đã để lại hậu quả không nhỏ cho thời gian sau này Hiện tại, mức tỷ lệ tín dụng nội địa của Ngân hàng tại Việt Nam thấp hơn mức của các quốc gia có mức thu nhập trung bình và chỉ nhỉnh hơn không nhiều so với mức các quốc gia có thu nhập thấp (0,17%)

Với tốc độ tăng trưởng cao như vậy đã làm tăng áp lực lạm phát, đồng thời

do các điều kiện cho vay dễ dãi đà làm gia tăng tỷ lệ nợ xấu kéo theo nguy cơ rủi ro cho hệ thống ngân hàng tăng cao.Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chính đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản, người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn Ngân hàng khủng hoảng, phá sản sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp, toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho các khoản tiền huy động vốn khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, mất thanh khoản

Tính chung cả hệ thống tỷ lệ nợ xấu trung bình năm 2011 là 3.3% cao hơn nhiều so với mức 2.14% của năm 2010 và theo đánh giá của Fitch Raitings, nợ xấu thực tế 2011 của các ngân hàng Việt Nam có thể cao gấp 4 lần Tỷ lệ nợ xấu năm

2013 duy trì ở mức 3- 4,7%; năm 2014 ở mức 4% và đến cuối tháng 1/2015 hầu hết các Ngân hàng khi công bố số liệu đều thể hiện con số nợ xấu đều giảm, có dấu hiệu khả quan Tuy nhiên, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s cũng như Fitch và nhiều

tổ chức xếp hạng trên thế giới đều nhận định tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam không thể thấp hơn mức 2 chữ số (10% trở lên), và có thể ở mức 15%, cao gấp gần 4 lần con

số mà NHNN công bố Nghi ngờ này là có cơ sở khi những khoản nợ dưới chuẩn

Trang 37

này của Việt Nam vốn có sự chênh lệch giữa con số các Ngân hàng Thương mại tự báo cáo và số của cơ quan thanh tra giám sát, giữa con số trên báo cáo sổ sách với con số thực tế của các khoản nợ xấu

Tóm lại, từ năm 2007 đến nay, hệ thống NHTM đã phát triển nhanh về số lượng nhưng đang tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động kinh doanh, nhiều ngân hàng có quy mô nhỏ, sở hữu chồng chéo trong khi đó tỷ lệ nợ xấu gia tăng Sự phát triển không bền vững như vậy đã làm hạn chế năng lực cạnh tranh của khu vực ngân hàng, đồng thời làm cản trở việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế nói chung

2.2 Hoạt động quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại

Việc đánh giá chính sách quản trị thanh khoản của các NHTM được khảo sát

ở 22 NHTM CP Việt Nam và so sánh các chỉ số đánh giá tính thanh khoản của các NHTM theo nhóm trên cơ sở báo cáo tài chính các năm 2012- 2014 Theo cách phân nhóm của NHNN để giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cần dựa vào các tiêu chí là chất lượng tài sản nợ, qui mô vốn, khả năng quản trị rủi ro và việc tuân thủ các quy định của NHNN, các NHTM được phân thành 4 nhóm Trong đó các ngân hàng nhóm 1 được tăng trưởng tối đa 17% nhóm 2 được tăng trưởng 15% nhóm 3 được tăng trưởng 8% và nhóm 4 không được tăng trưởng tín dụng Theo đó các ngân hàng khảo sát thuộc nhóm 1 sẽ bao gồm các ngân hàng: VCB, BIDV, Vietinbank, ACB, STB, EIB, TCB, VIB, MB, SHB Các ngân hàng thuộc nhóm 2 gồm: ABB, OCB, Đại Á, Bảo Việt, Oceanbank, Westernbank Các ngân hàng còn lại không có động lực công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là cá ngân hàng thuộc nhóm 3 và nhóm 4 gồm HBB, SGB, PGB, HDB, NVB, MDB

Với vai trò là mạch máu của nền kinh tế, sự phát triển lành mạnh và bền vững của hệ thống ngân hàng là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển ổn định, bền vững của cả nền kinh tế của mọi quốc gia Kể từ khi gia nhập WTO vào năm 2007, hệ thống NHTM Việt Nam đã có sự gia tăng mạnh mẽ

về quy mô tài sản Cụ thể, tổng tài sản khu vực ngân hàng tăng gấp hơn hai lần

Trang 38

trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2010, tăng từ 1.097 nghìn tỉ VNĐ (tương đương 52,4 tỉ USD) lên đến 2.690 nghìn tỉ VNĐ (tương đương 128,7 tỉ USD) theo

số liệu của IMF Tính đến 2014, con số này đã đạt được 5.637 nghìn tỉ VNĐ (VPBS, 2014) Tổng dư nợ tín dụng của hệ thống các tổ chức tín dụng cho nền kinh

tế tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình trong giai đoạn 2012-2015 đạt 38.28% (VPBS, 2014) Hàng nghìn tỉ đồng vốn tín dụng được đầu tư cho phát triển hạ tầng kinh tế xã hội và cho vay trong nền kinh tế

Mặc dù phát triển vượt bậc nhưng hệ thống ngân hàng Việt Nam lại đang bộc

lộ rất nhiều yếu kém trong hoạt động cũng như phương thức quản lý, để lại rất nhiều rủi ro cho toàn bộ khu vực tài chính cũng như đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ

Các NHTMCP đạt được mục tiêu tăng qui mô vốn vào cuối năm 2011 theo quy định của NHNN (vốn điều lệ tối thiểu đạt 3000 tỷ VNĐ) nhưng trên thực tế chính sách quản lý rủi ro thanh khoản của một số ngân hàng chưa phù hợp Hoạt động quản lý thanh khoản của các NHTM đã có biểu hiện mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng vốn về quy mô cũng như kỳ hạn, các ngân hàng có tỷ lệ cho vay cao hơn so với huy động, trong khi đó tỷ lệ nắm giữ các loại tài sản thanh khoản như các loại chứng khoán do Chính phủ phát hành so với tổng tài sản thấp, đồng thời nguồn vốn huy động không đa dạng do đó không tạo ra nguồn vốn ổn định để đảm bảo tính thanh khoản bền vững trong dài hạn

2.2.1 Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng

Giai đoạn 2012 - 2014, tín dụng tăng trưởng được kiểm soát và hướng đến sự phát triển về chiều sâu chứ không chỉ thiên về phát triển chiều rộng như giai đoạn

2010, 2011 NHNN bắt đầu kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng bằng cách phân nhóm các NHTM thành 1, 2, 3, 4 và có các mức tăng trưởng tương ứng Dựa trên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được NHNN giao, các NHTM sẽ lập kế hoạch tăng trưởng tín dụng báo cáo NHNN và triển khai hoạt động tín dụng theo kế hoạch

Trang 39

được chấp thuận một cách nghiêm túc và nhất quán Tốc độ tăng trưởng năm 2012 đạt 9,81%

Năm 2013, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng lên 12% Đến 12/12/2013 tỷ lệ này mới tăng 8,83% so với cuối năm 2012 tuy nhiên đến hết thời điểm 31/12/2013 tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đã vượt mức mục tiêu của NHNN và đạt

12,51% (Nguồn: bizlive)

Biểu đồ 2.1 Tình hình tăng trưởng tín dụng trong năm 2014

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước 2014)

Như vậy, có thể thấy tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trong năm 2014 có xu hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt tăng mạnh vào các tháng cuối năm (tỷ lệ tăng từ -0.55% trong tháng 01 lên 12,22% tháng 11 và 15% tháng 12) Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong năm 2014 đã tăng đều theo từng giai đoạn nhất định chứ không

Trang 40

dồn hết vào cuối năm như năm 2013 Tăng trưởng tín dụng bình quân ở mức 14,16%

Dự kiến trong năm 2015, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng Thương

mại tại Việt Nam đạt khoảng 15% (Dự báo của Ngân hàng Nhà nước)

Về chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng bên cạnh việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế-

xã hội Chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng thương mại thể hiện ở phạm vi, mức

độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của Ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Việc đánh giá chất lượng tín dụng dựa trên cả chỉ tiêu định tính lẫn chỉ tiêu định lượng Chỉ tiêu định tính như: uy tín với Ngân hàng, khả năng của đội ngũ nhân viên, đội ngũ lãnh đạo Chỉ tiêu định lượng đánh giá dựa trên các căn cứ: chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng, chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng, chỉ tiêu về giới hạn cho vay một khách hàng, chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số Cook)

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w