BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH ÔN NGỌC AN THY NHÂN TỐ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÂN HÀNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
ÔN NGỌC AN THY
NHÂN TỐ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÂN HÀNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 3
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 2017
Chủ tịch Hội đồng xét duyệt
Trang 4Nghiên cứu phân tích các nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thông qua mẫu của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam với phương pháp nghiên cứu định lượng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016 Thông qua phương pháp phân tích tác động ngẫu nhiên random effect, nghiên cứu đã tìm thấy
sự tác động của một số yếu tố đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam Cụ thể, chi phí dự phòng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tự tài trợ, chi phí cho vay và thu nhập từ tín dụng có mối tương quan thuận Ngược lại, tỷ lệ các khoản vay được tài trợ bằng vốn huy động, tỷ suất lợi nhuận tác động ngược chiều với rủi
ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy ý nghĩa về mối tương quan giữa quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng Từ
đó, nghiên cứu cũng kiến nghị một vài giải pháp đối với NHTM nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng phát sinh từ các nhân tố đặc trưng này cụ thể là các giải pháp nhằm giảm chi phí dự phòng, hạn chế đòn bẩy tài chính, tăng huy động vốn và tăng tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng cũng như các khuyến nghị với Ngân hàng Nhà nước nhằm hỗ trợ các NHTM giảm thiểu rủi ro tín dụng
Trang 5Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy
đủ trong luận văn
Trang 6Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam”, em đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên và góp ý của Thầy Cô, Đồng nghiệp, Gia đình và Bạn bè
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đã truyền đạt kiến thức, tâm huyết và tình yêu thương cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Lê Minh Sơn đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt 6 tháng thực hiện luận văn để em có thể hoàn thành đề tài của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Ngân hàng TMCP Á Châu – CN TP.HCM đã hỗ trợ em sắp xếp thời gian, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này
Đồng thời em cũng gửi đến gia đình, bạn bè lời biết ơn sâu sắc vì đã ở bên cạnh động viên, cho em các ý kiến quý báu để có thể hoàn thành luận văn này
Với điều kiện hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm, luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi các thiếu sót Em xin chân thành tiếp thu những góp ý, chỉ bảo của Quý Thầy Cô để em bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Các giả thuyết của nghiên cứu 4
1.6 Đối tượng 6
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.7 Phương pháp nghiên cứu và số liệu 6
1.7.1 Phương pháp nghiên cứu 6
1.7.2 Số liệu nghiên cứu 7
1.8 Đóng góp của đề tài 7
1.9 Tóm lược nội dung của các chương tiếp theo 9
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 10
2.1 Các khái niệm liên quan 10
2.1.1 Ngân hàng thương mại 10
2.1.2 Rủi ro tín dụng 10
Trang 82.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 11
2.1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 13
2.1.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 17
2.1.2.5 Tình hình rủi ro tín dụng tại Việt Nam 18
2.2 Tổng quan về các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm 22
2.2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAMP 22
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài về nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 24
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước 26
Kết luận Chương 2 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 30
3.1 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2 Đối tượng nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 31
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.2.2 Mẫu nghiên cứu 31
3.3 Mô tả các biến và cách thức đo lường 33
3.4 Quá trình xử lý và phân tích số liệu 34
Kết luận Chương 3 36
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Thống kê dữ liệu của mô hình 37
Trang 94.3 Kết quả mô hình 47
4.4 Phân tích kết quả và so sánh với các nghiên cứu trước 50
Kết luận Chương 4 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kiến nghị và giải pháp 55
5.1.1 Các NHTM cần tìm ra biện pháp giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 55
5.1.2 Các NHTM cần giảm đòn bẩy tài chính 58
5.1.3 Các NHTM cần tăng tỷ suất lợi nhuận 63
5.1.4 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 64
5.2 Ưu nhược điểm của nghiên cứu 65
Kết luận Chương 5 67
PHẦN KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 1: Danh sách các NHTMCP trong nước đến 31/12/2016 74
PHỤ LỤC 2: Kết quả phân tích hồi quy trên phần mềm Eview 80
Trang 10
ABB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình
ACB : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Bản Việt: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt
Bắc Á: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á
BIDV: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
EAB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á
Eximbank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu
HDBank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
MB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
MSB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải
Nam A Bank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á
NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM: Ngân hàng Thương mại
OCB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông
Sacombank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Seabank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á
SGB: Ngân hàng Sài Gòn Công Thương
Techcombank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Trang 11tổ chức tín dụng Việt Nam
VCB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
VIB: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế
Viettin: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
VPBank: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Agribank: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
WTO : World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 12STT Danh mục bảng Trang
1 Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước về nhân tố đặc trưng của
ngân hàng tác động đến rủi ro tín dụng
28
2 Bảng 3.1: Diễn giải các biến được sử dụng trong mô hình 34
3 Bảng 4.1: Tổng tài sản của các NHTM giai đoạn 2011-2016 37
4 Bảng 4.2: Vốn điều lệ của các NHTM giai đoạn 2011-2016 39
5 Bảng 4.3: Vốn điều lệ của các NHTM giai đoạn 2011-2016 40
6 Bảng 4.4: Vốn huy động từ tiền gửi tại các NHTM Việt Nam giai
đoạn 2011-2016
41
7 Bảng 4.5: Tổng dư nợ cho vay các NHTM giai đoạn 2011-2016 43
9 Bảng 4.7: Kết quả kiểm định sự tương quan giữa các biến độc lập 47
11 Bảng 5.1: Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế 60
12 Bảng 5.2: Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động 61
Trang 13
2 Hình 2.2 : Tỷ lệ nợ nhóm 4 và nhóm 5 tại các ngân hàng thương
mại cổ phần từ năm 2011 đến năm 2016
20
3
Hình 2.3 : Giá trị tuyệt đối của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại cổ phần từ năm 2011 đến năm 2016
5 Hình 4.1: Tổng tài sản của các NHTM năm 2016 38
6 Hình 4.2: Tổng vốn huy động của 20 NHTM Việt Nam năm
2016
42
7 Hình 4.3: Tổng dư nợ của 20 NHTM Việt Nam năm 2016 44
Trang 14CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, ngành tài chính ngân hàng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam cũng không ngoại lệ Đặc biệt từ năm 2007, với sự gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam bước sang một trang mới, ngành tài chính ngân hàng cũng có một sự phát triển mạnh mẽ trước nay chưa từng thấy Các ngân hàng thương mại ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế với vai trò là các trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi dưới các hình thức tiền gửi và cung cấp lại cho các chủ thể cần vốn dưới hình thức cho vay Đây là nhóm trung gian tài chính lớn nhất và được giao dịch thường xuyên nhất giúp “bôi trơn” nền kinh tế thông qua ba chức năng chính: chức năng trung gian tín dụng, chức năng tạo tiền và chức năng trung gian thanh toán Trong ba chức năng này, chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì bên cạnh vai trò cung ứng vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, với chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại còn thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay Đây cũng là lợi nhuận chính cho các ngân hàng thương mại Chính vì vậy, tăng trưởng tín dụng luôn được các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng thường đi kèm với rủi ro tín dụng, thường được đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng mà còn có khả năng dẫn đến phá sản và hiệu ứng lan truyền mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng Thực vậy, ảnh hưởng tiêu cực của nợ xấu đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 khiến hàng loạt ngân hàng tuyên bố phá sản, nền kinh tế Mỹ bị khủng hoảng nặng nề Chính vì thế, làm thế nào để tăng trưởng tín dụng an toàn, hạn chế rủi ro tín dụng là một câu hỏi hóc búa dành cho các nhà quản trị ngân hàng Đề tài nghiên cứu: "Nhân tố đặc
Trang 15trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam" phân tích rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố nội tại của ngân hàng thương mại sẽ phần nào giúp các nhà quản trị có cái nhìn mới về rủi ro tín dụng nhằm đưa ra các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hiệu quả đối với loại rủi ro trọng yếu này
1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đưa ra kết luận các nhân
tố đặc trưng nào của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam Về khía cạnh quản lý chi phí, theo các nghiên cứu trước, hiệu quả quản lý của ngân hàng cao làm giảm rủi ro tín dụng và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng làm tăng rủi ro tín dụng (Ahmad và Ariff 2007) Xét trên khía cạnh quy mô ngân hàng và nguồn vốn, các nghiên cứu chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng (Fisher, Gueyie và Ortiz 2000), các ngân hàng có nguồn vốn mạnh càng chịu nhiều rủi ro hơn (Cummins và Sommer 1996), quy mô ngân hàng càng nhỏ thì rủi ro tín dụng càng tăng (Allen và Robert 1997) Xét mối quan hệ giữa tài sản đảm bảo và rủi ro tín dụng, Aghion và Bolton (1992),
La Porta và ctg (1998) cho rằng các khoản vay có tài sản đảm bảo là các khoản vay
an toàn và có rủi ro thấp Các cơ sở khoa học đó đã tạo ra ý tưởng cho nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: Liệu các rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam có chịu tác động của các nhân tố trên hay không và nếu có thì bị tác động như thế nào?
1.3 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Năm 2007, cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, hàng loạt Ngân hàng Thương mại (NHTM) được thành lập Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ - nền kinh tế đứng đầu thế giới - đã ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung và
Trang 16lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng khi tỷ lệ nợ xấu của hàng loạt NHTM tăng cao Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã đồng ý nhiều thương vụ xáp nhập của các NHTM và mua lại các NHTM yếu kém Tính đến ngày 31/12/2016, toàn hệ thống ngân hàng chỉ còn 35 NHTM so với con số hơn 50 ngân hàng năm 2007 Tuy nhiên, động thái của NHNN chỉ là biện pháp tạm thời Việc xáp nhập hay mua lại các NHTM yếu kém nhằm tránh khỏi nguy cơ khủng hoảng ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung chỉ là biện pháp lấy mạnh bù yếu chứ không thể giải quyết tận gốc vấn đề nợ xấu – nguyên nhân khủng hoảng của các NHTM Để giải quyết triệt để vấn đề trên, các nhà điều hành cần tìm hiểu nguyên nhân nợ xấu để đưa ra cách khắc phục cũng như phòng tránh tốt nhất Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các nguyên nhân xuất phát từ các yếu tố vĩ mô như tác động của chính sách tiền tệ (Sofoklis và Eftychia 2011), tăng trưởng kinh tế (Ariff và Marisetty 2001, Fischer, Gueyie và Ortiz 2000, Delgado và Saurina 2004), thất nghiệp (Foglia 2008, Blaschke và ctg 2001), lãi suất ngắn hạn danh nghĩa (Hoggarth và ctg 2005), Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố vĩ mô, rủi ro tín dụng còn xuất phát từ các yếu tố đặc trưng bên trong mỗi ngân hàng như hiệu quả quản lý ngân hàng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (Ahmad và Ariff 2007), đòn bẩy tài chính (Fisher, Gueyie và Ortiz 2000), vốn pháp định của ngân hàng (Cummins và Sommer 1996), Việc tìm hiểu các yếu tố đặc trưng bên trong ngân hàng dẫn đến rủi ro tín dụng giúp cho các nhà quản lý ngân hàng chủ động hơn trong việc đề ra các biện pháp khắc phục và quan trọng hơn là phòng tránh rủi ro Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố từ bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trở nên cấp thiết
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các số liệu từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016 với mục tiêu nhằm tìm ra
Trang 17các nhân tố đặc trưng của các NHTM Việt Nam ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, đồng thời đánh giá tác động của các nhân tố đó lên rủi ro tín dụng, từ đó, đưa ra các giải pháp phòng tránh rủi ro tín dụng, Để đạt được mục tiêu đó, nghiên cứu lần lượt trả lời ba câu hỏi:
Câu hỏi 1: Các nhân tố đặc trưng nào của các NHTM Việt Nam dẫn đến rủi ro tín dụng?
Câu hỏi 2: Sự tác động của các nhân tố này ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tín dụng?
Câu hỏi 3: Làm thế nào để các NHTM Việt Nam có thể phòng tránh các rủi ro tín dụng phát sinh?
Chương 2 với phần tổng quan lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước sẽ cho thấy một vài nhân tố đặc trưng ngân hàng có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng đã được tìm thấy ở các quốc gia khác nhau Chương 3 và chương 4 sẽ trả lời câu hỏi số 1 và
số 2 về các nhân tố đặc trưng của NHTM Việt Nam dẫn đến rủi ro tín dụng và chiều hướng cũng như mức độ tác động của các nhân tố này Chương 5 sẽ trình bày một vài giải pháp và kiến nghị đối với NHTM Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước nhằm hạn chế các rủi ro tín dụng phát sinh do các nhân tố đặc trưng của ngân hàng
1.5 Các giả thuyết của nghiên cứu
Để trả lời được ba câu hỏi nghiên cứu nêu ở mục 1.4, bài viết đặt ra 8 giả thuyết sau
và tiến hành kiểm định chúng:
H1: Hiệu quả quản lý của ngân hàng tác động âm đến rủi ro tín dụng Hiệu quả quản lý ngân hàng được đo bằng tỷ lệ sinh lời từ cho vay trên tổng tài sản và tổng chi phí của hoạt động cho vay trên tổng tài sản Tỷ lệ sinh lời từ cho vay trên tổng tài sản cho thấy khả năng ngân hàng sử dụng tài sản của mình để tạo ra thu nhập
Trang 18Khi hiệu quả quản lý càng cao cho thấy ngân hàng quản lý nguồn vốn sinh lợi càng hiệu quả, điều đó đồng nghĩa với việc hạn chế rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, tỷ lệ tổng chi phí của hoạt động cho vay trên tổng tài sản tăng cho thấy sự quản lý kém hiệu quả dẫn đến chi phí tăng cao và đưa đến nhiều nợ xấu hơn
H2: Dự phòng rủi ro tín dụng tác động dương đến rủi ro tín dụng Khi tỷ lệ giữa tổng chi phí dự phòng và tổng tài sản tăng lên cho thấy ngân hàng đánh giá có thể tăng khả năng rủi ro xảy ra đối với khoản vay
H3: Tỷ lệ của tổng dư nợ cho vay và tổng tiền gửi tác động dương đến rủi ro tín dụng
H4: Đòn bẩy tài chính tác động dương đến rủi ro tín dụng Khi các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn có nghĩa khoản vay của ngân hàng càng nhiều, áp lực trả lãi vay càng tăng khiến ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, từ đó người vay
sẽ gặp khó khăn hơn khi trả nợ vay ngân hàng
H5: Vốn pháp định tác động dương đến rủi ro tín dụng Ngân hàng dùng vốn của mình để bù đắp tổn thất Đây là nguồn vốn của chủ ngân hàng, do đó ngân hàng không chịu áp lực trả lãi nên đôi khi tạo tâm lý ỷ lại, sẵn sàng mạo hiểm khi đồng ý cho vay với rủi ro cao
H6: Chi phí cho vay tác động dương đến rủi ro tín dụng Khi chi phí cho vay tăng lên, ngân hàng phải đối mặt với khoản lỗ từ hoạt động cho vay và nguy cơ gia tăng rủi ro tín dụng
H7: ROA tác động âm đến rủi ro tín dụng Tỷ suất sinh lời của ngân hàng cao chứng tỏ khả năng quản lý, khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng tốt
H8: Quy mô ngân hàng tác động âm đến rủi ro tín dụng Khi quy mô của ngân hàng giảm, ngân hàng có khuynh hướng muốn mở rộng hơn nguồn vốn của mình bằng
Trang 19cách sẵn sàng mạo hiểm chấp nhận cho vay với rủi ro cao với mong muốn thu lại được khoản lợi nhuận lớn từ các khoản vay đó
1.6 Đối tượng
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu
Năm 2007 được xem là năm bùng nổ của ngành ngân hàng với hàng loạt các ngân hàng mới được thành lập Từ cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2008 đến năm
2015, hệ thống ngân hàng đã có rất nhiều thay đổi, một số ngân hàng yếu kém được xáp nhập, tái cấu trúc, đổi tên… Do đó, để đảm bảo tính khách quan của mẫu, nghiên cứu đã tập trung vào đối tượng là rủi ro tín dụng tại 20 NHTM Việt Nam thành lập trước năm 2007 Đây là các ngân hàng không bị xáp nhập hoặc mua lại trong giai đoạn 2007-2015 (theo dữ liệu của NHNN thời điểm 31/12/2016) được nêu trong phụ lục 1
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong hệ thống NHTM Việt Nam
- Về thời gian: Năm 2007, với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng
đã trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết Hệ thống ngân hàng đã chứng kiến một sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất kể từ trước đến nay Có thể nói năm 2007 là một cột mốc quan trọng nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu
đã quyết định phân tích dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính thường niên giai đoạn
từ năm 2008 đến 2016 của 20 NHTM trên để tìm ra các nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
1.7 Phương pháp nghiên cứu và số liệu
1.7.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp định lượng Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Trang 20dựa trên công cụ hỗ trợ là phần mềm Eview Trong đó, biến rủi ro tín dụng là biến phụ thuộc được đo lường bằng tỷ lệ của các khoản nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn tính trên tổng dư nợ cấp tín dụng Biến độc lập là các biến số đo lường tác động của các nhân tố bên trong ngân hàng lên biến phụ thuộc bao gồm : hiệu quả quản lý, đòn bẩy tài chính, các chi phí phát sinh trong quá trình cho vay, tỷ suất lợi nhuận và tổng tài sản của ngân hàng Kết quả của mô hình nghiên cứu sẽ trả lời được hai câu hỏi lớn :
- Các nhân tố đặc trưng nào của các NHTM Việt Nam dẫn đến rủi ro tín dụng?
- Sự tác động của các nhân tố này ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tín dụng ?
1.7.2 Số liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên
kể từ năm 2008 đến năm 2016 của 20 NHTM Việt Nam thành lập trước năm 2007 (theo dữ liệu của NHNN thời điểm 30/12/2016)
1.8 Đóng góp của đề tài
Rủi ro tín dụng là một lĩnh vực nhạy cảm và mang tính sống còn của ngân hàng Trong các rủi ro phát sinh trong hoạt động ngân hàng, có thể nói rủi ro này là trọng yếu nhất có thể gây ra thất thoát nghiêm trọng hoặc thậm chí khiến ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản Tuy vậy, đây cũng là rủi ro mà các ngân hàng ngại đề cập nhất Đề tài nghiên cứu “Nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” đã đề cập đến một vấn đề cốt yếu
và luôn được quan tâm nhất trong lĩnh vực ngân hàng
Thực tế không thể chối cãi được là các nhân tố vĩ mô luôn tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế Đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như lĩnh vực ngân hàng, sự tác động của các nhân tố này là không thể
Trang 21tránh khỏi Chính vì thế, khi đề cập đến rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng, đa
số các nghiên cứu đều tập trung phân tích các nguyên nhân mang tính vĩ mô Một số nghiên cứu cũng đề cập đến các nhân tố vi mô nhưng lại chủ yếu tập trung vào yếu
tố con người (hiệu quả quản lý, chất lượng tín dụng, ) và phần lớn kết hợp với các nhân tố vĩ mô Ít có nghiên cứu nào chỉ tập trung vào các nhân tố vi mô riêng biệt
Đề tài “Nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” khai thác một khía cạnh ít được đề cập trong công cuộc tìm kiếm nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ngân hàng với mong muốn mang lại những kết quả mới hữu ích Mặt khác, đề tài tập trung vào các ngân hàng thương mại – nhóm ngân hàng năng động và nhạy bén nhất trong việc theo đuổi lợi nhuận so với nhóm ngân hàng quốc doanh chủ yếu là công cụ của ngân hàng nhà nước trong việc thực thi chính sách tiền tệ Điểm mới của đề tài còn thể hiện ở thời gian và bối cảnh thu thập dữ liệu (từ năm 2008 đến năm 2016) Đây là khoảng thời gian các ngân hàng thương mại Việt Nam có sự biến động mạnh mẽ từ giai đoạn bùng phát năm 2007-2008 đến giai đoạn khủng hoảng năm 2010-2012 và dần dần hồi phục 2014-2016 Có thể nói chỉ trong vòng 8 năm mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua nhiều cung bậc khác nhau, đề tài được thực hiện sau quá trình đó giúp có cái nhìn khái quát và tổng quan đối với lĩnh vực nhạy cảm này
Mặt khác, xét về ý nghĩa thực tiễn, bài viết nghiên cứu thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, phân tích các số liệu thống kê trên báo cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán của các ngân hàng đảm bảo tính chính xác, phù hợp của số liệu Từ các số liệu quá khứ, bài viết kiểm tra giả thuyết của các nghiên cứu trước để rút ra các nhân tố thực sự ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Việt Nam, từ kết quả đó không chỉ giúp các nhà quản
lý có thể dự đoán diễn biến rủi ro trong tương lai và có hướng khắc phục kịp thời
mà còn hỗ trợ các nhà làm chính sách tìm ra giải pháp hiệu quả giúp hệ thống Ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững
Trang 221.9 Tóm lược nội dung của các chương tiếp theo
Các phần tiếp theo sẽ làm rõ hơn về đề tài nghiên cứu, cụ thể:
Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm liên quan cũng như tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, mô tả cụ thể các biến trong mô hình, cách thức đo lường và quá trình xử lý, phân tích số liệu
Chương 4 sẽ phân tích kết quả nghiên cứu từ mô hình ở chương 3 đồng thời so sánh với các nghiên cứu trước
Chương 5 sẽ tập trung vào các kết luận đáng chú ý và kiến nghị giải pháp của
người viết, đồng thời nêu ra các hạn chế của nghiên cứu
Trang 23CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Ngân hàng thương mại
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội Việt Nam ban hành năm 2010 quy định, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã Trong đó, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi - hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận; cấp tín dụng - việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản - việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
2.1.2 Rủi ro tín dụng
2.1.2.1 Định nghĩa rủi ro tín dụng
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng Một trong các định nghĩa đó là của Thomas (1997), rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt
Trang 24động cho vay của ngân hàng Theo Timothy và MacDonal (1995), rủi ro tín dụng là
sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn Neal (1996) thì cho rằng rủi ro tín dụng là khả năng người vay nợ không thể trả được nợ và theo Sofoklis và Eftychia (2011), rủi ro này được tính bằng tỷ lệ của các khoản nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn tính trên tổng dư nợ cấp tín dụng của ngân hàng Còn theo Ủy ban giám sát Basel định nghĩa rủi ro tín dụng là khả năng người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không hoàn trả các khoản nợ của khách hàng cho ngân hàng
Từ các định nghĩa nghiên cứu rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
-Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh
-Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính cho ngân hàng, làm giảm thu nhập ròng thậm chí có thể dẫn đến phá sản
2.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Theo Nguyễn Đăng Dờn và ctg (2012), căn cứ theo nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng có thể phân chia thành hai loại
Thứ nhất là rủi ro giao dịch, phát sinh trong quá trình đánh giá khách hàng và xét duyệt cho vay Đây là rủi ro mang tính chủ quan của ngân hàng trong quá trình tác nghiệp, bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ Trong đó, rủi
ro lựa chọn xuất phát từ khâu đánh giá, phân tích, lựa chọn khách hàng còn nhiều sơ
hở, phương án vay vốn của khách hàng còn chưa khả thi, phương án thu nợ của ngân hàng còn lỏng lẻo Rủi ro đảm bảo là các rủi ro liên quan đến quản lý tài sản bảo đảm do các điều khoản đảm bảo tín dụng thiếu chặt chẽ, biện pháp kiểm tra,
Trang 25theo dõi và xử lý tài sản còn bất cập, thiếu dứt khoát, rõ ràng Rủi ro nghiệp vụ là loại rủi ro liên quan đến việc quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, về việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và biện pháp xử lý các khoản vay có vấn đề
Thứ hai là rủi ro danh mục, rủi ro phát sinh trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Loại rủi ro này vừa mang tính chủ quan vửa mang tính khách quan, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Trong đó, rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố đặc trưng của khách hàng vay vốn bao gồm: ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động,…Rủi ro tập trung lại xuất phát từ yếu tố của ngân hàng khi tập trung vốn quá mức để cho vay một hoặc một nhóm khách hàng trong một lĩnh vực kinh
tế, một ngành nghề hoặc một vùng địa lý nhất định,…
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của ngân hàng nhà nước Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động thu hồi vốn và lãi được phân loại
như sau:
Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng
đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ
cấu lại
- Các khỏan nợ đã được gia hạn từ lần 2 trở đi
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời
Trang 26hạn đã cơ cấu lại
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã
được cơ cấu lại
2.1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Theo Ghosh (2012), có sự đan xem giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Các yếu tố bên ngoài bắt nguồn từ sự suy yếu của nền kinh tế vĩ mô, tình trạng xấu đi của các điều kiện kinh tế và sự kém phát triển của thị trường Các yếu tố bên trong liên quan đến hoạt động ngân hàng nên còn được gọi là các nhân tố đặc trưng của ngân hàng bao gồm rủi ro trong quản trị tài chính, thiếu sót trong quản trị ngân hàng, sự thiếu hiệu quả trong hoạt động
có tác động đến rủi ro tín dụng ở các ngân hàng Hy Lạp Bên cạnh đó, các biến số
vĩ mô của chính sách tiền tệ và các biến của thị trường tài chính đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp, các chỉ số công nghiệp và xây dựng, tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Nghiên cứu của Castro (2012) cũng chỉ ra mối liên kết giữa các yếu tố vĩ mô vả rủi
ro tín dụng ngân hàng tại 5 quốc gia: Hy Lạp, Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
và Italia Thông qua việc phân tích các dữ liệu thu thập từ năm 1997 đến năm 2011
Trang 27và sử dụng mô hình dữ liệu bảng động, nghiên cứu đã cho thấy rủi ro tín dụng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường vĩ mô, cụ thể : rủi ro tín dụng sẽ tăng khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, tỷ giá tăng và khi giá chứng khoán giảm
Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu về nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi ro tín dụng đều cho thấy biến động của thị trường quốc tế và các yếu tố vĩ mô đều gây ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng
Vệt Nam cũng không ngoại lệ, môi trường kinh tế quốc tế cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng Việt Nam Thực vậy, trong nền kinh tế thị trường, sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong nền kinh tế của quốc gia nói chung và hoạt động kinh doanh của người đi vay nói riêng Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp và việc nhập khẩu, xuất khẩu các sản phẩm nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu, dệt may,….nên rất nhạy cảm với giá cả thế giới, dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới
bị biến động Ví dụ, những vụ kiện bán phá giá, quy định về hạn ngạch trong ngành dệt may… làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và ngân hàng cho các doanh nghiệp này vay nói chung Không chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu bị ảnh hưởng, các doanh nghiệp nhập khẩu cũng rất dễ bị tổn thương trước những biến động của thế giới Chẳng hạn đối với mặt hàng thép, xăng dầu…., việc tăng giá phôi thép, xăng dầu làm cho một số doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn do chi phí giá thành nhập khẩu tăng cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm Từ đó, khiến doanh nghiệp không có khả năng trả nợ cho ngân hàng dẫn đến rủi ro tín dụng tăng cao Bên cạnh các ưu điểm, quá trình tự do hóa và hội nhập quốc tế cũng tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt khiến các doanh nghiệp
đi vay phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu phương án kinh doanh không hiệu quả hoặc khả năng quản lý kém
Trang 28Bên cạnh đó, dưới áp lực cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng trong nước cũng đối mặt với nguy cơ rủi ro tín dụng tăng cao do các khách hàng tiềm lực đã bị ngân hàng nước ngoài thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, nhiều tiện ích dẫn đến thị phần cho vay của ngân hàng thương mại bị thu hẹp lại với các khách hàng có rủi ro cao hơn
Xét về môi trường vĩ mô, môi trường pháp lý của Việt Nam chưa được chặt chẽ, các quy định chồng chéo đôi khi mâu thuẫn với nhau, các chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi đột ngột khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoạch định phương án kinh doanh Ví dụ năm 2001, hoạt động kinh doanh xe máy nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc phát triển mạnh, nhiều doanh nghiệp bỏ vốn vào lĩnh vực kinh doanh này Tuy nhiên chỉ sau 1 năm, nhà nước ban hành quy định mỗi người chỉ được đứng tên sở hữu một xe máy khiến cho sức mua giảm xuống Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra cho lượng xe đã nhập khẩu về với số lượng lớn dẫn đến ảnh hưởng lớn trong hiệu quả kinh doanh và kéo theo khó khăn trong việc trả nợ vay cho ngân hàng
Xét về môi trường kinh tế, các hoạt động kinh tế có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tế nào cũng ảnh hưởng đến các lĩnh vực còn lại Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được xem là cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Do đó, sự ổn định hay bất ổn của bất kỳ lĩnh vực nào cũng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng Các biến số vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp,…sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng Một nền kinh tế ổn định với mức độ lạm phát vừa phải, lãi suất hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp thấp….giúp các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, từ đó có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu nợ của ngân hàng hay nói khác hơn rủi ro tín dụng có nguy cơ gia tăng
Trang 29Ngoài ra, ngân hàng còn đối mặt với các rủi ro khách quan do thiên tai, hỏa hoạn,…làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt
là đối với lĩnh vực kinh doanh thủy hải sản, nông nghiệp
Một nguyên nhân khách quan nữa dẫn đến rủi ro tín dụng ở các ngân hàng xuất phát
từ người đi vay Khi tình hình kinh doanh của người đi vay không ổn định do khả năng quản lý kinh doanh kém, sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng đòn bẩy tài chính quá nhiều dẫn đến mất khả năng thanh toán,….cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng hay nói khác hơn làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng phát sinh Đặc điểm chung của các doanh nghiệp Việt Nam là tình hình tài chính kém minh bạch, vốn chủ sở hữu ít, cơ cấu tài chính thiếu cân đối, công tác quản lý tài chính kế toán chưa đồng bộ, chủ yếu mang tính đối phó,….khiến cho các ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và kiểm tra tính chính xác của thông tin, chưa kể đến việc ngân hàng dựa trên các số liệu do doanh nghiệp cung cấp khiến cho việc đánh giá cho vay thiếu chính xác và hậu quả rủi ro tín dụng xảy ra là
Trang 30tài chính và mở rộng tín dụng quá mức dẫn đến rủi ro tín dụng có nguy cơ tăng cao Mục 2 của chương này sẽ cho thấy nhân tố đặc trưng nào của ngân hàng tác động đến rủi ro tín dụng và tác động như thế nào thông qua các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước
2.1.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng nói riêng mà còn đến toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia nói
chung
-Hậu quả của rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ chủ yếu dựa trên uy tín của ngân hàng Trong xu thế cạnh tranh gay gắt, thông tin xấu ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nếu ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu quá cao hoặc không thu hồi được nợ
sẽ khó thu hút được nguồn vốn gửi tiền của người dân cũng như vốn đầu tư của các nhà đầu tư vì họ lo sợ đồng vốn họ bỏ vào ngân hàng đó sẽ không an toàn và khả năng sinh lời thấp
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cũng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại Nguồn vốn cho vay của ngân hàng phần lớn là huy động từ các tổ chức
và dân cư Ngân hàng trả tiền lãi cho người gửi tiền và cho vay lại với lãi suất cao hơn nhằm hưởng lợi nhuận chênh lệch Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu hồi được nợ nhưng vẫn phải trả lãi tiền gửi Điều này khiến cho ngân hàng đối mặt với nguy cơ giảm khả năng thanh toán
Hơn nữa, rủi ro tín dụng còn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Theo quy định của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng phải trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu Đối với các khoản nợ xấu ở mức độ cao thì tỷ lệ trích lập dự phòng càng lớn khiến
Trang 31cho chi phí của ngân hàng tăng cao, đồng nghĩa với lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm Thậm chí, rủi ro tín dụng còn dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng nếu tỷ lệ này tiếp
tục kéo dài và ăn mòn vào vốn riêng của ngân hàng
- Hậu quả của rủi ro tín dụng đến nền kinh tế
Các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng được xem là cầu nối giúp “bôi trơn” nền kinh tế, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh
tế của một quốc gia Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra ảnh hưởng đến uy tín, khả năng thanh toán của ngân hàng, người gửi tiền sẽ mất lòng tin vào ngân hàng, đổ xô
đi rút tiền gây nên hỗn loạn và bất ổn cho nền kinh tế Việc khách hàng của Ngân hàng TMCP Á Châu kéo đến rút tiền ào ạt tại các điểm giao dịch của ngân hàng này vào năm 2003 khi có thông tin Tổng Giám Đốc ngân hàng này bỏ trốn là một minh chứng rõ ràng nhất Hơn thế nữa, những ảnh hưởng này lại mang tính dây chuyền Khi một ngân hàng thương mại để xảy ra tình trạng mất tính thanh khoản sẽ gây ra những tác động dây chuyền cho nền kinh tế Thực vậy, khi khả năng thanh khoản của ngân hàng bị giảm sút, ngân hàng sẽ không còn khả năng tiếp tục tài trợ vốn cho các pháp nhân, thể nhân và phải thu hồi vốn trước hạn Như vậy, các đối tượng nhận tài trợ vốn bị ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của họ Mặt khác, khi ngân hàng mất thanh khoản sẽ khiến niềm tin của công chúng đối với ngân hàng đó nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung giảm sút, từ đó gây ra phản ứng dây chuyền rút vốn tại các ngân hàng khác Hơn nữa, ngân hàng đổ vỡ ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác khiến cho nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định
2.1.2.5 Tình hình rủi ro tín dụng tại Việt Nam
Hình 2.1 cho thấy tỷ lệ nợ nhóm 3, 4, 5 tại các ngân hàng thương mại Việt Nam có
sự biến động mạnh trong vòng gần 10 năm từ tháng 12/2007 đến tháng 03/2017 Cụ thể, từ tháng 12/2007 đến tháng 12/2012, tỷ lệ nợ xấu không ngừng gia tăng và đạt
Trang 32đỉnh điểm là 4,08% vào tháng 12/2012, tăng 2,53% so với tháng 12/2007 Đây cũng
là giai đoạn khủng hoảng của ngành ngân hàng Việt Nam Kể từ năm 2013, ngân hàng nhà nước áp dụng hàng loạt biện pháp nhằm kiểm soát nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, cụ thể ngày 23/08/2013, Ngân hàng nhà nước đã ký quyết định số 1085/QĐ-NHNN ban hành kế hoạch hành động của ngành ngân hàng về xử lý nợ xấu nhằm triển khai thực hiện đề án của Thủ tướng Chính phủ về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và đề án thành lập VAMC Sau gần 5 năm, các chính sách này
đã phát huy tác dụng khi tỷ lệ nợ xấu được kéo giảm về mức 2,55% vào tháng 03/2017
Nguồn : Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Hình 2.1 : Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ tháng 12/2007
đến tháng 03/2017
Xét về rủi ro tín dụng (tỷ lệ nợ nhóm 4, 5 trên tổng dư nợ cấp tín dụng) từ năm 2011 đến năm 2016 của 10 ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ trên 8.800 tỷ đồng trong số 20 ngân hàng thương mại được chọn mẫu, Hình 2.2 cho thấy ngoại trừ Sacombank có mức rủi ro tín dụng cao đột biến vào năm 2016 do ảnh hưởng của
Trang 33các khoản nợ xấu của Ngân hàng TMCP Phương Nam sau khi sáp nhập ngày 01/10/2015, rủi ro tín dụng của phần lớn các ngân hàng đều có xu hướng giống như thống kê của ngân hàng nhà nước được trình bày trong Hình 2.1 tức là mức rủi ro tín dụng có xu hướng tăng và đạt đỉnh điểm vào giai đoạn 2012-2013 và bắt đầu giảm dần cho đến năm 2016
Nguồn : Thống kê từ mẫu dữ liệu phân tích
Hình 2.2 : Tỷ lệ nợ nhóm 4 và nhóm 5 tại các ngân hàng thương mại cổ phần
từ năm 2011 đến năm 2016
Xét trên tổng quan, Hình 2.2 cho thấy tỷ lệ nợ nhóm 4 và 5 trên tổng dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng TMCP có phần lớn vốn nhà nước như Viettin, VCB, BIDV thấp hơn so với các ngân hàng TMCP còn lại Từ năm 2011 đến năm 2016, tỷ lệ nợ nhóm 4 và nhóm 5 của nhóm ngân hàng này chưa chạm đến mức 1,7% trong khi
Trang 34phần lớn các ngân hàng khác có mức cao nhất gần 3%, riêng Sacombank còn vượt quá mức 5% năm 2016 Tuy nhiên, xét về giá trị tuyệt đối, Hình 2.3 cho thấy giá trị tuyệt đối của rủi ro tín dụng tại 3 ngân hàng này lại cao hơn nhiều so với 7 ngân hàng còn lại Cụ thể, giá trị tuyệt đối của rủi ro tín dụng năm 2016 tại Viettin, VCB
và BIDV lần lượt là 4.631.613, 5.477.089, 7.947.029 triệu đồng so với các ngân hàng còn lại chỉ ở mức dưới 2.000.000 triệu đồng
Nguồn : Thống kê từ mẫu dữ liệu phân tích
Hình 2.3 : Giá trị tuyệt đối của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ
phần từ năm 2011 đến năm 2016 Nguyên nhân lý giải cho vấn đề này là do quy mô cho vay của nhóm 3 ngân hàng này lớn hơn nhiều so với các ngân hàng còn lại như được minh họa trong Hình 2.4 Đặc biệt, cùng với Sacombank, nhóm tam trụ có mức rủi ro tín dụng tăng cao đặc biệt trong năm 2015 và năm 2016, khác biệt lớn so với xu hướng của các ngân hàng còn lại do hậu quả các biến cố xảy ra đối với các đối tượng vay vốn lớn với dư nợ
Trang 35hàng nghìn tỷ như Hoàng Anh Gia Lai, Vinasin, Vinaline hay Công ty cổ phần khoáng sản Na Rì Hamico,…
Nguồn : Thống kê từ mẫu dữ liệu phân tích
Hình 2.4 : Tổng dư nợ tại các ngân hàng thương mại cổ phần từ năm 2011 đến
năm 2016
2.2 Tổng quan về các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
2.2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAMP
Mô hình định giá tài sản vốn CAMP do William Sharpe phát triển từ những năm
1960 là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Mô hình này
đo lường độ nhạy cảm của tài sản với rủi ro không thể đa dạng hóa (cũng được gọi
là rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường) mà thường được đại diện bởi hệ số beta (β) trong ngành tài chính, cũng như với lợi tức kỳ vọng của thị trường và lợi tức kỳ
Trang 36vọng của một tài sản phi rủi ro Mô hình CAPM truyền thống được thể hiện bằng phương trình sau:
E(Ri) = Rf + βi(E(Rm) – Rf)
Trong đó:
E(Ri) là lợi suất kỳ vọng trên tài sản tài chính i
Rf là lãi suất của tài sản phi rủi ro như trái phiếu kho bạc
βi là độ nhạy cảm của kỳ vọng lợi suất tài sản vượt trội đối với kỳ vọng lợi suất thị trường vượt trội
E(Rm) là kỳ vọng lợi suất thị trường
E(Rm) – Rf là phần bù thị trường (chênh lệch giữa kỳ vọng lợi suất thị trường và lãi suất phi rủi ro)
E(Ri) - Rf là phần bù rủi ro
Theo đó phần bù rủi ro là khoảng chênh lệch mà ngân hàng được hưởng khi cho vay nhằm bù đắp cho rủi ro họ phải gánh chịu khi người vay không trả được nợ Vì vậy, ứng với mức độ rủi ro của từng khoản vay mà ngân hàng quyết định áp dụng một mức bù rủi ro tương ứng Khi rủi ro của các khoản vay cao thì phần bù rủi ro cũng phải lớn hơn Do đó, theo lý thuyết của Markowitz, Ngân hàng cần phải ấn định mức bù rủi ro riêng đối với từng khoản vay Trong quá trình ấn định mức bù rủi ro, ngân hàng cũng tính đến các chi phí liên quan đến rủi ro như thuế và rủi ro phá sản – rủi ro phát sinh khi ngân hàng chấp nhận rủi ro khi cho vay Do đó, rủi ro tín dụng của ngân hàng sẽ tăng khi chỉ số nợ trên tổng tài sản tăng Hay nói cách khác, rủi ro tín dụng chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn của ngân hàng
Trang 372.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài về nhân tố đặc trưng của ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Xét về chi phí dự phòng và rủi ro tín dụng, Ahmed và ctg (1998) dựa trên số liệu báo cáo tài chính hợp nhất thường niên của 113 ngân hàng thu thập từ Cục dự trữ Liên bang Mỹ trong vòng 10 năm từ năm 1986 đến năm 1995 đã nghiên cứu tác động của các nhân tố rủi ro tín dụng, hiệu quản quản lý vốn, hiệu quả quản lý lợi nhuận đến chi phí dự phòng Một trong những kết luận của nghiên cứu cho thấy chi phí dự phòng phản ánh những thay đổi của chất lượng danh mục cho vay của ngân hàng
Ahmad và Ariff (2007) xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên dữ liệu từ năm 1996 đến năm 2002 của 23.499 ngân hàng ở 4 quốc gia phát triển (Úc, Pháp, Nhật, Mỹ)
và 5 quốc gia đang phát triển (Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico và Thái Lan) nhằm so sánh tác động của các nhân tố đặc trưng của ngân hàng đến rủi ro tín dụng trong các nền kinh tế khác nhau Nghiên cứu đã rút ra kết luận rằng khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng - được tính bằng tỷ lệ giữa tổng chi phí dự phòng và tổng tài sản - tăng lên cho thấy ngân hàng dự kiến khả năng rủi ro sẽ tăng đối với khoản vay
có nghĩa là rủi ro tín dụng sẽ có thể tăng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở cả hai nhóm ngân hàng, khi hiệu quả quản lý - được đo bằng tỷ lệ sinh lời từ cho vay trên tổng tài sản thể hiện khả năng ngân hàng sử dụng tài sản của mình để tạo ra thu nhập - càng cao cho thấy ngân hàng quản lý nguồn vốn sinh lợi càng hiệu quả, điều
đó đồng nghĩa với việc hạn chế rủi ro tín dụng Tuy nhiên, Ahmad và Ariff (2007) không phát hiện ra mối liên quan nào giữa hai yếu tố đòn bẩy tài chính và rủi ro tín dụng
Cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi phí dự phòng và rủi ro tín dụng, khi nghiên cứu riêng về ngân hàng Islam và các ngân hàng liên kết ở Malaysia năm
2003 bằng cách sử dụng mô hình hồi quy dự trên dữ liệu thu thập từ các báo cáo thường niên đã được kiểm toán từ năm 1996 đến năm 2002 của ngân hàng Islam và
Trang 386 ngân hàng liên kết bao gồm: Ambank, Maybank, Eon bank, Public bank, Affin bank và RHB bank, Amad (2003) đã đưa ra kết luận các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro đối với các ngân hàng này Nghiên cứu cho thấy dự phòng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều với rủi ro tín dụng, tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa thống kê
Khi nghiên cứu rủi ro và giá trị của ngân hàng ở các quốc gia thuộc Hiệp hội Thương mại Tự do Bắc Mỹ, Fisher, Gueyie và Ortiz (2000) cho thấy đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu, khi ngân hàng mở rộng quy mô cho vay, họ cần huy động vốn từ các nguồn bên ngoài Ngân hàng đi vay phải trả tiền lãi, phần tiền lãi này được tính vào lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho vay nhằm đảm bảo một khoảng chênh lệch lãi cho ngân hàng Đòn bẩy tài chính càng lớn cho thấy các khoản vay của ngân hàng càng nhiều, tiền lãi ngân hàng phải trả càng tăng kéo theo lãi suất cho vay cũng tăng theo Khi lãi suất cho vay quá cao, người vay gặp khó khăn trong việc trả nợ cho ngân hàng dẫn đến rủi ro tín dụng Do đó, đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng
Xét về nguồn vốn ngân hàng, Cummins và Sommer (1996) cho rằng các ngân hàng
có nguồn vốn mạnh càng chịu nhiều rủi ro hơn Các ngân hàng dùng nguồn vốn của mình để bù đắp tổn thất Khi rủi ro xảy ra, các ngân hàng cần tăng vốn để bù đắp cho rủi ro đó Nguồn vốn này là vốn của chủ ngân hàng, do đó ngân hàng không chịu áp lực trả lãi, do đó đôi khi tạo tâm lý ỷ lại Ngân hàng có vốn mạnh sẵn sàng mạo hiểm khi đồng ý cho vay với rủi ro cao với hi vọng sẽ thu lại khoản thu nhập đáng kể vì họ có sẵn nguồn vốn lớn thể bù đắp khi rủi ro tín dụng xảy ra
Mặt khác, quy mô ngân hàng cũng có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Allen và Robert (1997) cho rằng quy mô ngân hàng càng nhỏ thì rủi ro tín dụng càng tăng
Lý do là khi quy mô ngân hàng giảm, ngân hàng có khuynh hướng muốn mở rộng
Trang 39hơn nguồn vốn của mình Do đó, họ sẵn sàng mạo hiểm khi chấp nhận cho vay với rủi ro cao với mong muốn thu lại được khoản lợi nhuận lớn từ các khoản vay đó
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam Vì vậy, vấn đề nợ xấu và rủi ro tín dụng ngày càng được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm
Lê Thanh Ngọc, Đặng Trí Dũng và Lê Nguyễn Minh Phương (2015) thông qua phương pháp phân tích tác động cố định đối với các số liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 15 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2014 cho thấy đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa tác động đến sự thay đổi của rủi ro tín dụng, đồng thời chứng minh vốn không có tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu cũng cho thấy sự gia tăng quy mô chỉ có tác động đến vốn chủ sở hữu chứ không có tác động đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Tuy nhiên, Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép (2015) cho rằng trong các yếu
tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, quy mô có tương quan tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng Thông qua các số liệu từ các báo cáo thường niên của 155 quỹ tín dụng nhân dân trong giai đoạn 2010-2012 và sử dụng mô hình hiệu ứng cố định, nghiên cứu đã rút ra được 4 nhân tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các quỹ tín dụng này bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô, tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu cho thấy khi giá trị tổng tài sản tăng 1% thì tỷ lệ nợ xấu giảm 0,0481% và ngược lại Nói cách khác, quy mô ngân hàng càng tăng thì rủi ro tín dụng càng giảm và ngược lại
Xét về khía cạnh hiệu quả quản lý, bằng việc ước lượng theo phương pháp GMM dựa trên dữ liệu nội bộ ngân hàng được truy suất từ Bankscope và từ báo cáo tài
Trang 40chính đã kiểm toán của 26 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2005-2013, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hữu Thạch (2015) cũng cho rằng hiệu quả quản lý có quan hệ nghịch biến với rủi ro tín dụng Khi quản lý kém hiệu quả dẫn đến chi phí tăng cao và đưa đến nhiều nợ xấu hơn Tuy nhiên, dữ liệu từ mẫu nghiên cứu chưa cho ra ý nghĩa thống kê cho mối quan hệ này Cũng trong nghiên cứu này, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hữu Thạch (2015) phân tích kết quả hồi quy biến dự phòng rủi ro tín dụng tính bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản cho thấy chi phí dự phòng tác động ngược chiều với rủi ro tín dụng Tác giả cũng cho thấy tỷ lệ đòn bẩy và tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam có mối quan hệ nghịch biến với nhau Tuy nhiên, khi ngân hàng sử dụng vốn vay từ bên ngoài nhiều hơn thì rủi ro tín dụng lại không tăng cao hơn Theo tác giả, nguyên nhân của vấn đề này là do ở Việt Nam, các ngân hàng chủ yếu huy động vốn từ người dân với lãi suất không quá cao nên không tạo ra áp lực cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay hay cho vay dưới chuẩn Cũng trong nghiên cứu này, hai tác giả đã tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng ở mức ý nghĩa 1%
Nghiên cứu của Lê Thanh Ngọc, Đặng Trí Dũng và Lê Nguyễn Minh Phương (2015) cũng cho thấy tỷ suất lợi nhuận tính trên tổng tài sản (ROA) tỷ lệ nghịch đến
sự gia tăng rủi ro Các ngân hàng càng gia tăng lợi nhuận càng giảm rủi ro Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép trong nghiên cứu của mình năm 2015 cũng đồng quan điểm trên Tác giả đã chứng minh rằng khi ROA càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và ngược lại Nguyên nhân là vì “các tổ chức tín dụng có hiệu quả hoạt động cao thường là các tổ chức quản lý tốt việc đánh giá chất lượng tín dụng, tài sản đảm bảo và quản lý đối tượng vay Vì vậy, nợ xấu phát sinh sẽ giảm.” (Trương Đông Lộc và Nguyễn Văn Thép 2015)
Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của các nhân tố đặc trưng của ngân hàng đến rủi ro tín dụng có thể được thống kê ở bảng 2.1