1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) quản trị thanh khoản tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Vay từ công ty, vay từ thị trường tài chính trong nước, tín dụng quốc tế…  Các nguồn vốn khác: Bao gồm vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác để cho vay theo các chương trình

Trang 2

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THẨM DƯƠNG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Nguyễn Phúc Quý Thạnh

Sinh ngày 20 tháng 03 năm 1987 tại Bình Phước

Quê quán: Quảng Nam

Hiện công tác tại: Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM - Khoa Quản Trị Kinh Doanh

Là học viên cao học khoá XIII, lớp 13C1 của Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM

Đề tài: “Quản trị thanh khoản tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín”

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thẩm Dương

Luận văn được thực hiện tại trường ĐH Ngân hàng TP.HCM

Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập và chưa được công bố bất kỳ ở đâu; các số liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn trung thực và chính xác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi

Tác giả

Nguyễn Phúc Quý Thạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ

THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 1

1.1.2 Các chức năng của ngân hàng thương mại 2

1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 3

1.1.3.1 Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản 3

1.1.3.2 Nghiệp vụ ngoại bảng 5

1.2 TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN 5

1.2.1 Khái niệm thanh khoản 5

1.2.2 Đo lường thanh khoản 5

1.3 KHÁI NIỆM RỦI RO VÀ RỦI RO THANH KHOẢN 7

1.3.1 Khái niệm 7

1.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 7

1.3.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến ngân hàng 9

1.4 QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM 10

1.4.1 Khái niệm quản trị thanh khoản 10

1.4.2 Sự cần thiết của quản trị thanh khoản 11

1.4.3 Nội dung cơ bản của quản trị thanh khoản 11

1.4.3.1 Hoạch định chiến lược 11

1.4.3.2 Tổ chức thực hiện 14

1.4.3.3 Nội dung quản trị thanh khoản 16

Trang 5

1.4.3.4 Kiểm tra tình hình quản trị thanh khoản 24

1.5 KINH NGHIỆM CÁC NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN 25

1.5.1 Citigroup – Mô hình quản trị thanh khoản dựa trên số liệu tài khoản từ bảng cân đối tài sản 25

1.5.2 Standard Chartered Bank – Mô hình quản trị thanh khoản dựa vào dòng tiền (Cashflow Modelling) 26

1.5.3 J.P.Morgan – Mô hình quản trị thanh khoản có hiệu chỉnh các yếu tố thị trường 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 31

2.1 GIỚI THIỆU VỀ SACOMBANK VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỜI GIAN QUA 31

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển 31

2.1.2 Định hướng và chiến lược phát triển 32

2.1.3 Một số kết quả hoạt động chung 33

2.1.4 Mô hình tổ chức 35

2.1.5 Mô hình quản lí Sacombank 36

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI SACOMBANK 37

2.2.1 Chiến lược quản trị thanh khoản 37

2.2.2 Thực trạng áp dụng mô hình quản trị thanh khoản dựa trên bảng cân đối tài sản tại Sacombank 39

2.2.3 Tổ chức bộ máy quản trị thanh khoản 40

2.2.4 Quy trình thực hiện quản trị thanh khoản tại Sacombank 42

2.2.4.1 Xác định nhu cầu thanh khoản 42

Trang 6

2.2.4.2 Dự báo dự trữ 50

2.2.4.3 Xác định trạng thái thanh khoản ròng 52

2.2.4.4 Quyết định quản trị thanh khoản 53

2.2.5 Kiểm tra quá trình thực hiện QTTK 54

2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI SACOMBANK 54

2.3.1 Thành tựu đạt được 54

2.3.2 Các hạn chế trong việc quản trị thanh khoản tại Sacombank 55

2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 65

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SACOMBANK GIAI ĐOẠN 2011-2020 65

3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI SACOMBANK 68

3.2.1 Xem xét áp dụng mô hình QTTK dựa trên dòng tiền và mô hình định lượng có hiệu chỉnh yếu tố thị trường 68

3.2.2 Công tác tổ chức thực hiện 69

3.2.3 Hoàn thiện việc quản trị thanh khoản 70

3.2.3.1 Xác định cung cầu thanh khoản 70

3.2.3.2 Xác định mức dự trữ tối thiểu 71

3.2.3.3 Xác định trạng thái thanh khoản ròng 72

3.2.3.4 Các giải pháp đảm bảo cung cầu thanh khoản 72

3.2.4 Xây dựng cơ chế kiểm soát ALCO để nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị thanh khoản 77

Trang 7

3.2.5 Các giải pháp khác 78

3.2.5.1 Vận dụng các dấu hiệu nhận biết trong quản trị thanh khoản 78

3.2.5.2 Sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị thanh khoản từ các định chế tài chính hàng đầu thế giới 79

3.2.5.3 Xây dựng mối quan hệ với KH và các NH trong hệ thống 80

3.2.5.4 Nâng cao năng lực của nhân viên 80

3.2.5.5 Phát triển hệ thống công nghệ thông tin 82

3.3 KIẾN NGHỊ VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 83

3.4 KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG 87

3.5 KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại Quản trị thanh khoản Rủi ro thanh khoản

Tổ chức tín dụng Thương mại cổ phần Tài sản có

Tài sản nợ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

BẢNG BIỂU

STT THỨ TỰ

BẢNG

1 Bảng 1.2 Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng 19

2 Bảng 1.3 Phân loại vốn theo tính ổn định của nguồn vốn 20

3 Bảng 2.8 Các chỉ số an toàn vốn và tỷ lệ khả năng chi trả

4 Bảng 2.9 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN 51

5 Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 của Sacombank 67

HÌNH VẼ

STT THỨ TỰ

HÌNH

1 Hình 1.1 Quy trình quản trị thanh khoản 16

2 Hình 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ tối thiểu 21

3 Hình 1.5 Mô hình xác định trạng thái thanh khoản ròng 22

4 Hình 1.6 Mô hình quản trị thanh khoản của Citigroup 26

5 Hình 1.7 Mô hình quản trị thanh khoản của Standard

Chartered Bank

27

6 Hình 1.8 Mô hình quản trị thanh khoản của J.P Morgan 28

7 Hình 2.1 Mô hình tổ chức của Sacombank 35

8 Hình 2.2 Mô hình quản lý vốn tập trung của Sacombank 38

Trang 10

BIỂU ĐỒ

STT THỨ TỰ

BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.3 Chỉ số dự trữ sơ cấp của Sacombank, 2009

-2013

43

2 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu nguồn vốn huy động, 2009 -2013 44

3 Biểu đồ 2.5 Chỉ số cho vay/huy động của

4 Biểu đồ 2.6 Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn 46

5 Biểu đồ 2.7 Hệ số an toàn vốn của Sacombank, 2009 - 2013 48

6 Biểu đồ 2.10 Trạng thái thanh khoản ròng của Sacombank 52

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, quản trị thanh khoản luôn là chìa khoá quan trọng đảm bảo cho sự hoạt động an toàn và hiệu quả của các ngân hàng Quản trị thanh khoản tốt giúp các ngân hàng cân bằng được lợi nhuận và sự an toàn trong hoạt động Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, cơ hội và rủi

ro trong quản trị thanh khoản của các ngân hàng cũng gia tăng tương ứng Điều này càng nổi bật lên cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc đo lường nhu cầu thanh khoản và các chiến lược quản trị thanh khoản mang tính ổn định với chi phí hợp lý nhằm tài trợ cho hoạt động của các ngân hàng

Trên thế giới hiện nay, các cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công đã đẩy rất nhiều ngân hàng phải đối mặt với vấn đề thanh khoản.Nguy cơ phá sản và sụp đổ hệ thống cũng như bào mòn lợi nhuận không chỉ tác động đến các ngân hàng trên thế giới mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng của Việt Nam Hiện tại, các ngân hàng tại Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng dư thừa thanh khoản hệ thống do tăng trưởng tín dụng yếu mà nguyên nhân chính là do nợ xấu khiến lợi nhuận kì vọng của hệ thống ngân hàng sụt giảm đi kèm với những rủi ro mất thanh khoản cục bộ đã cho thấy vấn đề thanh khoản và quản trị thanh khoản của các ngân hàng có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là một trong những ngân hàng nhận thức rất sớm về tầm quan trọng của thanh khoản và quản trị thanh khoản.Nhờ đó, Sacombank đã có những chính sách cũng như chiến lược cụ thể để quản lý và tạo lợi thế canh tranh từ sức mạnh thanh khoản có được

Trên cơ sở vận dụng những kiếnthức được học vào điều kiện Ngân hàng

TMCP Sài Gòn Thương Tín, luận văn này bàn về “Quản trị thanh khoản tại Ngân

hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín”

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài “Quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Thương Tín” nhằm nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về thanh khoản, quản trị thanh khoản và thực trạng quản trị thanh khoản của Sacombank để từ đó thấy được những hạn chế và lợi thế trong quản trị thanh khoản của Sacombank hiện nay

Nghiên cứu những tiêu thức chung đánh giá quản trị thanh khoản của NHTM

để có những căn cứ đánh giá thực trạng quản trị thanh khoản tại Sacombank

Nghiên cứu thực trạng quản trị thanh khoản tại Sacombank trong thời gian qua để đề xuất những giải pháp nhằm tìm hướng đi quản trị thanh khoản đúng đắn, giải quyết những bất ổn trên con đường phát triển của Sacombank

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là Quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là giai đoạn 2009- 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:Phương pháp mô tả-giải thích, phương pháp so sánh-đối chiếu, phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp nghiên cứu tài liệu: sách, tạp chí chuyên ngành, bài viết nghiên cứu

5 Những kết quả đạt được của luận văn

Một là, phân tích nội dung cơ bản của thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng và quản trị thanh khoản

Hai là, đánh giá tính thanh khoản và quản trị thanh khoản tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, tìm ra những hạn chế, tồn tại và một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Trang 13

6 Nội dung kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Lý luận chung về ngân hàng thương mại, thanh khoản và quản trị thanh khoản tại các ngân hàng

Chương 2: Thực trạng quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Chương 3:Giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Trang 14

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau Qua hệ thống NHTM các chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, nhờ đó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng

luật pháp được dễ dàng hơn

Khái niệm NHTM Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền

tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính” Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "Ngân hàng thương mại

là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính

họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính" [32]

Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì ngân hàng thương mại

được định nghĩa như sau “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực

hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”[12] Trong đó quy định về ngân hàng

như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.”

Như vậy, NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường.Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung và sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội

Trang 15

1.1.2 Các chức năng của ngân hàng thương mại

Về cơ bản, NHTM có các chức năng chính sau:

- Chức năng trung gian: Cấu tạo của chức năng trung gian bao gồm:

 Trung gian tín dụng: NHTM đóng vai trò cầu nối giữa người thừa vốn và

người thiếu vốn Cụ thể, NHTM tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế

và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội

 Trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các

khách hàng bởi ngân hàng vừa là người giữ tiền vừa là người thanh toán, chi

hộ cho khách hàng Với chức năng này, hệ thống Ngân hàng thương mại đã góp phần phát triển nền kinh tế Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng

 Trung gian tài chính: Trong chức năng này, NHTM đón vai trò là người

giải quyết các bài toán tài chính cho các tổ chức Cụ thể, khi một tổ chức thực hiện việc phát hành trái phiếu, NHTM có thể đứng ra giúp tổ chức phát hành, bán hoặc thậm chí mua trái phiếu của tổ chức đó khi bán không hết

 Trung gian “dọc”: Nếu hình dung 3 chức năng trung gian trên của NHTM

(khi đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn) là trung gian “ngang”, thì chức năng trung gian “dọc” của NHTM chính là cầu nối giữa NHTW và công chúng Trong chức năng này, NHTM đóng vai trò là

cánh tay nối dài của NHTW trong việc thực thi các chính sách tiền tệ

- Chức năng tạo tiền: Chức năng này được hình thành trên cơ sở hai chức năng

trung gian tín dụng và trung gian thanh toán Từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư Với số tiền

Trang 16

này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho

vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác Với vòng quay của

vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng, ngân hàng thương

mại thực hiện được chức năng tạo tiền

1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản

- Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn của NHTM (Nghiệp vụ nợ - NVN):

Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM Hoạt động nguồn

vốn được phản ánh thông qua kết cấu nguồn vốn của NHTM, gồm:

 Vốn của ngân hàng: Ở Việt Nam, theo thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày

20 tháng 05 năm 2010 của Ngân hàng nhà nước bao gồm:

Vốn cấp 1: Vốn điều lệ thực có, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu

tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư vốn cổ phần theo

quy định

Vốn cấp 2: Quỹ dự phòng tài chính, phần giá trị tăng thêm của TSCĐ và

của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi

hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát hành có thời hạn dài, các giấy nợ thứ

cấp có thời hạn dài

 Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng rất lớn trong

hoạt động kinh doanh của NHTM gồm có: Tiền gửi không kỳ hạn (còn được

gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết

kiệm, nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu,

trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi,…

 Vốn đi vay: Trong trường hợp nguồn vốn tự có và huy động không đủ để đáp

ứng nhu cầu kinh doanh của mình, NTHM có thể đi vay từ các chủ thể sau:

 Vay từ Ngân hàng Trung Ương (NHTW) dưới hình thức tái cấp vốn (như

chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá ) vay thiếu hụt trong thanh

toán bù trừ, vay qua đêm, thấu chi…,

 Vay từ các tổ chức tín dụng khác qua thị trường liên ngân hàng, hợp đồng

mua lại

Trang 17

 Vay từ công ty, vay từ thị trường tài chính trong nước, tín dụng quốc tế…

 Các nguồn vốn khác: Bao gồm vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng, vốn hình thành từ trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp…

- Nghiệp vụ sử dụng vốn (Nghiệp vụ có - NVC):

Nghiệp vụ có của NHTM bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn của ngân hàng, gồm [5]:

 Thiết lập dự trữ: Đối với nguồn vốn của mình, NHTM không được sử dụng

toàn bộ cho hoạt động kinh doanh mà phải dành một phần nguồn vốn thích hợp cho dự trữ nhằm đáp ứng những yêu cầu như duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán của khách hàng, chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi, đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng, thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng,… Dự trữ có thể dưới dạng tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng khác

và các chứng khoán ngắn hạn, có tính lỏng cao để có thể chuyển thành tiền mặt nhanh chóng khi cần

 Nghiệp vụ tín dụng: Trong nghiệp vụ này, NHTM đóng vai trò là chủ nợ và

mục đích hướng đến là lãi vay Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán… Trong

đó, hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM truyền thống

 Nghiệp vụ đầu tƣ: Đối với nghiệp vụ này, NHTM đóng vai trò là ông chủ và

mục đích hướng đến chính là lợi nhuận của hoạt động đầu tư Với mong muốn sử dụng hiệu quả nguồn vốn và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng, NHTM sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình thức đầu tư như góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp, các TCTD khác, đầu tư vào chứng khoán và giấy tờ có giá

 Nghiệp vụ khác: Mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh

doanh, xây dựng trụ sở, hệ thống kho bãi và các chi phí khác

Trang 18

- Nghiệp vụ trung gian:

Nghiệp vụ trung gian bao gồm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng và các hoạt

động kinh doanh khác Đây là các sản phẩm dịch vụ khi ngân hàng cung cấp cho

khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí như dịch vụ ngân quỹ, dịch

vụ ủy thác, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo hiểm (Bancassurance), dịch vụ thông tin

tư vấn, dịch vụ giữ hộ (cho thuê ngăn tủ sắt), …

1.2 TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN

1.2.1 Khái niệm thanh khoản

Thanh khoản tuy không đóng vai trò quyết định trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, nhưng là một yếu tố quan trọng quyết định đến uy tín của ngân hàng

và có thể là yếu tố khai tử một ngân hàng nếu ngân hàng này thiếu tính thanh khoản

Khi nhìn từ góc độ tài sản: Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản nhanh với chi phí mất đi ít nhất Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí: Có sẵn thị trường để giao dịch, có sẵn số lượng, thời gian giao dịch phù hợp và giá cả hợp lý [8]

Dưới góc độ ngân hàng: Thanh khoản của một ngân hàng là khả năng thoả mãn các nhu cầu chi trả Ở đây, khả năng thoả mãn chính là việc ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác

1.2.2 Đo lường thanh khoản

Để đo lường thanh khoản người ta dùng thước trạng thái thanh khoản đó

Trang 19

NLP = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản + (dư)/ - (thiếu) dự trữ thanh khoản

chính là “trạng thái thanh khoản ròng” (NLP – Net Liquidity Position) Ở bất cứ

thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng lúc, tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau:

Ở đây xảy ra một trong ba trường hợp:

Nếu NLP<0 : Ngân hàng đang ở trạng thái “ Thâm hụt thanh khoản” Tức là

tại thời điểm đánh giá, tổng cầu thanh khoản vượt quá tổng cung thanh khoản

Nếu NLP>0 : Ngân hàng đang ở trạng thái “Thặng dư thanh khoản” Tức là

tại thời điểm đánh giá, tổng cung thanh khoản vượt quá tổng cầu thanh khoản

Nếu NLP= 0: Ngân hàng đang ở trạng thái cân bằng thanh khoản Tức là tại

thời điểm đánh giá, tổng cung và tổng cầu thanh khoản của ngân hàng bằng nhau

Trong đó:

- Cung thanh khoản gồm:

 Nhóm tiền gửi (khách hàng gửi tiền vào ngân hàng)

 Nhóm tín dụng (khách hàng thanh toán nợ vay

 Các nguồn thu từ bán sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

 Nâng vốn tự có (phát hành cổ phiếu, trái phiếu… ), phần góp vốn của

cổ đông

 Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng

 Nợ khác (vay nợ trên thị trường tài chính, vay NHNN)

- Cầu thanh khoản gồm:

 Khách hàng rút các khoản tiền gửi

 Nhu cầu vay hợp lý của khách hàng

 Thanh toán các khoản nợ đến hạn

 Chi phí hoạt động

 Lãi vay và phí dịch vụ trả cho NHNN, các TCTD khác

 Trả lãi tiền gửi

 Thanh toán cổ tức cho cổ đông, hoạt động đầu tư, mua cổ phiếu quỹ

Trang 20

1.3 KHÁI NIỆM RỦI RO VÀ RỦI RO THANH KHOẢN

1.3.1 Khái niệm

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: Được hiểu là “Những biến cố không mong

đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định”[5]

Khái niệm rủi ro thanh khoản: Cho đến thời điểm hiện tại, rủi ro thanh khoản

được định nghĩa có những điểm khác nhau theo từng quan điểm của từng tác giả:

Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng thiếu

ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay” [32]

Theo Rudolf Duttweiler“ Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực

hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn”[6]

Theo Benton E.Gup “Rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ

trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi

ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý, nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định.” [16]

Như vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về rủi ro thanh khoản, nhưng một cách đơn giản nhất có thể tổng hợp lại và nhìn từ góc độ NHTM, có thể hiểu: Rủi ro thanh khoản là biến cố phát sinh từ trạng thái mà NHTM không có được đủ vốn khả dụng (thừa cung thanh khoản) hoặc trạng thái thừa vốn (thiếu cầu thanh khoản) vào thời điểm mà NHTM cần để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, trạng thái này tác động xấu tới uy tín, thu nhập và khả năng thanh toán cuối cùng của NHTM

1.3.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

- Tín dụng: Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay

bất kỳ lúc nào trong thời hạn của nó Khi một cam kết tín dụng được người vay thực hiện thì ngân hàng phải đảm bảo tiền vay ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nếu không ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoản Đồng thời, nợ

Trang 21

xấu cũng là một trong các yếu tố bóp chết thanh khoản của ngân hàng Bên cạnh đó, việc khách hàng trả tiền vay cũng làm ngân hàng đối mặt với rủi ro thừa thanh khoản, chính là vấn đề nhức nhối của các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay

- Tiền gửi: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng có xu hướng

đầu tư vào các tài sản ít thanh khoản hơn hoặc các tài sản có kỳ hạn dài hơn Khi phát sinh nhu cầu rút tiền đột ngột buộc ngân hàng phải bán các tài sản này thì giá của nó của thể thấp hơn so với giá kỳ vọng khi đầu tư của ngân hàng Do đó, có thể

đe dọa khả năng thanh khoản của ngân hàng tại thời điểm đó Bên cạnh đó, cơ cấu khách hàng tiền gửi không hợp lý cũng ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng Việc tập trung quá lớn vào một đối tượng khách hàng gửi tiền cũng gây ra khả năng thâm hụt thanh khoản khi đối tượng thuộc khu vực này ồ ạt rút tiền cùng một lúc Ngoài ra, khi nguồn vốn huy động tăng mạnh mà cầu thanh khoản không tăng cũng

sẽ đẩy ngân hàng đến bài toán nan giải về thanh khoản

- Đầu tƣ: Trong danh mục tài sản của mình, ngân hàng thường đầu tư vào cổ

phiếu và trái phiếu, trong đó chủ yếu là trái phiếu chính phủ và/hoặc tín phiếu kho bạc Trái phiếu chính phủ/tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại là một nguồn cực kỳ quan trọng cho ngân hàng để nhận chiết khấu từ NHNN một khi thanh khoản có vấn đề Tuy nhiên, thực tế việc đầu tư trái phiếu chính phủ vẫn

có thể dẫn tới trạng thái thua lỗ nếu lãi suất biến động không như mong đợi Mặc dù trái phiếu chính phủ có thanh khoản rất cao nhưng trong những điều kiện cụ thể, nó cũng có thể không có thanh khoản Bên cạnh đó, việc đầu tư không hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt tài sản có, ảnh hưởng dòng tiền cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

- Chi tiêu: Các nhu cầu chi tiêu trong nội bộ ngân hàng (chi trả lương thưởng

cho cán bộ nhân viên, chi mua sắm, ) tạo nên áp lực căng thẳng nguồn vốn vào những hạn thanh toán Do đó, việc chi tiêu không hợp lý và không có kế hoạch phân

bổ cho chi tiêu sẽ dễ gây ra rủi ro thanh khoản

- Biến động của tình hình kinh tế vĩ mô: Tình hình kinh tế vĩ mô có ảnh

hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng cũng như ảnh hưởng tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng Trước tác động khủng hoảng kinh tế, các ngân hàng và tổ

Trang 22

chức tài chính lớn đã bị thua lỗ nặng nề và trở nên thiếu tính thanh khoản Tình hình kinh tế suy thoái cũng làm cho khả năng thanh khoản của các chủ thể trên thị trường trở nên suy yếu, nhất là các khách hàng trực tiếp của ngân hàng, do có tính liên kết nên nó làm cho các ngân hàng rơi vào tình trạng mất thanh khoản

- Chính sách tiền tệ của NHNN: Sự thay đổi của lãi suất có thể tác động

đến cả người gửi tiền và người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người

đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Như vậy, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng

1.3.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến ngân hàng

Ngoài chức năng cơ bản là trung gian tài chính thì ngân hàng còn giữ vai trò quan trọng trong quá trình quay vòng vốn cho nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi phát triển sản xuất do đó hậu quả của việc mất thanh khoản hệ thống là rất lớn:

- Ngân hàng có thể gặp các cản trở như: Chuyển hóa các tài sản có thanh khoản thành tiền với chi phí cao; tiếp cận với thị trường tiền tệ để tăng vốn với những điều kiện khắt khe hơn

- Ngân hàng đối mặt với nguy cơ phá sản khi không chống đỡ được nhu cầu rút tiền ồ ạt của khách hàng Điều này sẽ gây xáo trộn và hoảng loạn thị trường tài chính, ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế

- Khi thị trường mất cân bằng, người gửi tiền có khuynh hướng rút tiền của mình ra khỏi ngân hàng để bảo toàn vốn Các NHTM bắt đầu thiếu vốn sẽ rút vốn của mình từ các ngân hàng khác và hậu quả là gây thiếu vốn cho cả hệ thống

- Nếu ngân hàng tiếp tục hoạt động, người gửi tiền bắt đầu mất niềm tin vào ngân hàng, và họ sẽ tìm đến một ngân hàng khác an toàn hơn để đầu tư Điều này gây xáo trộn kì hạn dòng tiền mất kiểm soát độ lệch kì hạn của hệ thống

Hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong một môi trường kinh doanh có tính liên kết cao do đặc thù của kinh doanh tiền tệ Do vậy, khi một ngân hàng rơi vào tình trạng mất thanh khoản thì có khả năng kéo cả hệ thống vào tình trạng mất khả năng thanh toán Lúc này, NHNN với vai trò là người cho vay cuối cùng cũng khó

Trang 23

có thể đáp ứng đủ vốn cho cả nền kinh tế, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng

vỡ nợ dây chuyền theo hiệu ứng đô-mi-nô

1.4 QUẢN TRỊ THANH KHOẢN (QTTK) TẠI CÁC NHTM

1.4.1 Khái niệm quản trị thanh khoản

Quản trị thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc thanh khoản (tính lỏng) của tài sản và cấu trúc danh mục của nguồn vốn [5]

- Bản chất của công tác QTTK được thể hiện ở các nội dung sau:

Thứ nhất, rất ít khi tại một thời điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh

khoản Do đó, ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với việc giải quyết thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản

Thứ hai, thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với

nhau Một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của nó

sẽ càng thấp và ngược lại Đồng thời, một nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí huy động lớn nên sẽ làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay

- Các nguyên tắc trong quản trị thanh khoản:

 Người quản trị thanh khoản thường xuyên bám sát hoạt động của các bộ phận chịu trách nhiệm huy động vốn và sử dụng vốn trong phạm vi ngân hàng và điều phối hoạt động các bộ phận này với nhau

 Nhà quản trị thanh khoản cần phải biết trước khả năng ở đâu và khi nào khách hàng gửi tiền/ vay tiền dự định rút vốn hoặc bổ sung thêm tiền gửi/ trả

nợ Điều này cho phép người quản trị thanh khoản hoạch định đón đầu để xử

lý hiệu quả hơn phần thanh khoản thặng dư hay thâm hụt đang xuất hiện

 Nhu cầu thanh khoản của ngân hàng và các quyết định liên quan đến vấn đề thanh khoản phải được phân tích trên cơ sở liên tục để tránh kéo dài một trong hai trạng thái: thặng dư hoặc thâm hụt thanh khoản phải được xử lý nhanh chóng nhằm tránh sự khẩn trương gây gắt trong việc phải vay mượn hay bán tài sản

Trang 24

1.4.2 Sự cần thiết của quản trị thanh khoản

Đảm bảo thanh khoản không đơn giản là ngân hàng dự trữ một mức thanh khoản lớn để đủ thỏa mãn cho mọi nhu cầu phát sinh mà là sự kết hợp giữa sự đảm bảo thanh khoản và chi phí cho việc duy trì thanh khoản đó được tính toán và cân nhắc sao cho thật tối ưu nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận là tốt nhất Bên cạnh đó những trục trặc về thanh khoản sẽ làm tăng chi phí huy động, giảm thu nhập của ngân hàng, làm giảm giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Thiếu hụt thanh khoản nếu kéo dài, chậm được khắc phục có thể làm mất uy tín của ngân hàng trên thị trường, gây trở ngại lớn trong quá trình ngân hàng huy động vốn và hoạt động tín dụng, giảm thấp khả năng sinh lời, trong trường hợp xấu có thể đưa ngân hàng đến

bờ vực phá sản nếu nghĩa vụ thanh toán tức thời là quá lớn và quá sức đối với ngân hàng khi đã áp dụng các biện pháp giải cứu có thể Do đó, QTTK là hết sức quan trọng và cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nền tài chính nước ta bước vào thời kì hội nhập sâu rộng và đầy cạnh tranh

1.4.3 Nội dung cơ bản của quản trị thanh khoản

1.4.3.1 Hoạch định chiến lược

Việc xác định ngân hàng sẽ đi theo chiến lược quản trị thanh khoản nào là hết sức quan trọng Mỗi phương pháp quản trị đều mang tới những lợi ích khác nhau.Vì vậy, nhất thiết phải lựa chọn phương pháp quản trị nào để phù hợp nhất với tình hình của tổ chức Nhìn chung, có ba chiến lược quản trị thanh khoản sau đây:

- Chiến lƣợc quản trị thanh khoản tài sản “Có”:

Đây là phương pháp tiếp cận cổ điển nhất Ở hình thức đơn giản, chiến lược

này kêu gọi ngân hàng tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao Khi yêu cầu thanh khoản xuất hiện thì ngân hàng sẽ bán một số tài sản đến khi nào đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản đó Tài sản thanh khoản phải có các đặc điểm sau:

 Phổ biến trên thị trường và có khả năng chuyển hóa ra tiền một cách nhanh chóng với chi phí hợp lý

 Giá cả ổn định để không ảnh hưởng đến tốc độ và doanh thu bán tài sản

Trang 25

 Người bán có thể mua lại với giá không cao hơn nhiều so với giá đã bán để khôi phục lại khoản đầu tư ban đầu

Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao gồm: Trái phiếu kho bạc, các khoản vay ngân hàng trung ương, trái phiếu đô thị, tiền gửi tại các ngân hàng khác, chứng khoán của các cơ quan chính phủ, chấp phiếu của ngân hàng khác Như vậy, trong chiến lược quản trị thanh khoản tài sản “Có”, một ngân hàng được coi là quản trị thanh khoản tốt nếu ngân hàng này có thể tiếp cận nguồn cung thanh khoản với chi phí hợp lý, số lượng vừa đủ theo yêu cầu và kịp thời

Chiến lược này có ưu điểm là ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc tự đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho mình mà không bị lệ thuộc vào các chủ thể khác Tuy nhiên cũng có những nhược điểm sau:

 Một khi bán tài sản tức là ngân hàng mất đi thu nhập mà các tài sản này tạo ra Như vậy, ngân hàng phải chịu chi phí cơ hội khi bán đi các tài sản đã đầu tư

 Phần lớn các trường hợp khi bán tài sản đều tốn kém chi phí giao dịch như hoa hồng trả cho người môi giới

 Tổn thất càng lớn nếu các tài sản đem bán bị giảm giá mạnh trên thị trường, hoặc

bị người mua ép giá khi ngân hàng thiếu thanh khoản

 Ngân hàng phải đầu tư nhiều các tài sản có tính thanh khoản cao, khả năng sinh lời thấp nên ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn

- Chiến lƣợc quản trị thanh khoản tài sản “Nợ”:

Đây là chiến lược quản trị thanh khoản phổ biến được các ngân hàng lớn sử dụng vào những năm 1980s Trong chiến lược này, nhu cầu thanh khoản được đáp ứng bằng cách vay mượn trên thị trường tiền tệ chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và chỉ thực hiện khi có nhu cầu thanh khoản phát sinh

Nguồn tài trợ cho chiến lược này thường bao gồm: Vay qua đêm, vay ngân hàng trung ương, bán các hợp đồng mua lại, phát hành chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng mệnh giá lớn, Chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên tài sản

“Nợ” được các ngân hàng lớn sử dụng rộng rãi và có thể lên đến 100% nhu cầu thanh khoản

Trang 26

Nhược điểm của chiến lược này là ngân hàng bị phụ thuộc vào thị trường tiền

tệ khi đáp ứng nhu cầu thanh khoản (nhưng đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cao nhất) do sự biến động về khả năng cho vay và lãi suất trên thị trường tiền tệ Hơn nữa, một ngân hàng vay mượn quá nhiều thường bị đánh giá là có khó khăn về tài chính, khi thông tin này lan rộng ra, những khách hàng gửi tiền sẽ rút vốn hàng loạt hoặc ngân hàng phải huy động vốn với chi phí cao gấp nhiều lần Cùng lúc đó, các định chế tài chính khác, để tránh rủi ro có thể gặp phải, sẽ thận trọng, dè dặt hơn trong việc tài trợ vốn cho ngân hàng này để giải quyết khó khăn về thanh khoản

- Chiến lƣợc quản trị thanh khoản kết hợp

Cả hai chiến lược quản trị thanh khoản tài sản “Có” và tài sản “Nợ” đều có hạn chế: Chịu chi phí cơ hội khi bán các tài sản dự trữ hoặc bị phụ thuộc quá nhiều vào thị trường tiền tệ Do đó, phần lớn các ngân hàng thường dung hoà và kết hợp

cả hai chiến lược trên để tạo ra chiến lược quản trị thanh khoản kết hợp

Định hướng của chiến lược này là: Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên, hàng ngày sẽ được đáp ứng bằng tài sản dự trữ như tiền mặt, chứng khoán khả mại, tiền gửi tại các ngân hàng khác các nhu cầu thanh khoản không thường xuyên nhưng có thể dự đoán trước như nhu cầu thanh khoản theo thời vụ, chu kỳ, xu hướng sẽ được đáp ứng bằng các thoả thuận trước về hạn mức tín dụng từ các ngân hàng đại lý hoặc nhà cung ứng vốn khác; các nhu cầu thanh khoản đột xuất không thể dự báo được đáp ứng từ việc vay mượn trên thị trường tiền tệ; các nhu cầu thanh khoản dài hạn được hoạch định và nguồn tài trợ là các khoản vay ngắn và trung hạn, chứng khoán có thể chuyển hoá thành tiền

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các nguồn dự trữ khác nhau khi vận dụng chiến lược quản trị thanh khoản kết hợp:

 Tính cấp thiết của nhu cầu thanh khoản: Một nhu cầu thanh khoản tức

thời sẽ được tài trợ bằng ngân quỹ dự trữ, vay qua đêm hoặc tái chiết khấu tại NHNN

 Thời hạn nhu cầu thanh khoản: Một nhu cầu thanh khoản kéo dài vài ngày,

vài tuần hoặc vài tháng có thể được tài trợ bằng nguồn bán tài sản “Có” hay vay trên thị trường tiền tệ

Trang 27

 Khả năng thâm nhập thị trường tài sản “Nợ”: Thường chỉ có các ngân

hàng lớn mới có thể tham gia thị trường tài sản “Nợ” cho nên nhà quản trị phải giới hạn phạm vi lựa chọn các thị trường tài sản “Nợ” mà ngân hàng muốn tham gia

 Chi phí và rủi ro: Lãi suất các nguồn vốn trên thị trường thay đổi hàng ngày

do đó các ngân hàng phải thường xuyên theo dõi thị trường để nắm bắt được các thông tin về lãi suất và các điều kiện cho vay đi kèm

 Triển vọng chính sách của ngân hàng nhà nước và các khoản vay mượn của kho bạc: Nhà quản trị cũng cần nghiên cứu động thái của ngân hàng

trung ương, tình hình ngân sách nhà nước để định hướng điều kiện tín dụng

và dự đoán lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ thay đổi ra sao Chẳng hạn, một

kế hoạch huy động vốn lớn của chính phủ hoặc việc thực thi chính sách tiền

tệ thắt chặt sẽ làm giảm hạn mức tín dụng và gia tăng lãi suất Khi đó, quản trị thanh khoản gặp khó khăn hơn và chi phí lãi vay của ngân hàng cũng tăng tương ứng

 Các quy định liên quan đến nguồn vốn thanh khoản: Các quy định của

các cơ quan quản lý ngân hàng ngày càng có xu hướng quốc tế hoá nên ngân hàng trong nước phải vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thông lệ chung

1.4.3.2 Tổ chức thực hiện

Chiến lược quản lý thanh khoản cần được phổ biến trong toàn ngân hàng Tất

cả các đơn vị kinh doanh trong ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh khoản cần nhận thức đầy đủ về chiến lược thanh khoản và hoạt động trong khuôn khổ những chính sách, quy trình và giới hạn được phép

- Cơ cấu tổ chức quản trị thanh khoản:

Quản trị thanh khoản nằm trong thể thống nhất của hệ thống quản trị, do đó QTTK cần được thực hiện bởi các bộ phận sau:

 Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm thông qua các chính sách về thanh khoản

do các bộ phận chức năng đề xuất và đưa ra hướng đi chung cho hoạt động QTTK tại ngân hàng

Trang 28

 Hội đồng quản lý rủi ro trực thuộc hội đồng quản trị thực hiện giám sát và đưa ra các chính sách tổng thể, các hạn mức về rủi ro của ngân hàng, trong

đó phải bao gồm RRTK Hội đồng này còn chịu trách nhiệm hỗ trợ HĐQT trong việc xác định mức độ rủi ro cho toàn ngân hàng

 Hệ thống quản trị tài sản nợ- có có trách nhiệm quản lý cấu trúc bảng cân đối

để đạt được lợi nhuận lớn nhất mà vẫn đảm bảo tuân thủ định hướng chung của ngân hàng, từ đó có vai trò chính trong quản trị thanh khoản của ngân hàng Cán bộ các bộ phận liên quan trong hệ thống này gồm:

 Hội đồng quản lý tài sản nợ - có (ALCO): Bao gồm ALCO ở cấp lãnh đạo (Board ALCO) và ALCO ở cấp quản lý (Management ALCO) Các ngân hàng nhỏ và vừa hoặc chỉ hoạt động tại một quốc gia có thể chỉ xây dựng một ALCO ở cấp quản lý

 Bộ phận ALM ( ALM unit/ desk) là nơi ứng dụng và phát triển chương trình quản trị, nhận biết, đo lường và theo dõi trạng thái bảng cân đối cũng như nguy cơ thanh khoản từ hoạt động kinh doanh của phòng nguồn vốn, kiểm định tính thích hợp của các chính sách và quy trình quản trị thanh khoản hằng năm cũng như đưa ra các đề xuất về hạn mức thanh khoản ALM cũng là bộ phận thực hiện các cuộc thử nghiệm khả năng chi trả và phân tích tình huống ALM có thể nằm trong khối tài chính, khối quản trị rủi ro hoặc khối nguồn vốn của ngân hàng, tuy nhiên lí tưởng nhất vẫn là thuộc khối tài chính hoặc khối nguồn vốn

 Khối nguồn vốn dưới dự chỉ đạo của Ban điều hành, có thể bao gồm (nhưng không giới hạn) các phòng kinh doanh và bộ phận ALM Các

Trang 29

phòng kinh doanh là nơi chịu trách nhiệm thực hiện kinh doanh vốn, tiền

tệ của ngân hàng, qua đó cung cấp số liệu thường xuyên cho bộ phận ALM

 Bộ phận kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập so với hệ thống QLRR, thực hiện kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của các chính sách nhằm đảm bảo tính tuân thủ của quy trình QLRR, chất lượng và nội dung phương pháp

đo lường

 Hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin quản lý cần được sử dụng để kiểm tra mức độ tuân thủ các chính sách, quy định và giới hạn mà ngân hàng đưa ra Việc báo cáo kết quả đo lường rủi ro cần được thực hiện một cách kịp thời và so sánh khả năng thanh khoản hiện tại với các giới hạn an toàn Hệ thống thông tin cũng cần cho phép các cán bộ quản lý đánh giá mức độ của các xu hướng về rủi ro thanh khoản tổng hợp của ngân hàng

1.4.3.3 Nội dung Quản trị thanh khoản

Hình 1.1: Quy trình quản trị thanh khoản

Nguồn: PGS.TS Trần Huy Hoàng (2011), Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại [5]

- Xác định cung cầu thanh khoản

Hiện tại, các phương pháp đo lường thanh khoản đã và đang được phát triển

như: Phương pháp chỉ số tài chính về thanh khoản, phương pháp xác xuất theo tình

huống, phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn và phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn [4] Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả

định là ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại

Trang 30

một thời điểm nhất định Đó chính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi ngân hàng nhận được thông tin mới

 Phương pháp chỉ số tài chính về thanh khoản:

Việc sử dụng các chỉ số tài chính cũng là một cách để ước tính yêu cầu thanh khoản dựa trên kinh nghiệm và mức bình quân ngành Mỗi chỉ số thể hiện một khía cạnh về năng lực thanh khoản của ngân hàng:

Chỉ số trạng thái tiền mặt =( ( tiền mặt+ tiền gửi NHNN + tiền gửi các TCTD khác)/ tổng tài sản ) x100%

Về mặt lý thuyết, chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời.Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này trên thực tế quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống bởi vì các tài sản tiền mặt hoặc tương đương tiền thường ít đem lại lợi tức cao cho ngân hàng

Chỉ số chứng khoán thanh khoản = (chứng khoán chính phủ/ tổng tài sản) x100%:

Các chứng khoán chính phủ bao gồm các trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu kho bạc là những chứng khoán có độ thanh khoản cao nhất Nếu chỉ tiêu chứng khoán

thanh khoản càng lớn thì rủi ro thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt càng giảm

Chỉ số trạng thái ròng của thị trường liên ngân hàng = (cho vay liên ngân hàng – vay liên ngân hàng)/ tổng tài sản

Chỉ số tiền nóng = Tài sản trên TTTT/ Vốn trên TTTT

Chỉ số tiền gửi môi giới = Tiền gửi môi giới/ Tổng tiền gửi

Trong đó Tiền gửi môi giới bao gồm các khoản tiền gửi do những người môi giới chứng khoán thay mặt khách hàng gửi vào để hưởng lãi suất Tiền gửi môi

Trang 31

giới rất nhạy cảm với lãi suất do đó chỉ số này càng cao thì ngân hàng đối mặt với nguy cơ về thanh khoản càng lớn

Chỉ số tiền gửi cơ sở = Tiền gửi cơ sở / Tổng tài sản

Trong đó tiền gửi cơ sở bằng tổng tiền gửi trừ đi các khoản tiền gửi có giá trị lớn Tiền gửi cơ sở thường có quy mô nhỏ của khách hàng và ít bị rút vốn bất thường => Có tính ổn định khá cao

Chỉ số cấu trúc tiền gửi = Tiền gửi giao dịch/ Tiền gửi kỳ hạn

Tỷ lệ này đo lường tính ổn định của cơ sở tiền gửi mà ngân hàng sở hữu Tỷ

lệ này thấp thể hiện tính ổn định cao hơn của vốn tiền gửi và ngược lại

 Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn:

Phương pháp tiếp cận vốn và sử dụng vốn dựa trên một thực tế là: Khả năng thanh khoản của ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm Ngược lại, nó giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng.Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng đều phải đối mặt với khe hở thanh khoản Các giai đoạn chính trong phương pháp này gồm:

Giai đoạn 1: Ước lượng nhu cầu vay vốn và lượng tiền gửi trong giai

đoạn ngân hàng ước tính trạng thái thanh khoản (giai đoạn kế hoạch)

Giai đoạn 2: Tính toán những thay đổi dự tính về cho vay và tiền gửi

trong giai đoạn kế hoạch Trong đó:

Thay đổi dự tính tổng nguồn vốn huy động là một hàm của: Tốc độ tăng trưởng dự tính trong thu nhập các nhân; Mức tăng trưởng dự tính trong doanh thu bán lẻ năm; Mức tăng cung tiền của NHNN; Tỷ lệ thu nhập dự tính từ tiền gửi trên thị trường tiền tệ; Tỷ lệ lạm phát dự tính

Thay đổi dự tính của tín dụng là một hàm của: Tăng trưởng dự tính kinh tế nơi ngân hàng hoạt động; Thu nhập của công ty; Mức tăng cung tiền của NHNN; Lãi suất cho vay; Tỷ lệ lạm phát dự tính

NLP = Dự báo thay đổi nguồn vốn huy động – Dự báo thay đổi tín dụng

Trang 32

Giai đoạn 3: Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng (trên

cơ sở so sánh mức độ thay đổi dự tính trong cho vay và trong tiền gửi) Ví dụ:

Bảng 1.2: Ước lượng trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng

Tại đây, nhà quản trị thanh khoản của ngân hàng sẽ lập kế hoạch về các nguồn sẽ được sử dụng trong thời gian sắp tới Đầu tiên là đánh giá dự trữ của ngân hàng về tài sản thanh khoản có thể sử dụng và sau đó quyết định những nguồn vốn

mà ngân hàng có thể sẽ huy động

 Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn:

Phương pháp này dựa trên sự phân chia nguồn vốn theo khả năng có thể rút ra khỏi ngân hàng Trước hết, tổng nguồn vốn của ngân hàng bị chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút khỏi ngân hàng (thông thường là ba nhóm: Vốn nóng, vốn kém ổn định và vốn ổn định)

Tổng nhu cầu thanh khoản (TK) sẽ được tín theo công thức:

Trong đó:

 Nhu cầu thanh khoản nguồn vốn = 𝒏 [𝐓𝐋𝐢 ∗ 𝐕𝐢 − 𝐃𝐛𝐢

Tli: tỷ lệ dự trữ thanh khoản của nguồn vốn huy động thứ i

Vi: Số dư của nguồn vốn huy động thứ i

Tổng nhu cầu TK = Nhu cầu TK nguồn vốn + Nhu cầu TK tiền vay

Trang 33

Dbi: Dự trữ bắt buộc của nguồn vốn thứ i

Ví dụ:

Bảng 1.3: Phân loại vốn theo khả năng ổn định của nguồn vốn

Nhu cầu thanh khoản nguồn vốn = 0.90*(Nguồn vốn nóng – Dự trữ bắt buộc) + 0.3*(Nguồn vốn kém ổn định – Dự trữ bắt buộc) + 0.15*(Nguồn vốn ổn định – Dự trữ bắt buộc)

Nhu cầu thanh khoản cho vay = Nhu cầu cho vay tối đa * (1 + Mức tăng trưởng cho vay) – Dư nợ hiện tại

Đi sâu vào phương pháp này, nhà quản trị sẽ cố gắng làm rõ trạng thái thanh khoản tốt nhất và xấu nhất tiềm năng nhất mà ngân hàng có thể gặp phải và phân bổ xác suất cho tất cả các trường hợp cụ thể:

Trường hợp trạng thái thanh khoản xấu nhất: Là khi tăng trưởng trong tiền

gửi giảm đáng kể so với dự tính của nhà quản lý ngân hàng và tổng mức tiền gửi có thể thấp nhất từ trước đến nay Đồng thời nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng chất lượng cao lại tăng đáng kể và tăng đến mức cao nhất từ trước đến giờ Trong trường hợp này, dự trữ thanh khoản khả dụng của ngân hàng phải chịu áp lực tối đa,

vì tăng trưởng trong tiền gửi không đủ tài trợ cho các yêu cầu vay vốn Do vậy, nhà quản lý thanh khoản phải chuẩn bị cho trạng thái thâm hụt thanh khoản đáng kể và cần phải lập kế hoạch tăng nguồn thanh khoản

Trường hợp thanh khoản ở trạng thái tốt nhất: Là khi lượng tiền gửi vượt

quá dự tính của các nhà quản lý và đạt mức cao nhất trong lịch sử Hơn nữa, giả sử nhu cầu vay vốn hạ thấp đến mức ngoài dự tính của nhà quản trị và thấp nhất từ trước đến giờ.Trong trường hợp này, áp lực đối với dự trữ thanh khoản là thấp nhất bởi vì tăng trưởng của tiền gửi có thể đáp ứng hầu hết toàn bộ yêu cầu xin vay chất

Trang 34

lượng cao Do vậy, khả năng về thặng dư thanh khoản là hoàn toàn có thể xảy ra Nhà quản lý thanh khoản phải có kế hoạch đầu tư phần vốn thặng dư nhằm tối đa hóa thu nhập cho ngân hàng

Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận cấu trúc nguồn vốn này là những ước lượng mang tính chủ quan và cơ bản dựa vào kinh nghiệm của nhà quản lý Vì vậy, nghiên cứu phương pháp này, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng làm rõ trạng thái thanh khoản ở mức tốt nhất hay xấu nhất từ đó có những quyết định đúng hướng nhằm cân bằng trạng thái thanh khoản

- Xác định mức dự trữ tối thiểu

Sau khi xác định cung cầu thanh khoản, cần tiến hành xác đinh mức dự trữ tối thiểu dựa theo mô hình sau:

Hình 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức dự trữ tối thiểu của TCTD

Nguồn: PGS.TS Trần Huy Hoàng (2011), Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại [5]

Đối với dự trữ bắt buộc và tỷ lệ an toàn do NHNN quy định bắt buộc các TCTD phải tuân theo Riêng chính sách dự trữ của từng TCTD thì các ngân hàng có thể linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngân hàng

Các dự trữ này có thể là dự trữ sơ cấp hoặc thứ cấp:

 Dự trữ sơ cấp là các khoản mục về ngân quỹ tiền mặt, tiền gửi ở NHTW, tiền gửi ở các ngân hàng khác Các khoản dự trữ này được sử dụng để dự trữ theo quy định của NHTW và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng

Trang 35

 Dự trữ thứ cấp bao gồm các loại chứng khoản có khả năng chuyển thành tiền

dễ dàng như: trái phiếu kho bạc, giấy chấp nhận trả tiền của ngân hàng…Dự trữ thứ cấp được dùng để hỗ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước

- Xác định trạng thái thanh khoản ròng

Hình 1.5 Mô hình xác định trạng thái thanh khoản ròng của NH

Nguồn: Rudolf Duttweiler, Quản lý thanh khoản trong ngân hàng [6]

Sau khi xác định cung cầu thanh khoản và các mức dự trữ cung ứng cho thanh khoản NH cần tiến hành xác định trạng thái thanh khoản của NH bằng cách tính sau đây:

Sau khi đã xác định được trạng thái thanh khoản ròng, ngân hàng sẽ thực hiện các quyết định đáp ứng nhu cầu thanh khoản:

 Các biện pháp phòng ngừa: Nếu nhìn một cách tổng thể, rủi ro thanh khoản

là một hàm gồm nhiều biến, hay nói cách khác rủi ro thanh khoản chính là cái biểu hiện ra bên ngoài của nhiều nguyên nhân (rủi ro tín dụng, tiền gửi,…)

Do vậy để phòng ngừa rủi ro thanh khoản, ngân hàng cần khắc phục các nguyên nhân trước:

Nhóm tín dụng:

o Trước hết, ngân hàng cần hoàn thiện chính sách tín dụng (thiết lập danh mục cho vay hợp lý, chính sách khách hàng và chính sách lãi suất linh hoạt, đa dạng hoá sản phẩm cho vay, cụ thể hoá chính sách TSĐB…) NLP = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản + (dư)/ - (thiếu) dự trữ thanh khoản

Trang 36

o Thứ hai, ngân hàng cần chuẩn hoá quy trình cho vay (cả các giai đoạn trước, trong và sau khi cho vay)

o Thứ ba, ngân hàng cần hoàn thiện các công tác xây dựng hệ thống nhận biết dấu hiệu rủi ro; thành lập bộ phận nghiên cứu, phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô; hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ,

o Cuối cùng là công tác hạn chế, bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra (Xử lý nợ

có vấn đề; Sử dụng các công cụ bảo hiểm và bảo đảm tiền vay; Thực hiện nghiêm túc việc phân loại nợ và trích lập dự phòng )

Nhóm đầu tƣ: Hạn chế việc đầu tư dàn trải, đa ngành Ngân hàng cần cân

đối lại danh mục đầu tư của mình sao cho cân đối và hợp lý bởi vì việc đầu

tư dàn trải, không hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt tài sản có, ảnh

hưởng đến dòng tiền kinh doanh

Nhóm tiền gửi:

o Đẩy mạnh khuyến mãi cho khách hàng khi gửi tiết kiệm tại ngân hàng để thu hút khách hàng gửi tiền nhiều hơn, cần đẩy mạnh các chương trình định hướng thu hút tiền gửi

o Cần quan tâm hơn tới những việc huy động trung và dài hạn bằng cách có những sản phẩm tiết kiệm trung và dài hạn hấp dẫn Đồng thời, ngân hàng cần có sự quan tâm thích đáng đến nguồn vốn từ các doanh nghiệp

và những tổ chức tín dụng khác, không những trong nước mà cả ở ngoài nước Đây là nguồn cung vốn rất quan trọng giúp ngân hàng đảm bảo thanh khoản cũng như để đáp ứng cho nhu cầu tài trợ của mình Cho nên, ngân hàng cần khai thác nguồn vốn này bằng cách tiếp tục mở rộng quan

hệ với các ngân hàng trong nước và ngoài nước, nâng cao uy tín của mình trong việc vay trả cả gốc và lãi

o Ngân hàng phải đảm bảo tốt cho khách hàng vấn đề bảo hiểm tiền gửi Một bộ phận khách hàng, đặc biệt là những khách hàng cao tuổi rất quan tâm đến vấn đề an toàn khi gửi tiền Nếu vấn đề này không được chú trọng, ngân hàng sẽ mất đi một số lượng khách hàng không nhỏ

Trang 37

o Không chỉ mở rộng hình thức gửi tiết kiệm, ngân hàng cần chú trọng phát triển huy động bằng chứng khoán như kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi cho nhu cầu ngắn hạn, và trái phiếu cho nhu cầu dài hạn Nếu làm tốt, đây sẽ là một kênh huy động rất hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường

 Các biện pháp tài trợ: Mặc dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa,

nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra Khi đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý Sau đó,

cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp

Thặng dƣ thanh khoản: xem xét việc đầu tư tạm thời để sinh lợi

Thâm hụt thanh khoản: Các biện pháp được chia làm hai nhóm: Tự khắc

phục và chuyển giao rủi ro

o Tự khắc phục: tự ngân hàng tài trợ cho sự thiếu hụt thanh khoản bằng tài sản hiện có hoặc di vay từ thị trường

o Chuyển giao rủi ro: là công cụ kiểm soát tạo ra nhiều thực thể cùng chịu ảnh hưởng khi xảy ra trường hợp xấu thay vì chỉ một thực thể phải chịu

1.4.3.4 Kiểm tra tình hình Quản trị thanh khoản

Kiểm tra là hoạt động quan trọng của quản trị thanh khoản Đó chính là việc

sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong muốn có thể xảy ra đối với ngân hàng do việc không thực hiện đúng các mục tiêu cũng như quy định đã đề ra cho hoạt động thanh khoản

Mỗi ngân hàng cần có một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ cho quá trình quản lý rủi ro về khả năng thanh khoản Một thành phần cơ sở của hệ thống kiểm soát nội bộ là việc đánh giá và xem xét một cách độc lập tính hiệu quả của hệ thống

và đảm bảo là việc kiểm soát nội bộ được tăng cường hoặc chỉnh sửa khi cần thiết Kết quả của những đánh giá này cần được cung cấp cho các cơ quan giám sát

Một hệ thống kiểm soát nội bộ về rủi ro thanh khoản hiệu quả cần bao gồm:

- Một môi trường kiểm soát lành mạnh

Trang 38

- Một quy trình đầy đủ cho việc xác định và đánh giá rủi ro thanh khoản

- Xây dựng các hoạt động kiểm soát như các chính sách và quy trình

- Các hệ thống thông tin đầy đủ

- Xem xét thường xuyên về việc tuân thủ các chính sách và quy trình

1.5 KINH NGHIỆM CÁC NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN

1.5.1 Citigroup – Mô hình quản trị thanh khoản dựa trên số liệu tài khoản từ bảng cân đối tài sản:

Sự phát triển của những nghiệp vụ quản trị thanh khoản giúp giám sát tốt rủi

ro và gia tăng hiệu suất hoạt động của toàn bộ hệ thống trong Citigroup Đối với những tập đoàn đa quốc gia, hiệu quả của quản trị thanh khoản được xem như là nền tảng cơ bản duy trì sự ổn định của hệ thống Citigroup đã phát triển hệ thống quản trị thanh khoản toàn cầu một cách toàn diện dựa trên dữ liệu cập nhật 24/7 và tự động điều tiết trạng thái cân bằng tài khoản để hỗ trợ việc đưa ra cách quyết định kinh doanh và trạng thái tiền dành cho đầu tư ngắn hạn Các báo cáo thanh khoản toàn cầu của Citigroup được xây dựng hàng ngày với các trạng thái thanh khoản chi tiết đến từng chi nhánh trên mỗi quốc gia, để làm được điều này Citigroup đã xây dựng một hệ thống các tài khoản cân bằng áp dụng cho từng quốc gia, từng chi nhánh và theo từng loại tiền tệ để cung cấp chính xác nhất số liệu thanh khoản thực

tế

Quy trình cơ bản như sau Đầu tiên, cuối mỗi ngày Citigroup sẽ thống kê lại cấu trúc thanh khoản từ các chi nhánh và liên doanh để từ đó thiết lập hệ thống tài khoản cân bằng Sau đó các thông tin này sẽ được đưa đến trung tâm xử lý trong trung tâm quản trị thanh khoản Hệ thống sẽ phân tích các kì hạn và đánh giá lại các danh mục tài khoản để điều chỉnh kì hạn từ đó đưa ra số liệu trạng thái thanh khoản chính xác cho từng chi nhánh và toàn hệ thống Để kiểm soát chính xác sự thay đổi của các khoản mục trên hệ thống tài khoản, Citigroup đã thực hiện các vấn đề sau:

- Xác định dòng vốn để từ đó định hướng chỉ tiêu nguồn tài khoản

- Quản lý tần số và các chu kì giao dịch để thiết lập hệ thống kiểm soát cân bằng

Trang 39

- Quản lý các khoản cho vay nội bộ và có báo cáo cụ thể

- Phân phối từ các tài khoản gốc ra từng tài khoản chi tiết thông qua phát triển hệ thống kế toán tự động

Hình 1.6: Mô hình quản trị thanh khoản của Citigroup

Nguồn: Euromoney (2013), The 2013 Guide To Technology In Treasury Management [26]

Nhờ vào hệ thống này, Citigroup có thể khai thác tối đa hiệu quả quản trị thanh khoản để từ đó cung cấp báo cáo giao dịch cụ thể đến từng chi nhánh và chi tiết đến từng khoản mục tài khoản Thông qua đó, mạng lưới quản trị thanh khoản toàn cầu của Citigroup đã được cải thiện đáng kể và góp phần củng cố nền tảng dữ liệu hoạt động giúp cân bằng đa năng các tài khoản và kết nối với các bên thứ ba

Hệ thống quản trị thanh khoản toàn cầu của Citigroup được công nhận rộng rãi trên thế giới nhờ các hoạt động tư vấn, phân tích, giải pháp cung ứng và dịch vụ đầu tư trên toàn cầu của tập đoàn từ đó làm nền tảng cho một giải pháp quản trị thanh khoản có hiệu quả nhất

1.5.2 Standard Chartered Bank – Mô hình quản trị thanh khoản dựa vào dòng tiền (Cashflow Modelling):

Standard Chartered Bank xây dựng cấu trúc quản trị thanh khoản gồm ba thành tố chính như sau: Chuẩn mực quản trị thanh khoản, khối phân tích thanh khoản, khối quản lý thanh khoản

Mục tiêu quản trị thanh khoản

 Tình hình thanh khoản cập nhật liên tục cho từng chi nhánh

 Dự báo tài khoản cân bằng và vị thế tiền mặt hiện tại

 Cung cấp số liệu tiền khả dụng cho đầu tư ngắn hạn

Trang 40

Trong những năm qua, hiệu quả của việc quản lý vị thế tiền mặt là một chìa khóa thành công cho quy trình quản trị thanh khoản của Standard Chartered Bank trên phạm vi toàn cầu Quy trình này yêu cầu độ chính xác về thông tin và thời gian cực cao bao gồm các mức cân đối tài khoản, các giao dịch đang thực hiện, ngân quỹ duy trì, .và tất cả các yếu tố này đều phải cập nhật liên tục để duy trì vị thế tiền mặt tối ưu cho toàn hệ thống Standard Chartered Bank Điều quan trọng nhất trong quy trình này là việc kiểm soát dòng tiền chi ra và thu vào cũng như khả năng kiểm soát tuyệt đối sự dịch chuyển của các dòng tiền bên trong giữa các bộ phận và ra bên ngoài của Standard Chartered Bank Chính những điều này đã tạo hiệu quả cao trong quản trị thanh khoản đa quốc gia của Standard Chartered Bank

Công cụ quản trị thanh khoản của Standard Chartered Bank: Standard Chartered Bank thiết lập hệ thống các công cụ quản trị thanh khoản da dạng, trong

đó nổi bật nhất là hai nhóm công cụ hàng đầu như sau:

- Duy trì tài khoản cân bằng và kiểm soát dòng tiền, trong đó chú trọng đến vị thế tiền mặt trong từng chi nhánh của Standard Chartered Bank

- Giải pháp tài chính dây chuyền bao gồm ba trụ cột chính là quản lý dòng tiền từ các hóa đơn chiết khấu, dòng tiền từ thanh toán ứng trước cho bên thứ ba và dòng tiền từ quản lý tài sản đảm bảo

Cụ thể được mô phỏng như sơ đồ sau:

Hình 1.7: Mô hình quản trị thanh khoản của Standard Chartered Bank

Nguồn: Euromoney (2012), The 2012 Guide To Liquidity Management [25]

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w