1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình môn Chính trị học

213 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trị học với tư cách là một môn khoa học đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp, Anh… Đó là vì lợi ích quốc gia, lợi ích tư bản chủ nghĩa và đòi hỏi của việc quản lý tư bản hiện đại. Khoa học chính trị trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho sự thống trị của giai cấp tư sản.Đối với nước ta hiện nay, trong xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, việc đổi mới hệ thống chính trị đã và đang được đặt vào vị trí hết sức quan trọng. Nó không chỉ nhằm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị đất nước, và còn là điều kiện và nhân tố bảo đảm cho sự tiếp tục đổi mới kinh tế có hiệu quả. Vấn đề dân chủ hóa và đổi mới hệ thống chính trị đòi hỏi chúng ta phải có những kiến thức chính trị cần thiết, những tri thức ở tầm khoa học.Nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn Chính trị học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Học viện Chính sách và phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) xuất bản Giáo trình Chính trị học do PGS, TS. Trần Đình Thảo (Chủ biên).Nội dung cuốn sách tập trung trình bày về chính trị học; hệ thống chính trị và hệ thống chính trị Việt Nam; văn hóa chính trị và văn hóa chính trị ở Việt Nam hiện nay; các xu hướng chính trị đương đại.Cuốn sách gồm bảy chương, mỗi chương được trình bày theo kết cấu: Mục đích yêu cầu; Một số thuật ngữ cơ bản; Nội dung; Câu hỏi ôn tập; Tài liệu tham khảo để bạn đọc dễ dàng nắm bắt được nội dung của từng chương mục.Chương 1: Nhập môn Chính trị họcChương 2: Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị Việt NamChương 3: Quyền lực chính trịChương 4: Đảng chính trị và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt NamChương 5: Nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt NamChương 6: Văn hóa chính trị và văn hóa chính trị ở Việt Nam hiện nayChương 7: Các xu hướng chính trị đương đại.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

GIẢO TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GS, TS Nguyễn Xuân Thắng Trưởng ban

PGS, TS Lê Quốc Lý ủy viên

PGS,TS Nguyễn Viết Thảo ủy viên

PGS, TS Hoàng Anh ủy viên Thường trực

Trang 2

CHỦ BIÊN

TS Ngô Huy Đức - PGS, TS Lưu Văn Quảng

TẬP THÊ TÁC GIẢ

Bài 1: PGS, TS Lưu Văn Quảng TS Phạm Thế Lực TS Đoàn

Trường Thụ TS Lê Quang Hòa Bài 2: TS Bùi Việt Hương TS

Lê Quang Hòa TS Nguyễn Thị Thanh Dung ThS Đỗ Văn

Thắng Bài 3: PGS, TS Lưu Văn Quảng TS Đoàn Trường Thụ

TS Phạm Thế Lực TS Nguyễn Thị Thanh Dung Bài 4: PGS,

TS Trịnh Thị Xuyến

ThS Nguyễn Thị Hồng Minh TS Bùi Việt Hương TS Lê Thị Thu Mai TS Ngô Huy Đức

Bài 5: TS Đoàn Trường Thụ

PGS, TS Trịnh Thị Xuyến ThS Nguyễn Thị Hồng Minh

TS Trần Mai Hùng TS Tống Đức Thảo Bài 6: GS.TSKH Phan

Xuân Sơn TS Tống Đức Thảo TS Trần Mái Hùng TS Lê Thị

Thu Mai Bài 7: TS Ngô Huy Đức

ThS Phan Thị Thu Hằng TS Lê Quang Hòa TS Phan

Duy Quang

LỜI GIỚI THIỆU

Học viện Chính trị quổc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trục tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thu; là trung tâm quốc gia đảo tạo, bồi đuOng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cáp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cửu khoa học lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh dạo, quản lý.

Chương trình Cao cấp lý luận chinh trị là chương trình trọng điểm trong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Mục tiêu của chương trình này là: Trang bị cho đội ngũ cán bộ Ịgnb dạo, quản lý trung cấp, cao cổp của

cả hệ thống chính trị có kiến thức nền tảng về lý luận chinh trị và quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sở cho việc củng cố nền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhlmi và năng lực tư duy chián lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện

Trang 3

phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

Đối mói, bổ sung, cập nhật các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhằm đáp ủng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước trong tùng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù họp với bối cảnh của đất nước vả thế giỗi.

Chương trinh Cao cấp lý luận chính trị lần này được két cấu gồm 19môn học vả các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu,nghiêm túc, tri tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đang trựctiếp giảng dạy ừong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý, thẩmđịnh kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học ngoài Học viện

Bộ giáo trinh Cao cấp lý luận chinh trị xuất bản lần này kế thừa các giáotrinh cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thòi cập nhật các nội dung

mới trong Văn kiện Đại hội xn của Đảng và các nghị quyết Trung ương khóa

xn, tinh hình mới của thế ¿ới khu vực và đất nước, chú trọng bổ sung những

vấn đề lý luận và thực tiễn mới mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cầnquan tâm, nghiên cứu Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản

hệ thống, hiện đại và thực tiễn

Xin trân họng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quýbáu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung

BAN CHỈ ĐẠO CHỈNH SỬA, HOÀN THIỆN

CHƯONG trình đào tạoCAO CẮP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LỜINÓI ĐẦU

Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị nhu một fiMnh thể Chính trị ra đòi gắn với giai cấp và nhà nước, gắn với hoạt động cầm quyền và cai trị, gắn vói thẩm quyền phân bổ lợi ích, các giá trị xẵ hội nên Chính trị học được coi là khoa học về quyền lực và cầm quyền, là khoa học về việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị.

Mục đích của Chính trị học là nghiên cứu đời sống chính trị một cách có

hệ thống, từ đó tìm ra những quy luật, hoặc tính quy luật của đời sống chính trị Chính vỉ vậy, từ rất sớm, Chinh trị học được các nhà tư tưởng ở cả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu nhằm cung cấp các tri thức cho hoạt động chính trị, cũng nhu góp phần lý giải các hiện tượng, các hành vi chính trị.

Chính trị học cũng là khoa học cỏ tính ứng dụng cao Có thế nói, hệ thống

tổ chức quyền lực chính trị của các quốc gia trong thế giới đuơng đại dựa khá

Trang 4

nhiều vào các kết quả nghiên cứu Chính trị học trong suốt chiểu dài lịch sử nhẫn loại.

Ở Việt Nam, các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy Chính trị học được thành lập có mục tiêu quan họng là gỏp phần cung cấp các tri thức về đời sổng chính trị, cũng như đưa ra những giải đáp về lý luận và thực tiễn về các vấn đề chính trị thực té Hiện nay, nội dung cùa Chính trị học được đưa vào giảng dạy ở nhiều chương trinh khác nhau như: đại học, sau đại học, cao cấp lý luận chính trị

Với tư cách là một môn học toong Chương trinh Cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chính

trị học có vai trò quan trọng đối với người học trên những lchía cạnh cơ bảnnhư sau:

Trang bị kien thưc một cách có hộ thống, tương đối cập nhật và hiệnđại về các lĩnh vực của đời sống chinh trị, từ đó góp phần đào tạo đội ngũcán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định; có tri

thức và kỹ năng hoạt động chính trị' có khả năng hoạch định, đưa ra các

đường lối, chính sách đúng đắn, biết rèn luyện, xử lý tốt các tinh huốngchính trị trong công tác của mình

 Cung cấp các cơ sở, luận cứ khoa học cho việc xây dụng đổi mới vàhoàn thiện thể ché chính trị ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam ừong giai đoạn hiện nay

Để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn khoa học này ViệnChính trị học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã biên soạn

Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Chính trị học Tập giáo trình gồm 7 bài,

thể hiện những nội dung căn bán nhất của môn Chính trị học, do các cán bộnghiên cứu và giảng dạy có kinh nghiệm của Viện Chính trị học biên soạn

Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn giáo trình còn nhiều thiếu sót,tập thể tác giả rất mong nhận được ý kién đánh giá và đóng góp cùa các nhàkhoa học và bạn đọc để giáo trình ngày càng được hoàn thiện hơn

TẬP THÊ TÁC GIẢ

Bail

KHÁI LUẬN VỂ CHÍNH TRỊ HỌC

MỤC TIÊU

về kiến thức: Cung cấp cho học viên những tri thức cơ bồn của fihfah trị

học nhu: đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu; nội dung nghiên cứu

Trang 5

của Chính trị học trên thế giới và ở Việt Nam; sự phát triển của các tri thức chính trị trong lịch sử.

về kỹ năng- Giứp học viên xây dựng được kỹ năng phân tích sự phát triển,

kế thùa và tính liên tục của các tư tưởng chính trị trong lịch sử nhan loại; từ

đó úng dụng hiệu quả vào thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý.

về tư tưởng: Giúp học viên nhận thức được vai trò của Chính trị học trong

đời sống chính trị, từ đó có ý thức tỉm hiểu cũng như tham gia tích cực hơn vào đời sống chính trị.

số cách hiểu cụ thể nhu sau:

- Chỉnh trị là những vẩn đề liên quan đến công việc nhà nước Từ “chính

trị” (politics) có nguồn gốc từ “polis” trong tiếng Hy

Lạp, có nghĩa là “nhà nước thành bang” Hy Lạp cổ đại được chia ra làmnhiều thành bang khác nhau và mỗi thành bang có một hệ thống chínhquyền của riêng mình Chính trị với nghĩa này được hieu là các vấn đề liênquan đến thành bang, liên quan đén nhà nước Đây cũng là cách hiểutruyền thống của Chính trị học phản ánh khuynh hướng nghiên cứu chủyếu tập trung vào các cá nhán và bộ máy nhà nưác Nghiên cứu chính trị,

về bản chất là nghiên cứu nhà nước, nghiên cứu việc thục thi quyền lụccùa nhà nước tức thẩm quyền phân bổ các giá trị, như David Easton quanniệm1 Do vậy, chính trị bao gồm các quá trinh khác nhau, thông qua đónhà nước đáp ứng các áp lực từ xã hội bằng việc phân bổ các lợi ích đưa racác quyết định thường và phạt theo thẳm quyền Các giá tri theo thẩmquyền là những giá trị đã được xã hội thừa nhận

Chính trị là hoạt động diễn ra trong một chính thể một hệ thống tổ chức

xã hội mà trung tâm của nó là bộ máy nhà nước Tất cả mọi hoạt động củangười dân liên quan đén công việc của nhà nước đều được coi là hoạt độngchính trị: từ bầu cừ, tham gia vào quá trinh hoạch định chính sách, thực thicác chính sách do nhà nước ban hành; nó cũng bao gồm hoạt động của bảnthân các nhà chính trị, các công chức trong đời sống chính trị

- Chinh trị là hoạt động tìm kiếm cách thức giải quyết mâu thuẫn của con

người khi sổng chung thành cộng đồng

Trang 6

Đây là cách định nghĩa về chính trị dựa trên cách thức đưa ra cácquyết định tập thể của một cộng đồng Bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ gồmcác công dân, các tổ chức vói các lợi ích khác nhau cùng tồn

' David Easton (1917-2014) là nhả khoa học chinh trị người Mỹ gốcCanada Ông là người nối tiếng vói việc ảp dụng lý thnyết hệ thống vàokhoa học chinh tri và xem chinh tri là việc “phân bồ các gạ trị cho xa hội

theo thẩm quyền” Quan niệm náv được ông trình bày tong tác phẩm Một khuôn khổ cho phân tích chính trị vì Phân tích hệ thong đời song chỉnh trị

sự tần vong và lợi ích của cộng đồng.

Vì mục đích này, nhà nước phải có trách nhiệm đua ra các khuôn khổ pháp lý để giải quyết xung đột giữa các cá nhân, tổ chức và tạo ra một môi trường cho sự hợp tác giữa họ Nhà nước đóng vai trò nhu người trọng tài dàn xếp các xung đột xã hội Tuy nhiên, ngay cả khi nhà nước da thực hiện những nhiệm vụ này mà xung đột vẫn tiếp tục tồn tại, thì trách nhiệm của nhà nước là phải tìm ra cách thức hóa giải xung đột và giúp các bên đạt được sự đồng thuận.

Các quyết định tập thể được đua ra dựa trên nguyên tắc nào cũng là vẩn

đề quan trọng trong các tồ chức Thường có hai nguyên tắc được áp đụng: nguyên tắc đa số và nguyên tắc đồng thuận Theo

nguyên tắc đa số, khi đứng trước các lựa chọn, phương án được nhieuthanh viên tẩn thành nhất thi phương án đó sẽ trở thành phương an chinhthưc cua nhóm Trong khi đó, theo nguyên tắc đồng thuận, một quyết định

Trang 7

của nhóm được đưa ra khi nó phải được tất cả các thành viên của tập thểđồng ý.

- Chính trị là quyền lực

Đây là cách hiểu chính trị theo nghĩa rộng Quyền lực luôn là vấn đềtrung tâm của bất kỳ nhà nước nào Phần phân tích trên đã cho thấy tầmquan trọng của việc đảm bảo sự hợp tác giữa các cá nhân, thể chế Nó cũnggiải quyết các bất đồng và cố gắng đạt được sự đồng thuận Nhưng cần lưu

ý rằng, quyền lực vẫn là trung tâm của tất cả các hoạt động này

Cách hiểu chính trị là quyền lực không gắn chính trị với một chủ thể,một phạm vi cụ thể nào (các cơ quan quyền lực nhà nước lính vực công),

mà xem chính trị tồn tại trong tất cả mọi Imh vực của đời sống xã hội Theo

nghĩa này, chính trị diễn ra ở mọi cấp độ xã hội, nó tồn tại trong từng gia

đinh, tùng nhóm nhỏ

Theo nghĩa rộng nhắt, chính trị liên quan đến việc sản xuất phân bổ và

sử dụng các nguồn lực xã hội về bản chất, quyền lực là khả năng giành được

những kết quả mong muổn thông qua bất kỳ phương tiện nào Ý tưởng nàyđược Harold Lasswell (1902-1978) nói một cách ngắn gọn và súc tích:

“Chính trị là ai được cái gì kin nào và như thế nào?”1 Với cách tiểp cận này,các nguồn lực trong xã hội luôn khan hiếm và hữu hạn, trong khi đó khátvọng và nhu cầu của con người là vô hạn Chính trị chính là cuộc đấu tranh

để giành quyền tiếp cận các nguồn lực hữu hạn; và quyền lục là phương tiện

để đạt được mục tiêu này

' Xem Harold Lasswell: Politics is who gets what, when, and how?

ClevelandMeridian Books, 1963 I

- Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin:

Trong tùng hoàn cảnh cụ thể, khái niệm chính trị cũng được hiểu theo những

nghĩa khác nhau:

về bản chất, chỉnh trị là quan hệ giữa các giai cáp, các tập đoàn người trong việc giành, giữ và thực thỉ quyền lực nhả nước Do nhà nước được xem

là công cụ thống trị của giai cếp này đối với giai cáp khác, vì vậy, để có cuộc

sống tốt đẹp hon phải tiến tới xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước Điều này chỉ có

thể thực hiện được khi xã hội tiến đến chủ nghĩa cộng sản.

Cái căn bản nhất của chính trị là sự tham gia vào công việc nhà nước; là việc vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác <tjnh những hỉnh thức, nhiệm vụ, nội đung hoạt động của nhà nước.

Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, do kinh tế quy định, vi vậy chinh trị là loại quan hệ kinh tế được cô đọng lại Theo đó, giai cấp nào thổng trị về mặt kinh tế thì sớm muộn cũng sẽ thống trị về mặt chinh trị.

Trang 8

Chính trị là Enh vực phức tạp nhất, nhạy cảm nhất, liên quan đến vện mệnh của hàng triệu người Giải quyét những vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.

Từ những quan niệm trên, có thể đua ra khái niệm sau: Chỉnh trị là hoạt

động của các chủ thể quyền lực ('các giai cấp, các nhóm, các cá nhân ) nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước; là sự tham gia của người dân vào công việc cùa nhà nước, của xã hội.

Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của Chinh trị học

Chính trị là một trong những vẩn đề được nghiên cứu từ rất sóm Đánh giá về tầm quan trọng của khoa học chính trị, Piaton cho rằng: “Khoa học của nhà chiến lược, của quan tòa, của nhà diễn thuyết, của nhà truyền giáo là khoa học của kẻ nô bộc Khoa học

thật sự và duy nhất của vương quyền là khoa học chính trị” Do vậy, Chínhtrị học là khoa học về sự cai trị (hay còn gọi là khoa học về chính phủ) mànội đung của nó xoay quanh vấn đề tìm kiếm một hlnh thức nhà nước, mộthình thức cai trị hợp lý nhất

Ngày nay, theo nghĩa chung nhất, Chính trị học (hay khoa học chính trị

- Political Science) là một ngành khoa học nghiên cứu về chính trị Vìchính trị ra đời và gắn liền với giai cấp và nhà nước - tức gắn với hoạtđộng của các đảng phái, hoạt động cầm quyền, cai trị, phân bổ lợi ích, -nên Chính trị học cũng được coi là môn khna học về quyền lực, cầmquyền, cai trị, Nói một cách ngắn gọn đó là khoa học về việc “giành, giữ,

và thực thi quyền lực nhà nước”

Ở Việt Nam, nội đung của Chính trị học được thu hẹp phạm vi vi bêncạnh Chính trị học còn có các ngành khoa học chính trị khác như: Triếthọc, Kinh tế chính trị, Xây dựng Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Luậthọc, Hành chính học cũng nghiên cứu về chính trị hên những bỉnh diệnkhác nhau

- về đổi tượng nghiên cứu:

Chính trị học lấy đời sống chính trị làm đối tượng nghiên cứu Mục đíchcủa Chinh trị học là nghiên cứu đời sống chính trị một cách cỏ hệ thống, từ

đó có thể tìm ra những quy luật, hoặc tính quy luật của đòi sống chính trị.Chẳng hạn, cho đến nay, các nhà chính trị học phương Tây thừa nhận có

một số quy luật của đời sống chính trị như: Luật sắt của chế độ quả đầu

(Iron law of oligarchy) Theo luật này nhu một quá trình tự nhiên của cácnhóm và tổ chức, sau một thời gian phát triển sẽ hlnh thành một cấu trúcquyền lực theo thứ bậc, ừong đó có một nhóm nhỏ các nhà lẫnh đạo đứng

đầu Luật Duverger (Duverger's law) mang tên nhà khoa học chính trị người

Pháp - M.Duverger, khi ông phát hiện ra sự tương quan giữa hệ thống bầu

Trang 9

cử với hệ thống đảng cầm quyền ở các quốc gia có hệ thống đa đảng

cạnh hanh Luật hòa bình dân chú (Law on democratic peace) phát biểu

rằng: Các quốc gia có nền dân chủ thì sẽ không gây chiến tranh với nhau Một cách cụ thể hơn, có thể chia đối tượng nghiên cứu của chỉnh trị học thành ba lóp như sau: i) Thể chế chính trị (hệ thống tể chúc vả thục thi quyền lực); ii) Hành vi chính trị (bao gồm hành vi của chính phủ, của nhà chinh trị

và hành vi của người dân); iii) Môi trường chính trị (mỗi trường trong đó hoạt động chính trị diễn ra).

về phạm vi nghiên cứu:

Chính trị học tập trung vào nghiên cứu các vấn đề nhu:

+ Lý thuyết chính trị, quan điểm chính trị.

+ Các thể chế chính trj.

+ Quan hệ chính trị quốc tế.

+ Quan hệ giữa nhà nước và xã hội công dân.

+ Quyền lực, sự ảnh hưởng, các hoạt động và quá trinh chính trị.

+ Hệ thống chinh trị và môi trường hoạt động của hệ thống.

Các cách tiếp cận nghiên cứu Chính trị học

Các cách tiếp cận truyền thống

Tiếp cận triết học chinh trị: Cách tiếp cận này được coi là lâu đcd nhất

trong nghiên cứu khoa học chính trị, nó giải thích các hiện tượng chính trị từ góc độ triết học Nội dung nghiên cứu của cách tiếp cận triết học chính trị thuòrng tập trung vào lý giải các vẩn đề liên quan đén nhà nước, chính quyền,

sự tự do và công bằng và xem xét, đánh giá các vấn đề từ khía cạnh đạo đức Những người ủng hộ cách tiếp cận này tin rằng, triết học chính trị gắn liền vỏi

ý thức hệ chính trị Triết học chính trị có thể sẽ giúp xây dựng được một nền chính trị tốt.

Tiếp cận lịch sứ: Theo cách tiếp cận này, chính trị chi có thể được hiểu

đúng khi đặt nó vào bối cảnh lịch sử cụ thể để xem xét Cách tiếp cận nàynhấn mạnh khía cạnh lịch sử của các hiện tượng chính trị, tình huống chínhtrị Những người ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng, chính trị và lịch sử liênquan mật thiết với nhau và nghiên cửu về chính trị luôn phải có quan điểmlịch sử Theo họ, lịch sử không chi nghiên cứu về quá khứ, mà phải kết nốiquá khứ với những sự kiện hiện tại Nghiên cứu các dữ liệu lịch sử có thểgiúp dự báo các sự kiện trong hiện tại và tương lai

Tiếp cận thể chế: Cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò của các thể chế

chính trị Thông thường, những người theo cách tiếp cận này chia thể chéchính trị thành bốn loại: i) Các thể ché ban hành pháp luật; ii) Các thể chếthực thi pháp luật; iii) Các thể chế xét xử sai phạm; iv) Các thể chế cưỡng

Trang 10

chế trừng phạt Cách tiép cận này chủ yéu nghiên cứu các cấu trúc chính trịnhư các đảng chính trị, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nhómlợi ích, Nghiên cứu chính trị từ cách tiếp cận thể chế chủ yếu được sử dụng

để xem xét sự tương tác giữa hệ thống chính trị quốc gia (căn bản là nhànuỏc) với các nhóm lợi ích chính trị, các đảng chính trị, truyền thông đạichúng và các cơ quan giám sát khác

Tiếp cận pháp lý: Cách tiếp này luận giải các quá trình chính trị dưới

lăng kính pháp luật, liên quan đến các quá trình pháp lý, các cơ quan phápluật Những giá trị chính trị căn bản như tự do, dân chủ, công bằng, thôngqua cách tiếp cận này đều được đo lường bằng hiệu quả của việc thiết lập vàthực thi luật pháp

Các cách tiếp cận hiện đại

Tiếp cận hành vi:

Tiếp cận hành vi trong khoa học chính trị đòi hỏi tính thực chứng, theo

đó các kết luận phải dựa trên bằng chứng hành vi trong

thực tiễn, và do vậy nó khác với các cách tiếp cận “truyền thống” Mặc

dù nghiên cứu về chính trị và chính thể được bắt đầu từ Platon, Aristotle

và các triết gia Hy Lạp vào thế kỷ IV trước Công nguyên, nhung khoa học chính trị chi xuất hiện như là một ngành khoa học độc lập vào cuối thế kỳ XIX Từ thòi điểm đó, khoa học chính trị đã chuyển từ việc tập trung mô tả về lịch sử chính trị, các thể chế chính trị và các quy phạm pháp luật, sang trọng tóm là nghiên cứu “hành vi” trong quá trình ra quyết định chính trị, hành vi

của các CẬ nhân con người chính trị, các tổ chức chính trị và mối quan hệ

giữa chúng.

về mặt phương pháp, cách tiếp cận hành vi đa bổ sung cho các cách tiếp cận truyền thống - triết học, lịch sử, thể chế, pháp lý bằng các phương pháp thực chứng của khoa học xã hội hiện trong nghiên cứu chính trị Cách tiếp cận hành vi thường luận giải, phân tích hành vi chính trị dựa trên giả đjnh bản chất con người là vị kỳ và duy lý.

- Tiếp cận hệ thống-.

Một trong những phát triển quan trọng trong tư duy nhSn loại tù cuối

thế kỷ XIX là tu duy hệ thống, được sử đụng trước hết trong các khoa học tựnhiên nhu sinh học, vật lý học, toán học và sau đó được các khoa học xã hộikhác như xã hội học và chính trị học sử dụng

Nội dung cơ bản của cách tiếp cận này trong chính trị học có the diengiải như sau: Hệ thống chinh trị hoạt động trong một môi trường xã hội cụthể Môi trường này chuyển tải các nhu cầu, sức ép khác nhau của xã hội Cả

“nhu cầu” và “sự ùng hộ” là những gì mà David Easton gọi là “đầu vào” mà

hệ thống chính tộ phải xử lý Sau khi xem xét các yếu tố khác nhau, hệ thống

Trang 11

chinh trị đưa ra các quyết định hành động đối với một sổ nhu cầu theo cácthứ tự ưu

tiên Thông qua quá trình chuyển đổi, “đầu vào” được chuyển đổi thành

“đầu ra” bởi các nhà hoạch định dưới dạng các chính sách, các quyết định,quy tắc, quy định và luật pháp Các “đầu ra” đén lượt nó lại tạo ra “nhu cầu”mói thổng qua cơ chể phản hồi, tạo ra “đầu vào” mới Đó là một quá trìnhtuần hoàn theo chu kỳ mà hệ thống chính trị thích nghi và biến đổi cùng với

sự biến đổi của môi trường xã hội

Vai trồ của việc nghiên cứu Chính trị học

Chính trị học cần thiết đối vói mỗi cá nhân, xã hội và cả nhà nước

Thứ nhất, Chính trị học trang bị kiến thức về các lĩnh vực của đời sống

chính trị Chính trị là vấn đề liên quan đến lợi ích của mọi người, do vậysống trong một xã hội, mỗi cá nhân không thể không có tri thức về lĩnh vựcnày để có ý thức chủ động và trách nhiệm, tự giác khi tham gia vào đời sốngchính trị Quá trình này sẽ giúp cá nhân có ý thức về lợi ích chung, từ đóhiểu được các quyền hạn và nghĩa vụ của bản thân, cũng như các tráchnhiệm và thầụa quyền của nhà nước

Thứ hai, chính trị là lĩnh vực liên quan đến tổ chức và sử dụng quyền

lực công, do vậy nghiên cứu về chính trị sẽ giúp tim kiém các mô hỉnh chínhphủ tốt nhất, cách thức tổ chức và thực thi quyền lực đúng đắn và hiệu quảnhất; giúp hỉnh thành và hoàn thiện các thể chế, nhằm quản lý xã hội tốtnhất, đem lại lợi ích cho giai cấp và dân tộc Đồng thời, đó cũng là quá trìnhtổng kết thực tiễn chính trị, khám phá những quy luật của đời sống chính trị,đúc rút những kinh nghiệm chính trị, cung cấp cơ sờ khoa học và thực tiễncho quá trình xác định các mục tiêu chính trị, ra quyết định chính trị giảiquyết các xung đột chính trị, dự báo xu hướng vận động của nền chính trịtrong tương lai,

Thử ba, việc nghiên cứu chính trị, đặc biệt là các vấn đề quan hệ

chính trị quốc tế còn cần thiết để giải quyết những vấn đề quan hệ quốc

tế, như quá trinh hợp tác - cạnh tranh - xung đột giữa các quốc gia, dân tộc; hiểu được cơ chế vận hành của các tổ chức quốc tế, biểu được bản chất của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia, các phong trào mang tỉnh toàn cần, để từ

đó các chủ thể, nhất ỉà các quốc gia - dân tộc có những đối sách phủ hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

CÁC NỘI DUNG NGHIÊN cứu CHÍNH CỬA CHÍNH TRỊ HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 12

Cỉc nội dong nghiên cứu trong Chính trị học trên thế giói Chính trị học nghiên cứu nhiều ván đề khác nhau của đòi sống chính trị, như: lý thuyết chính trị, các sự kiện chính trị, hành vi chinh trị, quá trinh chính trị cho đến các thể ché chính trị,

Nếu lấy đổi tượng chính trong nghiên cứu làm tiêu chí, người ta thưởng

phân ra các nội đung nghiên cứu cơ bản nhu:

Các nghiên cứu thể chế: Đây là các nội dung nghiên cứu lâu đòi nhất, lẩy

việc nghiên cứu các thể chế quyền lực cơ bản như: lập pháp, hành pháp, tu pháp, cảc đảng chính trị và hệ thống bầu cử làm trung tâm Trong đỏ, nghiên cứu sẽ tập trung vào việc xem xét, so sánh các thể chế này ở các nước khác nhau (không chi từ góc độ pháp lý, mà chủ yếu trong thực tế hoạt động) Những nghiên cứu như vậy, bên cạnh các ưu điểm như đã rõ, thường bị phê phán vì không tính đến các tổ chức chính trị - xã hội khác, bỏ qua một số mối liên hệ xã hội, không thấy hết sự ảnh hường của các yếu tố đó đối với nền chính trị (có thể chúng không có tác động trực tiếp trong ngắn hạn, nhung lại

có tác động quan ừọng trong dài hạn) Các nghiên cưu này cũng thường bị phụ thuộc nhiều vào các khái niệm của pháp luật, dễ bị coi là lấy “tinh thần

câu chữ” pháp lý thay cho hiện thực chính trị, và cũng dễ bị sa vào mô tảhơn là lý giải Tuy nhiên, các tiếp cận như vậy lại rất có ý nghĩa trong việcbước đầu tìm hiểu hoạt động chính trị cơ bản ở các nước khác nhau

Các nghiên cứu chính sách: Các nghiên cứu lấy quá trình chính sách

làm trung tâm, từ đó mới xem xét các yếu tố thể ché, cũng như các hành vichính trị Nói cách khác, các thể chế chính trị được đặt vào trong vai trò thực

tế của nó là việc đưa ra và thi hành các chính sách, vì đây là nội dung chínhcủa chính trị: quá trinh phân bổ các giá trị

Các nghiên cứu hệ thống, cấu trúc chức năng: Các nghiên cứu này

đặt mạnh tính hệ thống, tính chinh thể và mối tương tác giữa các yếu tốtrong toàn bộ hệ thống trong việc đưa ra các quyết định, mà các thể chếchính trị cũng chi là một khâu

Nhìn từ góc độ khác, nếu lấy tiêu chí vai trò của cá nhân con người, có

thể có ba nhóm nội dung nghiên cứu là:

Phăn tích cẩu trúc (vĩ mô): Tập trung phân tích quan hệ chính trị giữa

các nhóm lớn trong xã hội (giai cấp, đẳng cấp, tầng lớp ưu tú ) Chủ nghĩaMác cũng được coi là thuộc trường phái này

Phăn tích hành vi (vi mô): Cách tiếp cận này xuất phát từ con người

cá nhân Theo đó, các đặc điểm tự nhiên, bản chất của con người sẽ quy địnhhành vi chính trị của chính họ Lựa chọn công cộng là trường phái nổi bật,trong đó sử dụng các phương pháp tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển đểgiải thích các hành vi cá nhân, hành vi nhóm trong các hoạt động chính trị

Trang 13

quan trọng Từ đó, cách tiếp cận này lý giải sự hình thành và vai trò của cácthể chế.

Phân tích văn hỏa: Từ các đặc điểm của văn hóa (những giá fri tồn tại

một cách bền vững trong các cộng đồng) để

giải thích và dự đoán các hành vi chính ừị của các cộng đồng khác nhau

Dù các nội dung nghiên cứu rất đa dạng và phong phú, vói mục tiêu của giáo trinh này, việc nghiên cửu và giảng dạy Chính trị học hiện nay trên thế giới có thể tạm phân thành bốn lĩTiti vực nghiên cứu cơ bản sau:

Lý thuyết chính trị giứp chúng ta hiểu biết rõ hơn những khái niệm định hình nền chinh trị như: tự do, bình đẳng, cấ ntiân cộng đồng, dân chủ và công bằng Quan trọng hơn, lý thuyết chính trị giúp con người tìm kiếm các mô hlnh chính trị hợp lý hơn và đua ra các cách thức để đạt được các mô hỉnh đó.

Do vậy, lý thuyết r.bính trị thường bao hàm sự phê bình, phản biện đối với đòi sống chính trị hiện thực, hoặc có thể ngầm đua ra các quan điểm chính trị nào đó.

Tù the kỷ xvn đến nay, mặc dù các nghiên cứu lý thuyết chính trị đề cập đến nhiều nội dung khác nhau, dưới nhiều lát cắt khác nhau, nhưng đều xoay quanh hai mối quan hệ cơ bản: mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng; công dân và nhà nước, từ đó hình thành hai trường phái cơ bản: tư tưởng chính trị cánh hữu và tư tưởng chính trị cánh tả.

Tư tưởng chính trị cánh hữu

Hiểu một cách đơn giản là các tư tưởng, lý thuyết r-hính tri

nhán mạnh yéu tố cá nhân, trọng cá nhân - đề cao yéu tố cá nhan hom xãhội Xuat phát điểm của dòng tu tưởng này cho rằng: Bản chất vị kỷ của conngười là tự nhiên, không thể thay đổi, do vậy cần tổ chức xã hội nhằm kiềmché các tác hại của bản chất đó

Dòng tư tưởng này dựa trên cơ sờ của truyền thống tự do cá nhân vóimục tiêu bảo đảm ở mức tối đa các quyền tự do vâ lợi ích cá nhân Các cánhân mạnh sẽ tạo ra xã hội mạnh Nội dung cốt lõi của nó là: bộ máy phảithiết kể theo mô hình phân quyền nhàm kiểm soát sự lạm dụng quyền lựccủa các cá nhân và tổ chức Đại diện tiêu biểu của các nhà tư tưởng cánh hữu

cỏ thể kể đến: J.Locke, S.Montesquieu, Các quốc gia phương Tây tổ chức

Trang 14

bộ máy nhà nước theo mô hình tam quyền phân lập nhằm kiểm soát sự lạmdụng quyền lực của các cá nhân và tổ chức đi theo hướng này.

Tư tưởng chỉnh trị cánh tả:

Đây là các tư tường, lý thuyết chính trị trọng xã hội - đề cao yếu tố cộngđồng, xã hội hơn yéu tố cá nhân Xuất phát điểm của dòng tư tưởng này làcoi tính vị kỷ của con người không phải là tự nhiên, mà do xẵ hội tạo nên

Do đó, mục tiêu của nó là hướng tới tổ chức xã hội để cải tạo con người Để

có được một xã hội tốt thì vai trò của nhà nước phải được đề cao Nhà nước,fren cơ sờ tihfin thức được cái đúng, cái tất yếu sẽ tạo ra các thể ché, tạo ra

hệ thống pháp luật để cải tạo con người tự nhiên Nhà nước chủ động canthiệp vào đời sống xã hội và dẫn dắt xã hội phát triển theo định hướng củaminh Các nhà tư tường tiêu biểu của cánh tả gồm- J.S.MÜ1, J.J Rousseau,C.Mác, V.I.Lênin, Các quốc gia xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviếttrước đây và các quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày nay đitheo hưóng này

Hiện nay, ngay cả ờ các quốc gia phương Tây, mỗi trường đại học, mỗi

trung tâm nghiên cứu chinh trị học có thể nghiên cứugiảng dạy các lý thuyết chính tri khác nhau Ví dụ5 Đại học Columbia (Mỹ)1

chủ yếu giới thiệu các lý thuyết về dân chủ, vê tự do các lý thuyết về chínhphủ và chủ nghĩa lập hiến, lý thuyêt lựa chọn duy lý, lịch sử của chủ nghĩathể chế, nghiên cứu chính phủ đại diện và hệ thống bầu cử,

Đại học Oxford (Anh) lựa chọn giới thiệu các lý thuyết như: cảc phươngpháp nghiên cứu lý thuyết chính trị học, các quy ầc quốc tế các lý thuyếtchính trị của Hegel và C.Mác; các vấn đề trong tư tưởng chính trị và xã hội

của châu Âu đương đại; lịch sử tư tưởng tự do ở thế kỷ xrx và XX, Trong

khi đó, Đại học Bristish Columbia (Canada) lại tập trung giới thiệu về lịch

sử tư tưởng chinh trị các học thuyết chính trị đương đại, các lý thuyết chínhtrị hiện đại các học thuyết về nhà nước và xã hội, lý thuyết về dân chủ và tưtưởng chính trị phương Tây hiện đại

ỉi) Chỉnh trị học quốc gia

Phần này tập trung nghiên cứu đặc trung mô hình chính trị của quốc giacủa chính cơ sở đào tạo, bao gồm: các triết lý chính trị của quốc gia (nềnchính trị của quốc gia đó được xây dựng dựa trên cơ sở của tư tưởng chínhtrị nào, tại sao lại như vậy); vãn hóa chính trị của quốc gia (gồm các yếu tốtạo nên văn hóa chính trị của quốc gia đó, các đặc trung văn hóa chính trịcủa quốc gia, văn hóa chính trị của cảc nhóm khác nhau trong xã hội, lý giảicác hiện tượng chính trị từ góc độ văn hóa chính trị ); hệ thong chinh trịquốc gia (gồm hệ thống tổ chức và hoạt động của các đảng

Trang 15

phái, tổ chức và hoạt động của chính phủ, các nhóm lợi ích vai ừò của các

tổ chức truyền thông ừong đời sống chinh trị và các chủ thể quyền lựckhác), chính sách quốc gia và vai trò của các chủ thể quyền lực trong quátrình đó; hệ thống bầu cứ, đặc biệt là bầu các chức danh quyền lực quanừọng như bầu cử tổng thông bầu cử quốc hội

^ Với các nội đung trên, việc lựa chọn giới thiệu các nội dung ở mỗi cơ

sờ đào tạo cũng có sự khác biệt Chẳng hạn, tại Đại học Columbia (Mỹ),việc nghiên cứu và giảng dạy Chính trị học quốc giạ nhầm vào các nộidung chính như: cấu trúc và hoạt động của chính phủ, hành vi chính trị,thể chế lựa chọn duy lý, lịch sử chủ nghĩa thể ché, chính trị Mỹ và MỹLatinh Trong khi đó, ờ Anh học phân này sẽ tập trung nghiên cứu vàgiảng dạy về Chính trị học và Chính phủ Anh, Chính trị học châu Âu

iiỉ) Chính trị học so sảnh

Chính trị học so sánh lấy sự so sánh các hệ thống chính trị làm đốitượng nghiên cứu cơ bản nhằm rút ra các kết luận các mối liên hệ có tínhnhân - quả Tuy nhiên, việc lựa chọn các trường hợp, các nước để so sánhkhông thể tùy tiện Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, tùy thuộc vào giảthuyết khoa học mà có sự lựa chọn phù hợp với mục tiêu Chính trị học sosánh thường lựa chọn một só hệ thống chinh trị điển hình để kiểm soát cácyếu to, rút ra các két luận về mối quan hệ mang tính nhân - quà thông quaviệc so sánh các yểu tố mà chúng ta thường gọi là “các giá tn chung, phổquát” của các hệ thống chính trị trên thế giới Một ví dụ đơn giản nhất là giữnguyên tất cà các yếu tố không đổt của một quốc gia, trong khi chi tập trungvào xem xét hai yếu tố biến đổi là “dân chủ” (kêt quả) và “thu nhập”(nguyên nhân) Khi xem xét một loạt các nước khác nhau, người ta có thểkết luận rằng: có sự tương

quan giữa hai yếu tố này Lịch sử phát triên của Chính trị học so sánhcũng chính là lịch sử của sự phát triển các phương pháp so sánh nhàm

nâng cao độ tin cậy của các kết luận.

Hiện nay, trào lưu nỗi bật của chính trị học so sánh ờ phương Tâyđược biết đến đuói tên gọi là Chủ nghĩa Ihể chế mới (Neo -

institutionalism), về thực chốt, đầy là sợ phát triền lên tầm cao hơn của

cách tiếp cận thể chế truyền thống bằng cách kết hợp với phát triển luậnhiện đại Theo đó, bên cạnh việc % trung vào thà* tố quan trọng nhất của

hệ thống chính tộ là nhà nước và các thành tố cơ bản khác, những nộiđung nghiên cứu đã có sự chuyển dịch về trọng tâm và phương pháp như:nhấn mạnh vào hành vi chính trị (đặc biệt là bầu cử); nghiên cứu nhữngthay đổi trong tính chốt của các đống phình trị; vai trò của lãnh đạo chỉnhtrị với quá trình chính trị, chẳng hạn như đối vói vấn đề dân chủ hóa; vaitrò của nhà nước đối với nền kinh tế; mối hên hệ giữa thể chế chính trị dân

Trang 16

chủ vói tăng trưởng, phát triển; văn hóa chfnh trị với việc hỉnh thành cácnền dân chủ

Nói cách khác, các nghiên cứu như vậy đã làm cho Chính trị học sosánh ngày càng ít tập trung vào so sánh pháp lý, mà đi sâu vào các lĩnhvực của mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, và các quá trinh xã hội thực

té như quá trình hoạch định và triển khai chính sách

Chính trị học so sánh đặt trọng tâm là nghiên cứu các nền chính trịkhác nhau (ở các quốc gia khác nhau, cũng như trong cùng một quốc gia,nhưng ở các thời kỳ khác nhau), và có thể theo nhiều cách tiếp cận khácnhau như trên đã chi ra

Chính trị quốc tế

Tùy thuộc vào từng cơ sở nghiên cứu và đào tạo trên thế giới,

chính trị quốc té (quan hệ quốc tế) có thể được coi là một phần nội dungquan ừọng của Chính trị học, hoặc có thể là một khoa học có tính độc lậphon mang tính liên ngành Nó nghiên cứu vấn đề ngoại giao giữa cácnước, các vấn đề toàn cầu và cách thức giải quyá chúng thông qua các hệthống quốc tế Các chủ thể tham gia vào quá trinh này gồm các quốc gia,

các tổ chức quốc tế, các tồ chức liên chinh phủ (IGO), các tổ chức phi

chính phủ (NGO), các cong ty xuyên quốc gia (TNC)

Dù được cho là ra đời từ khá sớm, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX,

Chính trị quốc té mới trở thành một ngành khoa học nằm trong Chính trịhọc và ngày nay, nó ngày càng trờ thành một ngành học mang tính liênngành Nội dung nghiên cứu của nó có thể bao gồm các lĩnh vực như khoahọc công nghệ, kinh té học nghiên cứu về truyền thông, luật quốc té, dân

số, triết học địa lý văn hóa, ngoại giao

rBên cạnh các vấn đề mang tính truyền thống như: toàn cầu hóa, quan hệ ngoại

giao, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc té sự bền vững của môi trường sinh thái, chủ nghĩa dân tộc, vấn đề’ vũ khí hạt nhân, tài chính và ldnh té toàn cầu, nghiên cứu chính ứf quoc tế ngày nay cũng được mờ rộng tới các vấn

đề khác nhu: chủ nghĩa khủng bố, tội phạm có tổ chức, an ninh con người, chủ nghĩa can thiệp quoc té, quyền con người

Các nội dung nghiên cứu của Chính trị học ở Việt Nam

Chính trị học với tư cách là một bộ môn khoa học có đối tượng,phương pháp nghiên cửu riêng và tương đối độc lập vói các môn khoa học

xã hội khác, được hỉnh thành ở Việt Nam vào cuối những năm 90 cùa thể

kỷ XX

Trước những thay đổi của tình hỉnh thực tiễn chính trị trong nước vàthế giói, một số câu hỏi được đặt ra nhu: Con đường quá

Trang 17

độ lên chủ nghĩa xã hội ờ Việt Nam sẽ diễn ra như thế nào? Việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính tậ ở Việt Nam nên diên ra theo cách thức nào? Trong điều kiện một đảng cầm quyền thì phương thức lãnh đạo của Đảng nên được đổi mới như thế nào? Những vốn đề lý luận chính trị đó được đặt ra cấp thiết và đòi hỏi phải có lời giải đáp Từ thực tiễn đó, năm

1992, Viện Khoa học Chính trị, nay là Viện Chính trị học thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh đa ra đời để góp phần hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đó.

Trải qua 26 nam xây đựng và trưởng thành, ngành Chính trị học ở Việt Nam da có những bước tìển khá tích cực Nội dung của môn học được nghiên cửu và được đưa vào giảng dạy ở nhiều chương trình khác nhau Hiện tại, chuyên ngành Chính trị học được đào tạo ở hệ cử nhân, hệ cao học và nghiên cứu sinh Tại Học viện Phình trị quốc gia Hồ Chí Minh, môn Chính trị học được đưa vàc giảng dạy trong chương trình cao cấp lý luận chính trị, cử nhân chinh trị từ rất sớm Riêng ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chi Minh, chương trình cao học Chính trị học hiện nay được tập trung vào các nội dung chính như:

Lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông, phương Tây Ví Việt Nam

Tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin -và Hồ Chí Minh.

Các lý thuyết chính trị tập trung vào các vấn đề: lý luận vi quyền lực

chính trị và cầm quyen, văn hỏa chính tn, con ngườ chính trị, hệ thống

chính trị và thể chế chính trị, xung đột xã hội Ví xử lý điểm nóng chínhtrị

Chính trị học so sảnh nghiên cửu so sánh các hệ thống cMnl trị khár nhau trên thế giới, trong đó tập trung vào ba mô hỉnh hi thống chính trị tiêu biểu là: hệ thống đại nghị, hệ thống tổng thốnỊ và hệ thống hỗn hợp Trong những thập niên gần đây, do sự thànl

công của nhiều nước ngoài khối Ẳu - Mỹ, ngày càng có nhiều nghiên cứu

so sánh vượt ra khỏi khuôn khổ nghiên cứu truyền thống đó

Chính trị học Việt Nam tập trung nghiên cứu các vấn đề của hệ thốngchính trị Việt Nam, nghiên cứu cấu trúc và chức năng cùa từng thành tốtrong hệ thống chính trị, nghiên cứu sự tương tác giữa

các thành tố với tư cách là một hệ thống.

Chính trị học ứng dụng tập trung vào các nội dung nhu: Xung đột và

xử lý điểm nóng chính trị - xã hội, kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị,

tham nhũng và phòng, chống tham nhũng

Từ cấu trúc nội dung trên, trong phạm vi chương trình cao cấp lý luậnchính trị, một số vấn đề cơ bản của Chính trị học được lựa chọn giới thiệunhư:

Trang 18

+ Các vấn đề mang tính lý thuyết:

« Khái lược chung về chính trị học.

 Quyền lực chính trị trong xã hội hiện đại

 Văn hóa chỉnh trị

+ Các vấn đề mang tính ứng dụng:

Các mô hỉnh hệ thống chính trị.

 Nhà chính trị tiêu biểu

 Kinh nghiệm xử lý tình huổng chính trị

 Các vấn đề an ninh chính trị trong bối cảnh thế giới

biến đổi

 Sự PHÁT TRIỂN CỬA CÁC TRI THỨC CHÍNH TRỊ TRONG LỊCH SỬ

Nen chính trị đương đại là sản phẩm của quá trình phát triển tri thức,

tư duy chính trị của nhân loại Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con ngườisống trong xã hội luôn tìm cách trả lởi những câu hỏi

rất căn bản như: Quyền lực xã hội (mà căn bản là quyền lực nhà nước) bắt

nguồn từ đâu? Hình thức chinh thể nào là tốt nhất? Yen tố văn hóa liệu có tạo nên sự khác biệt trong chính trị ở từng quốc gia, tùng khu vực không?

Từ góc nhln của Chinh trị học có thể tháy, lịch sử phát triển của tri thức chính trị nhân loại có một sổ nội đung nổi bật: 1) Sụ phát triển nhận thức về nguồn gốc của quyền lục nhả nước (bước chuyển từ thần quyền sang thế quyền); 2) Sự phát triển nhận thức về các mô hỉnh chính thể (đỉ từ quân chủ, quý tộc đến dân chủ); 3) Sự phát triển nhận thức về kiểm soát quyền lực; 4)

Sự phát triển nhận thức về pháp quyền; 5) Sự phát triển nhộn thức về sự phù hợp giữa yếu tổ thể chế vói yếu tố vãn hóa bản địa.

Sự phát triển nhận thức về nguồn gốc cùa quyền lực nhà nuủc Khi chuyển

từ “trạng thái tự nhiên” sang “trạng thái xã hội”, con người sống thành cộng đồng, thi tất yếu cần đến một bộ máy với thẩm quyền chính thức để duy trì đòi sống cộng đồng trong vòng ổn định, trật tự Câu hòi đặt ra là: Quyền lực này đến từ đâu? Nỏ có vai trò nhu thế nào ừong đời sống xã hội? Có nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này.

Quyền ¡ực nhà nước có nguồn gấc từ đắng siêu nhiên Trong xã hội

phong kiến, sự kết hợp giữa thần quyền và thế quyền đã tác động mạnh mẽ đén cảc lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và cùa nhà nước nói riêng Để củng cố sự thống trị của minh, giai cấp phong kiến biện hộ rằng quyền lực nhà nước là sản phẩm của thượng đé, do thượng đé trao cho ông vua, hay hoàng đé để thay mặt thượng đế cai quản trần thế.

Trang 19

Theo cách giải thích phổ biến của các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ đấng siêu nhiên thần thánh, từ hời Vua

là thiên tử, con hời, thay mặt trời để cai trị

thiên hạ Quyền lực của tròi là tuyệt đối và không thể nghi ngờ do đó, sựcai trị của vua cũng là tuyệt đối Vua có thể thực thi quyền lực của mỉnhthông qua bộ máy quan chức do vua tuyển chọn Người dân trong xã hộiđược coi là thần dân, đối tượng của sự cai trị, có nghĩa vụ phải tuân thủ cácmệnh lệnh của vua Trong lý luận của Nho gia hay Pháp gia đều tuyệt đốihóa quyền lực của vua, trong mối quan hệ quyền lực giữa vua và tôi, bề tôi

có bổn phận phải trung thành vổi vua

Ở phương Tây, một số nhà tư tưởng cũng giải thích nguồn gốc củaquyền lực nhà nước theo quan điểm duy tâm Thomas Aquinas cho rằng,nguồn gốc của quyền lực nhà nước là từ thượng đế ông đã công thức hóa

lý thuyết đó bằng lập luận như sau:

 Con người - một động vật có tinh thần, lý trí, tín ngưỡng và có tính xãhội - sống thành cộng đồng, thành xã hội là một đòi hỏi tất yếu mang tínhbản chất

 Để sống trong xã hội cần phải có một quyền uy cao hơn để chi huymỗi thành viên của xã hội nhằm đạt được các lợi ích chung

 Do đỏ, sự tồn tại của một quyền uy là đòi hỏi tự nhiên, vì để đạt mụcđích cần phải có phương tiện

 Quyền uy đó được sinh ra từ thượng đế - tác giả của tự nhiên

Mục đích của việc sử dụng quyền lực nhà nước, dù xuất phát

từ thượng đế, chúa trời là nhằm thiết lập trật tự và công bằng xã hội, tạo sự

ổn định và phát triển xã hội

Quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ trằn thế

Tù thời cổ đại, cả Platon và Aristotle đều xem quyền lực được hìnhthành một cảch tự nhiên gắn với nhu cầu sống chung của con người

Đến thời cận đại, cùng với những đòi hỏi về tự do, dân chủ giai cấp tưsản đã chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà

nước phong kiến, đòi hỏi sự bỉnh đẳng trong việc tham

gia nắm giữ quyền lực nhà nước Trong thời kỳ này, nhà nước thé tục và quyền lực nhân dân mới được đặt ra một cách quyết liệt và rõ ràng.

Xuất phát tù quan điểm pháp quyền tự nhiên, các nhà

tư tưởng ứtòi kỳ này cho rằng, nhà nước là sản phẩm của một khé ước xã hội và sợ thỏa thuận của các thành viên trong xẫ hội chính là cư sở cho mọi chính quyền hợp pháp

Trang 20

(J.Locke, Th.Hobbes, S.Montesquieu) Lập luận chủ yếu của học thuyết này là: Con người sinh ra đều tự do và bình đẳng, có các quyền tự nhiên của minh Trong quá trình liên kết, sống thành cộng đồng, các cá nhân xuát hiện các xung đột, mâu thuẫn, có nguy cơ dẫn tới sự tiêu diệt lẫn nhan Do đó, quyền tự nhiên vốn có của con người bị vi phạm Để bảo vệ quyền tự nhiên của minh, các cá nhân trong xã hội cùng nhan ký kết một bổn khế ước, hình thành một qưyền lực chung Chính người dần, thông qua khế ước, đã trao quyền tự nhiên của minh cho chính quyền - và sự ủy quyền của các cá nhân thông qua khế ước

là cơ sở cho mọi chính quyền hợp pháp.

Mục đích của chinh quyền là bảo vệ các quyền tự nhifin của con người (cuộc sống, tự do và các quyền tài sản của cá nhân) và bất cứ hoạt'động nào của chính quyền diễn ra ngoài phạm vi đó là không chính đáng Đây cũng chính là giởi hạn của chính quyển Nếu vượt qua mục đích trên thi đó là một chính phủ lạm quyền Nếu chính quyền không bảo vệ được quyền tự do của người dân thl người dân có quyền phá bỏ khế ước để hình thành nên một chính quyền mới.

Đối vói J.Rousseau, tư tưởng cùa ông có một chút khiSr biệt Cũng xuất phát tù cách tiếp cận về khế ước xã hội, nhung J Rousseau lại cho rằng, sứ mệnh của nhà nước không phải chi lả nhằm đạt được các mục đích cua con người tự nhiên, mà ở mức cao hơn, nhà nước phải tạo

ra các mục đích mói cho con ngưòi.

Chủ nghĩa Mác lý giải quyền lực nhà nước ra đời

không phải từ lực lượng siêu nhiên, cũng không phải từ

“khế ước xã hội”, mà ra đời từ nhu cầu giải quyết các

mâu thuẫn, xung đột (trước hết là các mâu thuẫn, xung

đột về lợi ích kinh tế) khi xã hội phân chia thành các giai

cấp khác nhau Quyền lực nhà nước có đặc trưng là sử

dụng bộ máy cưỡng ché của giai cấp thống trị Bộ phận

cấu thành quan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền

lực Tihà nước là ý chí của giai cấp cầm quyền và nó

được hiện thực hóa bởi bộ máy nhà nước Bộ máy này

tạo nên sức mạnh của quyền lực nhà nước Bản thân bộ

máy nhà nưóc, cùng với pháp luật là những công cụ thực

hiện quyền lực nhà nước Mục đích của chủ nghĩa Mác

Trang 21

là hướng tói xây dựng một xã hội trong đó không còn

nhà nước và quyền lục nhà nước với tư cách là tồ chức

thực hiện chức năng thống trị giai cấp

Sự phát triển nhận thức về các mô hình chỉnh thể

Quyền lực chung nên được tổ chức như thế nào? Đây

là vấn đề căn bản khi bàn về bản chất của chính quyền

Bản chất này thể hiện thực chất của quan hệ giữa người

cai trị và ngưòi bị cai trị Từ thời cồ đại, các nhà tư

tưởng phương Tây đã đưa ra các mô hình chính thể phổ

biển trong lịch sử

Theo quan điểm của Platon, chinh quyền (nhà nước)

phải vì lợi ích cộng đồng Nhà nước phải không vì lợi

ích của một người, một nhóm người, một giai cấp riêng

biệt, mà nhà nước phải là nhà nước vì mọi người Nhà

nước phải nằm dưới sự lãnh đạo chuyên quyền của một

(hoặc một số ít) các nhà thông thái và điều hành theo

pháp luật

Theo ông, đám đông dù lớn đến đâu cũng không bao

giờ có được tri thức và uy tín chính trị để điều hành nhà

nước một cách thông minh

Trong tác phấm Luật pháp (The Laws), Platon chia

nhà nước ra làm hai loại vói ba kiểu thể chế cho mỗi loại:nhà nước có pháp luật là nhà nước tốt, nhà nước vô phápluật là nhà nước xấu Trong nhà nước có pháp luật, ôngcoi thể chế lý tưởng nhất chính là sợ chuyên quyền, độctài của một ông vua nhân từ và thông thái, vói phẩm chát

“vàng” Tiếp đó là nhà nước do một số người cai trị (vỉ xãhội) và cuối củng mói là nhà nưóc do đa số nhân dãn caitrị trực tiếp (thông qua hỉnh thức luân phiên) Tuy nhiên,

ở chiều ngược lại, nếu trong các nhà nước lchông có phápluật thì thể chế ít tồi tệ nhất lại là thể chế thuộc về dânchứng, do dân chúng cai trị và thể chế tồi tệ nhất là thểchế độc tài (một người cầm quyền vì lợi ích của bản thânminh) Như vộy, thể chế dân chủ là “tồi tệ nhất trong cácnhà nước cỏ pháp luật và tét nhất trong các nhà nướckhông có pháp luật” Theo Platon, dân chủ vói nghĩa là đa

số dân chúng cai trị trực tiếp sẽ chi tạo nên một nhà nướcyếu về mọi mặt, nên nó không những “không làm đượcđiều tốt nhất”, mà cũng không đủ khả năng “làm được

Trang 22

điều tồi tệ nhát”, về cơ bản, ông cổ vũ cho một nhà nước

“độc tài thông minh và nhân từ”, nơi mả tài sản và cả trẻ

em đều thuộc về nhà nước và do nhà nước đảm nhậnchăm sóc

Aristotle không đồng ý với quan điểm về nhà nước lýtưửng của Platon và cho rằng như vậy là không khả thi vàcực đoan, đặc biệt là việc nhà nước sở hữu chung cả tàisản và trẻ em

Khi nghiên cứu luật cơ bản của 158 thành bang, ôngchia thành hai loại chính thể: tốt (vì lợi ích chung, cộngđồng) và xấu (vì lợi ích riêng, cá nhân) Mỗi loại có babiến thể theo tiêu chí số lượng ngưòi cầm quyền là: mộtngười, một nhóm người, hay đa số (toàn dân) nhân dâncầm quyền Theo đó, có ba loại chính thể tốt là: quân chủ,quý tộc và dân chủ thành bang (polity); ba loại chính thểxấu tương ứng là độc tài, quả đầu và dân chủ đám đông(democracy)

Theo Aristotle, nhà nước lý tưởng nhất là nhà nướcquân chủ

do một ông vua thông minh và nhân từ cai trị, nhưng

ừên thực tể không có những ông vua như vậy, nên đó chi

là lý tường không có tính hiện thực Ngay cả chính thể

quý tộc trị, tức là chính thể được cai trị bời một nhóm

người tốt, ông cho rằng cũng là quá cao so với hiện thực

Ông lo ngại rằng, trên thục tế dễ xảy ra tình huống số

đông, vốn luôn nghèo, cai trị và đa số người nghèo sẽ

tước đoạt tài sản của thiểu số vì lợi ích riêng của đa sổ

Vậy đâu là hình thức chinh thể tốt nhất trong hiện

thực? Aristotle cuối cùng đã đi đến ủng hộ ý tưởng về

dân chủ thành bang (tức polity), nơi mà số đông cai trị,

nhung vỉ mục đích chung (tức là một nền dân chủ tốt

thực sự) Trong bối cảnh xã hội lúc đó hìnli thức này có

thể coi là nằm giữa chính thể quý tộc/quả đầu với dân

chủ mị dân, tức là chính phủ của tầng lớp trung lưu

Trong đó giới quý tộc và giới bình dân đều không nắm

trọn quyền mà có sự cạnh tranh và thay thể nhau Điều

căn bản là chính phủ phải vì lợi ích chung chứ không

phải vì lợi ích của người đang nắm quyền1

Bảng: Các loại chỉnh thể tổt đẹp và sự tha hóa của chúng

Chính thế tổt Chính thể bị

Trang 23

(Vì lợi íchchung, cộngđồng)

Cai trị bởi sổ đông

Dân chủ (thành bang)

Dân chủ (đámđông, mị dân)

Xcm Ỵín Sừng (Chủ biên): Các loại hình thề chế chinh trị đương đại và những giá trị tham khảo cho Việt Nam hiện nay, Nxb.Chính trị quoc gia H 2016 tr 13-20.

Hầu hết, các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng và Cậnđại đeu ủng hộ mô hình chính thể dân chủ và cho rằng đó

là mô hình tôtnhất phù hợp với bản chất con người

Nếu nhu ở phương Tây, việc tìm kiếm các mô hỉnhchinh thể tốt nhất phù hợp với bản chát con người luônđược đặt ra trong suốt chiều dài lịch sử, thì ở phươngĐông, các nhà tu tưởng Trung Quốc cổ đại lại mặc nhiênthùa nhận bản thân chính thể quân chủ chuyên chế đa làtốt và tìm cách để bảo vệ nổ Công việc chính mà các nhà

tư tưởng quan tâm là làm thế nào để có được một ông vuatốt

Sự phát triền nhận thức về kiểm soát quyền lục

Quyền lực nhà nước là cái cần thiết cho xã hội, đượchình rtiành với mục đích ban đầu là làm cho con ngườisống hạnh phúc, bảo vệ các quyền tự do của con người,đảm bảo cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự, ổn định vàphát triển Thế nhưng, các bằng chứng lịch sử cho thấy, từkhi hình thành nhà nước đến nay, thay vì bảo vệ quyền tự

do của con nguòi, thì chính quyền, nhà nước lại là chủ thểxâm phạm các quyền tự do của con người nhiều nhất Từ

đỏ dẫn đến sự tha hóa thẩm quỷền chinh thức, làm choquyền lực mất đi mục đích tốt đẹp ban đầu của nó

Trang 24

Các nhà tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại do quan

niệm ràng quyền lực nhà nước, quyền lực của vua xuất

phát từ đấng siêu nhiên, nên nó gần như không bị chủ thểquyền lực nào kiểm soát; có chăng chi là sự kiểm soátmột cách vô hlnh từ “thượng đế”, và sự tự kiểm soát củabản thân người cai trị Sự tự kiểm soát này dựa vào cácchuẩn mực đạo đức và nỗ lực kiềm chế tham vọng củangười cai trị như trong tư tưởng Nho gia Sự kiểm soẵtnày có hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất lớn vào nhậnthức của những người cai trị

Tuy nhiên, do nhà vua không thể tự minh cai trị xãhội, mà

phái thông qua hệ thống quan lại dưói quyền, nên nguy

cơ quyền lực của vua bị các quan chức lạm dụng vẫn có

thể xảy ra Bằng cách này hay cách khác, các nhả tư

tưởng cũng đề xuất những biện pháp giúp vua kiểm soát

quyền lực của bề tôi thông qua hệ thống kiểm tra, giám

sát giữa các cơ quan do vua lập ra, hoặc bởi các cá nhân

do vua chi định, hoặc thông qua hệ thống Pháp Thế

-Thuật như Hàn Phi Tử đề xuát

Còn ở phương Tây, kiểm soát quyền lục là một trong

những vấn đề cơ bản trong các nghiên cứu về chính trị

học và là nội dung trọng tâxp của lý thuyết phần quyền

Tuy có nguồn gốc sâu xa ữong lịch sử, tư tưởng phân

quyền chi trở thành một lý thuyết hoàn chỉnh trong thòi

kỳ Khai sáng Những người phát triển lý thuyết này là

triết gia người Anh, John Locke (1632-1704) và người

có công phát triển nó một cách hoàn chình là nhà luật

học người Pháp S.Montesquieu (1689-1755)

Nội dung cốt lõi của lý thuyết này là: Quyền lực nhà

nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò

của mình Bất cứ ở đâu có quyền lực là ở đó có thể xuất

hiện khả năng lạm quyền cho dù quyền lực ấy thuộc về

ai Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công

dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của chính phủ, thi

phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà

nước Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giói hạn

quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện

không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra

Thể ché chính trị tự do là thể ché chính trị trong đó quyền

Trang 25

lực tối cao được chia làm ba quyền: lập pháp hành pháp

và tư pháp Các quyền này phải được trao cho các bộ

phận độc lập vói nhau nắm giữ Sự phân chia quyền lực ở

đây phải được thể hiện trên cơ sở của pháp luật, nghĩa là

các nhánh lập pháp hành pháp và tư pháp chi được thực

hiện những quyền mà pháp luật quy định

Trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật,

Montesquieu nhấn manh: “Khi mà quyền lập pháp vàquyền hành pháp nhập lại trong tay một nguòi, hay mộtviện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vlngười ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chi đặt ra luậtđộc tài để thi hành một cách độc tài Cũng không có gi là

tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp

và quyền hành phốp Nếu quyền tu pháp nhập lọi vớiquyền lập pháp thi người ta sẽ độc đoán đói vói quyềnsổng và quyền tự do của công dân, quan tòa sẽ là ngườiđặt ra luật Neu quyền tư pháp nhập lại với quyền hànhpháp thi ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.Nếu một nguôi, hay một tổ chức của quan chức, hoặc của

quý tộc, hoặc của âm chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực

nói trên thl tất cả sẽ mất hết”

Luật pháp ở đây phải mang tính khách quan, phải thừanhận các quyền tự do cá nhân, và bản chất của nó phải là

sự thể hiện ý chi chung của nhân dân

Tuy nhiên, nội dung cùa lý thuyết phân quyền khôngchỉ dừng lại ở việc phân định chức năng cho các nhánhquyền lực, mà còn tiến đến một mục đích cao hem, đó là

cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, haycòn gọi là cơ chế kiềm chế và đối trọng Kiềm ché và đốihọng là tập hợp các quyền và trách nhiệm do pháp luậtquy định làm cơ sở để các nhánh quyền lực thực hiệnkiểm soát lẫn nhau Nó tạo lập mối quan hệ chính trị -pháp lý giữa các nhánh quyền lực, sao cho các nhánh đó

có thể độc lập thực thi nhiệm vụ bằng những thẳm quyềnpháp lý của minh, đồng thời có thể ngăn chặn được sựlạm quyền của một nhánh nào đó Theo ỉý thuyết này, cơchế phân quyền và đối trọng quyền lực được thể hiện ralà:

Trang 26

 Lập pháp ban hành luật, giám sát việc thực hiện cácđạo luật

do nó ban hành và truy tố những quan chức trong bộ

máy bành pháp khi họ vi phạm trách nhiệm

 Hành pháp có nhiệm vụ thực thi pháp luật, ngăn

chặn những dự định tùy tiện của cơ quan lập pháp

 Sự độc lập của cơ quan tư pháp và các quan tòa

nhằm bảo vệ công dân khỏi sự xâm hại bởi những đạo

luật của cơ quan lập pháp cũng như hành vi tùy tiện của

cơ quan hành pháp Thông qua các cuộc bầu cử tự do,

nhân dân sẽ là ngưòi thực hiện sự phan quyền, và các

thiết chế quyền lực này phải tôn ừọng pháp luật và chịu

trách nhiệm trước nhan dân

Có thể thấy, lý thuyết phân quyền là một đóng góp

lớn cho lý luận về nhà nước pháp quyền hiện đại Tư

tường của Montesquieu về phân chia quyền lực được

phát triển thành lý luận hoàn chinh với mục đích kiểm

soát quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền tụ do chinh trị

của công dân

Ngày nay, kiểm soát quyền lực được xác định là đòi

hỏi tất yếu khách quan của một nhà nước dân chủ và trở

thành một nội dung chính ừong hiển pháp của nhiều

quốc gia Nhiều học giả tư sản cho rằng, bất cứ một ché

độ nào mà không thực hiện sự phân quyền, không đề cao

pháp luật và cơ ché kiểm soát quyền lực thì đó không

phải là nhà nước pháp quyền

Sự phát triển nhện thức về pháp quyền

Từ thời cổ đại, ờ cả phương Đông và phương Tây đã

hình thành các tư tưởng về pháp quyền Ở phương Đông,

những nhà tư tưởng của trường phái Pháp gia chính là

những người đề cao vai trò của pháp luật trong đời sổng

xã hội Hàn Phi coi pháp luật là chuẩn mực cao nhất của

việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thi không kể

đến tinh cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ sang

hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật Theo ông:

‘Tháp luật

Trang 27

Không hùa theo người sang Sợi dây dọi không uốn minhtheo cây gỗ cong Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôncũng không thể từ, kẻ dũng cùng không dám tranh Trừngtrị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không

bỏ sót kẻ thất phu”

Ở phương Tây, từ thời cổ dại cũng đã xuất hiện những

mầm mống của tư tưởng pháp quyền Tu tưởng về pháp

quyền ra đời nhằm chổng lại sự chuyên quyền, độc đoáncủa nhà vua, gắnliền với việc xác lập và phát triển các yếu

tố của nền dân chủ

Đến thời kỳ Khai sáng và cận đại, tu tưởng về pháp

quyền có bước phát triển mạnh mẽ Nó đã trở thảnh mộthọc thuyết và được áp đụng vào đời sống chính trị ở một

sổ nước phương Tây

Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đù khôngxem nhà nước pháp quyền là bộ phận trong học thuyếtcủa minh, nhung trong toàn bộ học thuyết ấy vẫn cónhững yếu tố pháp quyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ về vai trò củayếu tố pháp quyền trong tổ chức vả quản lý xã hội TheoNgười, Nhà nuóc pháp quyền phải là nhà nước thực sự

“của dân, do dân và vì dân” Nhà nước đó do dân bầu ra,hành động vl lợi ích của nhân dân, chịu sự giám sát củanhân dân

Ngày nay, tư tưởng về pháp quyền, về nhà nước phápquyền được coi là các tư tưởng tiến bộ, là giá trị chungcủa nhân loại Nhà nước pháp quyền với tư cách là mộtphương thức tổ chức và thực thi quyền lực được áp dụngphổ biến trên thế giới Nghiên cứu tư tưởng pháp quyền(hay tu tưởng về nhà nước pháp quyền) cỏ thể rút ranhững dấu hiệu cơ bản chung nhất như sau:

 Pháp luật phản ánh ý chí của nhân dân, là công cụquan trọng để giới hạn quyển lực nhà nước

 Pháp luật là tối thượng, pháp luật giữ vai trò thốngtrị ừong đời sống xã hội

Nhà nước và các cơ quan nhà nước chịu sự ràng

buộc của pháp luật, đặt minh dưới pháp luật

Quyền và trách nhiệm của nhà nước và công dân

được quy định dựa trên cơ sở pháp luật

Trang 28

Quyền lực nhà nước được kiểm soát chặt chẽ bởi

chính các cơ quan quyền lực nhà nưởc (lập pháp - hành

pháp - tu pháp) và bời người dân

 Sự phát triển nhận thức về sự phù hợp của yếu tố thể

chế với yếu tổ văn hóa bản địa

Trên binh diện lý thuyết cũng như thực tế cho thấy,

không một lý thuyết chính trị nào được áp dựng mà

không có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện lịch sử

cụ thể, đặc biệt là phù hợp với yếu tố văn hóa của từng

quốc gia Điều này hoàn toàn hợp lý, bởi mọi lý thuyết

chi có thể có ích khi chúng thoát khỏi các chi tiết có tính

đặc thù của hoàn cảnh cụ thể, 'tập trung vào các quan hệ

chung nhất, bản chất nhất, ổn định và khó thay đổi nhất

Nếu không tính đén yếu tố này, các lý thuyết chinh trị

phương Tây sẽ khó có chỗ đứng trong đời sống chính trị

ở các nước phương Đông Khi tiếp nhận lý thuyết

mácxít - một lý thuyết vốn có nguồn gốc từ phương Tây,

Hồ Chí Minh đã nhận thấy, lý thuyết này chi có thể có

ích đối với Việt Nam nếu nó được bổ sung thêm yếu tố

văn hóa, “dân tộc học” của Việt Nam

Thực té các nền chính trị thế giói đương đại cũng cho

thấy, cho dù các quốc gia có thể áp dụng các lý thuyết

chính trị giống nhau, nhưng vận dụng vào từng quốc gia

lại có sự khác biệt Nền chính trị ở các quốc gia Đông Á

là một ví dụ khá điển hình (trường hợp Nhật Bản,

Singapore, Malaysia ) Khi Mỹ thay mặt cho lực lượng

Đồng minh tiếp quản Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới

thứ hai, một trong những nhiệm vụ mà người Mỹ phải

làm là thiểt kế một mô

hình chính trị dân chủ cho quốc gia này Tuy nhiên,người Mỹ đã không dùng mô hình hệ thống chính trị củaminh để áp dụng cho Nhật Bản, mà thiết kế một hệ thổngchinh trị khác phù hợp với Nhật Bản, trong đó vẫn tiếptục duy tri địa vị của vua trong mô hỉnh quân chủ đạinghị

Những năm cuối thế kỷ XX, thể giói dã từng chúng

kiến cuộc đại tranh luận giữa Mahathir Mohammad - Thủtướng Malaysia và Lý Quang Diệu - Thủ tướngSingapore với các học giả phương Tây về các mô hỉnhdãn chủ Cả hai người đều ủng hộ các giá trị châu Á, mặc

Trang 29

dù cách giải thich của họ về các giá trị này thường gâynhiều tranh luận Theo quan điểm của họ, các nước Đông

Á cần xây dựng một mô binh dân chủ phù hợp vói vănhóa của riêng minh Cái quan trọng đối vói các nước này

là sự ổn định để phát triển, chứ không phải là các quyền

tự do, dân chủ kiểu phương Tây

c CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN

 So sánh và lý giải sự khác nhau giữa nội dungnghiên cứu cùa Chính trị học thế giới và Chính trị học ởViệt Nam?

Tại sao Aristotle lại cho rằng: “về tự nhiên, con

người là một sinh vật chính trị”?

 Tổ chức hộ máy nhà nước hiện đại kế thừa các tưtưởng chính trị nào từ trong lịch sử?

D CÂU HỎI ÔN TẬP

 Phân tích các cách hiểu khác nhau về chinh trị?

 Các tiêu chí để phân biệt giữa tư tưởng chính trịcánh tả và tư tưởng chính trị cánh hữu là gì?

 Phân tích sự phát triển của các tri thức chinh tộtrong lieh sử?

E TÀI LIỆU HỌC TẬP

* Tài liệu bắt buộc

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo

trình Cao cấp lý luận chính trì: Chính trị học, Nxb.Lý luận

chính trị, H.2018

Lưu Văn Sùng (Chú biên): Các loại hình thể ỏhể

chính trị đương đại và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

hiện nay, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2016, tr.11-73.

Tô Huy Rứa (Chủ biên): Mô hình tô chức và hoạt

động của hệ thống chinh trị một so nước trên thể giới,

Nxb.Chính trị quốc gia, H.2008.

Tudor Jones: Các nhà tư tưởng và các ỷ tường chính

trị hiện đại, Nxb.Tri thức, H.2017, Ừ.33- 196?

* Tài liệu đọc thêm

Trang 30

1 Ngô Huy Đức, Trịnh Thị Xuyến (Bồng chủ biên):

Chỉnh trị học so sánh - Từ cách tiếp cận hệ thong cấu trúc

chức năng Nxb.Chính trị quốc gia, H.2012.

Jean - Jacques Rousseau: Bàn về khế ước xã hội,

Nxb.Lý luận chính trị, H.2006

John Locke: Khảo luận thứ hai về chính quyền - chỉnh

quyền dân sự, Nxb.Tri thức, H.2007.

Montesquieu: Bàn về tinh thần pháp luật, Nxb.Lý

luận chính trị, H.2004

Bài 2

QUYỂN Lực CHÍNH TRỊ TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

MỤC TIÊU

về kiến thúc: Học viên nắm được những ván đề lý luận

chung về’ quyền lực chinh trị: khái niệm, dặc điểm, cơ sởkhách quan, quá trình thực thi quyền lực chính trị; những

biến đổi của quyền lực chính trị trong xS hội hiện dại;

cách thức tổ chức và thực thi quyền lực chính trị ở ViệtNam và các ván đề cấp bách hiện nay

về kỹ năng: Học viên vận đụng khuôn khổ lý thuyết về

quyền lực để phân tích và giải quyết các tình huống, cácquan hệ quyền lực chính trị cụ thể trong cuộc sống, có cáinhln khách quan trước những biến đổi ữong xã hội hiệnđại

về tư tưởng- Xây dụng, củng cố lập trường tư tưởng

cho học viên trên cờ sở nền tảng của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng VàNhà nước về quyền lực chính trị và thực thi quyền lựcchính trị ở Việt Nam hiện nay

Mác- NỘI DUNG

1 KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN Lực VÀ QUYỀN Lực CHÍNH TRỊ

Trang 31

Lý luận về quyền lục 1.1.1 Khái niệm quyền lực

Quyển lực là một trong nhũng khái niệm quan trọngnhất trong nghiên cứu về chính trị, đồng thời khái niệmnày cũng rốt pầốc tạp,

gây nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu do có

nhiều cách hiểu khác nhau

Robert Dahl cho rằng: A có quyền lực đối với B khi

ông ta (hoặc bà ta) có thể buộc B làm điều mà B lẽ ra

không làm

Theo Steven Lukes: A thực thi quyền lực đối vói B

khi A tác động đến B theo cách trái ngược với lợi ích

của B

Còn theo Max Weber: Quyền lực là khả năng của

một chủ thể buộc chủ thể khác phải hành động theo ý

muốn của mình, bất kể sự kháng cự

Ở đây có những điểm khác biệt quan ừọng: Định

nghĩa của Dahl coi A có quyền lực néu anh ta có thể thay

đổi hành vi của B trong khi Luke lại không dựa trên bất

kỳ sự tác động đến hành vi nào, mà chi dựa vào ảnh

hường của A đối với lợi ích của B Còn với Weber,

quyền lực không nhằm tạo ra sự thay đổi, mà là ngăn

chặn hành vi của một chủ thể mà lẽ ra, néu người nắm

giữ quyền lực không can thiệp, anh ta sẽ hành động theo

một cách nào đó có thể dẫn tới sự thay đổi

Không có một định nghĩa được chấp nhận chung về

quyền lực, nhưng ỷ tưởng căn bản đó là: Quyền lực là

năng lực của một chủ thể, buộc chủ thể khác phải hành

động theo ý chí của mình bất kể sự kháng cự Tức là chủ

thể A có thể bắt buộc chủ thể B làm điều c.

Các đặc trưng cơ bản của quyền lực

Hiện nay, còn nhiều tranh luận về đặc trưng của

quyền lực nhung có thể nêu 4 đặc trung cơ bản cùa

quyền lực như sau- Tính tương tác xã hội: Đặc trưng này

hầm ý rằng, quyền lực

đòi hỏi sự tương tác cùa ít nhất hai chủ thể, tửc quyền lực

là một quan hệ xã hội Quyền lực là một quá trình tuơngtác và quyền lực sẽ không tồn tại cho đén khi nó được thểhiện thảnh các hành động tưcmg tác cùa từ hai chủ thể

Trang 32

trở lên Cả chủ thể chỉ phối và sự phản kháng của người

bị chi phối đều có ý nghĩa quan trọng trong việc

Tính mục đích: Có nhiều loại quan hệ xã hội, nhung

quyền lực là mối quan hệ có tính mục đích, vói nghĩa là

sự tác động đến người khác luôn cỏ chủ ý, cho đù két quả

có thể khác hoặc thậm chí ngược lại với chủ ý Tính mụcđích giúp phân biệt quan hệ “quyền lực” (một chiều, cóchủ đích, có hiệu lực) vói “sự ảnh hưởng” nói chung (haichiều, không có chủ đích, không chắc chắn về hiệu lục)

đù chúng có thể có chung hỉnh thủc thể hiện

Tính cưỡng ép: Quan hệ quyền lực luôn đựa trên

năng lực cưỡng ép (thưởng - phạt) đi kèm, đủ lớn để vượtđược sự chống đổi Đặc trung này thường được coi là cănbản vỉ nó phân biệt quyền lực vói các quan hệ xã hội cótính mục đích khác nhu “thuyết phục”, “lừa đảo”, “dụdỗ” Năng lực cưỡng ép như vậy rất đa dạng, bao gồm

cả sự thưởng - phạt về vật chất và tinh thần

Tính chính đảng: Tính cưỡng ép (kể cả bằng bạo lực)

dù có lán đến đâu cũng chưa đảm bảo hoàn toàn kết quảcuối cùng theo đúng mục đích vì phụ thuộc vào sự chốngđối của chủ thể bị chi phối Và do vậy, quyền lực cũngcần có tính chính đáng, vấn đề trung tâm của tính chínhđáng chính trị là quá trình và phương thức thuyết phụcbằng lý lẽ và lương tri Sự biến chuyển của các chế độchính trị, của quyền lực có thể coi là sự thay đổi trongquan niệm về tính chinh đáng chính trị Tính chính đángbao gồm: tính công ích, tính hợp lệ trong cách thức đạtquyền lực và sử dụng quyền lực đúng mục đích và hiệuquả Ba yếu tố này tạo nên cấu trúc cho tính chính đángcủa quyền lực, trong đó cỏ thể thấy

chúng thuộc ba phương diện khác nhau: giá trị, thủ tục,

hiệu quả về nguyên tắc, tính chính đáng có thể xuất

phát và dựa vào thậm chí chi một trong ba yéu tố này,

tuy nhiên tính bền vững trong dài hạn lại đòi hỏi sự

đồng đều của cả ba yếu tố, tức của toàn bộ cấu trúc đó

Phăn loại quyền lực

Trang 33

Căn cứ vào phương thức tác động, có thể chia quyền

lực theo bốn loại binh chính nhu sau:

- Sức mạnh (Force): là thứ quyền lực mà một chủ thể

dùng sức mạnh của mình áp đặt lên đối tượng chịu tác

động bằng cách trao ngăn chặn, hoặc đe dọa sử dụng các

nguồn lục cụ thể lên đối tượng chịu tác động của quyền

lực Chủ thể phải sử dụng các nguồn lực đặc biệt cho

tương tác đó để đạt được mục tiêu mong muốn Sức

mạnh có thể được sử dụng theo ba cách khác nhau:

 Sức mạnh lợi ích (Utilitarian force): các đối tượng

phục tùng nhận được các lợi ích mong muốn từ chủ thể

quyền lực để đổi lại sự phục tùng:

 Sự cưỡng bức (Coersive force): được thực hiện

dựa hên sự ép buộc, hoặc đe dọa trừng phạt thân thể để

đạt được sự phục tùng

 Sự thuyết phục (Persuative force): cũng có thể

được gọi là quyền lực thông tin hay truyền thông Các

thông điệp được chù thể quyền lực sử dụng nhằm làm

thay đổi niềm tin, giá trị, thái độ cảm xúc, hoặc động cơ

cùa đối tượng chịu sự tác động nhàm đạt được sự chấp

thuận, phục tùng

- Vị thế thống trị (Dominance): có được từ việc chủ thể

quyền lực thực hiện các vai trò, hoặc các chức năng đã

được xã hội thừa nhận Khả năng sử dụng vị thế thống trị

chủ yéu phụ thuộc vào vị trí của chủ thể trong một mạng

lưới, hoặc tổ chức xã hội Khi các chủ thể có sự chuyên

biệt hóa về mặt chức năng sẽ tạo ra sự phụ

thuộc lẫn nhau Một chủ thể này có thể bị tác động bởihành động của những chủ thể khác - những người mà họ

bị phụ thuộc

Việc sử dụng vị thế thống trị không đòi hỏi chủ thểquyền lực phải dùng thêm bất kỳ nguồn lục nào cho sựtương tác mà nó dựa hoàn toàn vảo sự thực hiện thànhcông các hoạt động, hoặc các vai trò của chủ thẻ nắm vịthế thống tiị Khả năng sử đụng vị thế thống trị chủ yếuphụ thuộc vào vị tri của chủ thể trong một mạng lưới,hoặc tổ chức xã hội; do vậy, vị trí của chủ thể càng gầnđỉnh hoặc trung tâm của một cấu trúc xã hội, thỉ mức độảnh hưởng của vị thế thống trị càng lớn

Trang 34

- Thẩm quyền (Authority): là quyền đưa ra các chi thị,

mệnh lệnh cho người khác và buộc họ phải chấp hành

Để thực thỉ thẩm quyền, một chủ thể phải có tính chỉnhđáng và được những người chấp hành mệnh lệnh thừanhận Chẳng hạn, các chi thị do các quan chức chính phủđưa ra, về bản chất thường dựa trên thẩm quyền Ngườidân trao tính chính đáng cho chính phủ và các quan chứcnày đang thực thi thẩm quyền của chính phủ Trên thực

tế, hầu hết các mệnh lệnh của chính phủ đều mang tínhcưỡng chế vổi sự đe dọa công khai hoặc ngầm ển rằng,chính phủ sẽ sử dụng sức mạnh bạo lực nếu thấy cầnthiết để cưỡng chế thực hiện các mệnh lệnh này

Quyền lực chính đáng để thực thi thẩm quyền có thểđược trao cho các chủ thể theo những cách khác nhau

Nó bao gồm các thủ tục chính thức, các thỏa thuận bánchính thức giữa các thành viên của một nhóm, hoặc cácthỏa thuận không r.hính thức giữa các cá nhân MaxWeber (1947) đã xác định bốn cơ sờ của thăm quyền(quyền lực) chính đáng thường được xã hội chấp nhận:kiến thức duy lý (rational knowledge), hoặc trình độchuyên môn phù hợp với một tình huống cụ thể; cácquyền hợp pháp dựa trên các thỏa thuận chính thức; cácniềm tin và các giá trị truyền thống

được định hình theo thời gian; sự cuốn hút của nhà lãnh

đạo đối với quần chúng

- Sự lôi cuốn, thuyết phục (Attraction): là một hình thức

của quyền lực xã hội Nó dựa fren khả năng của một chủ

thể tác động đến chủ thể khác bởi những phẩm chất cá

nhắn của người đó Khi sử dụng quyền lực từ sự hấp

dẫn, chủ thể quyền lực phải dựa vào những thống điệp

mà minh truyền tói đối tượng tiếp nhận nhàm gây ảnh

hưởng đén họ Một chủ thể có kỹ năng tốt, có thể biến

các thông điệp, các lời kêu gọi thành quyền lực khi mà

nhò đó, các đối tượng tiếp nhận sẽ tuân theo nó một cách

tự nguyện Quyền lực có được từ sự lôi cuốn, hấp dẫn

thường xuất phát từ ba nguồn chính: 1) Có sự đồng nhất

về mặt nhận thức (sự tin tường, sự thuyết phục tuyệt

đối); 2) Tình cảm tích cực đối với lời kêu gọi; 3) Tạo ra

sự lôi cuốn đối vói một cá nhân hoặc một tổ chức nào

Trang 35

đó Tuy nhiên, sự hấp dẫn thường không ổn định và

mang tính nhất thời

Quá trình thực thi quyền lực

Quá trình thực thi quyền lực gồm bốn yếu tố: nắm

giữ, sờ hữu các nguồn lực; cam két sử dụng nguồn lực;

chuyển hóa các nguồn lực và vượt qua sự kháng cự

Sở hữu hoặc có quyền tiếp cận với các nguồn lực thích họp.

Để có quyền lực, chủ thể quyền lực phải nắm giữ, tiếp cận

hoặc kiểm soát các nguồn lực phù hợp với các tình

huống Các nguồn lực này có thể là hữu hlnh (tiền bạc,

của cải, hàng hóa, con ngưòi, vũ khí), hoặc vô hình (tri

thức, kỹ năng, vai trò, tính chính đáng, danh tiếng) Đẻ

sử dụng bất kỳ một loại quyền lực nào, chủ thể quyền

lực đều phải dựa vào một dạng nguồn lực nào đó

Cam kết sử dụng mật phần hoặc toàn bộ nguồn lực cho

một tình huống cụ thể.

Chủ thể quyền lực phải xác định mức độ quan trọng của tình

huống đang đặt ra, từ đó quyết định sẽ sử dụng nguồn lựcnào, với số lượng bao nhiêu Nếu đối tượng bị tác độngtin rằng người nắm giữ quyền lực sử dụng lượng nguồnlực đủ để tác động đến họ và có khả năng triển khai cácnguồn lực đó, họ có thể sẽ thay đổi hành vi, hoặc tutưởng của minh ngay cả khi không có quyền lực nàođược thực hiện một cách rõ ràng trên thực tế

- Chuyển hóa một cách hiệu quả các nguồn lục đã cam kết

thành các hành động quyền lực.

Để thực thỉ quyền lực một cách chủ động, chủ thểphải tiến hành chuyển hóa các nguồn lực đã cam kếtthành các hành động quyền lực Điều này đòi hỏi các kỹnăng và sự khéo léo của người sử dụng nguồn lực Do đó,

biết sử dụng các nguồn lọc của minh khi nào, ở đâu và

nhu thé nào một cách hiệu quả thường quan trọng hơntổng số nguồn lực mả mỗi người có

- Việc sử dụng quyền lực phải vượt qua sự kháng cự của

người bị tác động.

Không phải tất cả các nỗ lực thực thi quyền lực đềugặp phải sự kháng cự của đối tượng chịu sự tác động,nhưng luôn cần tính đến những tình huống như vậy Nếunhư sự kháng cự của đối tượng chịu sự tác động đủ mạnh

Trang 36

để ngăn chủ thể quyền lực tác động lên mình, thi không

có quyền lực nào được thực thi Sự kháng cự có thể diễn

ra dưới hỉnh thức phản đối, không chấp thuận một cáchthụ động, không quan tâm đến nỗ lực thực thi quyền lựccủa chủ thể, hoặc tự rút lui Việc thực thi quyền lực dovậy, thưòng là một quá trinh tương tác giữa các chủ thểtham gia và nó khổng hoàn toàn do chủ thể quyền lựcduy nhất quyết định Mức độ tương tác này còn phụthuộc vào mức độ bất cân xứng trong quan hệ quyền lực

 Lý luận về quyền lực chính tộ

1.2.1 Khái niệm quyền lực chính trị

Khi con nguời bắt đầu sống thành cộng đồng, quyền

lực công cộng1 xuất hiện Đó là nhu cầu tất yếu, khách

quan trong đời sống của con người khi đã tập hợp thành

xã hội - nhu cầu phối hợp hoạt động chung, bảo vệ cộng

đồng xã hội khỏi sự xâm hại từ bên ngoài và phân bổ các

giá trị bên trong cộng đồng Ban đầu, cơ quan quyền lực

công cộng gắn chặt với cộng đồng, vừa trực tiếp sản

xuất, vừa làm chức năng quản lý xã hội Trong loại hlnh

tổ chức xã hội này, quá trình thực thi quyền lực công

cộng rất minh bạch: cùng bàn bạc, cùng quyết định, cùng

thực hiện và cùng chịu trách nhiệm Tuy nhiên, mô hlnh

như vậy chi có thể tồn tại ở quy mô một thị tộc, hay một

cộng đồng nhỏ Khi sản xuất phát triển hơn, quy mô dân

cư tăng lên và các mối tương tác nhiều hơn cũng là lúc

xuất hiện nhiều hơn các hình thức liên kết cá nhân, liên

kểt các cộng đồng xã hội Quyền lực công cộng lúc này

bao trùm toàn bộ xã hội toong một lãnh thổ quốc gia có

chủ quyền và được gọi là quyền lực công

Các cơ quan quyền lực công được trao cho các

quyền: quyết định (sau này gọi là quyền lập pháp),

quyền thực thi các quyết định (quyền hành pháp), quyền

bảo vệ tính đúng đắn các quyết djnh - xử phạt những ai

vi phạm các quyết định công (quyền tư pháp) Những

người được giao nhiệm vụ thực thi quyền lực công có

quyền hạn nhất định và được giao các phương tiện công

để thực hiện quyền lực với những phương tiện đặc

quyền Một đặc điểm của tổ chức quyền lực công là

quyền lực được thực thi thông qua một bộ máy có nhiều

Trang 37

cơ quan quyền lực, nhiều cấp, tổ chức baọ trùm và rộng

khắp toàn xã hội (bộ máy nhà nước) Nhà nước là một tổ

Từ cách nhln thể chế, có thể có một số cách định nghĩa nhu sau:

Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; lả năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp minh - chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi Ị quyền lực nhà nước

Từ cách nhln hành vi, quyền lực chinh trị là khả năngđịnh hlnh, kiểm soát hành vi chính trị của người khác vàlãnh đạo, chi dẫn họ theo huỏng mà cá nhân, nhóm, hoặcchủ thể nắm giữ quyền lực chính trị mong muốn Quyềnlực chính trị là khả nâng của một chủ thể chính trị (chẳnghạn một cá nhân, một công dân, một nhóm lợi ích, mộtđảng phái, hoặc chính phủ ) tác động, tạo ra sự thay đổihành vi của các chủ thể chính trị khác

Có thể đưa ra định nghĩa chung về quyền lực chính trị như sau: Quyền lực chính trị là năng lực của một chủ thể trong việc áp đặt mục tiêu chính trị của mình đối với toàn xã hội.

Cần phân biệt ba loại quyền lực: quyền lực công, quyền lực nhà nuớc, quyền lực chính trị

Quyền lực công là quyền lực đại diện cho tất thảymọi thành viên trong xã hội, nảy sinh từ nhu cầu chung

cùa cả cộng đồng xã hội lý chí chung của cộng đồng) để

tạo ra và duy trì tính tổ chức và trật tự của xã hội

Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp cầm

Trang 38

quyền được tổ chức thành nhà nước Quyền lực nhà

nước vừa là công cụ áp đặt quyền lực chính trị của giai

cấp thống trị, vừa thực hiện ý chí và lợi ích chung của

toàn xã hội Bất kỳ quyền lực nhà nước nào cũng mang

tính chính trị, cũng là quyền lực chính trị, nhưng không

phải mọi quyền lực chính trị đều là quyền lực nhà nước

-nghĩa-là có loại quyền lực chinh trị của giai cấp cầm

quyền (nắm quyền lực nhà nước) và quyền lực chính trị

của giai cấp chua cầm quyền (chưa nắm quyền lực nhà

nước) So với quyền lực chính trị thi quyền lực nhà nước

hẹp hơn về cấp độ chủ thể, phương pháp thực hiện, hỉnh

thức thể hiện Quyền lực chính trị không chi là quyền lực

nhà nước, mà còn bao gồm các yếu tố khác của kiến trúc

thượng tầng chính trị như quyền lực của đảng cầm

quyền, của các tổ chức chính trị nhân dân phi nhà nước

Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp

(hay liên minh giai cấp), của một lực lượng xã hội Bản

chất của quyền lực chính trị là quan hệ sức mạnh giữa

các giai cấp trong việc giành, giữ, thực thi quyền lục nhà

nước, hoặc gây áp lực đối vói quyền lực nhà nưóc

Cơ sở xã hội của quyền lực chinh trị

Bất kỳ hoạt động chung nào của con người cũng đòi

hỏi có người tổ chức, ngưíri chi huy và người phục tùng

Đây là điểm xuất phát và là nội đung trung tâm của

phạm trù quyền lực Quyền lực chính trị xuất hiện là một

tất yéu Tính tất yếu đó xuất phát từ hoạt động sản xuất,

phân công lao động xã hội Từ nhu cầu phải phối hợp

ừong sản xuất, xuất hiện sự cần thiết phải phục tùng quy

trinh sản xuất khách quan, bất chấp tổ chức xă hội là như

thế nào Nói cách khác, quyền lực ra đời từ nhu cầu cần

tuân thủ kỷ luật lao động khách quan của quá trình sản

xuất Sự phân công sản xuất sẽ quyết định cách thức tổ

chức quyền lục Khi sự phân công sản xuất

thay đổi, phương thức tổ chức quyền lực chính tri cũngthay đổi Cách thức cấu trúc quyền lực chính trị thể hiệncấu trúc kinh tế - xã hội ẩn dưới

Sự gắn bó con người thành xã hội là một khuynh

huóng tự nhiên, và cũng qua xã hội, bằng xã hội (không ở

đâu khác) mả con người mưu cầu hạnh phúc Xã hội vận

động, phát triển đến trình độ nhất định dẫn đến phân hóa

Trang 39

giai cấp và tất yếu xuất hiện nhà nước vói sụ tập trungquyền lục đủ lán đảm bảo sự trệt tợ trong hoạt độngchung, trước hét lả hoạt động kinh tế.

Như vậy, chức năng nền tảng của nhả nước chính làchức năng xã hội của quyền lực công (vai trò côngquyền) Trong xã hội có giai cáp, chức năng đó bị lợidụng và biến tướng để thực hiện chức năng giai cấp, đảmbảo sợ thống trị của giai cấp cầm quyền

Trong các xã hội có giai cấp đối kháng trước đây, đểgiữ nhà nước trong tay minh, giai cấp thống trị nào cũng

buộc phải nhân danh xã hội quản lý những cổng việc

chung Việc giải quyết có hiệu quả nhũng vấn đề chungcủa xã hội sẽ tạo điều kiện để duy trì xã hội trong vòngtrật tự theo quan điểm và lợi ích của giai cếp cầm quyền.Như vậy, việc thực hiện chức năng xã hội theo quan điểm

và giới hạn của giai cấp cầm quyền là phương thức, làđiều kiện để nhà nước đó thực hiện vai trò thống trị giaicấp của nó Thực hiện chức năng quyền lực công là địa vịchính danh cùa nhà nuốc Song về thực chất, quyền lựccông đó cũng bị một giai cốp hay một lực lượng xã hộinhất định chi phối Vì vậy, quyền ỉực chính trị của giaicấp thống trị luôn có hai chức năng: chức năng chính trị(giai cấp) và công quyền (xã hội) Quýền lực sẽ chuyểndần từ chửc nâng chính trị sang chức năng công quyền.Trong tương lai, quyền lực sẽ mất đi tính chinh trị, chicòn tính chất quản lý (nhà nước tiêu vong)

Các đặc trưng cơ bản của quyền lực chỉnh trị

Tính tất yếu khách quan

Quyền lực chính trị là tất yếu khách quan trong quá

trinh phát triển của xã hội Khi con người sống thành

cộng đồng, quyền lực công cộng xuất hiện Khi xã hội

phân chia thành các giai cấp, xã hội chính trị xuất hiện,

quyền lực công được trao cho một giai cấp hoặc một lực

lượng xã hội nhất định nắm giữ Giai cấp hay lực lượng

xã hội đó thực hiện sự quản lý xã hội thông qua bộ máy

nhà nước và dựa trên hệ thống luật pháp Quá trinh đó là

một tất yéu khách quan để duy tri sự tồn tại của xã hội

Tính giai cấp

Trang 40

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp trong việc

giành, giữ và thực thi quyền lực, cơ bản nhất là quyền

lực nhà nước Quyền lực chính trị là quyền lực của một

giai cấp để thực hiện lọi ích khách quan của minh VI

vậy, quyền lực chính trị luồn mang tính giai cấp Đặc

trung này khác với quyền lực công là quyền lực đại diện

cho tất thảy mọi thành viên xã hội, ở cả những giai cấp,

lực lượng xã hội khác nhau Còn quyền lực nhà nước, về

hlnh thức bao giờ cũng thể hiện là quyền lực công nhung

về thực chất, quyền lực nhà nước luôn bị nắm, bị chi

phối bởi một giai cấp hay một lực lượng xã hội nhất định

(giai cấp thống trị)

Quyền lực chỉnh trị thống trị trong xã hội là quyền lực

của giai cấp, lực lượng xã hội giữ địa vị thống trị về kinh tế.

Đặc trưng này phản ánh mục tiêu thực chất của

quyền lực chính trị là nhằm thiết lập, duy tri một trật tự

bảo vệ và phát triển các lợi ích mà căn bản và trước hểt

là lợi ích kinh tế cho giai cấp, lực lượng xã hội nắm

quyền Do vậy, giành, giữ quyền lực chính trị luôn là

mục tiêu trực tiếp, trọng yếu của giai cấp, lực lượng xã

hội thống trị về kinh tế Như vậy, giai cấp nào thống trị

về kinh tế sóm

muộn sẽ thống trị về chính trị và nếu một giai cấp, lựcluợng xã hội đã làm chủ về quyền lực chính trị mà khôngxây dựng và giữ được địa vị chủ đạo về Vinh té thì sớmmuộn cũng sẽ không thể duy tri được quyền lực chỉnh trị.Quyền lực kinh te là cơ sở đe đảm bảo quyền lực về chinhtiị Quyền lực ve chinh trị là đreu kiện tien quyết để thựchiện quyền lực về kinh tế

Việc nắm giữ và thực thi quyền lực chính trị phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ich giai cấp với lợi ich chung của cộng đồng.

Mục đích của giai cấp, lực lượng xã hội nắm giữ quyềnlực chinh trị là sử dụng quyền lực để duy tri và bảo vệ một

trật tự xã hội có lợi cho giai cấp, lực lượng minh Tuy

nhiên, việc thực thi quyền lực chính trị bao giờ cũng phảithông qua hỉnh thức quyền lực công Do đó, khi nắm giữ

và thực thi quyền lực chính trị, lại cần đảm bảo móc độnhất định sự công bằng xã hội Quyền lực chính trị là công

cụ phục vụ cho lợi ích của một giai cấp, một lực lượng xã

Ngày đăng: 13/06/2021, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w