1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH quan hệ quốc tế

177 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 354 KB
File đính kèm GIÁO TRÌNH Quan hệ quốc tế.rar (343 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên canh những thành tựu đối ngoại đã đạt được, Việt Nam cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Tình hình the giới itang thay đổi nhanh chỏng, diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, các thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên gay gắt... Những khó khăn, thách thức này càng làm cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế trở thành nhiệm vụ cần thiết, thường xuyên cùa cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trịxã hội:Với vị trí và tầm quan trọng đó, môn Quan hệ quốc tế được xác rtịnh là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo các hệ lớp cùa hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và học tập môn học của học viên và để nâng cao tính khoa học và thực tiễn về quan hệ quốc tế trước những biến động nhanh chóng, khó lường cùa tỉnh hình thế giới hiện nay, Giám đốc Học viện đã ban hành Quyết định giao cho tập thể cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Viện Quan hệ quốc tế biên soạn giáo trình cao cáp lý luận chính trị môn Quan hệ quốc tể. Giáo trình gồm 7 bài, thể hiện những nội dung cơ bản và những vấn đề chủ yếu của môn học.

Trang 1

GIÁO TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

QUAN HỆ QUỐC TẾ

Tái bản lần thứ nhất

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO CHỈNH SỬA, HOÀN THIỆN

CHUÔNG TRÌNH ĐÀO TẠOCAO CẮP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ĐỒNG CHỦ BIÊNPGS, TS Nguyễn Viết Thảo - PGS, TS Phan Văn Rân

TẬP THÊ TÁC GIẢ

Bài 1: PGS, TS Trần Thọ Quang

Bài 2: PGS, TS Nguyễn Viết Thảo

Bài 3: PGS, TS Thái Văn Long

Bài 4: TS Lê Thị Tình

Bài 5: TS Trịnh Thị Hoa

Bài 6: PGS, TS Nguyễn Thị Quế

Bài 7: PGS.TS Phan Văn Rân

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộcBan Chấp hành Trung ương Đảng; đật dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trựctiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc giađào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quân lý trung, cao cấp, cán bộ khoahọc lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiêncứu khoa học lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoahọc lãnh đạo, quản lý

Chương trình Cao cấp lý luận chính tộ là chương trình trọng điểmtrong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Mục tiêu củachương trình này là: Trang bị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trungcấp, cao cấp của cả hệ thống chính trị có kiến thức nền tàng về lý luậnchính trị và quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sở cho việc củng cốnền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duy chiến lược,năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản

lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách cùa người cán bộ lãnh đạo đáp ứngyêu cầu bhiệm vụ của đất nước trong thcri kỳ đẩy manh công nghiệphóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế

Đổi mới, bổ sung, cập nhật các chương trình đào tạo, bồi dưỡngcán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh nhằm đáp ứng kịp thòi những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước ữong tùng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnhcủa đất nước và thế giới

Chương trình Cao cấp lý luận chính trị lần này được kết cấu gồm

19 môn học và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn côngphu, nghiêm túc, trí tuệ và ừách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học

Trang 4

đang trực tiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham giagóp ý, thầm định kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học ngoài Học viện.

Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản làn này kế thừacác giáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây, đồng thời, cập nhậtcác nội dung mới trong Văn kiện Đại hội xn của Đảng và các nghịquyết Trung ương khóa xn, tình hình mới của thế giói, khu vực và đấtnước, chú trọng bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn mới mà độingũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần quan tâm, nghiên cứu Phương châmchung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, hiện đại và thực tiễn.Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đónggóp quý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nóichung

BAN CHÌ ĐẠO CHỈNH SỬA, HOÀN THIỆN

CHƯONG TRÌNH ĐÀO TẠOCAO CẮP LÝ LUẬN CHÍNH TRI

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Ngảy nay, dưói tác động của cuộc cách mạng khoa học - côngnghệ và toàn cầu hóa, giao lưu và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thếkhách quan đối với các quốc gia - dân tộc Trong bối cảnh đó, Việt Namngày càng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Hoạt động đối ngoại

và hội nhập quốc tế của Việt Nam những năm qua đã góp phần quantrọng để duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy túi trên trườngquốc tế, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.Bên canh những thành tựu đối ngoại đã đạt được, Việt Nam cũngđứng trước không ít khó khăn, thách thức Tình hình the giới itang thayđổi nhanh chỏng, diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, tàinguyên, xung đột sắc tộc, các thách thức an ninh phi truyền thống nổilên gay gắt Những khó khăn, thách thức này càng làm cho việc nghiêncứu lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế trở thành nhiệm vụ cần thiết,thường xuyên cùa cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lýchủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị-xã hội:

Với vị trí và tầm quan trọng đó, môn Quan hệ quốc tế được xác

rtịnh là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo các hệ lớp cùa hệthống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Để đáp ứng yêu cầunghiên cứu và học tập môn học của học viên và để nâng cao tính khoahọc và thực tiễn về quan hệ quốc tế trước những biến động nhanh chóng,khó lường cùa tỉnh hình thế giới hiện nay, Giám đốc Học viện đã banhành Quyết định giao cho tập thể cán bộ nghiên cứu, giảng dạy củaViện Quan hệ quốc tế biên soạn giáo trình cao cáp lý luận chính trị môn

Quan hệ quốc tể Giáo trình gồm 7 bài, thể hiện những nội dung cơ bản

và những vấn đề chủ yếu của môn học Tuy nhiên, quan hệ quốc tế làlĩnh vực rộng lớn gồm nhiều vấn đề nhạy cảm và thường xuyên bién

Trang 6

đổi, cho nên chắc chắn cần phải bổ sung cập nhật và chỉnh sửa theo thờigian Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu vàhọc viên.

Xin trân trọng cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 7

Bài 1

QUAN HỆ QUỐC TẾ

VÀ HỆ THỐNG QUAN HỆ Quốc TẾ HỆN NAY

A MỤC TIỀU

về kiến thức: Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản, cập nhật về quan hệ quốc tế, gồm: khái niệm; các lý thuyết tiêu biểu về

quan hệ quốc tế; trật tự thế giới và quyền lực trong quan hệ quốc tế

về kỹ năng: Trên cơ sở những kiến thức lý thuyết có định hướng giúp người học trau dồi kỹ năng phân tích, đánh giá đúng các sự kiện

quốc té phức tạp đang diễn ra hiện nay Từ đó, đánh giá đúng bản chất và xu thế sự vận động của đời sống thế giới

về tư tưởng: Giúp học viên có công cụ lý thuyết, căn cứ lý luận để đánh giá thực tiễn các vấn đề của đời sống thế giới, chiến lược và

chính sách đối ngoại của các quốc gia Từ đó, củng cố nhận thức trong tiếp cận các vấn đề quốc tể hiện nay, hiểu rõ cơ sở lý luận, thực tiễncủa việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại cùa Đảng, Nhà nước ta

Sau này, nhiều học giả và chính khách đưa ra các quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm này Hiện nay, chưa có sự thống nhất

về thuật ngữ quan hệ quốc tế nhưng nghĩa rõ ràng nhất của nó là những mối quan hệ giữa các quốc gia, chính xác hơn là nhà nước và các chủthể khác trong đời sống quốc tế Trong giai đoạn hiện nay, các chủ thể chính (dominant actors) bên cạnh các nhà nước quốc gia có chủ quyền,còn có thêm các công ty xuyên quốc gia (TNCs), các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế các diễn đàn, sáng kiến, cơ chế họrptác quốc tế, các phong ữào chính trị - xã hội mới, các vấn đề quốc tế và toàn cầu, hệ thống luật pháp quốc tế

Xoay quanh khái niệm “Quan hệ quốc tế”, có một số cách đặt vấn đề tiêu biểu như sau:

Trang 8

Quan hệ quốc tế (international relations) hiểu khái quát là tổng thể các quan hệ từ cấp độ song phương trở lên mà các chủ thể triển khaitrên thế giới về phương diện chính trị, xã hội, kmh tế, quân sự an ninh, để tạo ra sự gắn kết của đời sống Ihể giới Trong đó nổi bật nhấthiện nay là hệ thống quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc (state-nation); sau đó là quan hệ cùa các tổ chức quốc tế liên quốc gia (internationalorganisation), các tổ chức phi chính phủ quốc tế các diễn đàn, cơ chế hợp tác quốc tế

Cũng có ý kien cho răng: “Quan hệ quôc tê là hệ thống các mối liên hệ và quan hệ qua lại về kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng quân sự giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia, giữa các giai cấp

xã hội, các lực lượng chính trị, kinh tế, xã hội, các tổ chức và phong trào chính trị, xã hội đang hoạt động trên trường quốc tế”I Theo cáchhiểu này, do quy luật phát triển không đều của thế giới, các quan hệ quốc tế trong mỗi thời kỳ lịch sử, trên ý nghĩa rất lớn, đều do một siêucường, cường quốc hoặc một nhóm cường quốc xác lập, dẫn dắt và quy định cơ chế, nguyên tắc vận hành chung, tạo nên hệ thống quốc tế

Ở góc độ khoa học, quan hệ quốc tế là một ngành của khoa học chính trị, nghiên cứu chuyên biệt về ngoại giao, mối quan hệ của cácquốc gia, các chủ thể phi quốc gia thông qua sự tương tác của các yếu tố thuộc về hệ thống quốc tế

1.2 Hệ thống thế giới

1.2.1 Khái niệm

Xoay quanh khái niệm Hệ thống thế giới (world system) hay Hệ thống quốc tể (international system) cũng có nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng, nó là chinh thể của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao, quân sự trên toàn cầu, có quan hệ lẫn nhau thôngqua sụ tương tác của các quốc gia hoặc các chủ thể phi quốc gia, để tạo nên cấu trúc ổn định của đời sống thế giới

“Nhà nghiên cứu K.J.Holsti cho rằng, hệ thống quốc tế đã được hình thành sớm, và đưa ra định nghĩa về hệ thống quốc tế là tổng thểcộng đồng chính trị độc lập; các bộ lạc, các thành bang, dân tộc, đé quốc có mối quan hệ qua lại lẫn nhau một cách thường xuyên và theo mộtquá trình trật tự nhất định Còn tác giả J.Rosenau thì lý giải hệ thống quốc tế như một hiện tượng vĩ mô của hành động và phản hành độngngược lại của các cơ cấu xã hội quốc gia và hên cơ sở đó giải quyết các xung đột và quyết định của nhóm nhỏ, tổ chức lớn, khả năng hạn chếcủa các thiết chế xã hội”1

Dù theo cách hiểu nào, Hệ thống quốc tể cũng được xác đinh không gian là trên phạm vi toàn thế giới; mặc dù, ừong biểu hiện thực tế,

nó cũng được diễn đạt ữong phạm vi từng khu vực, từng khối quyền lực với các đặc điểm chung và cả những đặc thù Hệ thống quốc tế đượcduy trì hay bị phá vỡ đều phụ thuộc vào khả năng siêu cường hoặc các cường quốc áp đặt trật tự chung

1.2.2 Nội hàm

Xem xét nội hàm của khái niệm hệ thong quốc tế có thể thấy rằng:

Thứ nhất, về những yéu tố cấu thành hệ thống quốc tế, theo tác giả Vũ Dương Huân: “nhân tố là bộ phận cấu thành đơn giản nhất của

hệ thống; cấu trúc thể hiện phương thức tổ chức, tương quan của các nhân tố trong hệ thống và tổng thể những bắt buộc và hạn chế xuất phát

I D a n t h eo Vũ D ư ơ ng H uâ n : Vài nhận thức về hệ thắng quan hệ quốc tể Nghiên cứu quốc tế, số 1 ( 8 4 ) , 2 0 11 , t r 2 0 0

Trang 9

từ sự tồn tại của hệ thống đối với những nhân tố của hệ thống; môi trường là cái ảnh hưởng đến hệ thống và tạo ra tác động qua lại giữa nó với hệ thống; ranh giới hệ thống là chỗ tiếp giáp của các nhân tố; chức năng của hệ thống là phản ứng của nó đối với tác động của môi

trường nhằm bảo vệ quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống, nghĩa là bảo vệ sự bền vững của hệ thống đó”I II

Thứ hai, “quan hệ quốc tế cũng như các chủ thể tạo thành quan hệ không tồn tại bên ngoài hệ thống, mà tạo ra hệ thống, bằng sự tồn tạicủa minh, bằng hành động, mối liên hệ và ảnh hưởng Đồng thời, hệ thống quan hệ quốc tế ảnh hưởng không nhỏ đến người tham gia, xácđịnh ranh giới hoạt động theo chức năng, vị trí trong hệ thống thang bậc Chính vì thế, vấn đề cơ bản của nghiên cứu hệ thống quan hệ quốc

tế là làm rõ đặc điểm cấu trúc và tính quy luật, các quá trình tién hóa, các chu kỳ, các giai đoạn phát triển của hệ thống”1

Thứ ba, “các quốc gia và các chủ thể quan hệ quốc tế khác vận hành trong một hệ thống kinh tế chính trị xã hội toàn cầu mà ờ đó các

đặc điểm cụ thể của hệ thống góp phần quyết định mô thức tuơng tác giữa các chủ thể Các nhà phân tích dựa trên cấp độ hệ thống cho rằngbất cứ hệ thống nào cũng vận hành theo những cách thức có thể dự đoán đuợc ở một mức độ nhất định, với những xu huớng hành vi mà cácchủ thể thuờng tuân theo”III IV

Thứ tư, hệ thống quốc tế hiện nay đuợc hình thành bởi các quốc gia - dân tộc (nation - State) và các thành tố khác của thời kỳ hiện đại.

Việc hình thành hệ thống quốc tế hiện đại đuợc đánh dấu mốc “khởi động” bằng Hòa uớc Westphalia năm 1648 ở châu Âu Sau này, hệ thốngquốc tế thể hiện rõ ừong Hiến chuơng Liên hợp quốc và các hiệp uớc quốc tế Các quốc gia tham gia vào hệ thống quốc tế hiện đại đều có vaitrò bình đẳng trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổV, nhung trên thục tế, một số nuớc lớn có sức mạnh tổng hợp vớicác mục tiêu và định huớng chính sách của mình có khả năng chi phối tiến trình và kết quả của quan hệ giữa các nuớc nhỏ hơn Cho nên, sựxuất hiện hoặc rút lui của một nuớc lớn trong hệ thống quốc tế sẽ làm thay đổi cấu trúc

I D a n t h eo Vũ D ư c mg H uâ n : Vài nhận thức về hệ thống quan hệ quắc tế, Nghiên cứu quốc tể, s ố 1 (8 4 ) , 2 0 11 , tr 2 0 0 - 2 0 1

II V ũ D ư ơ n g H u â n : Vài nhận thức về hệ thống quan hê quắc tế, Nghiên cứu quốc tế, số 1 ( 8 4 ) , 2 0 11 , t r 1 9 8 - 1 9 9

III V ũ D ư ơ n g H u â n : Vài nhận thức về hệ thống quan hệ quốc tế, Nghiên cứu

IVLê Hồng Hiệp: Các cấp độ phân tích (Levels of analysis), http://nghiencuu quocte.org/2015/01/02/cac-cap-phan-tich/, truy cập ngày 25-9-2018 (ừ 1/3).

VNăm nguyên tắc cùng tồn tại hòa binh của Liên hợp quốc, trang thông tin điện tử phái đoàn Liên hợp quốc tại Việt Nam, truy cập ngày 16-4-2018 tại;

http://www.un.org.vn/vi/about-viet-nam/overview.html

Trang 10

1 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thế

Thứ năm, hệ thống thế giới hiện đại có cấu trúc chính trị đa quốc

gia và do đó phân công lao động của nó là phân công lao động quốc tế.Trong hệ thống thế giới hiện đại, sự phân chia lao động bao gồm ba khuvực theo sự phổ biến cùa các ngành công nghiệp có lợi nhuận hoặc cáchoạt động: lõi, bán kính, và ngoại vi Các quốc gia có xu hướng rơi vàomột hoặc một trong những khu vực phụ thuộc lẫn nhau này là các nướccốt lõi, các nước bán ngoại vi và các nước ngoại vi Các nguồn lực đượcphân phối lại từ các nước kém phát triển, thường là nguyên liệu thô xuấtkhẩu, một phần kém của thế giới (ngoại biên) đến lõi phát triển, côngnghiệp hóa

Thứ sáu, các hệ thống thế giới ữong quá khứ cũng như hiện đại, có

các tính năng thòri gian, theo chu kỳ đại diện cho biến động ngắn hạncủa nền kinh tế, trong khi xu hướng thế tục là xu hướng dài hạn, chẳnghạn như tăng trưởng kinh tế chung hoặc suy giảm Các tính năng thòigian cuối cùng là cuộc khùng hoảng: một cuộc khủng hoảng xảy ra, néumột chòm sao của hoàn cảnh mang lại sự kết thúc của hệ thống

Hệ thống thế giới hiện tại sẽ được vận động theo hướng: “đáp ứnghiệu quả hơn nhu cầu đối phó với các thách thức toàn cầu và phù hợp vóithay đổi tương quan lực lượng, lợi ích của các trung tâm quyền lực lớn;ngày càng “dân chủ” hơn, do đó sẽ hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy họptác và điều hòa mâu thuẫn giữa các thành viên trên mọi mặt của đòi sốngquốc tế Tuy nhiên, các nước và các trung tâm quyền lực lớn vẫn nắm vai

ứò quan ứọng và cạnh tranh ảnh hưởng với nhau, trong khi các nước nhỏ

sẽ có “tiếng nói” ngày càng quan trọng hơn nhưng vẫn có thể bị thiệt thòi

và bị chi phối bởi các nước lón”'

Trang 11

1 3

1.3 Trật tợ thế giói

1.3.1 Khái niệm

Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống quốc tế có cấu trúc

khái niệm song hành với trật tự, có ý nghĩa quyết định đối vói trật tự

Thuật ngữ “trật tự" và “trật tự thể giới" hay “trật tự quốc tể'

“thường được sử dụng trong cả giới hoạch định chính sách và học giảnhằm mô tả, đánh giá, hoặc dự báo thực trạng thế giới trong một giai

đoạn lịch sử nhất định Thuyết Tân hiện thực thường sử dụng khái niệm

“trật tự quốc tể” hơn là “trật tự thế giới” và không phân biệt rõ sự khác

biệt giữa hai khái niệm này Ở Việt Nam, khái niệm “trật tự thế giới”được sử dụng rộng rãi trong cả giới học thuật và hoạch định chính sách”I

II

Trật tự thế giới có thể “được hiểu là sự thể hiện tương quan sắp xếplực lượng giữa các chủ thể cấu thành đời sống quốc tế Nó thể hiện thứbậc quyền lực, do các nước lớn quyết định, trong một thời kỳ nhất định(thường là giai đoạn dài) Trong lịch sử có bốn loại trật tự chính: trật tựđơn cực, trật tự hai cực, trật tự đa cực và trật tự không phân cực”III.Cũng có thể hiểu, trật tự thế giới là cách so sánh và phân bổ sứcmạnh tổng hợp (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa ) giữa các cườngquốc, và là dạng thức hoạt động hay dàn xếp (chính thức và không chínhthức) của các quốc gia có chủ quyền và các nhân tố khác nhằm duy tricác mối quan hệ giữa họ với nhau theo những luật choi chung vì mụctiêu/ lợi ích của từng nước và của cả hệ thống1

ITạp chí Cộng sản điện tử, truy cập ngày 25-9-2018 tại: http://www.tapchi

congsan.org vn/Home/Thong-tin-ly-luan/2011/9483/Cuc-dien-the-gioi-den-2020 aspx (tr 2/3).

IIVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thế giới,

2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly- phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018 (tr.2/14).

luan-III V ũ D ư ơ n g H u â n : Vài nhận thức về hệ thống quan hệ quốc tế, Nghiên cứu quốc

tế, số 1 ( 8 4 ) , 2 0 11 , t r 2 0 0

Trang 12

4

"Cực ” trong trật tự thế giới được hiểu là một trung tâm quyền lực

có ảnh hường lớn tới quan hệ quốc tế ở khu vực hay trên phạm vi toàncầu Theo nghĩa rộng thì trung tâm quyền lực không chỉ là cường quốcđom lẻ mà còn có thể là một liên minh các quốc gia như EU hiện nay Dovậy, cực có thể là một quốc gia cụ thể hoặc tập hợp một số quốc gia trongmột cơ chế liên kết nào đóI II

1.3.2 Nội hàm

Theo tác giả Vũ Lê Thái Hoàng, nghiên cứu về hệ thống quốc lànền tảng quan ừọng cho việc phân tích, đánh giá, dự báo tình hình thếgiới, các xu thế và đặc điểm của quan hệ quốc tế trong quá trinh hoạchđịnh chính sách đối ngoại của tất cả các quốc gia - những chủ thể chínhcủa hệ thống quan hệ quốc tế Mỗi mô bình trật tự thể giới trong lịch sửkhông phải là một khuôn mẫu cứng nhắc, mang tính chất “tĩnh” tuyệtđối, mà là một quá trình vận động, điều chỉnh để đi đến hoàn thiện, ổnđinh Sự chuyển đổi từ mô hình trật tự này sang mô hình trật tự khác làmột quá trình lâu dài và khó khăn, thường là thông qua một cuộc chiếntranh khi yếu tố tương quan so sánh lực lượng biến động manhIII

I N g u y ễ n V ũ T ù n g : Góp phần tiếp cận khoa học về quan hệ quốc tể và cục diện thể

giới, Nghiên cưu quốc tế, s ố 3 (7 4 ) , 2 0 0 8 , t r 2 5

II V ũ D ư ơ n g H u â n : Vài nhận thức về hệ thống quan hệ quốc tế, Nghiên cứu quốc

tể, số 1 ( 8 4 ) , 2 0 11 , t r 2 0 0

IIIVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thế giới,

2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua4y- phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018 (tr.1/14).

Trang 13

luan-1 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phưcmg Tây về trật tự thế

giới, 2014,

http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly-luan-phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/, truy cập ngày 11-8-2018 (tr 5/14).

1 5

Có nhiều luận điểm khác nhau về nội hàm khái niệm này, nhung

dựa vào thuyết Hiện thực, khái niệm “trật tự thế giới ” được đưa ra dựa trên các thuộc tính cơ bản là tính ổn định, tính thứ bậc, tính khả biển và 5 tiêu chí xác định gồm chủ thể (chủ thể và tương quan so sánh lực lượng),

luật chơi (nguyên tắc tổ chức, vận hành trật tự, tập hợp lực lượng), công

cụ, phương thức, và cấu trúc địa lý của trật tự.

- về thuộc tinh của trật tự thế giới

Khi phân tích các thuộc tính của trật tự thế giói, tác giả Vũ Lê TháiHoàng cho rằng, trật tự thế giới bao gồm ba thuộc tính cơ bản Đó là:

Tính ổn định: đây là một thuộc tính căn bản của trật tự Tuy nhiên,

không nên coi bất cứ một trật tự nào là một khuôn mẫu cứng nhắc hay ởtrạng thái “tĩnh” mà ngược lại đó là một quá trinh vận động để đi đếnhoàn thiện, có khởi đầu, thay đổi và kết thúc1

Tác giả Vũ Lê Thái Hoàng lý giải, tính ổn định trong trật tự thế

giới được thể hiện qua tỉnh có thể đoán trước (predictability) và tính hợp

lệ/chỉnh đảng (legitimacy) Như đã phân tích ở ừên, trật tự quốc tế hiện

đại được xây dựng trên hệ thống quốc gia - dân tộc - những chủ thể chính

có chủ quyền cùng nhau tồn tại và cùng nhau xây dựng, công nhậnnhững luật chơi chung như nguyên tắc tổ chức, vận hành trật tự, các tiêuchuẩn về hành vi điều chinh các mối quan hệ, tương tác giữa các chủ thểnày với nhau Luật chơi là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các chủthể nhưng bản thân luật chơi khi đã ra đòi sẽ có những động lực riêng vàsức sống riêng của nó, cho phép nó chi phối ngược trở lại (ở các mức độkhác nhau) hành vi của các chù thể trong trật tự Chính những luật chơi

này tạo nên một môi trường ổn định và có thể đoản trước Bên canh việc tạo nên tính có thể dự báo, luật choi còn thể hiện tính chỉnh danh (hợp

lệ) của trật tự và từ đó tạo nền tảng cho sự ổn định của trật tự1 Sự tồn tạicủa luật chơi cũng thể hiện sự công nhận tưcmg quan so sánh lực lượnggiữa các chủ thể trong hệ thống Như vậy, sự công nhận này làm cho trật

tự có tính chính danh, hợp lệ, qua đó góp phần đảm bảo sự ổn định củatrật tự Chừng nào sự công nhận này không còn thì luật chơi sẽ bị thách

Trang 14

6

thức và phá vỡ, thuộc tính này cũng mất đi, và kết cục sự ổn định của trật

tự bị đe doạ, trật tự cũ cần phải được thay thế bằng một trật tự mới đểphản ánh tương quan so sánh lực lượng mới

Tỉnh thứ bậc (đẳng cấp): Tác giả Vũ Lê Thái Hoàng khẳng đinh,

sự hiện diện của các chủ thể là điều kiện tiên quyết để hình thành nênmột trật tự, trong đó các nước lớn xác lập luật chơi, xây dựng hệ thốngcòn các nưởc nhỏ buộc phải tuân thủ luật chơi và thích nghi với hệ thống(do không có khả năng làm thay đổi hệ thống) Đồng thời, chính sách vàhành vi của các nước lớn cũng có tác động trực tiếp lên chính sách vàhành vi cùa các nước nhỏ Quy luật này xuất phát từ quan niệm rất đặcthù của trường phái Hiện thực về tương quan so sánh quyền lực giữa cácquốc gia trong quan hệ quốc tếI II

Theo tác giả này, khi yếu tố tương quan so sánh lực lượng xoaychuyển thì thuộc tính thứ bậc, đẳng cấp trong trật tự cũng thay đổi Mức

độ thay đổi đến đâu tuỳ thuộc vào năng lực, sức mạnh của các chủ thểcũng như sự công nhận của các chủ thể còn lại Trong tính thứ bậc, đẳngcấp có thể hiện sự độc lập tương đối của các nước nhỏ bản thân cácnước này cũng có thể chủ động phát huy sức manh thông minh bằngnhững chính sách khôn ngoan của mình (lợi dụng mâu thuẫn các nước lớn,cân bằng lực lượng (balancing) hoặc phù thịnh (banđvvagoning) và cácnước lớn không chỉ coi các nước nhỏ là đối tượng áp đặt, trừng phạt màcòn là đối tượng cần tranh thủ, lôi kéo, tập hợp đồng minh1

Tỉnh khả biến: Đây cũng là thuộc tính được tác giả Vũ Lê Thái

Hoàng nhấn mạnh Theo đó, trật tự mang thuộc tính ổn định nhưng bảnthân nó là một quá trình vận động để đạt đến sự hoàn thiện Theo trườngphái Hiện thực và chủ nghĩa Mác - Lênin, sự thay đổi tương quan sức

IVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thể giới,

http://ngbiencuuquocte org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly-luan- tay-ve-trat-tu-the-gioi/, truy cập ngày 11-8-2018 (tr 6/14).

phuong-IIVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận cùa lý luận phương Tây về trật tự thế giới,

2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly- phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018.

Trang 15

luan-1 7

mạnh giữa các chủ thể, đặc biệt là các nước lớn có vai trò trong trật tự sẽdẫn đến sự thay đổi về luật choi và mô hình trật tự, luật chơi mới cùngtrật tự mới thường được xác lập như là két quả của một cuộc chiến tranh

“hệ thống” và một quá trinh tranh giành quyền lực, lợi ích trong quan hệquốc téI II

Khi bàn về khả năng, quy luật thay đổi của ừật tự quốc té có nhiều

ý kiến cho rằng “tác động của phương thức sản xuất và hình thái kinh tế

-xã hội đối với quan hệ quốc tế, là nội dung cấu thành và quyết định tínhchất của thời đại”III Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tộtcùng của chủ nghĩa tư bản” xuất bản năm 1916, V.I.Lênin đã chỉ ra quyluật “tuyệt đối” về phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị(cùng với quy luật giá trị thặng dư) của chủ nghĩa tư bản, và khi chủnghĩa tư bản bước vào giai đoạn phát triển tột cùng là chủ nghĩa đé quốc,chiến tranh là giải pháp duy nhất để sắp xép, tổ chức lại trật tự và luậtchơi giữa các nước tư bản chủ nghĩa Chiến tranh mang tính chất hệthống là không thể tránh khỏi giữa một bên muốn duy trì trật tự cũ vàmột bên muốn thách thức, phá vỡ nó để thay thế bằng một trật tự mói cỏlợi hơn và phản ánh đúng hơn tương quan so sánh lực lượng mới trong

hệ thống quốc tế Đây cũng chính là một trong những mạch lập luậnchính của các nhà hiện thực chủ nghĩa về tính khả biến của trật tự1

- về các yếu tố ảnh hưởng đến trật tự thế giới

Ở nước ta, xoay quanh việc tranh luận đâu là yếu tố ảnh hưởng đếnviệc hình thành trật tự thế giới có nhiều quan điểm, trong đó, quan điểmcủa tác giả Vũ Lê Thái Hoàng được chấp nhận rộng rãi Tác giả cho rằng,các yếu tố ảnh hường đến trật tự thế giới bao gồm:

I L ê T há i H o à n S ; Bàn cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự

IIthế giới, 2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can- ly-luan-phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018 (lr.6/14).

cua-III Đ e t à i Các phát triền mới về lý luận trong nghiên cứu quan hệ quốc tể đương đại,

Họ c v iệ n N g o ạ i g i a o , H à N ọ i , 1 2 - 2 0 0 8 , t r 2 9 - 3 2

Trang 16

8

Chủ thể chính: các chủ thể chính trong hệ thống quan hệ quốc tế

ửong một giai đoạn lịch sử nhất định là một tiêu chí cơ bản để nhận dạng

và đánh giá bản chất của trật tự thế giới Các trường phái nghiên cứu lớn

cơ bản có sự nhất trí với Chủ nghĩa hiện thực về vai trò chủ đạo của cácquốc gia - dân tộc nói chung và các nước lớn nói riêng trong hệ thống, vàkhông tồn tại một chính phủ/nhà nước siêu quốc gia nào đứng trên chủquyền của các quốc gia Chính sách của các nước lớn cũng như mối quan

hệ tương tác giữa các nước lớn với nhau ở từng khu vực và trên toàn thégiới có ảnh hường mang tính quyết định đến “hình thù”, tính chất của ừật

tự và buộc những nước nhỏ hơn phải điều chinh, thích nghi với “luậtchơi” để tìm một chỗ đứng ít bất lợi nhất trong trật tự Thực tiễn lịch sửcho đến nay vẫn chứng minh luận điểm đó cơ bản còn phù hợp và là kiểu

tư duy phố biến của các nhà hoạch đinh chính sách cũng như các học giả

ở nhiều nước khi đánh giá trật tự thế giới theo khái niệm “cực”I II

I N g u y ễ n B ằ ng Tư ờ n g : Quan điểm Mác-xít về một số lý thuyết quan hệ quốc tế

của các nước phưomg Tây hiện nay, N x b C h í n h t rị q u ố c g i a , H 2 0 0 2 , t r.1 0

IIVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thế giới,

2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly- phuong-tay-ve-ưat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018 (tr.9/14).

Trang 17

luan-1 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận cùa lý luận phương Tây về trật tự thế

giới, 2014,

http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly-luan-phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/, truy cập ngày 11-8-2018 (tr.8/14).

1 9

Cũng theo tác giả Vũ Lê Thái Hoàng, trong bối cảnh quá trình toàncầu hóa diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng tạo nên những thay đổi lớn ứong quan

hệ quốc tế, nhiều ý kiến phản biện từ sau Chiến tranh lanh cho rằng kiểu

tư duy truyền thống nói trên quá nhấn mạnh đến vai trò của quốc gia vàcoi lợi ích của quốc gia là tối thượng trong quan hệ quốc tế, vì vậy đãgián tiếp phủ nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của các chủ thể phiquốc gia - phi nhà nước như các tổ chức quốc tế liên chinh phủ, các công

ty xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các tôn giáo, Đặc biệt ởchâu Âu, tiến trình nhất thể hóa theo mô hình “cộng đồng” đã đạt đượcnhiều tiến bộ đáng kể và Liên minh châu Âu (EU) từ thập kỷ 1970 đếnnay đã trở thành một chù thế có tiếng nói và ảnh hưởng ngày càng quan

trọng trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là vai trò

của các quốc gia giảm đi 1 Ngày nay, các chủ thể phi nhà nước đưa ra ý

tường, nhưng chính phủ của các quốc gia mới là “người” bện các ý tườngnày cùng vói các lợi ích khác thành lợi ích quốc gia Các quốc gia vẫn lànhững chủ thể quan họng trong nền chính trị quốc tế Thực tế cho thấy,ảnh hưởng của hơn 200 quốc gia trên thế giới đối với tình hình thế gióikhông giống nhau Các nước vừa và nhỏ đang cỏ vai ữò ngày càng tăngừên trường quốc tế, song khó ai có thể bác bỏ được thực tế là các cườngquốc có ảnh hưởng đặc biệt đối với chính trị thế giới trong thế kỷ XXInhư G7, hay nhóm các nền kinh té mới nổi E7 (Nga, Trung Quốc, Ắn

Độ, Braxin, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Indonesia) Trong khi đó, tiến trìnhnhất thể hóa châu Âu vẫn còn một chặng đường dài phía trước đầy khókhăn, đặc biệt sau khi Brexit diễn ra EU hiện chỉ được xem là một chủthể mạnh về kinh tế và quan hệ quốc tế ở châu Âu hiện tại vẫn chịu sựchi phối mạnh mẽ của các nước lớn trong và ngoài khu vực như Mỹ NgaTrung Quốc

Trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh đén nay, các nướclớn vẫn đóng vai trò quyết định hình thành nên trật tự thế giới mặt hợptác là xu thế nổi trội trong trục hợp tác - đấu tranh giữa các nước lớn hiện

Trang 18

'■ 2,Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự

Phân bổ sức mạnh giữa các chủ thể chính: Tác giả Vũ Lê Thái

Hoàng cho rằng tiêu chí này không thể tách rời khỏi tiêu chí chủ thể vìsức mạnh tương đổi hay tương quan lực lượng giữa các chủ thể là cơ sờquan trọng để phân biệt nước lón, nước trung bình, nước nhỏ trong quan

hệ quốc tế, so sánh phạm vi, mức độ, khả năng ảnh hưởng, chi phối cácmối quan hệ trong hệ thống giữa các nước lớn với nhau, và đánh giánhững thuộc tính cơ bản (tính ổn định, tính thứ bậc và tính khả biến) củatrật tự thế giới Việc xác định chủ thể chính và đánh giá phân bổ sứcmạnh giữa các chủ thể chính trong một trật tự thế giới cũng đòi hỏi mộtcách tiếp cận đa chiều, tổng hợp và toàn diện2

Luật chơi và cách tập hợp lực lượng: Tiêu chí này là một trong

những nội dung cơ bản trong định nghĩa về “trật tự”, theo đó mọi quan

hệ giữa các quốc gia trong trật tự thế giới đều chịu sự điều chỉnh củanhững luật chơi chung do một hoặc các nước lớn thiết lập nên Chúng cóthể là các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử (quyền và nghĩa vụ), luật lệ,quy trình thủ tục và luật pháp quốc tế (gồm cả các biện pháp chế tài, xửphạt) Luật chơi chính là biểu hiện của những tiêu chuẩn chung về hành

vi của các quốc gia tham gia và thể hiện nguyên tắc tổ chức, vận hànhcủa một trật tự thế giới1

Trang 19

1 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lý luận phương Tây về trật tự thể

giới, 2014,

http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly-luan-phuong-tay-ve-trat-tu-the-gioi/, truy cập ngày 11-8-2018 (tr.9/14).

2 1

Từ góc độ luật chơi, một trật tự thế giới chi có thể ra đòi khi đáp

ứng được những điều kiện cơ bản sau: (i) có hệ thống luật chơi rõ ràng

do các chủ thể chinh thỏa thuận xây dựng nên; (ỉi) luật chơi phải được

các chủ thể tham gia, đặc biệt là các chủ thể chính, thừa nhận (tự nguyện

hay do cưỡng ép) và cam kết tuân thủ; (iii) hành vi của các chủ thể tham

gia phải phù họp với luật chơi và có một biên độ dao động nhất định, sự

vi phạm thường xuyên và vượt quá biên độ dao động cho phép sẽ dần vô

hiệu hóa luật chơi; (iv) những hành vi vi phạm luật choi sẽ bị xử phạt

theo các biện pháp chế tài và luật pháp quốc tế, và không loại trừ việc sử

dụng vũ lực nhằm đảm bảo việc tuân thủ luật chơi chung; (v) luật chơi có

thể thay đổi hoặc điều chỉnh do ý muốn chủ quan của các chủ thể chính,

do sự thách thức tác động của các chủ thể khác (các nước nhỏ hơn haycác cường quốc mới nổi), hay do mục tiêu và lợi ích chung của cả hệthống Thực tế hiện nay cho thấy xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tếngày càng mạnh lên với vai trò gia tăng của các thể chế, luật pháp quốc

tế và các chủ thể nhỏ yếu hơn cùng các chủ thể phi quốc gia có những

Trang 20

’■ 2 ' 3 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận cùa lý luận phương Tây về trật tự

Phương thức của trật tự: Tiêu chí này mô tả phương thức đặc thù

nhằm tổ chức và duy tri các quan hệ giữa các quốc gia do luật chơi điềuchỉnh trong trật tự Cách tiếp cận trật tự thế giới thông thường theo ba mô

thức: chỉ định/áp đặt, quy tẳc/khế ước, đoàn kết/cộng đồng 2 Trật tự

thường được đặt tên theo phương thức chủ đạo của trật tự tuy bản thânphương thức chưa phản ánh đầy đủ tính chất của trật tự đó Chẳng hạnnhư mô hình chỉ định/áp đặt mang bản chất quyền lực và cạnh tranh, vàđược triển khai theo các phương thức chính như bá quyền, cân bằng lựclượng, hoà họp quyền lực, cơ chế quốc tế Trong đó, phương thức báquyền dựa trên sự thống trị/lãnh đạo của một cường quốc duy nhất vàkhác biệt với cân bằng lực lượng hay hoà họp quyền lực về sự phân bổquyền lực cũng như luật chơi Hai mô hình còn lại có các phương thứcchính đặc thù như hợp tác kinh tế, cơ chế quốc tế, an ninh tập thể, nhấtthể hóa về kinh tế - chính trị, xây dựng cộng đồng

Công cụ của trật tự: giúp xây dựng và đảm bảo thực thi luật chơi

của ừật tự, qua đổ duy tri ổn định cùa trật tự Công cụ của trật tự là một

bộ phận không thể tách rời phương thức của trật tự Có ba nhóm công cụ

chính: ngoại giao (mang tính chất hoà bình, phi bạo lực); luật pháp quốc

tế\ và chiến tranh (mang tính bạo lực)3 Ba nhóm công cụ này bao gồmrất nhiều các công cụ cụ thể, đa dạng được các nước lớn sử dụng trongquá trinh xoá bỏ trật tự, luật chơi cũ, thiết lập nên trật tự, luật chơi mới

và triển khai quan hệ giữa các nước lớn có vai trò vói nhau cũng nhưgiữa các nước lớn với các nước nhỏ hơn trong nỗ lực tập họp lực lượng,thúc đẩy họp tác, hay giải quyết bất đồng, tranh chấp nhằm phục vụ lợiích riêng của từng nước và đảm bảo sự vận hành ổn định của cả hệ thống.Việc các nước lớn ưu tiên sử dụng nhóm công cụ nào nói trên sẽ thể hiện

xu thể nổi trội trong quan hệ quốc tế, tương quan so sánh lực lượng giữacác nước lớn cũng như ưu tiên chính sách của các nước này, và những

Trang 21

2 3

đặc tính căn bản của trật tự, qua đó giúp xác đỉnh phương thức và môhình trật tự1

Cẩu trúc địa lý của trật tự: Thuyết Tân hiện thực hay còn gọi là lý

thuyết hệ thống tiếp cận “trật tự thế giới” từ góc độ chủ thể và phân bổquyền lực/sức mạnh (hay đẳng cấp, thứ bậc) giữa các chủ thể trong quan

hệ quốc tế Đây là cách tiếp cận “cực tính ”, theo chiều dọc hay phương

thẳng đứng Tuy nhiên, ngoại trừ trật tự đơn cực, kiểu mô tả theo “cực

tính” này không thể giải thích được mức độ chi phối, ảnh hưởng khácnhau của các cực ở các khu vực địa lý trên thế giới, đặc biệt trong bốicảnh quá trình khu vực hóa đang phát triển mạnh mẽ bên cạnh quá trìnhtoàn cầu hóa và tác động của các khu vực Âu, Á, Phi, Mỹ Latinh đến sựhọp tác, đấu tranh của các nước lớn ngày càng rõ nét Do đó, để đánh giáchính xác sức manh tổng thể của các nước lớn ở cấp độ phân tích “thếgiới” còn càn phải đánh giá, so sánh sức mạnh, ảnh hưởng của từng nước

ờ từng khu vực địa lý cụ thể trên thế giới (hay còn gọi là “tàm với địa

lý”) Đây là cách tiếp cận “vực tính ”, theo chiều ngang được các học

giả đưa ra sau Chiến tranh lạnh để bổ sung cho cách tiếp cận theo chiềudọc vốn được chấp nhận rộng rãi từ lâu trên thực tếI II

Như vậy, sự thể hiện của trật tự thế giới là không đồng nhất ở cáckhu vực trên thế giới Điều này là hợp lý và tính chất “đa vực” sẽ có tácđộng triệt tiêu đối với tính chất “đơn cực” của trật tự

1.4 Hệ thống quan hệ quổc tế

Hệ thống quan hệ quốc tế là tổng thể các quan hệ của các chủ thể

cấu thành hệ thống thế giới, về nội hàm, quan niệm bao quát tất cả cáclĩnh vực từ kinh tế, chính trị, quân sự đến văn hỏa, tôn giáo, III

IVũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận cùa lý luận phương Tây về trật tự thế giới,

2014, http://nghiencuuquocte.org/2014/06/23/ban-ve-cach-tiep-can-cua-ly- phuong-tây-ve-trat-tu-the-gioi/ , truy cập ngày 11-8-2018 (tr.l 1/14).

ĩuan-IIBạch yân Trân, Lý Khai Thịnh: Khải luân về Các trường phái Lý luận quan hệ

quốc tế (tiéng Trúng), Nxb.Nhân dân Chiểt Giang, 2009, tr.426.

III Xem thêm Phạm Bình Minh (Chù biên): Cục diện thế giới đến 2020, Nxb.Chính trị

quốc gia, H.2010.

Trang 22

4

Năm thành tố chính của hệ thống quan hệ quốc tế là: (1) Quan hệcủa các quốc gia với nhau, tiêu biểu và quan trọng nhất là của các nướclớn, các trung tâm quyền lực lớn với nhau; (2) Quan hệ các nước lớn,phát triển với các nước đang phát triển, nước vừa và nhỏ; (3) Quan hệcủa các tổ chức quốc tế (mang tính cách quốc gia hoặc phi quốc gia); (4)Quan hệ trong các diễn đàn, sáng kiến, cơ chế hợp tác; (5) Quan hệ xoayquanh các điểm nóng, các vấn đề nổi cộm trong quan hệ quốc tế

Với các đặc điểm như vậy, việc nghiên cứu về quan hệ quốc tế tậptrung vào trạng thái “tĩnh” của tình hình thế giới không mâu thuẫn vớibản chất “động” của tình hình và quan hệ quốc tế vốn luôn luôn biến đổi

do tác động của các nhân tố chủ quan (chiến lược, chính sách của các chủthể) và khách quan, nhất là các xu thế lớn của thế giới Các nhân tố nàylàm thay đổi tương quan lực lượng và quan hệ giữa các chủ thể và do đólàm thay đối cục diện - điều có thể quan sát được qua đánh giá và phântích trong một hoặc nhiều “lát cắt”

2 VẤN ĐỀ QUYỀN Lực TRONG QUAN HỆ QUÓC TẾ 2.1 Khái niệm

Quyền lực cơ bản được hiểu và quan niệm là mối quan hệ giữa cácchủ thể hành động của đời sống xã hội, ừong đó chủ thể này có thế chiphối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ có sứcmạnh, vị thế nào đó trong quan hệ xã hội1

Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay liên minhgiai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức năngcông quyền, cơ bản bằng quyền lực nhà nước, là năng lực áp đặt và thựcthi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảmbảo mức độ nhất đinh sự công bằng xã hộiI II

Quyền lực trong quan hệ quốc tế được hiểu là khả năng của mộtquốc gia ừong việc duy trì độc lập và thực hiện lợi ích của mình trong

I*' 2 Cạo Thượng Đào: Cơ sở lý luận quan hệ quốc tế, (tiếng Trung), Nxb.Thời

IIsự, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2016, tr.34.

Trang 23

2 5

quan hệ quốc tế Đó không chỉ là khả năng kiểm soát, gây ảnh hưởng, épbuộc chủ thể khác hành động theo ý muốn của mình mà còn là khả năngcủa một chủ thể chống lại sự ép buộc của chủ thể khác, hoặc khiến chochủ thể khác phải hạn chế những hành động không phù hợp với mục tiêu,lợi ích của mìnhI

2.2 Phân loại quyền lực trong quan hệ quốc tế

Có nhiều cách phân loại quyền lực trong quan hệ quốc tế, mỗi cáchphân loại có một ý nghĩa ứng dụng nhất định Theo tác giả Hoàng KhắcNam, có một số cách phân loại cơ bản sau:

Cách phân loại dựa trên phương thức thực hiện quyền lực bao

gồm: Quyền lực cứng (Hard Power) là khả năng một chủ thể có tiềm lựcmạnh có khả năng cưỡng ép chủ thể khác thực hiện ý muốn của mìnhbằng những công cụ hữu hình như quân sự và trừng phạt kinh tế Quyềnlực mềm (Soft Power) là khả năng dùng ảnh hường thuyết phục chủ thểkhác làm theo ý muốn của minh, dựa vào sự hấp dẫn và uy tín của mình1.Cách phân loại này đang được sử dụng phổ biến trong nghiên cửu quan

hệ quốc tế Trên thực tế hai loại quyền lực này hỗ trợ cho nhau và cácquốc gia thường sử dụng kết hợp linh hoạt chứ ít khi sử dụng riêng rẽmột loại quyền lực nào (được gọi là Quyền lực thông minh - SmartPower)

Cách phân loại dựa trên cơ sở thời gian gồm có: (1) Quyền lực

thực tại (Actual Power) tức là quyền lực hiện có như lực lượng quân sự,thu nhập quốc nội, trinh độ khoa học - công nghệ, số lượng dân cư, diệntích lãnh thổ; (2) Quyền lực tiềm năng (Potenial Power) là khả năng sẽ

có quyền lực tăng lên trong tương lai dựa trên cơ sở sự phát triển năng

I Từ Hỷ: “Trường phái Anh " trong lý luận quan hệ quốc tế, (tiếng Trung), Nxb.Thơi

sự, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2009, tr.71.

'• 2 ' 3 H o à n g K h ắ c Na m : Các hình thức cùa quyển lực trong quan hệ quốc tể, Nghiên cứu châu Ẩu, số 3 ( 1 2 6 ) , 2 0 11 , tr 2 4 - 2 5 , 1 9 , 2 0

' 2 Ho à ng K hă c N a m : Các hình thức của quyền lực trong quan hệ quốc tế, Nghiên cứu châu Âu, số 3 ( 1 2 6 ) , 2 0 11 , tr 2 0 ,2 3

Trang 24

6

lực nào đó vượt trội (ví dụ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiệnnay) Quyền lực thực tại có ý nghĩa ngắn và trung hạn còn quyền lựctiềm năng có ý nghĩa dài hạn Vì vậy, trong hoạch đinh chiến lược pháttriển và chính sách đối ngoại các quốc gia cần nghiên cứu kỹ cả hai loạiquyền lực này2

Cách phân loại dựa trên hình thức biểu hiện gồm có: (1) Quyền lực

hữu hình (Tangible Power) là những quyền lực mang tính vật chất có thểđong đo, sờ thấy được như tài nguyên, lực lượng quân sự quốc phòng,sản lượng kinh tế ; (2) Quyền lực vô hình (Intangible Power) là nhữngquyền lực mang tính tinh thần không sờ đếm được như: tài năng lãnhđạo, trí tuệ, uy tín, ý chí tinh thần, sự ùng hộ quốc tế Hai loại quyềnlực này bổ sung cho nhau, trong quan hệ quốc tế hiện đại thì quyền lực

vô hình đang được gia tăng sử dụng3

Cách phân loại dựa trên lĩnh vực hoạt động gồm có: quyền lực

chính trị, quyền lực quân sự, quyền lực kinh tế Cách phân loại này giúpcác chủ thể dễ dàng nhận thấy mặt mạnh, mặt yếu, sở trường hay sờ đoảncủa bản thân chủ thể cũng như đối tác quan hệ để lựa chọn ưu tiên chínhsách, công cụ thực hiện và lĩnh vực quan hệ Các loại quyền lực này cóthế bổ sung và thay thể nhau trong nhiều trường hợp1

Cách phân loại dựa trên khả năng tấn công hay phòng thủ gồm có:(1) Quyền lực tấn công (Offensive Power) là khả năng một quốc gia cóthể buộc một quốc gia khác hành động theo ý muốn của mỉnh Quyền lựcnày được xây dựng chủ yếu dựa trên ưu thế về quân sự, nhất là các vũkhí tấn công; (2) Quyền lực phòng thủ (Defensive Power) là khả năngchống lại sự cưỡng bức của một quốc gia khác, quyền lực này có đượcnhờ vào các yếu tố như địa hình, vị trí thuận lợi và năng lực quốcphòng Cách phân loại này hiện nay còn nhiều tranh luận2

2.3 Cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế

Trang 25

2 7

Theo tác giả Hoàng Khắc Nam, khi tiếp cận theo nghĩa là mộtnguyên tắc, thì “cân bằng quyền lực” là hạng thái của hệ thống quốc tế

mà ở đó không có một quốc gia nào có sức mạnh áp đảo so với các quốcgia khác Hay gọi là trạng thái “mơ ước” của đòi sống quốc té Trạng tháinày có thể được thiết lập thông qua việc tạo ra một thế đối lập với quốcgia hoặc nhóm quốc gia mạnh nhất bằng việc hình thành một đối thủhoặc một liên minh có sức manh tương đương Việc duy tri trạng thái cânbằng quyền lực đồng nghĩa với việc gia tăng quyền lợi của các cườngquốc, và những quốc gia nhỏ bé lệ thuộc phải chấp nhận sự chia sẻ vềquyền lọi

Khi tiếp cận theo nghĩa là một chính sách thì “cân bằng quyền lực”

“là một loạt những biện pháp nhất quán của các nhà ngoại giao, cácchính khách nhằm duy trì trạng thái cân bằng của cán cân quyền lực.Theo đó, các quốc gia có thể hình thành một liên minh chống lại quốc gia

có tiềm năng ữở thành bá quyền hoặc thực hiện những biện pháp khácnhằm nâng cao khả năng kiềm chế những quốc gia hiếu chiến xâm lược.Bên cạnh đó, một quốc gia cũng có thể tự minh đóng vai trò cân bằng hệthống bằng cách thay đổi liên minh khi cần thiết Như vậy, chính sách

“cân bằng quyền lực” là nhằm duy trì một trạng thái cân bằng có lợi choquốc gia hoặc một nhóm quốc gia thông qua các đường lối và chính sách

cụ thể”I Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, cân bằng quyền lực có thể ngănchặn được chiến tranh, có thể giúp đem lại sự ổn định và trật tự Cânbằng tương đối về quyền lực có thể giúp duy trì trật tự thể giới ổn địnhlâu dài trong quan hệ quốc tế, ngược lại mất cân bằng sẽ tạo ra bất ổn và

đe dọa trật tự thế giới Có hai cách để cân bằng quyền lực: thủ nhất là

cân bằng quyền lực bên trong, tức là các nước tự tăng cường năng lực

I Lục Minh Tuấn: Cân bằng quyền lực (balance power), http://nghiencuu

quocte.org/2014/12/24/can-bang-quyen-luc/, truy cập ngày 25-9-2018 (tr.2/3)

Trang 26

8

sức mạnh quốc gia; thứ hai là cân bằng từ bên ngoài, tức là các chủ thể

liên minh lại để tăng cường sức mạnh

2.4 Cạnh tranh quyền lực trong quan hệ quốc tế

Cạnh tranh quyền lực được hiểu là hình thái đối kháng trực tiếp haygián tiếp giữa hai hoặc nhiều chủ thể nhằm tranh giành ảnh hưởng đốivới một hay một số chủ thể khác thông qua việc tác động hoặc ép buộcchủ thể đó phục tùng ý chí cùa mình

Tác giả Hoàng Khắc Nam cho rằng, theo Chủ nghĩa hiện thực, vìbản chất vô chính phủ của thế giói và luôn sống trong môi trường cạnhtranh, vì nhu cầu quyền lực tất yếu của quốc gia và không có giới hạn,cho nên mọi quốc gia đều tìm cách có được quyền lực để bảo vệ chủquyền và lợi ích, cũng như đảm bảo sự tồn tại lâu dài của mình

Do vậy, mọi quốc gia đều theo đuổi cuộc cạnh tranh quyền lực Longquan hệ quốc tế, và nó luôn là yếu tố biến động Sự gia tăng quyền lựcđược thực hiện bằng cách làm cho mình mạnh lên và chủ thể khác yéu đinên cạnh tranh quyền lực là không tránh khỏi giữa các quốc gia, là việcthường xuyên và vì thế trong quan hệ quốc té dễ xảy ra xung đột Chủnghĩa hiện thực cũng dùng quyền lực để xem xét và lý giải những cáchứng xử trong quan hệ quôc tê và tính toán của các quôc gia

3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TỂ ĐIÊN HÌNH

Lý thuyết quan hệ quốc tế là một tập hợp các góc nhìn, cách tiếpcận, mô hình, cũng như những cách lý giải về các hiện tượng diễn raLong nền chính trị thế giới Có ba phạm trù chính khi bàn về lý thuyết

quan hệ quốc tế: Bản thể luận (ontology) bàn về những gì trong thế giới khách quan mà con người có thể nhận thức được (thể giới quan); Nhận

thức luận (epistemology) tập trung vào phương thức mà con người nhận

thức thế giói, hay nói cách khác là phương thức mà qua đó tri thức được

Trang 27

2 9

tạo ra; Phương pháp luận (methodology) đề cập đến các phương thức

tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng độ đúng sai của lý thuyết đóI.Hiện nay, trong nghiên cứu quốc tế thường chia các lý thuyết quan

hệ quốc tế ra làm tám trường phái chính Đó là: (1) Chủ nghĩa hiện thực

cổ điển; (2) Chủ nghĩa tân hiện thực; (3) Chủ nghĩa tự do;

(4) Chủ nghĩa tân tự do (hay còn gọi là chủ nghĩa tự do thể chế);(5) Chủ nghĩa kiến tạo; (6) Chủ nghĩa Mác (Marx) trong quan hệquốc té; (7) Trường phái Anh Quốc; (8) Lý thuyết phê phán (haycòn gọi là trường phái hậu hiện đại Long quan hệ quốc tế).Trong đó, các lý thuyết phổ biển là:

3.1 Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực (realism)- Cùng với chủ nghĩa tự do là hai

trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế chủ đạo ở các nước phương Tây.Chủ nghĩa hiện thực chính thức ra đời vào khoảng những năm 1930 Nóđược đánh giá như là một “phản đề” đối với chủ nghĩa tự do về quan hệquốc tế, nhất là trong bối cảnh khi mà cộng đồng thế giới đang đứngtrước nguy cơ bùng phát một cuộc chiến ữanh thế giới (Chiến tranh thếgiới thứ hai) Các thế lực phát xít, quân phiệt hiếụ chiến đang tăng cườngsức mạnh và quyền lực Thực tiễn lịch sử đó diễn ra hoàn toàn trái vớinhững dự báo theo quan điểm của chủ nghĩa tự do Khoa học quan hệquốc tế ở phương Tây lâm vào khủng hoảng, đòi hòi phải có những lýthuyết mới để giải thích các vấn đề quan hệ quốc tế mới phát sinh Trongbối cảnh đó, Chủ nghĩa hiện thực chính thức được hình thành Khinghiên cứu nền chính trị thế giới nếu như Chủ nghĩa tự do xuất phát từmột mô hình thế giới lý tường, từ những mong muốn, khát vọng mangtính chủ quan, thì Chủ nghĩa hiện thực lại luôn yêu cầu phải xuất phát từthực tế của nền chính trị thế giới Thực tế đó, theo nhận định của các nhàhiện thực là chiến tranh, xung đột triền miên, là cuộc đấu tranh bất tận

I Trương Huy Minh Vũ: Lý thuyết quan hệ quốc tế (International relations theories’),

http://nghiencuuquocte.org/2015/ll/07/ly-thuyet-quan-he-quoc-te-irt/ , truy cập ngày 25-9-2018 (trl/2).

Trang 28

Một là, hoạt động chính trị của một quốc gia phải dựa trên cơ sở

khách quan, không phải là căn cứ vào nguyện vọng chủ quan của cácchính khách, các quốc gia Cơ sờ khách quan đó là bản tính tự nhiên củacon người Chủ nghĩa hiện thực cho rằng con người có bản tính ác, nênluôn tranh giành quyền lợi với nhau, không có sự họp tác, giúp đỡ lẫnnhau Do đó, trong quan hệ giữa các quốc gia cũng vậy, sự tranh giànhquyền lực giữa các nước là một quy luật vĩnh viễn

Hai là, trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, chủ nghĩa hiện thực nêu ra

quan điểm quyền lực quy định lợi ích, theo họ đó là thực chất của mốiquan hệ giữa chính trị quốc té và hiện thực, điều đó đã làm cho chính trịhọc phân biệt với các lĩnh vực: kinh té, đạo đức, mỹ học, tôn giáo Điềunày cũng đưa ra căn cứ cho những hành vi chính trị và chuẩn mực chonhững trật tự chính trị

Ba là, quyền lực quy định lợi ích là quy luật có tính phổ biến, khách

quan Ngược lại, lợi ích, tính hiệu quả là tiêu chuẩn vĩnh hằng để đánhgiá và chi đạo hành vi chính trị Nội dung cụ thể của quyền lực và lợi ích

là do hoàn cảnh chính trị, văn hóa ữong những điều kiện lịch sử nhấtđinh chi phối

Bốn là, không được lẫn lộn lĩnh vực chính trị với lĩnh vực đạo đức.

Những nguyên tắc chung về đạo đức không thể vận dụng vào hoạt độngcủa nhà nước Chủ nghĩa hiện thực cho rằng giữa yêu cầu về đạo đức vànhững đòi hỏi của hoạt động chính trị của nhà nước thường xảy ra nhữngmâu thuẫn không thể tránh khỏi

Năm là, không được lẫn lộn sự mong muốn của một nhà nước nào

đó với nguyên tắc đạo đức chung cùa toàn nhân loại Nhà nước nào cũngđều đem đạo đức của loài người ra để che lấp đi những ý đồ và hành vi

Trang 29

3 1

riêng của mình Néu như nhận ra được mọi lợi ích mà các quốc gia đóđang theo đuổi bằng quyền lực, thì có thể đánh giá một cách công bằngđối với những nhà nước đó

Sáu là, chủ nghĩa hiện thực chủ trương giữ vững sự độc lập trong

lĩnh vực chính trị, kiên trì nguyên tắc quyền lực quy định lợi ích, từnguyên tắc này chi phối mọi hoạt động chính trị của nhà nước

Chủ nghĩa hiện thực đã vận đụng những nguyên tắc trên vào việcgiải thích vấn đề hòa bỉnh và chiến ừanh như sau:

Trước hết, xung đột, chiến tranh trong quan hệ giữa các quốc gia là

điều tất yếu, hiển nhiên, hợp quy luật Chiến tranh, xung đột là thuộc tínhthường trực của nền chính trị quốc tế Giống như cá nhân con người, cácnhà nước là do con người lập ra nên cũng mang bản chất “ác”, hiếuchiến, ích kỷ Trong quan hệ với các nước khác, mọi nhà nước đều luônnhằm mục tiêu giành cho mình nhiều lợi ích hom, tạo cho mình nhiềuquyền lực hơn và luôn nghi kỵ các đối tác

Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở đi, các đại biểu của Chủ nghĩatân hiện thực còn bổ sung thêm và khẳng định rằng, yếu tố hối thúc cácnhà nước phải lưu tâm hàng đầu đến việc đảm bảo an ninh, tăng sứcmạnh của mình trong quan hệ quốc tế là tình trạng vô chính phủ, hỗnloạn của hệ thống quốc tế Tính hỗn loạn, vô chính phủ đó được thể hiện

ở chỗ, không tồn tại và không thể thiết lập được một thiết chế quyền lựcsiêu nhà nước, kiểu “chính phủ của toàn thế giói” với chức năng quản lý,điều tiết quan hệ giữa các quốc gia

Thứ hai, hòa bình, hợp tác trong'quan hệ quốc tế chỉ là tạm thời,

không thuộc về bản chất của thế giới Hòa bình thế giới được duy trì chỉ

vì lợi ích ích kỷ của các nước đóng vai trò chi phối mà thôi Còn đối vớicác quốc gia bị thất thế, bị đối xử bất công và muốn phục hồi vị thế,quyền lực của mình thì hòa bình thực chất là sự áp đặt đầy bất công từphía những nước chiếm ưu thế

Trang 30

2

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, biện pháp duy nhất duy trì hòa bình,buộc các nước phải họp tác với nhau là duy trì sự cân bằng quyền lựcgiữa các quốc gia bằng sức mạnh Nói cách khác, là ngăn chặn không đểbất cứ quốc gia nào nắm ưu thế quyền lực là cách thức phòng ngừa xungđột hữu hiệu nhất ừong quan hệ quốc tế

3.2 Chủ nghĩa tự do

Chủ nghĩa tự do (liberalism) hay cách “tiếp cận tự do” là một trong

những trường phái quan trọng nhất trong lý thuyết quan hệ

quốc tế Xuất hiện từ thời kỳ cải cách tôn giáo thế kỷ XVI ở châu Âu.Chủ nghĩa tự do là một trong hai trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế

cơ bản nhất ở phương Tây Chủ nghĩa tự do bắt đầu hình thành và pháttriển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Từ cuối nhữngnăm 1930 cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò, vị trí và ảnhhưởng của lý thuyết này trong giới học giả phương Tây cũng như trongđời sống chính trị bị suy giảm đáng kể Tuy nhiên, sau khi Liên Xô tan

rã, Chiến tranh lạnh kết thúc thì xu thế hòa bình, họrp tác và phát triểntrở thành xu thế chủ đạo của thế giới, trường phái lý thuyết này lại bắtđầu phát triển trở lại và trở thành cơ sở lý luận cho nhiều học giả cũngnhư nhiều nhà hoạch định chính sách phương Tây

Luận điểm quan họng nhất của Chủ nghĩa tự do chính là nhận thức

về bản chất của con người Theo các nhà tự do chủ nghĩa thì con ngườivốn mang trong mình bản tính thiện, luôn kỳ vọng về một thế giới tốtđẹp, hạnh phúc và hài hòa hơn Đây là cơ sờ lý luận đầu tiên và quantrọng nhất cho sự hình thành trường phái triết lý xã hội tự do chủ nghĩanói chung và lý thuyết tự do về quan hệ quốc tế nói riêng

Chủ nghĩa tự do cho rằng hòa bình, họp tác là bản chất, là thuộctính khách quan thường trực của nền chính trị thể giới Luận điểm nàyđược xây dựng ừên cơ sở nhận thức rằng trạng thái hài hòa, cân bằng,hòa họp không chỉ là bàn chất, điều kiện tồn tại của giới tự nhiên mà còn

là của con người Chiến tranh, xung đột là những hiện tượng phi lý, phản

Trang 31

3 3

tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật và do vậy cũng khôngphải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới Xuất phát từquan niệm như vậy, các nhà tự do chủ nghĩa đi đến kết luận, chiến tranh,xung đột là thứ “ung nhọt, bệnh tật” trên cơ thể nền chính trị quốc tể.Cộng đồng quốc tế cần lên án, phản đối, hơn thế loài người có đủ khảnăng hạn chế, đi tói chấm dứt hoàn toàn xung đột, chiến tranh trong đờisống xã hội

Để chữa fri “căn bệnh” xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc

tế, chủ nghĩa tự do đề xuất một số biện pháp, “phương thuốc” chủ yéusau:

Thứ nhất, phổ biến, mở rộng thể chế chính trị dân chù ra phạm vi

toàn thế giới Các nhà tự do chủ nghĩa chỉ ra rằng, hệ thống thế giới biếnđổi theo xu hướng ngày càng có nhiều quốc gia thành viên chọn lựa môhình chính trị dân chủ, kinh tế thị trường Nhờ đó, xung đột, chiến tranh

sẽ giảm bớt, thế giới sẽ trở nên hòa bình và an ninh hơn

Thứ hai, thiết lập thị trường chung, mở rộng thành thị trường toàn

cầu, tăng cường tự do kinh doanh, buôn bán giữa các quốc gia, các khuvực, các châu lục, xóa bỏ các rào cản đối với thương mại quốc tế, làmcho các thành viên tham gia thị trường ấy có nhiều lợi ích chung, từ đóhọp tác với nhau chặt chẽ hơn, nỗ lực cùng nhau bảo vệ, thực hiện lợi íchchung đó, tránh được xung đột, giảm chiến tranh trong quan hệ quốc tế

Thứ ba, xây dựng, tăng cường thẩm quyền, nâng cao hiệu quả hoạt

động của các cơ quan, tổ chức quốc tế, đồng thời soạn thảo và thực thi hệthống pháp lý quốc tế, làm cho luật pháp quốc tế trở thành bắt buộc đốivới tất cả các quốc gia, tiến tới xây dựng mô hình, cơ chế quản lý toàncầu tương tự như hệ thống chính trị cùa một quốc gia Biện pháp nàyđược xây dựng trên một luận điểm rất cơ bản là các thiết chế quốc tế (tổchức quốc tế, công ty đa quốc gia), là chủ thể hàng đầu, đóng vai tròquyết định đối với các tiến trình phát triển của thể giói, còn các nhà nướcchỉ là chủ thể “hạng hai” Xu thế trong tương lai là các thiết chế quốc tế

Trang 32

4

ngày càng tăng vai trò, ảnh hường của minh, lấn át các nhà nước, làm xóimòn chủ quyền quốc gia

Thứ tư, xuất phát từ nhận định là tồn tại một hệ giá trị, hệ quy tắc

đạo đức, ứng xử mang tính phổ quát chung cho mọi quốc gia, nhữngngười theo trường phái tự do cho rằng, giữ gìn, phổ biến, tuyên truyềnnhững giá trị chung sẽ giúp cho các dân tộc hiểu biết, xích lại

Trang 33

gần nhau hon, nhờ đó họ sẽ tăng cường quan hệ hợp tác, hòa bình, hữunghị, đồng thời tránh xung đột, gây chiến vói nhau.

3.3 Chủ nghĩa kiến tạo

Chủ nghĩa kiến tạo (constructivism): Chiến tranh Lạnh chấm dứt

đã làm xói mòn những luận giải của cả Chủ nghĩa tự do và Chủ nghĩahiện thực Cả hai đều đã không thể tiên đoán cũng như nhận thức đầy

đủ về sự biến chuyển mang tính hệ thống đang tái định hình trật tự thếgiói cũng như sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh Tình hình đó tạo điềukiện cho sự nổi lên của một trường phái mói: Chủ nghĩa kiến tạo1.Chủ nghĩa kiến tạo cho rang “bản sắc, các chuẩn tắc, niềm tin vàcác giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lêncác hoạt động chính trị-xã hội”2 Bên cạnh đó, “Chủ nghĩa kiến tạonhấn mạnh rằng tầm quan trọng của những cấu trúc chuẩn tắc tươngđương nếu không nói là vượt trội hơn so vói cấu trúc vật chất”3

Theo các nhà kiến tạo, có mấy điểm cơ bàn cần nhận thức nhưsau:

Một là, mỗi quốc gia có một bản sắc quốc gia, hay cách quốc gia

đó nhận thức về bản thân minh, và bản sắc quốc gia này giúp định hìnhcác mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi, như an ninh, chính sách đốingoại hay phát triển triển kinh tế Tuy nhiên, cách thức mà các quốc giahiện thực hóa các mục tiêu này như thế nào lại phụ thuộc vào bản sắc

xã hội, hay là cách các quốc gia nhận thức về bản thân mình ừong mốiquan hệ với các quốc gia khác trong xã hội quốc tế4

Hai là, các quốc gia sẽ xác định lợi ích quốc gia của mình dựa

' ■ 2 ’ 3 Phạm Thùy Tiên: Chủ nghĩa kiến tạo (constructivism), http://nghiencuu

quocte.org/2015/03/01/chu-nghia-kien-tao/, truy cập ngày 25-9-218, (ừ.1/3).

4 Phạm Thủy Tiên: Chủ nghĩa kiến tạo (constructivism), http://nghiencuu

quocte.org/2015/03/01/chu-nghia-kien-tao/, truy cập ngày 25-9-218, (tr.2/3).

Trang 34

1 Phạm Thủy Tiên: Chủ nghĩa kiến tạo (constructivism), http://nghiencuu

quocte.org/2015/03/01/chu-nghia-lden-tao/, truy cập ngày 25-9-218 (tr.2/3)

3

6

trên cơ sờ là những bản sắc này Các nhà kiến tạo thừa nhận rằng tìnhtrạng vô chính phủ là điều kiện đặc trưng của hệ thống quốc tế nhưngcho rằng, tự thân tình trạng vô chính phủ đó không tồn tại mặc nhiênbên ngoài ý thức của các quốc gia Ví dụ, tình trạng vô chính phủ giữanhững quốc gia hữu hảo khác với tinh trạng vô chính phủ giữa nhữngquốc gia đối địch Vì vậy, điều quan trọng chính là những cấu trúc xãhội khác nhau tồn tại trong tình trạng vô chính phủ đó Các quốc gia

có thể có nhiều bản sắc xã hội khác nhau và các bản sắc xã hội này cóthể mang tính họp tác hoặc xung đột và lợi ích của quốc gia cũng biếnđổi tùy thuộc vào bản sắc xã hội mà quốc gia xác định tương ứng Nóicách khác, các quốc gia xác định lợi ích của mình bằng cách diễn giảibổi cảnh xã hội mà họ tham gia Vì vậy, các nhà kiến tạo cho rằng bốicảnh Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là một cấu trúc xã hội màtrong đó hai siêu cường coi nhau như kẻ thù, đồng thời xác định lợi íchquốc gia của mình theo hướng đối kháng nhau Một khi hai quốc gianày không còn coi nhau là kẻ thù nữa thì Chiến tranh Lạnh tự động kếtthúc1

3.4 Chủ nghĩa Mác-Lênin

Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủnghĩa Mác được Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác- Lênin nhẩnmạnh thực tại xã hội quyết định xã hội và lịch sử vận động quan hệquốc tế biến đổi theo các quy luật khách quan Chủ nghĩa Mác- Lênincho rằng, giai cấp là chủ thể chủ yếu ừong quan hệ quốc tế bời chínhgiai cấp là chủ thể của nền kinh tế mà nền kinh tế mới có vai trò quyếtđịnh đến sự vận động của xã hội cũng như trật tự quan hệ quốc tế Lợiích giai cấp và lợi ích quốc gia có quan hệ mật thiết với nhau Mâuthuẫn giai cấp là mâu thuẫn chủ yếu chi phối sự vận động

và phát triển của quan hệ quốc té và việc giai cấp giải quyét mâu thuẫn

đó như thế nào sẽ quyết định đến việc hình thành trật tự thế giói vàquan hệ quốc té sẽ tiếp tục vận hành ra sao Đấu tranh giai cấp chính là

Trang 35

3 7

phương thức chủ yéu để thay đổi trật tự thế giói và tạo ra một trật tựkhác Những luận điểm này tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩaMác- xit mới trong quan hệ quốc tế trong đó nhấn mạnh đến việc cácnền kinh tế trên thế giói tương tác và gắn bó chặt chẽ với nhau dẫn đếnhình thành hệ thống thế giới, trong hệ tihống đó đang diễn ra sự phâncông lao động quốc tế bất bình đẳng dẫn đến sự phân hóa, phân cực,phân tầng trong hệ thống thế giói Sự phân tâng này được mô tả băngnhiều hình thức khác nhau như trung tâm và ngoại vi, quốc gia chi phối

và quốc gia phụ thuộc, trung tâm và vệ tinh

D CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích các yếu tố cấu thành trật tự thế giới?

2 Tại sao nói hệ thống quan hệ quốc tế ngày nay đa dạng, tác động lớn đến an ninh, phát triển của từng quốc gia?

3 Tại sao nói quyền lực là vấn đề trung tâm của chính trị quốc tế?

E TÀI LIỆU HỌC TẬP

Tài liệu bắt buộc

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao

cấp lý luận chỉnh trị: Quan hệ quốc tế Nxb.Lý luận chinh trị, H.2018.

2 Vũ Lê Thái Hoàng: Bàn về cách tiếp cận của lỷ luận phương

Tây về trật tự thế giới, 2014.

Trang 36

8

3 Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (chủ biên): So tay Thuật

ngữ Quan hệ Quốc tế, Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Khoa học xã

hội và nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013

4 Hoàng Khắc Nam: Lý thuyết quan hệ quốc tế, Nxb.Thế giới,

H.2017

Tài liệu đọc thêm

1 Vũ Dương Huân: Vài nhận thức về hệ thống quan hệ quốc tể,

Nghiên cứu quốc tế, số 1 (84), 2011.

2 Phạm Bình Minh (Chủ biên): Cục diện thể giới đến 2020,

Nxb.Chính tộ quốc gia, H.2010

Trang 37

Bài 2

CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY

A MỤC TIÊU

về kiến thức: Cung cấp cho học viên khái niệm về cục diện thế giới; nhận diện đầy đủ về cục diện thế giới giai đoạn hiện nay

xu hướng vận động cùa cục diện thế giới những năm tới; định vị Việt Nam trong không gian quyền lực toàn cầu hiện nay

về kỹ năng: Trên cơ sở những tri thức cập nhật, định hướng giúp học viên trau dồi kỹ năng phân tích, đánh giá các sự kiện

quốc tể đang diễn ra phức tạp hiện nay để từ đó đánh giá đúng về cục diện thế giới đang diễn ra và xu thế vận động của nó

về tư tưởng: Giúp học viên thấy rõ được những vấn đề liên quan trong nhận thức lý luận và đánh giá thực tiễn về cục diện

thế giới, từ đó có thêm cơ sở lý luận, thực tiễn để hiểu và cùng cố niềm tin đối với con đường phát triển của đất nước trước mộtthế giới biến động không ngừng

B NỘI DUNG

1.1 Quá trình hình thành cục diện thế giới hiện nay

Cục diện thế giới (World Configuration) là tương quan lực lượng giữa các siêu cường hoặc các cường quốc cũng như giữa

các chủ the quoc te khác; là diện mạo thế giới, những thể chế vận hành

cụ thể và xu thế vận động của nó trong khoảng thời gian tưcmg đối ngắn Những cục diện khác nhau có thể xuất hiện trong thòi

kỳ của một trật tự thế giới; hoặc có thể là bức tranh thế giới trong những thời điểm quá độ từ ừật tự này sang trật tự khác

Cục diện thế giới phản ánh tưong quan giữa các siêu cường hoặc các cường quốc cũng như giữa các chủ thể quốc tế kháctrên các ITnh vực chủ yếu, nhung trước hết vẫn là tương quan giữa các siêu cường hoặc các cường quốc trên lĩnh vực chính trị,kinh tế, quân sự, an ninh Nghiên cứu cục diện thế giới nhất thiết phải bao hàm cả những đặc điểm, các nhân tố tác động và các

xu hướng vận động chủ yếu của nó

Sau sự tan rã của Liên Xô (1991), trật tự hai cực được ra đòi tù Hội nghị Yalta (1945) cũng chấm dứt sự tồn tại Từ đó, thếgiới bước vào thời kỳ không có trật tự, thường vẫn được đánh giá là thế giới đầy khoảng trống quyền lực Tuy nhiên, không vi

Trang 38

thế mà thế giới trở nên hỗn loạn, càng không đi đến sự cáo chung; ngược lại, thé giói vẫn tiếp tục vận động và phát triển trongnhững cục diện sinh động với những đặc điểm phong phú.

Trên từng phương diện hoặc tùy theo lăng kính nhìn nhận, giới nghiên cứu quốc tế đã phân chia thòi kỳ từ năm 1991 đếnnay thành một số cục diện thế giới Tuy nhiên, trên bình diện chính trị tổng quát, có thể nhận rõ thời điểm nối giữa thế kỷ XX vàthế kỷ XXI là cột mốc cùa hai cục diện thế giới: cục diện từ năm 1991 đến năm 2000 và cục diện từ năm 2001 đến nay Cả haicục diện này được hình thành và vận động trong môi trường đầy chuyển động mang tầm cỡ lịch sử toàn thế giới:

Một là, cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra cả về bề rộng và

chiều sâu làm ứiay đổi kết cấu của tất cả các không gian địa kinh tế, địa

-chính trị, cũng như các cấu trúc quyền lực và phương thức vận hành của chứng

Từ khoảng giữa những năm 70 của thế kỷ XX, khoa học - kỹ thuật hiện đại có những đặc điểm mới, đánh dấu cuộc cáchmạng khoa học - kỹ thuật lần thứ ba trong lịch sử thé giới Đó là cuộc cách mạng chủ yếu về công nghệ vói sự ra đòi của máy tínhđiện từ thế hệ mới được sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế và đòi sống xã hội, về vật liệu mói, về những dạng năng lượng mới

và công nghệ sinh học, về phát triển tin học Việc áp dụng những công nghệ hoàn toàn mói đã tạo điều kiện cho sản xuất pháttriển theo chiều sâu, giảm hẳn tiêu hao năng lượng và nguyên liệu, giảm tác hại cho môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm vàdịch vụ, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất Trong giai đoạn trước, máy móc thay thế lao động cơ bắp; trong giai đoạncách mạng tin học, máy tính làm nhiều chức năng của lao động trí óc

Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge - Based Economy) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao Tổ chức Hợp tác và Phát triên kinh tế (OECD) định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tể ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phổi và sử dụng tri thức và thông tin Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu A - Thái Binh Dương (APEC) xác định: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối

và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quả trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đang làm thay đổi tận tầng sâu của nền sản xuất vật chất, tác động

mạnh mẽ đến cơ cấu xã hội, làm biến động các giá trị văn hóa, tinh thần, tư tưởng, làm đảo lộn tương quan lực lượng trong cụcdiện thế giới Vói việc tạo ra các công cụ lao động và phương pháp tổ chức, quản lý

sản xuất mới, cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đã khai sinh ra một thòi đại kinh tế mói, khác nhiều so với thờiđại kinh tế công nghiệp hàng trăm năm qua Tuy thòi đại kinh tế không đồng nghĩa với thòi đại như một phạm trù lịch sử, nhưng

sự ra đòi của một thời đại kinh tế mới hiển nhiên đặt tiến trinh vận động của thời đại ngày nay vào bối cảnh, điều kiện chứađựng thuận lọi và khó khăn, thời cơ và thách thức chưa hề có tiền lệ

về mặt bản chất, toàn cầu hóa là tất yếu lịch sử được quyết định bởi trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất do cuộccách mạng khoa học - công nghệ tạo ra và nó hướng tới một thế giới như một chỉnh thể thống nhất, công bằng Tuy nhiên, trong

Trang 39

giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa đang mang nặng tính chất tư bản chủ nghĩa, do chủ nghĩa tư bản chi phối với mục tiêu chiếnlược là thiết lập các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu Tính hai mặt phức tạp như vậy của toàn cầu hóađang và tiếp tục tạo ra cục diện vừa hợp tác chặt chẽ, vừa đấu tranh quyết liệt giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực kinh tế, vănhóa, khoa học công nghệ, an ninh, chính trị Trong bối cảnh này, mọi hên minh và các hình thức tập hợp lực lượng trên vũ đàiquốc tế đều phải được cấu trúc lại, làm phong phú gấp bội các xu hướng lịch sử so với cách đó hai đến ba thập kỷ.

Hai là, thế giới tư duy lại về mục tiêu phát triển; đồng thòi, thường xuyên bất ổn do các cuộc khùng hoảng kinh tế - xã hội

gây ra

Khái niệm “phát triển” được xem xét lại trên tất cả các bình diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường Có thể nêu

ra những yếu tố định tính cơ bản của phát triển là: sự hài hòa giữa thoả mãn về vật chất và toại nguyện về tinh thần; giữa tăngtrưởng kinh tể và công bằng xã hội; giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và an toàn môi trường sinh thái; giữa hiệu quả kinh tế vàhiệu quả xã hội; giữa tự do sáng tạo và chuẩn mực giá trị; giữa dân chủ xã hội và ưật tự kỷ cương; giữa cá nhân và cộng đồng,gia đình và xã hội,

truyền thống và hiện đại V.V Phát triển với nội dung này là sự phản ánh cụ thể của tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay - thời đạibước ngoặt trong toàn bộ tiến trình con người hoàn thiện mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

Thuật ngữ “phát triển bền vững” (Sustainable Development) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược

bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) công bố vói nội dung rất đcm giản: Sự

phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu càu tất yếu của xã hội và

sự tác động đến môi trường sinh thái học

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 trong Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của

chủng ta - Our Common Future) của ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) - nay là ủy ban Brundtland) Báo cáo ghi

rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả

năng đáp ứng nhu cầu của các thể hệ tương lai Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu

quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầmquyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích tổng hòa giữa ba lĩnh vực c hính: kinh tể, xã hội và môitrường

Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeho (Brazil), các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc

đã xác nhận lại khái niệm này, gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách ừong việc đẩy

mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cừng với bảo vệ môi trường Năm 2002, Hội nghị thượng đinh thé giới về phát triểnbền vững (còn gọi là Hội nghị Rio+10) nhóm họp tại Johannesburg (Nam Phi)

Trang 40

với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết

lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng

lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái

Phát triển con người trờ thành tiền đề, cơ sở, thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia Chi số tổng sản phẩm quốc nội

(GDP) đã được Liên hợp quốc đề nghị thay thể bằng Chỉ số phát triển nhân lực (HDI) để đánh giá thực trạng phát triển ở mỗi

nước Các cơ quan chức năng của Liên hợp quốc còn đưa ra các chỉ số khác để đánh giá đầy đủ hơn trình độ và tính chất phát

triển của mỗi quốc gia như: Chỉ số tiến bộ thực sự (GPI), Chỉ số tổng hạnh phúc quốc dân (GNH), Chi số phát triển nguồn nhân

lực (HRDI), Chi số đo lường sự tham gia của phụ nữ (GEM), Chỉ số nghèo của con người (HPI), Chỉ số đói nghèo đa chiều

(MPI) và đặc biệt là phát triển bền vững

Các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trên thế giới năm 1997, 2001 và 2008 đã làm cộng đồng quốc té thức tình nhiều

nhận thức quan trọng Đây không đơn thuần là sự sụp đổ của hàng loạt hệ thống ngân hàng, chính sách tài chính, cơ cấu kinh tế,

chuỗi thị trường toàn cầu , mà sâu xa nhất, đó là sự phá sản của những mô hình tăng trường, mô hình phát triển không phù hợp

Trong nỗ lực tìm kiếm một mô hinh mới, thế giới đồng tình khẳng định rằng cần đảm bảo sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội, văn

hóa, an ninh, môi trường trong sự phát triển Nhìn sâu xa hơn, đây chính là thòi điểm mà từng quốc gia - dân tộc cần góp phần

tư duy lại, xây dựng văn hóa mới về sự phát triển trong kỷ nguyên của cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, toàn

cầu hóa, biến đổi khi hậu toàn cầu Trên thực té, hàng triệu người đã xuống đường thể hiện sự bất bình đối vói nhiều thể chế

chính trị, chính sách kinh tế - xã hội, trung tâm quyền lực kinh tế thế giói Hàng loạt cuộc “cách mạng sắc màu” ờ châu Âu,

“Mùa xuân

Ảrập” làm rung chuyển Bắc Phi - Trung Đông, Phong trào “Chiếm lấy Phố Wall” ở Mỹ đã lan rộng đến gần 200 thành phố trênthể giói biểu thị sự phản kháng toàn cầu, kiên tri khẩu hiệu đấu tranh “Một thế giới tốt đẹp hơn là có the!” (An other better world

is possible!)

Ba là, xuất hiện ngày càng rõ nét sự quản trị toàn cầu (Global Governance) bên cạnh chính phủ quốc gia (National

Government) cùng nhau quản lý xã hội thế giói (World Society)

Quản lý toàn cầu là một sản phẩm của lịch sử, có nguyên nhân từ chính sự vận động của nền kinh tế, xã hội, môi trường vàchính trị của thé giói trong kỷ nguyên toàn cầu hóa Xét từ nguyên nhân kinh tế, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế vànguy cơ khủng hoảng tiềm tàng thường trực đặt ra nhu cầu sống còn phải xác lập một cơ chế quản lý hữu hiệu trên quy mô thếgiới Nhiều quá trinh và hoạt động kinh tế, nhất là kinh tế tài chính - tiền tệ, đã vượt khỏi năng lực điều hành riêng biệt của chínhphủ quốc gia Mặc dù các tổ chức kinh tế quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) có nhiều cố gắng trong việc đưa ra các định chế duy trì trật tự kinh tế toàn cầu, nhưng do các hạn chế bên trong,

mô hình quản lý của các tổ chức đó cũng không đáp ứng được đòi hỏi ngày càng phức tạp của thực tế Xét từ nguyên nhân xã hội

và môi trường, chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội công dân phải cùng nhau hành động trong cuộc đấu

Ngày đăng: 06/10/2021, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w