Điểm tương đồng giữa tư tưởng dạy học cổ đại phương Đông và tư tưởng dạy học hiện đại phương Tây với tưởng dạy học Ngữ văn hiện nay của Việt Nam Phần 1: Giới thiệu về các tư tưởng dạy h
Trang 1Điểm tương đồng giữa tư tưởng dạy học cổ đại phương Đông
và tư tưởng dạy học hiện đại phương Tây với tưởng dạy học
Ngữ văn hiện nay của Việt Nam Phần 1: Giới thiệu về các tư tưởng dạy học
Hiện giờ, ngành giáo dục đất nước ta đang thực hiện những bước tiến để đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục
Mọi người đều đồng ý cái cần thay đổi đầu tiên phải là tư tưởng, quan niệm Ta đã từng một thời sống trong tư tưởng quan liêu bao cấp với nhiều sự rập khuôn, bó hẹp Giờ, thời đại mới, tất cả mọi ngành, mọi người chứ không chỉ ngành giáo dục cần đề cao hơn suy nghĩ mở, sáng tạo, năng động Đứng trước ngưỡng cửa của bước tiến đổi mới ấy, ta có thể xem xét lại tư tưởng dạy học của thời trước và học tập thêm tư tưởng của các nước khác để bổ sung thêm cái nhìn về giáo dục trong nước Đây cũng là dịp “ôn cố tri tân” và có sự đối chiếu giáo dục trong nước với nước ngoài
Tư tưởng dạy học cổ đại phương Đông được nói tới nhiều nhất qua Khổng Tử Ông là nhà giáo dục lớn của Trung Quốc cổ đại Trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là trong lĩnh vữc văn hóa - giáo dục xưa nay, có lẽ chưa có một người nào lại chiếm được một
vị trí độc tôn, phi phàm như Đức Khổng Tử (551-479 TCN) Mặc dù ông sống cách chúng ta tới 25 thế kỷ, song lớp hậu thế
ngàn năm sau ông vẫn tôn là "vạn thế sư biểu" (tấm gương sáng về người thầy của muôn đời)
Tư tưởng nội dung của học thuyết mà Khổng Tử áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực Ông đề xướng thuyết tôn hiền (tôn trọng người hiền tài, có đức độ) Ông dạy chữ gắn bó với dạy người, đề cao sự học Một đời Khổng Tử đề cao việc học và chính ông cũng là tấm gương học tập không mệt mỏi Đây là đóng góp hết sức căn bản của Đức Khổng Tử, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, khi mà việc học tập thường xuyên, suốt đời đã trở thành hiện thực Đặc biệt, ông còn đưa phương pháp dạy học thể hiện được tính dân chủ và nhân văn, rất phù hợp với thời đại hiện nay
Bên cạnh đó, ta cũng nhìn nhận cả tư tưởng giáo dục của phương Tây qua công trình nghiên cứu của một số nhà giáo dục nổi tiếng ở các nước lớn, ví dụ: J.Vial, Mac-kin, Beach, Macsal,…Các nhà giáo dục nhân văn thiết kế các phương pháp giảng dạy
để đào tạo ra các con người hoàn chỉnh (well-rounded), tự do trẻ em sẽ học tập tốt nhất trong điều kiện được tương tác tự do với môi trường sống và từ những điều gây ra sự hứng thú Bên cạnh đó, giáo dục phương Tây trong thế kỉ 21 còn chú ý tới những thay đổi về vai trò trong mối tương quan giữa người dạy và người học, những vấn đề về chương trình họcvà sự tích cực, chủ động của học sinh Chính vì những tư tưởng tiến bộ này mà các nước phương Tây, đặc biệt Châu Âu và Mĩ có nền giáo dục hiện đại, đào tạo được những con người chủ động, sáng tạo, thích ứng với nền kinh tế năng động của đất nước
Dạy Văn của chúng ta một thời gian dài cũng mang tính rập khuôn, giáo điều đặc biệt cần nói tới phương pháp truyền đạt của giáo viên Học tác phẩm nghệ thuật với yêu cầu chính là khơi gợi rung cảm, sự sáng tạo cá nhân song ta lại coi như học kiến thức cố định đã có sẵn trong sách vở Vậy Văn khác gì Sử, Địa, ? Học Tiếng Việt cũng chưa bám sát thực tiễn giao tiếp, chỉ đưa
ra những khái niệm khó hiểu và lại thay đổi liên tục Thực tế, qua thời gian dài áp dụng, ta thấy những cách dạy - học này không
có hiệu quả Giáo dục đất nước nói riêng và nguồn nhân lực của chúng ta có nguy cơ bị lạc hậu so với thế giới hàng trăm năm Vậy ta phải làm gì? Hiện nay, ta đang thực hiện đổi mới dạy Văn Tư tưởng đổi mới có nhiều: thực hiện tích hợp chương trình (gọi chung là Ngữ văn), đổi mới cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ thông tin,…Song đổi mới căn bản và ảnh hưởng lớn nhất tới
bộ mặt môn Ngữ văn nói riêng và nền giáo dục nói chung là: đổi mới nguyên lí, coi HS là bạn đọc sáng tạo; dạy học là quá trình tương tác nhiều chiều và khuyến khích sự tích cực bên trong của HS Để có được những tư tưởng đổi mới này, có lẽ ta đã tham khảo rất nhiều tư tưởng bên ngoài, cả cổ và hiện đại Tư tưởng của chúng ta hiện nay có gì tương đồng với thế giới? Ta đi vào tìm hiểu sâu hơn ở phần 2
Phần 2: Điểm tương đồng giữa tư tưởng dạy học cổ đại phương Đông và tư tưởng dạy học hiện đại phương Tây với tưởng dạy học Ngữ văn hiện nay của Việt Nam
Trang 21 Học sinh là bạn đọc sáng tạo
Đây là xu thế ở nước ta mà cũng là xu thế chung của các nước tiên tiến Coi trọng lí thuyết đáp ứng, ta đổi mới việc dạy văn theo hướng coi trọng việc đọc của HS HS phải tự tiếp cận với tác phẩm văn chương, từ đó nêu cảm xúc, nhận thức của bản thân chứ không phải chịu sự áp đặt của người khác Đây là sự vận dụng thành tựu của tiếp nhận văn học về sự chú trọng tới tính cá thể của người đọc và thành tựu mới của lí luận văn học với quan điểm về mối quan hệ giữa văn bản với tác phẩm Văn bản khi có bạn đọc mới đi vào cuộc sống Dạy học phải thực sự là hoạt động bên trong của học sinh Thực chất của tư tưởng này là coi trọng cảm thụ chủ quan của bạn đọc Từ dụng ý ban đầu của nhà văn, độc giả có thể suy tưởng theo nhiều ý khác nhau Cảm thụ càng mang tính chủ quan càng tốt cho sự phát triển nhân cách HS Tuy nhiên, cần đặt nó trong cảm thụ của tập thể, trong sự va chạm với nhiều cảm thụ chủ quan khác để nâng cao tính xã hội hoá ở người đọc Biện pháp được áp dụng ở đây gồm: thảo luận nhóm, xêmina, tạo không khí dân chủ trong lớp, GV định hướng cho HS trước khi đọc,…
Khổng Tử cũng đã áp dụng tư tưởng này trong quá trình dạy học của ông Ông để HS tự tìm tòi tư liệu, sau đó có vấn đề gì thì hỏi lại ông Quá trình HS tự tiếp xúc với tài liệu là thời gian chính, qua đó HS hiểu thêm về nhiều mặt Khổng Tử chỉ làm nhiệm
vụ định hướng những gì HS chưa hiểu Tư tưởng này cũng được thể hiện qua nhiều câu nói trong Luận ngữ:
- Làm trước điều mình muốn nói, rồi sau hãy nói
Làm hay nghe giúp người học nhớ hơn? Không chờ tới nghiên cứu trên, hơn nghìn năm trước, K.Tử đã nói tới điều này Quả thực mỗi nội dung dạy học đều liên quan mật thiết với những hoạt động nhất định Quá trình dạy học là quá trình điều khiển hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm thực hiện mục đích dạy học Thay vì bắt HS nghe hãy thiết kế hoạt động cho các
em làm việc Những hoạt động này càng phong phú, gần gũi cuộc sống càng tốt
- Dạy người, ta không phân biệt đó là loại người nào, lý lịch thế nào
Đây cũng chính là quan điểm dạy học hết sức tiến bộ của Khổng Tử Theo ông trong nhân loại tuy có bậc thượng trí và người hạ ngu nhưng bao giờ cũng là con số rất ít, còn phần nhiều là hạng trung nhân có thể dạy bảo được cả “Hữu giáo vô loại” (có dạy mà không phân chủng loại) Đã là người thì bất cứ hạng người nào, nòi giống nào cũng có thể dạy bảo cho thành người hay được
Phương Tây cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cao quan điểm trên Tiêu biểu là R.Beach và J.Marshall Trong cuốn “Giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông” (do Nguyên Phan dịch), hai ông đã đưa lí thuyết đáp ứng vào với những luận điểm cần thiết trong dạy Văn Tác giả nêu ra thực trang: các tác phẩm và chương trình trong nhà trường bị lựa chọn bắt buộc, HS phải tuân theo chương trình này Hơn nữa, khi học, GV thường áp đặt những cách hiểu cho HS, không cho các em phát biểu suy nghĩ Chính vì vậy,cần phải thay đổi cách dạy Văn theo hướng mở rộng các tác phẩm trong chương trình, có các tiết học tự chọn Trong đó, HS tự chọn tác phẩm hoặc vấn đề quan tâm để đưa vào tiết học GV cần tôn trọng ý kiến của HS Các tác giả cũng phê bình quan điểm: đọc là quá trình khép kín, chỉ quan tâm tới văn bản Thực chất, ý nghĩa của văn bản được tạo ra trong tương tác giữa người đọc với văn bản Văn bản chưa có ý nghĩa khi nó chưa được đọc bởi một cá nhân Từ đó, các ông nhận thấy vai trò năng động của độc giả trong quá trình tiếp nhận văn bản Người đọc chứng kiến không thụ động, họ phải nắm thông tin, hiểu chúng Đồng thời, họ có thể đồng sáng tạo với nhà văn trong một mức độ nhất định
2 Đổi mới cơ chế: tương tác nhiều chiều
Khổng Tử từng nói:
- Ba người cùng đi với nhau, tất có một người là thầy ta, chọn người hay mà làm gương, người dở mà sửa mình (Luận ngữ.Thật
nhi biên)
HS giờ có thể chọn lựa nhiều nơi học, thầy dạy nhưng tại sao không nhờ tới ngay những người bạn quanh mình, qua bố mẹ, người xung quanh và chính trong cuộc sống muôn màu với những va vấp riêng
Giáo viên có thể dùng ngay môi trường GD trong nhà trường để hướng các em đến với mục tiêu giáo dục Vd: lập đôi bạn cùng tiến, lớp trên hướng dẫn gia sư cho lớp dưới, học qua đánh giá sự kiện thời sự đang diễn ra,…
Dạy học chỉ cần liên hệ thực tế, tạo ra sản phẩm thiết thực, ở đây, phương pháp dự án tỏ ta rất công hiệu
- Xem xét lại những điều xưa cũ thì biết được nhiều điều mới
Trang 3Học là một quỏ trỡnh từ nhỏ tới lớn Muốn học rộng phải cú cơ sở từ cỏi trước nhưng khụng phải ta chi bằng lũng với cỏi cũ
mà phải luụn luụn cập nhật cỏi mới Học đõu chỉ biết mỗi hụm nay, phải luụn luụn ụn lại kiến thức cũ, đồng thời liờn hệ với cỏi khỏc
Học hay làm việc nếu kết hợp được cả yếu tố truyền thống và hiện đại với nhau sẽ tạo ra hiện quả tổng lực to lớn
Nhưng khụng phải ta ụm đồm hết Cần chọn lọc yếu tố tốt nhất, ưu việt nhất để ỏp dụng vào việc học và làm của bản thõn Với người giỏo viờn, để tỡm ra phương phỏp dạy tốt, tham khảo phương phỏp cũ hay mới chưa đủ Cần kết hợp, tỡm ra sự ưu việt riờng của từng phương phỏp Đừng cho rằng phương phỏp cũ đó vứt đi Một số trường hợp nú cần thiết như: giảng nơi đụng người,…
J.Vial - một nhà nghiờn cứu phương Tõy cũng thể hiện sự tương tỏc này bằng sơ đồ sau:
GIÁO VIấN HỌC SINH
Xoỏ mờ
Độc đoỏn
Tỡm tũi Được khớch lệ
Khơi gợi
Xoỏ mờ Được định hướng Được giải phúng
Sỏng tạo Sỏng tạo lại Tỡm tũi Lặp lại TÀI LIỆU
Sơ đồ trờn đó núi lờn sự tương tỏc giữa GV – HS và tài liệu Muốn hoạt động dạy học được tốt phải cú sự kết hợp nhuẫn nhuyễn
ba yếu tố trờn Trong đú ảnh hưởng của GV rất quan trọng Nếu GV là người độc đoỏn thỡ vai trũ của HS bị xoỏ mờ Và ngược lại, tuỳ theo mức độ, GV càng biết tỡm tũi, khơi gợi thỡ HS càng được khớch lệ, định hướng để tự hoàn thành tốt cụng việc Trong mức cuối cựng, khi GV chỉ là người đứng sau hoạt động của HS, vai trũ của GV bị xoỏ mờ thỡ HS được giải phúng hoàn toàn tiềm năng sỏng tạo Lỳc đú, tài liệu mà HS học khụng phải là sự lặp lại đơn thuần mà là sự sỏng tạo mới mẻ hoàn toàn Mục tiờu cao nhất của dạy học là giải phúng tiềm năng sỏng tạo nhưng để đạt được điều đú cần sự phối hợp, tương tỏc của nhiều yếu tố Việt Nam cũng chỳ trọng việc phối hợp tương tỏc trong học tập Trong cuốn “Phương phỏp dạy học Văn” do GS Phan Trọng Luận chủ biờn, GS cũng đưa ra cơ chế dạy học hiện đại Việc học của HS nằm trong cơ chế phối hợp hμi hoμ, cân đối nhμ văn –
GV - HS Có thể mô hình hoá theo sơ đồ sau:
Nhà văn
Học sinh Giỏo viờn
Tác phẩm văn chương trong nhμ trường không chỉ lμ một phương tiện nhận thức mμ còn lμ một đối tượng thẩm mĩ, lμ cơ sở hình thμnh kiến thức văn học vμ lμ công cụ giáo dục đặc biệt giúp HS phát triển toμn diện về nhân cách Bởi thế, tự học văn cũng có
định hướng, hệ thống, kế hoạch rõ rμng hơn Nếu ngoμi xã hội, HS chỉ cảm thụ suy đoán về văn chương thì ở trong nhμ trường HS
được sự định hướng của các nhân tố lịch sử Tác phẩm đạt trong hệ thống lịch sử chặt chẽ Ngoμi việc tiếp thu kiến thức về tác
Trang 4phẩm, HS còn được hiểu thêm về tác giả, quá trình sáng tác - tiếp nhận tác phẩm, kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn ngữ Điều nμy giúp quá trình tiếp thu kiến thức sâu sắc hơn
Cảm thụ văn của HS còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ GV Nếu ở trên, ta đã nói tới mối quan hệ hữu cơ của HS vμ nhμ văn thì
ở đây ta xem xét mối quan hệ chặt chẽ của GV vμ HS Khi tiếp cận tác phẩm văn chương hoặc kiến thức văn học, HS không thể hiểu rõ rμng ngay mμ cần có sự hướng dẫn của GV Cảm thụ của GV lμm cơ sở cho sự cảm thụ sáng tạo của HS GV lμ người nhạc trưởng điều khiển cho mọi nhạc công HS sử dụng nhạc cụ của mình GV lμ người thắp lên ngọn lửa tiềm ẩn ở HS GV lμ người luôn đi sát quá trình HS cảm thụ tác phẩm Sức mạnh của tác phẩm văn chương được nhân lên bởi tμi hoa của người GV
HS sẽ chuyển hoá thμnh cảm thụ của bản thân qua việc tiếp thu hướng dẫn của GV cùng sự tìm tòi, sáng tạo của bản thân vμ có
sự hồi đáp để GV, nhμ văn có sự điều chỉnh thích hợp GV vμ HS cùng hợp tác, bình đẳng trong việc tìm kiếm vẻ đẹp văn chương
Tự học văn của HS không cô đơn mμ được sự trợ giúp của nhiều nhân tố Để các nhân tố nμy thực sự giúp HS trong quá trình tự học, ta vẫn phải coi cảm thụ sáng tạo của HS lμ quan trọng nhất GV vμ nhμ văn chỉ lμ định hướng Cơ chế dạy vμ học văn chỉ hoạt động thực sự khi có sự tham gia của HS dưới sự hướng dẫn của GV
3 Học sinh tớch cực học tập
Khổng Tử cũng đó núi tới cỏch dạy học tớch cực qua nhiều cõu núi:
- ễng dạy người ta thường chỉ gợi lờn một mối rồi để người ta tự mỡnh phải suy nghĩ ra mà hiểu lấy: “ Bất phẫn bất khải, bất phỉ
bất phỏt Cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dó ” ( Khụng tức giận vỡ muốn biết, thỡ khụng truyền mở cho,
khụng tức giận vỡ núi khụng rừ ra được thỡ khụng bày vẻ cho Vật cú bốn gúc, bảo cho biết một gúc mà khụng suy ra ba gúc kia thỡ khụng dạy nữa ) - Luận ngữ thuật nhi VII
Học phải mở rộng, tỡm đến những kiến thức và cỏch tiếp cận khỏc nhau, nếu cứ theo mói một con đường ta sẽ khú hoàn thiện việc học Từ đú, ta thấy: Học phải đi đụi với hành , mọi nơi mọi lỳc thụng qua những tỡnh huống thực tế
- Làm trước điều mỡnh muốn núi, rồi sau hóy núi
Làm hay nghe làm người h ọc nhớ hơn? Khụng chờ tới nghiờn cứu trờn, hơn nghỡn năm trước, K.Tử đó núi tới điều này Quả thực mỗi nội dung dạy học đều liờn quan mật thiết với những hoạt động nhất định Quỏ trỡnh dạy học là quỏ trỡnh điều khiển hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm thực hiện mục đớch dạy học Thay vỡ bắt HS nghe hóy thiết kế hoạt động cho cỏc em làm việc Những hoạt động này càng phong phỳ, gần gũi cuộc sống càng tốt
- Học mà khụng suy nghĩ thỡ sai lầm, suy nghĩ mà khụng học thỡ nguy hiểm
Học kiến thức thỡ vụ vàn nờn ta khụng thể cứ đuổi theo nú như người bắt búng Quan trọng là đầu tư cỏch làm việc, học tập để đún đầu tri thức, học nhanh mà hiệu quả Vd: học bằng internet nhanh hơn là tới thư viện,…
GV cần hướng dẫn cỏch thức để HS tự học hiệu quả thay vỡ truyền đạt kiến thức Điều này nhàm rồi, chỉ cú điều GV đó thực hiện ra sao Đưa ra cỏch học và thực hiện thường xuyờn hay chỉ để đấy cho cú?
Mỏc-kin - một nhà nghiờn cứu phương Tõy đó đề cao tư tưởng này và đưa ra nhiều tiờu chớ cụ thể để xỏc định cỏch dạy đú ễng cho rằng tớch cực khụng phải là hoạt động bờn ngoài hay việc sử dụng trực quan vào dạy học Đưa ra vài cõu hỏi cho HS cũng khụng phải là dạy học tớch cực Tớch cực chỉ xuất hiện khi HS tham gia vào thu nhận kiến thức thay cho việc tiếp thu thụ động từ
GV Chỉ khi HS cú sản phẩm, cú sỏng kiến cỏ nhõn trong học tập thỡ lỳc đú mới được gọi là học tập tớch cực Một tiết dạy học tớch cực phải cú ba tiờu chớ sau:
- GV phải thiết kế được những hoạt động cho HS, hoạt động đi từ dễ tới khú, từ thực tiễn tới lớ luận, phải phự hợp với HS
- HS cảm thấy tự do, dõn chủ trong học tập, trao đổi Từ đú, giải phúng được tiềm năng sỏng tạo
- HS cú khả năng tự học, tự giỏo dục cao Do vậy, dạy học tớch cực dễ ỏp dụng với những lớp chuyờn chọn hơn lớp thường Với lớp thường, việc tự học cần đưa ra một tiờu chuẩn đỏnh giỏ khỏc
Đỏnh giỏ chung, một nhà trường tớch cực sẽ cú những đặc điểm sau:
- Nhà trường phải thớch hợp với trẻ
- Diễn biến của giỏo dục phải phự hợp với sự phỏt triển của trẻ
Trang 5- Chỳ trọng tới sự phỏt triển về khả năng, tõm lớ của trẻ
- Giỏo dục khụng phải là bắt buộc
- Phải cú hoạt động cụ thể trong giờ học thay vỡ GV thuyết trỡnh, giảng giải
- Xó hội hoỏ qua đời sống xó hội của trẻ
Rừ ràng, cỏch dạy và nhà trường như vậy khỏc hẳn với nhà trường theo khuụn mẫu giỏo điều Nú thể hiện sự tụn trọng HS rừ rệt Quan điểm thống nhất ở đõy là coi HS như ngọn lửa cần thắp sỏng chứ khụng phải bỡnh chứa GV hay tài liệu khụng giữ vị trớ độc tụn mà là sự phỏt triển của HS Lối ghi nhớ mỏy múc được thay bằng lối học sỏng tạo
Hiện giờ, chúng ta cũng đang đề cao tư tưởng dạy học tích cực Tư tưởng nμy được nhắc tới trong rất nhiều cuộc tranh luận vμ tμi liệu dạy học Theo điều tra thì từ được tìm nhiều nhất trên mạng liên quan tới dạy học lμ từ: phương pháp dạy học tích cực Có thể cụ thể hoá nó trong một số bảng biểu sau:
Bảng so sánh hình thức dạy học thụ động vμ dạy học có tính tích cực
1.GV truyền kiến thức 1.GV tổ chức, hướng dẫn HS lĩnh hội
2.GV độc thoại, phát vấn 2.Đối thoại GV - HS, HS - HS
3.GV áp đặt kiến thức có sẵn 3.HS hợp tác với GV khẳng định kiến thức HS tìm ra
4.HS thụ động nhận thức 4.HS tự mình tìm kiến thức bằng hoạt động của mình
5.HS học thuộc lòng 5.HS học cách học, cách sống, cách giải quyết vấn đề
6.GV độc quyền đánh giá 6.HS tự đánh giá, tự điều chỉnh lμm cơ sở cho GV cho
điểm
Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Chất lượng của quá trình dạy học được quyết định bởi hiệu quả của việc dạy tác động đến việc tự học Tác động sẽ lμ kích thích nội lực phát triển nếu người thầy gợi mở, khuyến khích sự hứng thú, say
mê học tập của người học Hoạt động dạy của GV đóng vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn Hoạt động học của HS diễn ra chủ
động, tự giác, sáng tạo
Bảng: Quan hệ giữa GV vμ HS
Các nhân tố
Hoạt động
Bảng : Phối hợp hoạt động dạy vμ học
Cung cấp thông tin then chốt, cơ bản, kết luận
đúng
Nghe, thông hiểu, hợp tác với GV
-Xây dựng, giao bμi tập, tình huống học tập
-Hướng dẫn HS phương pháp học tập, nghiên
cứu, tìm tòi kiến thức, thảo luận, tranh luận,
- Tự học, tự nghiên cứu
- Tranh luận, thảo luận nhóm
Trang 6đóng vai, vận dụng tri thức
- Phối hợp, thu hút sự hợp tác của HS trong việc
khẳng định, rút ra những kết luận về nội dung
dạy học
- Phát huy vốn tri thức sẵn có vμ hợp tác với GV trong một số vấn đề học tập
- Giải đáp thắc mắc
- Bổ sung phương pháp, kiến thức,rèn luyện kĩ
năng
- Nêu thắc mắc học tập
- Bổ sung, sữa chữa, hoμn thiện, hệ thống hoá
kiến thức
Những hoạt động nμy thể hiện tính dân chủ cao giữa GV vμ HS, thể hiện sự tin tưởng ở năng lực của HS Đó lμ những hoạt động dạy học tích cực phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện giờ
Kết luận
- Qua các phần trên, ta thấy, giáo dục của thời cổ đại phương Đông, hiện đại ở phương Tây vμ chúng ta hiện nay giống nhau ở ba tư tưởng: HS lμ bạn đọc sáng tạo, chú ý cơ chế tương tác nhiều chiều vμ dạy học tích cực Sự giống nhau nμy chứng tỏ mối quan
hệ giữa phương Đông vμ phương Tây, truyền thống vμ hiện đại trong giáo dục Nó cũng cho thấy những tư tưởng dạy học hướng
về phía HS vẫn được coi trọng Điều đó thể hiện tính nhân văn trong nhận thức vμ giáo dục con người
- Giáo dục đất nước ta đã đón kịp được trμo lưư thế giới Những tư tưởng về dạy học hiện nay rất tiến bộ Chẳng qua, chúng ta có
áp dụng không vμ áp dụng ra sao Điều nμy để lại cho chúg ta nhiều bμi học trong giáo dục nói chung vμ trong môn Văn nói riêng Không chỉ lμ bμi học về cách dạy mμ còn lμ cách học hỏi Để phát triển giáo dục trong nước, ta cần học hỏi nhiều nơi, nhiều thời kì, chọn lấy những tinh hoa thế giới, biết phân biệt cái hay cái dở
- Vấn đề cuối cùng mμ bản thân tôi thấy băn khoăn nhất: Liệu cơ chế lỗi thời ở nhμ trường Việt Nam bao giờ mới thay đổi để áp dụng những tư tưởng dạy học hiện đại vμ cần thiết nμy?
Người viết: Lờ Thị Thu Hằng Trường THPT Đống Đa – Hà Nội