MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nông thôn, nếu như năm 1990 dân số nông thôn có 53,1 triệu người, chiếm 80,5% dân số cả nước, tới năm 2006 dân số nông thôn Việt Nam có 60,26 triệu người chiếm 72,34% thì tới năm 2010 dân số nông thôn Việt Nam là 60,7 triệu người chiếm 69,8% dân số cả nước. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 50,39 triệu người chiếm 57,9% dân số. Tốc độ tăng dân số bình quân hơn 10 năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao động là 2,6% năm. Khu vực nông thôn đang tập trung một số lượng lớn lực lượng lao động của cả nước và với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5% năm. Vì vậy vấn đề sử dụng hợp lý lao động nông thôn luôn là một vấn đề được quan tâm ở nước ta, đặc biệt ở tỉnh Nam Định. Cũng như nhiều tỉnh khác ở nước ta, địa bàn nông thôn chiếm tỷ trọng nổi trội trong diện tích tự nhiên tỉnh Nam Định. Lao động nông thôn tỉnh Nam Định rất dồi dào nhưng tỉ lệ lao động có kỹ năng chỉ chiếm phần nhỏ còn hầu hết là lao động chưa qua đạo tạo. Đây chính là một thách thức cho việc sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn huyện Nam Định. Đến thời điểm hiện tại, hoạt động sản xuất thuần nông vẫn chiếm tỷ trọng cả về số hộ và số dân sinh sống tại nông thôn tỉnh Nam Định. Bên cạnh hoạt động nông nghiệp lao động nông thôn trong huyện còn tham gia vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp dịch vụ nhưng hầu hết là tự phát và nhỏ lẻ. Đặc điểm của lao động nông thôn của tỉnh Nam Định là lao động mang tính thời vụ rõ nét, chưa phát huy hết các tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao động thấp, kỹ thuật lạc hậu… Vì vậy giải pháp cấp bách hiện nay của tỉnh Nam Định đó là đào tạo nghề ở nông thôn để sử dụng nguồn lao động một cách hiệu quả, hợp lý. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động, nhu cầu thực tế của người dân. Bên cạnh đó có sự kết hợp tham gia của tổ chức xã hội với chính quyền các cơ sở, doanh nghiệp để mang lại kết quả thiết thực tránh lãng phí nguồn nhân lực. Như vậy nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực ở nông thôn tỉnh Nam Định hiện nay nhận diện đúng những đặc điểm và xu hướng phát triển của nó để tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển nguồn nhân lực nông thôn, phục vụ CNH HĐH đang là một đòi hỏi cấp bách có ý nghĩa và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nôngthôn, nếu như năm 1990 dân số nông thôn có 53,1 triệu người, chiếm80,5% dân số cả nước, tới năm 2006 dân số nông thôn Việt Nam có 60,26triệu người chiếm 72,34% thì tới năm 2010 dân số nông thôn Việt Nam là60,7 triệu người chiếm 69,8% dân số cả nước Lực lượng lao động từ 15tuổi trở lên năm 2010 là 50,39 triệu người chiếm 57,9% dân số Tốc độtăng dân số bình quân hơn 10 năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của sốngười trong độ tuổi lao động là 2,6% năm
Khu vực nông thôn đang tập trung một số lượng lớn lực lượng laođộng của cả nước và với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5% năm Vì vậy vấn đề
sử dụng hợp lý lao động nông thôn luôn là một vấn đề được quan tâm ởnước ta, đặc biệt ở tỉnh Nam Định
Cũng như nhiều tỉnh khác ở nước ta, địa bàn nông thôn chiếm tỷtrọng nổi trội trong diện tích tự nhiên tỉnh Nam Định Lao động nông thôntỉnh Nam Định rất dồi dào nhưng tỉ lệ lao động có kỹ năng chỉ chiếm phầnnhỏ còn hầu hết là lao động chưa qua đạo tạo Đây chính là một thách thứccho việc sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn huyện Nam Định
Đến thời điểm hiện tại, hoạt động sản xuất thuần nông vẫn chiếm tỷtrọng cả về số hộ và số dân sinh sống tại nông thôn tỉnh Nam Định Bêncạnh hoạt động nông nghiệp lao động nông thôn trong huyện còn tham giavào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp dịch vụ nhưng hầu hết là tự phát và nhỏlẻ
Đặc điểm của lao động nông thôn của tỉnh Nam Định là lao độngmang tính thời vụ rõ nét, chưa phát huy hết các tiềm năng do trình độchuyên môn của lao động thấp, kỹ thuật lạc hậu… Vì vậy giải pháp cấpbách hiện nay của tỉnh Nam Định đó là đào tạo nghề ở nông thôn để sửdụng nguồn lao động một cách hiệu quả, hợp lý
Trang 2Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sửdụng lao động, nhu cầu thực tế của người dân Bên cạnh đó có sự kết hợptham gia của tổ chức xã hội với chính quyền các cơ sở, doanh nghiệp đểmang lại kết quả thiết thực tránh lãng phí nguồn nhân lực.
Như vậy nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực ở nông thôn tỉnh NamĐịnh hiện nay nhận diện đúng những đặc điểm và xu hướng phát triển của
nó để tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triểnnguồn nhân lực nông thôn, phục vụ CNH - HĐH đang là một đòi hỏi cấpbách có ý nghĩa và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu:
Trong những năm gần đây vấn đề sử dụng nguồn lao động đã thuhút sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, các viện,… đã córất nhiều công trình khoa học được công bố rộng rãi như:
- Lao động nông nghiệp, nông thôn việt nam hiện nay - thực trạng vàgiải pháp - Trần Thị Nguyệt
- Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trìnhphát triển đất nước theo hướng hiện đại - PGS.TS.Nguyễn Danh Sơn
- Nghiên cứu mối quan hệ ba bên giữa nhà nước,ngưới sử dụng laođộng với người lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường-PGS.TS.Nguyễn Viết Vượng
Tuy nhiên,vấn đề sử dụng lao động nông thôn tỉnh Nam Định vẫnchưa được đề cập một cách hoàn chỉnh và toàn diện Từ việc nghiên cứucác đề tài có liên quan, kết hợp với việc khảo sát thực tế ở tỉnh Nam Định,chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu rõ hơn, từ đó đề ra một số giảipháp phù hợp để sử dụng có hiệu quả lao động nông thôn ở tỉnh Nam Định
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
3.1 Mục đích nghiên cứu :
- Thông qua việc tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề sửdụng lao động nông thôn, đề suất một số quan điểm, giải pháp sử dụngnguồn lao động ở nông thôn tỉnh Nam Định hiện nay
Trang 33.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu căn cứ lý luận và thực tiễn về vấn đề sử dụng lao độngnông thôn ở tỉnh Nam Định
- Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn lao động nông thôn ở tỉnh NamĐịnh
- Đề suất một số quan điểm và giải pháp sử dụng có hiệu quả nguồnlao động nông thôn ở tỉnh Nam Định từ năm 2011-2015
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Sử dụng lao động nông thôn là vấn đề rộng lớn với nhiều nội dung
và biện pháp Nói tới vấn đề sử dụng lao động nông thôn chúng ta sẽ đề cậptới các vấn đề như: vai trò, ảnh hưởng, thất nghiệp, việc làm… Với nộidung “Sử dụng lao động nông thôn ở tỉnh Nam Định hiện nay” đề tài tậpchung làm rõ thực trạng sử dụng lao động nông thôn ở tỉnh Nam Định, vaitrò, những nhân tố ảnh hưởng để từ đó có những giải pháp phù hợp và hiệuquả nhất
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của đề tài có liên quan đến nhiều lĩnh vực do đó có nhữngphương pháp sau đây sẽ được vận dụng:
Phương pháp duy vật biện chứng, trong đó vận dụng các quanđiểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét, đánh giá từng vấn đề cụthể
Phương pháp thống kê: Tập hợp số liệu theo từng lĩnh vực, địabàn và trình tự thời gian
Phương pháp tổng hợp: Từ các dự báo, phân tích đánh giá vềthực trạng phát triển nguồn lao động thời gian qua và đề ra các giải pháp
5 Những đóng góp của đề tài:
Đề tài góp phần làm rõ về thực trạng sử dụng nguồn lao động nôngthôn ở tỉnh Nam Định Nhìn vào đó chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn,thực tế hơn về sử dụng lao động nông thôn ở Nam Định Từ đó, đánh giá,
Trang 4tìm ra những giải pháp phù hợp hơn, hiệu quả hơn trong công tác giải quyếtlao động nông thôn ở tỉnh Nam Định hiện nay.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
Về mặt lý luận: đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về sử dụng lao động nông thôn và vai trò, ý nghĩa của nó trong sự phát triểnkinh tế tỉnh Nam Định hiện nay
Về mặt thực tiễn: đề tài đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm sửdụng có hiệu quả lao động nông thôn tỉnh Nam Đinh hiện nay
Trang 5NỘI DUNG Chương I:
Một số vấn đề lý luận chungI-Tư tưởng của Mác-Ăngghen,Lênin về vai trò và ý nghĩa của lao động
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằmtạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người Lao động
là hoạt động bản chất nhất của con người, là tiêu thức để phân biệt hoạtđộng của con người với hoat động theo bản năng của con vật
Lao động không những tạo ra của cải mà còn cải tạo bản thân conngười,phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực.Ph.Ăngghen viết:
“Lao động là nguồn gốc của mọi của cải… nhưng lao động cò là một cái gìlớn lao hơn thế, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sốngloài người và như thế, đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng taphải nói rằng: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” (1)
Trong quá trình lao động, con người nhận thức và hành động theođúng quy luật khách quan để trở thành con người “tự do”.Tục nhữ ViệtNam có câu: “giàu hai con mắt,khó hai bàn tay” Bàn tay không những làkhí quan dung để lao động mà nó còn là sản phẩm của lao động “Chỉ nhờ
có lao động mà bàn tay con người mới đạt được trình độ hoàn thiện vàkhiến nó có thể như một sức mạnh thần kỳ”(2) khi sáng tạo ra những kiệt tácbất hủ ,như những bức tranh của Picasso.lêônađơvanhxi…hay những bảnnhạc của Môza…
“Ngôn ngữ cũng bắt nguồn từ lao động và cùng với lao động, đó làcách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc ngôn ngữ” (3).1
1 Ph.Ăngghen: Tác dụng của lao động trong quắ trình chuyển biến vượn thành người NXB Sự thật Hà Nội 1976 Tr 5- 6.
2.Ph Ăngghen: Như trên Tr 9
2.Ph Ăngghen Như trên Tr 11
Trang 6Trong hoạt động chinh phục tự nhiên ,con người cải biến tự nhiên và
tr1ên cơ sở đó sáng tạo ra những điều kiện cho sự tồn tại của bản thân mình
Con người với tư cách là một thành viên của xã hôi không thể táchrời tự nhiên và làm biến đổi tự nhiên.Từ đó C.Mác và Ăngghen khẳngđịnh: “Mọi khoa ghi chép lịch sử đều xuất phát từ những cơ sở tự nhiên ấy
và những thay đổi của chúng do họat động của con người gây ra trong lịchsử”(4) Với quan niệm đó, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cho rằng: nếukhông có tự nhiên và xã hội thì con người không thể tiến hành quá trình sảnxuất và quá trình sản xuất xã hội nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố:sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Mác là người đầu tiên
đã nghiên cứu một cách cặn kẽ đặc tính của lao động là tạo ra giá trị Giá trịcủa một hàng hóa là do lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyếtđịnh Nhưng cũng cần phân biệt rõ lao động với tư cách một quá trình vàlao động với tư cách là một chi phí sức lao động Mác nói: “Một khi laođộng của anh ta thực sự bắt đầu thì nó không còn thuộc về anh ta, do đóanh ta không còn có thể bán lao động đó được”(5) Vậy thì anh ta bán cái gì?Cái mà người làm thuê bán chính là sức lao động “Sức lao động là mộthàng hóa mà người chủ của nó tức là người công nhân làm thuê bán chonhà tư bản để sống”(6) Như vậy, biểu hiện của sức lao động đang hànhđộng tức là lao động,là hoạt động sinh sống của con người, là biểu hiện của
sự sống của bản thân con người Chính người công nhân làm thuê muốntồn tại, muốn đổi lấy một số tiền nhất định để sinh sống anh ta phải “chothuê sức lao động của mình hay nói cách khác, bán sức lao động đó”(7)
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một mặt, tạo điềukiện để đưa con người phát triển con người lên tầm cao mới của lao độngsáng tạo Mặt khác, nó cũng đòi hỏi sự phát triển của người lao động cả về
1 4 C.Mác - Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB CTQG Hà Nội 1994, T3, Tr 29
5 C Mác: Tư bản , NXB Sự thật, Hà Nội 1975 , Q1, T2, Tr 409
6 C Mác: Lao đông làm thuê và tư bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1976, Tr 27.
7 C.Mác: Lao động làm thuê và tư bản , NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, Tr 15
Trang 7thể lực và trí lực theo hướng ngày càng tăng vai trò của lao động trí tuệ.Vận dụng các nguyên lý cơ bản của C.Mác và Ănghen cùng với việcnghiên cứu sâu sắc nền kinh tế nước Nga, Lênin đã chỉ ra rằng: “lực lượngsản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người laođộng”(8).1
Nhờ việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của C.Mác và Ănghencùng với khả năng thiên tài của mình, Lênin đã đưa “nước Nga thời kỳ chiếccày gỗ và đòn đập lúa, thời kỳ cối xay nước và khung cửi dệt bằng tay, bắtđầu nhanh chóng biến thành nước Nga thời kỳ chiếc cày sắt và máy đập lúa,thời kỳ máy xay chạy bằng hơi nước và máy dệt chạy bằng hơi nước” NướcNga đã trở thành một nước công nghiệp phát triển, là “anh cả” của hệ thốngXHCN trên thế giới và cũng có ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng XHCN ởViệt Nam
II-Lao động,nguồn lao động và nguồn lao động ở nông thôn:
1 Khái niệm chung về lao động.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổicác vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống củamình Trong quá trình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lênđối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của conngười Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là
cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết địnhcủa bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triếnkinh tế-xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạocủa họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội.Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các
tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiếnthức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao
1 8 LêNin toàn tập Tiếng Việt, NXB Tiến bộ Matxcova, T38, Tr30
Trang 8động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thônnói riêng là rất quan trọng.
Lao động là việc sử dụng sức lao động của các đối tượng lao động.Sức lao động là toàn bộ trí lực và sức lực của con nguời được sử dụngtrong quá trình lao động Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt độngnhiều nhất để tạo ra sản phẩm
2- Khái niệm nguồn lao động ở nông thôn
-Khái niệm nguồn lao động:
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động ( theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữtuổi từ 16-55) Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tếquốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Dân sốTrong tuổi lao động Ngoài tuổi lao động
không có khả
năng lao động
Có khả năng laođộng
thực tế đang làm
việc
Không có khảnăng lao độngNguồn nhân lực
Sơ đồ cơ cấu nguồn lao động Nguồn lao động là toàn bộ nhóm dân cư có khả năng lao động đãhoặc chưa tham gia vào các hoạt động sản xuất xã hội Bao gồm nhữngngười trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài
độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Quy mô nguồn lao động ở các quốc gia khác nhau thì khác nhau tuynhiên nó đều phụ thuộc vào 3 yếu tố sau:
+ Quy mô phát triển dân số, dân số càng phát triển nhanh thì nguồnlao động càng lớn
+ Tỷ lệ lao động trong dân số
Trang 9+Chế độ chính trị, xã hội, điều kiện tự nhiên của đất nước Nguồn lao động được thể hiện khả năng lao động xã hội nói lên lựclượng xã hội trong sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Nguồn lao độngViệt Nam biểu hiện số lao động sản xuất ở các ngành kinh tế của ViệtNam Nguồn lao động bao gồm :
- Nguồn lao động có sẵn trong dân số : Đây là dân số hoạt động
bao gồm những người có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia vào quátrình sản xuất xã hội Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi laođộng có khả năng lao động, Không kể đến trạng thái có việc làm hay không
có việc làm
- Nguồn lao động đang tham gia hoạt động kinh tế Đó là những
người có khả năng lao động, đang hoạt động trong những ngành kinh tế quốcdân
Như vậy giữa nguồn lao động có sẵn trong dân cư và nguồn lao độngtham gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau Sự khác nhau này là do một
bộ phận những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vìnhiều nguyên nhân khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế như: thấtnghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang đi học, cónguồn thu nhập khác không cần đi làm
-Nguồn lao động dự trữ: Là những người có khả năng lao động
nhưng chưa tham gia lao động Bao gồm: người làm công việc nội trợ,người tốt nghiệp các trường phổ thông, trung học, chuyên nghiệp, người đãhoàn thành nghĩa vụ quân sự
Đối với Việt Nam là một nước có đặc điểm dân số trẻ, tỷ lệ tăng dân
số hàng năm ở mức độ cao, nền sản xuất xã hội đang ở trong giai đoạnthấp Mặt khác chúng ta đang đứng trước một nề kinh tế dư thừa về laođộng, số người chưa có việc làm và có việc làm nhưng chưa ổn địnhthường xuyên còn cao, hiệu quả sử dụng nguồn lao động kém, lãng phíanguồn lao động ở mức độ cao, năng suất lao động thấp Thu nhập quốc dân
Trang 10tính theo đầu người thuộc những nước đứng hàng cuối cùng trong số nhữngnước có nền kinh tế chậm phát triển Sự phân bố lao động giữa thành thị
và nông thôn trong nội bộ các vùng, các ngành chưa phù hợp còn mất cânđối Các nguồn nhân lực có trình độ lành nghề, cán bộ khoa học có trình độchuyên môn đại học và trên đại học chưa được bố trí sử dụng hợp lý Đóchính là vấn đề đặt ra đối với mọi cấp mọi ngành quan tâm nghiên cứu, đặcbiệt các ngành chuyên môn về tổ chức lao động, giải quyết việc làm và dân
số nước ta
Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là việc sử dụng hợp lý lao độngđúng người đúng việc, đúng chuyên môn kỹ thuật nhằm khai thác một cáchtối ưu nguồn lực của người lao động kết hợp với các nguồn tư liệu sản xuất
để nâng cao chất lượng của quá trình lao động
Sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả thúc đẩy nâng cao năngsuất lao động xã hội, sử dụng hợp lý quỹ thời gian lao động tạo cho ngườilao động có cơ hội phát huy năng lực của mình theo nguyện vọng Đối với
xã hội tạo được sự cân bằng giữa các ngành nghề, giữa nông thôn và thànhthị, ghóp phần tránh tình trạnh dư thừa nhân lực, nâng cao tỷ suất sử dụngnguồn nhân lực vào các ngành sản xuất vật chất xã hội
Nguồn nhân lực luôn luôn được biểu hiện bởi hai chỉ tiêu đó là chấtlượng và số lương nhân lực
Thông qua quy mô và tốc độ tăng dân số và nguồn nhân lực ta thấyđược số lượng nguồn nhân lực trong từng thời điểm, từng thời kỳ
Chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh thông qua cơ cấu nhânlực (Cơ cấu theo tuổi, giới tính) thông qua trình độ lành nghề, trình độchuyên môn của nguồn nhân lực
- Khái niệm về nguồn lao động nông thôn:
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làmviệc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ
16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động
Trang 11Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ởnông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng laođộng, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìmviệc làm Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nôngthôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có nhữngngười trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổilao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ kháiniệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồidào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ởnông thôn.
- Khái niệm về việc làm:
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung người lao động đượccoi là có việc làm và được xã hội thừa nhận là người làm việc trong thànhphần kinh tế quốc doanh, khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tập thể.Trong cơ chế đó nhà nước bố trí việc làm cho người lao động
Hiện nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, quan niệm về việc làm đã thay đổi một cách căn bản.Theo điều 13 chương 3 Bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 1994 đã ban hành: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập,không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" Với quan niệm vềviệc làm như trên sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng và tạo rakhả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm chonhiều người Điều này được thể hiện trên hai góc độ:
+Thị trường việc làm được mở rộng bao gồm tất cả các thành phầnkinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và cũng không hạn chế
về mặt không gian (trong nước, ngoài nước )
+ Người lao động được tự do hành nghề được tự do liên doanh, liênkết tự do thuê mướn lao động theo pháp luật và sự hướng dẫn của Nhà
Trang 12nước để tự tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động Để hiểu thêm
về khái niệm việc làm ta cần hiểu thêm hai khái niệm sau:
Thứ nhất: việc làm đầy đủ: theo định nghĩa việc làm đầy đủ trong
cuốn sử dụng lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam (trang 23- Nhàxuất bản sự thật), thì việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu việc làm củabất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Hay nói cáchkhác việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động,muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn
Thứ hai: thiếu việc làm: được hiểu là không tạo được điều kiện cho
người lao động sử dụng hết thời gian lao động của mình
- Khái niệm tạo việc làm:
Tạo việc làm cho người lao động là phát huy sử dụng tiềm năng sẳn
có của từng đơn vị, từng địa phương và của từng người lao động nhằm tạo
ra những công việc hợp lý ổn định và đầy đủ xong việc làm đó phải đem lạithu nhập đảm bảo thoả mãn nhu cầu đời sống hàng ngày cho người laođộng
- Khái niệm sử dụng nguồn lao động:
Là hình thức phân công người lao động vào công việc, mỗi công việc cóđặc tính khác nhau về chuyên môn, hình thái Sử dụng có hiệu quả nguồn laođộng thực chất là việc phân bố nguồn lao động một cách hợp lý sao cho việc sửdụng lao động này đạt được mục đích là tăng trưởng và phát triển kinh tế - xãhội
Phân bố nguồn lao động chính là việc phân phối, bố trí hình thànhnguồn lao động theo quy luật, xu hướng tiến bộ vào các lĩnh vực hoạt động,các ngành kinh tế, các vùng lãnh thỗ Xét về bản chất thì đó là sự đổi mớitình trạng phân công lao động ngày càng tiến bộ hơn và đạt trình độ ngàycàng cao hơn
Phân bố nguồn lao động hợp lý phải phối hợp kết hợp hài hoà nhiềubiện pháp phân bổ theo từng lĩnh vực sản xuất, từng ngành, từng nội bộ
Trang 13ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia Một xu hướng
có tính quy luật là lực lượng lao động được phân bổ và lĩnh vực sản xuấtvật chất ngày càng giảm và khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về hưởngthụ văn hoá tinh thần ngày càng cao và đây là nhu cầu vô hạn Đào tạo laođộng, nâng cao trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật, chăm sócsức khoẻ cho người lao động, nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo và tổchức sản xuât Trong lĩnh vực không sản xuất vật chất phân bổ tỷ trọng lớnlao động vào các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá thểthao, giảm lao động trong quản lý hành chính, lao động quản lý Trong lĩnhvực sản xuất vật chất tăng tỷ trọng lao động, giảm tỷ trong lao động trongngành nông nghiệp, bởi vì tăng năng suất lao động trong các ngành trên làthuận lợi hơn nó tác động trở lại ngành nông nghiệp
III-Đặc điểm, vai trò của lao động nông thôn:
1-Đặc điểm:
1.1 số lượng:
Nông thôn Việt nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơicung cấp và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị cáckhu công nghiệp và ngay tại địa bàn nông thôn
Theo số liệu thống kê từ năm 1996-2006 nông thôn Việt nam cungcấp hơn 80% lao động cho các ngành kinh tế trong cả nước, góp phần quantrọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội của nước ta
Năm 1996 dân số nông thôn có 53.1 triệu người, chiếm 80.5% dân số
cả nước, năm 2006 dân số nông thôn Việt nam có 61,3 triệu người chiếm72,9% Như vậy, sau 10 năm tỷ lệ dân số nông thôn mới giảm được 7.6điểm phần trăm, tính bình quân, mỗi năm giảm chưa được 0.5 điểm phầntrăm, chứng tỏ tốc độ đô thị hóa của Việt nam còn chậm so với một sốnước láng giềng như Thái lan, Singapore, Malaysia Năm 2006 lao độngnông thôn chiếm 75.4% tổng số lao động cả nước (tương đương 33.6 triệungười) và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 1.6%, thấp hơn tốc độ
Trang 14tăng trưởng việc làm của cả nước (2.3%) trong giai đoạn 1996-2006 Sựkhác biệt này chính là do tác động của luồng di cư lớn lao động nông thôn
ra thành thị tìm việc, tạo sức ép việc làm cho khu vực đô thị Đến năm
2010 dân số nước ta là 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2009.Trong đó dân số khu vực nông là 60,92 triệu người, chiếm 70,1% tổng dân
số, tăng 0,63% so với năm 2009
Biểu 1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo thành thị và
Lao động nông thôn chiếm tới 3/4 lao động cả nước nhưng lại tậptrung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động thấpnhất và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần
do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Kết quả, nhiều lao động mấtđất, hoặc thiếu đất dẫn đến dư thừa lao động và thiếu việc làm Thu nhậpcủa lao động nông nghiệp vì thế mà thấp và thất thường bởi tính thời vụ vàrủi ro cao Đây chính là lí do khiến tỷ lệ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vựcnông thôn
Lao động nông nghiệp nông thôn không có biến động lớn mà chỉ daođộng ở mức trên 23 triệu người trong suốt 10 năm qua Quả thực, đây làthách thức lớn cho lao động nông nghiệp, bởi vì đó là ngành kinh tế truyềnthống và chủ đạo ở Việt nam trong suốt thời gian dài (hàng chục năm trước
Trang 15đây) nên xuất phát điểm lao động nông nghiệp đã là một số quá lớn, trongkhi các ngành phi nông nghiệp mới phát triển và thực sự phát triển trongvài thập niên trở lại đây, do vây mà lượng lao động lao động thu hút vàocác ngành này chỉ ở mức nhất định Ở nông thôn, các ngành phi nôngnghiệp phát triển chậm hơn nhiều so với khu vực thành thị nên lượng laođộng thu hút vào các ngành này còn thấp hoặc tương đương, vừa đủ vớilượng lao động nông thôn mới gia nhập vào thị trường lao động hàng năm(khoảng 1 triệu người/năm) Năm 2006, lao động nông nghiệp cả nướcchiếm 54.7% tổng lao động nhưng giá trị GDP được tạo ra từ ngành này lạithấp nhất, chiếm 18.7% Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp
là 18% và trong ngành dịch vụ là 27.1% nhưng tạo được giá trị GDP ở mỗingành trên 40% Các con số trên đây cho thấy năng suất lao động trongngành nông nghiệp là rất thấp Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nôngnghiệp tập trung ở khu vực nông thôn Năm 2006 cả nước có 24,37 triệulao động làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng riêng khu vực nôngthôn đã có 23,17 triệu người, chiếm 95,1% Nếu so với tổng lao động cóviệc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm quábán, khoảng 52% Nhìn từ góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, giaiđoạn 1996-2006 tỷ lệ lao động nông nghiệp nông thôn đã có chuyến biến,giảm từ 82,3% trong tổng lao động nông thôn năm 1996 xuống còn 69%năm 2006 Đến năm 1996 dân số cả nước có khoảng 65.96 triệu ngườitrong đó dân số nông thôn có 53.1 triệu người, chiếm 80.5% dân số cả nước
và nguồn lao động nông thôn 28,5534 triệu lao động chiếm 80,6% laođộng cả nước Lao động nông thôn được phân bổ cho các ngành khác nhau.Trong đó tập trung chủ yếu trong nông- lâm- ngư nghiệp chiếm 82,3% laođộng nông thôn cả nước tương đương với 23.499 triệu lao động, trong khi
đó công nghiêp- xây dựng chỉ chiếm 6,8%, dịch vụ chiếm 10,9% lao độngnông thôn cả nước Sau 10 năm- Năm 2006 dân số cả nước có khoảng 84,1triệu người trong đó dân số nông thôn là 61,3 triệu người chiếm 72,9% dân
Trang 16số và 27,1% là dân số thành thị Nhưng chỉ có khoảng 44,55 triệụ lao động,trong đó lao động nông thôn chiếm 75.4% tổng số lao động cả nước, tươngđương 33.6 triệu người Tính đến năm 2009 có đến 70,4% dân số sống ởvùng nông thôn Trong đó có số người trong độ tuổi lao động là 23.379.785người Tỷ lệ tăng dân số thành thị - nông thôn ngày một chênh lệch Dân sốthành thị đã tăng lên với tỷ lệ bình quân là 3,4% Trong khi đó, ở khu vựcnông thôn, tỷ lệ tăng dân số chỉ có 0,4% Đây là kết quả của quá trình didân từ nông thôn ra thành thị và quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở cácthành phố lớn Có sự chuyển biến này là do tốc độ tăng đô thị ở nước ta mà
cụ thể là Khu vực Đông Nam Bộ là nơi có mức độ đô thị hóa cao nhất vàtốc độ đô thị hóa nhanh nhất Do đó, dân số thành thị ở đây chiếm đến57,1% Tại đồng bằng Sông Hồng, mức độ cũng như tốc độ đô thị hóa thấphơn, dân số thành thị chiến 29,2% Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng việc làmcủa cả nước lại chỉ là 2.6% nên tác động một luồng di cư lớn lao động nôngthôn ra thành thị tìm kiếm việc làm, tạo sức ép việc làm cho khu đô thị.Vấn đề ở chỗ lao động nông thôn chiếm tới hơn 70% lao động cả nước lạitập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi quỹ đất canh tác ngày càng
bị thu hẹp và giảm dần Kết quả là nhiều lao động mất đất hoặc thiếu đấtdẫn đến dư thừa lao động và thiếu việc làm Vì thế thu nhập thường thấp vàthất thường bởi tính thời vụ và rủi ro cao Đây chính là lí do khiến tỉ lệnghèo tập trung chủ yểu ở khu vực nông thôn
1.2 Chất lượng lao động nông thôn:
Chất lượng thấp của lao động ở khu vực nông thôn thể hiện qua tỷ lệkhông biết chữ là 4,79%, tốt nghiệp trung học phổ thông cơ sở là 34,59%
và tốt nghiệp trung học phổ thông là 11,18% Nếu đánh giá trình độ vănhoá bình quân theo giới tính có thể thấy số năm đi học văn hoá trung bìnhcủa khu vực nông thôn thấp hơn thành thị, của phụ nữ thấp hơn nam giới.Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người nông dân
có trình độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông, mức
Trang 17tăng này là 11% Ngoài ra trình độ học vấn còn cho người lao động khảnăng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh Với chấtlượng của lao động nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế họ trong sảnxuất và kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm.
Đặc điểm dễ nhận thấy ở người lao động của một nền sản xuất nôngnghiệp có trình độ thấp là vẫn mang nặng tính chất của người sản xuất nhỏ lẻ,phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ và các tiến bộ kỹ thuật vàothực tiễn rất hạn chế, nên đa số họ là những người thụ động, tư duy cạnh tranhkém, tính tự do và manh mún cao Từ đó thu nhập của họ thấp, khả năngchuyển đổi nghề khi bị mất đất hoặc cơ hội tham gia vào môi trường lao độngcông nghiệp đòi hỏi các kỹ năng và tính kỷ luật lao động cao là không dễdàng
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, đa phần lao động nông thôn làmtrong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với tích chất công việc lao động thủcông dùng sức người là chính Số người qua đào tạo gần đây tuy đã tănglên nhưng vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn cụ thể:
Trang 18Biểu 2: Tỷ trọng lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và các vùng kinh tế-xã hội năm 2010
Đơn vị:%Nơi cư trú/các vùng
Kinh tế-xã hội
Tổngsố
KhôngcóCMKT
Dạynghề
Trungcấp
Caođẳng
Đại họctrở lên
(Báo cáo điều tra lao động và việc làm ở Việt Nam năm 2010)
Với trình độ như trên người lao động khó có thể áp dụng tiến bộ kỹthuật trong sản xuất nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao, đủ sức cạnhtranh với sản phẩm hàng hóa nông sản trong khu vực và cũng khó có thểtìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi hỏi lao động phải qua đào tạo vàđạt trình độ tay nghề cao Do đó, nhiều nơi sau khi chuyển ruộng đất chosản xuất công nghiệp, nếu doanh nghiệp có ưu tiên tuyển lao động trẻ chocác hộ mất đất thì họ cũng khó có thể đảm nhận công việc kỹ thuật để đạtđược mức thu nhập cao, nên dù có những cơ hội chuyển đổi nghề, ngườilao động nông thôn (bao gồm cả thanh niên đến tuổi lao động và người chủgia đình bị mất đất) đều khó tiếp nhận những nghề mới Tình trạng nguồnlao động trình độ thấp, chưa được đào tạo nghề (cả nghề nông và phi nông)cùng với sự thiếu kiến thức, tác phong sống và tính kỷ luật, kỹ năng lao
Trang 19động trong lao động công nghiệp kém nên rất khó đáp ứng được yêu cầungày càng tăng cao trước tốc độ của công nghiệp hóa và hội nhập Từ đó cóthể thấy rằng, thu nhập của người lao động ở khu vực nông thôn thấp vàngày càng cách xa ở khu vực đô thị Những điểm vừa nêu trên đây là mộtrào cản và thách thức lớn nhất trong giai đoạn hiện nay đối với người laođộng khu vực nông thôn.
Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đếnchất lượng nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở Về trình độquản lý nhà nước: có tới 55% chưa qua bất kỳ lớp học quản lý nhà nướcnào; 85% không hiểu biết gì về vi tính ở vùng nào cũng có cán bộ chưaqua đào tạo Tại các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệcòn cao hơn Đó là lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém, thiếukhả năng vận động tổ chức, chỉ đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụchính trị ở địa phương, cơ sở Tình trạng lúng túng trong giải quyết cáccông việc phát sinh từ thực tế, thậm chí còn làm sai lệch chính sách, phápluật không phải là hiện tượng cá biệt Lực lượng khoa học kỹ thuật nôngnghiệp ở nông thôn hiện chỉ chiếm 0,5% - 0,6% lao động trực tiếp ở khuvực này Bất cập nữa là về chính sách sử dụng và thu hút cán bộ, ngườilao động có trình độ cao cũng đang bộc lộ sự bảo thủ, lạc hậu, chậm đổimới, không thỏa mãn được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu hiện nay, ít nhất là
về lợi ích, vì vậy không thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao vềlàm việc ở địa phương, thậm chí còn khó “giữ chân” được những cán bộkhoa học - kỹ thuật đang công tác tại các cơ sở ở nông thôn Tình trạng nàycàng làm cho chất lượng nguồn nhân lực nông thôn trở nên thấp kém hơn
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nôngthôn thấp, ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trườngkinh tế, văn hóa - xã hội nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướngphát triển bền vững trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình
đô thị hóa nông thôn diễn ra với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát
Trang 20nên công nghiệp - dịch vụ nông thôn khó phát triển; môi trường tự nhiên bịphá vỡ, sinh thái bị mất cân bằng; thu nhập của nông dân tuy được cải thiệnnhưng còn thấp; sự chênh lệch giữa các vùng, giữa nông thôn và đô thịngày càng cách xa Tác động của quá trình mất đất và sự thiếu chuẩn bịviệc chuyển đổi nghề cho nông dân đã thúc đẩy tình trạng di dân tự do tìmviệc làm ở đô thị hoặc các khu công nghiệp các tỉnh phía Nam Nhiều nơi,lực lượng lao động trên đồng ruộng đa số là phụ nữ, người già và trẻ em.
Từ đó, dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp bấp bênh; thu nhập từ laođộng nông nghiệp không có lãi nên người lao động dễ dàng coi nhẹ sảnxuất trên đồng ruộng Như vậy có thể thấy khá rõ các yếu tố: môi trường xãhội và tự nhiên nông thôn suy giảm; trình độ kiến thức, kỹ năng lao độngcủa người lao động
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vựcnông thôn, tính đến ngày 1/7/2002, dân số cả nước là 79,93 triệu người, thìdân số nông thôn là 60,05 triệu người (75,13%) Số người trong độ tuổi laođộng là 35,44 triệu, khoảng 59% dân số, trong đó 30,9 triệu người tham giavào lực lượng lao động (LLLĐ) Tốc độ tăng dân số bình quân hơn 10 nămqua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong độ tuổi lao động là2,6% năm Năm 1990 dân số nông thôn có 53,1 triệu người, chiếm 80,5%dân số cả nước, tới năm 2006 dân số nông thôn Việt Nam có 60,26 triệungười chiếm 72,34% thì tới năm 2010 dân số nông thôn Việt Nam là 60,7triệu người chiếm 69,8% dân số cả nước Lực lượng lao động từ 15 tuổi trởlên năm 2010 là 50,39 triệu người chiếm 57,9% dân số Tốc độ tăng dân sốbình quân hơn 10 năm qua là 1,7%, mức tăng trung bình của số người trong
độ tuổi lao động là 2,6% năm Khu vực nông thôn đang tập trung một sốlượng lớn lực lượng lao động của cả nước và với tốc độ tăng khoảng hơn2,5% năm Đây là một thách thức lớn đối với việc giải quyết việc làm cholao động nông thôn hiện nay
Trang 21Biểu 3: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng laođộng trong độ tuổi phân theo vùng ( Tổng cục thống kê 2009).
Tỷ lệ thất nghiệp
(%)
Tỷ lệ thiếu việclàm (%)Chun
g
Nôngthôn Chung
Nôngthôn
Ở khu vực nông thôn, do tỷ lệ sinh cao trong thập niên 80 nên hiệnnay số người bước vào tuổi lao động là khá lớn, khoảng 1,2-1,3 triệu người,
và là nơi đang tập trung một số lượng lớn lực lượng lao động của cả nước
và với tốc độ tăng khoảng hơn 2,5% năm Nhưng thời gian trung bình chưa
sử dụng của cả nước vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao
Bên cạnh đó, còn số lao động đang thất nghiệp dồn lại hàng năm,cộng với số lao động mất việc làm do sắp xếp lại biên chế, tổ chức của các
cơ quan, doanh nghiệp, bộ đội phục viên đã làm tăng thêm số lao độngkhông có việc làm, việc sử dụng công nghệ hiện đại nên nhu cầu sử dụnglao động cũng giảm đi nhiều Cùng với đó đô thị hoá và công nghiệp hoánhanh, số lượng người không có việc làm tăng do đất sản xuất bị chuyểnđổi mục đích sử dụng Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ dạy nghề, chuyển đổingành nghề cho người dân nông thôn lại chưa có hiệu quả hoặc do đã quá
Trang 22tuổi học nghề Điều này được thấy rõ trên thực tế, tại nhiều địa phương,người lao động thất nghiệp nhưng không có cơ hội làm việc tại các doanhnghiệp ở địa bàn, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến mức thunhập thấp của các hộ gia đình nông thôn Thu nhập bình quân của các vùngnông thôn chỉ bằng 1/3 thu nhập ở khu vực thành thị Vô hình chung, đóchính là lực “ đẩy” hàng triệu lao động nông thôn di chuyển tự phát đến cácvùng đất giàu tiềm năng hay dồn về các đô thị tìm việc làm Sự di chuyển
tự phát này đã tạo ra áp lực lớn về cơ sở hạ tầng, trật tự xã hội nơi họ đến
Ngoài ra, vấn đề chuyển đổi cơ cấu nông thôn mặc dù đã được Nhànước quan tâm đầu tư nhưng trên thực tế diễn ra quá chậm cũng ảnh hưởngđến vấn đề việc làm cho người lao động Thống kê cho thấy, tỷ lệ lao độngngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã tăng nhưng vẫn còn ở mứcthấp (chiếm 40,2% trong tổng số lao động) Trong khi đó, nước ta có tiềmnăng lớn về nghành, nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống có thể thu hútnhiều lao động nhưng lại chưa được quan tâm đầu tư để phát huy hiệu quảnông thôn thấp; lực hút cán bộ khoa học - kỹ thuật khu vực nông nghiệpmỏng manh và trình độ quản lý, tổ chức của đội ngũ cán bộ cơ sở (thôn, xã)yếu kém làm cho chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn - chìa khóa
mở ra sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn gặp nhiều thách thức và trở ngại Qua đó ta thấy nông thôn đóng vaitrò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn lao động cho nền kinh tế
Tuy nhiên lao động nông thôn chiếm tới ¾ lao động cả nước, nhưnglại phân bổ không đống đều giữa các ngành kinh tế trong cả nước; phần lớnlao động nông thôn tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ
từ 65%- 70%,trong khi công nghiệp, dịch vụ chỉ chiếm tỷ lệ khá nhỏ từ 35% trong tổng lao đông nông thôn cả nước, mặt khác chất lượng lao độngnông thôn nước ta nói riêng và chất lượng lao động cả nước nói chung vẫncòn yếu kém về mọi mặt: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tay
Trang 2330-nghề… đây là một trong những lí do làm hạn chế khả năng phát huy hiệuquả của vai trò cung cấp nguồn lao đông ở nông thôn Việt nam hiện nay.
(Niên giám thống kê năm 2010)
- Lao động phân bố không đều giữa nông thôn và thành thị:
Lao động tập trung đông ở khu vực nông thôn.Năm 2005 lao động ởnông thôn chiếm tới 74,55 trong khi đó lao động tập trung ở khu vục thànhthị là 25,5% Những năm gần đây tỷ lệ này có giảm nhưng chưa đángkể.Năm 2009, lao động vùng nông thôn chiếm 73,1% còn lao động ở thànhthị chiếm 26,9% Năm 2010 lao động khu vực nông thôn giảm chiếm 72%,lao đông ở khu vực thành thị là 28% Nước ta đang cố gắng phấn đấu trongthời gian tới sẽ phân bố lại dân cư để dần tiến tới sự hợp lý
-Lao động phân bố không đều ngay trong khu vực:
Ở những vùng trung tâm, lao động tập trung với số lượng lớn, trong khi
đó những vùng điều kiện hạ tầng cơ sở kém phát triển dân cư tập trung thưathớt Điều này dẫn tới sự phát triển không đồng đều ngay trong khu vực kinh tếnhỏ
2-Vai trò:
Trang 24- Lao động nông thôn là bộ phận đông đảo và có vai trò quan trong lực lượng tham gia lao động:
Theo thống kê 2009 thì nước ta có 73,1% là lao động nông thônchiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động ở nước ta Lao động nông thôn cóvai trò quan trọng là nguồn cung cấp chủ yếu lực lượng lao động trực tiếptham gia hoạt động trong tất cả các nghành nghề khác nhau từ nông - lâm -ngư nghiệp cho đến tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ …
- Lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân:
Lao động nông thôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lao động nướcta.hằng năm lực lượng lao động nay vẫn liên tục tăng Lấy nghề nôngnghiệp là chính, bên cạnh đó họ còn tham gia vào các ngành phi nôngnghiệp.Việc chuyển dịch này đang được tiến hành với mục tiêu phấn dấutrong tương lai lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp giảm, tăng laođộng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Cùng với đó công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.Vì vậy số lượng và chất lượng laođộng nông thôn ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của các ngành kinh tếquốc dân Một lực lượng lao động đông chưa đủ mà còn phải là một lựclượng có chuyên môn kỹ thuật Chỉ có như vậy nền kinh tế mới tăng trưởng
Trang 25phẩm cung cấp cho toàn tỉnh hay cả nước cũng như trong nguồn dữ trữlương thực phẩm của nước ta trong nhiều năm qua.
- Lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất cho công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản:
Nước ta đang đi dần lên nước công nghiệp mà lực lượng chủ yếu làlao động nông thôn, trong đó có cả công nghiệp chế biến nông - lâm - thủysản Hơn nữa nước ta có tới 75% lao động nông thôn tham gia vào cácnghành nông - lâm - thủy sản là nguồn lao động lớn tham gia qus trình sảnxuất cho công nghiệp chế biến lâm sản
- Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các ngành khác:
Lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong thành phầndân số nước ta cũng là lực lượng có nhu cầu cao về sản phẩm cho cácnghành khác Đó là một thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm cho các nghànhkhác
IV- Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động, sử dụng lao động nông thôn :
1-Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái:
Nếu nơi nào đó có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi,
sẽ có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế - xã hội được đầu tư và nhưvậy nơi đó sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người laođộng Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗđối với người lao động sống ở những nơi điều kiện tự nhiên bất lợi (sa mạc,vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo ) Sử dụng hợp lý, hiệu quả là chiếnlược lâu dài Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoàhợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọngtrong giải quyết việc làm, đồng thời phải có giải pháp khắc phục tác độngvới thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đốivới môi trường sinh thái nước ta Vấn đề này cần được xuyên suốt trong
Trang 26toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từnglĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môitrường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tácđộng xấu của biến động môi trường Như vậy, bảo vệ và cải thiện môitrường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện
để phát triển bền vững
2- Nhân tố về dân số:
Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết địnhđến sự phát triển kinh tế xã hội Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy môhợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân sốphát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn, vượt quá khả năng đáp ứng vớiyêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực màlại là gánh nặng cho nền kinh tế
Mức sinh, mức tử, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đếnquy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanhchóng số lượng người trong độ tuổi lao động trong tương lai, Ngoài ra,vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thịgây ra các áp lực kinh tế-xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệgia tăng dân số nhanh chóng Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếpđến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanhchóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác là chất lượngcủa số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đápứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị Do đó, tỷ lệ thất nghiệp,thiếu việc làm sẽ tăng lên
Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, việc khống chế mức tăngdân số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Vấn đề dân sốthường được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việclàm Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tưcao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội
Trang 27Ở nước ta, nhân tố dân số đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiệntrong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ, đặt con người vào vịtrí trung tâm trong chiến lược phát triển xã hội, con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực cho sự phát triển Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng quánhanh vừa chưa sử dụng hết lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việclàm.
3-Nhân tố về chính sách vĩ mô:
Nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuật lợi để ngườilao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chínhsách cụ thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếnviệc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qualại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động,đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sựphù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
+ Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hìnhthức
và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thịtrường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sáchphát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tếmới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chínhsách khôi phục và phát triển làng nghề
+ Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công vàchính sách xã hội đặc biệt khác như: thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội
+ Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưngphương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồngthời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như:tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạtầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 284-Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ:
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoahọc, công nghệ của đất nước đó Trình độ khoa học công nghệ lại phụthuộc vào các điều kiện giáo dục Giáo dục - đào tạo giúp cho người laođộng có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc,người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện cáccông việc mà xã hội phân công sắp xếp
V- Kinh nghiệm sử dụng lao động nông thôn của một số nước , một số tỉnh của Việt Nam
1- Kinh nghiệm sử dụng lao động nông thôn của một số nước trên thế giới :
-Malaixia:
Để tận dụng sức mạnh của lao động nông thôn, họ tập trung vàoviệc đào tạo, rèn luyện các kỹ năng và kinh nghiệm canh tác Qua đó, giúpngười nông dân thay đổi tư duy, nếp nghĩ kinh doanh trong lĩnh vực nôngnghiệp Mặt khác, chính phủ cũng phát triển các hình thức đào tạo nghềcông nghiệp cho người dân ở khu vực nông thôn nhằm giúp họ có thể làmviệc trong các ngành phi nông nghiệp, có thể tham gia phát triển doanhnghiệp của mình ở khu vực nông thôn cũng như thành thị
-Trung Quốc:
Là một nước đông dân nhất thế giới, Trung Quốc có lợi thế vớinguồn lao động dồi dào, giá rẻ Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thôngtin hiện nay, lực lượng lao động được sử dụng phải có những tiêu chuẩnnhất định về giáo dục và tay nghề, đặc biệt là nhu cầu của các công ty nướcngoài đối với nguồn lao động nội địa có chuyên môn nhưng ít tốn kém Dovậy, thông qua các hình thức giáo dục, đào tạo, Trung Quốc đã thực hiệncấp chứng nhận đủ tiêu chuẩn nghề nghiệp nhằm xây dựng một đội ngũ laođộng có trình độ học vấn, tay nghề cao Hiện nay, tại các thành phố củaTrung Quốc, hơn 80% số người tìm được việc làm mới đã tốt nghiệp trung
Trang 29học phổ thông trở lên hoặc đã qua đào tạo dạy nghề, 45 triệu người đượccấp chứng nhận đủ tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, Chính phủTrung Quốc đã đặt mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động là mộttrong những nhiệm vụ cấp bách nhất Các biện pháp cụ thể xác định nhằmthực hiện có hiệu qủa nhiệm vụ này là:
+Đưa mục tiêu giải quyết việc làm vào trong kế hoạch và chiến lượcphát triển kinh tế trong các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của đất nước; Cải cách kinh tế theo hướng phát triển nhanh khu vựcdịch vụ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triểnkhu vực kinh tế phi nhà nước; thực hiện chính sách tài chính tích cực đểtăng độ co giãn của cấu về lao động
+ Các biện pháp thúc đẩy thị trường lao động Chính phủ trung quốc
đã xác định các mục tiêu rất cụ thể; thị trường lao động Trung Quốc phảiphát triển một cách thống nhất, theo hướng mở cửa, cạnh tranh và quyphạm hoá Trong đó, các biện pháp được chú trọng nhất hiện nay là:
Hoàn thiện thể chế thị trường lao động, để người lao động được thực sự
tự do đi tìm việc làm, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá sức lao động có thểlưu thông dễ dàng trên thị trường, khơi thông các rào làm phân mảng thịtrường giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, tạo điều kiện để lao độngnông thôn có cơ hội tốt hơn tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp
Hoàn thiện các chức năng của thị trường lao động bằng cách rút bớtcách chức năng không cần thiết, giảm bớt sự can thiệp của bộ hoặc cơ quannhà nước vào hoạt động của thị trường lao động
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường lao động Trước hết làxây dựng các trung tâm, các cơ sở giao dịch lao động, cung cấp các trangthiết bị, điều kiện làm việc cần thiết cho các cơ sở này; cải tạo cơ sở dịch
vụ giới thiệu việc làm
Trang 30Nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việctại các thị trường lao động: cụ thể là có các biện pháp để thu hút nhữngngười có trình độ chuyên môn và phẩm chất phù hợp với loại hình côngviệc này; đào tạo nhân viên mới, có tính chuyên nghiệp về quản lý và vậnhành thị trường lao động.
+Cải tiến công tác quản lý của nhà nước của Chính phủ đối với thịtrường lao động Chính phủ quản lý thị trường một cách thống nhất, có bàibản, tuân thủ đúng pháp luật Chuyển công nhân "dôi dư" thành dạng côngnhân "thất nghiệp" để tách họ ra khỏi sự "bảo trợ" của doanh nghiệp, thựcthi chế độ hợp đồng lao động toàn diện, bắt buộc số lao động dôi dư phải
có sự nỗ lực để tìm kiếm việc làm mới
+ Xác định chính sách thu hút nhân tài một cách hợp lý Hiện nay,Trung Quốc có chính sách ưu tiên hộ khẩu cho các nhân tài để thu hút laođộng có trình độ cao Các nhân tài ở Trung Quốc còn được ưu đãi đặc biệt
về trả công lao động Lương của người lao động có trình độ cao hơn nhiều
so với lương của lao động trung bình Lao động có trình độ cao ở TrungQuốc còn được hưởng các ưu đãi đặc biệt về điều kiện làm việc và sinhhoạt (thí dụ: ưu đãi về nhà ở, ưu tiên mua cổ phiếu, được cử đi học tập và
tu nghiệp ở nước ngoài) Trung Quốc coi đây là một biện pháp giữ chân vàthu các nhân tài ở trong và ngoài nước
+Tăng cường công tác tào đạo và đào tạo lại người lao động Đứngtrước năm vấn đề nan giải về trình độ chuyên môn và tay nghề lao độngthấp, và sự bất hợp lý trong kết cấu kỹ năng lao động, chính Phủ TrungQuốc đã đề ra nhiều chính sách bằng cách huy động cả sức dân vào côngtác đào tạo nguồn nhân lực Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã chophép thành lập một số lượng lớn các trường đại học và trường dạy nghềdân lập, các lớp đào tạo sinh viên có thu học phí(đáp ứng 50% nhu cầu chiphí đào tạo cao đẳng của Trung Quốc)
+Cải cách chính sách tiền công tiền lương hoặc tiền công lao động
Trang 31Chính sách tiền công tiền lương lao động của Trung Quốc có thểđược tóm gọn trong tám từ sau: "ưu tiên hiệu quả, chiếu cố công bằng".Yếu tố hiệu quả trên thị trường lao động dược đặt lên hàng đầu
+Nâng cao hiệu quả của các "Trung tâm tái tạo việc làm" cho laođộng dôi dư của các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
-Hà Lan:
+Chú trọng đặc biệt tới phát triển nông nghiệp,khai thác tối đa sứcmạnh lao động trong lĩnh vực nông nghiệp:
Ngay từ đầu, Hà Lan đã nhấn mạnh trong các chính sách phát
triển kinh tế nông thôn,giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn.Chính
phủ Hà lan nhận định sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học,
được trải rộng trong môi trường tự nhiên (trừ ngành sản xuất nông nghiệpmới, được sản xuất trong môi trường điều khiển nhân tạo, hiện đang chiếm
tỷ trọng rất thấp), chịu tác động trực tiếp của khí hậu, thời tiết, đất đai lànhững đại lượng động, đồng thời nông sản hàng hoá cung cấp cho ngườitiêu dùng cũng biến động phức tạp, bởi vậy ngành nông nghiệp là mộtngành sản xuất phải chống đỡ thường xuyên với cả 3 loại rủi ro về thời tiết,sâu bệnh hại và biến động thị trường Đã vậy, lao động nông nghiệp là mộtloại lao động dựa vào các quy trình kỹ thuật không chính xác, rất cơ động,rất khó kiểm soát, nhiều khi phải dựa vào tác nghiệp tự giác của người laođộng Chính yếu tố này đôi khi lại quyết định sự thành bại của sản xuấtnông nghiệp Trải qua hàng trăm năm khảo nghiệm trong thực tế các nhàkinh tế nông nghiệp trên thế giới đã đưa ra kết luận: sản xuất nông nghiệpmuốn có hiệu quả không thể dựa vào lao động làm thuê, vì “giá thành giámsát” quá cao, hoặc có cách nói “sản xuất nông nghiệp vì lợi nhuận chỉ được
“bóc lột” chính bản thân mình” Việc sử dụng lao động làm thuê (khôngphải lao động trong gia đình) dù ở đồn điền tư bản, đồn điền nô lệ, hợp tác
xã tập thể, nông trường… đều không có hiệu quả bền vững
Trang 32Chính Phủ Hà Lan đã xác định phương thức tổ chức sản xuất cóhiệu quả nhất trong nông nghiệp nước mình là kinh tế hộ nông dân, dựachủ yếu vào lao động gia đình, với 2 nấc thang sau đây:
Với phương thức sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất nông nghiệp dựavào hộ tiểu nông với các đặc trưng quy mô nhỏ, sử dụng lao động gia đình,sản xuất thủ công, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động rất thấp
Khi sản xuất nông nghiệp phát triển thành ngành sản xuất hàng hoángày càng lớn, hộ tiểu nông phát triển dần thành nông trang gia đình vớicác đặc trưng quy mô tích tụ lớn dần, sản xuất chuyên canh, kỹ thuật ngàycàng hiện đại, năng suất, hiệu quả cao nhưng vẫn dựa vào lao động giađình
Những lập luận cho rằng ngành sản xuất nông nghiệp hàng hoá hiệnđại, kinh tế hộ gia đình đã lỗi thời là cách đánh giá trái quy luật Phải thừanhận rằng kinh tế hộ gia đình nông dân về lâu dài vẫn là nền tảng của sảnxuất nông nghiệp ở bất cứ trình độ nào, chỉ khác là sản xuất nông nghiệp tựcấp tự túc dựa vào nền tảng là kinh tế hộ tiểu nông, còn sản xuất nôngnghiệp hàng hoá dựa vào nền tảng là nông trang gia đình, cùng có chungmột đặc điểm là sử dụng lao động gia đình là chính
Trang 33Kim ngạch xuấtkhẩu % thị phần thế giới Thứ tự
- Hiệu suất lao động cao, đạt 44.339 USD/lao động, 9,5 tấn thịt, 41,6tấn sữa/lao động nông nghiệp
- Mức xuất khẩu nông sản đặc biệt cao, đạt 18.570 USD/ha/năm(1,86 USD/m2), kim ngạch xuất khẩu nông sản bình quân trong 5 năm1995-1999 đạt 37,8 tỉ USD Nhiều mặt hàng nông sản của Hà Lan có thịphần đứng đầu thế giới (1997-1999)
Về kết cấu hạ tầng nông nghiệp đứng đầu thế giới: nhờ đê bao biển,tạo được 16,5 vạn ha hồ chứa nước ngọt khai khẩn được 16,5 vạn ha đất, hệthống đê chống ngập lụt dài 2.800km, với tiêu chuẩn phòng chống lụt đạtmức cao nhất thế giới, với tần suất 1.250 năm, trong đó có loại đập đạt tần
Trang 34suất 10.000 năm, đảm bảo đồng ruộng của Hà Lan dù thấp hơn mực nướcbiển 4-6m cũng có thể trở thành đồng ruộng cao sản bền vững, được đánhgiá là một kỳ quan thế giới Diện tích nhà kính nông nghiệp lớn nhất thếgiới, đạt 1,1 vạn ha, chiếm 25% tổng diện tích nhà kính nông nghiệp thếgiới, chủ yếu để trồng rau, hoa…, là nước có nền nông nghiệp điều khiểnnhân tạo đứng đầu thế giới
Thành tựu nông nghiệp Hà lan so với một số nước khác như sau:
So với Bỉ, Đức, Pháp (là những nước láng giềng):
Bỉ có 10,3 triệu dân, diện tích đất canh tác 80 vạn ha, bình quân đầungười 760m2, mỗi lao động nông nghiệp 9,75ha, suốt trong 10 năm qua,xuất khẩu ròng nông sản đạt 800 triệu USD/năm
Pháp có 60,4 triệu dân, diện tích đất canh tác 18,3 triệu ha, bình quânđầu người gấp 6 lần Hà Lan Là một nước nổi tiếng về nông nghiệp ở châu
Âu, nhưng trong 5 năm 1995-1999, xuất khẩu ròng nông sản chỉ đạt 9,5 tỉUSD/năm
Xuất khẩu ròng về nông sản (triệu USD)
So với Mỹ ,Mỹ có 297 triệu dân, diện tích đất canh tác 177 triệu ha.Trong 5 năm 1995-1999, xuất khẩu ròng nông sản của Mỹ suy giảm dần
Trang 35So với Nhật, Nhật là nước có trình độ công nghệ bậc nhất thếgiới, kể cả nông nghiệp Nhật có 127,8 triệu dân, diện tích đất canh tác có4,75 triệu ha, bình quân 360 m2/người Trong 20 năm 1980-1999, xuấtkhẩu nông sản luỹ kế đạt 40,9 tỉ USD, chỉ bằng mức xuất khẩu năm 1996của Hà Lan Trong 5 năm 1995-1999, nhập khẩu nông sản trên 269 tỉ USD,mức nhập siêu nông sản bình quân năm 51,6 tỉ USD
Thực tế đã chứng minh hai kịch bản trái ngược nhau của nền nôngnghiệp ở 2 nước có mật độ dân số cao nhất thế giới Hà Lan đã tạo ra được
kỳ tích đưa nền nông nghiệp của một nước nhỏ bé, nghèo tài nguyên, đốimặt với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt của một nước thấp trũng hơnmực nước biển trở thành một nền nông nghiệp có tỉ suất hàng hoá siêuhạng, có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững, đạt hiệu quả cao nhất thếgiới, ngược lại là nước Nhật là một nước đất ít người đông, có trình độcông nghệ cao đứng đầu thế giới, nhưng nền nông nghiệp đã biến dạngthành một nền nông nghiệp già nua, lão hoá, thiếu sức sống, hiệu quả kinh
tế thấp Bí quyết thành công của nông nghiệp Hà Lan có nhiều mặt, bắtnguồn từ những chính sách vĩ mô đúng đắn, sáng tạo đã có từ nhiều năm,trong đó, bí quyết chủ yếu thuộc về tổ chức sản xuất nông nghiệp đúnghướng, nổi bật nhất là xây dựng được một hệ thống nông trang gia đình đầysức sống, đủ sức làm nền tảng cho nền nồng nghiệp hàng hoá phát triển bềnvững của đất nước mình
Hà Lan có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đảm bảo các nôngtrang gia đình có toàn quyền định đoạt hoạt động sản xuất kinh doanh và sửdụng nguồn lực của mình, khuyến khích chủ nông trang năng động, sángtạo, thu được lợi nhuận tối đa Các chủ nông trang phải nâng cao hiệu suất
sử dụng tài nguyên có hạn của mình, không ngừng đổi mới, thích ứng mọibiến động cơ cấu, công nghệ, hạn chế các rủi ro, chấp nhận thách thức vềbiến động thị trường, nếu không sẽ bị phá sản Các chủ nông trang có tỉ lệ
sở hữu đất tự có tương đối lớn, nhưng việc mở rộng nông trang vẫn dựa
Trang 36một phần vào đất thuê Nông trang gia đình ở Hà Lan có tỉ lệ lao động giađình/lao động thuê là 1/0.44, trong đó, những việc làm dễ kiểm soát có thểthuê nhiều hơn
Kinh tế hộ nông dân ở Hà Lan cũng trải qua một quá trình phát triểntừng bước Thoạt đầu là hộ kinh tế tiểu nông, sản xuất tự cấp tự túc, hiệusuất rất thấp, khi kinh tế hàng hóa phát triển, vốn được tích lũy, kinh tế hộtiểu nông chuyển dần sang hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, rồi chuyển sang hộsản xuất chuyên môn hóa lớn hơn, sau đó chuyển sang nông trang gia đìnhhiện đại, sản xuất vì lợi nhuận, đến nay đã hình thành dạng kinh tế tổ hợp
“nông-công-thương” làm nền tảng cho nền nông nghiệp hàng hóa lớn,nhưng tế bào cấu thành những tổ hợp này vẫn là những nông trang gia đìnhđầy sức sống
Các nông trang gia đình sản xuất có trình độ chuyên môn hoá ngàycàng cao để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh quốc
tế
Với cơ chế chính sách khác nhau, nhất là chính sách về nông tranggia đình đã làm cho Hà Lan trở thành một nước đứng đầu thế giới về xuấtkhẩu nông sản, trong khi Nhật là nước có nhiều vốn, công nghệ cao, lại lànước đứng đầu thế giới về nhập siêu nông sản
Nhật Hà Lan
Lao động nông nghiệp (vạn người) 323,6 26,9
Tỷ lệ sử dụng lao động gia đình trong nông trang (%) 16,0 82,0
Diện tích đất canh tác theo đầu người (ha) 0,031 0,069
Trang 37Diện tích đất một nông trang (ha) 1,14 9,04Giá trị sản xuất (USD/lao động nông nghiệp) 4.547 44.339Sản lượng thịt/lao động nông nghiệp (tấn) 0,9 9,5Sản lượng sữa/lao động nông nghiệp (tấn) 2,7 41,6Kim ngạch xuất khẩu nông sản (tỉ USD/năm, 1990-1999) -33,61 14,05
Tỉ lệ tự túc về nông sản ở Nhật cũng suy giảm dần
2-Kinh nghiệm sử dụng lao động nông thôn của một số tỉnh ở Việt Nam
2.1 Tỉnh yên Bái
Trang 38Xuất phát từ kinh nghiệm cơ sở, bên cạnh các nhiệm vụ quan trọng,tỉnh Yên Bái luôn chú trọng điều tra, khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghềcho người lao động Ngay từ khi triển khai QĐ 1956, Sở Lao động -Thương binh và Xã hội Yên Bái đã tổ chức ba lớp tập huấn nghiệp vụ điềutra, khảo sát, xác định nhu cầu học nghề cho các địa phương Cùng với đó,đến tháng 6/2010, Yên Bái đã thí điểm xong việc điều tra, khảo sát nhu cầuhọc nghề của lao động tại huyện Văn Yên và tiếp tục chỉ đạo, triển khai ràsoát ở 8 huyện, thị xã còn lại Ông Hoàng Đức Vượng - Giám đốc Sở Laođộng - Thương binh và Xã hội Yên Bái, Phó Ban thường trực Ban chỉ đạothực hiện QĐ 1956 của tỉnh Yên Bái cho biết: đào tạo nghề khu vực nôngthôn mang tính đặc thù cao Bên cạnh đào tạo nghề theo nhu cầu trước mắtcủa địa phương, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi phảibám sát quy hoạch, chương trình khung với những tiêu chí chọn nghề phùhợp phục vụ nhu cầu lâu dài phát triển kinh tế - xã hội địa phương, doanhnghiệp và các cơ sở có nhu cầu sử dụng lao động
Là một tỉnh mền núi nhưng khác với sự hưu hắt trên mỗi ngảđường với cái nắng oi nồng của tháng 7, trong căn nhà mát mẻ của gia đìnhanh Trương Văn Băn, thôn Thanh Giang, xã Tân Lập, huyện Lục Yên (YênBái) lại rộn ràng tiếng cười nói của các bà, các chị Vừa nói chuyện, phatrò, song tay ai cũng thoăn thoắt chèn, kè từng nan nứa để sớm hoàn thànhcho mình những chiếc rọ tôm Nhìn vào khung cảnh như vậy ai cũng đoánđây là một tổ nghề sản xuất, tuy nhiên đây lại là khoá 2 lớp học đan rọ tôm
do chính quyền xã tổ chức nằm trong chương trình đào tạo nghề cho laođộng nông thôn theo Quyết định (QĐ) 1956
Xã Tân Lập-huyện Lục Yên-Tỉnh Yên Bái vốn là xã thuần nông, đặcbiệt là xã nằm ven hồ Thác Bà có truyền thống đan rọ tôm phục vụ đánhbắt thuỷ sản, không chạy theo mô hình đào tạo nghề của các xã khác, quakhảo sát, UBND xã Tân Lập nhận thấy nhu cầu học đan rọ tôm của bà controng xã và thị trường sản phẩm này rất lớn Từ nhu cầu thực tế, cùng kế
Trang 39hoạch phân bổ của huyện, chính quyền xã Tân Lập đã mở lớp học đan rọtôm cho bà con Từ đầu năm 2011 đến nay, xã đã tổ chức được hai lớp họcđan loại sản phẩm này Mỗi chị em đi học không những học được cái nghề
mà còn được nhà nước hỗ trợ 15.000 đồng/người/buổi Mỗi hộ dân trong
xã, vẫn làm rọ tôm vào thời gian rảnh rỗi
Đến hết tháng 6/2011, đã có 3/9 huyện, thị xã được UBND tỉnhphê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.Trong năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011 đã đào tạo nghề cho trên 8.300đối tượng (riêng năm 2010, giới thiệu việc làm cho khoảng 820 lao động)
2.2 Tỉnh Hà Nam
+Tỉnh chú ý tới công tác đào tạo nguồn lao động:
Nắm bắt nhu cầu thực tế hiện nay của bà con nông dân và thị trườnglao động cần những lao động được đào tạo cơ bản phù hợp với chình độ và
sự phát triển của tỉnh, có trình độ tay nghề kỹ thuật, nhất là nhu cầu họcnghề của nông dân tại những khu vực bị thu hồi đất dành cho phát triển khucông nghiệp và nhu cầu được học tập nâng cao kiến thức áp dụng vào trongthực tiễn sản suất, kinh doanh của nông dân trên địa bàn tỉnh ta Với chứcnăng nhiệm vụ chính của mình Trung tâm Dạy nghề và giới thiệu việc làmnông dân - Hội nông dân tỉnh Hà Nam đã triển khai khai giảng 8 lớp họcnghề ngắn hạn cho nông dân Đây là đề án đào tạo nghề cho lao động nôngthôn đến năm 2020 theo quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ Baogồm: 03 lớp Thêu ren, 01 lớp Chăn nuôi, 01 lớp Trồng trọt và 03 lớp maycông nghiệp với thời gian học 03 tháng đã thu hút 240 người trong độ tuổi
từ 18 - 45 tham gia học nghề Các lớp học nghề được Trung tâm bố trí phùhợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương Lớp Chăn nuôi vàtrồng trọt tập trung tại các xã: Phú Phúc - Lý Nhân và Bạch Thượng - DuyTiên là những xã có ngành chăn nuôi và trồng trọt đang phát triển, lớp thêuren tập chung tại các xã, các làng nghề đang phát triển nghề thêu ren như
xã Thanh Nguyên - Thanh Liêm, Lê Hồ - Kim Bảng và Đồng Du - Bình
Trang 40Lục Riêng với lớp may công nghiệp ưu tiên đặt tại các xã bị thu hồi đất,gần với các khu công nghiệp và các công ty may như Phù Vân - Phủ Lý,Thanh Lưu - Thanh Liêm và Liên Sơn - Kim Bảng Ngoài ra Trung tâm còn liên kết với chường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội mở lớp chuyênngành kế toán và đang tiếp tục chiêu sinh lớp kế toán tiếp theo Các họcviên sau khoá học lớp chăn nuôi, Trồng trọt sẽ có đủ những kiến thức cơbản để phòng, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm và cây trồng, biết tính toánhợp lý, đầu tư mở rộng có chiều sâu để tập trung phát triển kinh tế hộ giađình Với học viên lớp Thêu ren tay nghề sẽ vững vàng hơn, chất lượnglàm ra ngày càng đa dạng, phong phú, mẫu mã cũng như chất lượng đượcnâng cao hơn giúp cải thiện đáng kể vào thu nhập bình quân đầu người.Riêng lớp may công nghiệp sau khi tốt nghiệp học viên sẽ có tay nghề từbặc 2 - 3/7 trực tiếp được Trung tâm giới thiệu vào làm việc tại các công tyMay trên địa bàn toàn tỉnh mang lại nguồn thu nhập bình quân từ 2 triệuđến 3 triệu đồng/người/tháng Đặc biệt có học viên còn được giới thiệu đixuất khẩu lao động tại các nước có nền kinh tế phát triển như: Đài Loan,Malaysia, Liên bang Nga….
+Chú ý tới công tác xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
Hà Nam là một trong những tỉnh đồng bằng có các điều kiện kết cấu
hạ tầng tương đối hoàn thiện và thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Để
tạo điều kiện cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, tỉnh đã quyhoạch và xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung tại các
vị trí thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư sản xuất kinh doanh.Đến nay, tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho xây dựng vàphát triển 8 khu công nghiệp tập trung (trong đó có 4 khu công nghiệp đã đivào hoạt động):
- Khu công nghiệp Đồng Văn I: Có diện tích 138 ha, nằm trên địabàn thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, nằm liền kề vớiQuốc lộ 1A, đường cao tốc Pháp Vân - Ninh Bình, Quốc lộ 38, đường sắt