1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hình tượng con người trong chạm khắc đình hoành sơn

82 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình tượng con người thể hiện qua cấu trúc tỉ lệ....43 Tiểu kết chương 2....45 CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÌNH HOÀNH SƠN VÀ NHỮNG B

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪNPGS.TS LÊ VĂN SỬU

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI .

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm “hình tượng con người”

1.1.2 Khái niệm “ nghệ thuật chạm khắc đình làng”

1.1.3 Khái niệm “hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng”

1.2 Khái quát về đình Hoành Sơn

1.2.1 Lược sử đình Hoành Sơn

1.2.2 Khái quát kiến trúc đình Hoành Sơn

1.2.3 Khái quát nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn

Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÌNH HOÀNH SƠN .

2.1 Hình tượng con người được thể hiện qua nội dung chủ đề nghệ thuật chạm khắc

2.1.1 Hình tượng con người trong lao động sản xuất

2.1.2 Hình tượng con người trong đời sống sinh hoạt

2.1.3 Hình tượng con người trong hoạt động vui chơi giải trí

2.2 Hình tượng con người được thể hiện qua hình thức nghệ thuật chạm khắc

Trang 5

2.2.1 Hình tượng con người thể hiện qua hình khối 35

2.2.2 Hình tượng con người thể hiện qua đường nét 40

2.2.3 Hình tượng con người thể hiện qua cấu trúc tỉ lệ 43

Tiểu kết chương 2 45

CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐÌNH HOÀNH SƠN VÀ NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 47

3.1 Giá trị nghệ thuật của hình tượng con người trong chạm khắc đình Hoành Sơn 47

3.2 Bài học rút ra từ việc nghiên cứu đề tài hình tượng con người trong chạm khắc đình Hoành Sơn 54

Tiểu kết chương 3 55

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC ẢNH MINH HỌA 62

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đình làng là công trình kiến trúc quen thuộc và thân thuộc đối với cư dânsống trong cộng đồng làng xã Hầu như ở mỗi làng quê Việt Nam, đều có mộtngôi đình, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ Nó là sản phẩm chung của cộngđồng, do tất cả các thành viên góp công tạo dựng nên Đình làng là nơi sinh hoạt,hội họp, vui chơi của cả cộng đồng làng … Đặc biệt đình cũng là một công trìnhkiến trúc điêu khắc, nơi biểu đạt tư tưởng, tình cảm, những rung động của ngườithợ - những nghệ sỹ dân gian thể hiện cuộc sống muôn vẻ của làng quê thôngqua nghệ thuật chạm khắc

Đình Hoành Sơn, Nam Đàn, Nghệ An là một ngôi đình nổi tiếng Đây làmột di tích được xếp hạng quốc gia vào năm 1984 Hệ thống kiến trúc này nằmven chân đê, trên bờ hữu ngạn sông Lam, thuộc làng Hoành Sơn, xã Khánh Sơn,huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Trải qua bao thời gian, nhiều biến động lịch sử,

sự tàn phá của thiên tai và con người, hiện nay di tích cấp quốc gia đã và đangxuống cấp nghiêm trọng Nhưng những gì còn sót lại vẫn khẳng định giá trị nghệthuật ở đây vô cùng độc đáo và đậm nét

Đình Hoành Sơn cũng nằm trong kiểu thức chung của các đình cùng thời,nhưng nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn được đánh giá có nét đặc sắcriêng Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ 18, khi mà đình làng ở miền Bắcbắt đầu vắng hình tượng con người Tuy nhiên ở đây lại xuất hiện phong phúhình ảnh chạm khắc về con người Nếu như các đình khác ở miền trung ít cóhình tượng con người thì đình Hoành Sơn lại chứa đựng những bức chạm vôcùng hấp dẫn thể hiện cảnh sinh hoạt dân gian cũng như phong tục tập quán,những hoạt động trong ngày lễ hội vô cùng sinh động trên các ván nong Hìnhảnh con người hài hòa cân đối, thuận mắt không gian mang tính ước lệ Một điềukhá đặc biệt nữa là trên nhiều bức chạm được khắc chữ để khái quát nội dungbức chạm, ngoài ra đó còn làm chặt thêm bố cục

Trang 7

Hình tượng con người ở đình Hoành Sơn có những nét độc đáo so với cácđình khác ở phía Bắc vùng đồng bằng Bắc Bộ ở thế kỷ 17 và đình Trung Cần,Nghệ An ở thế kỷ 18 Nét độc đáo được thể hiện ở nội dung với các chủ đề laođộng sản xuất, đòi sống sinh hoạt, vui chơi giải trí; hình thức thể hiện hình tượngcon người như đường nét, hình khối, tỷ lệ để tạo nrrn một hình tượng nghệ thuậtsống động.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu về đình Hoành Sơn nhưng trên phương diệntìm hiểu di tích và văn hóa lịch sử Có một số tài liệu viết về đình Hoành Sơnnhưng ở góc độ giới thiệu về đình làng hay nêu khái quát về kiến trúc cũng nhưchạm khắc của đình Chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về hình tượng con

người trong chạm khắc của đình Đây là lí do tôi chọn vấn đề nghiên cứu hình tượng con người trong chạm khắc đình Hoành Sơn để làm luận văn tốt nghiệp.

Qua đó sẽ giúp cá nhân tôi có thể hiểu được nội dung cũng như hình thức thểhiện hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn Rút rađược giá trị nghệ thuật và bài học của hình tượng con người trong nghệ thuậtchạm khắc đình Hoành Sơn, hiểu được sự sáng tạo trong nghệ thuật chạm khắcđình và góp phần giữ gìn phần nào giá trị to lớn của nghệ thuật chạm khắc cổViệt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 8

đình làng thời kỳ đó như: vũ nữ thiên thần, cảnh đấu võ (đấu vật, cưỡi ngựa đấuđao…), săn đấu với thú dữ, chèo thuyền, chọi gà, các trò vui ngày hội (chơi cờ,hát của đình, đá cầu, uống rượu), cảnh múa nhạc Nhưng nổi bật hơn cả là cảnhtrai gái tình tự, đàn bà khỏa thân.

Trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [2],

PGS.TS.Trần Lâm Biền, NXB Mỹ Thuật Hà Nội Công trình nghiên cứu chủ yếutập trung vào chủ đề, thủ pháp tạo hình và kỹ thuật thể hiện hình tượng conngười trong chạm khắc đình làng Từ đó đưa ra những nhận định về những giátrị trong nghệ thuật trang trí truyền thống của dân tộc

Trong cuốn Về tính dân tộc của nghệ thuật tạo hình [28], tác giả Trần

Đình Thọ biên tập, là tập hợp nhiều bài viết về tính dân tộc trong các tác phẩmtạo hình Có nhiều bài đề cập tới điêu khắc đình làng nhìn từ góc độ văn hóa.Tác giả cho rằng, các chủ đề thể hiện trong những công trình kiến trúc đình, đền,chùa đều mang hình tượng thực sự của hiện thực…Nó là hình tượng của mộtcảnh sinh hoạt cụ thể, nhưng lại mang tính của thời đại

Trong cuốn Điêu khắc đình làng [3, tr.40,45], tác giả Trương Duy Bích đã

nhận định, sự phát triển của phù điêu đình làng không chỉ đơn thuần nhằm giảiquyết trang trí, làm giảm nhẹ cảm giác nặng nề của kiến trúc mà làm bật lêntiếng nói mới Tiếng nói của tâm tư tình cảm người lao động, những suy nghĩnguyện ước của đời thường

Trong cuốn Văn minh vật chất của người Việt [32, tr.507], nhà phê bình

mỹ thuật Phan Cẩm Thượng đã nêu lên nguồn gốc các chủ đề sinh hoạt thườngnhật của con người trên những mảng chạm khắc trang trí đình làng dưới góc độvăn hóa học Ông cho rằng những người thợ dân gian xưa đã khéo léo, khônngoan đưa những đề tài dân gian vào điêu khắc đình làng dưới bức màn tôn giáo.Qua quá trình tìm hiểu ông cho rằng phù điêu đình làng có thể coi là cuốn dã sửtái hiện lại cuộc sống của người dân lúc bấy giờ: “Cái nhìn tín ngưỡng và nhogiáo dưới góc độ dân gian vẫn là hình thức bên ngoài của những bức phù điêu,

Trang 9

nhưng bên trong đầy rẫy những hoạt cảnh dung tục và thường ngày như ngườidân đang sống và vẫn sống như thế”

Trong cuốn Đình làng Nghệ An với lễ hội dân gian [27], Phan Xuân

Thành, Nxb Nghệ An, tác giả có nêu tổng quan tư liệu về đình làng Nghệ An,nguồn gốc đình làng, kiến trúc đình qua không gian, thời gian, điêu khắc đìnhlàng, thần và tín ngưỡng đình, lễ hội đình làng Sách nêu khái quát các phần, kể

cả phần chạm khắc đình tác giả nói sơ lược, chưa cụ thể chi tiết phần chạm khắc

và nội dung chạm khắc trong đình Hoành Sơn

Trong cuốn Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng vùng châu thổ sông Hồng [25], Trần Đình Tuấn, Nxb Lao động, tác giả nghiên

cứu hình tượng con người trang trí truyền thống, trong nền văn hóa Đông Sơn.Nội dung chủ đề của hình tượng con người bắt đầu từ thời kỳ đồ đồng đến thế kỷXIX Trong bài có nhắc đến đình Hoành Sơn, đình Trung Cần ở Nghệ An theocách khái quát chung, không đi sâu phân tích hình tượng con người trong chạmkhắc

Trong cuốn Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ (7, tr.21), tác giả

Nguyễn Văn Cương đã miêu tả nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng theo

sự phân cắt các biểu tượng với các tư liệu hết sức phong phú Theo tác giả, cácyếu tố văn hóa đã chi phối các giá trị thẩm mỹ, mô thức thẩm mỹ của người Việtkhi nghiên cứu mỹ thật đình làng góc độ nghệ thuật học

Trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc [5], tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Du

Chi,Trần Lâm, Nguyễn Bá Vấn đã đưa ra và phân tích các đặc điểm trang trí thờiMạc trên một số ngôi đình Đó là những hoạt cảnh người, thể hiện rất rõ tínhchất dân dã, đồng thời đề tài này như nét khởi đầu cho sự phát triển rầm rộ củanghệ thuật tạo hình nhiều nét dân gian cuối thế kỷ XVII

Trong cuốn Tiếp xúc với nghệ thuật [37], nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá

Vân qua bài nghiên cứu “ Điêu khắc đình làng” đã viết một cách sâu sắc về nềnđiêu khắc đình làng Theo đó ông nhận định về loại hình nghệ thuật này dưới

Trang 10

góc độ văn hóa, là sự tiếp nối mỹ thuật truyền thống của dân tộc, có đủ sự đónggóp của nghệ thuật Lý, Trần, Mạc….Điều đó chứng tỏ sự phát triển liên tục củadòng nghệ thuật Tác giả cũng khẳng định, nghệ thuật điêu khắc đình làng mangtính truyền thống có kế thừa và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, đó chính

là biểu hiện của sự tiếp diễn văn hóa qua nhiều thời kỳ

Trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [11], tác

giả Trần Lâm Biền đã kết luận về hoa văn trang trí hình tượng con người trongchạm khắc truyền thống như sau: Về đề tài con người, tổ tiên chúng ta đã đi từcon người vũ trụ (thần linh hoặc linh nhân nơi thiên quốc), là những nhạc sỹthiên thần, vũ nữ thiên thần, nhạc công đầu người mình chim… đang chuyển dầnsang thiên thần dưới dạng thế nhân Để rồi từ thế kỷ XVI nhất là thế kỷ XVII, sựnáo nức làm ồn ào tâm tưởng được thể hiện qua các hoạt cảnh gắn với đờithường, là các cảnh vui chơi và ước vọng ngày hội đặc biệt là cảnh tình tự nam

nữ quá bạo mạnh, khiến chúng ta ngờ vực về vai trò đạo Nho trong xã hội bìnhdân, mà chuyển sự suy tư sang mối quan hệ âm dương

*Tư liệu từ các luận án

Luận án tiến sỹ lịch sử Đình Võ Liệt trong bối cảnh đình làng Nghệ An

[27], Phan Xuân Thành, Viện Khảo Cổ Học Luận án nghiên cứu sâu về kiến trúc

và điêu khắc của đình Võ Liệt Ngoài ra trong luận án tác giả có giới thiệu sơlược về kiến trúc và điêu khắc đình Hoành Sơn Chưa đi vào chi tiết nội dunghình tượng con người trong các bức chạm khắc

Luận án tiến sỹ Những ngôi đình làng thế kỷ XVI ở Việt Nam [12], Nguyễn

Hồng Kiên đã đi sâu nghiên cứu về loại hình kiến trúc đình làng trong lịch sử.Đặc biệt luận án đi sâu nghiên cứu những kiến trúc đình làng có niên đại sớm ởnước ta, đặt tiền đề cho việc nghiên cứu hệ thống kiến trúc đình làng giai đoạnsau này

*Tư liệu từ các luận văn

Trang 11

Luận văn thạc sỹ mỹ thuật Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và văn hóa đình làng Việt Nam [10], Phan Văn Hùng, trường ĐHMTVN Tác giả nghiên cứu

nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng, trong luận văn tác giả có nêu một sốngôi đình của miền trung một cách khái quát chưa cụ thể, chưa nói đến nội dungcác bức chạm khắc trong ngôi đình

Luận văn thạc sỹ mỹ thuật “Nghệ thuật chạm khắc đình làng Hưng Lộc, Nam Định”[36], Lương Văn Phường, trường ĐHMTVN.Trong luận văn tác giả

có nói đến giá trị nghệ thuật tạo hình, chạm khắc trong ngôi đình, nhưng chư nói

rõ chạm khắc có hình tượng con người được thể hiện như thế nào qua hình thức

và nội dung trong chạm khắc của đình

Luận văn thạc sỹ mỹ thuật “Nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc đình Thượng Phú- Thanh Hóa”[19], Nguyễn Hồng Quân, trường ĐHMTVN.Tác giả có

nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc đình làng Thượng Phú với những đề tài,ngôn ngữ tạo hình và thủ pháp tạo hình, kỹ thuật chạm khắc đình Thượng Phú

Luận văn thạc sỹ mỹ thuật “ Nghệ thuật điêu khắc đá lăng Vũ Hồng Lượng”[16], Vũ Thị Kim Ngân, trường ĐHMTVN Tác giả đã nghiên cứu tạo

hình nghệ thuật điêu khắc đá lăng Vũ Hồng Lượng Nêu bố cục hình khối, chấtcảm, không gian trong tạo hình điêu khắc đá

*Tư liệu từ các tạp chí mỹ thuật

Tạp chí Mỹ thuật Ý nghĩa của việc nghiên cứu di sản đình làng vùng đồng bằng Bắc bộ [20, tr.64,70], Lê văn Sửu có nêu khái quát về công việc nghiên cứu

di sản văn hóa đình làng, ý nghĩa của công việc nghiên cứu đình làng đối vớigiảng viên, sinh viên mỹ thuật và cả cộng đồng Tác giả không nêu nghệ thuậtchạm khắc đình làng trong đó có hình tượng con người

Tạp chí Mỹ thuật Phóng cách tạo hình tiên nữ đình làng Bắc bộ thế kỷ XVII [14, tr.22,32], Lê Thị Liễu nghiên cứu những chạm khắc tiêu biểu về tiên

nữ đình làng Bắc bộ thế kỷ XVII Việc đi sâu vào tìm hiểu motip tiên nữ cho mộtkết quả đáng ngạc nhiên về mật độ xuất hiện của nhân vật trên chạm khắc

Trang 12

đình làng, các chạm khắc tiên nữ với rất nhiều hình dạng khác nhau và có các đềtài gắn với hình tượng này Tác giả chỉ nghiên cứu hình tượng tiên nữ khôngnghiên cứu hình tượng con người trong chạm khắc đình làng.

Tạp chí Mỹ thuật Trò chơi dân gian trên chạm khắc đình làng đồng bằng Bắc bộ thế kỷ XVII [33, tr.13,19], Tòng Thị Trang đã nêu các hoạt cảnh trò chơi

dân gian trên chạm khắc đình làng và nêu đặc trưng của chạm khắc trong bàiviết tác giả có nêu các trò chơi dân gian như đua thuyền, đánh cờ mà những tròchơi đó ở đình Hoành Sơn cũng thể hiện trong chạm khắc

*Tư liệu từ các tiểu luận tốt nghiệp

Tiểu luận tốt nghiệp Hình tượng con người trong chạm khắc gỗ đình làng Lâu Thượng Việt Trì Phú Thọ[15], Bùi Đức Mạnh trường ĐHMTVN Tác giả cũng

nói qua về chức năng của đình làng, kiến trúc đình làng thế kỷ XVII, nghệ thuậtchạm khắc (chạm nông, chạm lộng, chạm bong, chạm kênh), nêu khái quát hìnhtượng con người trong chạm khắc đình làng và hình tượng con người trong chạmkhắc gỗ đình Lâu Thượng Việt Trì Phú Thọ Tác giả chưa đề cập đến phần so sánhhình tượng con người trong đình Lâu Thượng với một số đình trong vùng cũng nhưmột số đình trong vùng đồng bằng sông Hồng cùng thế kỷ với nhau

Tiểu luận tốt nghiệp Đề tài sinh hoạt trong chạm khắc đình làng Việt Nam, [24], Lê Anh Tuấn, trường ĐHMTVN Tác giả đã nêu lịch sử, chức năng,

kiến trúc của đình làng Sự phong phú về nội dung cũng như hình thức thể hiện

đề tài sinh hoạt trong chạm khắc đình, tác giả giới thiệu những bức chạm khắc

tiêu biểu trong một số đình vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có bức “chèo thuyền rồng” ở đình Hoành Sơn Tác giả có nêu qua những đặc điểm chạm khắc

hình tượng con người bị ảnh hưởng của phật giáo nhưng tác giả không đề cậpđến ảnh hưởng của nho giáo trong chạm khắc đình làng

Tiểu luận tốt nghiệp Hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ- chạm khắc đình làng – múa rối nước [30], Đào Thị Phương Thùy, tiểu luận tốt nghiệp, trường ĐHMTVN Mục đích của tác giả là nghiên cứu về việc xây

Trang 13

dựng hình tượng nghệ thuật con người trong ba dạng nghệ thuật là dân gianĐông Hồ, chạm khắc đình làng và rối nước nhằm tìm ra những nét tương đồng

và khác biệt Cũng là đề tài hình tượng con người nhưng tác giả chưa đi sâu về

đề tài của con người trong chạm khắc đình làng

3 Mục đích của luận văn

- Nghiên cứu nội dung và hình thức thể hiện hình tượng con người trongnghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn để làm rõ cách xây dựng nhân vật trongnghệ thuật chạm khắc đình làng

- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thể hiện hình tượng conngười trong nghệ thuật chạm khắc Việt Nam để ứng dụng vào trong học tập và sáng tác của cá nhân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu :

- Nghiên cứu hình tượng con người trong các mảng chạm khắc đình Hoành Sơn

Phạm vi nghiên cứu :

- Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu các mảng chạm khắc gỗ phù điêu trang trí trên kiến trúc đình Hoành Sơn có hình ảnh con người

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã: đi thực tế để khảo sát tình hình một số vùng,

Trang 15

- Phương pháp phân tích: dùng các lý luận ngôn ngữ trong mỹ thật học

phân tích diễn giải vấn đề mình nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh hình tượng con người trong chạm

khắc đình Hoành Sơn với một số công trình kiến trúc chạm khắc khác trong

vùng và vùng đồng bằng Bắc Bộ , nhằm chỉ ra vẻ đẹp độc đáo hấp dẫn riêng về nội dung cũng như tạo hình của hình tượng con người trong đình Hoành Sơn

- Phương pháp diễn dịch: được áp dụng để trình bày và làm rõ vấn đề

nghiên cứu

- Phương pháp mỹ thuật học: dùng các lý luận ngôn ngữ trong mỹ thật

học phân tích diễn giải vấn đề mình nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đưa ra một cái nhìn toàn cảnh, tập trung về nội dung và hìnhthức thể hiện hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình HoànhSơn Qua đó cho ta thấy giá trị nghệ nghệ thật đặc sắc của hình tượng con ngườitrong chạm khắc đình Hoành Sơn, từ đó rút ra được bài học từ việc nghiên cứu

đề tài

- Luận văn góp phần bổ sung thêm phần nhỏ kiến thức, tài liệu nghiên cứu

lý luận nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn , Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu (10 trang), kết luận (2 trang), phục lục (15 trang), tài liệu tham khảo (3 trang) Nội dung chính được chia làm 3chương :

Chương 1: Những vấn đề chung để nghiên cứu đề tài (16 trang)

Chương 2: Nghiên cứu hình tượng con người trong chạm khắc đình

Hoành Sơn (20 trang)

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn và bài học rút ra từ việc nghiên cứu đề tài.(10 trang)

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm “hình tượng con người”.

Khái niệm hình tượng

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên giải thích từ “hình tượng”

là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thứcnhững hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảmtính.[ 18, tr.573]

Trong cuốn” từ điển mỹ thuật phổ thông” của Đặng Bích Ngân có giải thíchthuật ngữ “ hình tượng” là “ hình ảnh của các sự vật, trọng tâm là người, vật,phong cảnh thông qua sự ghi chép thực tế hoặc trí nhớ của họa sỹ Bằng óc sángtạo và bàn tay khéo léo, họa sỹ đã tạo ra những hình tượng trong tranh, còn nhàđiêu khắc tạo ra các hình tượng trong các phù điêu, tượng tròn…Nhà văn thểhiện được những hình tượng điển hình cũng như những họa sỹ vẽ được nhữnghình tượng đặc trưng về nhân vật hoặc về khung cảnh thiên nhiên Ở đây từ hìnhtượng có ý nghĩa sâu sắc và đặc trưng gạn lọc từ các hình ảnh dễ thấy hoặc quáquen thuộc bởi sự sáng tạo của người nghệ sỹ Các hình tượng này thường tácđộng mạnh đến người xem…[17,tr,85]

Trong cuốn “ từ điển Bách khoa Việt Nam” do hội đồng quốc gia chỉ đạobiên soạn có giải thích thuật ngữ “hình tượng” là “ một đối tượng được được sảnsinh ra bằng hư cấu hay sự tưởng tượng sáng tạo của nghệ sỹ theo những quanđiểm thẩm mỹ nhất định giúp cho người ta hình dung được các sự vật, các sựkiện, những con người như khả năng vốn có của chúng Ở mỗi loại hình nghệthuật, hình tượng được bộc lộ dưới nhiều dạng khác nhau muôn hình muôn vẻtùy theo lý tưởng thẩm mỹ nói chung và quan điểm thẩm mỹ cụ thể của từng tácgiả Song dù khác nhau thế nào, hình tượng vẫn có một cái chung: hình tượng là

Trang 17

kết quả của một phương thức tái tạo nào đó (con người, hoàn cảnh xã hội, cảnhvật…) dưới một dạng tương đồng hoặc gũi và phù hợp với khả năng tồn tạikhách quan của chúng.

Trong mỹ học, thông thường thuật ngữ “hình tượng” được dung với hainghĩa: Nghĩa rộng để chỉ đặc điểm chung về phương thức phản ánh đời sống củatất cả các loại hình nghệ thuật, phân biệt nghệ thuật với khoa học và các hìnhthái ý thức xã hội khác: Nghĩa hẹp ( trong phạm vi tác phẩm) dùng để chỉ cácnhân vật trong tác phẩm

Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuậtdưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình Hình tượng là sảnphẩm sự nhận thức thẩm mỹ của con người trong quá trình phản ánh thế giới ởlĩnh vực văn hóa mỹ thuật Tuy hình tượng được hình thành trong mối quan hệgiữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người nhưng

nó không phải là bản sao chép một cách máy móc theo đúng nguyên mẫu của thếgiới hiện thực bởi nó thuộc thế giới của sự sáng tạo Hình tượng không chỉ phảnánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa toàn bộ thế giới hiện thực,nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thực khách quan Nghệthuật được tư duy bằng hình tượng và không có hình tượng thì nghệ thuật khôngthể tồn tại bởi vì trong các tác phẩm nghệ thuật, tất cả những gì tiềm ẩn ở bêntrong đều được phát lộ lên bề mặt tác phẩm Tính hình tượng được xem là đặctrưng chung, chủ yếu của tất cả các loại hình nghệ thuật ( văn học, hội họa, âmnhạc, điện ảnh, điêu khắc…)

Từ những phân tích khái niệm hình tượng được trích dẫn từ các quyển từđiển kết hợp với những kinh nghiệm trong sáng tác hội họa thì có thể xác định:khái niệm hình tượng là sản phẩm đặc trưng chủ yếu của các loại hình nghệ thuật

và được hình thành từ sự nhận thức thẩm mỹ của con người trong quá trình phảnánh hiện thực khách quan

Trang 18

Khái niệm hình tượng con người

Trong hình tượng có rất nhiều hình tượng như hình tượng con người, hìnhtượng thiên thiên, hình tượng con vật…nhưng một trong những hình tượng quantrọng trong tác phẩm nghệ thuật đó là hình tượng con người

Hình tượng con người vốn rất quen thuộc với mọi người, nhưng làm thếnào để khác với hình tượng khai thác trước lại là công việc của mỗi nghệ sỹ.Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình hay bất kỳ hình tượng nghệthuật nào khác đều phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống kết hợp với cảm xúc củangười nghệ sỹ Nhưng để tạo ra hình tượng con người chừng đó là chưa đủ,người nghệ sỹ phải nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội rồi từ đó chắtlọc và sáng tạo nên

Bằng ngôn ngữ tạo hình các nghệ sỹ đã để lại một kho tàng đồ sộ nhữngtác phẩm sáng tác về hình tượng con người, nhằm tôn vinh, ca ngợi vẻ đẹp hìnhtượng con người Chúng ta có thể bắt gặp hình tượng con người ở rất nhiều cáctác phẩm với những chất liệu khác nhau như trên mặt trống đồng cổ xưa, trênnhững mảng chạm khắc đình làng, trên các chất liệu tranh sơn dầu, sơn mài, lụa,tranh in…

Qua những phân tích về hình tượng và hình tượng con người có thể kếtluận: hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình là hình tượng mà trong đóhình ảnh con người là trọng tâm nhân vật trong tác phẩm Hình tượng con ngườitrong nghệ thuật được tác giả cô đọng, mô phỏng và sáng tạo nên, nó phản ánhhiện thực khách quan của cuộc sống

1.1.2 Khái niệm “ nghệ thuật chạm khắc đình làng”

Khái niệm nghệ thuật chạm khắc

Trong cuốn “ từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê có giải thích thuật ngữ “

chạm khắc”: là tạo nên những đường nét hoặc hình khối nghệ thuật trên mặt vật

rắn bằng cách đục, khắc; chạm là kỹ thuật đục xuống vật liệu như đá, gỗ, ngà…

để làm nổi bật lên các hình tượng nghệ thuật muốn diễn tả

Trang 19

Trong cuốn từ điển “thuật ngữ mỹ thuật phổ thông” của Đặng Bích Ngân

có nêu thuật ngữ “chạm khắc” là vạch trũng xuống những đường nét, hình thểchữ hoặc văn tự từ một bề mặt cứng như gỗ, kim loại, đá, bằng dụng cụ nhọn sắcnhư dao trổ, đục….họa sỹ dùng dao khắc khắc lên những tấm gỗ làm thành ván

in để in tranh; nhà điêu khắc dùng đục, để chạm khắc trên những mặt gỗ hayphiến đá… ,

Vậy nghệ thuật chạm khắc là sử dụng kỹ thuật đục, khắc, chạm…để tạonên những đường nét, hình khối, trên chất liệu như gỗ, đá, ngà, …nhằm làm nổibật lên hình tượng nghệ thuật muốn diễn tả

Khái niệm chạm khắc đình làng

Trong cuốn “Điêu khắc đình làng”, tác giả Trương Duy Bích khẳng định:

“Nghệ thuật điêu khắc đình làng không chỉ đơn thuần mang tính chất trang trí

mà còn tác động mạnh đến cấu kiện kiến trúc về tính thẩm mỹ, làm cho tổng thểcông trình kiến trúc có được tiếng nói mới - Tiếng nói tâm tư, tình cảm củangười dân lao động” [3,tr 40,45]

Cấu kiện kiến trúc nội thất ở đình làng được tập trung trang trí trên váncốn, ván lá đề, xà ngang, vì nách Để những mảng gỗ đó đẹp có tính thẩm mỹcác nghệ nhân đã trang trí họa tiết lên đó Chính các họa tiết đó làm cho giá trịthẩm mỹ của ngôi đình càng đẹp lên Sự kết hợp giữa họa tiết và kiến trúc củangôi đình càng có giá trị nghệ thuật

Thông qua chạm khắc đình làng các nghệ nhân đã thể hiện tiếng nói củamình, tiếng nói tâm tư tình cảm, phản ánh thiên nhiên, con người của dân tộc

Từ khái niệm chạm khắc và phân tích các cấu kiện trong đình làng thườngchạm họa tiết trang trí có thể kết luận: chạm khắc đình làng là chạm khắc mà cáchọa tiết trang trí được người nghệ nhân sử dụng vào các cấu kiện kiến trúc củađình làng Các họa tiết đó đem lại giá trị nghệ thuật cho ngôi đình và phản ánhtâm tư tình cảm của người nghệ sỹ

Trang 20

1.1.3 Khái niệm “hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng”

Hình tượng nghệ thuật:

Theo phạm trù cơ bản của mỹ học hình tượng nghệ thuật dùng để chỉ mộthình thức phản ánh hiện thực đặc thù bằng phương tiện nghệ thuật Hình tượngnghệ thuật khác với các phạm trù của tư duy khoa học như: khái niệm, phánđoán, diễn dịch, do tính chất trực tiếp của nó Đồng thời nó cũng khác với cácphạm trù khác như: cảm giác, tri giác, biểu tượng, vì ngoài sự phản ánh trực tiếphiện thực, nó còn nhằm tổng hợp các hiện tượng của đời sống theo một kiểuriêng Nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng đó và làm sáng rõ ý nghĩasâu xa của nó Hình tượng nghệ thuật làm xuất hiện một trong sự thống nhấtkhăng khít các yếu tố của nhận thức trực quan tích cực và tư duy trừu tượng,nhưng đồng thời nó cũng khác về bản chất

Nếu như khoa học xã hội sử dụng những khái niệm, định nghĩa để thể hiệnmình thì nghệ thuật lấy hình tượng để diễn tả, tái hiện đối tượng, nội dung mà nó

đề cập Khái niệm hình tượng nghệ thuật từ lâu đã không còn xa lạ với những ai

đã từng tiếp xúc với bất cứ loại hình nghệ thuật nào như: văn học, hội họa, điêukhắc, ca kịch,… Người nghệ sĩ dùng hình tượng nghệ thuật để nhận thức và cắtnghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, nhờ những hình tượng

đó mà sự vật hiện tượng được tái hiện một cách sinh động nhưng đồng thời cũngnhờ nó mà cái tâm, cái tài người nghệ sĩ được thể hiện một cách tròn đầy và vẹnnguyên nhất

Từ những nhận định đã phân tích ở trên có thể kết luận hình tượng nghệthuật là: phương tiện nghệ thuật nhằm thể hiện cuộc sống phát sinh từ cuộc sống,tác động vào tình cảm, thức tỉnh tư duy, giúp cho con người thức tỉnh đượcmình, thức tỉnh mối quan hệ giữa chủ thể và khác thể, giữa cá nhân và xã hội,giữa hiện thực và lý tưởng Hình thượng nghệ thuật là điều kiện đầu tiên để tạonên giá trị của tác phẩm nghệ thuật

Trang 21

Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng:

Đình làng là nơi sinh hoạt, hội họp của cộng đồng làng Nghệ thuật chạmkhắc ở đình làng rất phong phú với nhiều mootip trang trí khác nhau như các convật linh thiêng: rồng, phượng; thiên nhiên: hoa, lá, mây, nước…hoa, lá, mây,nước Ngoài ra còn có cả hình tượng con người được các nghệ nhân thể hiện ởtrong các đình làng

Hình tượng con người trong chạm khắc đình làng không chỉ đơn thuần đểtrang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà chúng là sự kết tinh muônđời, muôn thuở của dân tộc Việt Nam Hình tượng con người gắn vào cuộc sốngthường ngày trước việc ứng xử với cái đẹp, để trở thành những mảng tâm hồnnhân thế và cõng trên lưng biết bao vấn đề lịch sử, xã hội của dân tộc Chúngluôn mang đậm nhiều khía cạnh về tiếng nói và chiếm địa vị vàng son trong vănhóa nghệ thuật đương thời

Hình tượng con người trang trí phía trong đình thường được sử dụng chấtliệu gỗ Vì chất liệu gỗ không chịu được thời tiết khắc nghiệt ngoài trời nhưnắng, mưa, gió…

Hình tượng con người trang trí phía ngoài đình thường sử dụng chất liệu

đá như trang trí dọc lan can thềm lan can bậc thềm Vì chất liệu đá cứng chịuđược thời tiết khắc nghiệt ngoài trời

Các vị trí trong chạm khắc đình làng thường được trang trí hình tượng conngười đó là cốn, vì nách, xà ngang…đó là những vị trí mà chúng ta rất dễ nhìnthấy hình ảnh chạm khắc khi bước vào đình

Những nội dung của hình tượng con người trong chạm khắc đình làngthường gắn với đời sống con người thực, phản ánh xã hội và lịch sử Những nộidung đó thể hiện những khía cạnh khác nhau như hình tượng con người với laođộng sản xuất, hình tượng con người với vui chơi, giải trí, hình tượng con ngườivới lễ hội… Hình tượng con người phản ánh đời sống sinh hoạt của nhân dânlao động,

Trang 22

Từ những phân tích trên có thể nhận xét hình tượng con người trong nghệthuật chạm khắc đình làng như sau: là những hình tượng nghệ thuật phản ánhđúng hiện thực cuộc sống của người dân, được thể hiện trong các vị trí kiến trúccủa đình làng Nó mang lại tính thẩm mỹ cho kiến trúc của ngôi đình đồng thờinói lên tâm tư tình cảnh của người nghệ nhân chạm khắc.

1.2 Khái quát về đình Hoành Sơn

1.2.1 Lược sử đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn có tên gọi là đình Ngang, ở làng Nam Hòa Thượng, xãKhánh Trung , huyện Nam Đàn, tình Nghệ An Đình được xây dựng trên địa thếbằng phẳng nhìn về phía Bắc, hướng ra dòng sông Lam, lưng tựa núi, đây đượcxem là vị trí đẹp, thuận lợi nhất theo quy luật “ phong thủy” của người xưa:trước là sông khoáng đạt, sau là núi, là cư dân tạo nên sự ấm cúng cho đình

Ngôi đình được khởi công xây dựng vào tháng chạp năm Nhâm Ngọ Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (tức là vào tháng 12 năm 1763) và đến cuối nămQuý Mùi (1764) thì hoàn thành Nghĩa là công việc xây dựng này được làmtrong vòng 1 năm

-Đình Hoành Sơn thờ U Minh Vương Lý Nhật Quang văn võ song toàn, tưchất hơn người, là con thứ tám của vua Lý Thái Tổ Ông có công lập làng mới ởtổng Nam Kim ( thuộc huyện Nam Đàn – Nghệ An) Triều đình phong ông là UMinh Vương nhưng dân làng tôn ông là Thành Hoàng Tam tòa Xứ Nghệ có hơnmột trăm nơi thờ ông, trong đó làng Hoành Sơn thờ làm Thành Hoàng ở đình.Ngoài U Minh Vương Lý Nhật Quang, đình còn thờ Tứ vị Thánh Nương, QuanHầu Thông giám Hiện nay đình còn thờ tám pho tượng Phật và bài vị các khoabảng Dân làng coi đó là các vị Tiên hiền của họ

Người khởi xướng và chủ sự xây dựng công trình này là ông Đặng ông đỗ cử nhân dưới triều vua Lê Hiển Tông(1740-1786) thuộc gia đình dòngdõi thế tộc và có uy quyền rất lớn trong vùng Tương truyền nhiều toán thợ cótiếng đến nhận đề tài rồi bí mật làm vì toán thợ nào làm đẹp nhất thì được

Trang 23

Thạc-thưởng lớn Toán thợ Hoa Nam Thượng không được mời đến, họ bày mưu cửngười thợ giỏi nhất tên Chuẩn giả dạng ăn mày đến chỗ làm đình xin ngủ lại rồi

cố tình đốt cháy một vì ở phía Nam của ngôi đình, Đặng Thạc vô cùng tức dậnnhưng người ăn mày đã xin được làm lại, chỉ trong một thời gian ngắn một sốbức chạm đã khiến cả hội đồng kỳ mục phải kinh ngạc và thán phục Đó cũng là

lý do giải thích tại sao các nét chạm trổ và nghệ thuật trang trí của ngôi đình lại

đa màu sắc đến thế Sau này nhân dân đã suy tôn Đặng Thạc và người thợ tênChuẩn thành những vị phúc thần của làng

Tương truyền, trong đình có rất nhiều pho tượng ( hơn 100 pho) nhưngvào trận lũ lịch sử năm 1978 và 1988 đã làm con đê chắn trước chùa bị vỡ vànước đã cuốn trôi gần hết số tượng đó, cho đến nay trong đình chỉ lưu giữ được

10 pho Đình được xây dựng đồ sộ, uy nghiêm thể hiện tập trung nhất ở Bái

đường có 8 vì, 7 gian có tổng số 32 cột lim tròn, trong đó có 12 cột cái cao 5m, đường kính 0,45m và 20 cột quân cao gần 4m Trong đình có 4 hàng cột dọc và

8 hàng cột ngang, các vì kèo có kết cấu chồng rường Kết cấu của đình đặc biệtvững chắc có hệ thống chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt gió Lào và bãolụt Đình Hoành Sơn được bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử quốc gia vàotháng 7 năm 1984 Trải qua năm tháng đến nay đình Hoành Sơn hiện một số chitiết đã bị mất mát, hư hỏng, một số được làm lại

Ngày hội hàng năm được tổ chức vào ngày 15 tháng 6 âm lịch Trongngày hội, dân làng rước Đức Thánh Cả, Đức Thánh Nhì, Đức Thánh Ba, ĐứcThánh Tư, Đức Thánh Năm về đình và tổ chức bơi thuyền, đánh cờ người, đánhđu…Trai lấy vợ, gái lấy chồng đều phải ra đình làm lễ trước Thành Hoàng Lễhội ở đình Hoành Sơn gồm hai phần, phần lễ và phần hội Phần lễ bao gồm rướcvăn, lễ tế vật, lễ thượng hương, lễ dâng rượu, lễ đọc chúc, lễ hưởng lộc Phần hội

có các trò chơi, thi đấu như đua thuyền, đánh cờ, đấu võ, đấu vật…

Đình Hoành Sơn là một công trình tưởng niệm chung cho tất cả nhữngngười đã có những đóng góp lớn lao cho sự ra đời, trưởng thành, phát triển phồn

Trang 24

thịnh của làng Hoành Sơn và nước Việt Nam Đó là những tư liệu quý giúp choviệc sưu tầm biên soạn về lịch sử văn hóa và truyền thống của nhân dân ta.

1.2.2 Khái quát kiến trúc đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn cũng giống bao ngôi đình khác phản ánh đậm nét tư duydân dã của người Việt xưa Đình tọa lạc trên một khuôn viên rộng với bố cục kiếntrúc truyền thống, gồm các hạng mục chính, tính từ ngoài vào sân đình, bãi đường,hậu cung Ngoài ra còn có văn từ và một số hạng mục phụ trợ khác Đình có kiếntrúc hình chữ Nhất quay về hướng Bắc là hướng đắc địa, hướng được coi là khá phùhợp với quy luật của âm dương đối đãi, người dân quan niệm rằng theo hướng này

là thần thường xuyên ban phước và che chở cho họ

Đình Hoành Sơn có kiến trúc rất đồ sộ làm theo kiểu chữ Nhất có 4 máilợp ngói âm dương, bốn đầu đao cong vút với hình “ long vân” nhìn về bốnhướng Dọc các bờ mái là đường viền hoa thị được đắp bằng vôi vữa, phía trên

bờ nóc là hình ảnh “ lưỡng long chầu nguyệt” một hình ảnh quen thuộc của rấtnhiều ngôi đình Việt Nam

Đình có bảy gian, hai chái Mỗi gian do một đám thợ đảm nhận nên từnggian có sắc thái nghệ thuật riêng Trên các xà nhà, các đường kèo đều được chạmtrổ tinh vi Nhưng tất cả đều phản ánh sinh hoạt của người dân lao động thời đó.Phong cách kiến trúc nghệ thuật điêu khắc ở đình Hoành Sơn mang dáng dấpcủa lối kiến trúc thế kỷ 17– 18 Các vì kèo liên kết cấu trúc “ chồng diêm” Cáccột đình đều có đường kính trên 50cm và là cơ sở chịu lực của toàn bộ kết cấuđình

Bố cục đình Hoành Sơn gồm: sân đình, bái đường và hậu cung Trong bốcục đó, không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái), là nơi diễn ra các hoạtđộng hội họp, ăn khao, khao vọng, phạt vạ của dân làng Đại đình của đìnhHoành Sơn là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng Theo ông Tưngười cai quản ngôi đình Hoành Sơn cho biết: trước đây đại đình ở có sàn látván, cao từ 60 đến 80 cm, chia làm ba cốt cao độ, là sự phân chia thứ bậc cho

Trang 25

những người ngồi ở Đại đình nhưng theo thời gian lịch sử cộng với khí hậu khắcnghiệt của miền trung thì sàn đình bây giờ không còn nữa Hệ thống lan can giữacột cái và cột quân cũng bị hư hại nay không còn nữa.

Kiến trúc đại đình của đình Hoành Sơn hoành tráng, đồ sộ và uy nghi Làmột kiến trúc gồm có 7 gian chính, 2 chái, 8 vì, 36 cột (16 cột cái, 20 cột phụ)bao gồm tiền điện và hậu điện với diện tích khoảng 150 m2, tọa lạc trên diện tíchkhoảng 2,5 nghìn m2 Cột đình được làm bằng gỗ lim và chò chỉ, đường kínhlớn, đều nhau, tay người ôm không xuể Ngoài ra, rải đều trên 2 mái bằng gỗ limtròn còn có 26 đường hoành và 42 đường xà, các đường chân thủy bao quanh

Gian giữa toà tiền tế không có hệ thống ván sàn, hệ thống lan can kết nốigiữa cột cái với cột quân cũng không còn Tòa tiền tế rộng lớn hơn các gian bênmột chút, để phù hợp với yêu cầu tổ chức các nghi lễ Hai bộ vì gian giữa gồm vìnóc và vì nách Vì nóc được kết cấu theo kiểu “biến thể chồng rường giá chiêngcon nhị”, các con rường chồng lên nhau thông qua đấu vuông thót đáy Rường làcác con dầm làm nhiệm vụ đỡ các hoành mái, nó được tạo tác kiểu “rường bụnglợn”, điểm giữa con rường võng xuống, trên cùng là một rường nằm trên đấudạng khối vuông, làm nhiệm vụ đỡ thượng lương (xà nóc) Hai đầu con rườngđều khoét các ổ để đỡ các hoành mái Vậy các con rường và hệ thống cột làmnhiệm vụ quan trọng trong vấn đề chịu lực của trọng lượng mái đình.Vì nách cókết cấu kiểu dạng “cốn chồng rường”, các con rường được chồng khít lên nhaukhông thông qua trụ đấu, độ dài của các con rường được thu ngắn lại từ dưới lêntrên Đầu rường được khoét ổ, kê dầm đỡ hoành mái

Các hoa văn trang trí trong đình Hoành Sơn tập trung chủ yếu ở tòa đạiđình Hoa văn được chạm khắc rất công phu, có độ tinh xảo cao, được các nghệ

sỹ tài hoa thể hiện trên các bộ phận của đình như trên cột cái, ván nong …vớinhiều đề tài khác nhau như: bát tiên, cưỡi hạc, đánh cờ, đua thuyền, tứ linh, tứquý, đại bàng đối xứng từng gian, rồng ổ.Nếu như trên các ván nong thể hiện

Trang 26

cuộc sống sinh hoạt và một số phong tục tập quán nói riêng của xã hội Việt Namnhư cảnh đi nơm cá, chơi cờ người, đi đu tiên, vinh quy bãi tổ, đua thuyền trênsông, thì trên các giá chiêng, kẻ, con rường, con đấu, nghé kẻ…là đề tài “ tứlinh” (long, ly, quy, phụng) và tứ quý (mai, điểu, tùng, lộc) Các nét chạm khi tỉ

mỉ công phu, khi mềm mại, khỏe khoắn khoáng đạt, nhưng cũng có lúc rắn rỏi

dữ dằn Thể hiện tinh thần nhân văn của dân tộc và phản ánh nghệ thuật chạmkhắc đã đạt đến trình độ bậc thầy Cột đình ở gian chính được chạm nổi hìnhtượng 2 con rồng lớn đang ôm cột hướng xuống mặt đất

Trên mái đình có hình tượng rồng cuộn, hổ ngồi, nghê chầu; mái ngóiđược lợp âm dương Giữa lớp ngói âm và ngói dương là một lớp đất sét đượcnhào trộn với trấu, tạo thành một chất liệu bền, dẻo có khả năng cách nhiệt tốt;ngói dương có 5 rãnh chẻ thoát nước

Phía trước đại đình là sân đình: Từ chân đê bước xuống sẽ qua một conđường làng, sát với đường làng là sân đình Kích thước sân đình gần như vuông,

có chiều cạnh bằng kích thước chiều dài tòa tiền tế Xung quanh sân là hệ thốngtường xây thấp Hai bên sân đình không có dãy nhà tả vu và hữu vu Sân đìnhlớn, bề mặt sân đình được làm từ đất sạn sỏi rải đều đầm phẳng, tạo thêm sự cổkính của ngôi đình

Tiếp giáp với đại đình là gian Hậu cung Thoạt nhìn gian Hậu cung và Báiđường như trong một thể thống nhất, thực ra Bái đường và Hậu cung hoàn toànđộc lập và tách rời nhau Nhưng nhờ lớp tường bao bọc xung quanh và hệ thốngmáng nằm chắn giữa hai mái nên hai kiến trúc này tuy độc lập mà vẫn gắn bóvới nhau

Kết cấu kiến trúc Hậu cung có hai gian vì, 4 cột cái không có cột quân,cao 3,65m, đường kính 0,420m Bộ mái có 14 đường hoành rải đều trên hai mái.Con rường trên cùng được tạo theo thức rường bụng lợn làm nhiệm vụ đỡthượng lương, các con rường đều được khoét ổ để đỡ hoành mái Bao quanh Hậucung là tường vôi vữa, chỉ có một lối vào Hậu Cung tiếp giáp với phía

Trang 27

sau tòa Tiền tế Hậu cung là nơi đặt bàn thờ Thành hoàng Trong hậu cung cócung cấm, là nơi đặt bài vị, sắc phong của vị thần làng Xung quanh hậu cungthường được bít kín bằng tường xây, không trổ cửa sổ, tạo không khí uy nghiêm

1.2.3 Khái quát nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn

Nghệ thuật chạm khắc của đình Hoành Sơn được thể hiện trên khắp các bộphận chính của kiến trúc Từ kẻ, xà, cốn, ván nong, con rường… đến các đầuđao, tàu mái đều được các nghệ nhân xưa lợi dụng một cách triệt để và biếnthành những mảng trang trí đẹp đẽ, đa dạng với kỹ thuật điêu luyện

Năm 1929 ông Nguyễn Tánh đã viết về nghệ thuật chạm khắc ở đìnhHoành Sơn trong tạp chí Nam Phong, tập 24 như sau: “Nhìn các đường xoi nétchạm thì chỗ nào cũng tinh xảo tuyệt vời, cho nên các du khách tới xem ai cũngcho thợ ấy là bậc thiên tài chứ người thường không thể làm nổi Bởi vậy mới cóbài tiểu thuyết “ Hoa nam mộc tượng ký” Chuyện ấy tuy là một chuyện hoangđường nhưng cũng đủ mà hình dung cái tài cái khéo xuất trần của các thợ làmđình Hoành Sơn”

H.Le Bretton- một học Pháp trong công trình (An Tinh cổ lục) tập 1 viếtnăm 1936 đã nói: “một vài tác giả cho đây là ngôi đình đặc sắc nhất trong cácđền đài mang tính tôn giáo của người An Nam” [tr64]

Trang 28

Trên vị trí xà, kèo, cốn đều được chạm trổ rất tinh vi và sinh động vớinhững hình ảnh quen thuộc như long, li, quy, phượng kết hợp với chạm khắchình mây, hoa, lá Riêng rồng với những bầy rồng con (rồng ổ), các nét chạm khi

tỉ mỉ công phu, khi thì mềm mại, khi thì khỏe khoắn, khoáng đạt, có lúc lại rắnrỏi, dữ dằn Cũng là phượng nhưng bên tả thì chạm phượng đơn, bên hữu lại làphượng rậm hoặc bên tả thì long ẩn còn bên hữu thì long chầu nguyệt, phượngbay, trên thân có người cưỡi (tiên cưỡi phượng)

Hệ thống mô típ trang trí được có nghệ nhân tập trung nhiều nhất là tứ quý(mai, điểu, tùng, lộc), hay tứ linh (long, ly, quy, phượng) kết hợp với hoa vănmây, hoa, lá… trên các giá chiêng, kẻ, con rường, câu đầu và nghé kẻ Nếu nhưcác đình khác ở miền trung hiếm có hình tượng con người thì đình Hoành Sơnlại chứa đựng các bức chạm vô cùng hấp dẫn thể hiện cảnh sinh hoạt dân gian vànhững phong tục tập quán, những hoạt động trong ngày lễ hội vô cùng sinh độngtrên các ván nong Các nghệ nhân đã gắn tâm tư tình cảm, những ước mơ vềcuộc sống tươi đẹp trên nhiều chạm khắc gỗ đình Hoành Sơn Cũng như nhiềungôi đình khác, những người thợ ở đình Hoành Sơn đã dồn hết tài năng tâmhuyết của mình thể hiện trên những nét chạm khắc có tính nghệ thuật cao

Hình tượng rồng có rồng cõng chữ Đặc biệt ở đình Hoành Sơn có mảng chạmdài tả những cảnh sinh hoạt sản xuất của nhà nông theo thủ pháp đồng hiện Ở

đó các cảnh đời thường được chạm khắc rất sống động và nghệ thuật: từ cảnh đisăn, đi cấy, đi nơm cá, gánh củi qua cầu , đến sỹ tử đi xem bảng vàng Trên nhiều

vị trí khác, cảnh tiên bồng hay những hình ảnh mang tính phồn thực, thể hiệntình mẫu tử không những của con người mà của loài vật, được các nghệ nhânđưa vào chạm khắc đình làng như nai mẹ và nai con

Đình làng là môi trường sinh thành lễ hội, nơi đây đáp ứng đủ nhu cầu vănhóa của con người, đặc biệt trước năm 1945 thì hội làng là lễ hội sinh động lôicuốn tất cả mọi người vào cuộc Sau hội làng đọng lại trong tâm trí mỗi ngườidân rất nhiều niềm vui, hạnh phúc và cả mơ ước về một cuộc sống tươi đẹp

Trang 29

Chính vì vậy mà đề tài lễ hội ở đình Hoành Sơn có rất nhiều nội dung phongphú, tái hiện lại những hoạt động được diễn ra trong ngày lễ hội như vinh quybái tổ, chèo thuyền trên sông, rước voi, đấu vật, đánh cờ…Điều đặc biệt ở đìnhHoành Sơn là cùng một đề tài nhưng cách thể hiện không giống nhau và được bốtrí đối xứng nhau, ví dụ cũng là “chèo thuyền” nhưng ở xà nách bên trái thì chạmthuyền tĩnh còn ở xà nách bên phải thì chạm khắc thuyền động với nhiều ngườiđang ngồi chèo, hay ở trụ xà nách bên phải thì một con voi với một người quantượng, đối xứng với bức chạm đó là voi ra trận với rất nhiều người Sự phongphú về cách thể hiện một sự vật giống nhau này lí giải là do hai tốp thợ cùngthực hiện một đề tài nên họ bí mật thể hiện theo cách riêng của mình Trên haimươi tư xà nách của đình Hoành Sơn có hai mươi tư bức phù điêu tạo hình trongcác chạm khắc ấy hoàn toàn khác nhau Nếu như các hình tượng về tứ linh, tứquý, hay hoa lá được chạm khắc tỉ mỉ, tinh xảo, thì đề tài con người lại có cáchthể hiện khác, những người thợ đều biết nhấn mạnh trọng tâm chọn những vấn

đề quan trọng nhất để diễn tả, phản ánh, hướng người xem vào nội dung, giảnlược về hình thức Các bức chạm khắc bỏ qua định lật xa gần, những nguyên tắc

về giải phẫu, bố cục, tính hợp lý của hiện thực để tạo ra sự hợp lý của nghệ thuật

do người nghệ sỹ dân gian sáng tạo ra Nghệ thuật của họ được tạo ra từ bản sắccủa người nông dân, khi sáng tạo họ không bị quy chuẩn bởi loại hình nào, trọng

họ đồng thời có hai con người nghệ nhân với kỹ thuật chạm khắc điêu luyện vàngười nghệ sỹ tự do phản ánh cuộc sống xã hội đương thời bằng bất cứ thủ phápnào họ cho là hợp lý… Thể hiện cái nhìn đầy hồn nhiên, hóm hỉnh thể hiện cuộcsống sinh động

Tuỳ từng mức độ chạm khắc, kỹ thuật chạm khắc sẽ nhau khi chạm nổi,lúc chạm thủng, chạm kênh bong, hay chạm lộng, nhưng tất cả đều thể hiện tàinghệ của các nghệ nhân xưa vừa giỏi kiến trúc vừa tài hoa chạm khắc Hình thứcbiểu hiện chắc khỏe và mộc mạc gần gũi chính là lý do để ngôi đình gắn bó với

Trang 30

tâm hồn con người Các phù điêu được chạm khắc trang trí đình làng Hoành Sơn

là biểu tượng độc nhất vô nhị về truyền thống nghệ thuật của ông cha ta

Tiểu kết chương 1

Nội dung chương 1 luận văn tập trung nghiên cứu về tất cả khái niệm:hình tượng, hình tượng con người, chạm khắc, chạm khắc đình làng, hình tượngcon người trong chạm khắc đình làng, tất cả là cơ sở để làm rõ được khái niệmhình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình làng Chương 1 cũnggiới thiệu tổng quan những khái quát về đình Hoành Sơn như: lược sử, khái quátkiến trúc, khái quát nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn là một công trình kiến trúc văn hoá - tín ngưỡng quantrọng của Nam Đàn – Nghệ An ra đời vào thế kỷ 18, thờ vị Thành Hoàng Dùqua nhiều lần trùng tu nhưng ngôi đình còn tương đối nguyên vẹn và có giá trị vềnhiều mặt, như văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh Nghệ thuật kiến trúcđược cấu tạo theo kiểu chồng rường, với các cấu kiện được liên kết với nhau chặtchẽ, tất cả tạo thành một thể thống nhất trọn vẹn và vững chắc Điều làm các nhànghiên cứu quan tâm, không chỉ ở quy mô kiến trúc mà còn ở vẻ đẹp cổ kính củacông trình chủ yếu thông qua nghệ thuật chạm khắc trang trí Yếu tố này làm chongôi đình trở thành một bức tranh chạm khắc gỗ hoành tráng, được tạo tác trênnền của một công trình kiến trúc cổ kính và tao nhã

Trang 31

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NGHỆ

THUẬT CHẠM KHẮC ĐÌNH HOÀNH SƠN

2.1 Hình tượng con người được thể hiện qua nội dung chủ đề nghệ thuật chạm khắc

Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn đượcthể hiện qua chủ đề phong phú về mặt nội dung Những nội dung hình tượng conngười nó phản ánh hiện thực khách quan đời sống của người dân lao động trong

xã hội đương thời, đồng thời phản ánh ước muốn của người dân có được mộtcuộc sống lao động, ấm no, hạnh phúc

Trong đề tài nghiên cứu này tác giả tập trung vào một số hình tượng conngười được thể hiện qua những nội dung chủ đề sau:

2.1.1 Hình tượng con người trong lao động sản xuất

Khi nói đến lao động sản xuất ta hiểu là hoạt động của con người làm racủa cải vật chất để phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt của người dân Trongcuộc sống đời thường của người nông dân,lao động sản xuất là những hoạt độngnhư cấy, cày, gặt, hái, cất vó, giã gạo…Nó là những hoạt động gắn liền với cuộcsống của người nông dân

Ngay từ thời tiền sử trên đất nước Việt Nam, đề tài về lao động sản xuấtcủa con người đã xuất hiện trên các trống đồng, thạp đồng, với những hình ảnhmiêu tả cảnh giã gạo, nhảy múa… của con người thời đó

Trong nghệ thuật chạm khắc đình làng đình Hoành Sơn , đề tài lao độngsản xuất được các nghệ nhân mô phỏng những cảnh tiêu biểu về cuộc sống trongvùng Nam Đàn Chính chức năng của đình làng là nơi hội họp của người dân đãtạo điều kiện cho nghệ thuật chạm khắc phát triển những đề tài gắn liền với đờisống của nhân dân Đề tài lao động sản xuất phản ánh, mô phỏng lại hiện thực

Trang 32

khách quan của người dân lao động như: hình ảnh con người đang cày, cấy, cất

vó, …đó là những hình ảnh của người nông dân bình dị, cần cù lao động trênđồng ruộng

Trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn, hình tượng con người đượcthể hiện qua nội dung lao động sản xuất khá phong phú, mặc dù số lượng bứcchạm không nhiều nhưng nó là bức tranh phản ánh hiện thực cuộc sống củangười dân lao động lúc bấy giờ

Nội dung của bức chạm miêu tả cảnh lao động sản xuất: cấy lúa, càyruộng, giã gạo, người cất vó, đi nơm

Với đề tài cấy lúa: trên bức chạm các nghệ nhân thể hiện cảnh hai ngườiphụ nữ đang cấy lúa đầu đội nón, dáng người động đang cúi xuống để cấy, quầnđược xăn lên quá đầu gối ống tay cũng được xăn lên cao, động tác cấy của hainhân vật có sự khác nhau, mạ được các nghệ nhân chạm khắc lớn, tạo thành khốichắc khỏe, phía dưới nghệ nhân mô tả bùn hòa quyện với sóng nước nhằm thểhiện ruộng đồng no nước hứa hẹn một mùa bội thu Bức chạm mặc dù nội dunglao động chỉ có hai người thể hiện nhưng nó cũng toát lên cảnh hăng say laođộng của những con người nông dân bình dị, thể hiện cuộc sống thanh bình ấm

no hạnh phúc của người dân ( H1.1, H1.3 )

Với đề tài cày ruộng: các nghệ nhân đã chạm một người đàn ông khỏemạnh, đầu đội mũ rộng vành, hướng người tiến thẳng về phía trước, dáng ngườiđộng thể hiện tinh thần tập trung làm việc Một con trâu to lớn, mập mạp đangrướn mình kéo cày, bước chân chắc khỏe Lưỡi cày cắm sâu vào mặt đất, bùn vànước đang cuộn ở phía luỡi cày Bức chạm nhằm thể hiện tinh thần lao độngtăng gia sản xuất, cày ruộng với ước vọng cuộc sống sung túc, no đủ ( H1.2.)

Với đề tài giã gạo: ở góc của bức chạm, các nghệ nhân đã miêu tả mộtngười phụ nữ đang giã gạo, dáng người to khỏe đang cong mình lấy lực dồn vàochân đặt lên cối để giã gạo Phía trước là một khối hình chắc chắn miêu tả ngôinhà, mái nhà cong vút, cánh cửa đang mở ( H1.3.)

Trang 33

Với đề tài cất vó: Các nghệ nhân đã miêu tả một người nông dân đang cất

vó Vó được cất lên cao so với mặt nước để lộ toàn bộ hình dáng của vó Phầnlưới vó tác giả tạo hình cong lớn tạo cho người xem có cảm giác vó vừa cất lênrất nặng, thu hoạch được nhiều sản phẩm Phía dưới là những hình vòng cungnhiều đường nét tạo thành sóng nước đang nhấp nhô lớp trước lớp sau, trông rấtđộng ( H.1.4.)

Với đề tài đi nơm: các nghệ nhân đã thể hiện một người đang cúi mìnhnơm cá Dáng người cong đổ mình về phía trước, tay đang giữ chặt nơm, quầnxắn lên cao Chiếc nơm được cắm chặt xuống mặt nước, một tay giữ chặt nơm,một tay đang thò vào nơm bắt cá Phía dưới là mặt nước với nhiều sóng nước tạocảm giác rất động (H.1.4.)

Những đề tài lao động sản xuất trên được các nghệ nhân gói gọn trong mộtbức chạm dài, mỗi nội dung được tác giả phân chia ranh giới bằng cách giữa cácnội dung các nghệ nhân thêm một cây cổ thụ lớn trang trí những đám lá rũxuống Tất cả những nội dung lao động sản xuất được thể hiện qua hình tượngcon người trong chạm khắc đình Hoành Sơn như: đi cấy lúa, đi cày, giã gạo, cất

vó, nơm cá… Đều thể hiện, mô phỏng, phản ánh lại cuộc sống lao động thườngngày của người dân miền trung Đồng thời nói lên ước vọng mong muốn về cuộcsống thanh bình, êm ấm , tươi vui, hạnh phúc đủ đầy của người dân lao động

2.1.2 Hình tượng con người trong đời sống sinh hoạt

Trong nghệ thuật chạm khắc hình tượng con người đình Hoành Sơnkhông có cảnh sinh hoạt thường nhật như: mẹ bế con, thôn nữ hồn nhiên tắm,trai gái đùa nhau….như ở các đình làng đồng bằng Bắc Bộ Nhưng trong đình lại

có cảnh sinh hoạt nhằm ca ngợi, thúc đẩy sự học hành, sản sinh ra nhiều nhân tài

để giúp dân giúp nước, như đề tài: vinh quy bãi tổ và đề tài thi võ, cưỡi voi

Vị trí của những bức chạm có nội dung sinh hoạt được các nghệ nhân thểhiện trên các ván cốn vì nách của ngôi đình

Trang 34

Nội dung của những bức chạm thể hiện cảnh không khí long trọng củađoàn người rước vị tiến sỹ về bãi tổ tiên, không khí cuộc thi võ để tìm ra võ sỹnào giỏi nhất.

Với đề tài vinh quy bãi tổ: bước vào đình Hoành Sơn, ngay phía gian bêncửa võng ở trên ván bưng phía bên phải là bức chạm “ Vinh quy bái tổ”(H1.9,H1.10, H1.11) Bức chạm với diện tích không lớn nhưng đã thể hiện được khôngkhí long trọng, náo nhiệt thể hiện cảnh sinh hoạt không thường xuyên của ngườidân địa phương Phía trước là bốn người đang khiêng tấm “sắc phong” của Vuatrao, bên cạnh là hai người đang khiêng trống, vác chiêng, tiếp sau đó là quânlính đang dương cao ô, lọng, bên cạnh trạng nguyên có người cưỡi ngựa đi cùng

và nhiều người dân ra nghênh đón, hai tay đang chắp lại hướng về phia quanTrạng với thái độ rất cung kính

Để làm nổi bật sự náo nhiệt của đám rước, người nghệ nhân đã bất chấpyêu cầu về tính hợp lý của hiện thực để làm nổi bật trọng tâm của đề tài Cácnghệ nhân đã cho chúng ta thấy rõ sự hồ hởi trên từng khuôn mặt Tấm “sắcphong” Vua ban và những người tham gia đám rước thì được nhìn từ trên xuống,nhưng hình ảnh ông Trạng ngồi trong kiệu lại được chạm theo góc nhìn ngang

Sự sắp xếp như thế hoàn toàn là do dụng ý của tác giả: bẳng sắc phong phải nhìn

từ trên xuống mới thấy rõ và cũng nhìn từ trên xuống chúng ta mới quan sát hếtđược sự hồ hởi của những người tham gia đám rước Với góc nhìn ngang chúng

ta thấy rõ hình ảnh quan Trạng mũ áo chỉnh tề ngồi hơi ngả về phía sau, tay gáctrên thành kiệu, tâm trạng tự hào và niềm vui của người đỗ đạt Ông đang bồnchồn và nóng lòng chờ đợi sớm về nhà để bái tổ tiên và gặp lại người thân saunhững ngày đèn sách xa quê Chính góc nhìn ngang như thế cho chúng ta thấyđược nụ cười của quan trạng và quan sát rõ dòng chữ “vinh quy bái tổ” trên kiệu.Nếu như ở bức chạm này tác giả chỉ nhìn từ một điểm từ trên xuống thì mái củakiệu sẽ che mất quan trạng và chúng ta sẽ không đọc được dòng chữ bên kiệu

Trang 35

Vinh quy bãi tổ là cảnh sinh hoạt gắn với địa phương của vùng đất NamĐàn, bởi vùng đất Nghệ An đặc biệt là vùng đất Nam Đàn đã có rất nhiều ngườithành đạt trong thi cử như: Nguyễn Thiện Chương, Nguyễn Đức Đạt, Tạ HoàngBửu…nên đề tài vinh quy bãi tổ phản ánh đúng cảnh sinh hoạt của người dân địaphương.

Với đề tài thi võ: trên ván bưng gian bên phải là bức chạm miêu tả cảnhthi võ (H 1.13, H1.14) Trong bức chạm diễn tả lại một buổi thi võ, hình ảnhchính là hai võ sỹ đang ngồi trên lưng ngựa tay cầm đao thi đấu đối kháng Phíabên phải trong đình làng là những người có chức sắc, áo mũ chỉnh tề - họ chính

là người cầm cân nảy mực cho trận đấu Một người là quan sát viên, một người

là trọng tài, đang bàn luận về trận đấu, còn một người đang đánh trống để tăngthêm không khí náo nhiệt cho ngày hội, đồng thời cũng là đánh những hồi trống

để thúc dục tinh thần các võ sỹ

Bằng kỹ thuật chạm nông hình ảnh hai võ sỹ ngồi trên hai con ngựa là hainhân vật chính Cả hai con ngựa đều được người nghệ sỹ miêu tả trong tư thếdũng mãnh nhất Con ngựa bên phải cả hai chân trước và hai chân sau đều duỗithẳng hết cỡ để phi nước đại Con ngựa đối diện đang thu cả hai chân vào trong

để phi về phía đối thủ, “song mã” đây cũng là hai tư thế điển hình nhất của conngựa chiến đã được tác giả khắc họa vào bức chạm Hai võ sỹ ngồi trên lưngngựa đầu chịt khăn, bên trong mặc áo giáp, vai choàng khăn bào Người bên phảitay cầm đao hất trên đầu chuẩn bị ra đòn tấn công đối phương Còn võ sỹ bêntrái thì tay trái cầm dây cương, tay phải đang đưa đao ngang tầm cổ để phòngthủ Một người ra đòn tấn công còn người kia phòng thủ chính là điểm cao tràonhất của hồi đánh để các võ sỹ ghi điểm Gương mặt của hai người thể hiện sựtập trung cao độ vào trận đấu, để tránh sự sơ suất dù là nhỏ nhất Hai tà áo bàocủa hai võ sỹ bay thẳng ra phía sau chứng tỏ hai con ngựa đều phi rất nhanh vàmạnh, qua đó người xem thấy rõ tốc độ di chuyển của chúng, cảm nhận đượcyếu tố động trong bức chạm Con ngựa cũng được tác giả trang trí rất đẹp bởi

Trang 36

những hạt lục lạc trên cổ Lưng ngựa có tấm vải phủ từ trên xuống ôm sát vàothân vừa có chức năng bảo vệ, vừa làm đẹp cho nó.

Với chủ đề cưỡi voi : Voi còn được biết đến với sức mạnh của chúng trongchiến tranh và cũng là con vật gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của dân cư bảnđịa Hình tượng con voi là một đề tài thường xuất hiện trong các tổ hợp kiến trúcđền chùa của người Việt Tại đình Hoành Sơn các nghệ nhân đã sử dụng hìnhtượng con voi kết hợp với hình tượng con người nhằm thể hiện sức mạnh củadân tộc trong chiến tranh Mong ước hòa bình và tinh thần chiến đấu bất khuấtcủa dân tộc.Cùng một đề tài voi ra trận nhưng cũng có hai cách thể hiện khácnhau và bố cục cũng đối xứng nhau Ở xà nách bên trái diễn tả voi chuẩn bị ratrận, trên đó chỉ chạm khắc một vị tướng đang cưỡi trên lưng voi và một ngườilính đang cầm lọng đi bên cạnh (H1.17) Xà nách bên phải của gian đối diện tảvoi ra trận không chỉ có vị tướng đang ngồi trên lưng voi mà còn có cả một tốplính với vũ khí trong tay đi theo sau H1.16)

Mặc dù cảnh sinh hoạt của người dân không diễn ra hàng ngày, thườngxuyên, nhưng Nghệ An là vùng đất hiếu học có nhiều người đỗ đạt khi đi thikhoa bảng cao, đóng góp cho đất nước không ít người tài giỏi qua các khoa thihương, thi hội Chính vì vậy, mỗi lần có người đỗ đạt cao, nó trở thành niềm vuichung của gia đình làng xã Do đó đề tài sinh hoạt vinh quy bái tổ, thi võ đượccác nghệ nhân chạm khắc nhằm đề cao sự học hành, đỗ đạt khoa cử của nhữngngười con hiếu học Đồng thời mong muốn cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnhphúc

2.1.3 Hình tượng con người trong hoạt động vui chơi giải trí

Trong nghệ thuật chạm khắc đình làng, những ước mơ về cuộc sống bìnhyên hạnh phúc giản dị của người dân Việt còn được thể hiện rõ nét qua nhiều đềtài chạm khắc Đình Hoành Sơn có rất nhiều nội dung phong phú, tái hiện lạinhững hoạt động vui chơi giải trí của người dân được diễn ra trong ngày lễ hội

Trang 37

như: đua thuyền, đánh cờ….Nhằm phản ánh xã hội và ước mơ cao đẹp về cuộcsống bình yên của người dân.

Với chủ đề đánh cờ: Lễ hội là nơi tất cả mọi người gửi gắm tâm tư tìnhcảm nguyện vọng của mình, là sự tham gia của cả các tầng lớp trong xã hội.Trong lễ hội có rất nhiều trò chơi diễn ra, với người nông dân đánh cờ là một tròchơi trí tuệ rèn luyện sự nhanh nhẹn và trí thông minh để vận dụng vào cuộcsống Với tầng lớp quyền quý, đánh cờ như là một thú vui, một trò chơi mangtính chất tiêu khiển tao nhã Vì vậy đánh cờ thu hút rất đông đảo các tầng lớptrong xã hội

Bức chạm đặc sắc được nhiều người chú ý là bức “ đánh cờ” (H1.8) nằmtrên ván cốn vì nóc bên trái của đình Bức chạm khắc miêu tả sự gay go quyếtliệt của ván cờ lúc gần tàn cuộc Bàn cờ được tác giả đặt điểm nhìn chính diện từtrên xuống, do đó người nhìn rất rõ thế cờ với các quân còn lại trên bàn cờ rất ít,chứng tỏ ván cờ đã sắp hồi kết thúc Cái hòm đựng đồ cũng được diễn tả theođiểm nhìn từ trên xuống nên nhìn thấy rõ ba mặt của hòm Những người thamgia trong ván cờ được miêu tả ở góc nhìn ngang, nên ta thấy rất rõ diễn biến tâm

lý của từng nhân vật Bố cục của bức chạm rất cân đối và chặt chẽ với bảy nhânvật, trong đó có năm người được miêu tả chi tiết hơn: Một trọng tài, hai đối thủcùng hai người quân sư, hai nhân vật phụ là hai người hầu ở hai bên được thểhiện đơn giản Nhân vật chính của ván cờ là nhân vật ngồi bên phải trong thếthắng Anh ta ngồi trong thư thế vô cùng thoải mái, người hơi đổ về phía trước

để thẳng tay đẩy quân cờ, mặt hơi ngẩng lên có vẻ đắc thắng Còn nhân vật đốidiện ngồi phía bên trái đã bị mất nhiều quân do đó đang lưỡng lự nên đi nước cờnhư thế nào Vì tâm lý nên anh ta cầm que gãi lưng – vừa đánh vừa gãi để suynghĩ cho nước cờ chuẩn bị đi, sự căng thẳng bộc lộ trên khuôn mặt của anh ta.Người ngồi phía sau chính giữa bàn cờ là trọng tài của ván cờ, anh ta không ủng

hộ ai một tay chống xuống cờ, tay kia gác lên đầu gối mặt đang cúi xuống theodõi rất sát ván cờ

Trang 38

Với chủ đề đua thuyền: Đua thuyền là một môn thể thao dân gian có từ lâuđời, không thể thiếu được trong các kỳ lễ hội ở Việt Nam nói chung và Nam đànnói riêng Lễ hội đua thuyền thu hút được rất nhiều người tham gia, mọi ngườitập trung hết cả hai bên sông để reo hò, cổ vũ… làm náo nhiệt cả một vùng sôngnước Đua thuyền ở các lễ hội ngoài việc rền luyện sức khỏe cho người dân vùngsông nước, còn là dịp chọn ra những tay đua cừ khôi Đua thuyền đã trở thànhmột trong những môn thể thao không thể thiếu trong các lễ hội người dân vùngsông nước.Vì vậy lễ hội đua thuyền được chạm khắc rất nhiều ở các đình làng.

Đình Hoành Sơn có một điều đặc biệt hơn các đình khác là cùng một đềtài “đua thuyền” nhưng có hai cách thể hiện khác nhau Ở đình Hoành Sơn, trênván cốn xà nách bên trái chạm khắc duy nhất một con thuyền trong tư thế tĩnh(H1.7) và một người ngồi phía đầu thuyền Đối xứng với bức chạm đó, trên xànách bên phải là bức chạm thuyền động (H1.6) – khi đã bước vào cuộc đua Trênthuyền gồm tất cả bảy người, trong đó có năm người đua, một người chỉ huyngồi phía sau và một người đánh trống ngồi phía trước Năm chàng trai là nhânvật chính của cuộc đua, vì vậy được nghệ nhân mô tả rất kỹ Họ là những chàngtrai khỏe mạnh, cường tráng, vạm vỡ, tóc búi mình trần, đóng khố đang choãichân, vặn mình, đứng nghiêng nghiên nhoài mình dồn hết sức vào bắp tay chắckhỏe quạt mái chèo thật sâu, thật mạnh trong nước Phía trước là một ngườiđộng viên phồng má thổi kèn, phía sau là một người đánh trống theo từng nhịpchèo Tất cả những chi tiết đó đó đều được thể hiện trên cốn hình chữ nhật, trọnvẹn trong một bức tranh đua thuyền ở lễ hội làng

Bức chạm “đua thuyền” có ý nghĩa quan trọng đối với cư dân Nam Đànsống bên dòng sông Lam Cuộc sống của họ gắn liền với sông nước nên lễ hội”đua thuyền” càng có ý nghĩa linh thiêng và trang trọng Sau lễ hội sẽ mang đếncho họ cuộc sống may mắn mưa thuận gió hòa, dòng sông yên bình, làm ănthuận lợi

Trang 39

Đình Hoành Sơn là một kiến trúc điển hình về mỹ thuật Nghệ thuật chạmkhắc trên kiến trúc biểu hiện bước quá độ của nghệ thuật trang trí dân gian, cuốithế kỷ 17 sang thế kỷ 18 Nếu trong thế kỷ 17 điêu khắc đình làng trang trí hoạtcảnh dân gian là phổ biến bới tích truyện là thứ yếu thì tại đình Hoành Sơn cácyếu tố này dường như cân bằng, nó hàm chứa sự kế thừa, sáng tạo đồng thờicũng phản ánh nhiều nét về lịch sử và xã hội đương thời.

2.2 Hình tượng con người được thể hiện qua hình thức nghệ thuật chạm khắc

2.2.1 Hình tượng con người thể hiện qua hình khối

Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc gỗ đình Hoành Sơn vềmặt hình khối nó được thể hiện rất rõ ràng, phong phú và có tính biểu hiện Khối

ở đây được các nghệ nhân thể hiện đơn giản, cô đọng nhưng rất tinh tế Sự côđọng được thể hiện ở các khối đơn giản quy vào hình vuông, hình chữ nhật, hìnhnón… nhưng vẫn tạo được hiệu quả hình ảnh của nhân vật Tác giả với cách tạokhối đa dạng thì tác phẩm sẽ có chất biểu cảm mạnh mẽ hơn Tóm lại, ngườinghệ sỹ phải biết chiến thắng sự cơ bản của khối và thổi vào khối một chất cảm,một linh hồn bằng cách làm cho khối đó có sự kết hợp sinh động

Hình tượng con người trong chạm khắc đình Hoành Sơn thông qua nghệthuật tạo khối nó có những đặc điểm như sau: khối cứng, khối mềm, có khốinhẵn phẳng, có khối thô ráp…tạo cho chất cảm cũng như làm rõ tính biểu hiệncủa hình khối thông qua hình tượng con người

Khối cứng là những khối được tạo nên bởi những hình, mảng có cạnh lànhững đoạn thẳng Hình tượng con người được thể hiện qua khối cứng trongnghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn rõ nhất là ở bức “đua thuyền” (H.18).Nhìn vào bức chạm ta thấy các nghệ nhân đã sử dụng những mẳng có nhữngcạnh là đường thẳng như cột thuyền, mái chèo, cạnh của chiếc thuyền Tất cảnhững đường thẳng kỷ hà đó tạo cho bức chạm một cảm giác yên tĩnh như cuộcđua thuyền vừa kết thúc Trên thuyền còn duy nhất một người đang ngồi Ngoài

ra ở bức chạm “ đua thuyền” (H.17) các nghệ nhân dân gian cũng tập trung khai

Trang 40

thác khối tĩnh ở các vị trí trên cạnh thuyền, mái chèo, cột thuyền và ở các vị trítrên cơ thể của những chàng trai đua thuyền như khối ở vị trí cánh tay, chân Tạocho kết quả khối ở đây thô ráp, chắc khỏe nhằm nói lên sức mạnh của nhữngchàng trai đua thuyền.

Sự kết hợp giữa khối nằm ngang để tạo thành chiếc thuyền và khối hìnhtrụ đứng làm các cột thuyền đã tạo nên chắc chắn về cấu trúc thuyền đồng thờilàm nổi bật lên hình dáng động của người đang chèo thuyền

Bằng thủ pháp nghệ thuật cường điệu trong cách tả khối, trên bức chạm

“đua thuyền” tác giả đã tạo những khối căng tròn và chắc nịch ở cánh tay, đùi,tấm lưng trần vạm vỡ, ngực nở nang để thể hiện những chàng trai đua thuyềnkhỏe mạnh, cường tráng Bởi vậy những chàng trai đua thuyền nổi bật hơn vàgây được ấn tượng đối với người xem Chính thủ pháp “ cường điệu” làm hìnhảnh những chàng trai đua thuyền trở nên dí dỏm và vui vẻ hơn Các chàng traivới những đôi bàn tay rắn rỏi và chắc khỏe đang nắm lấy mái chèo và phối hợpvới nhau rất nhịp nhàng

Bố cục trong bức chạm vô cùng chặt chẽ, dáng của những người chèothuyền và các mái chèo tạo thành những đường chéo song song trong bức chạm

Để phá thế đó tác giả đã tạo những đường song song khác – các cột chống máichèo theo hướng thẳng đứng từ mạn thuyền lên Chính cách bố cục như thế đãtạo cho người xem thấy rõ sự kết hợp nhịp nhàng của những chàng trai khi chèothuyền và sự bứt phá để về đích sớm nhất

Chiếc thuyền được trang trí rất cầu kỳ, công phu, đầu và đuôi của thuyềnđược chạm khắc hình rồng, phía trên mái thuyền được treo rất nhiều cờ hội vớinhững đường chạm uốn lượn mềm mại như đang bay trong gió, làm cho khôngkhí của lễ hội đua thuyền trở nên tưng bừng hơn

Hình sóng nước cũng là yếu tố trang trí, vì vậy được tác giả chạm khắc rấttinh tế, những con sóng cũng rất nhịp nhàng có lớp trước lớp sau Ở giữa dongười tay chèo khỏe hơn nên sóng nước tung bọt bắn vào mạn thuyền, làm cho

Ngày đăng: 07/06/2021, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w