Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn được thể hiện qua nét rất đa dạng và phong phú. Có những hình tượng con người sử dụng nét khúc chiết, chắc khỏe, cứng cáp sắc cạnh, nhưng cũng có những hình tượng con người các nghệ nhân sử dụng nét mềm mại, uyển chuyển, có chỗ sử dụng ít nét, chỗ nhiều nét để miêu tả đặc điểm nhân vật.
Băng kỹ thuật chạm nông, nét khúc chiết, chắc khỏe, cứng cáp được các nghệ nhân khai thác ở đề tài đua thuyền. Như ta đã nói, nét là ranh giới, đường bao quanh của khối. Khối ở bức chạm chèo thuyền là khối tĩnh, sử dụng nhiều đường thẳng hơn đường cong, do đó đường bao quanh của khối đó chính là nét, nét thẳng tạo kết quả chắc khỏe, đanh, khúc chiết, thể hiện ở mái chèo, thuyền và trên bộ phận cơ thể các chàng trai. Sử dụng nét cứng cáp ở đề tài đua thuyền tạo
cho người xem cảm giác đây là cuộc đua gay go quyết liệt, các vận động viên khỏe mạnh, chắc nịch đang cố hết sức ngả mình về phía trước để vung mái chèo.
Ngoài ra nét chắc khỏe, cứng cáp, sắc cạnh còn thể hiện ở đề tài thi võ.
Như ta đã phân tích ở trên, bức chạm thi võ sử dụng khối tĩnh, sử dụng những hình khối cứng như trang phục người võ sỹ, hay là mái nhà, đao kiếm…Do đó nét ở đây cũng gãy góc, cứng cáp và khúc chiết. Tất cả để làm nổi rõ nội dung bức chạm là thi võ, cần đến sức mạnh và sự khéo léo. Ngoài nét viền hình của nhân vật, các nghệ nhân còn sử dụng các nét đứt đoạn để tả các nếp gấp quần áo, có chỗ nét giày chỗ nét thưa tạo điểm nhấn cho bức chạm. Nét đứt đoạn được tập trung vào hai nhân vật thi đấu cầm đao kiếm cưỡi ngựa, nên khi nhìn vào toàn thể bức chạm mắt của chúng ta sẽ tập trung vào hai nhân vật đó và ta hiểu rằng đó là hai nhân vật thi đấu chính.
Sự khác biệt của nét thông qua hình tượng con người trong nghệ thật chạm khắc đình Hoành Sơn nó khác với nét của hình tượng con người trong đình Hoàng Xá ở thế kỷ 17. Trong bức chạm “đấu vật” (H2.5) của đình Hoàng Xá, nét ở đây động, cong, lu, êm không gãy góc, đanh, cố gắng dùng nét để tả mắt mũi thì trong bức chạm “thi võ” của đình Hoành Sơn nét lại đanh, gãy góc nhiều, gồ ghề, sắc cạnh, có sử dụng những nét đứt để miêu tả hình dáng nhân vật.
Bên cạnh những nét chắc khỏe, cứng cáp thì các nghệ nhân còn sử dụng những nét mềm mại, uyển chuyển, nhẹ nhàng để thể hiện thông qua nhân vật.
Hình tượng con người trên các mảng chạm khắc với các đề tài như vinh quy bãi tổ, cấy lúa, giã gạo, đánh cờ nét chạm hết sức tỉ mỉ, mềm mại. Ở đây hầu hết được chạm với kỹ thuật chạm nông khiến nét chạm thanh mảng làm tăng thêm vẻ mềm mại trau chuốt cho các bức chạm. các nét chạm đều nhau nhưng nhờ vào sự thay đổi mảng miếng, khoảng trống khiến cho các hình chạm khắc ở đây sống động, không nhàm chán.
Sự mềm mại, uyển chuyển của nét được thể hiện trong hình tượng con người đang đánh cờ rất rõ ở đình Hoành Sơn. Khối của hình tượng con người ở đây là khối động, sử dụng rất nhiều khối tròn, đường cong chính vì thế nét là đường viền ở đây cũng cong, tạo nên cảm giác động cho nhân vật. Các mảng tiếp giáp với nhau không gãy góc, không cứng khỏe mà nó chỉ còn lại những đường viền mảnh mai, cong, mềm mại. Nét vòng cung, đứt đoạn được các nghệ nhân tập trung vào trang phục tạo ra tầng tầng lớp lớp nếp gấp quần áo đan ven nhau, có lớp trước lớp sau.
Nét cong uốn lượn theo đường vòng của khối còn được thể hiện qua trang phục, hình dáng con người trong bức chạm vinh quy bái tổ. nét ở đây cũng là nét động, không gãy góc, cứng ráp, sắc cạnh. Bằng những nhát đục, chạm khắc trên mặt gỗ nét ở đây được các nghệ nhân trau chuốt tỉ mỉ, mượt mà tạo nên sự mềm mại, nhẹ nhàng cho hình tượng con người.
Ngoài ra các hình tượng trang trí khác như sóng nước, lá cờ hội, con rồng trang trí trên thuyền đua hay là những khóm lá rũ xuống… các nghệ nhân cũng sử dụng đường nét mềm, mảnh để tạo thành hình nằm trên các khối lớn nhằm tôn thêm vẻ đẹp của hình tượng con người và làm cho bố cục thêm chắc chắn.
Sự biến đổi của nét và hình khối thêm phong phú và đa dạng. không gian thêm sống động nhờ vào ánh sáng tự nhiên. Sự tác động của ánh sáng đã làm cho đường nét biến đổi có hồn, nét thanh, nét đậm . nét rắn rỏi, khúc chiết, nhẹ nhàng, khối tĩnh, khối động, khối lồi khối lõm…thay đổi liên tục theo ánh sáng.
Điều đó làm cho hình tượng con người trở nên sống động hơn, chất cảm trong đương nét, hình khối trở nên rõ hơn khi ta nhìn vào.
Nét cong được các nghệ nhân sử dụng rất nhiều trong chạm khắc đình Hoành Sơn. Đó cũng là nét đặc rắc riêng của nghệ thuật chạm khắc của đình ở thế kỷ 18. Nếu như nét ở các bức chạm đình làng thế kỷ17 ít khi gọt dũa, nhát chạm con thô nhám với mảng miếng rõ ràng như ở bức chạm “đánh cờ “ ở đình Hạ Hiệp, nhát chạm chắc khỏe, nét thô kết hợp với chạm kênh bong khiến cho
bức chạm có chiều sâu. Thì “ đánh cờ “ ở đình Hoành Sơn thì ngược lại, nét chạm mềm, trau chuốt, chuyển động theo chiều hướng xoáy.
Cũng giống như nét ở hình tượng con người trong đình Hoành Sơn, nét ở hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc đình Trung Cần cũng được các nghệ nhân thể hiện mềm mại và uyển chuyển .Bằng kỹ thuật chạm nông, bức chạm “ đánh cờ” ở trong đình Trung cần các nghệ nhân sử dụng rất nhiều nét động, tập trung vào hình tròn của đầu, diễn tả khối căng tròn của bụng và các nếp gấp của quần áo. Nét không sắc cạnh, trau chuốt gọn gàng, hướng ngồi của các dáng người xoay theo vòng chuyển động.