Đồng thời, đi sâu phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam được thể hiện thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam cũng như việc bảo vệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯƠNG XUÂN TRƯỜNG
B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI B»NG
C¸C CHÕ §ÞNH VÒ CHÊP HµNH H×NH PH¹T
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lương Xuân Trường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của quyền con người 8
1.1.1 Khái niệm quyền con người 8
1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của quyền con người 16
1.2 Nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt 20
1.2.1 Bảo vệ quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt 20
1.2.2 Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm mức hình phạt đã tuyên 22
1.2.3 Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt 26
1.2.4 Bảo vệ quyền con người bằng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù 29
1.2.5 Bảo vệ quyền con người bằng chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 32
1.2.6 Bảo vệ quyền con người bằng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện 34
1.3 Vai trò của các chế định về chấp hành hình phạt đối với việc bảo vệ các quyền con người 39
Kết luận chương 1 42
Trang 5Chương 2: CÁC VĂN BẢN QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN VÀ
THỰC TRẠNG CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT 43 2.1 Các văn bản quốc tế về nhân quyền trong lĩnh vực tư pháp
hình sự 43
2.1.1 Khái quát các văn bản quốc tế về nhân quyền trong lĩnh vực tư
pháp hình sự 43 2.1.2 Phân tích một số văn bản quốc tế cơ bản về quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp hình sự 46
2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên
quan đến các chế định về chấp hành hình phạt 54
2.2.1 Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ Luật hình sự 1985 55 2.2.2 Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ Luật hình sự 1999 56 2.2.3 Các chế định về chấp hành hình phạt trong Bộ luật hình sự
năm 2015 62
Kết luận chương 2 70
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY
PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG HƠN NỮA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 71 3.1 Sự cần thiết hoàn thiện các quy phạm liên quan đến các chế
định về chấp hành hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng tăng cường việc bảo vệ quyền con người 72
3.1.1 Về mặt chính trị - xã hội 72 3.1.2 Về mặt thực tiễn 75
Trang 63.1.3 Về mặt lý luận và lập pháp hình sự 77
3.2 Nội dung hoàn thiện 78
3.2.1 Chế định miễn chấp hành hình phạt 78
3.2.2 Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên 82
3.2.3 Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt 85
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một nhà nước tiến bộ là nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng tới việc bảo đảm các quyền và lợi ích của con người, hạnh phúc của con người là thước đo mọi giá trị của cuộc sống Một nhà nước dân chủ, tiến bộ luôn là cái đích mà tất cả các nhà nước trên thế giới đều mong muốn có được
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác
định rõ và quy định ngay tại Điều 3 về Nhà nước có trách nhiệm “công nhận,
tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” và đưa “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành một chương, đặt
ngay sau Chương I về chế độ chính trị Nội dung của các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các điều khác của Hiến pháp năm 2013 phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người
mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền con người về chính trị, dân
sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 của Liên hợp quốc Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết mang tính hiến định của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc tế về trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam, điều đó thể hiện vị trí của con người ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng với mức độ ngày càng tinh vi, diễn biến phức tạp, nguy hiểm cho xã hội Ngoài việc thực hiện đồng loạt các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn thì pháp luật là công cụ hữu hiệu để hạn chế sự phát triển của tội phạm Việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vừa góp phần bảo đảm yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, vừa tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật
Trang 8Bên cạnh việc nghiêm trị đối với người phạm tội, pháp luật hình sự còn thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng, được thể hiện thông qua nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và Bộ luật hình sự, Luật thi hành án hình
sự Việt Nam nói riêng Tuy nhiên trên thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án hình sự, vấn đề tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người có nơi, có lúc còn chưa được đề cao Xuất phát từ những trăn trở, băn khoăn đó đã
thôi thúc tôi bắt tay vào nghiên cứu đề tài “Bảo vệ quyền con người bằng các
chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về vấn đề quyền con người không phải là mới nhưng luôn có tính thời sự Gần 70 năm trước đây đã có Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (Tuyên ngôn) của Liên hợp quốc nhưng không phải quốc gia nào cũng tham gia, công nhận và thực hiện Việt Nam là một trong những quốc gia đã ghi nhận và từng bước thực hiện có hiệu quả Tuyên ngôn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư pháp hình sự
Việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định bảo vệ quyền con người đã được nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài nghiên cứu dưới nhiều hình thức, cụ thể như sau:
Một là, sách chuyên khảo về quyền con người nói chung
1) GS TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh
Tùng (đồng chủ biên), Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2009; 2) PGS TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người,
quyền công dân trong Hiến pháp, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2005; 3) GS
TS Trần Ngọc Đường, Bàn về quyền con người, quyền công dân, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội 2004; 4) Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung
tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Luật Nhân quyền quốc
tế những vấn đề liên quan, NXB Lao động xã hội Hà Nội 2011; 5) GS TS
Trang 9Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo dục quyền con người -Những vấn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội Hà Nội 2010;
Hai là, sách chuyên khảo về quyền con người trong lĩnh vực tư
pháp hình sự:
1) GS TSKH Lê Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây
dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2009; 2) PGS.TS
Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên), Sách chuyên khảo: Quyền con người trong lĩnh
vực tư pháp hình sự, NXB Hồng Đức 2015; 3) Tòa án nhân dân tối cao - Vụ
hợp tác Quốc tế, Quyền con người trong thi hành công lý, NXB Lao động -Xã hội Hà Nội 2010; 4) Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong Luật
hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2004;
Ba là, các bài báo khoa học về lĩnh vực bảo vệ quyền con người
1) GS TSKH Lê Văn Cảm, Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm
hình sự - Một yếu tố cơ bản và quan trọng nhất trong việc bảo vệ con người bằng pháp luật hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân, số 2/1990; 2) GS TSKH
Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân (Số 12/2006, tr.7-13;
Số 13/2006, tr.8-17; Số 14/2006, tr.4-12); 3) PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Bảo
vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học, Đại
học Quốc gia Hà Nội, số 23/2007, tr.64-80; 4) TS Nguyễn Quang Hiền, Bảo
vệ quyền con người của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 13/2011, tr.4-11; 5) TS Nguyễn Quang Hiền, Bảo vệ
quyền con người của người bị buộc tội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện
Nhà nước và Pháp luật, Số 1/2010, tr.75-81; 6) Nguyễn Hữu Hậu, Bảo đảm
quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát, Tạp chí Kiểm sát số 12/2015, tr.40-48; 7) Trần Văn Hội, Kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự với vai trò bảo đảm
Trang 10Bốn là, nghiên cứu dưới hình thức luận văn:
1) Giáp Mạnh Huy, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các
quyền con người bằng pháp luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội 2014; 2) Nguyễn Văn Luận, Việt Nam và vấn đề bảo vệ quyền con
người, Trường Đại học Luật Hà Nội 2001; 3) Phùng Thanh Mai, Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội 2014; 4) Tống Đức Thảo, Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con người ở nước ta hiện nay, Trường đại
học Luật Hà Nội 2001;
Thực tế cho thấy, các kết quả nghiên cứu về quyền con người dưới các hình thức nêu trên, chủ yếu tập trung vào những vấn đề chung về quyền con người (quyền dân sự, chính trị, văn hóa xã hội…) hoặc nghiên cứu trong một lĩnh vực rộng (quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự, trong đấu tranh chống tội phạm…) Trên thực tế dưới góc độ luận văn thạc sỹ luật học
cho tới thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về Bảo vệ quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu làm
luận văn thạc sĩ luật học
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ khái niệm, các đặc điểm quyền cơ bản của con người được bảo
vệ thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Đồng thời, đi sâu phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam được thể hiện thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam cũng như việc bảo vệ quyền con người thông qua các chế định sau: 1) Miễn chấp hành hình phạt; 2) Giảm mức hình phạt đã tuyên; 3) Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; 4) Hoãn chấp hành hình phạt tù; 5) Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 6) Tha tù trước thời hạn có
Trang 11nhập quốc tế và thực tiễn bảo vệ pháp luật ở nước ta để đưa ra những đề xuất, giải pháp bảo đảm thực hiện, góp phần hoàn thiện các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam theo hướng tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền con người
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn xoay quanh vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình
sự Việt Nam, cụ thể là: 1) Chế định miễn chấp hành hình phạt; 2) Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên; 3) Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; 4) Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù; 5) Chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 6) Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền con người trong pháp luật hình sự nói chung và các quy phạm của pháp luật hình sự Việt Nam qua 06 chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, bao gồm: 1) Chế định miễn chấp hành hình phạt; 2) Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên; 3) Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; 4) Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù; 5) Chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 6) Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện Luận văn
đi sâu nghiên cứu sự bảo vệ quyền con người thể hiện qua các chế định về chấp hành hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam Riêng đối với chế định án treo, do mức độ rộng lớn, đa dạng và phức tạp của chế định này, nên trong khuôn khổ của Đề tài này tác giả xin phép không đề cập đến
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 12tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Bộ luật hình sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, quy nạp, đối chiếu, so sánh, nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu, làm sáng tổ các vấn đề về bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam nói riêng là một vấn đề hết sức cần thiết, qua đó bổ sung vào kho tàng lý luận về bảo vệ quyền con bằng các chế định
về chấp hành hình phạt, góp phần cụ thể hóa nội dung bảo vệ và bảo đảm quyền con người quy định tại Hiến pháp Việt Nam năm 2013
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo về mặt lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con bằng các chế định về chấp hành hình phạt Ngoài ra, luận văn còn là cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến các chế định về chấp hành hình phạt, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong quá trình thi hành án hình sự
7 Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, đi sâu
Trang 13nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người thông qua chế định: miễn chấp hành hình phạt; giảm mức hình phạt đã tuyên; giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; và chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong pháp luật hình sự Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn như sau:
- Trên cơ sở kế thừa, phát huy kết quả nghiên cứu của các học giả, tác giả đã đưa ra được các khái niệm về: Miễn chấp hành hình phạt; giảm mức hình phạt đã tuyên; giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; tha tù trước thời hạn có điều kiện
- Phân tích, làm rõ được một số nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
- Phân tích, làm rõ thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến các chế định về chấp hành hình phạt
- Đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến chế định về chấp hành hình phạt
8 Bố cục của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng các
chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các văn bản quốc tế về nhân quyền và thực trạng các quy
phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến các chế định về chấp hành hình phạt
Chương 3: Định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy phạm liên quan đến
một số chế định về chấp hành hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam theo hướng tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền con người
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC CHẾ ĐỊNH VỀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Trên thế giới, vấn đề quyền con người đã được đề cập đến từ rất sớm, trong Lời nói đầu của bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Liên hợp quốc đã khẳng định: "điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo
vệ bằng pháp luật" [40, tr.62], cũng theo Lời nói đầu trong bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, thì quyền con người đối với các quốc gia thành viên Liên hợp quốc phải [40, tr.63]: 1) Là mục tiêu chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu đạt tới; 2) Tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người, đồng thời tôn trọng và bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và hữu hiệu chúng
Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định giá trị quyền con người: Mọi thành viên trong gia đình, nhân loại đều có quyền bình đẳng và đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được Các quyền này được thực hiện không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hay giới tính, đồng thời được ghi nhận chính thức trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm
1948 Tuyên ngôn này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, tuy nhiên việc thực thi Tuyên ngôn này cũng như các công ước về quyền con người tại các quốc gia khác nhau là hết sức linh hoạt, phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh thực tế của mỗi quốc gia
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 là văn kiện pháp lý xác lập các tiêu chuẩn quốc tế cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con
Trang 15người trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Thông qua việc thừa nhận Công ước, các quốc gia chấp nhận và tự cam kết đảm bảo thực hiện quyền con người tại quốc gia mình
Tiếp đó năm 1968, Tuyên bố Tê-hê-ran tại Hội nghị thế giới về quyền con người được tổ chức tại Iran đã khẳng định:
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã xác nhận một nhận thức chung của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di, bất dịch và không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình, nhân loại và thiết lập một nghĩa vụ cho các thành viên của cộng đồng quốc tế
Hội nghị cũng khẳng định sự tin tưởng với các nguyên tắc được đề cập trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và kêu gọi các dân tộc và các Chính phủ: "phấn đấu cho những nguyên tắc ghi nhận trong Tuyên ngôn và tăng cường hơn nữa những nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người có một cuộc sống phù hợp với tự do và nhân phẩm cũng như sự hạnh phúc về thể chất, tinh thần, xã hội và văn hóa"
Việt Nam là một quốc gia tích cực trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, ngoài việc gia nhập Công ước quốc tế Giơ-ne-vơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957), từ năm
1977, sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc (tham gia năm 1981); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức về phân biệt đối xử với phụ nữ (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (tham gia năm 1982); Công ước quốc tế về quyền trẻ em (tham gia năm 1990); Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (tham gia năm 2007); Công ước
Trang 16quốc tế về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (tham gia năm 2014)
Ngoài các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người trên, Việt Nam còn tham gia các công ước quốc tế khác có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Giơ-ne-vơ về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế (tham gia năm 1981), Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng và Công ước
về ngăn chặn và trừng trị tội ác A-pác-thai (tham gia năm 1981)
Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm
1994, Việt Nam đã gia nhập nhiều công ước của tổ chức này như Công ước số
5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia lao động công nghiệp, Công ước
số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp, Công ước số 14 về quy định nghỉ hằng tuần cho lao động công nghiệp…
Việt Nam cũng tích cực tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, hợp tác nhân quyền trong khuôn khổ Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp Bên cạnh đó, với tư cách là thành viên ASEAN, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các khuôn khổ hợp tác khu vực về nhân quyền, trong đó có Ủy ban Liên Chính phủ về nhân quyền ASEAN Ngoài ra, Việt Nam còn thường xuyên tham gia đối thoại nhân quyền với các nước như: Mỹ, Australia, Thụy Sỹ và EU
Để thực hiện tốt các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
năm 1991 đã khẳng định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định
các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm” [19, tr.422] Trên tinh thần của Cương lĩnh xây dựng đất nước năm
1991, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992, Chỉ thị này đã ghi nhận những quan điểm quan trọng về vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người:
Trang 17Quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa
vụ và trách nhiệm công dân Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân [59, tr.484] Tiếp theo, vào tháng 1/2011, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chính thức đưa ra luận điểm mang tính chỉ đạo về sửa đổi Hiến pháp năm
1992, trong đó Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của các nguyên tắc tiến bộ
và dân chủ, cụ thể như: Chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của Nhà nước, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động của bộ máy công quyền [20, tr.247]
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận
Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập có chủ quyền, có quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình Người dân có quyền tham gia vào việc xây dựng và quyết định các quyết sách của đất nước Quyền bầu cử, ứng cử, ngày càng được phát huy
Ngoài tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có các tổ chức chính trị - xã hội và nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo lứa tuổi, giới tính, lĩnh vực nghề nghiệp hoạt động thu hút hàng chục triệu hội viên tham gia Mọi tư tưởng và chính kiến khác nhau được tự do đề đạt có tổ chức
Quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật được tôn trọng Với số đầu báo, tạp chí tăng nhanh, thông tin đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân Hệ thống phát thanh, truyền hình phát triển nhanh, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 18có đài phát thanh, truyền hình, người dân dễ dàng tiếp nhận thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Các dân tộc được đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; được tạo cơ hội phát triển như nhau, được duy trì tiếng nói và chữ viết riêng, bảo tồn văn hoá truyền thống Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được nâng cao
Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dân luôn được tôn trọng
Về kinh tế, GDP bình quân đầu người liên tục tăng, tỷ lệ đói nghèo giảm Việt Nam đã đạt được mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đặt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo giai đoạn 1990 – 2015; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; các chương trình chăm sóc y
tế đã thu được kết quả khá Việc khám chữa bệnh cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, được quan tâm; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên từng năm
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục-đào tạo tăng nhanh, hình thức giáo dục-đào tạo được đa dạng hoá, đã đảm bảo công bằng xã hội trong văn hoá, giáo dục Lượng thông tin được cung cấp phong phú hơn về số lượng, đa dạng về chủng loại, hấp dẫn hơn về nội dung và hình thức Người dân được tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại
Các quyền con người về mặt xã hội, đảm bảo công bằng về quyền lợi
và nghĩa vụ công dân ngày càng được phát huy Đã kết hợp tốt giữa tăng
Trang 19trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Quyền bình đẳng nam, nữ được tôn trọng Phụ nữ tham gia công tác xã hội và chính trị ngày càng nhiều,
có mặt ở các vị trí lãnh đạo các cấp Trung ương và địa phương
Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế
xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác
Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục từng bước hoàn thiện các văn bản pháp luật về bảo vệ quyền con người, cũng như “chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người” [18, tr.134] Đặc biệt, với
sự ra đời của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, vấn đề tôn trọng, bảo vệ quyền con người tại Việt Nam ngày càng được khẳng định, thay vì lồng ghép các nội dung về quyền con người vào quyền công dân như các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp Việt Nam 2013 đã có một chương riêng (Chương II) quy định
rõ về "Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" Trong đó,
có sự kế thừa, bổ sung, phát triển các bản hiến pháp trước đây của nước ta Chương này gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49) đề cập toàn diện về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam trên các mặt: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Điều đó đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề quan trọng này
Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định:
1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiếp pháp và
Trang 20pháp luật 2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng [45, Điều 14]
Điều đó đã thể hiện tất cả những vấn đề về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đất nước và
thống nhất với những quy định của quốc tế “Tuyên ngôn toàn thế giới về
Nhân quyền” của Liên hợp quốc (năm 1948), được coi là bản “Tuyên ngôn đầu tiên của toàn nhân loại” và là “lý tưởng chung nhất mà tất cả các dân tộc, quốc gia phải đạt tới” [6, tr.144], đã công nhận con người có 26 quyền cơ
bản, gồm ba nhóm sau:
Các quyền dân sự, là những quyền tự do cơ bản của cá nhân, như: quyền sống, quyền tự do thân thể; quyền không bị xâm phạm cá nhân; quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở; quyền tự do đi lại và cư trú; quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch; quyền kết hôn và lập gia đình; quyền sở hữu; quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa
Các quyền về chính trị, là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia công việc quản lý của nhà nước và đời sống xã hội; quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội, gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận thể hiện chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng
Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, là các quyền về sở hữu tài sản; quyền trao đổi; quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động; quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa
Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể nên nó luôn đi cùng
Trang 21với sự phát triển của nhân loại, đặc biệt trong những năm gần đây vấn đề bảo
vệ quyền con người luôn là vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm, GS.TSKH
Lê Văn Cảm cho rằng:
Việc bảo vệ các quyền con người đã và vẫn đang là vấn đề trung tâm có ý nghĩa thời đại của hành tinh chúng ta, vì nó không chỉ là vấn đề "muôn thuở" mang tính lịch sử từ bao đời nay mà còn mang tính thời sự quốc tế, không những là mục tiêu cơ bản trong cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, tự do, dân chủ và công
lý, mà còn là mối quan tâm thường xuyên của nhân loại tiến bộ trên toàn trái đất [8, tr.10]
Cho đến nay các nhà khoa học, luật gia vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quyền con người, cụ thể như:
GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau:
Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại
và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia - thành viên LHQ, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [13, tr.224]
GS.TS Trần Ngọc Đường cho rằng: "Quan niệm nhân quyền vừa khẳng
định cơ sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội - chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc" [24, tr.21]
PGS.TS Nguyễn Văn Động đã đưa ra một số quan điểm về quyền con người như sau [23, tr.52-53]:
- Là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bời toàn thế giới, đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi
Trang 22- Trực tiếp liên quan tới các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người (từ ăn, ở, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí ) và góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính nhân đạo và nhân văn của con người;
- Các quyền con người tạo thành một hệ thống thống nhất, quan hệ tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề, điều kiện của nhau, vừa là hệ quả của nhau,
TS Trần Quang Tiệp đưa ra định nghĩa: "Quyền con người là những
đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [50, tr.14]
Trên cơ sở phân tích các quan điểm quốc tế về nhân quyền cũng như những quan điểm của các học giả tại Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm
quyền con người như sau: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có
của con người, những nhu cầu, lợi ích tự nhiên của con người cần được tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế
1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của quyền con người
- Quyền con người có tính chất tự nhiên, vốn có của con người
Hiến pháp năm 2013 khẳng định "Nhà nước bảo đảm và phát huy
quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân" [45]
Vì vậy, khi quy định quyền con người, quyền công dân, hầu hết các điều của Hiến pháp năm 2013 quy định trực tiếp "mọi người có quyền ",
"công dân có quyền" để khẳng định rõ đây là những quyền đương nhiên của con người, của công dân được Hiến pháp ghi nhận và Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền này
Đây chính là nguyên tắc hiến định rất quan trọng về quyền con người, quyền công dân và theo nguyên tắc này, từ nay không chủ thể nào, kể cả các
cơ quan nhà nước được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền
Trang 23công dân đã được quy định trong Hiến pháp Cũng từ nguyên tắc này, các quy định liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, của công dân (như quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền bình đẳng trước pháp luật v.v.) là các quy định có hiệu lực trực tiếp; chủ thể của các quyền này được viện dẫn các quy định của Hiến pháp để bảo vệ các quyền của mình khi
bị xâm phạm Các quyền, tự do cơ bản khác của con người, của công dân và quyền được bảo vệ về mặt tư pháp cần phải được cụ thể hóa nhưng phải bằng luật do Quốc hội ban hành, chứ không phải quy định chung chung “theo quy định pháp luật” như rất nhiều điều của Hiến pháp năm 1992 quy định
Quyền con người có tính chất tự nhiên, vốn có của con người Có thể nói đây chính là đặc điểm chung của quyền con người mà bất kỳ cá nhân nào được sinh ra đều mặc nhiên thụ hưởng quyền này và bình đẳng không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay vị thế xã hội [Xem: 41, tr 41]
- Quyền con người có tính pháp định
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên trên thực tế để các quyền con người được tôn trọng, bảo vệ thì cần phải được Nhà nước công nhận bằng văn bản pháp luật cụ thể Tại Việt Nam, Hiến
pháp năm 2013 đã quy định Nhà nước "công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo
đảm quyền con người" Đồng thời Hiến pháp năm 2013 cũng quy định:
Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [45]
Quyền con người nói chung và và trong lĩnh vực tư pháp hình
sự nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là tiền đề để quyền con người được bảo đảm thực thi trong đời sống [17, tr 46] Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền cũng đã khẳng định việc thực hiện
Trang 24các quyền và tự do cơ bản của con người có thể phải chịu những giới hạn nhất định, những giới hạn đó quy định trong pháp luật, với mục đích bảo đảm sự thừa nhận các quyền và tự do của người khác, hoặc để bảo đảm các yêu cầu
về đạo đức, trật tự công cộng và sự thịnh vượng nói chung trong một xã hội dân chủ Đồng thời, các quyền được ghi nhận trong các công ước có thể hạn chế bởi pháp luật của quốc gia nhưng chỉ trong một chừng mực tương thích với bản chất những quyền đó, với mục đích chính là để bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Tuy nhiên có một số quyền nhất định trong các công ước không bao giờ bị hạn chế hoặc tạm dừng việc thực hiện, thậm chí trong những trường hợp khẩn cấp, đó là quyền: sống, tự do không bị tra tấn,
tự do không bị nô lệ hoặc nô dịch, thừa nhận tư cách con người trước pháp luật và tự do tín ngưỡng, tư tưởng, tôn giáo [40, tr.40]
- Quyền con người gắn liền với mỗi con người kể từ khi sinh ra
Quyền công dân gắn liền với quốc tịch của mỗi con người, do vậy công dân mang quốc tịch của quốc gia nào thì sẽ được quốc gia đó bảo hộ Quyền con người thì lại khác, quyền con người không gắn với quốc tịch và với mỗi quốc gia mà quyền con người thì gắn liền với cá nhân người đó, không kể là người có quốc tịch hay người không có quốc tịch Ngay khi sinh ra con người
đã có sẵn những quyền đó, tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
mà quyền con người sẽ được thừa nhận và bảo vệ ở các mức độ khác nhau
- Quyền con người được bảo vệ bằng pháp luật
Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền nào là quyền con người, quyền nào là quyền công dân và quy định theo thứ tự: đầu tiên là các nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tiếp đến là các quyền dân sự, chính trị rồi đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội
và cuối cùng là các nghĩa vụ của cá nhân, của công dân Hiến pháp năm 2013
Trang 25thay vì quy định “công dân” như Hiến pháp năm 1992 đã quy định “mọi người”, “không ai” Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức lý luận và giá trị thực tiễn khi không đồng nhất quyền
con người với quyền công dân Đặc biệt Hiến pháp 2013 đã khẳng định "Nhà
nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân"
Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể một số quyền của con người như:
Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật; Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình ; Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa; Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và
có nghĩa vụ bảo vệ môi trường; v.v [45]
Điều này thể hiện bước tiến mới trong việc mở rộng và phát triển các quyền con người Nội dung của các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong các điều khác của Hiến pháp năm
2013 phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước quyền con người về chính trị, dân sự và Công ước quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 của Liên hợp quốc Đây cũng chính là sự khẳng định cam kết mang tính hiến định của Nhà nước ta trước Nhân dân và trước cộng đồng quốc tế về trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam, điều đó thể hiện vị trí của con người ngày càng được nâng cao
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng:
Quyền con người nói chung và trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là tiền đề để
Trang 26quyền con người được bảo đảm thực thi trong đời sống Thông qua các quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật thi hành án hình sự, Nhà nước trao cho con người những phương tiện cần thiết
để bảo vệ các quyền của mình và thiết lập các cơ chế để giải quyết cũng như đảm bảo các quyền của các chủ thể [17, tr.46]
1.2 Nội dung bảo vệ quyền con người bằng các chế định về chấp hành hình phạt
1.2.1 Bảo vệ quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt
Miễn chấp hành hình phạt là một biện pháp tha miễn mang tính nhân đạo, nhằm bảo vệ quyền con người Để tăng cường việc bảo vệ quyền con người hiện nay miễn chấp hành hình phạt được áp dụng trên phạm vi rộng, có thể đặt ra với những người phạm tội chưa chấp hành hình phạt, cũng có thể đặt ra với những hình phạt đang được chấp hành và đặt ra với cả những hình phạt đã được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành mà hệ quả là người đó không phải chấp hành hình phạt đó nữa khi người phạm tội thỏa mãn một số điều kiện nhất định về nhân thân và ý thức tuân thủ pháp luật được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân đề nghị thì Tòa án xem xét việc miễn chấp hành hình phạt cho họ
Hiện nay, xoay quanh khái niệm miễn chấp hành hình phạt vẫn còn
nhiều quan điểm khác nhau, GS.TSKH Lê Văn Cảm cho rằng: "Miễn chấp
hành hình phạt là hủy bỏ việc chấp hành biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất mà Tòa án đã tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án" [11, tr.790]; TS Phạm Văn Beo viết
trong Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam: "Miễn chấp hành hình phạt là
không buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với họ" [3, tr.464]; Còn theo TS Trịnh Tiến Việt:
Trang 27Miễn chấp hành hình phạt là không buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt (toàn bộ hình phạt hoặc một phần hình phạt còn lại) mà Tòa án đã tuyên đối với họ khi đáp ứng những điều kiện nhất định và thuộc một trong các trường hợp do Bộ luật hình sự quy định [59, tr.401]
Qua phân tích các quan điểm của các nhà khoa học - luật gia, tác giả cho rằng, về cơ bản các quan điểm đều thống nhất chung về bản chất pháp lý của miễn chấp hành hình phạt là một nội dung phản ánh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, được thể hiện thông qua việc không buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt đã tuyên nếu thuộc một trong các trường hợp được Bộ luật hình sự quy định
Do đó, theo tác giả thì, miễn chấp hành hình phạt là không buộc người
bị kết án phải chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc một phần hình phạt còn lại
mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội khi họ đáp ứng những điều kiện
do Bộ luật hình sự quy định
Từ định nghĩa trên có thể thấy miễn chấp hành hình phạt có bản chất pháp lý của là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện ở chỗ Tòa án vẫn quyết định hình phạt nhất định trong bản án kết tội đã
có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội, nhưng không buộc người này phải chấp hành toàn bộ hình phạt đó khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện
do pháp luật hình sự quy định
Ví dụ, anh Nông Văn Tài, bị Tòa án phạt 30 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích, trong khi chờ thi hành án, anh Tài đã có công cứu được 2 trẻ
em bị nước lũ cuốn trôi, được chính quyền địa phương xác nhận, Tài là người
có nhân thân tốt, chăm chỉ làm ăn, trong quá trình chờ thi hành án, anh luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật Anh Tài có có Đơn đề nghị Viện Trưởng viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị Toàn án nhân dân cùng cấp
Trang 28miễn chấp hành hình phạt đối với anh và đã được Tòa án chấp thuận, quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đã tuyên đối với Nông Văn Tài
Qua khái niệm về miễn chấp hành hình phạt, có thể thấy được tư tưởng bảo vệ quyền con người thông qua chế định này, đây là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, với chế định này có thể một người bị Tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng không buộc người này phải chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc một phần hình phạt còn lại, khi có đầy
đủ căn cứ đáp ứng những điều kiện do pháp luật hình sự quy định Khi được miễn chấp hành hình phạt, người phạm tội không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do bản thân thực hiện Họ không phải chấp hành hình phạt do Tòa án đã tuyên đối với họ
Điều kiện để được miễn chấp hành hình phạt không phụ thuộc vào thời gian chấp hành hình phạt mà phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như: thái độ, sự hợp tác, ý thức của người bị kết án; tình trạng bệnh tật của người bị kết án; khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của người bị kết án; chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, Tòa án xem xét quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người chưa chấp hành hoặc miễn chấp hành phần còn lại đối với người đã chấp hành được một phần của hình phạt, qua đó giúp người bị kết án nhanh chóng trở lại với xã hội, hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội Điều đó thể hiện việc cụ thể hóa nội dung bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp thông quan các quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự, trong trường hợp này đó là nội
dung bảo vệ quyền "được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ” [45, Điều 20] (với
quy định về tình trạng bệnh tật của người bị kết án)
1.2.2 Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm mức hình phạt đã tuyên
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mục đích của hình phạt là
Trang 29nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo, thuyết phục Do đó, việc giáo dục, cải tạo người bị kết án chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp cải tạo lao động, học tập để khuyến khích, động viên người bị kết án nỗ lực cải tạo, rèn luyện sớm trở thành người lao động lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội Vì vậy, Bộ luật hình sự đã cụ thể hoá chính sách hình sự và tư tưởng nhân đạo trong pháp luật, giảm mức hình phạt
đã tuyên là một trong các chế định thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước Việt Nam đối với người phạm tội
Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên đã được đề cập từ Bộ Luật hình
sự năm 1985, Bộ Luật hình sự năm 1999, mới đây nhất Bộ Luật hình sự năm
2015 tiếp tục kế thừa, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chế định này Tuy nhiên, các
bộ luật này đều chưa đưa ra được khái niệm về giảm mức hình phạt đã tuyên
Giảm mức hình phạt đã tuyên gắn liền với hình phạt Khi thực hiện tội phạm thì hậu quả pháp lý của người phạm tội phải gánh chịu đó là hình phạt (trừ các trường hợp đặc biệt) Khi tội phạm được thực hiện, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, hậu quả để lại cho xã hội (nếu có) và các yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội, các cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho người phạm tội, khi chưa đủ cơ sở pháp lý để miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, Tòa án còn có thể xem xét để giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội Đây là một chế định có tính nhân đạo của nhà nước ta nhằm khuyến khích, động viên những người phạm tội ăn năn, hối cải, hướng thiện
để nhận được sự khoan hồng, cụ thể ở đây là hình thức giảm mức hình phạt đối với người phạm tội đã bị Tòa án tuyên
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm giảm mức hình phạt đã tuyên, nhưng về bản chất vẫn cơ bản thống nhất về nội hàm khái niệm, cụ thể như sau:
Trang 30Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm, "Giảm mức hình phạt đã được tuyên là
rút ngắn thời hạn của việc chấp hành phần còn lại của loại hình phạt có thời hạn hoặc miễn việc tiếp tục chấp hành phần còn lại của loại hình phạt không
có thời hạn đối với người bị kết án" [11, tr.792]
Với một góc độc khác về giảm mức hình phạt đã tuyên, TS Cao Thị
Oanh cho rằng: "Giảm thời hạn chấp hành hình phạt là giảm một phần thời
hạn chấp hành hình phạt đã tuyên cho người bị kết án" [41, tr.232];
TS Trịnh Tiến Việt có quan điểm về giảm thời hạn chấp hành hình phạt như sau:
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt là việc Toà án rút ngắn thời hạn của việc chấp hành hình phạt còn lại của loại hình phạt có thời hạn hoặc miễn tiếp tục chấp hành phần còn lại của loại hình phạt khác đối với người bị kết án khi có thành tích, tiến bộ trong việc lao động, cải tạo và có đề nghị của cơ quan, tổ chức (cơ quan,
tổ chức hữu quan, cơ quan thi hành hình phạt tù, Viện kiểm sát) hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục [59, tr.424-425]
Qua phân tích các quan điểm của các tác giả nêu trên và dựa vào nội hàm của mối liên hệ của chế định này với hình phạt, tác giả đưa ra khái niệm
giảm mức hình phạt đã tuyên như sau: Giảm mức hình phạt đã tuyên là việc
rút ngắn thời gian phải chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn toàn bộ thời gian còn lại của hình phạt mà Toà án đã tuyên với người bị kết án
Có thể nói, giảm mức hình phạt đã tuyên là sự rút ngắn hoặc miễn toàn
bộ thời gian phải chấp hành hình phạt còn lại mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định (phụ thuộc vào từng loại hình phạt), có nhiều tiến bộ và đã bồi thường
Trang 31được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình
sự có thẩm quyền, Tòa án có thể xem xét quyết định giảm bớt thời gian hoặc miễn toàn bộ thời gian còn lại của việc chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với người bị kết án Qua đó thời gian chấp hành hình phạt còn lại của người bị kết án được rút ngắn hoặc chấm dứt
Giảm mức hình phạt đã tuyên là một chế định nhân đạo của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, người phạm tội chỉ có thể được giảm hình phạt đã tuyên khi họ đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định (đảm bảo thời gian tối thiểu theo quy định của Bộ Luật hình sự), đồng thời phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam Chế định này tạo cơ hội cho người đang chấp hành hình phạt tù có cơ hội được giảm mức hình phạt, nhanh chóng được tái hòa nhập cộng đồng
Bộ Luật hình sự Việt Nam 2015 quy định:
Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân [46, Điều 63] Giảm mức hình phạt đã tuyên là chế định thể hiện sự khoan hồng của pháp luật với những người đã thực hiện tội phạm Khi đã thực hiện tội phạm thì hậu quả pháp lý mà người thực hiện tội phạm phải gánh chịu đó là hình phạt Đối với mỗi loại tội phạm, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với xã hội mà người phạm tội sẽ phải gánh chịu hình
Trang 32phạt tương ứng Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa mang bản chất nhân đạo, luôn khoan hồng với những người biết ăn năn, hối cải, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và sự tiến bộ trong trong quá trình cải tạo mà người phạm tội có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, để sớm trở lại với cuộc sống bình thường
1.2.3 Bảo vệ quyền con người bằng chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt là chế định thể hiện sự khoan hồng của pháp luật với những người đã thực hiện tội phạm Đây là sự cụ thể hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc khoan hồng với những người biết ăn năn, hối cải, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và sự tiến bộ trong trong quá trình cải tạo, đặc biệt là đối với những người đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, mà người phạm tội có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định đối với trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên (quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự 2015), để sớm được trở lại với cuộc sống bình thường
Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt
đã được đề cập ngay từ Bộ Luật hình sự năm 1985, tiếp đó là Bộ Luật hình sự năm 1999, mới đây nhất Bộ Luật hình sự năm 2015 tiếp tục kế thừa chế định này Tuy nhiên, các bộ luật này đều chưa đưa ra khái niệm về giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt
Bộ Luật hình sự năm 1999 quy định về giảm thời hạn chấp hành hình
phạt trong trường hợp đặc biệt, với nội dung "Người bị kết án có lý do đáng
được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn
so với thời gian và mức quy định tại Điều 58 của Bộ luật này" [44, Điều 59]
Trang 33Bộ Luật hình sự Việt Nam 2015 cơ bản giữ nguyên các nội dung quy định về giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt như quy
định tại Bộ Luật hình sự Việt Nam 1999, cụ thể như sau: "Người bị kết án có
lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 của Bộ luật này"
Qua phân tích nội dung quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về giảm
thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, tác giả cho rằng:
Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt là việc rút ngắn thời gian phải chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn toàn bộ thời gian còn lại của hình phạt mà Toà án đã tuyên với người bị kết án khi người
đó đã lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
Từ định nghĩa khoa học nói trên cho thấy, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt là sự rút ngắn thời gian phải chấp hành hình phạt còn lại hoặc miễn toàn bộ thời gian phải chấp hành hình phạt còn lại
mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội khi người đó đã lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
Điều 8, Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 15/5/2013 quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong trường hợp đặc biệt, theo đó phạm nhân đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên đối với án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười năm đối với tù chung thân và có đủ điều kiện về xếp loại chấp hành án phạt tù, có thể được xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC Phạm nhân đã lập công, cụ thể như: có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra và xử lý tội phạm; cứu được tính
Trang 34mạng của người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản có giá trị từ 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận Mỗi lần lập công, phạm nhân chỉ được xem xét, đề nghị giảm thời hạn một lần;
- Phạm nhân là người từ 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên bị bệnh, phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện nhiều lần trong thời gian dài (từ ba tháng trở lên) và không có khả năng tự phục vụ bản thân;
- Phạm nhân là người đang bị mắc một trong các bệnh như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng
Nội dung này thể hiện quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, tính mạng đã được quy định tại Điều 19, Điều 20, Hiếp pháp Việt Nam năm 2013
Thông tư 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC cũng quy định mức giảm mỗi lần cao nhất cho các trường hợp đặc biệt này là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án phạt tù ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân Trong trường hợp đặc biệt, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phạm nhân có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức giảm có thể lên tới trên 4 năm
Trang 35Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt là một chế định nhân đạo của pháp luật Việt Nam, tạo cơ hội cho những người phạm tội
đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khi họ đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, sớm được tái hoà nhập cộng đồng
1.2.4 Bảo vệ quyền con người bằng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù
Khi bản án có hiệu lực pháp luật thì các cá nhân, tổ chức có liên quan phải tôn trọng, người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh theo đúng các quy định của pháp luật về hình phạt Đây là một nguyên tắc đã được ghi nhận trong Hiến pháp, điều này thể hiện tầm quan trọng của việc thi hành án Tuy nhiên, vì những lý do đặc biệt nhất định thuộc về nhân thân người bị kết án như hoàn cảnh, điều kiện gia đình hoặc nhu cầu công vụ mà người bị kết án phạt tù chưa thể đi thi hành án ngay được, khi đó người bị kết án phạt tù có thể được xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù
Chấp hành hình phạt tù là việc người phạm tội phải chấp hành phán quyết của Tòa án dành cho họ, đây là hình thức tước bỏ hoặc hạn chế quyền
tự do của người bị kết án với mục đích để giáo dục, cải tạo, cách li họ khỏi đời sống xã hội, hạn chế, ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ
có thể gây ra Tuy nhiên, pháp luật của nhà nước ta mang bản chất nhân đạo,
vì vậy trong những trường hợp đặc biệt có liên quan đến nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh của người bị kết án, nhà nước ta có thể xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để người phạm tội có thời gian, điều kiện khắc phục, giải quyết khó khăn, để sau đó toàn tâm, toàn ý cho việc chấp hành hình phạt, giúp cho việc cải tạo của người phạm tội được tốt hơn, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước ta, nâng cao tính giáo dục, giúp người phạm tội thêm tin tưởng vào chính sách, pháp luật của nhà nước ta, giúp họ sớm tái hòa nhập cộng đồng và trở thành những công dân tốt sau khi
Trang 36Ngược lại, nếu trong điều kiện, hoàn cảnh nhân thân đặc biệt của người phạm tội như bị bệnh nặng, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, nếu họ không được hoãn chấp hành hình phạt tù thì người phạm tội sẽ không thể chấp hành hình phạt hoặc không toàn tâm, toàn ý cho việc chấp hành hình phạt, dẫn đến hiệu quả chấp hành hình phạt sẽ không cao, mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội khó có thể đạt được Vì vậy, việc hoãn chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định đối với những trường hợp có hoàn cảnh, điều kiện đặc biệt là hết sức cần thiết, giúp tạo điều kiện cho người phạm tội có điều kiện chấp hành hình phạt được tốt hơn, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, thể hiện đúng chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta
Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù là sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ quyền con người, chế định này được thể hiện qua việc ngừng chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định (có điều kiện), chế định này chỉ có thể được áp dụng đối với người đã bị kết án và họ chưa chấp hành hình phạt tù Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ quy định điều kiện được hoãn chấp hành hình phạt tù chứ không quy định cụ thể hình phạt tù đó là tù có thời hạn hay không có thời hạn, chế định này không những thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam mà còn cho thấy tính công bằng, khách quan trong việc bảo vệ quyền con người của pháp luật Việt Nam
Lần đầu tiên, vấn đề hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1985, điều luật này đã quy định điều kiện để hoãn chấp hành hình phạt tù Vấn đề hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự năm 1999 và tiếp tục được ghi nhận đầy đủ hơn tại Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015 Tuy nhiên, cũng giống như Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 cũng không đưa ra được khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù mà chỉ quy
Trang 37Trước tiên, như đã nói ở trên, "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó"
Đối với khái niệm "chấp hành", theo Từ điển Tiếng Việt thì chấp hành dùng để chỉ việc "thi hành, thực hiện những điều quy định trong chính sách, pháp luật, kế hoạch, mệnh lệnh, phán quyết" [60, Chấp_hành] Tuy nhiên, dưới góc độ luật hình sự thì chấp hành là việc thi hành những quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền
Khái niệm "hoãn" theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là "chuyển thời điểm định làm việc gì đó sang thời điểm khác, muộn hơn" [60, Hoãn] Dưới góc độ luật hình sự thì "hoãn" là tạm dừng, chưa phải chấp hành một quyết định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra mình phải bị chấp hành
Xoay quanh vấn đề khái niệm về miễn chấp hành hình phạt tù, các nhà khoa học cũng chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất, theo GS TSKH
Lê Văn Cảm,“Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một
thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt tù đó” [11, tr.794]; GS.TS Nguyễn
Ngọc Hòa cho rằng: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là chuyển việc thi hành hình phạt tù sang thời điểm muộn hơn" [28, tr.310]; còn với TS Trịnh Tiến
Việt: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án
chuyển việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn Nói một cách khác, đó
là việc cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này phải vào trại giam để chấp hành hình phạt tù" [59, tr.435]
Qua nghiên cứu, phân tích, tác giả đưa ra khái niệm hoãn chấp hành
hình phạt như sau: Hoãn chấp hành hình phạt tù là chuyển việc chấp hành
hình phạt tù đối với người bị kết án nhưng chưa chấp hành hình phạt tù sang
Trang 38thời điểm muộn hơn so với thời điểm được quy định tại bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án
Từ khái niệm khoa học về hoãn chấp hành hình phạt tù nên trên, có thể khẳng định bản chất pháp lý của chế định này như sau: Hoãn chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, được thể hiện thông qua việc Tòa án quyết định chuyển việc chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án (nhưng chưa chấp hành hình phạt đó) sang thời điểm muộn hơn so với thời điểm đã được quy định tại bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với người phạm tội, trong một thời gian nhất định khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định
Ví dụ: Tháng 6 năm 2015, Nguyễn Văn Hậu, 25 tuổi (có đủ năng lực trách nhiệm hình sự) thường trú tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên có mâu thuẫn với Dương Văn Hùng 27 tuổi, ở cùng xã với Hậu Hai bên xô sát, Hậu dùng ống tuýp kẽm đánh Hùng gẫy xương bả vai và đa chấn thương nhiều vùng trên cơ thể Kết quả giám định, Hùng bị thương tật 12% Căn cứ hồ sơ vụ án và Điểm a, Khoản 1, Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ tuyên phạt Nguyễn Văn Hậu 24 tháng tù Trước khi chấp hành hình phạt tù, Nguyễn Văn Hậu đã
có Đơn đề nghị Tòa án cho hoãn chấp hành hình phạt tù với lý do Hậu là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt Sau khi xác minh, Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù đối với Nguyễn Văn Hậu, thời gian được hoãn chấp hành hình phạt là 12 tháng
1.2.5 Bảo vệ quyền con người bằng chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
Tương tự như hoãn chấp hành hình phạt tù, khái niệm tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cũng chưa được ghi nhận trong Luật hình sự Việt
Trang 39luật ghi nhận tại Bộ luật hình sự 1985 thì tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù lần đầu tiên được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Theo Từ điển Tiếng việt, "tạm" có nghĩa là "làm việc gì chỉ trong một thời gian nào đó, khi
có điều kiện thì sẽ có thay đổi" [60, Tạm]; "Đình chỉ" có nghĩa là "ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn" [60, Đình_chỉ] Dưới góc độ luật hình sự thì "tạm đình chỉ" là tạm dừng lại việc thực hiện một quyết định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà người đó đang phải chấp hành Tại Bộ luật tố tụng hình sự 1988, nhà làm luật sử dụng thuật ngữ là
"tạm đình chỉ thi hành án hình phạt tù" Tuy nhiên, tại Bộ luật hình sự 1999
và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thuật ngữ này đã được sửa đổi thành
"tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù" Việc sửa đổi thuật ngữ trên là có cơ sở bởi lẽ, đối với tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án đã có quyết định thi hành án và đang chấp hành hình phạt Khi có đủ các điều kiện theo luật định thì có thể được tạm dừng việc chấp hành hình phạt đó, đây cũng là điểm khác biệt căn bản so với chế định hoãn chấp hành hình phạt tù
Dưới góc độ khoa học, đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Theo TS Phạm Văn Beo:
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng trong một thời gian nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án khi người này đang chấp hành hình phạt đó [3, tr.470];
Quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm:
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng trong một thời gian nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án đang chấp hành hình phạt đó [11, tr.796];
Theo quan điểm của TS Trịnh Tiến Việt:
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam được tạm
Trang 40dừng việc ở lại trại giam để chấp hành hình phạt, đồng thời họ được trả tự do nếu không bị giam giữ về một tội phạm khác khi có những điều kiện cụ thể do Bộ luật hình sự quy định [59, tr.444]
Qua phân tích, tiếp thu có chọn lọc những điểm hợp lý trong các khái niệm "tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù" của các tác giả đã nêu trên, tác giả
đưa ra định nghĩa khoa học về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù như sau: Tạm
đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Toà án cho phép người đang chấp hành hình phạt tù được tạm dừng chấp hành hình phạt tù đó trong một thời gian nhất định, khi người đó đáp ứng những điều kiện do Bộ luật hình sự quy định
Về bản chất pháp lý, có thể hiểu chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, được thể hiện qua việc Tòa án quyết định cho phép người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù được tạm dừng việc chấp hành hình phạt tù đó trong một thời hạn nhất định khi người đó có đầy đủ căn cứ và những điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự
1.2.6 Bảo vệ quyền con người bằng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện
Tha tù trước kỳ hạn là một chế định nhân đạo đã được Nhà nước ta quan tâm, cụ thể hoá bằng văn bản pháp luật từ rất sớm Năm 1958 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 566/TTg ngày 24 tháng 12 năm 1958 quy
định về vấn đề này, cụ thể như sau: " Khi xử xong thì phải tổ chức ngay cho
phạm nhân lao động sản xuất một cách thiết thực Kẻ nào lao động tốt, biểu hiện tốt về mặt cải tạo thì công an đề nghị công tố xét và đưa toà án xử tha tù cho họ trước kỳ hạn" [6, tr.1] Để hướng dẫn thi hành quy định của Thủ tướng
Chính phủ về nội dung tha tù trước kỳ hạn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Công tố Trung ương, Toàn án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên bộ
số 73-TT/LB ngày 11 tháng 08 năm 1959 về việc quy định điều kiện và thủ