Hình tượng con người thể hiện qua hình khối

Một phần của tài liệu hình tượng con người trong chạm khắc đình hoành sơn (Trang 39 - 44)

Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc gỗ đình Hoành Sơn về mặt hình khối nó được thể hiện rất rõ ràng, phong phú và có tính biểu hiện. Khối ở đây được các nghệ nhân thể hiện đơn giản, cô đọng nhưng rất tinh tế. Sự cô đọng được thể hiện ở các khối đơn giản quy vào hình vuông, hình chữ nhật, hình nón… nhưng vẫn tạo được hiệu quả hình ảnh của nhân vật. Tác giả với cách tạo khối đa dạng thì tác phẩm sẽ có chất biểu cảm mạnh mẽ hơn. Tóm lại, người nghệ sỹ phải biết chiến thắng sự cơ bản của khối và thổi vào khối một chất cảm, một linh hồn bằng cách làm cho khối đó có sự kết hợp sinh động.

Hình tượng con người trong chạm khắc đình Hoành Sơn thông qua nghệ thuật tạo khối nó có những đặc điểm như sau: khối cứng, khối mềm, có khối nhẵn phẳng, có khối thô ráp…tạo cho chất cảm cũng như làm rõ tính biểu hiện của hình khối thông qua hình tượng con người.

Khối cứng là những khối được tạo nên bởi những hình, mảng có cạnh là những đoạn thẳng. Hình tượng con người được thể hiện qua khối cứng trong nghệ thuật chạm khắc đình Hoành Sơn rõ nhất là ở bức “đua thuyền” (H.18).

Nhìn vào bức chạm ta thấy các nghệ nhân đã sử dụng những mẳng có những cạnh là đường thẳng như cột thuyền, mái chèo, cạnh của chiếc thuyền. Tất cả những đường thẳng kỷ hà đó tạo cho bức chạm một cảm giác yên tĩnh như cuộc đua thuyền vừa kết thúc. Trên thuyền còn duy nhất một người đang ngồi. Ngoài ra ở bức chạm “ đua thuyền” (H.17) các nghệ nhân dân gian cũng tập trung khai

thác khối tĩnh ở các vị trí trên cạnh thuyền, mái chèo, cột thuyền và ở các vị trí trên cơ thể của những chàng trai đua thuyền như khối ở vị trí cánh tay, chân. Tạo cho kết quả khối ở đây thô ráp, chắc khỏe nhằm nói lên sức mạnh của những chàng trai đua thuyền.

Sự kết hợp giữa khối nằm ngang để tạo thành chiếc thuyền và khối hình trụ đứng làm các cột thuyền đã tạo nên chắc chắn về cấu trúc thuyền đồng thời làm nổi bật lên hình dáng động của người đang chèo thuyền.

Bằng thủ pháp nghệ thuật cường điệu trong cách tả khối, trên bức chạm

“đua thuyền” tác giả đã tạo những khối căng tròn và chắc nịch ở cánh tay, đùi, tấm lưng trần vạm vỡ, ngực nở nang để thể hiện những chàng trai đua thuyền khỏe mạnh, cường tráng. Bởi vậy những chàng trai đua thuyền nổi bật hơn và gây được ấn tượng đối với người xem. Chính thủ pháp “ cường điệu” làm hình ảnh những chàng trai đua thuyền trở nên dí dỏm và vui vẻ hơn. Các chàng trai với những đôi bàn tay rắn rỏi và chắc khỏe đang nắm lấy mái chèo và phối hợp với nhau rất nhịp nhàng

Bố cục trong bức chạm vô cùng chặt chẽ, dáng của những người chèo thuyền và các mái chèo tạo thành những đường chéo song song trong bức chạm.

Để phá thế đó tác giả đã tạo những đường song song khác – các cột chống mái chèo theo hướng thẳng đứng từ mạn thuyền lên. Chính cách bố cục như thế đã tạo cho người xem thấy rõ sự kết hợp nhịp nhàng của những chàng trai khi chèo thuyền và sự bứt phá để về đích sớm nhất.

Chiếc thuyền được trang trí rất cầu kỳ, công phu, đầu và đuôi của thuyền được chạm khắc hình rồng, phía trên mái thuyền được treo rất nhiều cờ hội với những đường chạm uốn lượn mềm mại như đang bay trong gió, làm cho không khí của lễ hội đua thuyền trở nên tưng bừng hơn.

Hình sóng nước cũng là yếu tố trang trí, vì vậy được tác giả chạm khắc rất tinh tế, những con sóng cũng rất nhịp nhàng có lớp trước lớp sau. Ở giữa do người tay chèo khỏe hơn nên sóng nước tung bọt bắn vào mạn thuyền, làm cho

không gian trở nên sống động, đó chính là thủ pháp tạo yếu tố động trong bức chạm. Bức chạm chèo thuyền là tĩnh nhưng người xem vẫn thấy động là bởi cấu trúc đường hướng trong bố cục.

Sau khi chạm khắc hình ảnh người và thuyền nghệ nhân đã sử dụng một kỹ thuật lắp ghép những cột chống từ mạn thuyền lên mái chèo thuyền tạo ra hình ảnh rất thực. Chính thủ pháp tạo hình đó đã làm cho bức chạm có chiều sâu về không gian. Người xem cảm nhận đó là không gian thực chứ không phải không gian ước lệ như một số bức chạm khác.

Khối trên bức chạm đua thuyền ở đình Hoàng Xá, đình Hương Canh, đình Phù Lưu với nghệ thuật hình khối đơn giản, lu, mềm, các phần tiếp giáp chuyển êm mềm. thì chạm khắc đua thuyền ở đình Hoành Sơn tinh xảo trau chuốt hơn về kỹ thuật, khối đanh, thô ráp hơn . Đua thuyền ở đình Hoành Sơn cũng mang đậm yếu tố dân gian bởi cách diễn tả khối căng tròn trong hình thức đơn giản khái quát cao.

Trên bức chạm thi võ, các nghệ nhân sử dụng khối cứng để khai thác, miêu tả cuộc thi võ gay go quyết liệt. Khối cứng được các nghệ nhân khai thác ở các vị trí khác nhau tập trung chủ yếu vào bốn nhân vật chính, hai người cầm đao cầm kiếm cưỡi ngựa đấu võ, hai người dưới đất đấu võ với nhau. Các nghệ nhân đã sử dụng rất nhiều các mảng có cạnh là những đoạn thẳng khúc chiết, gãy góc nối liền gắn kết với nhau để tạo nên hình tượng con người, tạo cho ta cảm giác khối ở đây rất thô ráp, khối nổi, khối chìm được tác giả chạm khá rõ có lớp trước lớp sau tạo cảm giác xa gần. Chính những đường kỷ hà đó đã tạo nên khối của nhân vật. Như hình ảnh võ sỹ cưỡi ngựa là lớp trước che khuất lớp sau võ sỹ ở dưới đất tạo không gian xa gần. Hình tượng con người thông qua nghệ thuật tạo khối cứng trong bức chạm thi võ tạo cho bức chạm có đặc điểm khối tĩnh nhưng chính các động tác của nhân vật đã phá sự yên tĩnh vốn có của nó, tạo nên không khi sôi động, hình dáng chắc khỏe, đường nét dứt khoát của nhân vật.

Bằng kỹ thuật chạm nông. hình ảnh hai võ sỹ ngồi trên hai con ngựa được tạo khối dày, vì vậy trên cùng một mặt phẳng nhưng người xem vẫn thấy họ là hai nhân vật chính. Cách tạo khối đơn giản nhưng chắc khỏe, kết hợp với nét chạm nông tạo yếu tố trang trí trên quần áo và trên thân ngựa, người xem thấy rõ được tinh thần chủ động quyết tâm dành chiến thắng của hai võ sỹ.

Trên cùng một mặt phẳng, do bị khống chế về không gian người nghệ sỹ chạm khắc hình ảnh hai võ sỹ đang thi đấu võ, đồng thời có cả khán giả, có cả tổ trọng tài, nhưng người xem vẫn thấy thuận mắt nhìn và vẫn chấp nhận được, đó là do cách tạo khối, cân nhắc từng chi tiết của từng nghệ nhân. Hình ảnh con ngựa và hai võ sỹ đang cưỡi được chú trọng hơn, đạt tới giá tri khái quát cao bằng cách chạm khối nổi, tỉ mỉ và trau chuốt hơn. Hai võ sĩ đang ngồi xem được chạm khối mỏng hơn, đồng thời hình cũng bé hơn dễ tạo cảm giác về các lớp xa gần cho bức chạm. Với kỹ thuật chạm bong người xem có thể thấy được khối nổi rõ ràng của các hình thể trong không gian của thi đấu võ có xa gần, có lớp trước lớp sau và đặc biệt tác giả đã chọn hai tư thế điển hình nhất của hai đấu thủ thi đấu. Một người tay cầm đao hất cao trên đầu chủ động ra đòn, còn đối phương giơ đao ngang cổ để phòng thủ. Hình ảnh hai võ sỹ trên lưng ngựa qua bức chạm thi võ đang cầm đao thi đấu đối kháng, chỉ với những nhát chạm đơn giản nhưng đã diễn tả được tâm lý nhân vật trên khuôn mặt là sự tập trung cao độ trong thi đấu. Nhìn bức chạm đó người xem có thể cảm nhận được tài võ nghệ của các trai tráng mạnh mẽ cũng như tinh thần thượng võ của dân tộc ta.

Nếu như đấu vật ở đình Hoàng Xá ( H2.4) ta thấy khuôn mặt hai võ sỹ đầy tính hồn nhiên và ngộ nghĩnh, không ăn thua trong thi đấu, hai võ sỹ không cân xứng về tỉ lệ, mảng chạm tự do phóng khoáng, thì bức chạm thi võ ở đình Hoành Sơn hiện đại hơn nhiều – cân đối về tỉ lệ, đẹp về hình thức và có xa gần nhờ cách tạo khối, đặc biệt thể hiện được tinh thần chiến đấu trong bức chạm.

Ở bức chạm đua thuyền ở đình Phù Lưu thế kỷ XVII, khối khác hẳn với đua thuyền ở đình Hoành Sơn thế kỷ XVIII. Nếu như ở đình Phù Lưu kỹ thuật

chạm nông, khối ở đây mềm mại, nhẹ nhàng, khối nhẵn phẳng, ít góc cạnh, thì khối ở bức chạm đua thuyền đình Hoành Sơn khối lại cứng rắn, dứt khoát, gồ ghề hơn.

Khối mềm là khối có các mặt lồi hoặc lõm do các hình không có góc cạnh tạo thành. Đối lập với hình khối phóng khoáng, mạnh mẽ, thô ráp, dứt khoát…

của hình tượng con người đua thuyền, thi võ thì hình chạm con người có nội dung: cấy lúa, cày ruộng, cất vó hay những đề tài đánh cờ, vinh quy bãi tổ đều được chạm chủ yếu là những mảng khối cong, mềm mại, nét khắc cũng tinh tế, chủ yếu là những nét cong uốn lượn.

Bằng kỹ thuật chạm kênh bong, trên bức chạm “ đánh cờ” các nghệ nhân đã chạm nổi tạo khối căng tròn ở bụng và những đường xoắn nổi lên ở rốn nhờ vân gỗ - có lẽ cũng là dụng ý của tác giả, nhằm cho người xem nhận ra rằng những người này thuộc tầng lớp khá giả trong xã hội. Bằng các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc như: đa điểm nhìn, cường điệu, biểu trưng kết hợp với hiện thực tổng hợp của nhiều mảng cong, chéo…với bố cục cân đối, chặt chẽ, ngôn ngữ khối đã mất hẳn, thay vào đó là những nét chạm đều đặn như nét vẽ, miêu tả các nhân vật trong các tư thế ngồi khác nhau với một trạng thái tinh thần vui vẻ. Điều đó đã làm cho những bức chạm trở nên đẹp về hình thức, có ý nghĩa về nội dung, khiến người xem ngắm mãi mà không biết chán và được lưu giữ cùng thời gian. Sự mềm mại của khối thể hiện rõ trên cơ thể và trang phục của nhân vật, hình khối đơn giản, nhẹ nhàng, uốn lượn tạo nên nhịp điệu rất động trong bức chạm.

Khối được thể hiện thông qua hình tượng con người ở bức chạm “vinh quy bái tổ” cũng là những khối động, chính những đường nét mềm mại, nhẹ nhàng, sử dụng nhiều đường cong, ít đường thẳng tạo cho hình khối ở đây trông rất động. đường cong, thanh mảnh được các nghệ nhân khai thác ở những vị trí quần áo. Các nhân vật trong bức chạm đầu mặc trang phục áo dài nên được các nghệ nhân sử dụng những hình cong. Các phần hình khối tiếp giáp với nhau rất nhẹ nhàng, không sắc cạnh, khúc chiết nhưng vẫn mang đậm yếu tố tạo hình. Ở

bức chạm vinh quy bãi tổ trên ván cốn vì nách bên trái (H.1.9), phần đầu các nghệ nhân sử dụng khối tròn, đường nét mô tả mắt, mũi, miệng của nhân vật nên khối ở đây nhẹ nhàng, nhẵn phẳng nhưng ở bức chạm vinh quy bãi tổ trên ván cốn vì nách bên phải (H.1.12.) phần đầu các nhân vật đều đội mũ chit khăn nên khối ở đây đanh hơn, gồ ghề dứt khoát hơn.

Ở đình Trung Cần, Nghệ An ra đời cùng thế kỷ XVIII, có sự tương xứng về phong cách chạm cũng như cách tạo khối. Như bức chạm đánh cờ ở đình Trung Cần có nét giống với bức chạm đánh cờ của đình Hoành Sơn về khối.

Khối ở bức đánh cờ cũng mềm mại, đường nét nhẹ nhàng chuyển động. sử dụng nhiều khối tròn ở đầu, bụng…

Sự kết hợp giữa khối tĩnh, khối động, khối cứng , khối mềm, khối lồi, khối lõm ở đình Hoành Sơn tạo nên hiệu quả nghệ thuật của bức chạm. Sự kết hợp đó được các nghệ nhân sử dụng thường xuyên trong những bức chạm có hình tượng con người trong đình Hoành Sơn. Nó được hiện hữu ở những hình cơ bản như hình trị, vuông, tròn, hình cầu, tam giác…Khi thì những hình đơn, lúc lại đan xen chồng chéo thể hiện ý tưởng tác phẩm.

Một phần của tài liệu hình tượng con người trong chạm khắc đình hoành sơn (Trang 39 - 44)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(82 trang)
w