1.2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự 1.2.1 Khái niệm, nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG PHONG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG PHONG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, tính chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn đều được rút ra từ kết quả nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Phong
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa BLHS : BLHS
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao VKSND : Viện Kiểm sát nhân dân TTHS : Tố tụng hình sự
QCN : Quyền con người
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình thụ lý, giải quyết VAHS trong cả nước giai đoạn 2016-2018 56 Bảng 3.2 Thống kê các vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội từ 2016 đến tháng 6 năm 2019 60 Bảng 3.3 Thống kê QĐHP với dưới 18 tuổi phạm tội 61
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền con người 6
1.1.1 Khái niệm quyền con người 6
1.1.2 Đặc điểm quyền con người 9
1.2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự 13
1.2.1 Khái niệm, nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự 13
1.2.2 Ý nghĩa bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 20
2.1 Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong BLHS năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người 20
2.1.3 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt 24
2.1.4 Nguyên tắc công bằng 26
Trang 72.2 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về căn cứ quyết định hình phạt 27 2.2.1 Quyết định hình phạt phải căn cứ vào các quy định của BLHS 28 2.2.2 Cân nhắc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội 29 2.2.3 Cân nhắc nhân thân người phạm tội 31 2.2.4 Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự 34 2.3 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể 37 2.3.1 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 37 2.3.2 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 39 2.3.3 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 40 2.3.4 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm 43 2.3.5 Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi 45 2.4 Nhận xét chung về chế định quyết định hình phạt 49 2.4.1 Về những điểm mới về chế định quyết định hình phạt trong BLHS
2015 so với BLHS 1999 49 2.4.2 Những hạn chế về chế định quyết định hình phạt đã được khắc phục
và những vấn đề còn vướng mắc 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG BLHS NĂM 2015 DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 56
Trang 83.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt của Tòa án các cấp trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018 56
3.1.1 Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt của Tòa án các cấp trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2018 56
3.1.2 Những ưu điểm, tồn tại và hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt của Tòa án các cấp và nguyên nhân của nó 61 3.2 Yêu cầu và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong BLHS năm 2015 theo hướng bảo vệ quyền con người 67 3.2.1 Yêu cầu tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người 67 3.2.2 Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyết định hình phạt trong BLHS năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người 70 3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định về quyết định hình phạt trong BLHS năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người 74 3.3.1 Giải pháp tăng cường công tác xây dựng án lệ 74 3.3.2 Tăng cường công tác hướng dẫn thi hành pháp luật và tổng kết công tác xét xử 76 3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử 76 3.3.4 Nâng cao năng lực và ý thức pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80 KẾT LUẬN CHUNG 81
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người luôn là mục tiêu cơ bản của nhân loại tiến bộ Bảo vệ con người xuất hiện rất sớm cùng với sự ra đời của Nhà nước và lúc đầu chỉ trong phạm vi quốc gia, ngày nay là mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế [35, Tr 31] Quyền con người cần được bảo vệ và thúc đẩy bằng nhiều hình thức, điều kiện khác khau, trong đó có pháp luật Cơ sở pháp lý về quyền con người bao gồm hai thành phần chính là pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia về quyền con người Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, yêu cầu các quyền con người được pháp luật bảo đảm thực hiện và được bảo vệ không bị xâm phạm luôn được đặt lên như những ưu tiêng hàng đầu Ghi nhận và tổ chức bảo đảm quyền con người trên thực tế là thể hiện của một Nhà nước nhân bản, tiến bộ, dân chủ, văn minh Các quyền con người được bảo đảm thực hiện trong việc ghi nhận về pháp lý, trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của Nhà nước Bảo đảm thực hiện quyền con người không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở các quốc gia
Quyết định hình phạt là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người Hơn ở đâu hết, quyền con người dễ bị xâm phạm nhất trong quá trình quyết định hình phạt và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất nghiêm trọng
cả về vật chất, thể chất và tinh thần Quyền con người nhìn nhận dưới góc độ QĐHP ược xác lập và bảo vệ trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động QĐHP gắn liền với tội phạm
đ-và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời đ-và xử lý công minh người phạm tội Bảo đảm quyền con người bằng các quy định về QĐHP được thực hiện bằng các phương thức, biện pháp khác nhau Trong đó, các biện pháp quan trọng nhất là bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật tố tụng hình sự và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế
Quyết định hình phạt là công việc hết sức quan trọng và nặng nề trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hình phạt được quyết định đúng pháp luật, công minh, tương xứng với tội danh là tiêu chí để đánh giá chất lượng của hoạt động xét xử vụ án hình
sự và tính nghiêm minh của PLHS Tuy nhiên, qua kết quả xét xử các vụ án hình sự
Trang 10theo thủ tục phúc thẩm lại cho thấy hoạt động quyết định hình phạt trong thực tiễn còn nhiều sai sót, làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác xét xử các vụ án hình sự Tuy nhiên, việc khắc phục những sai sót đó vẫn chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn xuất phát từ việc nhận thức rõ hậu quả tiêu cực cho xã hội do hoạt động quyết định hình phạt không đúng gây ra, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu một cách căn bản, có hệ thống về quyết định hình phạt dưới góc độ bảo vệ quyền con người mang ý nghĩa to lớn về cả góc độ lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức và khắc phục những vướng mắc, thiếu sót trong thực tiễn hoạt động quyết định hình phạt của Toà án Ngoài ra, nghiên cứu hoàn thiện quy định về các căn cứ quyết định hình phạt cũng là một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng PLHS công bằng, nhân đạo, dân chủ và công minh trong quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam Bởi những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền
con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến chế định quyết định hình phạt Tuy nhiên, các công trình này chỉ mới tiếp cận vấn đề quyết định hình phạt ở những góc độ nhỏ, có hoặc ít đề cập đến những ảnh hưởng của chế định này đối với vấn đề quyền con người Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu được các nhà nghiên cứu đánh giá cao về mặt học thuật như:
- GS TSKH Lê Cảm Vấn đề pháp lý của quy phạm "nguyên tắc quyết định hình phạt" tại Điều 37 BLHS Việt Nam (Một số vấn đề lý luận-thực tiễn và hoàn thiện pháp luật), Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1+2/1989
- GS TSKH Lê Cảm: Về bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc QĐHP” tại Điều 37 BLHS Việt Nam - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1+2/1989; Nhân thân người phạm tội - Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2001;
- GS TSKH Lê Cảm và TS Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một
số vấn đề lý luận cơ bản - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2002;
-TS Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong BLHS năm 1999 và một số kiến nghị - Tạp chí Tòa án nhân dân số 13/2004;
- TS Nguyễn Thị Thanh Thủy: Nhân thân người phạm tội trongLuật hình sựViệt Nam - Luận án tiến sĩ, 2005
Trang 11- Dương Tuyết Miên Quyết định hình phạt trongLuật hình sựViệt Nam, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003
- Đinh Văn Quế,Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Mục VI, Chương XIII “Quyết định hình phạt”, trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự năm 1999 - Phần chung", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
- PGS.TS Trịnh Quốc Toản Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Chương XVI “Quyết định hình phạt”, , trong sách: “Giáo trìnhLuật hình sựViệt Nam
phần chung” (tái bản lần thứ nhất), do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 2003
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới dạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục trong các giáo trình, sách tham khảo hay sách bình luận Có nghĩa là cho đến nay trong khoa họcLuật hình sựcủa Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến chế định QĐHP dưới góc độ bảo vệ quyền con người này một cách tương đối có hệ thống,
tương đối đồng bộ và ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học có gắn với việc nghiên
cứu thực tiễn xét xử của Toà án trên một địa phương nhất định Hơn nữa, nhiều vấn đề
lý luận vàthực tiễn xung quanh chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn
3 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, nội dung của chế định QĐHP dưới góc độ bảo vệ quyền con người, chỉ ra những kết quả và những bất cập còn tồn tại khi áp dụng các quy định về QĐHP
ở nước ta hiện nay Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về QĐHP trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, góp phần giải quyết
vụ án hình sự khách quan, trung thực và hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng, đảm bảo yêu cầu công tác bảo vệ quyền con người
Các căn cứ quyết định hình phạt là những vấn đề được khá nhiều tác giả nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Thực tế đó đã tạo ra những thuận lợi nhất định cho việc nghiên cứu đề tài nhưng cũng chính là khó khan lớn đối với tác giả vì sẽ không tránh khỏi sự trùng lặp về những kiến thức PLHS cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý Mặc dù vậy, dựa trên những nghiên cứu lý luận về quyết định
Trang 12hình phạt, kết quả đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Toà án, có thể thấy những điểm mới của luận văn là:
+ Góp phần đảm bảo sự nhận thức thống nhất về nội dung, ý nghĩa của các căn
cứ quyết định hình phạt
+ Chỉ ra những sai sót trong thực tiễn vận dụng và nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng các căn cứ quyết định hình phạt
+ Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quyết định hình phạt trong thực tiễn, bao gồm
4 Phạm vi - nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các quy định về QĐHP trong BLHS năm 2015, trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu với những quy định tương ứng được xác định trong các văn bản pháp lý hình sự trước đây
Luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
1 Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền con người, quyết định hình phạt và bảo vệ quyền con người bằng các quy định về QĐHP
2 Phân tích vấn đề bảo vệ quyền con người thông qua các quy định về QĐHP trong BLHS năm 2015
3 Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt và những ảnh hưởng của hoạt động này đối với công tác bảo vệ quyền con người
4 Chỉ ra những hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật, xây dựng đề xuất những phương án góp phần nâng cao chất lượng hoạt động QĐHP cũng như tác động đến quyền con người
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phương pháp tổng hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng quyền tự bào chữa thông qua báo cáo công tác của các cơ quan tư pháp và minh họa với các vụ án cụ thể, điều luật cụ thể để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng để nghiên cứu Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp
Trang 13phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; kết hợp với việc phân tích thực tiễn
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1 Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng những quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự
Chương 2: Các quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm
2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, yêu cầu và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người
Trang 14CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người là những giá trị trân quý, là tinh hoa của nền văn minh nhân loại Đó tiếng nói chung của tất cả các dân tộc trên thế giới nhằm hướng đến mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ phẩm giá cũng như hạnh phúc của mọi con người Sau khi chiến tranh thế giới lần hai kết thúc, quyền con người và những đảm bảo pháp lý về quyền con người ngày càng được ghi nhận và phát triển thành một hệ thống với những tiêu chuẩn quốc tế, mang tính bắt buộc đối với mọi quốc gia Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, quyền con người và các cơ chế bảo vệ quyền con người đã dần trở thành giá trị cơ bản đánh giá trình độ văn minh của các quốc gia, dân tộc trên thế giới
Chủ nghĩa Mác - Lênin xác định vấn đề quyền con người xuất phát từ cách tiếp cận con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội; do vậy, quyền của con người vừa mang tính tự nhiên và vừa mang tính xã hội Chủ nghĩa Mác -
Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: “Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và
xã hội” [23] Trong mặt tự nhiên, C.Mác coi con người là “động vật xã hội” có khả
năng “tái sinh ra con người”, con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa C Mác và Ph Ăng-ghen trên cơ sở tổng kết thực tiễn nhân quyền tư sản và phê phán các tư tưởng về quyền con người trong xã hội tư sản Theo các ông, phương thức sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng kinh tế, làm phát sinh, phát triển các mối quan hệ xã hội của con người, như đạo đức, chính trị, nhà nước, pháp luật và quyền con người C Mác khẳng định, quyền con người được luật pháp hóa thì thành quyền công dân theo
nguyên tắc: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào
mà không có quyền lợi”, “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế
và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định” [24]; tương ứng với những
thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì có quyền khác nhau Nghĩa là, quan niệm về quyền con người không phải khái niệm, phạm trù bất biến, mà
Trang 15chúng có sự biến đổi trong lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh ở mỗi nơi chúng tồn tại Quyền con người, nếu xét một cách toàn diện, gồm quyền sống, quyền lao động và quyền tự do Bởi lẽ, các quyền này thể hiện ba phương diện cốt lõi của đời sống con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động); con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do)
Kế thừa và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những nhận định vô cùng xác đáng về nhân quyền Ở đây, quyền con người không chỉ là thuộc về từng cá nhân riêng lẻ, là giá trị nhân văn cao nhất mà mỗi người đương nhiên có được, mà đó còn là giá trị văn hóa của cộng đồng, quốc gia, dân tộc Quyền con người gắn bó chặt chẽ với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia, là bộ phận không thể tách rời của tiến trình lịch sử dân tộc Điều đó cho thấy kết hợp tài tình giữa tinh hoa văn hóa nhân văn nhân loại với những giá trị truyền thống của dân tộc Sự phát triển khái niệm quyền con người thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện
rõ nét trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 Bằng những luận điểm đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [16] Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, con người đã được xác
định là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Trải qua quá trình phát triển và mới đây nhất quyền con được ghi nhận ở Hiến pháp năm 2013, trong Chương 2, tại Điều 14 quy định:
“1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [1]
Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng đã tiếp cận vấn đề quyền con người từ quyền của
Trang 16người dân mất nước và quyền của người lao động, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là không quên quyền lợi của bất kỳ một giai tầng xã hội nào, từ nhi đồng, thiếu niên, đến thanh niên, phụ nữ, phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, người khuyết tật, người dân mất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định dân là chủ thì mới làm chủ và coi quyền cá nhân phải gắn với quyền tập thể, với quyền của toàn thể xã hội; bảo đảm quyền lợi của nhân dân Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền lợi của các dân tộc khác Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải là “công bộc”, là tấm gương phục vụ quyền lợi của nhân dân; đề ra nguyên tắc “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” trong tổ chức xây dựng, vận hành chế độ dân chủ với Nhà nước của dân, do dân, vì dân; trong
đó, việc bảo đảm quyền con người là trách nhiệm trước tiên của Đảng, Nhà nước Nét đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là kế thừa, phát triển quyền con người
“tự nhiên” của mỗi cá nhân thành quyền đương nhiên của mọi dân tộc; đúc kết tư tưởng cốt lõi về quyền con người vào các giá trị: độc lập - tự do - hạnh phúc cho mỗi
người và mọi người; trong đó, “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [17]
Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nôi, tập thể tác giả định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [26] GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm quyền con người như sau: “Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị
xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế”
[36, tr 224] TS Trần Quang Tiệp định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn,
theo đó, quyền con người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [37, tr 14] Một định nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về
Trang 17nhân quyền ở nước ta hiện nay coi: “Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [38, tr 10] Những định nghĩa này tuy có những điểm khác biệt, nhưng nhìn chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế
Từ việc nghiên cứu, tổng hợp các khái niệm, các văn bản pháp lý, người viết có
thể đưa ra khái niệm về quyền con người như sau: Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Quyền con người là những giá trị cao cả
cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển
1.1.2 Đặc điểm quyền con người
Thông qua việc nghiên cứu những Văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam cùng những văn bản pháp luật được Nhà nước ta ban hành, kết hợp với những đặc tính nêu trên
có thể rút ra sáu đặc điểm riêng có của quyền con người ở nước ta như sau
Một là, quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại Quyền con người
là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa của nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất Kể từ khi Liên hợp quốc được thành lập (10/1945), Quyền con người đã được quy định trong rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia tôn trọng và thực hiện Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền cơ bản của con người: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng Quan điểm này được thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW ngày
12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó nêu rằng: “Nhân quyền là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc
bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, nhân quyền trở thành giá trị chung của nhân loại” [19]
Trang 18Ngoài ra, trong bài phát biểu tại Hội nghị thế giới về Nhân quyền lần thứ II tổ chức tại
Viên (Áo), tháng 6/1993, Phái đoàn Việt Nam cũng khẳng định: “Nhân quyền là một phạm trù tổng hợp, vừa là “chuẩn mực tuyệt đối” mang tính phổ biến, vừa là “sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài” [21] Khái niệm Quyền con người ra
đời muộn, gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, nhưng những nội dung của QCN thì xuất hiện sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa Các nhà nghiên cứu thường trích dẫn những bộ luật cổ ban hành qua các thời kỳ ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau để phân tích sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong lịch sử nhân loại Bên cạnh đó,
tư tưởng về QCN còn được phản ánh trong các học thuyết, ấn phẩm tôn giáo, chính trị
và pháp lý của nhân loại từ xưa cho đến nay Thực tiễn đã chứng minh những tư tưởng
về QCN, cũng như những quy định trong pháp luật và thực tiễn bảo vệ QCN là sự đóng góp chung của mọi quốc gia, dân tộc, qua các thời kỳ phát triển của lịch sử Mỗi bước tiến, nhân loại đều đánh dấu nấc thang mới trong nhận thức và việc thực hiện hóa các QCN, vì vậy, QCN phát triển không ngừng, gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội, với nền văn minh nhân loại Như vậy, QCN vừa là sản phẩm của văn minh nhân loại, vừa là sản phẩm đấu tranh lâu dài của con người chống lại áp bức, bóc lột, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình Ngày nay, những nguyên tắc và quy định của luật Nhân quyền quốc tế được coi là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia Ở hầu hết các nước, nội dung các công ước nhân quyền đã được nội luật hóa và từng bước tổ chức thực hiện bảo đảm QCN trên thực tế Là giá trị chung nên tất cả các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý đó Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng, chỉ rõ nguồn gốc của QCN, giúp chúng ta có cơ sở bác bỏ các quan điểm, luận điệu sai trái, coi QCN là phát kiến, là giá trị riêng của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây, do đó dẫn đến các biểu hiện phiến diện, cực đoan: hoặc quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh; hoặc áp đặt mô hình của nước này cho nước khác
Hai là, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc trong xã hội có phân chia giai cấp Quan điểm này được thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó nêu rằng: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc” [21] Cũng liên quan
Trang 19đến vấn đề này, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 2/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ
viết: “… cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc, sẽ diễn ra liên tục, lâu dài và quyết liệt” [20] Do đó, công tác bảo vệ và đấu
tranh về nhân quyền phải là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể và
tổ chức nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng Ở nước ta, QCN của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp nào, quá khứ của họ ra sao Bảo đảm QCN ở nước ta hướng đến mục tiêu xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Ba là, quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Quan
điểm này được thể hiện trong Sách trắng về thành tựu nhân quyền của Việt Nam, trong
đó Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: “… quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình” [22] Vì vậy cần phải khẳng định rằng muốn thực hiện hóa được QCN thì
điều kiện trước hết là đất nước phải được độc lập, chủ quyền quốc gia phải được tôn trọng Chủ quyền là nhân quyền tập thể của nhân dân một quốc gia, dân tộc, cho nên phải được tôn trọng và bảo vệ bằng pháp lý quốc tế Xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, dân tộc là chà đạp lên nhân quyền của toàn thể nhân dân nước đó Vì vậy, không thể có nhân quyền cao hơn chủ quyền mà chỉ có sự thống nhất biện chứng giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia Không có độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia thì không thể có QCN Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nền tảng, điều kiện quan trọng để thực hiện nhân quyền Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải (sử dụng các điều kiện này) kiến thiết đất nước để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân Khát khao cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đất nước được độc lập, nhưng vừa đạt được mục tiêu này Người đã chỉ rõ: Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì
Bốn là, quyền con người phải được pháp luật bảo vệ Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng, trong đó Đảng ta
khẳng định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người” [14] Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của
Trang 20nhân dân Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành và sửa đổi Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” [15] Mặc dù luôn nhấn mạnh “quyền bẩm sinh” nhưng ngày nay,
ở các nước tư bản cũng như ở mọi quốc gia, QCN đều được ghi nhận và bảo vệ bằng các hình thức pháp luật khác nhau Thực tiễn Việt Nam và các nước trên thế giới cho thấy đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để QCN được thực hiện Trong thời kỳ mới, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật; củng cố các cơ quan tư pháp và cơ chế nhằm bảo đảm ngày
càng tốt hơn các quyền của người dân Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định:
“Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” [15]
Năm là, quyền con người gắn liền với nghĩa vụ công dân Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó nêu rõ: “Quyền dân chủ,
tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật…” [19] Điều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1) Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân
2) Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác
3) Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội 4) Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”[1]
Đến nay, nhiều người vẫn cho rằng nói đến nhân quyền là nói đến nghĩa vụ của Nhà nước, không thể đòi hỏi nghĩa vụ cá nhân Điều này gây nhận thức mơ hồ trong một bộ phận xã hội về trách nhiệm cá nhân khi hưởng thụ quyền Bàn về vấn đề này,
Các Mác từng viết: “Không có quyền lợi nào mà ko có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi” [24] Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (1948) cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong
đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ” [18] QCN là sự thống
nhất giữa quyền và nghĩa vụ của công dân; giữa quyền, lợi ích cá nhân với quyền và lợi ích của cộng đồng
Trang 21Sáu là, quyền con người là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Trong khi
nhận rõ trách nhiệm quốc gia trong việc thực hiện QCN, với tư cách thành viên của
các điều ước nhân quyền quốc tế, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, pháp chế ” [15] Luận điểm này được xem như
bước đột phá trong hoạt động lý luận trên lĩnh vực QCN
1.2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự
1.2.1 Khái niệm, nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự
Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự là các quyền của con người liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự như quyền được tự do đi lại, quyền được sống, quyền được xét xử công bằng, quyền bất khả xâm phạm đến thân thể, sức khỏe,… được bảo vệ bằng những quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự Trong đó, các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự chứa những nội hàm liên quan đến quyền con người mà khi cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng không đúng những quy định này thì quyền con người
sẽ bị xâm phạm
Nội dung bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự: Trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung, giai đoạn quyết định hình phạt giữ một vị trí vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự Tại giai đoạn này, vấn đề số phận pháp
lý của một người được đưa ra xem xét, quyết định sau khi đã xác định được việc họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức bị coi là tội phạm Quyết định hình phạt có chính xác không chỉ góp phần đảm bảo các nguyên tắc của LHS, mặt khác còn bảo vệ, bảo đảm quyền con người được thực thi trên thực tế Nhìn ở góc độ trừng trị, việc QĐHP chính xác tạo cơ sở khắc phục những thiệt hại do tội phạm gây ra, xử lý thích đáng kẻ phạm tội và bảo vệ những khách thể được PLHS bảo vệ trong đó có quyền con người Ở một khía cạnh khác, vấn đề xác định chính xác hình phạt cũng góp phần bảo vệ quyền con người cho chính người bị buộc tội Bởi xét đến cùng trong mối quan hệ TTHS, người bị buộc tội vẫn được coi là đối tượng ở nhóm yếu thế hơn so
Trang 22với những cơ quan tiến hành tố tụng, trong mối quan hệ này, quyền lợi của người bị buộc tội rất dễ bị xâm hại trong đó không thể không nhắc tới quyền con người Quyền con người dễ bị xâm hại trong các hoạt động TTHS nói chung và kèm theo đó là những hậu quả về vật chất, tinh thần thậm chí là sức khỏe, tính mạng của người bị buộc tội vô cùng to lớn Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là việc Nhà nước phải ghi nhận quyền con người trong các văn bản QPPL mà còn phải xác lập cùng với đó những cơ chế, cách thức, phương pháp nhằm đảm bảo cho quyền con người được thực thi đầy đủ và hiệu quả trên thực tế Việc công nhận và ghi nhận quyền con người trong lĩnh vực TPHS nói chung hay trong chế định QĐHP nói riêng phải đảm bảo nội luật hóa được những quy định được thừa nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người, kế thừa những thành tựu trong lịch sử lập pháp nước nhà cũng như tính phù hợp, tính khả thi khi áp dụng trên thực tế
Với vai trò quan trọng như đã trình bày trên đây cùng những nghiên cứu về quyền con người và quyết định hình phạt, người viết xin được đưa ra định nghĩa về
bảo vệ quyền con người thông qua các quy định về quyết định hình phạt như sau: “bảo
vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trongLuật hình sựlà những cách thức, điều kiện làm cho quyền con người được đảm bảo và thực thi trong thực tiễn quyết định hình phạt dựa trên việc xác định đúng loại, mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm xác định chính xác trách nhiệm pháp lý của người phạm tội, tránh làm oan, sai người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự
1.2.2 Ý nghĩa bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trong luật hình sự
Quyết định hình phạt là một hoạt động tố tụng hình sự, thể hiện ở việc Toà án
áp dụng các quy định của BLHS và BLTTHS để tuyên một hay nhiều hình phạt thể hiện tính công minh, có căn cứ và đúng trình tự đối với người phạm tội bị kết án Qua
đó, góp phần tích cực vào việc bảo vệ các quyền con người và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy, quyết định hình phạt có những ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo vệ quyền con người
Thứ nhất, quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, mục đích là “dự kiến trong ý thức con người về kết quả nhằm đạt được bằng hoạt động của mình… Với tính
Trang 23cách là động cơ trực tiếp, mục đích hướng dẫn và điều chỉnh mọi hành động” 32 Từ
đó có thể suy ra mục đích của hình phạt là kết quả mà Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được xác định là có tội và bị kết án Mục đích của hình phạt tuy là yếu tố tiên quyết đối với hoạt động quyết định hình phạt nhưng mục đích của hình phạt có đạt được hay không lại phụ thuộc nhiều vào việc quyết định hình phạt được thực hiện như thế nào Mọi trường hợp quyết định hình phạt sai, quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đều sẽ không đạt được mục đích của hình phạt trong thực tiễn và còn làm nẩy sinh những phản ứng tiêu cực, tâm
lý chống đối, không tin tưởng vào tính công minh của pháp luật, của các cơ quan bảo
vệ pháp luật từ phía người bị kết án và dư luận xã hội
Đối với Nhà nước, mục đích của hình phạt là cơ sở để xây dựng hệ thống hình phạt bao gồm các loại hình phạt khác nhau và các chế định liên quan đến hình phạt Đây chính là những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc quyết định hình phạt Tuy nhiên, để quyết định được một hình phạt đảm bảo tính công minh, đúng pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội còn đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn có nhận thức đúng đắn về mục đích của hình phạt và mục đích của việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp cụ thể Hiện nay, mục đích của hình phạt được quy định tại
Điều 31 BLHS năm 2015 như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” 5 Mặc dù Điều 31 BLHS năm 2015 đã quy định rất cụ thể về mục đích của hình phạt nhưng việc xác định hình phạt có bao nhiêu mục đích và đó là những mục đích gì thì vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh luận trong khoa học pháp lý hình sự Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về số lượng các mục đích của hình phạt và qua tham khảoLuật hình sựcủa một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có bốn quan điểm chính về mục
đích của hình phạt là: Quan điểm truyền thống coi các mục đích quan trọng hơn cả của hình phạt là ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa chung; Quan điểm nghiêng về trấn áp hình
sự coi mục đích của hình phạt chỉ là trừng trị; Quan điểm nghiêng về đạo đức coi mục đích của hình phạt chỉ là giáo dục và cải tạo; Quan điểm mềm dẻo coi các mục đích
của hình phạt là cả trừng trị, cải tạo và giáo dục Nhìn chung, tất cả các quan điểm này
Trang 24tựu chung lại đều thừa nhận một trong hai hoặc cả hai mục đích chính của hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng trừng trị không phải là mục đích của hình phạt mà là nội dung, là bản chất, là thuộc tính tất yếu của hình phạt, là phương tiện để thực hiện hình phạt Người viết hoàn toàn đồng ý trừng trị là nội dung, là bản chất của hình phạt thể hiện ở sự tước bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội Sự tước bỏ đó chính là thái độ của Nhà nước đối với người phạm tội trong việc đảm bảo công bằng xã hội và đòi hỏi của công lý
Bất kỳ hình phạt nào củaLuật hình sựcũng đều có nội dung trừng trị, kể cả hình phạt nhẹ nhất là cảnh cáo tính chất trừng trị vẫn tồn tại Trong thực tế, người phạm tội
bị áp dụng hình phạt cảnh cáo thực chất là được Nhà nước tha bổng nhưng không vì thế mà hình phạt này không có nội dung trừng trị Hình phạt cảnh cáo vẫn buộc người phạm tội phải chịu án tích và có thể bị tước đi một số quyền và lợi ích hợp pháp nếu bị
áp dụng hình phạt bổ sung Do đó, hình phạt này có tính nghiêm khắc hơn hình phạt cảnh cáo trong luật hành chính Nếu trừng trị là nội dung của hình phạt thì việc Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bị kết án chính là nhằm trừng trị tội lỗi
mà người đó đã mắc phải bằng cách buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện hành vi phạm tội Mục đích trừng trị đó không chỉ được thể hiện trong việc Nhà nước quy định hệ thống hình phạt mà còn ở nội dung, mức độ nhẹ, nặng của mỗi loại hình phạt; ở điều kiện áp dụng từng loại hình phạt cụ thể và cả trong việc tổ chức chấp hành hình phạt Ngoài ra, mục đích trừng trị còn được thể hiện rất rõ
trong đường lối xử lý tội phạm của Nhà nước là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo” Người không có ý thức tuân thủ pháp luật mà
việc áp dụng chế tài của các ngành luật khác khôngđược đảm bảo thực hiện thì Nhà nước phải sử dụng chế tài củaLuật hình sựlà hình phạt để trừng trị họ Người thực hiện tội phạm càng nguy hiểm, nhân thân càng xấu thì càng phải trừng trị nghiêm khắc Chính vì vậy, ngày nào hình phạt còn được Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội thì ngày đó hình phạt vẫn để trừng trị người phạm tội Mỗi hình phạt trong luật hình
sự Việt Nam đều có nội dung trừng trị Vì vậy, nếu không thừa nhận hình phạt có mục đích trừng trị thì cũng đương nhiên phủ nhận nội dung trừng trị của hình phạt
Tuy hình phạt trongLuật hình sựViệt Nam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất (Điều 30 BLHS năm 2015) nhưng điều đó không có nghĩa mục đích trừng trị của hình phạt là nhằm trả thù hay gây đau đớn về thể chất, tinh thần cho người phạm tội và
Trang 25càng không phải là sự đền bù ngang giá giữa tội phạm với Nhà nước là người đại diện cho lợi ích xã hội Việc Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bị kết án không phải là lấy cái ác để trừ cái ác mà khi trừng trị người phạm tội bằng hình phạt, Nhà nước đã trực tiếp thực hiện việc “răn đe”, là biện pháp cần thiết để qua đó “cảm hoá” người phạm tội, ngăn ngừa họ và người khác phạm tội Chính việc trừng trị bằng hình phạt đã tác động vào tâm lý làm cho con người biết sợ pháp luật, buộc người phạm tội phải nhận thức ra những sai lầm của mình để từ đó sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN Như vậy, thông qua trừng trị, răn đe, người phạm tội, hình phạt sẽ giáo dục, cảm hoá người phạm tội (cũng như những người khác) từ bỏ con đường phạm tội, biết kiềm chế mình nếu có ý định phạm tội và có ý thức cẩn thận hơn trong các xử sự dễ có khả năng trở thành tội phạm Đây mới chính là mục đích cuối cùng, chủ yếu và vì con người của hình phạt trongLuật hình sựViệt Nam Tựu chung lại, nếu hình phạt chỉ có mục đích trừng trị thì chỉ có tác dụng làm cho con người run sợ và tạo điều kiện cho việc xâm hại thô bạo các quyền con người mà không thể cải tạo, giáo dục được người phạm tội Ngược lại, nếu hình phạt chỉ có mục đích giáo dục sẽ làm cho con người coi thường pháp luật và hình phạt cũng không có tác dụng gì đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Với lý do đó, trừng trị và giáo dục là hai mục đích cơ bản của hình phạt, cùng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất và giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau Trong hệ thống hình phạt của LHS, hình phạt tử hình tuy chỉ nhằm trừng trị người phạm tội nhưng cũng có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung hết sức to lớn Vì vậy, dựa vào một số quan điểm đã nghiên cứu trước, chúng tôi khẳng định rằng, trừng trị không những là mục đích trước tiên của hình phạt
mà còn là cơ sở của việc giáo dục và cũng chính là phương tiện mà chỉ thông qua nó mới có thể đạt được mục đích cuối cùng, chủ yếu của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội Ngược lại, đạt được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội chính
là sự khẳng định vai trò, tác dụng và tính tích cực của mục đích trừng trị Như vậy, mục đích của hình phạt có đạt được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử Trong mọi trường hợp, mục đích của hình phạt chỉ thực sự đạt được khi việc quyết định hình phạt đảm bảo tính công minh, có căn cứ, đúng pháp luật để hình phạt được tuyên có khả năng vừa đạt được mục đích trừng trị,
Trang 26vừa đạt được mục đích giáo dục người phạm tội Điều đó có nghĩa là ngoài việc tuân thủ các quy định về quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử phải xem xét một cách khách quan các mục đích của hình phạt để không coi nhẹ hay nhấn mạnh riêng mục đích nào Nếu có bất kỳ vi phạm trong việc xem xét mục đích của hình phạt cũng sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt không chính xác Cụ thể là việc xem nhẹ mục đích giáo dục, coi trọng mục đích trừng trị sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng Hình phạt trong trường hợp này sẽ chỉ làm cho người bị kết án thù ghét pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật, nảy sinh tâm lý chống đối và không có ý thức tự cải tạo, giáo dục Ngược lại, việc xem nhẹ mục đích trừng trị, coi trọng mục đích giáo dục sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nhẹ Hình phạt trong trường hợp này không chỉ làm cho người phạm tội có ý thức coi thường pháp luật, không tích cực giáo dục, cải tạo mà còn không đủ khả năng để ngăn ngừa những người khác phạm tội
Vì vậy, quyết định một hình phạt công minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội là điều kiện bắt buộc để đạt được các mục đích trừng trị và giáo dục của hình phạt Theo quan điểm của chúng tôi, nếu đạt được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội thì đương nhiên hình phạt cũng phát huy được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung, góp phần hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tính tích cực, chủ động tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm ở các thành viên khác trong xã hội
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phần đầu, Tác giả làm rõ khái niệm về quyền con người từ cách hiểu của các học giả trên thế giới đến cách hiểu và áp dụng tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời Tác giả cũng phân tích các đặc điểm quyền con người để qua đó cho thấy giá trị của quyền con người trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Qua đó cho thấy quyền con người là một vấn đề luôn được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, luôn là cái đích hướng tới của một nhà nước dân chủ, tiến bộ Một Nhà nước chỉ thật sự là nhà nước pháp quyền khi các quyền của công dân, quyền của con người trong đất nước đó được bảo đảm và bảo vệ bằng pháp luật
Tiếp theo, Tác giả cũng làm rõ chế định về quyết định hình phạt trong Luật hình sự để cho thấy rằng Quyết định hình phạt là một chế định quan trọng của LHS, một hoạt động không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của Toà án Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử trên cơ sở xác định đúng TNHS của bị cáo
để quyết định một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo đạt được các mục đích của hình phạt Để quyết định được một hình phạt đáp ứng được những yêu cầu đã nêu buộc đòi hỏi các thành viên của Hội đồng xét xử phải nhận thức rõ bản chất, mục đích của quyết định hình phạt Với căn cứ đó, chương 1 của luận văn đi sâu phân tích những khái niệm, đặc điểm về QĐHP, bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích vấn đề quyền con người một cách cụ thể
Cuối cùng là nội dung chính, chủ yếu nhất của Chương này là mối liên hệ và
sự thể hiện của bảo vệ quyền con người trong chế định quyết định hình phạt của BLHS 2015 Tác giả tập trung đi sâu phân tích mối liên hệ và sự thể hiện này thông qua hai điểm nổi bật là: mối tương quan giữa quyết định hình phạt với quyền con người và vai trò, ý nghĩa của vấn đề quyết định hình phạt đối với hoạt động bảo vệ quyền con người
Trang 28CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
2.1 Các nguyên tắc quyết định hình phạt trong BLHS năm 2015 dưới góc độ bảo
vệ quyền con người
Trong các nguyên tắc của chế định về QĐHP, vấn đề bảo vệ Quyền con người luôn được chú trọng và được bảo đảm bởi trong PLHS Việt Nam, các nguyên tắc QĐHP không được ghi nhận chính thức trong BLHS mà được thể hiện thông qua nội dung các quy phạm PLHS và các cơ sở lý luận khác Do các nguyên tắc QĐHP thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, có vị trí, vai trò quan trọng trong việc xác định hậu quả pháp lý đối với người phạm tội nên vấn đề bảo vệ quyền con người trong chính các nguyên tắc này cũng có vai trò rất quan trọng Các nguyên tắc của chế định quyết định hình phạt dưới góc độ bảo vệ quyền con người được thể hiện như sau:
Để có cơ sở đưa ra các nguyên tắc QĐHP, cần phải dựa vào những tiêu chí được thừa nhận chung dựa trên cơ sở quyền con người phải được đảm bảo Đầu tiên, khi áp dụng các nguyên tắc này phải thể hiện được góc độ bảo vệ quyền con người dưới sự chỉ đạo mang tính định hướng xuyên suốt quá trình quyết định hình phạt Hai là, những tư tưởng mang tính nguyên tắc của quyết định hình phạt mặc dù không được thể hiện qua nội dung của Bộ luật hình sự nhưng nội dung của các nguyên tắc phải được thể hiện trong LHS, việc thể hiện đó có thể thông qua hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp Ba là, những tư tưởng
về việc áp dụng các nguyên tắc đó trên cơ sở quyền con người được bảo đảm phải phù hợp, thống nhất với chính sách hình sự nói chung và các quy định cụ thể nói riêng Với những nội dung đã trình bày có thể khẳng định dưới góc độ bảo vệ quyền con người, các nguyên tắc của quyết định hình phạt là một bộ phận không thiếu của các nguyên tắc của PLHS nói chung và vấn đề bảo vệ quyền con người nói riêng Việc thực hiện quyết định hình phạt phải đảm bảo bốn nguyên tắc sau: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng Góc độ bảo vệ quyền con người trong từng nguyên tắc được thể hiện như sau:
2.1.1 Nguyên tắc pháp chế
Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản mà thông qua đó Nhà nước thực hiện sự quản lý bằng pháp luật đối với xã hội Mà để quản lý xã hội bằng pháp luật thì pháp
Trang 29luật đó phải được xây dựng và thực hiện trên cơ sở quyền con người phải được bảo
đảm và được bảo vệ Điều 8 của Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức
và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [1] Như vậy, pháp chế đòi hỏi, tất cả
các cơ quan, tổ chức, công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật; kiên quyết đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp
và pháp luật Quyền con người được ghi nhận và bảo vệ thông qua Hiến pháp và trong các đạo luật, trong đó có BLHS, phản ánh nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời thông qua việc bảo đảm pháp chế mà các quyền tự do, dân chủ của công dân được thực hiện Pháp luật và pháp chế có quan hệ mật thiết với nhau Để xây dựng và củng
cố pháp chế xã hội chủ nghĩa phải có pháp luật Vì vậy, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp chế xã hội chủ nghĩa cần bảo đảm tính thống nhất của từ xây dựng đến ban hành và thực hiện pháp luật Bảo đảm quyền con người được Hiến pháp quy định và cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, được các cơ quan nhà nước bảo đảm và bảo vệ, ngăn chặn kịp thời,
xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật
Trong LHS, quyền con người được thể hiện trong các nội dung của nguyên tắc pháp chế trong QĐHP được thể hiện tại các quy định của Phần chung cũng như quy định tại Phần các tội phạm Ở phần chung, nguyên tắc này được thể hiện trước hết tại
Điều 30 BLHS năm 2015 Theo đó: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [5] Quy định về các căn cứ
QĐHP cũng thể hiện rõ nguyên tắc này Cụ thể Điều 50 BLHS năm 2015 quy định:
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [5] Các quy định khác có liên
quan đến hình phạt và QĐHP cũng thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP như quy định về hệ thống hình phạt, phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt cụ thể Trong áp dụng PLHS, nội dung bảo vệ quyền con người thông qua nguyên tắc pháp chế trong QĐHP là Tòa án phải căn cứ vào các quy định của BLHS có liên quan đến
Trang 30hình phạt và QĐHP để QĐHP một cách đúng đắn với người phạm tội Điều này được thể hiện ở ba nội dung như sau:
Thứ nhất, khi QĐHP Tòa án phải tuân theo những trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình phạt, với mức phạt được quy định trong BLHS Nói cách khác, hình phạt và các quy định về quyết định hình phạt phải được và chỉ do BLHS quy định Về bản chất đây là vấn đề nguồn của LHS, điều đó xác định tính hình thức chặt chẽ cho hoạt động quyết định hình phạt Chỉ có luật mới có thể quy định tội phạm và hình phạt, đó là sự điều chỉnh ở mức tối đa và đầy đủ của LHS Đảm bảo pháp chế sẽ đảm bảo được một trật tự ở mức cao, tránh các yếu tố ngẫu nhiên, tăng cường các yếu tố ổn định Quyết định hình phạt là hoạt động
sử dụng pháp luật, vì vậy, yêu cầu bắt buộc được đặt ra là đúng mức, đúng nhu cầu thực sự, đúng khả năng của pháp luật, không thấp hơn hay cao hơn Bên cạnh đó, tội phạm là một hiện tượng mang tính xã hội, gắn liền với sự phát triển của đời sống xã hội, do đó, pháp luật cũng luôn cần vận động, điều chỉnh để tránh bỏ sót, bỏ lọt hay có quy định mà không có chế tài, hay chế tài chưa đủ mạnh để xử lý hành vi nguy hiểm Thêm nữa, khi quyết định hình phạt, tòa án cần tránh và không được phép áp dụng pháp luật tương tự Trong bản án của mình, tòa án không được phép quy định hình phạt nào khác ngoài những hình phạt được pháp luật thực định ghi nhận, và hình phạt
đó được quy định cụ thể trong những tội danh riêng, nếu chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn thì phải có căn cứ trên cơ sở luật định Trong quyết định hình phạt, tòa án cần đặc biệt chú ý tránh những trường hợp vi phạm như sau: áp dụng sai điều luật, định tội danh sai, vi phạm các quy định về căn cứ quyết định hình phạt, vận dụng sai các quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, quyết định hình phạt sai trong một số trường hợp đặc biệt…
Thứ hai, trong khi QĐHP Tòa án phải tuân thủ các quy định của BLHS về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng các loại hình phạt về tổng hợp hình phạt Theo đó, khi QĐHP, Tòa án viện dẫn đầy đủ các căn cứ pháp lý trong bản án, nghĩa là Tòa án phải chỉ rõ các điều luật được vận dụng trong phần quyết định của bản án Tòa án phải triệt để tuân thủ khi xác định và lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể cần được áp dụng cho người phạm tội Ngoài ra, Tòa án cũng cần tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, bởi vì đây là những
Trang 31quy định có tính chất là cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó QĐHP cho người phạm tội được chính xác
Thứ ba, tính hợp lý của QĐHP Tính hợp lý thể hiện ở chỗ trong số những phương án giải quyết khác nhau mà luật cho phép, Tòa án phải lựa chọn phương án tối
ưu nhất, vừa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội, vừa phục vụ cho yêu cầu chính trị - xã hội trong từng giai đoạn, ở từng địa phương cụ thể Do đó, Tòa án phải áp dụng đúng các quy định của BLHS về QĐHP Áp dụng đúng không có nghĩa chỉ là áp dụng đúng lời văn các quy định của PLHS mà còn phải hiểu đúng tinh thần lời văn của pháp luật, tìm hiểu các quy phạm PLHS theo quan điểm chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Bên cạnh
2.1.2 Nguyên tắc nhân đạo
Có thể nói rằng, trong các nguyên tắc của chế định Quyết định hình phạt thì nguyên tắc nhân đạo là người tắc thể hiện rõ nét nhất việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người, nguyên tắc nhân đạo luôn được thể hiện
rõ nét trong tư tưởng, đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật Nhà nước ta TrongLuật hình sựViệt Nam, tư tưởng nhân đạo được thể hiện xuyên suốt thông qua các quy phạm PLHS, hình thành nên nguyên tắc nhân đạo XHCN Cùng với nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc nhân đạo XHCN không chỉ là một ng Nội dung của nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP không chỉ thể hiện trongLuật hình sựmà còn được thể hiện cả trong áp dụng LHS Trong LHS, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP được thể hiện ở cả Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS
Ở Phần chung, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP thể hiện trước hết ở Điều 3
BLHS năm 2015 - nguyên tắc xử lý tội phạm Cụ thể là: “… khoan hồng đối với người
tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [5] Ngoài ra, nguyên tắc
này còn được thể hiện trong một số quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng một số hình phạt cụ thể, quy định về QĐHP đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và một số quy định khác Ở Phần riêng, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP được thể hiện trong các khung hình phạt giảm nhẹ và một số khung cơ bản Trong áp dụng LHS, nội dung cơ bản của nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP là Tòa án phải xuất phát tự
Trang 32tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định củaLuật hình sựvề hình phạt cũng như QĐHP Trước hết, khi QĐHP, Tòa án phải đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, có tư tưởng tốt trong quá trình cải tạo và lao động Bởi hình phạt không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà còn nhằm giáo dục cải tạo người phạm tội Để có một hình phạt đúng và nhân đạo Tòa án phải có thái độ khoan hồng đối với người phạm tội khi họ có tình tiết giảm nhẹ Điều
đó có nghĩa là, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì hình phạt áp dụng cho họ càng nhẹ hơn so với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ (trong điều kiện các tình tiết khác là tương đương)
Quyền con người được thể hiện trong nguyên tắc nhân đạo ở chỗ khi QĐHP còn thể hiện ở chỗ khi QĐHP Tòa án cần phải cân nhắc cả đến những đặc điểm tốt về nhân thân của người phạm tội trong phạm vi luật định Các tình tiết về nhân thân của người phạm tội mà khi xem xét QĐHP có liên quan đến việc phản ánh tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phản ảnh khả năng giáo dục cải tạo của người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ như: những người phạm tội lần đầu, những người thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra… có thể QĐHP dưới mức thấp nhất hoặc chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn… Còn đối với người phạm tội đặc biệt nguy hiểm, những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có
tổ chức…Luật hình sựnước ta có những quy định QĐHP rất nghiêm khắc Nhưng khi QĐHP đối với những người này, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi phải lựa chọn một biện pháp nghiêm khắc thích hợp, phải tuân theo một nguyên lý cơ bản là người bị kết án cũng là con người và có những quyền con người cơ bản nhất và họ là những người lầm đường lạc lối có thể được giáo dục, cải tạo trở thành người lao động có ích cho xã hội Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở sự hạn chế sự trừng trị Tức là trong một vụ án, Tòa
án có thể tuyên một trong mức cho phép đối với bị cáo: sự cần thiết tối thiểu, mức cao hơn cần thiết tối thiểu, mức tối đa, thì ở góc độ của việc hạn chế sự trừng trị, Tòa án nên tuyên mức hình phạt cần thiết tối thiểu
2.1.3 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người thì nguyên tắc cá thể hóa là một nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện rõ nét vấn đề bảo vệ các quyền cơ bản của con người trong
Trang 33các quyết định hình phạt của Tòa án Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt là nguyên tắc chung của LHS, đồng thời cũng là nguyên tắc của QĐHP và vấn đề bảo vệ quyền con người được thể hiện ở chỗ: Nội dung của nguyên tắc này là hình phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS TrongLuật hình sựViệt Nam, nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện trongLuật hình sựcũng như trong áp dụng LHS Cá thể hóa hình phạt trongLuật hình sựquy định cho mọi trường hợp phạm tội, còn cá thể hóa hình phạt trong áp dụngLuật hình sựthì áp dụng đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể, từng vụ án cụ thể Trong LHS, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện trong các quy phạm Phần chung và các quy phạm Phần các tội phạm Ở Phần chung của BLHS, trước hết nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở Điều 3 - nguyên tắc xử lý tội phạm Cụ thể là:
“Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [5]
Mặt khác, bảo vệ quyền con người trong nguyên tắc này cũng được thể hiện ở việc phân loại tội phạm trongLuật hình sựViệt Nam Việc phân loại tội phạm thể hiện
rõ quan điểm bảo vệ quyền con người của Nhà nước ta khi áp dụng chế định quyết định hình phạt, đối với các tội phạm thì quyết định hình phạt cần phải xem xét các hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì mức hình phạt quy định cho các tội phạm này khác nhau Ngoài ra trong Phần chung của BLHS còn có một loạt các quy phạm khác thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP như: quy định về QĐHP trong chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, trường hợp đồng phạm cùng thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP (từ Điều 54 đến Điều
58 BLHS 2015) Nội dung của nguyên tắc này cũng được thể hiện trong các điều luật quy định về hệ thống hình phạt
Trong Phần các tội phạm, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện ở các chế tài quy định cho các tội phạm cụ thể Các chế tài này được quy định
đa phần là các chế tài lựa chọn Sự đa dạng về loại hình phạt đã tạo điều kiện thuận lợi
Trang 34cho Tòa án tùy từng trường hợp cụ thể lựa chọn hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong hoạt động áp dụng LHS, trước hết, vấn đề bảo vệ quyền con người trong nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, trong trường hợp cụ thể, hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khi QĐHP, Tòa án phải cân nhắc các tình tiết có trong vụ án để đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để có thể quyết định một hình phạt tương xứng với người phạm tội Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, khi QĐHP Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia của những người đồng phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của từng người đồng phạm Trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với trường hợp tội phạm hoàn thành Do vậy, hình phạt tuyên cho người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải thấp hơn trường hợp tội phạm hoàn thành
Thứ hai, khi Tòa án quyết định hình phạt cần phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như trình độ học vấn, lối sống, ý thức chính trị, ý thức pháp luật, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình… và chỉ rõ trong bản án những điểm tốt, điểm xấu trong nhân thân người phạm tội, đồng thời chỉ cân nhắc những tình tiết có
ý nghĩa đối với QĐHP cho người phạm tội Tòa án phải cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS có trong vụ án bởi vì các tình tiết này có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, từ đó làm cơ sở cho Tòa án QĐHP được đúng với người phạm tội
2.1.4 Nguyên tắc công bằng
Bảo vệ quyền con người được thể hiện trong nguyên tắc công bằng ở chỗ: Khi Tòa án thực hiện QĐHP thì cần phải cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, không phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xuất thân,tình trạng tài sản của người phạm tội… giữa những người phạm tội trong cùng một vụ án hoặc giữa những người phạm tội có cùng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong các vụ án hình sự tương ứng giống nhau Hình phạt càng phù hợp và thể hiện sự công bằng giữa những hành vi phạm tội tương xứng thì quyền con người của nguyên tắc công bằng càng được thực hiện triệt để Nguyên tắc công bằng đặt ra yêu
Trang 35cầu về sự tương xứng giữa hành vi vi phạm và trách nhiệm mỗi người vi phạm phải chịu Bảo vệ quyền con người bằng nguyên tắc công bằng trong QĐHP đòi hỏi PLHS phải phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, trong đó có những quan điểm chính thống về lẽ công bằng, về cách đánh giá tội phạm và hình phạt Đề từ đó, Tòa án căn cứ nguyên tắc này ra những hình phạt phù hợp với mức độ nghiêm trọng của hành
vi phạm tội, đồng thời việc áp dung các chế tài đó phải tương xứng trong mối quan hệ
so sánh với các tội phạm khác Ở góc độ quyền con người của nguyên tắc QĐHP, sự công bằng chỉ được đảm bảo nếu hình phạt đó được đặt trong mối tương quan với mức
độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và những tình tiết khác có liên quan Quyết định hình phạt đáp ứng được nhu cầu chỉ khi hoạt động đó dựa trên những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội một cách tổng hợp
2.2 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về căn cứ quyết định hình phạt
Quyền con người được thể hiện rõ nét trong các căn cứ quyết định hình phạt, các căn cứ này là những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do Bộ Luật hình sự quy định mà Hội đồng xét xử bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội bị kết án
Điều 50 của Bộ luật hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt
“1 Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
2 Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội” [5]
Theo đó, quy định căn cứ QĐHP là những cơ sở pháp lý được quy định trong BLHS mà Tòa án buộc phải tuân thủ khi QĐHP cho người phạm tội nhằm đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích của hình phạt Vấn đề này đã được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 và tiếp tục được quy định tại Điều 50 của BLHS năm 2015, điều này đã khẳng định tầm quan trọng của các quy định về căn cứ QĐHP cũng như việc áp dụng các quy định này dưới góc độ bảo vệ quyền con người Để có thể áp dụng
Trang 36chính xác các căn cứ trên, khi QĐHP đòi hỏi Tòa án phải nhận thức đúng nội dung, bản chất, ý nghĩa pháp lý của từng căn cứ, cũng như mối liên hệ giữa các căn cứ này với nhau
Ngoài ra, trong lần pháp điển hóa năm 2015, căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015, theo đó, nội dung cơ bản được giữ nguyên và
có bổ sung thêm một căn cứ tại điểm 2: “Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội” [5], quy định này cho thấy vấn đề bảo vệ quyền con
người được thể hiện ở chỗ khi quyết định áp dụng hình phạt tiền thì Tòa án cần phải cân nhắc đến khả năng về tài chính, tài sản để thực hiện hình phạt của người phạm tội Các căn cứ trên vừa có tính độc lập tương đối, lại vừa có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất các căn cứ quyết định hình phạt để làm cơ sở pháp lý cho Tòa án phải tuân thủ khi thực hiện QĐHP Vấn đề bảo
vệ quyền con người được thể hiện trong mỗi căn cứ của QĐHP như sau:
2.2.1 Quyết định hình phạt phải căn cứ vào các quy định của BLHS
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người, quy định này là trực tiếp góp phần bảo vệ những người đang bị xét xử Bởi, trong mối liên hệ với pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, BLHS là văn bản luật giữ vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các quy định của BLHS là cơ sở pháp lý để tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, các quy phạm PLHS chính là cơ sở pháp lý duy nhất của hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình phạt Nhận thức được tầm quan trọng
đó, nhà làm luật đã lựa chọn “quy định của BLHS” làm căn cứ đầu tiên của việc quyết định hình phạt Căn cứ này trước hết thể chế hóa nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt động áp dụng PLHS của các chủ thể nói chung và hoạt động xét xử của Tòa
án nói riêng Khi QĐHP thì các quy định của BLHS bao giờ cũng là căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất để Tòa án quyết định được một hình phạt chính xác, đảm bảo mục đích của hình phạt Việc căn cứ này là việc chủ thể áp dụng pháp luật vận dụng đầy đủ các quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm có liên quan đến quá trình xem xét
xử lý hành vi phạm tội Việc tuân thủ căn cứ này đảm bảo khả năng các đối tượng đang bị xử lý hình sự sẽ phải chịu những hình phạt nhất định do việc thực hiện hành vi
Trang 37phạm tội, tuy nhiên, việc gánh chịu hậu quả pháp lý này không phải ngẫu nhiên mà được quy định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật
Ở một góc độ khác về quyền con người, nội dung của quy đinh này góp phần tránh cho người phạm tội khởi sự xâm hại từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp bị lạm quyền, bởi xét cho cùng trong quan hệ PLHS, nhóm đối tượng này vẫn được đánh giá là nhóm người dễ bị tổn thương Sự tổn thương của họ có thể xuất phát từ phía cơ quan công quyền do sự tùy nghi nếu không được giới hạn bởi các quy định pháp luật Việc căn cứ vào “quy định của BLHS” nhằm đảm bảo tính thống nhất, chính xác khi áp dụng các quy phạm PLHS vào quyết định hình phạt Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Toà án định tội danh và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng loại và mức hình phạt cụ thể Nếu không dựa vào quy định của BLHS sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện hoặc lạm dụng các quy phạm PLHS khi quyết định hình phạt Do đó, Điều 50 BLHS năm 2015 yêu cầu Tòa
án phải “căn cứ” vào quy định của BLHS, còn đối với ba căn cứ sau, Điều luật chỉ yêu cầu “cân nhắc” BLHS bao gồm một hệ thống các quy phạm PLHS, trong đó có
những quy phạm quy định về tội phạm và những quy phạm quy định về hình phạt
2.2.2 Cân nhắc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tội phạm được quy định trong BLHS là do có tính nguy hiểm đáng kể cho xã
hội “Tính nguy hiểm cho xã hội” của tội phạm không chỉ là một đặc điểm cơ bản mà
còn là thuộc tính khách quan, thể hiện bản chất của từng hành vi phạm tội cụ thể Tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội đượcLuật hình sựbảo vệ Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm 5 Tính nguy hiểm cho xã hội bao gồm tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Chính vì vậy, nhà làm luật đã dựa vào tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để xây dựng các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể và đồng thời cũng quy định các khung hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội phạm Thực tế cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm một tội cụ thể, thậm chí cùng một tội phạm do một người thực hiện nhiều lần cũng luôn khác nhau về tính chất
Trang 38và mức độ nguy hiểm cho xã hội Do đó, để quyết định hình phạt đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, luật bắt buộc Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là yêu cầu có tính chất quyết định đến khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở các mức độ khác nhau khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người bị kết án Nếu chỉ dựa vào căn cứ thứ nhất là các quy định của BLHS thì chưa thể quyết định được loại và mức hình phạt tương xứng với từng trường hợp phạm tội cụ thể Chính vì vậy, nhà làm luật đã xác định căn cứ thứ hai của việc quyết định hình phạt là khi quyết định hình phạt, Tòa án
phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội”
Tiếp cận dưới góc độ bảo vệ quyền con người, việc cân nhắc tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội giúp cho Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc và điều kiện để lựa chọn và quyết định hình phạt với mức độ cụ thể tương xứng với hành vi phạm tội, đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong quyết định hình phạt Hình phạt chỉ có thể phát huy được tác dụng khi nó được tuyên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Nói cách khác, chỉ khi hình phạt được lựa chọn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì việc quyết định hình phạt mới được thực hiện Điều đó đảm bảo được sự bình đẳng, thống nhất, chính xác khi quyết định hình phạt đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về cùng một tội hay trong cùng một khung hình phạt Điều 50 BLHS năm 2015 buộc Tòa án khi quyết định hình phạt phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội” nhưng dựa vào tiêu chí nào để làm cơ sở cho việc “cân nhắc” thì luật lại không quy định Trong thực tiễn, các tiêu chí làm cơ sở cho việc cân nhắc đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội thực chất chỉ tồn tại trong lý luận của khoa học pháp lý hình sự, trong ý thức
và kinh nghiệm của những người trực tiếp làm công tác xét xử các vụ án hình sự Việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong thực tiễn được thực hiện dựa trên cơ sở những tiêu chí cơ bản sau:
- Tính chất, tầm quan trọng của khách thể bị tội phạm xâm hại;
- Tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ, thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm;
- Tính chất và mức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe doạ gây ra;
Trang 39- Hoàn cảnh phạm tội;
- Hình thức thực hiện tội phạm riêng lẻ hay đồng phạm;
- Mức độ thực hiện tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt;
- Hình thức lỗi (cố ý, vô ý), mức độ lỗi, tính chất của động cơ;
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Tuy đã có cách hiểu tương đối thống nhất nhưng việc không quy định cụ thể các tiêu chí làm cơ sở để cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội vẫn là một hạn chế lớn của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt Hạn chế này đã làm cho việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội cả trong lý luận lẫn trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự của Toà án các cấp thường gặp rất nhiều khó khăn và không tránh khỏi tình trạng tuỳ tiện làm ảnh hưởng đến chất lượng quyết định hình phạt Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự theo BLHS năm 2015 đã cho thấy, do chưa có những tiêu chí, cơ sở thống nhất để Toà án
có điều kiện đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên nhiều trường hợp Toà án đã tuyên những hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Thực tiễn đó đòi hỏi BLHS cần quy định cụ thể, chi tiết các tiêu chí chuẩn, có giá trị phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo việc áp dụng căn cứ thứ hai được chính xác, thống nhất
2.2.3 Cân nhắc nhân thân người phạm tội
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người, có thể thấy rằng nhân thân người phạm tội tuy không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng nó lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định khung hình phạt, là một trong những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi QĐHP, nhân thân người phạm tội được cân nhắc đến như một trong những yêu cầu quan trọng nhằm giải quyết chính xác vấn đề TNHS nói chung của người phạm tội Ở góc độ bảo vệ Quyền con người, nhân thân người phạm tội được xem xét dưới một số khía cạnh:
Thứ nhất, xét theo các đặc điểm nhân thân của người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể, như: Đặc điểm sinh học tuổi tác, giới tính, đặc điểm xã hội trình độ học vấn, nơi cư trú, nghề nghiệp, đặc điểm tâm lý phản ánh
Trang 40nhận thức xã hội tiêu cực của người phạm tội, đặc điểm nhân thân mang tính pháp lý hình sự Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội của người đó Nhân thân của người phạm tội trongLuật hình sựđược hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự… Các đặc điểm này cần được “cân nhắc” khi QĐHP bới nó có ý nghĩa đối với việc đinh tội cũng như đối với việc định khung hình phạt Đó là những tội phạm mà cấu thành tội phạm cơ bản hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ của những tội này có dấu hiệu phản ảnh đặc điểm nào đó về nhân thân của người phạm tội Ví dụ: Cấu thành tội phạm cơ bản của tội giết con mới đẻ đòi hỏi chủ thể phải là người mẹ sinh ra đứa trẻ đó
Thứ hai, nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt Qua nghiên cứu nhân thân người phạm tội không chỉ đánh giá được khả năng giáo dục cải tạo của người phạm tội mà còn giúp đánh giá được tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để có hình phạt phù hợp Cùng một hành vi nhưng ở người này là biểu hiện ngẫu nhiên đột xuất nhưng ở người khác là hành vi có tính toán,
có ý thức sâu sắc biểu hiện bản chất của người pham tội Hành vi và con người luôn có quan hệ với nhau cho nên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng phụ thuộc vào tính chất của con người
Thứ ba, do mối liên hệ giữa nhân thân người phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cho nênLuật hình sựđã coi nhân thân người phạm tội
là một trong những căn cứ quyết định hình phạt Mặt khác, luật cũng có quy định coi nhiều tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ví dụ: Khi xem xét nhân thân người phạm tội của A cho thấy A tuy chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng luôn có hành
vi gây rối trật tự công cộng, không có công ăn việc làm Khi xem xét nhân thân người phạm tội của B cho thấy B cũng chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính,