1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống ở quận đồ sơn, thành phố hải phòng

187 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 27,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một mặt Việt Nam cần bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống, nhưng mặt khác cần phải biết phát huy, khai thác các giá trị văn hóa truyền thống đó phục vụ phát triển kinh tế - xã

Trang 1

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Lê

Hà Nội, 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quang Lê Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn này là trung thực, không sao chép

từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI, QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN 11

1.1 Cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý lễ hội 18

1.1.3 Nội dung công tác quản lý nhà nước về lễ hội ở cấp Quận 18

1.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn 22

1.2.1 Khái quát về quận Đồ Sơn 22

1.2.2 Khảo sát các lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn 31

Tiểu kết 50

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN 52

2.1 Bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn 52

2.1.1 Bộ máy tổ chức quản lý lễ hội 52

2.1.2 Cơ chế quản lý lễ hội 53

2.2 Các hoạt động quản lý lễ hội 55

2.2.1 Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội 55

2.2.2 Quản lý các điều kiện tổ chức lễ hội 58

2.2.3 Quản lý dịch vụ, môi trường, an ninh trật tự 63

2.2.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý 67

2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng tại lễ hội 67

Trang 4

2.3 Đánh giá hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn quận

Đồ Sơn 69

Tiểu kết 72

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN 73

3.1 Phương hướng quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay 73

3.1.1 Xu hướng biến đổi của lễ hội truyền thống 73

3.1.2 Định hướng quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay 76

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội quận Đồ Sơn 79

3.2.1 Nhóm giải pháp về công tác lãnh đạo, chỉ đạo 79

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự 86

3.2.3 Nhóm giải pháp về bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội truyền thống 91

3.2.4 Nhóm giải pháp về nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống 105

3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng cấp trên 107

3.3.1 Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 107

3.3.2.Kiến nghị đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hải Phòng 109

Tiểu kết 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 116

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DL,VH&TT Du lịch, Văn hóa và Thông tin

VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

VHTT&TT Văn hóa Thông tin và Thể thao

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Toàn cầu hoá hiện đang là xu thế tất yếu, khách quan, tác động mạnh mẽ tới tất cả các quốc gia, dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại, cũng như cuộc sống của mỗi con người Trong bối cảnh đó Việt Nam đang thực hiện mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực trong đó

có lĩnh vực văn hóa, thực hiện giao lưu, hợp tác, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại

để làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc đồng thời chú trọng bảo tồn bản sắc dân tộc, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống Tuy nhiên toàn cầu hoá không chỉ tạo ra cho Việt Nam những cơ hội, mà cả những thách thức to lớn Trong các thách thức đó thì thách thức về văn hoá, về việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, các giá trị truyền thống được coi là một trong những thách thức lớn nhất Một mặt Việt Nam cần bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống, nhưng mặt khác cần phải biết phát huy, khai thác các giá trị văn hóa truyền thống đó phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đúng với vai trò “là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và được cụ thể hóa trong các quan điểm, chính sách về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, mở đầu với Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) và được tiếp tục phát triển với nhiều chủ trương, chính sách thiết thực và hiệu quả đã là động lực mạnh mẽ cho hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc trong đó có di sản văn hóa lễ hội truyền thống

1.2 Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, hợp thành kho tàng di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định, thông qua các hoạt động lễ hội, tái hiện lại một thời

kỳ lịch sử gắn với một nhân vật lịch sử nhất định, hay một sự kiện nhất định trong lịch

sử dân tộc, lịch sử địa phương Lễ hội thể hiện những giá trị văn hóa như phong tục, tập quán, các quan niệm về cuộc sống, về xã hội, về tự nhiên, các tục hèm, những điều kiêng kị của một cộng đồng dân cư, một vùng, miền nhất định Thông qua các hoạt động lễ hội góp phần giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những anh

Trang 7

hùng có công với đất nước, những người có công khai phá vùng đất, lập làng, những vị

tổ nghề Đồng thời cũng giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong một cộng đồng dân cư Ngày nay, việc tham gia các lễ hội truyền thống

đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng trở

về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa Có thể nói, lễ hội truyền thống là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc

1.3 Đồ Sơn là một bán đảo được tạo bởi dãy núi chín ngọn vươn ra vịnh Bắc

Bộ và một ngọn tách ra đứng một mình là hòn núi Độc Đồ Sơn giữ một vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của thành phố Hải Phòng Cơ cấu kinh tế của toàn Quận trong đó ngành du lịch, dịch vụ chiếm khoảng 70%; đánh bắt thủy sản, nông nghiệp chiếm 23%; công nghiệp, xây dựng 7% Kinh tế

- xã hội Quận phát triển với tốc độ khá cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức độ đầu tư cho văn hóa, đặc biệt là cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tăng lên, hệ thống các di tích lịch sử văn hóa của địa phương được quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo bằng cả kinh phí của nhà nước và của nhân dân Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi, phát triển của các lễ hội truyền thống trên địa bàn Quận Theo thống kê của Phòng Du lịch, Văn hóa và Thông tin quận Đồ Sơn năm 2014 thì trên địa bàn Quận có 3 lễ hội truyền thống: lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn, lễ hội Đảo Dấu, lễ hội Đền Bà Đế

Tuy nhiên, do quận Đồ Sơn mới được thành lập từ năm 2007 theo Nghị định

số 145/2007/NĐ-CP, ngày 12/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nên công tác quản

lý lễ hội còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, nảy sinh không ít tiêu cực, đặt ra cho các

cơ quan quản lý văn hóa của địa phương nhiều vấn đề phải lưu tâm giải quyết để đảm bảo cho hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động lễ hội nói riêng đúng định hướng, lành mạnh và hiệu quả, phát huy cao nhất các giá trị văn hóa, xã hội trong đời sống đương đại Trên hết là việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những cách thức quản lý lễ hội truyền thống có hiệu quả nhất nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của địa phương

Trang 8

Nhìn chung, đây là một vấn đề có tính chất chiến lược, nhưng cho đến nay chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về công tác quản lý lễ hội trên địa bàn quận Đồ Sơn Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn - thành phố Hải Phòng” làm luận

văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về lễ hội không phải là vấn đề mới, mà đã được giới nghiên cứu văn hóa hết sức quan tâm, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội dưới nhiều góc độ

Dưới góc độ quản lý văn hóa, có các công trình: Đề tài nghiên cứu cấp bộ

của Bộ Văn hóa Thông tin “Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền thực trạng và giải

pháp” của hai tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú (2004); Luận án Tiến sĩ

Văn hóa học “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm

1945 đến nay” của tác giả Bùi Hoài Sơn (2007); Sách “Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay” của Phạm Thị Thanh Quy, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội (2009)… Các

công trình này đã phân tích thực trạng, yếu tố tích cực, hạn chế của hoạt động lễ hội

và quản lý lễ hội, từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý lễ hội Dưới góc độ nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu dân tộc học có các công trình

đã được xuất bản như: Nếp cũ hội hè đình đám của Toan Ánh, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (1991); Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Nhà xuất

bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội (2002)… chủ yếu miêu tả các lễ hội dân gian truyền thống ở các địa phương thuộc đồng bằng trung du Bắc Bộ

Ngoài ra còn có nhiều bài viết về lễ hội trên các báo, tạp chí chủ yếu đứng trên quan điểm của nhà quản lý nêu lên thực trạng hoạt động tổ chức lễ hội, phê phán những mặt hạn chế của các hoạt động lễ hội diễn ra ở vùng Đồng Bằng Bắc

Bộ và trên cả nước như: “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của

người Việt ở Đồng Bằng Bắc Bộ, do PGS.TS Nguyễn Quang Lê làm chủ biên, Nhà

xuất bản Văn hóa Thông tin (2001); “Nhìn lại lễ hội dân gian 2010” của tác giả Lê

Hồng Lý (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 321 năm 2011)…

Trang 9

Ở phạm vi địa phương của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã có một số

công trình viết về lễ hội như: “Đồ Sơn thắng cảnh và du lịch” do Nhà xuất bản Hải

Phòng xuất bản (1997), đây là công trình nghiên cứu về du lịch, lễ hội, giới thiệu và

cung cấp những thông tin về du lịch và lễ hội của Đồ Sơn Sách “Đồ Sơn lịch sử &

Lễ hội chọi trâu” và cuốn “Tản mạn Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn” của tác giả Đinh Phú

Ngà do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội xuất bản (2003) Đây là những công trình nghiên cứu về lịch sử quê hương Đồ Sơn và lễ hội chọi trâu truyền thống

Đồ Sơn Trong đó đã đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất Đồ Sơn với những nét độc đáo trong phong tục, tập quán; đa dạng trong văn hóa, tín ngưỡng và di tích lịch sử; nổi bật và đặc sắc nhất là truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại và những thăng trầm của Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn

Cuốn “Kiến An tỉnh, Kiến Thụy phủ, Đồ Sơn tổng, Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc

Xuyên tam xã thần sắc” hiện nằm trong mảng sách thần tích thần sắc của kho tài

liệu Hán Nôm - Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang kí hiệu ADa 12/5 Nội dung sách bao gồm 42 trang chép thần sắc ba xã, xã Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên thuộc tổng

Đồ Sơn thờ thần Điểm Tước Tổng cộng gồm 16 đạo thần sắc của các triều đại vua khác nhau Thần Điểm Tước duệ hiệu là “Điểm Tước Thần Vương” vị Thượng đẳng thần đầu tiên ở Đồ Sơn, vị thuỷ thần và cũng là Thành hoàng làng của cả vùng

Đồ Sơn gắn liền với các lễ hội truyền thống của Đồ Sơn…

Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận để từ đó áp dụng vào giải quyết các vấn đề cấp thiết của

thực tiễn đang đặt ra trên phương diện quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

- thành phố Hải Phòng nên đây sẽ là công trình đầu tiên đề cập đến vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý lễ hội truyền thống

Tìm hiểu khái quát về quận Đồ Sơn và lễ hội truyền thống của quận Đồ Sơn Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống

ở quận Đồ Sơn hiện nay

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống

ở quận Đồ Sơn trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về lễ hội và công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu Quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn (từ ngày 12/9/2007 đến nay do quận Đồ Sơn mới được thành lập theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP, ngày 12/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ), thực trạng quản lý, tổ chức bộ máy và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống; nhằm bảo tồn và phát huy

có hiệu quả những giá trị của lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn trong giai đoạn hiện nay

4.3 Thời gian nghiên cứu

Từ năm 2007 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng

và Nhà nước về quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Quản lý văn hóa, Lịch sử, Bảo tàng học, Xã hội học…

Trang 11

- Phương pháp khảo sát điền dã, phỏng vấn, thống kê, chụp ảnh, phân tích và tổng hợp tài liệu kết hợp với khảo sát thực tế

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là một công trình nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn từ năm 2007 đến nay Đồng thời chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác quản

lý lễ hội Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản

lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo về công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn và các địa bàn khác tương đồng với quận Đồ Sơn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội, quản lý lễ hội và tổng quan về lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI, QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN

VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN

1.1 Cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Lễ hội truyền thống

Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội; còn theo từ điển Tiếng Việt năm 2002, Nhà xuất bản Đà Nẵng “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp Chữ

“lễ” được hình thành và biết tới từ thời kỳ Chu (thế kỷ 12 trước công nguyên), lúc đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì lễ là “cách bày

tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [1, tr.385]

Dần dần, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn, nhỏ, thân, sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành đẳng cấp Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa… Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung, khái niệm Lễ mà

chúng ta đang bàn đến ở đây không phải là chữ lễ của đạo Khổng: “Lễ trong lễ hội là

một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần Thành hoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy dãy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo”

Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người

Lễ mang ý nghĩa là nghi thức, là hành vi cúng tế của con người hướng tới các thần linh để cầu mong sự che chở, phù hộ Lễ là nơi gửi gắm nỗi niềm tâm linh và ước

Trang 13

vọng của con người Còn Hội là sự tập hợp, hội họp đông người, ở đó diễn ra một

hệ thống trò chơi, trò diễn, cuộc đấu, văn hóa nghệ thuật, thể thao rất phong phú và

đa dạng, là đời sống văn hóa thường nhật Theo Từ điển tiếng Việt năm 2002 “Hội

là cuộc vui chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt”

Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khi chưa thành “Hội” phải bao gồm các yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: “Hội” phải được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng dân tộc; “Hội” đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng mang tính cộng đồng cả tư cách

tổ chức lẫn mục đích của nó “Hội” có nhiều trò vui đến mức hỗn độn Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vả với những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải qua Đến với

“Hội” mọi người sẽ được giải toả, thăng bằng trở lại Vậy khái niệm “Hội” tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn hoá tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát

từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng

cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình Sự sinh sôi nảy nở của gia súc,

sự bội thu của những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với bốn chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh” Hội là môi trường sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dân gian, nó đã có và tồn tại từ ngàn xưa Hội có sức sống lâu bền bởi nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh cho mọi người, mà còn thỏa mãn cả nhu cầu sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng Nó còn là chất keo để cố kết cộng đồng bởi trong nó có sức quy tụ cộng đồng gặp gỡ giao lưu với nhau, cùng nhau tổ chức các trò chơi, trò diễn mang bản sắc văn hóa của cộng đồng làng xã nơi đây

Tóm lại, “Hội” là để vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái Nó không bị ràng buộc bởi nghi lễ tôn giáo, đẳng cấp, tuổi tác Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một niềm tin vui cộng đồng Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện Ngoài vui chơi giải trí, ngoài gặp gỡ bạn bầu, mọi người về dự hội đều cảm thấy hình như mình còn được thêm một cái gì nữa Phải chăng đó là “lộc thánh”, “lộc thần” Hay

Trang 14

tất cả gọi chung là lộc hội Thứ quyền lợi vô hình ấy chỉ có trong ngày hội và ai muốn được thì phải đến tận nơi mà nhận chứ không ai có thể nhận thay cho ai Chính vì vậy mà hội rất đông, rất nhộn nhịp Những ngày làng vào đám, nhịp sống thôn dã tưng bừng hẳn lên Đó là một thực tế ai cũng thấy, cũng cảm nhận được

Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hóa vẫn chưa nhất quán trong cách sắp xếp cụm từ “Lễ hội” hay “Hội lễ” Tác giả Bùi Thiết (1993) cho rằng khi phần hội phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ”, khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ hội” [58, tr.7]

PGS.TS Nguyễn Quang Lê trong “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền

thống của người Việt ở Đồng Bằng Bắc Bộ” có nói về cấu trúc nội dung của Lễ hội

truyền thống và các loại hình Lễ hội truyền thống

Giáo sư Ngô Đức Thịnh thì chỉ ra một cách cụ thể:

Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ

và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường

là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [88, tr.37]

Như vậy từ “Hội” bản thân nó đã gắn bó hữu cơ với từ “Lễ” (không có lễ thì không có hội) Trong ngôn ngữ thường ngày người ta thường dùng từ “Hội” để gọi chung cho lễ hội đó và đó chỉ là một hình thức tu từ mà thôi, lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn bộ, lấy hội để chỉ lễ hội Về cơ bản, khái niệm “Lễ hội” đã đi vào đời sống văn hóa ở nước ta và thường được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật hay các văn bản hành chính nhà nước…

Tóm lại, cả phần lễ và phần hội đều nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu giải trí, thể hiện sức mạnh, tài năng, tái hiện cuộc sống của con người Hội gắn liền với Lễ và chịu sự quy định của Lễ, có Lễ mới có Hội

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và

Trang 15

phát triển trong quá trình lịch sử, có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày càng bền chặt hơn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người

Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc

Lễ hội truyền thống chủ yếu do nhân dân đứng ra tổ chức và mọi người dân đều được tham gia Lễ hội truyền thống cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí Lễ hội truyền thống còn là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn Lễ hội truyền thống được coi như bảo tàng sống, tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hóa của dân tộc, có sức sống lâu bền và lan tỏa trong đời sống nhân dân Lễ hội truyền thống

là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể Việc tổ chức lễ hội truyền thống góp phần tích cực trong việc giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho văn hóa Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa ngoại lai

Tựu chung lại có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và

lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử; được truyền lại trong các cộng đồng với tư cách như một phong tục tập quán

Trang 16

Như vậy có nhiều cách hiểu và định nghĩa về lễ hội truyền thống khác nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận Tuy nhiên khi tiếp cận lễ hội truyền thống theo hướng của quản lý văn hóa sẽ bao trùm lên tất cả các yếu tố, các sự kiện của lễ hội đang diễn ra trong đời sống hiện nay gồm cả truyền thống dân gian và tái sáng tạo mang tính bác học Bên cạnh đó, lĩnh vực quản lý văn hóa sẽ quan tâm nhiều đến việc bảo tồn, phát huy, khai thác và phát triển những vốn liếng truyền thống cũng như sự tái sáng tạo các giá trị tạo nên các sự kiện của lễ hội phục vụ và đáp ứng nhu

cầu tinh thần của nhân dân trong đời sống văn hóa hiện nay

1.1.1.2 Quản lý lễ hội truyền thống

Thuật ngữ “quản lý” được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý khác nhau Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý Theo nghĩa rộng: quản lý là hoạt động có mục đích của con người còn theo nghĩa hẹp: quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc

Trong khoa học xã hội, Từ điển tiếng Việt (2005) định nghĩa quản lý là “sự

trông nom, coi sóc, gìn giữ các công việc” Thuật ngữ “Quản lý” ở nước ta thường được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới

Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản

lý nhà nước Bằng chính sách và pháp luật, Nhà nước trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước Quản

lý nhà nước trong các lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước

Quản lý có vai trò, chức năng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, hoạt động quản lý văn hóa là vấn đề nhạy cảm

Trang 17

và phức tạp bởi quản lý văn hóa mang tính đặc thù do nó có phạm vi rộng và có mặt hầu hết ở mọi hoạt động của con người Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Quản lý văn hóa nhằm đưa các hoạt động văn hóa vào nề nếp theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho nhân dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do học tập, sáng tác, sáng tạo phê bình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết

để đảm bảo sự hài hòa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội

Ở Trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển

sự nghiệp văn hóa nghệ thuật trên cả nước Thi hành các biện pháp để bảo tồn và phát triển văn hóa, chống lại các hiện tượng, hành vi truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch trình các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa Ban hành các Nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài về tổ chức các hoạt động phát triển văn hóa

Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính pháp chế ở địa phương thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình theo quy định của pháp luật Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc tỉnh, thành phố, các Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện, các Ban Văn hóa xã, phường, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình

Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương, đương lối, phương pháp xây dựng và

Trang 18

phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn hóa, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu

Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa

Quản lý lễ hội là quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội, đó là việc nghiên cứu, xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp có liên quan và can thiệp bằng các công cụ này nhằm mục đích phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và hệ thống pháp luật hiện hành cũng như Quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội truyền thống là làm cho lễ hội được vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại

Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền

thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý như chính sách,

pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của Nhà nước đã ban hành Quản lý

lễ hội là một quá trình thực hiện bốn công đoạn: xác định nội dung và phương thức

tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện; tổng kết, đúc kết kinh nghiệm Quản lý lễ hội đáp ứng các nhu cầu phát triển;

đó là việc huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm tôn vinh và phát triển các giá trị vốn có trong lễ hội truyền thống phù hợp với nhu cầu văn hóa, kinh

tế và xã hội của cộng đồng, địa phương, đất nước

Trang 19

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý lễ hội

Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của Nhà nước Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục tiêu của quản

lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm minh các điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản pháp quy, nghị định, chế tài và các văn bản liên quan [Pl.2, tr.117]

Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội Đồng thời, phối hợp với các cơ quan chức năng như: công an, quản lý thị trường, môi trường, giao thông vận tải, y tế,… xử lý sai phạm trong lễ hội Trên thực tế, hoạt động lễ hội có tác động tới các mặt của đời sống xã hội ở khu vực, địa điểm tổ chức Do đó việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính quyền sở tại nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan Do đó, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm tùy từng vụ việc mà có những cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết

1.1.3 Nội dung công tác quản lý nhà nước về lễ hội ở cấp Quận

1.1.3.1 Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống

Có thể nói Lễ hội là một hoạt động xã hội chung của con người, trong mỗi dân tộc đều có những lễ hội và lễ hội là nơi biểu hiện bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc rõ nét nhất Vì thế bảo tồn và phát huy nền văn hóa phải gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội Đây là công tác đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý lễ hội Trong thực tế, không có môi trường nào lưu giữ và chuyển giao những giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sinh động, đầy đủ hơn lễ hội Trong môi trường

lễ hội, các cảm xúc thẩm mỹ và các giá trị sáng tạo được tiếp nối liên tục, những tín hiệu văn hóa được tái sinh theo chu kỳ, sự nhắc lại, lựa chọn, bổ sung và sáng tạo luôn tiếp diễn và để lại dấu ấn trong các chu kỳ ấy một cách bất tận Lễ hội vừa là nơi lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất, vừa là môi trường hướng

Trang 20

con người về với quá khứ Vì vậy Lễ hội truyền thống không chỉ là một di sản quá khứ để lại mà còn là một nguồn tài nguyên, một tài sản vô giá, là vốn liếng của nhiều lĩnh vực văn hóa - xã hội và kinh tế của thời hiện đại Ngày nay trong bối cảnh xây dựng, phát triển đất nước và giao lưu hội nhập với thế giới, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa đã và đang đặt trách nhiệm rất nặng nề đối với những người làm công tác quản lý văn hóa, quản lý lễ hội

1.1.3.2 Quản lý kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống

Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là nói đến việc hạch toán ngân sách thu chi các hoạt động của lễ hội Trên thực tế tổ chức lễ hội nhằm mục đích tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa yêu nước, quảng bá hình ảnh thương hiệu và các sự kiện hoạt động mang tính kinh doanh, dịch vụ Việc quản lý nhà nước được thực hiện bởi cơ quan thuế vụ và bằng cách áp dụng định mức thuế theo luật pháp và quy định khác của địa phương Những lễ hội truyền thống do Nhà nước chủ trương và đầu tư thì việc quản lý thu - chi sẽ do cơ quan tài chính đủ thẩm quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm Đối với những lễ hội truyền thống do cộng đồng đóng góp kinh phí và tham gia quản lý thu - chi (phương thức

xã hội hóa) thì việc quản lý nhà nước chủ yếu là cùng với các cơ quan hữu quan và đại diện cộng đồng mở hội bàn bạc phương thức tổ chức và xây dựng quy chế quản

lý thu - chi tài chính cho riêng lễ hội đó và cùng với các bên liên quan, cán bộ quản

lý văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm các vấn

đề có liên quan đến kinh tế tài chính của lễ hội

Tổ chức quản lý hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động lễ hội trong cơ chế thị trường, từ xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế hạch toán kinh tế độc lập, cùng với quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Đặc trưng của nền kinh

tế thị trường là sản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hóa để tồn tại và phát triển, chúng

ta phải đổi mới cơ chế quản lý trong mọi lĩnh vực Kinh phí tổ chức lễ hội truyền thống thời gian trước đây lấy từ sản phẩm của ruộng đình, ruộng chẻm (của công) ngày nay không còn Kinh phí để tổ chức mở hội phải dựa vào sự đóng góp của người dân trong cộng đồng hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, tích lũy kinh

Trang 21

phí để mở hội cho những năm sau Tất nhiên, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường luôn có mặt tích cực và tiêu cực Vấn đề đặt ra làm thế nào để phát huy tính tích cực, hạn chế ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực là sự đòi hỏi về tư chất và năng lực của công tác quản lý Một thực tế hiện nay nếu không tạo ra được các nguồn thu trong lễ hội thì sẽ hạn chế nguồn lực cho việc tổ chức hội

1.1.3.3 Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường và trật tự công cộng

Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, trật tự giao thông và trật tự nơi công cộng, phòng chống cháy nổ, chống

tệ nạn xã hội và các hành vi quá khích trong lễ hội là một trong những nội dung trọng yếu của công tác quản lý lễ hội Đây là nội dung rất phức tạp và triển khai thực hiện nó không phải là việc đơn giản

Có thể nói rằng đây là nội dung nhạy cảm nhất trong tổ chức bất kỳ lễ hội nào, đơn vị hoặc cơ quan chủ trì tổ chức lễ hội thường phối hợp công việc với các

cơ quan chức năng khác như: Công an, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Quản lý thị trường, Y tế… nhằm đạt được kết quả tốt nhất Hoạt động phối hợp này của các cơ quan chức năng được thể hiện ở sự thống nhất trong xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết khi tổ chức lễ hội với các tình huống được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các bên liên quan Đồng thời đưa ra các phương án xử lý phù hợp trong điều kiện thực tế, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ một cách tối ưu, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử

lý kịp thời các trường hợp vi phạm

Để thực hiện tốt công tác quản lý trong lĩnh vực này, Ban tổ chức lễ hội cần quy hoạch khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ dưới hình thức “hội chợ” theo các nguyên tắc: dự tính vừa đủ về lượng trong thực tế của quy mô tổ chức và lượng khách dự hội; xây dựng các mẫu, tiêu chuẩn thẩm mỹ về hình thức các quầy hàng; quy định nghiêm ngặt những tiên chuẩn chất lượng dịch vụ; khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ phải thuận tiện cho du khách, nhưng không được đưa vào khuôn viên di tích và các không gian liên quan đến trò diễn, văn nghệ; ngoài việc đề treo biển báo “cấm xả rác” phải có nơi xả rác thuận lợi và các phương tiện đựng rác có hình thức dễ nhìn; phải có biện pháp mạnh mẽ hạn chế tình trạng

Trang 22

“người ăn xin” phổ biến trong các lễ hội truyền thống hiện nay Thi hành xử phạt hành chính mang tính giáo dục và răn đe; phổ biến nội dung nội quy, quy chế của Ban tổ chức lễ hội trên phương tiện thông tin cổ động trực quan như: biển bảng, panô, băng rôn…; chủ động phân luồng, phân tuyến giao thông và các phương án chống ùn tắc Chuẩn bị sẵn các phương tiện và lực lượng ứng cứu các trường hợp khẩn cấp như cháy nổ, xung đột, cướp giật, y tế…

1.1.3.4 Xã hội hóa trong quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống

Trong lịch sử ở các triều đại phong kiến quân chủ nước ta cũng đã có những chính sách văn hóa nhằm duy trì hoạt động lễ hội trong các làng - xã như “tạo lệ”,

“vệ linh”, “ruộng đình”, “ruộng chùa”…Song về cơ bản là của dân, nguồn lực chính

để tổ chức lễ hội vẫn là do dân đóng góp theo “lệ làng” như thế với tính chất “tự sản

tự tiêu” của văn hóa làng cũng có thể coi văn hóa đã từng được “xã hội hóa” trong suốt quá trình lịch sử ở nước ta

Thời kỳ trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ phát triển nền kinh tế theo cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hóa - nghệ thuật được tổ chức, chủ yếu do Nhà nước cấp kinh phí và quản lý trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất sáng tạo, phân phối lưu thông, bảo quản và tiêu dùng văn hóa

Bước sang thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường hoạch toán kinh tế độc lập theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong khi nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản chính sách pháp luật về văn hóa để phù hợp với tình hình thực tiễn, đồng thời sẵn có truyền thống dân chủ trong hoạt động văn hóa ở cộng đồng làng xã, trong bối cảnh sự tác động toàn diện của nền kinh tế thị trường và xu hướng giao lưu hội nhập quốc tế, nhân dân ta đã tự “xã hội hóa” hầu hết từ các khâu: sản xuất sáng tạo đến phân phối lưu thông, bảo quản và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa nhất là trong lĩnh vực phục dựng các giá trị văn hóa truyền thống như di tích, lễ hội truyền thống… đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của đời sống tinh thần hàng ngày ở mỗi cộng đồng dân cư

Xã hội hóa là đỉnh cao của sự hiệp tác và công lao động xã hội, lao động kinh

tế, là biến một số hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạt động mang tính xã hội,

Trang 23

mà bản chất của nó là “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Cùng với ý nghĩa văn hóa

là của dân, do dân và vì dân cùng với chính sách dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của Nhà nước ta, các phong trào văn hóa - văn nghệ - thể thao đã phát triển sôi động hơn bao giờ hết Bởi đó là sự phát triển của các quan hệ lợi ích giữa văn hóa - kinh tế - xã hội theo quy luật vận động tất yếu và khách quan Xây dựng các chính sách sẽ tạo điều kiện và cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa văn hóa Xã hội hóa đương nhiên trở thành cơ chế và phương thức vận hành của đời sống xã hội

Cơ chế của xã hội hóa hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động lễ hội truyền thống nói riêng là sự huy động tham gia của các nguồn lực xã hội và các khâu của quá trình hoạt động dựa trên việc xác lập những quan hệ lợi ích nhiều chiều Xã hội hóa các hoạt động văn hóa đã làm gia tăng và phong phú đa dạng hơn các sản phẩm văn hóa cả về số lượng và chất lượng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng cũng như toàn xã hội Xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống là việc thiết lập và vận hành các quan hệ lợi ích giữa người

mở hội, người dự hội với các tổ chức kinh tế - xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy di sản vô giá này cho hôm nay và mai sau

Quản lý nhà nước về xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống hiện nay đòi hỏi phải có và đổi mới cơ chế quản lý thích hợp Công cụ quản lý dựa trên cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước Các văn bản, nghị định, quy chế, chế tài của Chính phủ; các nội dung, quy định của địa phương và phẩm chất, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng quản lý trong việc tổ chức vận hành thanh tra, kiểm tra, giám sát, linh hoạt, nhạy cảm cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp trong các điều kiện hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, của từng lễ hội truyền thống

1.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

1.2.1 Khái quát về quận Đồ Sơn

1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Quận Đồ Sơn thành phố Cảng Hải Phòng thành lập theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP, ngày 12/9/2007 của Chính phủ gồm 7 phường: Ngọc Xuyên,

Trang 24

Ngọc Hải, Vạn Hương, Vạn Sơn, Bàng La, Hợp Đức, Minh Đức Quận Đồ Sơn có diện tích tự nhiên 4.237,29 ha, dân số 51.417 người, địa giới hành chính: phía Đông

và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp huyện Kiến Thuỵ, phía Bắc giáp quận Dương Kinh Các phường Ngọc Xuyên, Ngọc Hải, Vạn Sơn, Vạn Hương vốn

là địa bàn các xã: Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Tuyền (Đời vua Đồng Khánh (1885-1888) kiêng huý đổi là Ngọc Xuyên), huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn Thừa tuyên Hải Dương đặt năm 1459 đời Lê Thánh Tông Thực ra, vùng đất này đã có tên từ rất lâu đời như tên Nê Lê có từ thời Hùng Vương, Đồ Sơn, Đại Bàng (Bàng Động) đã thấy

từ đầu đời Hậu Lý (1010 - 1225) Các phường trung tâm của quận xa xưa gồm 8 vạn chài nên thường gọi Đồ Sơn - Bát Vạn Đó là các vạn: Bún, Hoa, Hương, Lẻ,

Lê, Ngang, Tác, Thủ (Thốc) Đây là những vạn chài nổi tiếng vùng ven biển Hải Đông, ngư dân dầy dạn sóng gió, ra khơi vào lộng

Theo truyền ngôn thì dân chài Đồ Sơn định cư ở vùng biển dãy núi Cửu Long từ đời các vua Hùng dựng nước Người ta phân định địa giới các vạn dựa vào các vụng bể, các thung lũng, vách núi Do đất rộng, dân thưa, hơn nữa lại phải đương đầu với bão bể, sóng thần, cướp bể nên dân Đồ Sơn, sẵn sàng đón nhận dân các nơi đến cùng sinh sống Dân thôn Ngân Hà ở dưới núi Vạn Thủ, Đồ Sơn gốc ở làng Cao Mại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đi đánh cá ngoài khơi bị gió lớn thổi dạt vào Vạn Thủ nên xin định cư, rước cả Thành hoàng bản thổ là Tam Vị Thánh Nương ra quê mới dựng đình thờ, dân quen gọi là Đình Chài Đình mới được công nhận di tích lịch sử cấp thành phố Sau Kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1946 - 1954) và nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá du lịch nên dân nhiều nơi đến làm ăn sinh sống học tập khá nhiều, có phường dân nhập cư đông hơn dân bản địa nhưng đặc sắc của cư dân Đồ Sơn - Bát Vạn vẫn giữ được, đồng thời tiếp thu những yếu tố tích cực lành mạnh của dân mới cộng cư Nếu không có truyền thống văn hoá đặc sắc lâu đời, chắc không thể bảo lưu được

Trở lại vùng Đồ Sơn - Bát Vạn, dãy núi chính là Cửu Long sơn, vốn là những đảo ngoài khơi do quá trình biển lùi dần tích tụ phù sa đã nối liền các

Trang 25

đảo nhỏ lại liền nhau thành một bán đảo có thế 9 con rồng vươn ra đảo Dấu, còn ở phía đông đứng trơ một núi nhỏ Phương dao có câu:

Chín con theo mẹ một dòng Còn một con út ra lòng bất nhân Đông kia núi Độc phản thân Tây kia núi Mẫu chín lần ôm con

1.2.1.2 Văn hóa truyền thống

1.2.1.2.1 Văn học dân gian

Đồ Sơn là nơi có vốn văn vần dân gian phong phú với những ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, phương ngôn, hò, vè phản ánh đậm nét cảnh vật và cuộc sống người Đồ Sơn xưa và nay

Tuy nhiên mảng văn xuôi dân gian ở Đồ Sơn bao gồm những huyền tích, thần thoại và truyền thuyết… Những tác phẩm này có nhiều yếu tố hoang đường, nhưng đều chứa đựng những nhân tố hiện thực Đó là sự tích những vị thần Thành hoàng làng, những nhân vật lịch sử, những người có công đến “Khai thiên, lập địa” vùng đất này

* Sự tích lục vị Tiên Công

Tuy rằng, hiện nay còn có những ý kiến khác nhau về những người đầu tiên đến Đồ Sơn sinh cơ lập nghiệp, nhưng người Đồ Sơn đều tôn vinh 6 cụ của sáu dòng họ có công đầu khai phá mở mang đất đai Đó là các cụ: Lương Nuôi Nường,

Lê Hải Bộ, Đinh Chàng Ngọ, Hoàng Đại Hùng, Nguyễn Thanh Sam và Phạm Cao Sơn Sáu cụ đều được người Đồ Sơn lập đền thờ và về sau được phong tôn thần là Lục vị Tiên công

* Truyền thuyết Nam hải Lão Đảo thần vương

Truyền thuyết Nam hải Lão Đảo thần vương Người Đồ Sơn có nhiều truyền thuyết về vị thần được tôn thờ này Ngôi đền xây từ bao giờ và thờ vị thần nào, hiện nay chưa có những ghi chép có tính khoa học Song căn cứ và dấu tích và truyền

Trang 26

thuyết lịch sử, dân sở tại cứ quen gọi vị thần đó là Lão Đảo thần vương Có truyền thuyết kể rằng thời dân tộc ta chống quân xâm lược Mông Nguyên, một đêm thấy

có xác người không đầu dạt vào bờ biển Hòn Dáu Quan sát áo quần người ta cho rằng đây là một vị tướng nhà Trần tử trận Thi hài vị tướng được đưa lên bờ khâm liệm, chờ tới sáng thì chôn cất Sáng hôm sau, khi lên bờ đã thấy mối đùn ở nơi đặt thi hài vị tướng thành mộ Mọi người tạ lễ và sửa sang phần mộ Những ngày sau

đó, vị võ tướng hiển linh thành một cụ già râu tóc bạc phơ ngồi câu cá, lúc ẩn lúc hiện Hỏi tên, cụ chỉ cười không nói, vì thế người ta gọi cụ là Lão Đảo thần vương

Để tưởng nhớ công ơn của vị tướng, nhân dân đặt đền thờ tại Đảo Dáu Ngôi đền trở nên linh thiêng Thuyền bè các nơi qua lại đây đều ghé vào đảo cúng lễ cầu may

Từ đó, hàng năm dân làng mở Hội vào các ngày từ mùng 8 đến mùng 10 tháng 2 âm lịch Đêm mùng 9 là đêm Thần hiển linh về phán bảo những điều tốt lành cho dân làng Lễ vật dâng lên vị Thần trong những ngày này phải có một áo, một nón một

rỏ, một cần câu, những lễ vật đó mỗi năm phải thay đổi một lần

* Huyền thoại Bà Đế

Huyền thoại Bà Đế được một nhà nghiên cứu người Pháp là Paul Munier căn

cứ vào lời nhân dân địa phương kể và nội dung tấm bia đá ở đền biên soạn thành sách “La lesgende de BaDe”, nhà xuất bản IDEO, Hà Nội, 1930 Dựa vào tài liệu của P.Munier, năm 1942 G.Specht soạn thành kịch bản phim và dựng phim câm Thời Pháp tạm chiếm Hải Phòng, đoàn Chuông Vàng soạn ca kịch cải lương, gần đây cũng có kịch bản chèo về đề tài này và đều đã công diễn

Nội dung chuyện kể về một cô thôn nữ tên là Ngô (hay Phạm) Thị Đế xinh đẹp và hát rất hay Nàng thường lên núi cắt cỏ và hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh sang Muôn vàn cây cỏ lại hàng tay ta

Một lần, nàng cất giọng hát, vua Thủy Tề ngồi dưới thuyền nghe hát, vội lên núi tìm người Thấy một cô gái đẹp đang cắt cỏ, trên đầu có mây vàng che phủ biết không phải là người thường, Vua liền đón xuống thuyền Hai người ân ái với nhau

Trang 27

suốt ngày hôm đó, mãi đến tối mới chia tay Đế về nhà, thời gian sau, nàng sinh 1 con trai Dân làng không biết cuộc tình duyên của Đế với vua Thủy Tề nên đã đuổi

cô khỏi làng Ngày ngày Đế phải đi mót thóc, kiếm khoai về nuôi con… Nhưng rồi một số kẻ độc ác muốn được ăn uống bèn kiếm kế phạt vạ, rồi mang Đế ra biển dìm Nhưng khi chúng trói chặt Đế bằng dây thừng vào đá rồi đẩy nàng xuống biển thì lạ thay, Đế vẫn nổi người lên, thấy lạ, bọn sát nhân hoảng hốt bỏ chạy (có dị bản

kể rằng mấy tên chở Đế kêu oan cho đến lúc chết chìm dưới biển) Theo truyền thuyết Đế không chết, nhưng không bao giờ trở về quê hương xứ sở nữa Nàng đã được vua Thủy Tề - chồng nàng đón về thủy cung

Thật hết sức khó khăn để tìm ra cốt lõi trong huyền thoại Bà Đế khi chúng ta

có rất ít tư liệu đối chứng Dù sao thì giá trị nhân văn trong huyền thoại Bà Đế cần được trân trọng

1.2.1.2.2 Tín ngưỡng - Tôn giáo

Người Đồ Sơn giống như cộng đồng người Việt đồng bằng Bắc bộ, có tín

ngưỡng dân gian như: thờ cúng ông bà, tổ tiên; thờ thần thánh và Thành Hoàng làng; thờ thủy thần…

Hiện nay, Đồ Sơn có khoảng hơn 10 địa điểm tín ngưỡng thờ cúng như: Đình Ngọc, đền Vừng, đền Vạn Ngang, đền Nghè, đền Dáu… Trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Đồ Sơn tôn vinh 6 vị có công khai phá đất đai, mở mang

cơ nghiệp là Lục bộ tiên công và lập đền thờ Ngoài Lục bộ tiên công ra, người Đồ Sơn còn thờ 2 vị thần bảo trợ là Đế Thích thần vương (vị thần trên trời) và Nam Hải thần vương (vị thần dưới biển) 6 vị Tiên công và 2 vị thần bảo trợ gọi chung

là Bát bộ tôn thần

Ở Đồ Sơn còn thờ thần Điểm Tước (thần vết chân chim Sẻ) Thần Điểm Tước không kể vào Bát bộ tôn thần, được coi là vị chủ thần, đồng thời là Thành hoàng làng Đồ Sơn Trong sách “Đồ Sơn tổng sắc thần” có ghi đủ 16 đạo sắc phong thời Lê từ năm Đức Long thứ 6 (1643) đến năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) Cả tổng

Đồ Sơn xưa thờ chung thần Điểm Tước tại Đền Nghè và đình Công Các xã cũng có

Trang 28

đình thờ Ngài Xã Đồ Hải có đình Đồ Hải Xã Ngọc Xuyên có đình Ngọc Riêng xã

Đồ Sơn có 3 đình ở 3 thôn: đình Đông, đình Đoài, đình Nam Các đình này đến nay không còn nữa Gần đây, UBND phường Vạn Sơn cho xây dựng trên nền cung đình Nam một Nhà văn hóa Trong Nhà văn hóa có hương án, bài vị thờ thần Điểm Tước

và Bát bộ tôn thần cùng các vị anh hùng liệt sĩ Nhân dân trong phường thường xuyên đến đây hành lễ Hàng năm tổ chức tế thần vào ngày 8/8 âm lịch (trước lễ chung kết Hội chọi Trâu một ngày) Còn ở xã Bàng La, cả 3 làng Bàng Động, Phụ Lỗi, Tiểu Bàng đều thờ một vị thần tên húy là Hương Đây chính là thờ bà Tống Thái hậu - mẹ vua Tống Đế Bích, vua cuối cùng bị nhà Nguyễn đánh bại; mẹ của Tống Đế Bích cùng các thị nữ nhảy xuống biển trôi dạt vào cửa Cờn (Nghệ An)…Thấy linh thiêng nên bà con dân chài ở đây thờ cúng, mong được che chở Từ thế kỉ XVI trở về sau, ở Tiểu Bàng (Bàng La), dân còn thờ Nam Hải đại vương - Đức Thánh Niệm (tức Phạm Tử Nghi)

Nhìn chung, hoạt động tín ngưỡng ở Đồ Sơn từ xưa đến nay diễn ra lành mạnh Hoạt động tín ngưỡng là dịp biểu lộ và củng cố khối hợp quần của cộng đồng làng xã nhằm tăng thêm sức mạnh trong việc giữ làng, dựng làng, giữ nước và dựng nước Chình vì vậy, phần lớn các hoạt động tín ngưỡng đều xuất phát từ lòng thành kính biết ơn, tưởng niện công đức đối với những người có công với quê hương, đất nước Những sự tích, những chiến công, những phẩm chất anh hùng, cao quý của họ

đã thông qua tín ngưỡng thờ cúng mà sống mãi qua nhiều thế hệ, góp phần tạo dựng

và phát triển không ngừng những truyền thống quý báu: anh dũng đấu tranh dựng nước và giữ nước, uống nước nhớ nguồn… Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của hoạt động tín ngưỡng, Đồ Sơn cũng xảy ra việc lợi dụng tín ngưỡng để hoạt động

mê tín dị đoan như rút thẻ, có nơi hoạt động tín ngưỡng mang tính kinh doanh Những hiện tượng này cần xóa bỏ

Đạo Phật là tôn giáo thâm nhập ở Đồ Sơn sâu sắc nhất Một số nhà nghiên cứu lịch sử, xã hội học cho rằng Phật giáo du nhập vào nước ta từ Ấn Độ bằng đường biển qua Đồ Sơn Thành cổ Nê Lê tương truyền do vua A Lục là một người

mộ đạo Phật ở Ấn Độ xây Chùa Hang Đồ Sơn tương truyền là nơi nhà sư ở Thiên

Trang 29

Trúc đến trụ trì từ thế kỉ III TCN Đó là sư Bầm, tu trong hang và giảng đạo Ngài mặc áo pháp quấn theo kiểu Ấn Độ (Nam Tông) và đi khuất thực nuôi thân, không

tự nấu ăn, mặc không kín thận, khác với người bản xứ Người ta còn truyền ngôn rằng sư Bầm dựng chùa trên núi Chòi Mòng (Mẫu Sơn), sau đó ngài viên tịch và hóa ở Chùa Hang

Trải qua các triều đại phong kiến, hệ thống chùa chiền, tượng tháp ở nước ta từng bước được chú trọng xây dựng Ở Đồ Sơn cũng vậy, vào triều đại nhà Lý (thế

kỉ XI) một loạt các chùa chiền, tượng tháp được mọc lên, như chùa Vân Bản, tháp Tường Long… các triều đại kế tiếp, xuất hiện: chùa Bàng Động, chùa Tiểu Bàng, chùa Phụ Lỗi, chùa Độc, chùa Làng, chùa Chợ, chùa Đông, chùa Đoài, chùa Nam, chùa Khánh Minh, chùa Phúc Thắng, chùa Phật Tích… Đặc biệt, ngọn tháp Tường Long - một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc thế kỉ XI Đây là ngôi tháp báu tọa lạc giữa cảnh quan thiên nhiên, núi cao, biển rộng, làm thỏa mãn tâm linh người dân Đại Việt nói chung và người dân Đồ Sơn nói riêng lúc đó Tuy nhiên theo thời gian và những chuyển biến xã hội, nhiều nơi thờ Phật ngày nay đã không còn

Trong những năm thực dân Pháp tạm chiếm (1946 - 1955), nhiều công trình tôn giáo ở Đồ Sơn, đặc biệt hệ thống chùa chiền bị xóa bỏ Nhiều tượng Phật, chuông đồng bị hủy hoại Hoạt động tôn giáo ở Đồ Sơn thời gian này tạm lắng Một

số chùa có vị trí đặc biệt lại là nơi hoạt động của những người kháng chiến, nhà chùa trở thành cơ sở cách mạng

Những năm gần đây và hiện nay, Phật giáo ở Đồ Sơn có xu hướng được củng cố và phát triển Nhiều chùa đã được phục dựng lại Từ khi xây dựng chùa trên nền tháp Tường Long (dấu tích cũ), với sự giúp đỡ của Thành hội Phật giáo Hải Phòng, nhiều chùa, miếu được trùng tu và xây dựng lại

1.2.1.2.3 Phong tục - Tập quán

Cư dân Đồ Sơn số đông làm nghề cá, nghề muối, nghề nông, thủ công Công thương nghiệp mãi sau khi thực dân Pháp xâm chiếm vùng đất này và làm đường nối liền Đồ Sơn với thành phố Hải Phòng mới phát triển

Trang 30

Sinh hoạt và tính cách của các nhóm cư dân này có nhiều nét khác nhau Về nhà cửa, cư dân ngư nghiệp ở bám biển và các nhà dân gần nhau, tạo thành những quần cư đông đúc, nhà cửa thấp và ăn ở đơn giản, không cầu kỳ Cư dân nông nghiệp thì rải rác hơn và nhà cưa rộng rãi, thoáng đạt hơn Khi làm nhà, họ có ý thức về chọn hướng và cấu trúc một căn nhà có nhiều bộ phận hơn theo lối gọn bừa Trong gia đình, cả đàn ông và đàn bà đều là lao động chính Đàn ông cày bừa, khai hoang, làm đất Đàn bà gặt hái, thu hoạch, gieo trồng… Công việc quanh năm ngày tháng phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nhiều năm được mùa thì lại nhiều năm mất mùa nên họ phải tính toán lo toan Vì thế đã tạo nên tính cách cần cù, nhẫn nại, chai lì Họ rất tiết kiệm, quanh năm ăn độn sắn, khoai (trừ những ngày giỗ, tết) Trong nhà lúc nào cũng có lương thực dữ trữ Thường họ ít nói, tính thâm trầm, ít cởi mở Trong gia đình từ ông bà, cha mẹ, con cái đều có tôn ti trật

tự, việc thờ cúng chu đáo, đầy đủ nghi thức và chú ý đến việc học hành của con trẻ Cuộc sống của nhóm cư dân nông nghiệp bình lặng, chặt chẽ và vững vàng qua ngày này sang ngày khác

Nhóm cư dân ngư ngiệp sống và sinh hoạt đơn giản hơn Công việc của họ là đánh cá ngoài biển đều do người đàn ông đảm nhiệm Trình độ đánh bắt thô sơ, phương tiện đơn giản như thuyền gỗ, buồm cói, buồm vải, lưới gai, lưới tơ Sau hòa bình lập lại, các Hợp tác xã mới có thuyền sắt Việc lao động cũng phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, bão gió luôn rình rập người đi biển Mỗi lần người chồng xuống biển ra khơi, vợ con ở nhà lo lắng, cầu thần linh che chở và họ nhớ ngày chồng ra đi

để nếu có rủi ro không trở về thì lấy ngày đó làm giỗ Người phụ nữ ngư nghiệp tuy không vất vả như người đàn ông song phải thay chồng làm mọi việc nhà như: nấu mắm, làm chượp, chắp gai, đan lưới, phơi cá… Phần lớn họ ít được học hành, trình

độ thấp song gia đình rất hòa thuận vì họ biết chịu đựng, chiều chồng, chiều con

Do đặc điểm lao động sinh tồn nên đã hình thành bản sắc của ngư dân Đồ Sơn: thân hình vạm vỡ, giọng nói nặng vang, ăn tiêu rộng rãi, ít dè sẻn, thích ngao du, sống phóng khoáng với vợ con, bạn bè Tuy nhiên, vì họ không lo đến dự trữ kinh tế nên khi gặp khó khăn, hoặc thiên tai thường đói kém trước tiên

Trang 31

Trong xã hội Đồ Sơn trước kia, ngoài hai nhóm cư dân chính cón có một số ít

cư dân lớp trên (gồm một số người có học và có chức sắc) thường là chánh, lí, hương, các ông đồ, ông khóa, thầy lang, pháp sư Gia phong những người này theo học thuyết Khổng Mạnh Ngoài việc thu nhập nhàn hạ do sự bố trí của xã hội đưa lại, một số trí thức đương thời có lối chơi “phú đồng tiên” để xin thơ hoặc xin đơn thuốc chữa bệnh, phán đoán vận mệnh cá nhân, thời cuộc… Giới văn học Đồ Sơn xây dựng được hai văn chỉ của hai xã Đồ Sơn, Đồ Hải, xuân thu nhị kỳ tổ chức tế Khổng Tử, thất thập nhị hiển Danh sách hậu phối tế thánh còn lưu lại đến ngày nay bằng chữ Hán

Cư dân xã Bàng La có 3 nhóm: diêm nghiệp, nông nghiệp và thương mại vận tải (mỗi khi xuống thuyền, thuyền rời bến, người ta thường nói tắt là “đi ngược”) Nhóm cư dân buôn bán phát triển mạnh khi nghề làm muối thịnh hành Thời trước,

ở Bàng La có nhiều bến cảng nhỏ buôn bán tấp nập với cả người nước ngoài (chủ yếu là người Hoa), đã lập nên những phố buôn bán: phố Khách, phố Nhội… Từ khi Phố Hiến ra đời thì việc buôn bán ở Bàng La tàn lụi dần

Ở Đồ Sơn vào tháng Chạp họ nào cũng tổ chức chạp tổ, sớm nhất là vào ngày 20, muộn nhất vào ngày 26 Ngày chạp tổ thường rất đông vui, mọi người dù ở

xa cũng nhớ về ngày này, nếu quá bận rộn không về được thì con cái phải về Đây

là nếp sinh hoạt văn hóa có ý nghĩa nhớ về cội nguồn Quan trọng nhất vẫn là ngày Tết Nguyên Đán Cả nhà sum họp trong bữa cơm chiều 30 Bàn thờ được bày biện đẹp đẽ, uy nghiêm, khói hương nghi ngút Phút giao thừa nhà nào cũng sắp lễ ngoài trời khấn lễ Thiên quan Sáng ngày mùng Một Tết, mọi người ăn mặc quần áo đẹp nhất để đi chúc tết Trong những ngày tết, ai cũng vui vẻ, dường như họ tạm quên đi tất cả những khó khăn thường ngày, hân hoan trong những lời chúc tụng và những

ly rượu ngất ngây Nhà nghèo thì ăn tết một, hai ngày; nhà giàu thì ăn tết mươi, mười lăm ngày Có nhà hôm hóa vàng, giết thêm lợn hoặc gói bánh chưng Bánh chưng Đồ Sơn thường to và thơm ngon (gạo nếp được nhuộm nước lá giềng) Ngày tết, các gia đình thường cắm cây Nêu

Trong tết Đoan Ngọ người Đồ Sơn quan tâm nhất đến lúc rạng Đông, xét đoán gió bão nhiều hay ít để chuẩn bị kế hoạch đi biển đánh cá Thường ngày hôm

Trang 32

ấy, nước biển xuống thấp nên dân đánh cá rủ nhau ra các bãi đá đục những hải sản bám vào đá như hàu, hà, mò cua, cà ra Trên rừng họ hái lá chè, lá vối để dùng hoặc mang xuống chợ bán Họ quan niệm rằng hái thuốc, hái chè mùng 5 tháng 5 (tết Đoan Ngọ) là tốt nhất, rất nhiều người mua Các bà đỡ cũng được tết trong dịp này Trẻ em thì vui sướng được đeo các vòng chỉ ngũ sắc, bôi vôi vào cổ, ăn rượu nếp, xôi chè, hoa quả, gọi là giết sâu bọ

Ngày xưa, cỗ ngồi 4 người, sau năm 1945 ngồi 5 người và nay ngồi 6 người

Cỗ ngồi đình là cỗ to nhất (các thức ăn toàn sơn hào hải vị) Họ ngầm thi nhau làm

cỗ to, nhất là khi có đám Ngoài cỗ mặn, còn có cỗ chay như bánh hú, chè lam, bánh

xu xê, bánh gai… Dù là cỗ đám ma hay đám cưới thì chất lượng cỗ Đồ Sơn vẫn khác với nhiều địa phương khác Cỗ Đồ Sơn to và chuộng thực, cỗ Tiểu Bàng chuộng hoa mỹ, cầu kỳ

Nhà có việc buồn “có bụi” thì không tham dự vào các cuộc vui, cho nên những người mua trâu dự hội chọi trâu gia đình phải vui vẻ, ấm cúng, không có đại tang Đặt tên cho con phải tránh các tên các cụ bề trên Mỗi ngành, mỗi nghề lại có sự kiêng kị khác nhau (như ngày giờ xuống lưới đánh cá, ngày nước kém, ngày đầu tháng sớm mai đối với dân buôn bán) Đặc biệt, người Đồ Sơn kiêng tên Thành hoàng là Tước, nhưng không phát âm được âm “tr” nên họ gọi “đi trước” là “đi xưa”; Ở Tiểu Bàng kiêng tên Thành hoàng làng tên là Hương nên “hương” nói là “nhang”

Hiện nay, Đồ Sơn đang trên con đường đổi mới, một trung tâm du lịch và vui chơi giải trí quốc tế đang được xây dựng để phục vụ chính sách phát triển nền kinh

tế mở của thành phố Hải Phòng Đây là vận hội mới song cũng là thách thức lớn đòi hỏi Đồ Sơn phải có những bước phát triển đột phá trong kinh tế - xã hội đặc biệt là kinh tế du lịch dịch vụ

1.2.2 Khảo sát các lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn

1.2.2.1 Những lễ hội tiêu biểu

* Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn

Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn có phần lễ, phần hội đều phong phú đa dạng nhưng hấp dẫn nhất, đông vui nhất là hội chọi trâu Lễ hội bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng 6 đến

Trang 33

hết ngày rằm tháng tám âm lịch hàng năm Nhưng trên thực tế, từ chiều ngày 29/7 cho đến hết ngày 30/7 âm lịch nhân dân hàng tổng đã làm lễ cáo yết, cung nghinh duệ hiệu cùng bát hương đá từ Đền Nghè ở Vạn Hương, là chính từ thờ Điểm Tước thần vương, chủ thần của cả tổng Đồ Sơn về Đình Công phụng thờ suốt cả thời gian lễ hội Đến ngày rã đám mới rước về Đền Nghè lễ tạ Như vậy, hội chọi trâu Đồ Sơn chỉ là một mắt xích trong lễ hội, nhưng lại là khâu chủ yếu, là tâm điểm của lễ hội Có những người không phải là dân Đồ Sơn, nhưng năm nào cũng không thể bỏ dự hội

Theo truyền ngôn, thuở ban đầu, chỉ có 2 trâu chọi Sới chọi là bãi Bồng Bồng trên xó Sóng Sau dân cư ngày một đông đúc, xã Đồ Sơn có 3 thôn: Đoài, Đông, Nam chia làm 6 giáp với tên: Mạnh, Trọng, Phú, Quý, Khang, Ninh Xã Đồ Hải có 4 giáp mang tên Đông, Tây, Nam, Bắc Xã Ngọc Xuyên có 2 giáp mang tên Nam, Bắc Tổng cộng có 12 giáp, mỗi giáp có 1 trâu dự hội để sau khi thi đấu, hàng giáp phải có trâu giết thịt chia cho người trong giáp Thịt trâu tế thần gọi là thần huệ, người ta quý lắm, vì nó mang ý nghĩa thiêng liêng Bây giờ cũng thế, mỗi kg thịt trâu đoạt giải nhất có giá trị hàng chục triệu đồng

Từ khi lễ hội chính thức được khôi phục, năm 2001 Sân vận động trung tâm quận được xây dựng khang trang, rộng rãi to đẹp, có khan đài khu A, khu B,C,D đủ chỗ ngồi cho người dự, lại có hàng rào bảo vệ Tuy số ghế đến 2 vạn nhưng vẫn không đủ, nhiều người phải lên núi, vào nhà dân xung quanh có gác cao để xem Không ít người có vé xem đã đến Đồ Sơn nhưng đành phải ngồi xem qua truyền hình trực tiếp Ngày xưa, khách xem hội, có đủ quan huyện, quan phủ, Công sứ tỉnh Kiến An, Đốc lý Hải Phòng, có năm cả Thống sứ Bắc Kỳ Ngày nay, quan khách có lãnh đạo quận, huyện, thành phố, các huyện, tỉnh thành phố kết nghĩa, đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, nhiều Ban, Ngành, Đoàn thể trung ương, khách du lịch nước ngoài đủ cả các châu lục

Yếu tố quan trọng hàng đầu của hội chọi trâu là phải có trâu chọi hay nên các việc chọn mua trâu, chăn dắt, nuôi dưỡng, chăm sóc bảo vệ, luyện tập trâu đều hết sức công phu, tỉ mỉ, chu đáo và yếu tố tâm linh thành kính của dân các giáp tự nguyện góp tiền, chọn cử người có kinh nghiệm, có đức độ, gia đình nề nếp, con

Trang 34

cháu đề huề, “quang ánh” tức là hoàn toàn không có tang trở gì Xưa đã thế, nay còn khó khăn, tốn kém, phiền toái hơn do địa bàn tìm mua trâu mở rộng ra cả nước, có khi phải ra nước ngoài Qua nhiều năm kinh nghiệm, các trâu mua ở Gôi (Nam Định), Thủy Đường, Thủy Tú huyện Thủy Nguyên, tỉnh Kiến An, Thỏi - Thiết huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương thường đoạt giải cao Điều cấm kị trâu đoạt giải nhất nhất thiết phải lấy thịt tế thần, không được lưu lại dự hội năm sau Bài học thấm thía của thôn Đông xã Đồ Sơn năm 1908 mua được một trâu đẹp dự vòng đấu loại tháng 5 hội chính mùng 9 tháng 8 đều thắng tuyệt đối, giành giải nhất Các cụ thông Đông bàn kín mua một trâu khác giết lấy thịt để tế thần, chia cho dân, còn trâu thắng nuôi giấu để sang năm dự hội Nhưng trâu vẫn to đẹp, béo tốt mà ngay vòng loại, kháp đầu đã bỏ chạy Sau 36 năm, trâu thôn Đông mới được giải Nhất, do dân làng liên tiếp dâng lễ xin Thành hoàng Điểm Tước xá tội

Tất cả những người các giáp được cử đi mua trâu đều chọn ngày giờ tốt, hợp với mệnh mình và giữ bí mật tuyệt đối hướng đi, địa bàn sẽ tới Khi tìm chọn được trâu, đầu tiên phải nhìn tổng quát ngoại hình, đặc biệt 7 đặc điểm: ức rộng, háng to,

cổ cò, đuôi trai, đít nhót, lưng tôm bà, sừng cánh cung rồi khoang khoáy, “mua trâu xem khoang, xem khoáy” Khoáy tam tinh là quý tướng, đầu trâu có túm tóc hình chóp, trên đỉnh có một khoáy tròn, giữa hai thùy trán có hai khoáy Thân trâu có 4 khoang, 2 khoang giao nhau, đo từ nách tới gáy được 4 thước rưỡi ta Ức nở rộng, háng to, cổ tròn dài hơi thu nhỏ về phía đầu, hậu môn nhỏ hơi thu nhọn, đuôi trâu tròn, chắc thu nhỏ dần về phía cuối Đặc điểm cổ cò là một đặc điểm quan trọng, vì

có khả năng cúi không mỏi Sừng cánh cung, rộng hẹp, hướng tiến Quan sát chung toàn thân người ta còn xét nét tỉ mỉ: mắt trâu phải giống mắt ngựa, màu đen, tròng mắt đỏ Răng trâu phải đều, không sứt mẻ, hàm nghiên, hàm son Chân phải trường đùi, ngắn quản, nhỏ khoeo, đầu gối có lông như trâu rừng, móng kín Bộ phận sinh dục thể hiện năng lực của giống đực với tiêu chuẩn thâm cu, chéo dái Thực tế không thể được trâu chọi đủ tiêu chuẩn lý tưởng nói trên

Việc mua trâu, chọn trâu đã khó khăn, cầu kì, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, huấn luyện, bảo vệ trâu còn khó khăn hơn nhiều Hàng giáp phải chọn người đảm

Trang 35

nhiệm công việc quan trọng này Người được giao nhiệm vụ lấy làm vinh hạnh nên hết sức tận tâm lo tròn trách nhiệm Chỉ nam giới mới được gánh vác việc chăn nuôi trâu chọi, còn nữ giới thì không, kể cả việc bước qua thừng dắt trâu Người nuôi phải có chuồng riêng, không được nhốt chung với trâu cái, không được chăn cùng bãi cỏ, không cho gặp trâu cái nhằm khôi phục tính hoàng dã, đơn độc và giữ gìn tinh lực của trâu mộng

Bước vào thời kỳ huấn luyện, chế độ ăn uống được tăng dần, cỏ rơm trộn thêm cám, cháo Ngày cho uống 2 lần nước giếng suối Rồng Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn của trâu được nâng cao dần cho đến ngày bước vào sới chọi Nghe nói ngày nay trước khi bước vào dự chọi các ông chủ trâu còn cho trâu uống mật gấu liên tục một tháng để tăng sự gan lì Trâu chọi được huấn luyện ở sới của các giáp Sới cũng có hàng rào và che chắn kín để người ngoài không biết ngón nghề của mình Việc bảo vệ trâu chọi hết sức cẩn mật, không chỉ của gia đình được giao chăn mà còn cả tuần phu của giáp Nhưng cũng có năm xảy ra sự cố Giáp Nam xã Ngọc Xuyên năm ông Khán Tổ họ Phạm nuôi trâu Nhưng có kẻ xấu lẻn châm dái trâu Mãi khi dái trâu bị nhiễm trùng sưng to, bốc mùi hôi thối mới biết Thế là mất toi công của Một bài học đắt giá cho mọi giáp

Từ ngày địa bàn quận mở rộng, các phường thuộc quận, các ông chủ trâu tự nguyện đăng kí tham gia, căn cứ vào Quy chế tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống

do UBND Quận ban hành thì số lượng trâu dự vòng đấu loại năm 2013 gồm 32 trâu, chia ra mỗi phường 4 trâu (4 trâu x 7 phường = 28 trâu Các chủ trâu giành giải nhất, nhì và đồng giải ba năm 2012, mỗi người được tham gia 01 trâu) Các đơn vị, cá nhân đăng ký danh sách trâu dự lễ hội trước ngày 15/5/2013 (tức mồng 8 tháng 5 âm lịch) Nếu trâu không đủ tiêu chuẩn phải có phương án thay thế trâu khác đủ tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng số trâu tham gia lễ hội Ban Tổ chức quy định việc đáng số cho trâu các phường cụ thể như sau: Phường Hợp Đức từ 01 đến 04; Phường Vạn Hương

từ 05 đến 09 (đơn vị có trâu đồng giải Ba năm 2012); Phường Bàng La từ 10 đến 13; Phường Ngọc Hải từ 14 đến 17; Phường Vạn Sơn từ 18 đến 22 (đơn vị có trâu đạt giải Nhất năm 2012); Phường Ngọc Xuyên từ 23 đến 26; Phường Minh Đức từ 27

Trang 36

đến 32 (đơn vị có trâu đạt giải Nhì và đồng giải Ba năm 2012) Các phường tổ chức đánh số trâu theo quy định và chủ trâu bốc, ghép các cặp thi đấu của đơn vị mình (trong các cặp thi đấu phải phân định cửa Bắc, cửa Nam) gửi về Ban Tổ chức trước ngày 22/6/2013 (tức 15/5 âm lịch) Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu Quận tổ chức hội nghị bốc thăm cửu Bắc, Nam cho 04 trâu dự trận khai mạc và trận thứ 2; bốc thăm thứ tự các trận còn lại (từ trận thứ 3 đến trận 16 vào ngày 05/7/2013 (tức ngày 28/5

âm lịch) Vòng đấu loại tổ chức vào 8h00’ ngày 15/7/2013 (tức ngày 08/6 năm Quý Tỵ) tại sân Vận động trung tâm Quận (số 274 phố Lý Thánh Tông) để chọn ra 16 trâu thắng vào tham gia vòng chung kết năm 2013 Lãnh đạo Quận đã huy động toàn bộ cán bộ, bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội từ quận đến phường tham gia tổ chức lễ hội và hàng năm đều có tổng kết rút kinh nghiệm nên việc tổ chức vòng đấu loại, vòng chung kết khoa học, đỡ tốn kém mà vẫn giữ tin hoa của tổ tiên

Vào ngày chính hội, các làng, các giáp làm lễ lớn ở đình giáp mình, làng mình, đưa trâu chọi đã được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, cáo với Thành hoàng Điểm Tước cùng thần kỳ, thổ địa, Bát bộ tôn thần cùng phù trì gia hộ cho trâu đơn

vị mình giật giải Sau lễ tế cáo, ông mệnh bái vào cung cấm xin rượu lễ rót vào đầu trâu rồi dùng nhiễu điều tết hoa trang trí thân trâu, đầu trâu Khi trâu chọi được Thành hoàng chấp lễ, trâu trở thành thần ngưu, được long trọng rước ra sới chọi Đi đầu đoàn rước là 5 lá cờ ngũ phương to rộng, tiếp đến là 2 hàng bát bửu, rồi đến kiệu bát cống do 10 chàng trai lực lưỡng khiêng, sau kiệu là trâu Người dắt trâu, hai bên có người mặc võ phục chân quấn xà cạp, mỗi người cầm cơ đuôi nheo, một người cầm trống khẩu Trâu có lọng đen che, mỗi bên có 6 thanh niên đi hộ vệ Toàn bộ y phục của họ đều một màu đỏ rực Kế đó là chức sắc, chức dịch, dân làng

nô nức theo sau Rước đến sới chọi đưa trâu vào nhà tạm che kín ở của Nam, cửa Bắc theo thứ tự quy định Đến giờ khai hội tiếng loa đồng dõng dạc báo tin, mời quan khách an tọa, trống chiêng nổi lên vang động cả sới

Mở đầu hội là màn múa cờ do các chàng trai mạnh khỏe, mặc áo nâu đỏ, chân quấn xà cạp thực hiện Động tác múa mạnh mẽ, dứt khoát, nhịp nhàng, quét tròn bên phải bên trái, 3 tiến 3 lùi, quay tròn trên đầu Đội múa dàn hàng ngang cách

Trang 37

nhau 2m mỗi người, cứ thế mà tiến, lùi từ điểm xuất phát từ sới nhà sang sới bên kia thì quay lại Khi múa đội trống chiêng điểm trống trận vang lừng Sau điệu múa cờ tiếng loa gọi người dẫn trâu ra sới, từ hai cửa Nam, Bắc người ta dẫn trâu ra, đi đầu

là người cầm trống khẩu, tiếp đến là người dắt trâu và 2 người múa cờ 2 bên Hai trâu cách nhau chừng 20m người dắt trâu nhanh chóng rút sẹo, rút thừng rồi rút ra ngoài ngay Không khí đấu trường như lặng đi Bất thần 2 trâu lao vào nhau, 2 cặp sừng đập vào nhau chan chát nghe rợn cả người Những người sành về trâu chọi đã phát hiện ra những miếng võ của trâu địa phương mình gồm: miếng dập hay còn gọi

là miếng hổ lao; miếng chọc hầu; miếng gẩy - vả; miếng cạnh sừng my mắt; miếng chọc mắt; miếng đánh cắt luống cày - chọc mắt; miếng đè đơn

Cuối mỗi kháp/trận đấu là màn thu trâu hấp dẫn, thể hiện sức lực, mưu trí và tinh thần thượng võ của người Đồ Sơn Khi trâu thắng đang hăng máu mắt long sòng sọc, giương cặp sừng nhọn hoắt lao đuổi trâu thua, thì những người thu trâu phải cản giữ bằng được con trâu thắng để cho kháp đấu khác và bảo đảm an toàn cho người xem Nếu chọi trâu là cuộc thi đấu giữa vật với vật thì thu trâu là cuộc đấu trí giữa người với vật Người không có võ khí gì để tự vệ Đồ Sơn đã có nhiều dũng sĩ thu trâu nổi tiếng, điển hình là ông Vệ Ghẻ họ Nguyễn Văn làng Đồ Sơn Trong hội chọi trâu trình diễn năm 1973 ra đuổi thu trâu thắng Ông đuổi túm được đuôi trâu, lần theo lưng đến đầu trâu, tay nắm chặt sừng bẻ ngoặt, rồi ghé vai độn dưới cổ, rồi đứng thẳng lên, buộc trâu đang chạy khựng lại, 2 chân trước chơi vơi trong khoảng không Sau đó, ông luồn thừng vào mũi trâu, dắt trâu ngoan ngoãn rời sới Cảnh tượng đẹp này được người xem nhiệt liệt hoan nghênh cảm phục, được một đài truyền hình Nhật Bản ghi lại phát sóng làm sửng sốt hàng triệu khán giả màn ảnh nhỏ nước Nhật Kết thúc hội chọi trâu là lễ trao phần thưởng Nhất, Nhì,

Ba Giải nhất được nhận cờ vóc đại hồng thêu chữ Thượng đẳng được rước về đình làng thờ cùng bát hương đá và làng còn thưởng 1 khẩu xăm [Pl.4, tr.174]

Kết thúc lễ hội là cuộc rước trâu đoạt giải Nhất về đình làm lễ tạ Tất cả mọi người, mọi giáp đều vui mừng hả hê tham dự cuộc rước, biểu thị tinh thần đoàn kết

vô tư, tin tưởng ở sự tuyển chọn ở thần linh Hội còn tiếp tục với nhiều trò vui đến

Trang 38

hết ngày 16/8 âm lịch mới kết thúc Theo cổ lệ, đến ngày 10/8, các trâu dự chọi, dù thắng hay thua đều phải giết, lấy thịt dâng thần rồi đem chia đều cho dân làng, chỉ

có người đi mua trâu, người nuôi trâu được một ít phần hơn, còn chức sắc, chức dịch cũng chỉ được phần như mọi người, không có phần thịt biếu Như vậy, tục quân phân thần huệ của dân Đồ Sơn là dấu vết của nền dân chủ cộng đồng sơ khai

Từ ngày phục hồi lễ hội chọi trâu, trâu thắng dù là của cá nhân, tập thể sản xuất kinh doanh, các tổ chức xã hội… mọi khoản chi để mua trâu, nuôi trâu… đều của

họ, họ phải bán để thu hồi vốn Thực tế, dù thịt trâu giật giải khá đắt nhưng chỉ bù được một phần vốn đầu tư Cho nên tinh thần, ý thức của các chủ trâu được lãnh đạo, nhân dân địa phương trân trọng Đặc biệt như thường lệ, hễ vào dịp lễ hội chọi trâu thế nào cũng có mưa to đúng như câu ca dao:

“Đồ Sơn, tháng tám chọi trâu Chớ có đi đâu, không mưa thì bão”

Dân trong vùng gọi trận mưa này là cữ ông Đồ Sơn Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn liên quan đến vị chủ thần của Tám vạn chài ở đây, sau là tổng Đồ Sơn Ghi chép sớm nhất về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quán triều Tự Đức (1848 - 1883) ghi 2 lần ở mục phong tục: “Tổng Đồ Sơn tế thần

có tục chọi trâu, là theo tục Đãn hộ và mục Đền miếu: Đền Thủy thần Đồ Sơn ở chân núi xã Đồ Sơn huyện Nghi Dương, có đền thủy thần, tương truyền có người bản thổ đêm đi qua dưới đền, thấy có 2 con trâu chọi nhau, nên hàng năm đến ngày 10/8 có tục chọi trâu để tế thần Lịch triều phong tặng Điểm Tước đại vương” Sách Đồng Khánh địa dư chí lược của Quốc sử quán đời vua Đồng Khánh (1916 -1225)

và sách Hải Dương toàn hạt dư địa chí do quan tỉnh Hải Dương soạn cùng thời đề ghi như Đại Nam Nhất Thống Chí Sách Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ do Đồ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn, Phạm Văn Thư, Nhà in Lê Văn Tấn ấn hành năm 1926

* Lễ hội Đảo Dấu

Trên đảo Dấu (Dậu Sơn) xưa có một ngôi miếu nhỏ, cổng chính đề 4 chữ Hán Nam Hải thần vương, gần đây sửa là Nam Hải linh từ Miếu dựng ngay chân

Trang 39

núi trông ra bể, theo hướng Nam Miếu không giữ được thần tích, thần sắc, chỉ còn những câu đối chữ Hán ca ngợi sự linh ứng của thần Nam Hải tức vị thiên thần cai quản vùng bể Nam Ngài rất linh ứng luôn che chở cho tầu thuyền qua lại khi gặp nạn Đảo Dấu tuy không rộng lớn, nhưng xung quanh có những vịnh nhỏ, khi tầu thuyền gặp nạn cấp thời thì có thể vào neo đậu tránh trú Núi lại sẵn rau, củ, nước ngọt giúp đỡ nạn dân suốt thời gian tạm trú nên truyện thần linh ứng không chỉ là lời truyền Nam Hải thần vương có lời nguyền: Ai mang đến cho đảo một viên đá một nhành cây thì được thần phù hộ Ai lấy đi của đảo một nhành cây, một viên đá thì bị thần xử phạt Xưa nay, dân kể nhiều sự linh ứng của lời nguyền này Vì thế, hàng năm vào ngày lễ hội chính mùng 9 tháng 2, dân địa phương, dân các nơi đến chiêm bái rất đông, ngoài lễ phẩm thường đem theo những viên đá cuội ra cúng tiến Những cây đa, si cổ thụ cành lá xum xuê, rễ phủ chằng chịt vững vàng trước phong ba bão táp, cành lá không ai dám động đến, đến mùa lá rụng lại trút xuống gốc, giữ ẩm cho thân cây Tương truyền, dân chài phát hiện thi thể một chiến tướng không có đầu, nhìn võ phục là tướng đời Trần, liền rước lên đặt ở gần miếu rồi về sắm ván vải mai táng Nhưng khi trở lại thấy mối đã đùn kín thi thể vị chiến tướng; dân cho là điềm thiên táng nên phối thờ ở đền Nam Hải thần vương Đền thờ vua Thánh Tông nhà Lê, trong một lần Ngài tuần du, thuyền ngự dừng ở chân núi Độc, đêm mơ thấy thần miếu Nam Hải báo mộng xin phù hộ cho đoàn thuyền ngự bình

an Tỉnh giấc, nhà vua cả mừng lên núi dâng hương cảm tạ rồi ban tặng sắc phong

Có lẽ Ban Quản lý đền Dấu dựa vào truyền thuyết này mà đổi tên miếu là Nam Hải linh từ - Đền thiêng Nam Hải Sử có chép vua Lê Thánh Tông đi tuần du qua vùng

bể Đồ Sơn rồi qua khu núi Hòn Gai tỉnh Quảng Ninh bây giờ Trong tập thơ của Lê Thánh Tông cũng có bài Đông tuần quá An Lão (Đi tuần xứ Đông qua huyện An Lão) Lúc này, huyện An Lão còn gồm cả hai huyện Nghi Dương, tổng Đồ Sơn thuộc huyện này Bài An Bang phong thổ (Phong cảnh xứ An Bang) - tức tỉnh Quảng Yên ngày nay Ở Hòn Gai có núi Bài thơ khắc bài thơ trên của nhà vua

Rất tiếc, qua biến cố thời gian và lịch sử, đền Nam Hải thần vương đảo Dấu không lưu được một cổ vật nào Thấy rõ giá trị du lịch tâm linh, lãnh đạo quận Đồ

Trang 40

Sơn đã tôn tạo di tích đền Dấu với quy mô to đẹp khang trang theo phương châm Nhà nước nhân dân cùng làm Đền khánh thành vào dịp chính lễ năm Giáp Ngọ (3 - 2014) Công ty Cổ phần Du lịch Quốc tế Hòn Dấu đã xây dựng một bến tàu đối diện bến Hòn Dấu để khách hành hương cán bộ nhân dân qua lại nhanh, an toàn hơn Đền thiêng Hòn Dấu không chỉ là để tham gia du lịch mà còn hàm chứa ý nghĩa bảo

vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc, bảo vệ thiên nhiên môi trường

* Lễ hội Đền Bà Đế

Đền tọa lạc tại núi Độc, tựa lưng vào núi, mặt hướng ra biển Phía trước và bên phải đều có bãi cát hẹp và nhiều hòn đá thiên nhiên cắm sâu xuống biển tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp, môi trường trong lành, hấp dẫn khách hành hương, khách du lịch Xưa kia, đền nhỏ bé, nhưng từ ngày có chính sách đổi mới, đền được xây dựng mở mang to đẹp hơn nhiều Theo khảo sát điền dã năm 1977-1978 của Trịnh Cao Tưởng, tác giả sách Non nước Đồ Sơn thì ngôi miếu cổ khá nhỏ, trong miếu chỉ thấy thờ tượng một người đàn bà gương mặt trái xoan thanh tú, mang vẻ đẹp nhân thần Dưới chân Ngài còn đặt một vạt lưới, một bơi chèo nhỏ, một dây chạc nhuộm nâu sẫm Các cụ già thôn Nam kể về sự tích người được thờ: Vào thời Hậu Lê ở trang Đồ Sơn có một gia đình họ Ngô (nay có người kể họ Phan, họ Đào) chỉ sinh được một con gái đặt tên là Đế, đẹp nết đẹp người Khi ông bà họ Ngô tuổi ngoại lục tuần thì Đế, tuổi vừa đôi tám, nhan sắc lại càng rực rỡ Nhiều chàng trai

Đồ Sơn và quanh vùng lặn lội tìm đến, ngỏ ý kết nghĩa vợ chồng Nhưng Ngô Thị

Đế đều từ chối vì còn phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu Một bữa như thường nhật,

Đế lên đồi cắt cỏ, tiếng hát quyến rũ của Đế lọt vào tai đoàn thuyền đi tuần thú của chúa Trịnh Giang Chúa sai lính bắt nàng xuống thuyền hãm hiếp Chúa ban cho một nhẫn ngọc, dặn nếu có thai thì đem con với nhẫn này trình báo, uất ức Đế ném nhẫn xuống bể, về nhà kể rõ cho cha mẹ hay Ông bà căm uất kẻ vô lương, thương đứa con gái yếu đuối gặp tai vạ, bàn nhau dấu kín chuyện Không ngờ Đế mang thai, ngày ấy lệ làng khắc nghiệt, con gái hoang thai phải thả bè trôi sông, cha mẹ bị làng phạt vạ rất nặng Hôm thi hành án, trước mặt hào lý cùng dân làng, Đế đĩnh đạc nói: Lòng tôi trong sáng, không chút tà dâm, không may gặp kẻ dâm ác nên

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w