1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội dân gian ở thành phố lạng sơn, tỉnh lạng sơn

211 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với trách nhiệm to lớn này, trong những qua, công tác quản lý và tổ chức lễ hội của ngành Văn hóa nước ta đã có nhiều cố gằng và chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ HỒNG LÝ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Lý Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được

ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về

sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hà

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN VÀ TỔNG QUAN LỄ HỘI DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 14

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội dân gian 14

1.1.1 Lễ hội dân gian 14

1.1.2 Quản lý lễ hội 17

1.2 Tổng quan về lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 26

1.2.1 Khái quát chung về thành phố Lạng sơn 26

1.2.2 Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 34

Tiểu kết chương 1 48

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 49

2.1 Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý lễ hội ở thành phố Lạng Sơn 49

2.1.1 Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân sự quản lý lễ hội 49

2.1.2 Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân sự Ban tổ chức lễ hội 53

2.1.3 Cơ chế quản lý Nhà nước về lễ hội 55

2.2 Hoạt động quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 57

2.2.1 Công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội bằng các văn bản Nhà nước 57

2.2.2 Quản lý việc bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội 62

2.2.3 Quản lý nguồn lực để tổ chức lễ hội 73

2.2.4 Quản lý dịch vụ, môi trường, trật tự công cộng 81

2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng 86

2.3 Đánh giá công tác quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 89

2.3.1 Mặt ưu điểm 89

2.3.2 Mặt hạn chế 89

Trang 4

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 91

Tiểu kết chương 2 93

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 94

3.1 Xu hướng biến đổi lễ hội dân gian và phương hướng quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 94

3.1 1 Xu hướng biến đổi lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 94

3.1.2 Phương hướng quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 98

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn 104

3.3.1 Giải pháp về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng hoạt động lễ hội 104 3.3.2 Giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự 109

3.3.3 Giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội dân gian 114

3.3.4 Một số kiến nghị, đề xuất 125

Tiểu kết chương 3 128

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

PHỤ LỤC 135

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

[2,tr.216] Xem tài liệu tham khảo số 2, trang 216

VH&TT Văn hoá và Thông tin

VH,TT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 6

Bảng 2.2 Số lượng văn bản do thành phố Lạng Sơn ban hành

trước, trong và sau mùa lễ hội (từ năm 2010 đến 2014)

58

Bảng 2.3 Tổng số lượng và chỉ số các hoạt động tuyên truyền ở

thành phố Lạng Sơn (từ năm 2010 đến 2014)

62

Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ văn

hóa xã, phường (từ năm 2010 đến 2/ 2014)

70

Bảng 2.6 Tổng thu ­ chi của 5 lễ hội (Kỳ Cùng, Tả Phủ, Vua Lê,

chùa Tiên, Tam Thanh)

76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.Trong các loại hình di sản văn hoá phi vật thể, lễ hội dân gian được xem là một loại hình di sản tiêu biểu, vừa là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, vừa

là một hình thức trình diễn dân gian hàm chứa các giá trị lịch sử, nghệ thuật Hơn một thập niên gần đây, lễ hội dân gian đã trở thành một hoạt động cuốn hút sự quan tâm đặc biệt của hầu hết tầng lớp nhân dân, mọi địa phương, mọi tôn giáo và mọi tổ chức Nó có vai trò không hề nhỏ trong đời sống xã hội, có khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của đông đảo công chúng, đồng thời có tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế­ xã hội­ chính trị của địa phương Với vai trò to lớn như vậy, lễ hội dân gian cần được bảo tồn và phát huy các giá trị không chỉ ở thời điểm hiện nay mà còn cho cả thế hệ mai sau

Là một hoạt động xã hội cho nên các lễ hội dân gian không thể nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội dân gian là làm cho lễ hội được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại Vấn đề quản lý lễ hội càng trở nên bức thiết trong bối cảnh kinh tế thị trường, khi nước ta hội nhập toàn cầu, tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO, một mặt chúng ta có điều kiện mở rộng giao lưu, nắm bắt và tiếp cận tinh hoa của các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới, nhưng mặt khác lại có nguy cơ phai nhạt bản sắc của các lễ hội dân gian Với trách nhiệm to lớn này, trong những qua, công tác quản lý và tổ chức lễ hội của ngành Văn hóa nước

ta đã có nhiều cố gằng và chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, tình hình quản lý lễ hội dân gian vẫn đặt ra nhiều

Trang 8

vấn đề bức xúc, thậm chí còn gay gắt, mà nếu không giải quyết trên cơ sở nhận diện khoa học sâu sắc thì có thể dẫn tới mất bản sắc và những giá trị đích thực của lễ hội

2 Thành phố Lạng Sơn là vùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời, người dân thành phố Lạng Sơn luôn tự hào với truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước, với nhiều giá trị truyền thống, nền tảng tinh thần được lưu giữ, bảo tồn cho đến nay Cùng với hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, mà tiêu biểu là lễ hội dân gian truyền thống, đã gắn

bó với cuộc sống, trở thành một loại hình văn hóa tinh thần, một phong tục đẹp, phản ánh cụ thể, sinh động lịch sử, văn hóa của người dân nơi đây Theo thống kê, thành phố Lạng Sơn có 07 lễ hội dân gian truyền thống được lưu giữ và tổ chức thường xuyên, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Đây là một thế mạnh để phát triển kinh tế­ du lịch ở thành phố Lạng Sơn

Tuy nhiên, khảo sát qua một số lễ hội trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, vẫn thấy tồn tại những hiện tượng như: người dân tham dự lễ hội có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa với thần linh, ném tiền lên kiệu rước, nhét tiền vào tay tượng thần, tượng phật; tồn tại các hiện tượng đốt nhiều đồ mã tại các

di tích, xóc thẻ, xem bói hay lợi dụng những trò chơi trong lễ hội để tổ chức

cờ bạc, cá độ; ở một số lễ hội còn tình trạng ùn tắc giao thông; việc bày bán hàng rong, xả rác bừa bãi, phá hoại cây xanh gây mất vệ sinh môi trường và lảm hỏng mất không gian thiêng của lễ hội…Nguyên nhân của những tồn tại trên, liệu có phải là do công tác quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn còn nhiều bất cập và chưa tương xứng với yêu cầu thực tế đặt ra? và nếu đúng

là công tác quản lý lễ hội có vấn đề thì giải pháp nào là thích hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội dân gian của thành phố Lạng Sơn ? Với mong muốn tìm được lời giải đáp cho câu hỏi này, tác giả đã chọn đề tài:

Trang 9

“Quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm luận

văn tốt nghiệp cao học, ngành quản lý văn hóa

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về Lễ hội nói chung đã được các công trình từ sách, tạp chí cho tới các luận án, luận văn đề cập nhiều dưới những góc độ và những quan điểm khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

2.1 Những công trình khoa học nghiên cứu về lễ hội

“Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” (2000) do tác giả Nguyễn Chí

Bền (chủ biên), với cách nhìn nhận tổng quan về lễ hội cổ truyền và gắn lễ hội với vùng văn hóa, cuốn sách đã tổng hợp và giới thiệu được toàn cảnh lễ hội

cổ truyền ở Việt Nam; cuốn “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” (1994), tác giả Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, đã giới

thiệu 34 bài tham luận và báo cáo khoa học trong hội thảo Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại

“Lễ hội truyền thống và hiện đại” (1984), của tác giả Thu Linh, Đặng Văn Lung, Nxb Văn hóa, Hà Nội; “Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám” của tác giả Toan Ánh, Nxb Thanh niên, Hà Nội; “Lễ hội cổ truyền” do tác giả Lê Trung Vũ (Chủ biên); “Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng” (1998) của Hồ Hoàng Hà, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội…những công trình này nghiên cứu lễ hội dưới góc độ văn hóa dân gian, dân tộc học,đã nêu khá đầy đủ về nội dung và hình thức thể hiện của lễ hôi truyền thống, đồng thời cũng mô tả diễn biến của các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tục, tín ngưỡng dân gian

“Lễ hội dân gian Lạng Sơn” (2002) do tác giả Hoàng Văn Páo (chủ

biên), Sở Văn hóa ­ Thông tin Lạng Sơn Cuốn sách đã phác thảo sơ lược nét đặc sắc, riêng biệt của 20 lễ hội dân gian tiêu biểu của tỉnh Lạng Sơn

Trang 10

“Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2002), của tác giả Nguyễn Chí Bền, Nxb Văn hóa Thông Tin, Hà Nội; “Lễ hội Việt Nam trong phát triển Du lịch“(2004) của tác giả Dương Văn Sáu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; “Quản lý Di sản Văn hóa với phát triển du lịch (2010), của tác giả Lê Hồng Lý (chủ biên), Đại học Văn hóa Hà

Nội…Những công trình này tập trung nghiên cứu vai trò của lễ hội, của di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay, trở thành tiềm năng du lịch

2.2 Những công trình đề cập đến vấn đề quản lý lễ hội

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Văn hóa Thông tin, nay là Bộ

Văn hóa, Thể thao & Du lịch) “Quản lý lễ hội cổ truyền, thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú Các tác giả đã đánh giá

về thực trạng lễ hội cổ truyền ở nước ta, từ đánh giá thực trạng, tác giả đã đưa

ra giải pháp về quản lý lễ hội truyền thống

Cuốn “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt” của tác giả Bùi

Hoài Sơn, đã nhìn nhận và tiếp cận vấn đề quản lý lễ hội dưới góc độ quản lý

di sản, tác giả đã áp dụng xuyên suốt quan điểm bảo tồn phát triển để giải thích, đưa ra những luận điểm lý giải cho các vấn đề xảy ra xung quanh việc quản lý và tổ chức lễ hội, hướng đến việc xây dựng nên một cơ sở lý luận cho công tác quản lý và tổ chức lễ hội của người Việt trong tương lai

Các bài viết: “Một số vấn đề về Quản lý lễ hội ở Lạng Sơn hiện nay”,

Thông tin khoa học xã hội, số 3, 2002; “Vài ý kiến về quản lý lễ hội ở Lạng Sơn hiện nay”, Tạp chí Văn hóa dân tộc, số 3, 2003 Các bài viết đã nêu một

số thực trạng trong công tác quản lý lễ hội trên địa bàn toàn tỉnh Lạng Sơn, từ

đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội ở Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

Những tập hợp bước đầu cho thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về vấn đề quản lý lễ hội ở thành phố Lạng Sơn

Trang 11

Vì vậy, trong quá trình triển khai đề tài “Quản lý Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn”, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên

cứu của các tác giả đi trước để phục vụ cho mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của công tác quản lý lễ hội dân gian truyền thống trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cùng những hạn chế trong công tác quản lý

lễ hội dân gian trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội dân gian góp phần phát triển kinh tế­ văn hóa­ xã hội của địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý lễ hội dân gian

Tìm hiểu khái quát về thành phố Lạng Sơn và lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội dân gian trên địa bàn thành phố Lạng Sơn trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Trang 12

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác­

Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản

lý di sản văn hóa và lễ hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau: Phương pháp điều tra, khảo sát điền dã

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Quản lý văn hóa, lịch sử, Bảo tàng học, xã hội học…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn giúp các cấp, các ngành liên quan đến công tác lễ hội nhận thấy những mặt ưu điểm và hạn chế, những nguyên nhân yếu kém về công tác quản lý lễ hội dân gian để từ đó có định hướng phát huy giá trị lễ hội dân gian gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý văn hóa

cơ sở tại thành phố Lạng Sơn nới riêng và ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn nói chung trong việc tổ chức và quản lý lễ hội dân gian

Trang 13

Luận văn là căn cứ khoa học giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý hoạch định chính sách, cơ chế quản lý hiệu quả nhằm phát huy giá trị lễ hội dân gian, thúc đẩy lễ hội dân gian trở thành nguồn lực góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội dân gian và tổng quan lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý lễ hội dân ở thành phố Lạng Sơn

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN VÀ TỔNG QUAN

LỄ HỘI DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội dân gian

1.1.1 Lễ hội dân gian

Theo cuốn Hỏi đáp về văn hóa Việt Nam (2000):

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong những chu kỳ không gian, thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái, để tỏ

rõ những ước vọng, để được vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm

Lễ hội bao gồm hai thành phần: Phần lễ là yếu tố chính và phần hội là yếu tố phát sinh Không có Lễ thì không được gọi là lễ hội nữa Và gọi là hội lễ (theo thói quen) thì Lễ vẫn là yếu tố chính Lễ được hình thành bởi nhân vật được thờ, hệ thống di tích nghi lễ, nghi thức, thờ cúng (tế, lễ, rước, xách, hèm…), huyền tích, cảnh quan mang tính thiêng, kể cả hành vi tưởng như tục Hội được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui chơi, những trò bách khí, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lý hội và hành động Hội (người tổ chức và người dự hội), di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng…[2,tr.216­217]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2005)

Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh

Trang 15

sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh” Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Do nhận thức, người xưa rất tin vào đất trời, sông núi vì thế ở các làng, xã thường có miếu thờ thiên thần, thổ thần, thủy thần, sơn thần, lễ hội cổ truyền đã phản ánh điều

đó Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện để phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo

để thần linh hóa những gì trần tục …[44]

Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại đã đưa ra định nghĩa

về lễ hội: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống Là một hoạt động hết sức phổ biến, lễ hội có thể là sự kiện có thể có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâu đời trong truyền thống” [39, tr.136]

Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng:

Lễ hội là một hiện tượng tổng quát, không phải là thực thể chia đôi (Phần lễ và phần hội) một cách tách bạch như một số tác giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên, trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội

Trang 16

thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới đối tượng nhất định và tổ hợp những hoạt động văn hóa như sự hưởng ứng tinh thần được công bố bởi nghi lễ

Ở Việt Nam nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng, có rất nhiều loại lễ hội Tên gọi của các lễ hội biểu thị tính chất hay xuất xứ của lễ hội ấy

“Lễ hội dân gian” là thuật ngữ dùng để chỉ những lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian (là những lễ hội mà chủ thể là do dân chúng tham gia tổ chức và hưởng thụ, khai thác triệt để các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian làm nền tảng cho hoạt động hội)

Có lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội dân gian hiện đại Lễ hội dân gian truyền thống được hiểu là lễ hội đã xuất hiện trước thời điểm tháng 8­

1945, chủ yếu ở các làng, bản, ấp, gắn với nông dân, ngư dân, thợ thủ công Loại lễ hội này được cộng đồng tổ chức định kỳ, lặp đi, lặp lại, với các sinh hoạt văn hóa tương đối ổn định; là bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân vào thời gian nhàn rỗi của chu kỳ sản xuất nông nghiệp trước đây

Theo tác giả Nguyễn Chí Bền, lễ hội dân gian truyền thống còn gọi là

lễ hội cổ truyền, nếu giả định như một mô hình thì nó có 4 thành tố cơ bản như sau: nhân vật thờ phụng, trò diễn, các vật dâng cúng, nghi thức thờ cúng

Lễ hội dân gian hiện đại có hai cách hiểu Một là những lễ hội xuất hiện sau thời điểm tháng 8/1945 được người dân tổ chức, cộng đồng chấp nhận tái hiện theo chu kỳ nhất định và trong xu hướng phát triển lễ hội ấy có thể trở thành lễ hội dân gian truyền thống Cách hiểu thứ hai, lễ hội dân gian hiện đại

là những lễ hội dân gian truyền thống đã bị biến đổi mạnh mẽ theo hướng cách tân làm cho các yếu tố truyền thống bị phai mờ và bị các yếu tố sinh hoạt văn hóa, văn nghệ hiện đại lấn lướt hoặc “có những nét thay đổi cho phù hợp

Trang 17

với quan niệm thẩm mỹ hiện đại” Lễ hội dân gian hiện đại tổng hợp và dung hóa các loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống và hiện đại tồn tại ở dạng vật thể và phi vật thể, kết hợp với các hoạt động thương mại, quảng bá sản phẩm, tạo ra một diễn xướng văn hóa lớn

Sở dĩ tác giả không sử dụng cụ thể thuật ngữ “lễ hội dân gian truyền thống” hay “lễ hội dân gian hiện đại “mà dùng thuật ngữ chung nhất, có

ngoại diên rộng nhất “lễ hội dân gian” là bởi ở thành phố Lạng Sơn hiện nay

các lễ hội đều xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8/1945, không có lễ hội dân gian nào xuất hiện sau thời điểm 1945, nhưng trải qua thời gian dài, và có sự tác động của nền kinh tế thị trường các lễ hội ở thành phố Lạng Sơn đã có biến đổi nhưng chưa đến mức biến đổi mạnh mẽ theo hướng cách tân như tính chất của lễ hội dân gian hiện đại Hơn nữa, dưới cách tiếp cận của người làm công tác quản lý nhà nước về lễ hội thì cũng cần phải tuân theo văn bản pháp

lý của nhà nước, trong Quy chế tổ chức lễ hội (2001) của Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) đã đưa ra 4 loại lễ hội ở nước ta

là lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam Tiếp đó ngày 06/11/2009, chính phủ ban hành Nghị định số 103/2009/NĐ­CP về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hóa

và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, lễ hội tại Quy chế này được phân loại gồm lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội văn hóa du lịch và lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam.

1.1.2 Quản lý lễ hội

1.1.2.1 Khái niệm quản lý và quản lý lễ hội

Khái niệm quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng (2003), quản lý có hai nghĩa: nghĩa

thứ nhất “quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” Nghĩa thứ hai “Quản lý là trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì” [46, tr.616]

Trang 18

Trong cuốn “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện Hành chính

đã khẳng định: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [17, tr.5].

Như vậy, có thể tựu chung lại, “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể có thể

là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản

Quản lý là một hoạt động rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý Các yếu tố cơ bản trong quản lý là: Yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực, yếu tố thông tin và yếu tố văn hóa Để quản lý tốt một đối tượng đòi hỏi người quản lý phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đã đề ra Quản lý phải

là một quá trình diễn ra lâu dài để hướng xã hội phát triển theo những mục

Trang 19

tiêu nhất định chứ không phải là hành động tức thời, chớp nhoáng Về cơ bản, trong xã hội, quản lý có hai ngạch khác nhau, đó là: quản lý trong tự nhiên và quản lý trong xã hội Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu phạm

vi quản lý trong xã hội mà đối tượng chính cần quản lý là quản lý hoạt động văn hóa – quản lý lễ hội

Khái niệm”Quản lý lễ hội”:

Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn đã định nghĩa:

Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản, quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của địa phương nói riêng, của cả nước nói chung [35, tr.198].Tác giả Phạm Thị Thanh Quy lại cho rằng:

Quản lý lễ hội gồm quản lý Nhà nước và những hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển được hiểu như là sự tổ chức, huy động các nguồn lực Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu, lợi ích cộng đồng hoặc mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước [30, tr.20]

Từ hai định nghĩa trên, cho thấy quản lý lễ hội là sự tác động của chủ thể quản lý đến hoạt động lễ hội nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của địa phương nói riêng, của cả nước nói chung

Trên cơ sở xác định được chủ thể quản lý lễ hội, ta có thể xác định được các hình thức quản lý lễ hội Khi chủ thể quản lý lễ hội là nhà nước thì

có hình thức quản lý Nhà nước về lễ hội Khi chủ thể quản lý lễ hội là người

Trang 20

dân (người dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng quản lý) thì đó là hình thức quản lý cộng đồng hay tự quản

­ Quản lý nhà nước về lễ hội: là quá trình sử dụng các công cụ quản lý

như chính sách, pháp luật, các nghị định chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực khác để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động lễ hội, nhằm duy trì hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành có liên quan do nhà nước ban hành

Quản lý lễ hội trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước tạo

ra một hành lang pháp lý an toàn, mở rộng cho việc bảo tồn và phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc Tại Điều 25 Luật Di sản Văn hóa đã ghi rõ: Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức

và hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật [21, tr.40]

Lễ hội là một bộ phận quan trọng, cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy việc quản lý lễ hội cũng cần tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về

di sản được ghi tại Điều 54, Luật Di sản Văn hóa Quản lý về di sản văn hoá bao gồm các nhiệm vụ sau:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

về di sản văn hóa;

3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

Trang 21

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

6 Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa;

8 “Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa” [21, tr.61­62]

Tuy nhiên, lễ hội là một DSVH phi vật thể tiêu biểu, do đó việc quản lý

lễ hội sẽ khác so với các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cũng như khác với việc quản lý các loại hình di sản văn hóa khác Để quản lý tốt lễ hội đòi hỏi đi kèm với nó bao gồm những công cụ hữu hiệu có tác dụng trợ giúp khác như:

Công tác tuyên truyền, giáo dục và quảng bá: Nhà nước tác động đến

việc tổ chức lễ hội của quần chúng nhân dân thông qua công tác tuyên truyền, vận động và quảng bá về lễ hội chứ không chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính, văn bản hành chính

Quản lý đất đai nơi diễn ra lễ hội: Nhằm đo đạc, xác định địa giới hành

chính và lập bản đồ DTLSVH nơi diễn ra lễ hội theo Luật đất đai năm 2003, qua đó, nắm được hiện trạng sử dụng đất mà quy hoạch sử dụng đất DTLSVH nơi có lễ hội một cách hiệu quả

Quản lý DTLSVH nơi diễn ra lễ hội: Mỗi lễ hội luôn gắn liền với một

di tích, hay nói cách khác là được tổ chức tại một di tích cụ thể Di tích là do nhân dân sáng tạo ra, là tài sản quốc gia cần được giữ gìn, bảo vệ Để quản lý

Trang 22

các DTLSVH, ngày 31/3/1984, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và

sử dụng di tích lịch sử, Pháp lệnh gồm 5 chương, 27 điều quy định cụ thể việc

công nhận, bảo vệ và sử dụng DTLSVH và danh lam, thắng cảnh, việc khen thưởng và xử phạt với những tập thể, cá nhân có thành tích trong việc nghiên cứu, bảo vệ hay vi phạm những điều quy định trong pháp lệnh đối với các DTLSVH, danh lam, thắng cảnh Đây là cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Quản lý tài chính trong tổ chức lễ hội: gồm quản lý các nguồn thu, chi

trong việc tổ chức lễ hội

Quản lý công tác vệ sinh môi trường nơi diễn ra lễ hội: bao gồm việc

quản lý nguồn nước, quản lý rác thải trước, trong và sau ngày hội, trong đó tình trạng người dân thiếu ý thức xả bừa bãi tại là rất đáng lưu ý Vì vậy, phải có những biện pháp quản lý hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này như tuyên truyền, nhắc nhở nhân dân và khách thập phương không vứt rác bừa bãi, đặt các thùng rác hợp lý trong khu vực tổ chức lễ hội; tổ chức thu gom rác, vệ sinh, trồng và chăm sóc bồn hoa, cây xanh nhằm đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: bao gồm công tác đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm tại các quầy bán hàng ăn, uống phục vụ nhân dân và việc nấu nướng, phục vụ ăn, uống cho Ban tổ chức lễ hội

Quản lý tốt an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ tại lễ hội: hoạt động

này nhằm đảm bảo an toàn của người dân và tài sản trong thời gian tổ chức lễ hội; tránh những hoạt động và biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội dưới nhiều hình thức trong lễ hội

Hình thức quản lý cộng đồng về lễ hội

Hình thức này mang tính chất tự quản của cộng đồng cư dân nơi tổ chức lễ hội, không có sự can thiệp sâu của Nhà nước.Vai trò tự quản của cộng

Trang 23

đồng được thể hiện ở tất cả các khâu, các mắt xích chính của việc tổ chức và quản lý lễ hội: trong việc lên kế hoạch, lập nội dung và tiến hành lễ hội, trong việc thực hành lễ, tổ chức các hoạt động hội; trong quản lý các nguồn thu, chi; trong việc trùng tu tôn tạo di tích; trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ gìn an ninh xã hội

Hương ước, luật tục là những giao ước, những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong đó đều phải tuân thủ, thực hiện Hương ước, luật tục được xây dựng trên tinh thần dân chủ, tự nguyện, phù hợp với phong tục tập quán, với nhu cầu văn hóa­ tín ngưỡng và hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt của địa phương Hương ước ấn định những lễ tết, hội hè trong một năm mà địa phương phải thực hiện; đồng thời cũng nói rõ cách thức, phương tiện để tổ chức nó như thế nào từ thời gian, địa điểm, nhân lực, kinh phí, nội dung, ăn uống, vật phẩm dâng cúng…Ở những nơi chưa có hương ước thì địa phương quản lý lễ hội theo thời vụ Đến kỳ mở hội, bô lão và chức sắccùng đại diện các gia đình trong làng

sẽ có một cuộc họp chung để bàn bạc Tại đấy mọi người tự phát biểu ý kiến của mình về việc mở hội như tổ chức to hay nhỏ, kinh phí lấy ở đâu? Chương trình như thế nào? Thời gian, không gian, nhân lực? Sau khi thảo luận thống nhất, cuộc họp sẽ bầu ra một ban khánh tiết để lo việc lễ hội Ban này thay mặt dân làng, địa phương điều hành lễ hội cho đến ngày rã đám Các thành viên trong làng phải tuân theo sự chỉ đạo, phân công của ban khánh tiết khi cần thiết Nếu làm tốt thì làng thưởng, làm xấu thì bị phạt

Hình thức quản lý này bảo lưu rất tốt các yếu tố truyền thống, các giá trị văn hóa bản sắc, ít bị mai một, pha tạp Người dân thực sự là chủ nhân của

lễ hội, có ý thức trân trọng di sản của mình Trong các hoạt động lễ hội thường không có sự dàn dựng hay can thiệp của các nhà chuyên môn, các diễn viên chuyên nghiệp, không có sự sân khấu hóa Ở các lễ hội dạng này cũng ít có các vấn đề nổi cộm về an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, các

Trang 24

tệ nạn xã hội…Về phương diện tài chính, lễ hội không những tự nuôi được mình mà còn có nguồn thu khá ổn định, thậm chí năm sau cao hơn năm trước

Do đó, có nguồn kinh phí để quay lại tôn tạo, bảo vệ di tích và tiến hành các hoạt động xã hội từ thiện, công ích Tuy nhiên, hình thức quản lý này chỉ khả dụng đối với loại hình lễ hội có quy mô nhỏ hoặc vừa, mang đậm chất truyền thống, có bản sắc riêng và được cộng đồng giữ gìn, bảo vệ tốt

Như vậy, ở mỗi hình thức quản lý đều có những ưu điểm và hạn chế Nếu chúng ta chỉ áp dụng một trong những hình thức đó đối với hoạt động lễ hội thì sẽ không đem lại hiệu quả cao, mà cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa các hình thức với nhau, vì chính sự tương tác, bổ trợ giữa các hình thức quản

lý sẽ giúp cho công tác quản lý lễ hội đạt hiệu quả cao do khắc phục được tối

đa những hạn chế và phát huy những ưu điểm của từng hình thức quản lý

1.1.2.2 Các quan điểm về quản lý lễ hội

Lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể và được quản lý theo Luật Di sản văn hóa của quốc gia Hiện nay đang tồn tại ba quan điểm về quản lý lễ hội: một là bảo tồn nguyên vẹn; hai là bảo tồn có kế thừa; ba là quan điểm quản lý

di sản (hay bảo tồn phát triển)

Bảo tồn nguyên vẹn là bảo tồn tính chân thực của di sản, nghĩa là di sản

vốn có như thế nào thì người ta bảo tồn như thế ấy chứ không được thêm , không được bớt, bất luận trong hoàn cảnh nào Nó có tác dụng giúp các thế hệ sau hiểu đúng giá trị đích thực và diện mạo của di sản ấy khi nó mới ra đời

Đó là giá trị nguyên gốc mang tính lịch sử vì chưa bị bàn tay con người nhào nặn, sửa chữa lại theo các thiên hướng, trường phái khác nhau, qua các thời

kỳ khác nhau

Với văn hóa vật thể thì có thể quản lý theo cách bảo tồn nguyên vẹn mà không phương hại gì, nhưng đối với văn hóa phi vật thể (đặc biệt là lễ hội dân

Trang 25

gian) thì không hoàn toàn hợp lý Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp, sống động chịu ảnh hưởng trực tiếp của một cộng đồng người sáng tạo

và hưởng thụ nó Lễ hội luôn vận động theo lịch sử từng thời đại Nó là sản phẩm của xã hội và bị môi trường kinh tế, chính trị chi phối mạnh mẽ chứ không đứng yên vì xã hội nào sẽ có văn hóa của xã hội đó

Bảo tồn có kế thừa là trên cơ sở di sản cũ, người ta xem xét đánh giá

những mặt tốt, mặt xấu của nó rồi kế thừa, khai thác những ưu điểm và lược

bỏ những mặt xấu cho phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của người đương thời

Nhưng di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội) luôn là một thực thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/ tiêu cực; tiến bộ/ lạc hậu; tốt/xấu…vì thế khi chúng bị chia cắt một cách siêu hình thì lập tức bị biến dạng và tiêu vong Thực tiễn đã cho thấy, với quan điểm này nhiều lễ hội chỉ còn lại phần “hội” vì nhiều hình thái văn hóa gắn với tín ngưỡng cổ xưa, nhiều diễn xướng dân gian có giá trị bị coi là dị đoan và bị cấm thực hành Chính vì vậy, bảo tồn di sản theo quan điểm này sẽ dấn đến một hệ quả tất yếu là nhiều hình thái văn hóa cổ truyền mà dưới con mắt của người đương thời là không phù hợp sẽ bị gỡ bỏ và di sản sẽ không còn toàn vẹn nữa

Bảo tồn phát triển

Hiện nay, quan điểm này đang chiếm vị trí chủ đạo trong giới học thuật cũng như trong giới quản lý văn hóa ở nhiều nước đang phát triển trên thế

giới Trong cuốn Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, tác giả Bùi Hoài

Sơn đã lập luận rất chặt chẽ thể hiện tính hiệu quả nếu được áp dụng trong công tác quản lý lễ hội hiện nay

Quan điểm này không bận tâm với việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại Quan điểm bảo tồn phát triển quan tâm đến các lĩnh vực sau:

Trang 26

Mục đích quản lý lễ hội: có nhiều mục đích có thể xảy ra và trái ngược nhau; di sản là một sự lựa chọn có thể theo hoặc không theo, không có mục đích nào được xem là tối thượng, hoàn toàn đúng

Về nguồn lực quản lý lễ hội: Nhu cầu tạo ra nguồn lực và do vậy các nguồn lực không có giới hạn Nguồn lực được tạo ra bởi nhu cầu của thị trường sản phẩm

Về tiêu chí lựa chọn lễ hội: sự lựa chọn được xác định bởi thị trường;

độ chân thực cảu di sản nằm trong trải nghiệm và vì vậy không thể xác định một cách khách quan được

Về sản phẩm thuyết minh cho di sản: các di sản mang tính đa nghĩa, nhiều mục đích và không ổn định qua thời gian

Về chiến lược bảo tồn: Di sản là một chức năng, vì vậy nó là một lựa chọn cho phát triển, chính vì thế không có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và phát triển kế hoạch bảo tồn di sản không thể tách rời khỏi các chiến lược phát triển khác Việc tăng cầu đối với sản phẩm (di sản) phù hợp với việc tăng cung sản phẩm [35, tr.43­44]

Với ba quan điểm trên, các nhà quản lý văn hóa­ xã hội cần căn cứ vào mức độ, cũng như quy mô của từng lễ hội để xem xét liệu quan điểm này hay quan điểm kia có thể áp dụng được, tránh áp đặt một cách máy móc, gây mất hiệu quả trong công tác quản lý lễ hội

1.2 Tổng quan về lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

1.2.1 Khái quát chung về thành phố Lạng sơn

1.2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, thuộc phía đông bắc của tỉnh Lạng Sơn Cách thủ đô Hà Nội 154 km và cách biên giới Việt –

Trang 27

Trung 18 km Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh, đường quốc Lộ 4A đi Cao Bằng

Theo Nghị định 82/2002/NĐ­CP, ngày 17/10/2002 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Lạng Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn thì ranh giới thành phố Lạng Sơn được xác định như sau: Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy ­ huyện Chi Lăng Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc

và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên – huyện Cao Lộc Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện Văn Quan

Điều kiện tự nhiên

Về địa hình: thành phố Lạng Sơn nằm trên một bồn địa bằng có núi rừng bao quanh từ nền đá cổ, được kiến tạo cách đây 280 triệu năm Gồm các kiểu địa hình: Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn chủ yếu ở khu vực phía đông, đông bắc, tây nam của thành phố Kiểu địa hình tích tụ do sông Kỳ Cùng tạo nên gồm 3 bậc thềm: bậc 1 là khu vực bệnh viện tỉnh, bậc 2 là sân bay Mai Pha, bậc 3 là bờ sông kỳ Cùng

Về khí hậu, thủy văn: thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới

ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm 210c, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm Có dòng sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm Thành phố dài 19 km, lưu lượng trung bình là 2.300 m3/s, đây là dòng sông chảy ngược Nó bắt nguồn từ huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam ­ Bắc về huyện Quảng Tây ­ Trung Quốc Ngoài sông Kỳ Cùng, trên địa bàn thành phố còn có các con suối: suối Nao Ly chạy từ huyện Cao Lộc qua khu Kỳ Lừa đổ ra sông Kỳ Cùng, suối Quảng Lạc dài 9,7 km, rộng 8

m, lòng sâu, về mùa cạn mức nước chỉ 0,5­1m, khi mùa lũ lên tới 2 đến 3 m

Trang 28

Trong vùng còn có một số hồ đập vừa và nhỏ như hồ Nà Tâm, hồ Thẩm Sỉnh,

Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông [47, tr.720]

Về đất đai, khoáng sản

Tổng diện tích đất tự nhiên là 7.918,5 ha, trong đó đất sử dụng cho nông nghiệp là 1.240,56 ha, chiếm 15,66% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất lâm nghiệp đã sử dụng 1.803,7 ha, chiếm 22,78% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất chuyên dùng 631,37 ha, chiếm 7,9% diện tích đất tự nhiên

Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản ở thành phố Lạng Sơn chủ yếu là

đá vội, đất sét, cát, đá cuội, sỏi… có 2 mỏ đá vôi chưa xác định được trữ lượng, nhưng chất lượng đá vôi có hàm lượng canxi rất cao, đủ điều kiện để sản xuất xi măng Mỏ đất sét có trữ lượng trên 22 triệu tấn, dùng làm nguyên liệu sản xuất, vật liệu xây dựng Ngoài ra còn có vàng sa khoáng, mănggan, bôxit…nhưng trữ lượng rất nhỏ [47, tr.719]

1.2.1.2 Đặc điểm dân cư

Dân số của thành phố năm 2009 là 187.278 người Trong đó, dân thành thị chiếm 78%, dân nông thôn chiếm 22 % Trên địa bàn thành phố có nhiều dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa chiếm 99% tổng số dân, Song các dân tộc Tày, Nùng, Hoa cũng chỉ chiếm 1/3 dân số thành phố Lạng Sơn, còn 2/3 người dân thành phố là người Kinh Ngoài ra còn có mặt bảy dân tộc anh em khác, chiếm chưa đầy 1% Đó là dân tộc

Hmông, Mường, Dao, Bru­ Vân kiều, Gié Triêng, Sán chỉ, Ê đê (nguồn Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn)

Người Kinh ở thành phố Lạng Sơn sống và làm việc tại cả 5 phường và

3 xã thuộc thành phố Không kể số người là cán bộ công nhân viên tập thể thì phần lớn tập trung đông nhất ở Kỳ Lừa và Chi Lăng Số người Kinh ở phường Chi Lăng có ít hơn số người Kinh ở Kỳ Lừa nhưng mật độ người Kinh ở khu

Trang 29

vực này là cao nhất, chiếm 80% dân số Ở phường Đông Kinh, tuy số lượng người Kinh không nhiều nhưng mật độ người Kinh còn đông hơn cả khu phố

Kỳ Lừa (chiếm đến 61% trong khi ở Kỳ Lừa người kinh chiếm 60%)

Thành phố Lạng Sơn có 105.100 người trong độ tuổi lao động, chiếm 56,1% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm 26% so với lao động trong độ tuổi Số lao động có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên chiếm hơn 10% tổng số lao động

1.2.1.3 Lịch sử hình thành

Từ xa xưa, thành phố Lạng Sơn là trung tâm của một vùng đất biên giới, nằm trên con đường giao thông huyết mạch có từ rất lâu, nối liền từ vùng biên ải đến kinh thành Thăng Long Đây cúng là con đường giao lưu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc Nơi đây cũng đã từng diễn ra nhiều trận đánh lịch sử để bảo vệ biên cương chống lại kẻ thù từ phương bắc của nhiều thế hệ quân dân Việt Nam

Theo nhiều tài liệu lịch sử, Lạng Sơn vốn đã trải qua thời kỳ là trấn lỵ, châu lỵ, phủ lỵ ­ là trung tâm của bộ máy hành chính từ thời phong kiến, từ thời nhà Hán, nhà Đường của Trung Quốc đô hộ,Việt Nam được chia thành 9 quận thì Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ (châu Giao) Đến thời nhà Lý (thế kỷ XI), Lạng Sơn được gọi là châu Lạng, do dòng họ Thân (Thân Thừa Quý­ vốn

là phò mã của nhà Lý) cai trị Đời nhà Trần (thế kỷ XIII) Lạng Sơn có tên gọi

là Lạng châu lộ, năm Quang Thái thứ 10 đổi thành trấn Lạng Sơn và đặt lỵ sở

ở khu vực xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn ngày nay và cho xây dựng Đoàn thành Đến thời nhà Lê (thế kỷ XV) để củng cơ quân sự chống quân xâm lược nhà Minh, Lạng Sơn được bố trí nhiều cơ quan hành chính, kinh tế, quân sự gọi là vệ, cục, ty…dưới quyền của Lạng Sơn Thừa Chính tư Năm Hồng Đức

Trang 30

thứ 26, Đoàn thành Lạng Sơn tiếp tục được tu bổ, gia cố lại Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Nghiễm viết : “Xung quanh trấn thành đã hình thành nên rất nhiều “chợ” và “phố” như phố Kỳ Lừa, phố Trường Thịnh, Đồng Đăng, thu hút thương nhân, lái buôn trong nước và người Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi hàng hóa đông vui, tấp nập" Đến triều nhà Nguyễn, Đoàn Thành

Lạng Sơn một lần nữa được tu bổ vào năm Minh Mệnh thứ 15 (1835) [41],

Năm 1925, thị xã Lạng Sơn được thành lập, và là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, chia làm hai khu vực tự nhiên, lấy sông Kỳ Cùng làm ranh giới, phía bờ nam gọi là "bên tỉnh", phía bờ bắc gọi là "bên Kỳ Lừa" Bên tỉnh là tập trung các cơ quan công sở hành chính của bộ máy chính quyền tỉnh Bên Kỳ Lừa là nơi tập trung các phố chợ, diễn ra các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, buôn bán của người dân [47, tr.723]

Trong những năm diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp, thị xã Lạng Sơn là nơi diễn ra các chiến dịch nổi tiếng như Thu đông (1947), chiến dịch Biên giới (1950) Từ sau năm 1954, với vị trí địa đầu của đất nước, thị xã Lạng Sơn được coi như một "cảng nổi" ­ là đầu mối tiếp nhận, lưu trữ hàng hóa viện trợ của các nước Xã hội Chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam Năm 1979, cuộc chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc đã diễn ra ác liệt ở khu vực biên giới và tràn xuống gần cả khu vực thị xã Lạng Sơn, khiến thành phố

đã bị thiệt hại nặng nề

Sau năm 1954, chuyển xã Đông Kinh thuộc huyện Cao Lộc vào thị xã Lạng Sơn Ngày 27 tháng 12 năm 1975, hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hợp nhất thành tỉnh Cao Lạng, thị xã Lạng Sơn là một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Cao Lạng Năm 1977, chuyển 4 xã: Hoàng Đồng, Quảng Lạc, Mai Pha, Hợp Thành thuộc huyện Cao Lộc vào thị xã Lạng Sơn Nhưng đến ngày 29 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách thành 2 tỉnh như cũ, thị xã trở lại là tỉnh lị tỉnh Lạng Sơn Ngày 22 tháng 11 năm 1986, chuyển xã Hợp Thành về

Trang 31

huyện Cao Lộc quản lý Năm 1994, chia xã Đông Kinh thành 5 phường nội thành: Chi Lăng, Đông Kinh, Hoàng Văn Thụ, Tam Thanh, Vĩnh Trại [47, tr.723­724] Năm 2002, thị xã Lạng Sơn được nâng cấp thành thành phố Lạng Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn

1.2.1.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Đặc điểm kinh tế- xã hội

Theo số liệu 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố : GDP ước tính tăng 15,2% so với năm 2005 Cơ cấu nhóm ngành trong GDP, thương mại­ dịch vụ chiếm 62,84%; công nghiệp­xây dựng chiếm 32,71 %; nông nghiệp chiếm 4,45% GDP bình quân đầu người đạt 1.300 USD/ người Thành phố Lạng Sơn là trung tâm thương mại của vùng Đông Bắc của Việt Nam Năm 2006, thành phố đón 1.180.000 lượt khách du lịch, tổng mức thu luân chuyển hàng hóa bán lẻ thực hiện được 4.048 tỷ đồng, đạt 99,6% kế hoạch, tăng 21,3% [47, tr.731]

Về cơ sở hạ tầng

Giao thông: Hệ thống giao thông trên địa bàn thành phố khá hoàn chỉnh,

có đường quốc lộ 1A,4A,4B, đường sắt liên vận quốc tế…chạy qua Hiện nay, trên địa bàn thành phố có khoảng 40km đường quốc lộ với bề mặt rộng từ 10­20

m, 60 km đường tỉnh lộ với mặt đường rộng từ 5­11m Tuyến cao tốc Hà Nội – Hữu Nghị Quan với 6 làn xe được xây dựng với tổng vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD vào năm năm 2010 Việt Nam hợp tác với Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt liên vận quốc tế cho hành lang kinh tế Nam Ninh­ Lạng Sơn­ Hà Nội­

Hải Phòng­ Quảng Ninh (nguồn Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn)

Hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc: Toàn bộ các phường nội thị và 70% số thôn bản các xã đã có điện 80% số dân nội thị và một số vùng ngoại thị đã có nước máy và nước sạch Bình quân cứ 2 hộ có 1 tivi, 4 hộ có 1 đầu video, 3 hộ có 1 máy di động [47, tr.731]

Trang 32

Về giáo dục: tiếp tục ổn định và phát triển, mạng lưới trường học được qui hoạch hợp lý Năm 2002 đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Năm 2003 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở Cơ sở vật chất trường học được tăng cường Các trường chuyên nghiệp, trường nghề chuyển hướng đào tạo gắn với yêu cầu sử dụng lao động theo cơ chế thị trường Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao

Về y tế: mạng lưới y tế xã, phường được củng cố, tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc và cán bộ y tế Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân ở đây luôn được chú trọng Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình có chuyển biến tích cực Đóng trên địa bàn thành phố còn có Bệnh viện

Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Lao, trường Cao đẳng

Y…với trên 500 y, bác sỹ (nguồn Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn)

Đặc điểm đời sống văn hóa

Về đời sống văn hóa vật chất: kiến trúc nhà ở, trong vùng nội thị của thành phố Lạng Sơn trước đây bao gồm có hai khu vực có cấu trúc nhà ở khác nhau, khu phía Bắc và phía Nam sông Kỳ Cùng là nhà hai tầng bằng đất trình ở đầu phố và nhà một tầng bằng gạch mộc ở giữa phố Kỳ Lừa Tường bằng đất trình hoặc gạch chiên, cùng với mái lợp bằng ngói máng là nét điển hình trong

kỹ thuật sử dụng vật liệu xây dựng, tiêu biểu cho nhà ở khu Bắc sông Kỳ Cùng Còn ở làng xã ngoại thành, người Tày và người Nùng dựng nhà trên sàn hoặc phía dưới nhà có sàn (để hong phơi ngũ cốc) Tùy theo mức độ sung túc của gia đình, tường được trình bằng đất sét hay xây bằng gạch chiên, mái lợp bằng ngói máng hay cỏ tranh đánh thành gắp hoặc rơm rạ để lợp các nhà phụ, chuồng gia súc Mỗi làng có một cái giếng công cộng dùng chung cho cả làng

Người Xứ Lạng nói chung và thành phố Lạng Sơn nói riêng chú ý nhiều đến kỹ thuật nấu nướng do tiếp thu được qua người Hoa, người Việt

Trang 33

Những món ăn đặc sản của Lạng Sơn là lợn quay, vịt quay, khau nhục, thịt bò xào chua ngọt, phở chua…Người thành phố Lạng Sơn dùng nhiều thịt mỡ, nhất là vào mùa rét, thích chế biến kiểu xào, quay, rán, hầm dùng nhiều gia vị cay, chua, đắng Rượu là thức uống được dùng phổ biến như uống nước chè, khách tới nhà có thể được mời uống rượu thay nước chè

Về trang phục: mầu xanh là mầu được đồng bào các dân tộc ưa chuộng nhất Người phụ nữa Tày chít khăn vuông, mặc áo chàm đen dài, có dây lưng, ống tay áo hẹp, quần rộng Áo nam của người Tày ống hẹp, cổ tay hẹp, không

tô điểm chỉ màu Ở người Nùng Phàn Slình, nữ mặc quần rộng, khăn có điểm những chấm trắng, áo dài đến gần đầu gối, vòng bạc đeo ở chân hoặc tay; nam mặc áo xẻ tà có 4 túi, 7 khuy tết thành nút, áo có đính tua màu hồng hoặc xanh, quần rộng Người Nùng Cháo, nữ mặc áo ngắn lưng, xẻ phải, có khuy ngang lưng ở nách, đầu chít khăn vuông màu đen hoặc chàm tím đen, quần rộng; nam mặc áo có túi, không đính tua, chỉ màu, quần thụng màu đen sẫm

Về đời sống văn hóa tinh thần: trước nhất phải kể đến đời sống tâm linh thể hiện qua các tín ngưỡng và tôn giáo mang tính dân gian đa dạng và phong phú Những ảnh hưởng của tam giáo đồng nguyên du nhập vào từ Trung Quốc xuống và từ xuôi lên hòa quyện với tín ngưỡng dân gian địa phương làm cho chúng biến đổi tính chất thuần gốc và bị dân gian hóa đi nhiều

Tuy ảnh hưởng của tam giáo nhưng người dân vẫn hướng về và coi trọng niềm tin vào sự che trở của các phi (ma) của tổ tiên, thổ địa, thành hoàng…vì thế

mà trên địa bàn thành phố Lạng Sơn có rất nhiều đền, miếu đình thờ, trong gia đình, nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên Ngoài ra với tư cách là một cộng đồng cư dân vùng thung lũng làm nông nghiệp cho nên yếu tố nước cũng rất quan trọng với họ Ở đây ta bắt gặp một hệ thống di tích đền thờ thần sông với số lượng khá nhiều, dọc theo dòng chảy các con sông ở Lạng Sơn

Trang 34

Lễ hội dân gian cũng là một thành phần văn hóa quan trọng trong đời sống tinh thần cư dân thành phố, có rất nhiều lễ hội được tổ chức trong năm Đây

là dịp để đồng bào các dân tộc Xứ Lạng hội tụ về vui chơi sinh hoạt văn hóa

Nhìn chung, đời sống văn hóa tín ngưỡng hội hè của nhân dân các dân tộc thành phố Lạng Sơn rất phong phú, đa dạng và đặc sắc, thể hiện truyền thống văn hóa rất sinh động Thông qua đời sống văn hóa tinh thần, vật chất người dân thành phố Lạng Sơn thêm yêu thương, gắn bó với nhau hơn

1.2.2 Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

1.2.2.1 Đặc điểm lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Các loại hình lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Theo số liệu khảo sát của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn (năm 2002), trên địa bàn thành phố Lạng Sơn hiện nay có 07 lễ hội dân gian với tính chất quy mô lớn, nhỏ khác nhau Các lễ hội được tổ chức chủ yếu vào mùa xuân, kéo dài trong suốt tháng Giêng Có thể phân chia các lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn thành các loại hình sau:

Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng): Lễ hội bao gồm nghi lễ cúng thần Nông và các trò chơi dân gian như múa sư tử, đánh yến, bắn nỏ, tung còn, chơi khăng…các làn điệu hát Sli, then, lượn Mở đầu lễ hội là các nghi lễ cúng thần nông Khởi thủy từ tín ngưỡng xưa, bà con tin rằng thần nông là một vị thần cai quản ruộng vườn, đất đai…Vị thần nông có thể hô mưa, gọi gió cho mùa màng, cây cối tốt tươi, cho cuộc sống dân bản một năm mới bình

an, vụ mùa bội thu, chăn nuôi gia súc đầy đàn Từ đó bà con các dân tộc có tục cúng thần nông vào đầu xuân năm mới để cầu thần phù hộ Mở đầu hội, ông Pú Mo làm lễ cúng thần linh, thành hoàng ở ngoài đình làng hoặc miếu; cúng thần nông ở ngoài khu ruộng rộng Đồ lễ cúng gồm gà thiến luộc, các loại bánh trái, hoa quả, rượu trắng Mỗi gia đình làm một mâm cỗ ra đình

Trang 35

(miếu), ra ban thờ thần nông cúng lễ Sau lễ cúng mọi người cùng mời nhau

ăn cỗ, uống rượu tại lễ hội Tiếp theo nghi lễ cầu cúng là các hoạt động hội với các trò chơi dân gian, diễn xướng dân gian Đối với loại hình lễ hội này, trên địa bàn Lạng Sơn có 02 lễ hội: Lễ hội Pác Mòong, xã Quảng Lạc; Lễ hội Kòn Lèng, phường Tam Thanh

Lễ hội Đền­ Chùa: chùa ở tỉnh Lạng Sơn nói chung và ở thành phố Lạng Sơn nói riêng, bài trí thờ tự chủ yếu là phật giáo tiểu thừa, ít có sư sãi, thường chỉ là một số ít phật tử trông nom hương khói bản chùa Lễ hội chùa ở đây có đặc điểm khác các lễ hội chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong thờ tự

có sự hiện diện của tam giáo đồng nguyên: Nho­Đạo­ Phật giáo (lễ hội chùa Tam Thanh, lễ hội chùa Tiên) Ngoài ra, thành phố Lạng Sơn còn có nhiều đền thờ các vị thánh thần của dân tộc, các vị nhân thần của địa phương, các sơn thần, thủy thần Các lễ hội gắn với việc thờ các vị thần này là lễ hội đền vua Lê, đền Tả Phủ, đền Kỳ Cùng Những lễ hội đền, chùa được tổ chức với hai phần chính: Phần lễ tại đền, chùa, với các nghi lễ, cúng tế để cầu sức khỏe, may mắn, bình an cho mọi người, mọi nhà Ngoài nghi lễ cúng tế ở các

lễ hội đền còn tổ chức rước kiệu, ngai, võng từ đền này đến đền kia và ngược lại Trong dịp này nhân dân còn tổ chức các trò chơi dân gian như múa sư tử, chơi cờ người, hát sli, then, lượn

Đặc điểm của lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn

Căn cứ vào những nghi lễ, những trò chơi, trò diễn, lệ tục và những hoạt động liên quan đến lễ hội, có thể nêu ra những đặc điểm của lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn như sau:

Các lễ hội tập trung tái hiện lại quá trình sản xuất nông nghiệp của cha ông Trong các di tích đền, chùa, miếu đều có những câu chuyện truyền thuyết, việc bài trí thờ tự và các trò diễn phản ánh tính cầu nước để phục vụ sản xuất

Trang 36

nông nghiệp, như câu chuyện “ông Cộc, ông Dài”, thần Rắn được lưu truyền dọc bờ sông Kỳ Cùng…bên cạnh các nghi thức thờ tự, hầu hết các trò chơi, trò diễn trong lễ hội ít nhiều đều có liên quan đến sản xuất nông nghiệp Đó là trò múa lân, tung còn, đánh yến, trò “sĩ, nông, công, thương”…các trò tái hiện các hiện tượng tự nhiên như sấm, chớp, mưa

Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn phản ánh đề tài lịch sử của cha ông trong việc bảo vệ quê hương, đất nước.Do đặc điểm vị trí địa lý đặc biệt,

là một vùng biên viễn nên từ xưa nơi đây đã xảy ra các cuộc đấu tranh chống lại triều đình phương Bắc Ở một số lễ hội có phần nghi lễ gắn với việc phụng thờ những nhân vật lịch sử, những người có công dẹp giặc, khai thác đất đai, bảo vệ bản làng, biên cương, bờ cõi Ví như Lễ hội đền Kỳ Cùng và đền Tả Phủ gắn với việc thờ phụng hai vị quan của triều đình dưới xuôi lên Đó là quan Tuần Tranh (một vị tướng giỏi dưới thời Trần) và Tả đô đốc Thân Công Tài (một vị tướng thời Hậu Lê) Cả hai vị tướng này đã lập nhiều chiến công hiển hách, nên được đồng bào các dân tộc địa phương lập đền thờ phụng Hay

lễ hội đền vua Lê thờ vọng vua Lê Thái Tổ, người có công đánh thắng quân xâm lược Minh Vào hai ngày 23, 24 tháng Giêng hàng năm, đồng bào xã Hoàng Đồng và các vùng xung quanh thường đến tham dự lễ hội rất đông

Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hoá: từ xưa tới nay, thành phố Lạng Sơn là nơi luôn diễn ra sự giao lưu tiếp xúc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa miền xuôi và miền ngược, giữa bên trong và bên ngoài Có lẽ vì thế mà từ việc thờ cúng đến các nghi thức, nghi lễ, trò chơi, trò diễn ở các lễ hội dân gian nơi đây đều có sự giao lưu, tiếp xúc giữa văn hoá các dân tộc tại chỗ và văn hoá Việt, văn hoá Hán tương đối mạnh mẽ Cũng từ sự giao lưu, tiếp xúc trên mà hệ thống nghi thức, nghi lễ thờ tự ở thành phố Lạng Sơn khá phong phú, từ việc thờ nữ thần

Trang 37

với hình thức sơ khai đến hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu tương đối hoàn chỉnh, đồng thời có sự hiện diện của Thành Hoàng làng, của Phật­ Nho­ Đạo giáo

Lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn phong phú về các trò chơi, trò diễn, hình thức diễn xướng dân gian: Tuy ít loại hình lễ hội, nhưng không vì thế mà lễ hội dân gian thành phố Lạng Sơn nghèo nàn về hoạt động Hội Qua thống kê, lễ hội dân gian thành phố Lạng Sơn có gần 20 trò chơi, trò diễn sau : múa sư tử, chơi cờ người, tung còn, đánh yến, kéo co, đánh sảng, chơi bi đi

cà kheo, nhảy bao,các trò tái hiện sấm­chớp­ mưa, trò múa gươm, trò đánh giặc, trò sĩ­nông­công­thương, múa võ, bắn nỏ…về diễn xướng dân gian có hát sli, lượn

1.2.2.2 Ý nghĩa và giá trị lễ hội dân gian đối với người dân thành phố Lạng Sơn

Thứ nhất, lễ hội dân gian có giá trị biểu dương và cố kết cộng đồng:

Lễ hội nào cũng thuộc về một cộng đồng nhất định, đối với các lễ hội dân gian ở thành phố Lạng Sơn đều thuộc về một cộng đồng làng xã/ khối phố thuộc địa bàn thành phố Việc tổ chức các lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng, tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng Thông qua tổ chức dòng họ/ cộng đồng từng thôn, bản/ khối phố các lễ hội đã huy động được mọi tầng lớp nhân dân đóng góp sức người, sức của cho việc tổ chức lễ hội Việc cùng bàn bạc, cùng tổ chức và thực hiện lễ hội cũng đã giúp cộng đồng hiểu nhau, gắn bó và thân thiết với nhau hơn, từ đó ý thức cộng đồng ngày càng được củng cố bền chặt

Trong điều kiện xã hội hiện nay, xu hướng khẳng định “cái cá nhân”,

“cá tính” của mỗi người ngày càng tăng, nhưng không vì thế “cái cộng đồng”

bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi sắc thái và phạm vi, người dân vẫn phải nương

Trang 38

tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữa nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự

Thứ ba, lễ hội dân gian có giá trị hướng về cội nguồn Đó là nguồn cội

tự nhiên mà người dân vốn từ đó mà sinh ra và nay vẫn là bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng (xóm làng, thôn bản, khối phố ), nguồn cội văn hóa…các hoạt động diễn ra trong các lễ hội dân gian của thành phố Lạng Sơn đều nhằm ôn lại quá khứ của địa phương, của cộng đồng cư dân Những hoạt động trong lễ hội đều mang tính tưởng niệm, hướng về những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân địa phương thờ cúng Qua các nghi lễ thờ cúng anh hùng có công đánh giặc cứu nước, những tên tướng giặc chết trong giờ thiêng, các trò múa kiếm, đánh trận…phần nào đã giúp người dân cảm nhận được khí thế hào hùng của dân tộc trong lịch sử bảo vệ tổ quốc Các nghi thức tưởng niệm, tế tự, các trò diễn đều nhằm mục đích làm sống lại đời sống thánh, thần

dù đó là nhiên thần hay nhân thần, có thật hay tưởng tượng Những vị thần này, theo đồng bào họ đã có công tạo nên mảnh đất, con người, đồng ruộng, nơi trao đổi buôn bán… Chính vì vậy, lễ hội là dịp để người dân thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, biết ơn những người đã có công với địa phương Chính bản chất trở về cội nguồn đã tạo nên tính nhân bản sâu sắc của

lễ hội và nó đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân qua các thời đại

Trang 39

Thứ tư, lễ hội dân gian còn thể hiện chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng

đồng các dân tộc ở địa phương… có thể nhận thấy rõ điều này khi hầu hết người dân, từ các cụ lão, đến các nam thanh, nữ tú đều mong muốn được tham gia đoàn rước, cúng tế thánh thần, thành hoàng làng và tham gia một số vai diễn mang tính nghi lễ phong tục như: rước cờ, rước ngai, khiêng kiệu, tham gia các trò chơi, trò diễn; thông qua lễ vật cúng tế, nén hương, lời khấn, khẩn cầu trong phần lễ, người dân bày tỏ trước thánh thần, thành hoàng làng những tâm tư nguyện vọng của cá nhân, cộng đồng trong cuộc sống, lao động sản xuất Cầu thần linh phù hộ độ trì cho “Nhân khang vật thịnh”, “Phong đăng hòa cốc”, “mùa màng bội thu” Đó là niềm khát vọng của người dân lao động cầu mong có một cuộc sống bình an, hạnh phúc Ngoài việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tâm linh tín ngưỡng của nhân dân, lễ hội dân gian

ở thành phố Lạng Sơn còn là dịp để mỗi cá nhân cân bằng trạng thái tâm lý, giải tỏa những bức bối trong cuộc sống, giúp cá nhân hòa đồng với tập thể, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hòa mình với môi trường tự nhiên Qua đó con người vơi bớt những lo toan, bức xúc căng thẳng thường ngày và cảm thấy lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn

Thứ năm, lễ hội dân gian là dịp để người dân được sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Lễ hội dân gian là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng­ văn hóa

cộng đồng của nhân dân thành phố Lạng Sơn Trong các lễ hội, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng

và hưởng thụ các giá trị văn hóa và tâm linh Người dân được “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi người đều được hưởng những lễ

Trang 40

vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong quá trình tổ chức hoạt động lễ hội, dường như lúc này sự cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường được xóa nhòa, lúc này mọi người dân cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa của chính mình

Với những ý nghĩa tốt đẹp đó, lễ và hội hướng con người tới “cái thiêng” và gắn bó con người lại với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ Chiều sâu của tinh thần lễ hội dân gian là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc; do đó, thực hiện tốt các vai trò, giá trị của lễ hội dân gian là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Bên cạnh đó, lễ hội với những ý nghĩa, giá trị tâm linh, văn hóa sâu sắc cũng đã góp phần to lớn trong việc quảng bá và phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh của quê hương, đất nước với bạn bè thế giới

1.2.3.4 Lược tả các lễ hội dân gian trên địa bàn thành phố Lạng Sơn

Lễ hội đình Pác Mòng

Lễ hội Pác Mòong tổ chức vào ngày 5 tháng giêng hàng năm Đây cũng

là ngày hội Lồng Tồng của dân trong vùng với mục đích cầu các thần linh phù

hộ cho một năm mới mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an hạnh phúc Để chuẩn bị cho ngày hội, dòng họ Chu (dòng họ này đã trông coi, quản lý Đình này từ nhiều đời) đã phân công cho một gia đình nuôi một con lợn để cúng lễ trước đó hàng năm trời

Sáng sớm ngày lễ hội, chủ trì họ Chu gọi con cháu, dân làng thịt lợn và quay cả con để làm lễ cúng Riêng nhà chủ trì làm mâm cỗ gồm con gà thiến luộc thật to, bánh khảo, bánh chưng, bánh khoai và hoa giấy sặc sỡ ra đình cúng,

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w