Môi trường tự nhiên của Đồ Sơn là vùng ven biển, do vậy, yếu tố biển sẽ được thể hiện rất rõ trong các lễ hội dân gian.. Đồ Sơn lại là một khu du lịch nổi tiếng, do vậy, những hạn chế tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ - THÔNG TIN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
VŨ THỊ THANH HƯƠNG
VĂN HOÁ BIỂN TRONG MỘT SỐ
LỄ HỘI DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN
Chuyên ngành: Văn hoá học
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những kết quả và đóng góp của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN 1.1 Sơ lược về lịch sử Đồ Sơn 7
1.1.1 Địa danh Đồ Sơn 7
1.1.2 Các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa bảo vệ quê hương 8
1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của Đồ Sơn 12
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của Đồ Sơn 15
1.3 Sinh hoạt văn hoá của cư dân Đồ Sơn 17
1.3.1 Kinh nghiệm, phong tục, tập quán trong lao động biển 17
1.3.2 Diễn xướng dân gian - Hát đúm 21
1.3.3 Tôn giáo- Tín ngưỡng 24
1.4 Tiểu kết chương 1 27 Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ BIỂN TRONG
Trang 3MỘT SỐ LỄ HỘI DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 28
2.1.1 Khái niệm chung về lễ hội dân gian 28
2.1.2 Môi trường tự nhiên là yếu tố quan trọng tác động tới lễ hội dân gian 33
2.2 Yếu tố biển trong một số lễ hội dân gian Đồ Sơn 38
2.2.1 Các di tích liên quan 38
Đền Nghè 38
Miếu Cụ 41
Đền Bà Đế 42
Đình Ngọc 44
2.2.2 Yếu tố biển biểu hiện qua nhân vật được thờ 46
Lễ hội Hòn Dáu 46
Lễ hội chọi trâu 50
Lễ hội đền Bà Đế 53
2.2.3 Yếu tố biển biểu hiện qua thời gian mở hội 57
2.2.4 Yếu tố biển biểu hiện qua tục hiến sinh trong các lễ hội 58
2.2.5 Yếu tố biển biểu hiện qua biểu tượng con trâu trong lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 61
2.3 Tiểu kết chương 2 62
Chương 3 KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HOÁ BIỂN CỦA LỄ HỘI DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN 3.1 Giá trị văn hoá biển của lễ hội dân gian vùng Đồ Sơn 64
Trang 43.1.1.Chức năng phản ánh và bảo lưu truyền thống 64
3.1.2 Chức năng tuyên truyền và giáo dục 66
3.1.3 Chức năng hưởng thụ và giải trí 68
3.2 Lễ hội dân gian Đồ Sơn trong đời sống văn hoá ngày nay 70
3.3 Kiến nghị những giải pháp phát huy giá trị văn hoá của các lễ hội dân gian Đồ Sơn 74
3.3.1 Khai thác theo hướng phát triển bền vững các lễ hội dân gian Đồ Sơn phục vụ hoạt động du lịch 75
3.3.2 Tái tạo, tu bổ các di tích gắn với lễ hội 78
3.3.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về lễ hội 78
3.3.4.Công tác tổ chức quản lý lễ hội 79
3.4 Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
4 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là "thời điểm mạnh" trong đời sống của cộng đồng, là một sinh hoạt văn hoá tổng hợp, trong đó toàn thể cộng đồng có dịp hoá thân, nhập cuộc sáng tạo
và thưởng thức văn hoá nghệ thuật dân gian Hơn nữa, lễ hội còn phản ánh nhiều mặt về đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Việc nghiên cứu lễ hội dân gian
sẽ giúp chúng ta hiểu con người Việt Nam truyền thống, trên cơ sở ấy đóng góp vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Khi nói đến địa danh Đồ Sơn, người ta nghĩ ngay tới một khu du lịch biển nổi tiếng của cả nước Không chỉ có thế, Đồ Sơn còn là một vùng đất có nhiều giá trị văn hoá đặc sắc Lễ hội dân gian của vùng này là một trong những giá trị văn hoá đặc sắc Chúng tôi mong qua việc tìm hiểu một số lễ hội dân gian vùng này sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu hơn đời sống tinh thần của người dân địa phương
Môi trường tự nhiên có tác động quan trọng tới sự hình thành sinh hoạt văn hoá dân gian nói chung và lễ hội dân gian nói riêng Đồ Sơn do tính chất địa lý, từ lâu đã diễn ra quá trình hội tụ và hỗn dung văn hoá giữa cư dân nông nghiệp ở đồng bằng, văn hoá biển ở vùng duyên hải và hải đảo Môi trường tự nhiên của Đồ Sơn là vùng ven biển, do vậy, yếu tố biển sẽ được thể hiện rất rõ trong các lễ hội dân gian
Những năm gần đây, trong bối cảnh của công cuộc đổi mới đất nước và sự tăng trưởng liên tục của tình hình kinh tế xã hội, nhu cầu thưởng thức văn hoá và
cả những nhu cầu của đời sống tâm linh dẫn đến sự phục hồi những lễ hội dân gian Đồ Sơn không nằm ngoài quy luật đó Sự bung ra ấy có mặt tích cực là làm cho sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân trở nên sinh động, phong phú và đa dạng hơn, các di tích lịch sử văn hoá được tôn tạo, nhiều điểm đẹp được phục hồi
Trang 6Nhưng bên cạnh đó là những lệch lạc song song tồn tại cũng như nạn mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè Đồ Sơn lại là một khu du lịch nổi tiếng, do vậy, những hạn chế trong việc tổ chức lễ hội sẽ không chỉ ảnh hưởng xấu đến người dân địa phương mà còn tới du khách từ các vùng khác của Tổ quốc, gây ấn tượng xấu với
du khách quốc tế Lễ hội dân gian vùng Đồ Sơn được nghiên cứu nhiều nhất là lễ hội chọi trâu, nhưng thực ra ở đây còn có những lễ hội khác cũng mang nhiều giá trị văn hoá mà chưa được lưu ý đầy đủ Tìm hiểu và lý giải một cách thấu đáo về lễ hội dân gian, loại trừ những yếu tố tiêu cực để có định hướng cho sự phát triển văn hoá lành mạnh, phong phú, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá và đời sống tâm linh của các tầng lớp nhân dân là điều cần thiết Với suy nghĩ đó, chúng tôi nghiên cứu về "Yếu tố biển trong một số lễ hội dân gian vùng Đồ Sơn", mong giải đáp phần nào mối quan tâm của chúng ta hiện nay
Bản thân tác giả luận văn là người sống gần vùng biển Đồ Sơn, có hoàn cảnh thuận lợi cho việc thực hiện đề tài này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Nghiên cứu và điều tra một số lễ hội dân gian ở Đồ Sơn, cụ thể là lễ hội chọi trâu, lễ hội Hòn Dáu, lễ hội đền Bà Đế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Lễ hội dân gian ở Đồ Sơn mới chỉ được nghiên cứu qua lễ hội chọi trâu Ở luận văn này, chúng tôi nghiên cứu ba lễ hội dân gian khá quy mô của vùng, với nội dung tập hợp, phân tích, hệ thống nguồn tư liệu thực tế để phác hoạ lại lễ hội Trong luận văn, ba lễ hội này sẽ được đặt trong bối cảnh chung: Yếu tố biển, với các đặc điểm riêng của mỗi lễ hội để bước đầu tìm hiểu về sinh hoạt văn hoá của một vùng đất mang nhiều giá trị văn hoá
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các thư tịch cổ, việc nghiên cứu về Đồ Sơn còn rất sơ sài Địa danh Đồ
Sơn xuất hiện lần đầu tiên trong sách Việt sử lược đời Trần Tuy nhiên, cũng chỉ
cho độc giả thông tin đây là vùng đất thuộc lộ Nam Sách, Hải Đông Sau đó, địa
danh này được nhắc tới rải rác trong các bộ như Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô
Sĩ Liên, An Nam Chí lược của Lê Tắc, Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam Nhất Thống chí do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn, Lịch
sử Việt Nam (2 tập) do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên Tất cả những công trình này
đều giới thiệu Đồ Sơn ở khía cạnh địa lý, lịch sử và cũng rất sơ lược
Phải tới thế kỷ XX, văn hoá dân gian vùng biển Đồ Sơn mơí bắt đầu được nghiên cứu quy mô Đầu tiên di tích cũng như thần tích lễ hội chọi trâu được Toan
Ánh nghiên cứu trong Nếp cũ hội hè đình đám (quyển hạ), đặc biệt ông lưu ý tới lễ
trình trâu - một nghi thức trong lễ hội - có ý nghĩa quan trọng
Công trình tiếp theo phải kể tới là sách Non nước Đồ Sơn của Trịnh Cao
Tưởng Được xuất bản năm 1978, có thể nói, cuốn sách đã phác hoạ chân dung Đồ Sơn khá trọn vẹn và đặt những cột mốc đầu tiên trong việc nghiên cứu văn hoá dân
Trang 8gian Đồ Sơn Tuy nhiên, chỉ với 10 trang viết về duy nhất một lễ hội chọi trâu, tác giả chưa thể có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về lễ hội dân gian vùng này
Năm 1992, trong công trình Lễ hội cổ truyền của tác gỉa Lê Trung Vũ chủ
biên, phần phụ lục có miêu tả chi tiết lễ hội chọi trâu Trong công trình nghiên cứu chung với Thạch Phương, ông còn tìm hiểu thêm một tục lạ gắn với huyền thoại xưa
Sau đó là hàng loạt những nghiên cứu như của tác giả Ngô Đức Thịnh Trong
cuốn Văn hoá dân gian làng ven biển, ông đã dành một chương để viết về vùng
Đồ Sơn Trong chương này, ông cũng có một phần đề cập tới lễ hội chọi trâu Giáo
sư Lê Chí Quế có một bài báo trên tạp chí Văn hoá dân gian về lễ hội chọi trâu Bài báo này sau đó được in lại trong tập sách Văn hoá dân gian - Khảo sát và
nghiên cứu Trong phần nghiên cứu này, ngoài việc cố gắng bóc tách các lớp ý
nghĩa văn hoá được đúc kết trong lễ hội chọi trâu, ông còn nêu một vài giải pháp
để khai thác lễ hội này phục vụ cho du lịch Trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt
Nam, phần viết về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn của tác giả Song Phạm đã có công tổng
kết và rút ra nhận xét về những nghiên cứu của các tác giả trước Đặc biệt là nêu được một tầng ý nghĩa văn hoá biểu hiện trong lễ hội, đó là mô-típ Trăng-Trâu-Biển
Năm 1997, tác giả Đình Kính - Lưu Văn Khuê cho ra đời cuốn sách "Đồ Sơn, thắng cảnh và du lịch" Cuốn sách cho một cái nhìn khá toàn diện về lịch sử văn hoá của vùng Đồ Sơn Tuy nhiên, cuốn sách lại chưa có được những lý giải bóc tách các lớp văn hoá biển hiện trong lễ hội dân gian của vùng
Năm 2003, đáng chú ý có tác phẩm Đồ Sơn: Lịch sử và lễ hội chọi trâu của
tác giả Đinh Phú Ngà Tác giả là người sinh ra và lớn lên tại Đồ Sơn, trực tiếp tham gia tổ chức lễ hội chọi trâu Do vậy, cuốn sách thể hiện tâm huyết rất đáng quý với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của Đồ Sơn Là một người
Trang 9không chuyên nghiên cứu nên tác giả không tránh khỏi những suy luận chủ quan, đôi chỗ mang tính kể chuyện dông dài Năm 2003, Sở Văn hoá thông tin thành
phố Hải Phòng cũng hoàn thành một chuyên đề nghiên cứu về Lễ hội truyền thống
thành phố Hải Phòng Chuyên đề này đã tổng hợp được khá đầy đủ các lễ hội của
thành phố Tuy nhiên, các lễ hội ở đây mới chỉ được miêu thuật khá chi tiết chứ chưa nêu bật được các giá trị văn hoá ẩn chứa trong đó Phần viết về lễ hội Đồ Sơn của chuyên đề không nằm ngoài xu hướng trên
Trên đây là sơ lược về quá trình nghiên cứu văn hoá dân gian của vùng biển
Đồ Sơn nói chung và lễ hội dân gian của vùng nói riêng Có thể nói, những nghiên cứu đó còn rất ít, và nếu có thì đối tượng quan tâm chủ yếu là lễ hội chọi trâu, còn các lễ hội dân gian khác của vùng thì hầu như chưa được chú ý
7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hoá dân tộc để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Luận văn sử dụng phương pháp điền dã của khoa học Folklore để sưu tầm các tư liệu truyền ngôn, quan sát và miêu thuật các di tích, tư liệu thư tịch, các lễ hội ở Đồ Sơn; đồng thời quan sát các sinh hoạt trong đời sống của người dân Đồ Sơn để thấy được yếu tố biển trong môi trường đã nuôi dưỡng nên các lễ hội dân gian ở đây
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp nhằm nghiên cứu ý nghĩa trong các hoạt động của đối tượng được nghiên cứu Luận văn đồng thời sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu các tài liệu nghiên cứu đã có về
lễ hội nói chung, tài liệu thực tế về lễ hội dân gian ở Đồ Sơn nói riêng để thấy yếu
tố biển hiện diện trong các lễ hội đó, xem xét các lễ hội dân gian ở Đồ Sơn trong
Trang 10tương quan với lễ hội ở các vùng biển khác trên đất nước ta để thấy nét riêng trong các lễ hội dân gian vùng biển Đồ Sơn
8 Những kết quả và đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu nhận diện vùng văn hoá gian Đồ Sơn, yếu tố biển trong văn hoá dân gian của vùng Trên cơ sở ấy nêu bật được yếu tố biển trong một số lễ hội dân gian của Đồ Sơn
Qua việc khảo tả các truyền thuyết, di tích của số lễ hội dân gian của vùng, luận văn mong góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu lễ hội dân gian của Đồ Sơn cũng như cho văn hoá dân gian của Đồ Sơn
Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất một số lễ hội dân gian của Đồ Sơn, tác giả nêu lên một số đề xuất giải pháp trong việc tổ chức, quản lý và khai thác các lễ hội dân gian này trong cuộc sống hiện đại
9 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn hoá vùng Đồ Sơn
Chương 2: Những biểu hiện của yếu tố biển trong một số lễ hội dân gian vùng
Đồ Sơn
Chương 3: Kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá biển của lễ hội dân gian vùng Đồ Sơn
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN
1.1 Sơ lược về lịch sử Đồ Sơn
1.1.1 Địa danh Đồ Sơn
Dọc theo chiều dài đất nước, chúng ta có rất nhiều những vùng biển đẹp diệu
kỳ Tuy nhiên, Đồ Sơn vẫn là địa chỉ khó quên bởi nơi đây, vẻ đẹp được kết hợp bởi mặt biển bao la lấp lánh ánh vàng cùng núi non xanh thẳm hùng vĩ, bởi tiếng sóng vỗ ầm ầm vào vách đá và tiếng thông reo rì rào trên đồi Không những thế,
Trang 12Đồ Sơn còn hấp dẫn du khách bởi nơi đây ẩn chứa một bề dày lịch sử cần khám
phá, cũng như một kho tàng văn hoá dân gian phong phú
Từ nội thành Hải Phòng, qua cầu Rào theo đường Phạm Văn Đồng 17km,
chúng ta sẽ tới Đồ Sơn Đồ Sơn nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hải Phòng,
ba mặt Đông, Tây và Nam đều giáp biển, phần đất liền nối với huyện Kiến Thuỵ
Trước khi mang tên Đồ Sơn, có thuyết cho rằng nơi đây được gọi là Nê Lê (có
nghĩa là cây lê mọc trên bùn) Ngày nay, ở Đồ Sơn vẫn có thứ dứa dại rất to, không
biết có phải là giống dứa được nhắc tới trong sách Đồng Khánh địa chí lược với
tên gọi "bách nhãn lê" hay không Cây dứa được nhắc đến trong sách cao bằng đầu
người, quả to như cái vồ đập đất, mọc nhiều ở vùng nay là Đồ Sơn Nếu đúng vậy,
địa danh này được lấy theo tên loại quả quý đó Tên gọi Đồ Sơn còn có nhiều cách
giải thích khác Có người nói núi ở vùng này nhấp nhô như trận đồ bát quái nên gọi
là Đồ Sơn Có thuyết cho rằng ban đầu, địa danh này gọi là Đầu Sơn (núi ở phía
địa đầu giữa biển cả và đất liền, sau gọi chệch đi thành Đồ Sơn) Cho đến nay, giả
thuyết được nhiều người chấp nhận là: Đồ là bùn ( ), Sơn là núi ( ), nghĩa là núi mọc trên bùn lầy Nhưng có lẽ, cách giải thích này còn phải xem xét
thêm vì cảnh quan chủ yếu của Đồ Sơn là biển Tên gọi Đồ Sơn xuất hiện lần đầu
tiên trong thư tịch đời Trần - Việt sử lược, ghi lại sự kiện vua Lý ra Đồ Sơn xây
tháp Tường Long: "Mùa thu, tháng 9, vua ngự ra cửa biển Ba Lộ, nhân đó ngự ra
chỗ xây tháp ở Đồ Sơn" Như vậy, ít nhất tên gọi Đồ Sơn đã có từ thời Lý, thế kỷ
XI Từ đó, các đơn vị hành chính của Đồ Sơn có sự thay đổi, còn tên gọi Đồ Sơn
vẫn được giữ nguyên Thời thuộc Minh, vùng đất tương ứng với thị xã Đồ Sơn
ngày nay thuộc về huyện An Lão Năm 1469, vua Lê Thánh Tông đổi thành huyện
Nghi Dương Trước năm 1813, tổng Đồ Sơn gồm 3 xã: Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc
Tuyền Sang đời Đồng Khánh, xã Ngọc Tuyền được đổi thành Ngọc Xuyên Năm
1898, Đồ Sơn thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thuỵ, tỉnh Phù Liễn Từ năm
Trang 131906, Đồ Sơn thuộc tỉnh Kiến An Ngày 18-5-1909, thành lập thị trấn Đồ Sơn gồm
2 xã Đồ Sơn và Đồ Hải, còn xã Ngọc Xuyên được ghép vào tổng Nãi Sơn, phủ Kiến Thuỵ Đến năm 1921, thị trấn Đồ Sơn thuộc thành phố Hải Phòng Từ năm
1923, lúc thì Đồ Sơn thuộc tỉnh Kiến An, lúc lại thuộc Hải Phòng Năm 1963, thị
xã Đồ Sơn được thành lập Đến năm 1966, thị xã Đồ Sơn gồm khu vực xã Đồ Sơn
và 3 xã Vạn Sơn, Ngọc Hải và Bàng La Tháng 3-1980, thành lập huyện Đồ Sơn gồm xã Bàng La, thị trấn Đồ Sơn và 21 xã của huyện An Thuỵ Từ 6-6-1988, thị xã
Đồ Sơn trực thuộc thành phố Hải Phòng, bao gồm các phường Vạn Sơn, Vạn Hương, Ngọc Xuyên, Ngọc Hải và xã Bàng La Khi tái lập, thị xã Đồ Sơn có diện tích 3049ha, dân số 30.865 người
1.1.2 Các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa bảo vệ quê hương
Lịch sử Đảng bộ thị xã Đồ Sơn nhận xét: "Người Đồ Sơn xa xưa vốn có truyền thống đoàn kết, gắn bó cộng đồng giữa các dòng họ, các vạn chài với nhau
để chống chọi thiên nhiên, cướp biển" Nhận xét đó không sai, vì Đồ Sơn là nơi đầu sóng ngọn gió, của ngõ phía Đông của Tổ quốc, nơi thưùơng xuyên có bão tố, giặc giã, cướp biển để tồn tại, ngươì Đồ Sơn buộc phải có tinh thần thượng võ để bảo vệ cộng đồng, đánh đuổi giặc cướp Từ xưa, người Đồ Sơn do tập luyện dày công lại sống ở nơi biển đảo nên có sức khoẻ phi thường Đồ Sơn nổi tiếng là có các lò võ, lò vật Xưa đã có câu ca nói về võ nghệ của người Đồ Sơn:
"Đồ Sơn có ba môn này
Không thày mà học đố mày làm nên
Đầu kỳ, lao phóng như tên
Phi truỳ trúng huyệt, hồn lên thiên đàng
Thủ thì chùa Độc, chùa Hang
Thắng thì giữ lấy xóm làng yên vui"
Trang 14Trong những năm 37-39, trai tráng Đồ Sơn từng gia nhập đội quân của bà Lê Chân và xây dựng nhiều trận địa phòng thủ của nghĩa quân trên bán đảo Đồ Sơn Mùa xuân năm 40, bà Lê Chân gia nhập cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, số nghĩa quân người Đồ Sơn cũng theo bà xung trận Giặc tan, bà Lê Chân được phong chức
"Trấn thủ hải tần", lại trở về vùng Hải Phòng ngày nay xây dựng các trận địa phòng thủ ngăn chặn quân giặc từ biển Đông đánh vào, Đồ Sơn cùng với Cát Bà trở thành vùng biển tiền tiêu
Giở lại những trang sử chống giặc Minh, chúng ta không thể không nhắc đến Phạm Ngọc Ông là nhà sư tu ở chùa Linh Sơn, tổng Đồ Sơn Lịch sử Việt Nam
viết: "Phạm Ngọc là một nhà sư tu ở chùa Đồ Sơn Phạm vi khởi nghĩa ở miền biển
Đông Bắc" Để thu phục được lòng dân, ông cho truyền đi lời sấm "Trời trao ấn
kiếm cho Phạm Ngọc làm chủ thiên hạ" Sau đó, ông còn tự xưng là La Bình Vương, niên hiệu Vĩnh Ninh và đi khắp vùng ven biển Đồ Sơn chiêu mộ anh hùng hào kiệt Chẳng những nhân dân Đồ Sơn, huyện An Lão (Nghi Dương) vùng Đông Bắc Bắc bộ hưởng ứng mà nhiều thủ lĩnh ở vùng xung quanh Đồ Sơn như Đào Thừa, Ngô Trung, Lê Hành, Phạm Thiện cũng đưa quân đến chiến đấu dưới cờ La Bình Vương Phạm Ngọc đã thành lập Bộ Chỉ huy tối cao của cuộc khởi nghĩa Nghĩa quân cũng đã chiếm đóng, xây đồn luỹ nhiều nơi ở Đồ Sơn Phạm Ngọc đã kiểm soát cả vùng đất rộng lớn tương đương với Hải Phòng ngày nay Tới năm
1420, Lý Bân đem đại quân tiến công vào căn cứ của cuộc khởi nghĩa Do lực
lượng quá chênh lệch, nghĩa quân của Phạm Ngọc đã tan vỡ Sách Địa chí Hải
Phòng viết: “Thời thuộc Minh, từ năm 1419 đến năm 1421, nhà sư Phạm Ngọc tu
ở chùa Đồ Sơn đã trút bỏ cà sa đứng lên chống giặc, cứu nước, được nhân dân trong vùng hưởng ứng rộng rãi Cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị đàn áp nhưng có tác dụng cảnh cáo bọn đô hộ lúc ấy" Để ghi nhớ công lao của nhà sư Phạm Ngọc đối với nước, với dân, cùng với những chiến binh người Đồ Sơn tham gia cuộc khởi
Trang 15nghĩa, nhân dân rước bài vị thờ ở đền Long Sơn cùng với Mẫu Liễu Hạnh Đến nay, trong đền vẫn còn đôi câu đối:
"Mẫu ngự Long Sơn linh thiên cổ
Đế truyền tự độ vạn dân"
Dịch ý:
"Mẹ ngự ở núi Rồng linh thiêng nghìn năm nay
Vua ở suối tại đây giúp muôn dân"
Đồ Sơn là căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Cầu đứng đầu kéo dài 10 năm, từ 1741-1751
Nguyễn Hữu Cầu quê ở làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, Hải Dương Năm
1739, khi Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ dựng cờ khởi nghĩa ở Ninh Xá, ông đã hăng hái tham gia và lập được khá nhiều công Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Hữu Cầu tiếp nối sự nghiệp của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và trở thành lãnh tụ mới của nông dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Từ năm 1743, Đồ Sơn trở thành căn cứ vũng chắc của Nguyễn Hữu Cầu Đồ Sơn được chọn làm căn
cứ vì địa hình hiểm trở, ba mặt là biển cả, còn hướng Tây Bắc lại là bãi sình lầy mọc đầy sú vẹt Muốn vào đất liền phải vượt qua sông He, sông Sàng và 9 con ngòi mới tới Đại Bàng, Tiểu Bàng, tổng Nãi Sơn, huyện Nghi Dương Vùng núi
Đồ Sơn có tới 15 ngọn núi, ngăn cách bởi nhiều khe suối và hang núi Nhưng địa hình Đồ Sơn lại rất cơ động, phía Đông có thể ra Hòn Dáu, Cát Bà, phía Bắc có thể ngược lên An Hải, Thuỷ Nguyên sang Kinh Môn, có thể vào Tiên Lãng, An Lão, Vĩnh Bảo Nguyễn Hữu Cầu đóng quân trên một quy mô rộng lớn Tiền quân đóng ở Quán He Cầu Rào và Quán Ráu, Phúc Xã, nằm ở cửa sông Văn Úc Trung quân đóng ở 5 xã phía ngoài là Tứ Thuỷ, Nãi Sơn, Hợp Đức, Phú Xá, Đại Hợp của huyện Kiến Thuỵ Hậu quân đóng ở 3 xã trong là Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên
Trang 16với hệ thống đồn binh liên hoàn như Đồn Cao (Núi Ngọc), Chòi Mòng (có trạm quan sát), Núi Độc (thôn Đông) Quân dự bị, đau yếu, dưỡng thương đóng ở các
xã Đại Bàng, Tiểu Bàng (huyện Kiến Thuỵ)
Để có danh nghĩa tập hợp lực lượng, Nguyễn Hữu Cầu xưng là "Đông Đạo Tổng Quốc Bảo Dân Đại Tướng quân" và làm lễ tế cờ trên gò đất cao ở cửa sông Lạch Tray Bỗng có một đàn cá he lớn từ ngoài biển bơi vào, quân sĩ và nhân dân cho là điềm lành, tôn chủ soái là Quận He
Nhờ tài thao lược của mình, Nguyễn Hữu Cầu đã chiến thắng nhiều trận, đánh bại nhiều tướng triều đình như Trịnh Bảng, Hoàng Công Kỳ, Hoàng Ngũ Phúc, Trương Khuông, Đinh Văn Giai Thậm chí, Nguyễn Hữu Cầu còn bất ngờ đánh chiếm Kinh Bắc, khiến cả Thăng Long phải một phen hoảng loạn (5-1744), sau đó ông còn táo bạo đánh vào Bồ Đề ngay sát kinh thành (9-1748-10-1749) khiến Trịnh Doanh phải tự mình làm tướng, cầm quân ra đối địch Sau này, Nguyễn Hữu Cầu về hoạt động tại các huyện Thần Khê và Thanh Quang (Thái Bình ngày nay) Tại đây, ông liên kết với nghĩa quân Hoàng Công Chất để tăng cường sức mạnh đối phó với liên quan của Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Đình Trọng Nhưng do việc phối hợp chưa thật chặt chẽ, lại do đạo quân trấn áp của Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng quá mạnh, Nguyễn Hữu Cầu bị thua liên tiếp Tháng 2-
1751, Phạm Đình Trọng đem đại quân đánh gấp vào Hương Lãm Ở đây, sau nhiều năm chiến đấu mệt mỏi, thế cùng lực kiệt, Nguyễn Hữu Cầu đã thua và phải trốn chạy, cuối cùng bị bắt và đóng cũi giải về Thăng Long Trong những ngày bị giam tại Thăng Long, Nguyễn Hữu Cầu định vượt ngục nhưng không thành Nơi ngục tối, Nguyễn Hữu Cầu vẫn giữ vững khí phách của mình và thể hiện rõ trong bài thơ
Chim trong lồng:
Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán
Phá vòng vây bạn với kim ô
Trang 17Giang sơn khách diệc tri hồ
(Danh tướng Việt Nam, tập 3, trang 46-65- Nguyễn Khắc Thuần)
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Đồ Sơn là đất ghi dấu nhiều chiến công của quân dân ta, làm sụp đổ ý đồ chiến lược quân sự của kẻ thù nhằm biến
Đồ Sơn thành một góc của chiếc tam giác sắt Kiến An - Hải Phòng- Đồ Sơn Trong những chiến công trên bảng vàng đánh giặc Pháp của Đồ Sơn thì chiến công chói lọi nhất là chiến công đánh sân bay Đồ Sơn Ngày 13-5-1955, đội quân viễn chinh Pháp rút khỏi Hải Phòng Người Đồ Sơn cũng thực sự bước vào một cuộc đổi đời Nhưng rồi đế quốc Mỹ lại kéo tới xâm lược nước ta Phát huy truyền thống anh hùng, người Đồ Sơn lại kiên cường bước vào trận chiến mới trên đất, trên không
và cả trên biển Trong những năm đánh Mỹ, người Đồ Sơn đã làm 33.780 căn hầm các loại, gần 17 km giao thông hào Riêng nhân dân tiểu khu Vạn Sơn đã dành 2 vạn ngày công xây dựng một hệ thống hầm ngầm kiên cố Cuộc chiến đấu với giặc
Mỹ vô cùng ác liệt nhưng bên cạnh đó, mọi mặt sinh hoạt và cuộc sống của Đồ Sơn vẫn được củng cố và phát triển "Coi thuyền là nhà, biển cả là quê hương, ruộng đồng là trận địa, chắc tay cày, hay tay súng", đó là khẩu hiệu của quân và dân Đồ Sơn những năm đánh Mỹ
Hôm nay, khi cả nước đang bước vào thời kỳ mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhìn lại chặng đường đã qua, mỗi người dân Đồ Sơn đều có quyền tự hào về truyền thống vẻ vang và những đóng góp của mình vào sự nghiệp dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Đồ Sơn
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Tự nhiên Đồ Sơn xưa được miêu tả qua bài ca dao còn truyền tụng trong dân gian:
Trang 18"Nhớ xưa nước bể mênh mông
Cỏ cây bát ngát rừng xanh mịt mù
Giữa thì hai cái sông to
Thuyền buồm xuôi ngược, thuyền đò chèo ngang
Riêng, He đôi ngả đôi đàng
Chảy vào sông Úc, sông Sàng đôi bên
Tự kênh Điệp kể trở lên
Thâu qua kênh chuổi ra miền mỏ moi
Chèo qua kênh cạn một thôi
Bò vàng, Cổ ngựa mấy hồi lai ra
Kênh Ông cùng với kênh Bà
Cái Ngang, Cái Rạc thật là hiểm thay!
Thuyền gian thuyền cướp xưa nay
Nhiều nơi trú ẩn, nhiều ngày vào ra
Phải mòng xét ký mới đà khỏi vương "
Địa hình Đồ Sơn là loại địa hình bị ngập nước Căn cứ vào cấu trúc, địa chất
và nham thạch, các nhà địa chất xếp địa hình Đồ Sơn thuộc loại dãy đồi và dãy điệp thạch thuộc trầm tích Trung Sinh Địa hình này, nhờ có đảo và quần đảo ngăn tác động của sóng, nên phù sa do các sông lạch mang tới dễ có điều kiện trầm lắng, tạo thành lạo bờ biển kiểu bồi tích phù sa Trên khu vực phù sa lắng đọng, sú vẹt mọc nhiều, địa chất gọi là loại bờ biển có bãi sú, một kiểu địa hình riêng biệt vùng nhiệt đới
Trang 19Người Đồ Sơn đắp con đê đầu tiên từ đầu rừng Ông Rôi sang đầu rừng Cột Mốc, trải qua nhiều thời kỳ, toàn bộ vùng đất phía Bắc Đồ Sơn đã được đắp đê ngăn mặn tạo thành vùng kinh tế tổng hợp, gồm khu đồng muối, khu chăn nuôi, hải sản
Đồ Sơn có các sông Họng, sông Xuyên đều là của sông Nước ngọt ở Đồ Sơn khá hiếm, hầu hết bị nhiễm mặn, riêng có các giếng ở chân núi Vung, núi Chẽ, vụng Ngọc có mạch nước ngầm từ chân núi thấm xuống, vừa ngọt vừa trong Đồ Sơn có 2 điểm tụ thuỷ ở xóm Chẽ Trong và Suối Rồng, trên cao mà nước chảy suốt ngày đêm
Ngăn cách giữa biển và đất liền là một dải núi đất, những ngọn núi này là kết quả của cuộc vận động kiến tạo Đại trung sinh và được trả lại sau vận động Tân Kiến tạo Trải qua một quá trình phong hoá dài, đá núi biến chất, làm cho lớp vỏ núi có dạng đất feralit Người dân Đồ Sơn đã gọi chung dãy núi này là núi Rồng hay Cửu Long Sơn Thực ra thì núi không chỉ có 9 ngọn, ngoài núi Độc và Hòn Dáu, dải núi Rồng có hơn 15 điểm cao từ 25m đến 129m, cao nhất là núi Đồ Cao Một số ngọn núi tiêu biểu như núi Ngọc Xuyên, còn gọi là núi Long Sơn, hay núi Tháp với di tích tháp Tường Long được xây từ thời Lý Núi Tháp kéo dài ra thành núi Đồn Cao có độ cao thấp, tương truyền là luỹ do Phạm Đình Trọng đắp để đàn
áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu thế kỷ 19
Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn, còn gọi là núi Chòi Mòng, vì Phạm Đình Trọng dựng chòi trên đỉnh núi cao 172m để quan sát hoạt động của nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu Trên đỉnh núi Mẫu Sơn có một hòn đá vuông vức, phẳng phiu, khắc một bài thơ chữ Hán, tương truyền vào những đêm trăng sáng, có tiên xuống đây
Tiếp nối với núi Mẫu Sơn là núi Cô Tiên hay Tiên Sơn Núi mang tên này bởi trông giống hình dáng một cô gái đang nằm nghiêng ngủ say Trên ngọn núi có
Trang 20nhiều cảnh quan như suối Mắt Rồng, hang Dơi, vạn Tác, chùa Hang, vụng Ba Hoà, đình Chài, vụng Chẽ
Trong dãy núi Rồng còn có núi Ông Rao, núi Vạn Ngang, núi Rừng Giạt (hang Vàng), núi Vạn Hoa Ngoài chín ngọn đó, còn có một ngọn đứng tách riêng
về phía Đông nên gọi là Độc Sơn Người dân Đồ Sơn đã hình tượng hoá 9 ngọn núi thành 9 con rồng cùng quay về với mẹ (Mẫu Sơn), chỉ một con (núi Độc) không biết nghe lời
"Chín con theo mẹ dòng dòng
Một con út lại ra lòng bất nhân"
Cách hình tượng khác, người ta lại ví dãy núi như một con rồng vờn viên ngọc
1.2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của Đồ Sơn
Có giả thuyết cho rằng, những cư dân đầu tiên sinh sống tại Đồ Sơn là từ thời văn hoá Hạ Long [8, trang 209] Cũng có thể là những người dân đầu tiên tới Đồ
Trang 21Sơn lập nghiệp là từ thời Hùng Vương vì ở Đồ Sơn có thờ Nuôi Nường Kiềm hạt đại tướng quân là quan thuộc bộ Dương Tuyền nước Văn Lang
Tại phường Vạn Sơn có chùa Hang, tương truyền có từ trước Công nguyên do
sư Bần người Ấn Độ sang truyền giáo đạo Phật Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đạo Phật từ Ấn Độ vào Nê Lê (Đồ Sơn) sau đó mới tới Luy Lâu và trỏ thành trung tâm Phật giáo Truyền thuyết còn cho rằng, sư Bần còn dựng chùa Bần trên núi Mẫu Sơn và viên tịch ở chùa Hang [10, trang 18-20]
Thời kỳ khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhiều người Đồ Sơn đã theo Lê Chân đánh giặc Khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, Lê Chân hy sinh ở Đông Triều, nước ta lại lệ thuộc vào nhà Hán thì bọn đô hộ đã đưa các tù binh chúng bắt được trong các trận chiến đấu và dân vùng trung du di cư xuống vùng ven biển khai hoang, đắp đê lấn biển để cấy lúa, làm muối Nghề muối ở Đồ Sơn đã có từ thời
đó
Tới thời Lý (1010-1225), Đồ Sơn đã có đông dân cư, ngàoi dân làm nghề cá, nghề muối, nghề nông, còn có một số thương nhân, vì Đồ Sơn là cửa ngõ của cá thương thuyền Ấn Độ và các nước khác vào Giao Châu qua cửa Đại Bàng hoặc cửa Văn Úc
Đến đời Trần, các vua Thái Tông, Thánh Tông đã sai quan Hà đê đắp đê từ đầu nguồn tới cửa biển Nhà vua còn cho phép các vương hầu, công chúa được chiêu mộ dân nghèo lưu tán khai phá đất hoang, thành lập các thái ấp, điền trang Tại huyện Nghi Dương có đại điền trang của công chúa Quỳnh Dương và điền trang của công chúa Chiêu Hoa
Từ thế kỷ XV, sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh, đất nước độc lập, Đồ Sơn phát triển mạnh vào thời kỳ này Người các tỉnh dến khiến các vạn chài trở nên đông đúc, thành lập các trại mới và các xóm như Vạn Hoa, Đồ Hương (Vạn
Trang 22Hương), Thốc, Hang Trê, Vạn Bún, Vụng Lăng, Vạn Lê, Vạn Tác, Chẽ Ngoài, Chợ Đồng, Chẽ Trong, Bùng, Độc, Đình Đoài, Đình Nam, Cổng, Đình Công, Cầu Gẫy, Cột Mốc, Ngọc, Cống, Đá Từ các xóm này, đã hình thành các làng ở Đồ Sơn như làng Đông, làng Đoài, làng Nam, làng Đồ Hải, làng Ngọc
Từ thế kỷ XV đến trước cách mạng tháng Tám, các dòng họ chính ở Đồ Sơn gồm: Lương, Lê, Hoàng, Cao, Vũ, Nguyễn, Lưu, Phạm, Đinh
Những người từ những miền đất khác đến lập nghiệp ở Đồ Sơn đã biết phát huy thế mạnh của vùng đất mới và kinh nghiệm làm ăn ở vùng đất cũ, ứng dụng vào vùng đất mới nên mỗi làng xã đều có nhiều nghề nghiệp khác nhau Bài vè sau đây chứng minh nghề nghiệp đa dạng của Đồ Sơn thời xưa:
"Đồ Hải đích thực nhiều người
Ruộng nương chẳng có biển khơi là nghề
Thuyền bè buôn bán trăm nghề
Đến khi nước kém thì về ăn chơi
Làng Nam mát mẻ thảnh thơi
Nuôi tằm, dệt lụa, đủ mùi tài hoa
Ngọc Xuyên lắm ổi nhiều na
Lắm cau, nhiều dứa, lắm chè nhiều cây "
Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của Đồ Sơn năm 2001-2005
vị tính
Năm
Trang 231.3 Sinh hoạt văn hoá của cư dân Đồ Sơn
1.3.1 Kinh nghiệm, phong tục tập quán trong lao động biển
Người Đồ Sơn sinh sống bằng nhiều nghề nhưng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong
cơ cấu nghề nghiệp của họ vẫn là nghề biển Điều này được thể hiện từ xa xưa trong một dị bản về thần tích "Điểm tước đại vương", kể rằng: Sau khi được thần báo mộng, dân làng Đồ Sơn bèn cử 7 người lên xin thần Lần đầu, đem lễ vật lên,
họ gặp một đôi gà chọi Họ hiểu ý thần, bèn về thờ những làm ăn không thịnh vượng Sau đó, họ lại lên và gặp đôi trâu chọi nhau Từ đó, người dân Đồ Sơn mới làm ăn phát đạt Sau lớp mây mù huyền thoại là một lời giải thích: người Đồ Sơn chỉ có thể thịnh vuợng bằng nghề biển
Nghề nghiệp gì cũng đòi hỏi người lao động tính cần cù, sức khoẻ, kinh nghiệm Nhưng đặc biệt khi đối tượng lao động là biển cả thì các yêu cầu với người lao động càng cao hơn, đặc biệt là lòng dũng cảm, vì dù bắt con tôm con tép,
Trang 24ở gần bờ, cũng phải ngâm mình xuống nước, phải lội trên bùn lầy Còn ra khơi xa, nước sâu, sóng gió, bão tố bất kỳ, cá dữ, rắn biển, lại còn phải chống chọi với cướp biển cùng cường hào ác bá Thơ ca cổ ca ngợi lao động cần cù, dũng cảm của người Đồ Sơn:
Gặp giông tố chẳng rời tay lái
Làn sóng dâng, hăng hái vượt qua
Mênh mông mặt nước bao la
Cánh buồm không gió thì ra tay chèo"
Gọi chung là nghề biển nhưng thực ra bao gồm rất nhiều cách thức khai thác biển khác nhau Người Đồ Sơn làm nghề biển theo mùa, theo khu vực (trong bờ, trong lộng và ngoài khơi), gồm:
1 Quai săm, quai đáy
2 Giã tôm (te, xiếc)
3 Hưu
4 Giã tàu (giã đôi)
5 Lưới tám (bắt chim, thu, nhụ, đé)
6 Câu mang (mồi tôm, cá nhỏ)
7 Lưới thủ (lưới sủ)
8 Lưới đé
9 Câu nhám (câu cá to)
10 Câu dưa (bắt riêng loại cá dưa)
11 Phàng reo (vàng reo- cần đông người, nhiều thuyền)
Trang 2512 Câu mực
13 Lưới đèn (mùa cá bắc, cá nục)
14 Câu tay ven bờ
15 Chế biến hải sản (làm mắm cá, mắm tôm, phơi khô)
Trên biển cả mênh mông, ngưòi ngư dân phải biết xác định phương hướng Ngư dân Đồ Sơn rất giỏi xác định phương hướng: tính nước thuỷ triều theo con nước, từ bến Đồ Sơn ra 16-20 sải nước, máy chạy khoảng 3 tiếng (12 hải lý/giờ) đến Cồn Đá ngầm 11-13-14 Cắm từ nhà Ăng-lê đầu tiên giật vào u bò đá đỏ cao,
đá đỏ thấp là đến cồn 14, ra nữa là cồn 16, ngoài là cồn 18 Có thể xác định phương hướng bằng cách nhìn sao, sao Bắc Đẩu, sao Thập Ác phía nam, sao Đông, sao Tây
Kinh nghiệm xác định hướng gió là nước chảy về cạnh bắc - gió nam to, nước
chảy xưa - nước chảy đâu gió theo nấy Khi gặp gió to, sóng lớn, phải hạ cột
buồm, buông neo trước mũi, cho thuyền chạy lùi (xí lìu) thì mới thoát vì sóng đến cột buồm thì đổ xuống sau mới tràn qua thuyền Sạp thuyền đóng kín, nước trùm
Trang 26qua thuyền vẫn nổi an toàn Khi có gió Đông Bắc to thì phải chạy ngược gió, ngược nước
Đặc biệt, khi gặp giông bão thì ngư dân phải đón được trước để đề phòng Trước khi bão, ngư dân có kinh nghiệm là trời oi bức, gió Tây Bắc và lác đác có mưa Hoặc thường gió Đông Bắc sẽ có nước kém, đằng Đông quang, nước chảy hướng Bắc nhưng lại chảy hướng Nam là biển sẽ động Hoặc khi sóng to, nước giật ngầm mặt đất, kéo neo thấy cát bám đầy dây là hiện tượng bão đến gần Cũng có khi trời sẽ nổi gió, báo vào ngày sắp tới nếu thấy ánh lân tinh chớp nháy liên tục trên mặt biển Trời đang lặng bỗng nổi sóng cồn lên, có gầu có váng, các con sóng vồng lên cuộn hình con rắn cũng là dấu hiệu báo trước biển sắp động Để biết có dông mưa hay không, người ta thường xem bọt nước biển Nếu bọt biển màu trắng thì khí hậu bình thường, nhưng nếu có màu xám, nước biển sủi bọt, kiến bò ra thì nghĩa là trời sẽ nổi sóng, dông mưa sắp đến Ngư dân cũng thừơng dựa vào cảm giác khi nghe tiếng sấm để biết trời sắp bão hay không: nếu tiếng sấm cao thì nên cập bến trong vòng 5-6 tiếng, còn nghe thấy tiếng sấm thấp kết hợp cùng mây đen thì phải lập tức vào bờ tránh bão
Có thể nói, với những người dân đi biển, biển là nguồn sống duy nhất của họ,
vì vậy, yếu tố thời tiết là rất quan trọng Tuy nhiên, không phải lúc nào trời cũng chiều lòng người, cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con người sinh sống bình yên Có khi thuyền về bến mà sản lượng đánh bắt không được như ý, thậm chí có những người phải vùi xác nơi lòng biển sâu Có thể nói, nghề biển là một trong những nghề có điều kiện lao động khắc nghiệt, bị phụ thuộc phần lớn vào sự may rủi của thời tiết Sự nghiệt ngã của biển cả càng làm cho những ngừời đi biển tin vào yếu tố tâm linh, vì vậy, tín ngưỡng với những phong tục tập quán là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên yếu tố tâm lý cho những người đi biển Ngưòi đi biển thường có những tục lệ kiêng kỵ như:
Trang 27Người đi biển rất kiêng ra ngõ gặp đàn bà con gái, đặc biệt là phụ nữ có mang Hơn thế nữa, những gia đình làm nghề chài lưới, nếu trong nhà có phụ nữ có mang thì phải kiêng làm một số công việc chuẩn bị cho chuyến ra khơi của người đàn ông như không mang lưới xuống thuyền, không tiễn chân, không đi qua mũi thuyền và phải tránh gặp mặt người đi biển trước khi lên đường Nếu chẳng may phạm phải điều kiêng kỵ thì phải đánh giải vía bằng cách lấy lá dứa đốt để át vía độc
Khi ra khơi, ngư dân rất kiêng gặp những người có tang Người có tang không được xuống thuyền; ngay cả người đi dự đám tang về cũng phải tắm rửa, thay quần
áo sạch sẽ mới được xuống thuyền
Những người xấu số chết ngoài biển thì phải khâm liệm tại chỗ, sau đó đan những tấm nứa cuộn họ lại, khi lên bờ thì đem chôn ngay chứ không mang về nhà
để tránh rủi ro cho gia đình Còn trong trường hợp chết mất xác ngoài biển thì người ta mời thầy đến yểm, chiêu hồn để lập mộ
Đặc biệt, khi đan lưới, ngư dân thường rất kiêng tránh để cho những người có
"bụi" vào nhà, tránh cho mèo nhảy qua và còn kiêng không cho người ngoài sử dụng hay mượn những vật dụng trong nhà
Ngư dân đi biển thường tránh ra khơi vào những ngày lẻ hoặc ngày sát chủ vì
họ quan niệm vào những ngày ấy, nếu không gặp điều rủi ro thì sản lượng đánh bắt cũng ít
Thuyền khi đóng phải đặt hướng mũi về hướng Đông Nam và người đóng thuyền phải đứng tránh hướng mặt trời
Người đi biển thường kiêng không thổi sáo mồm, kiêng ăn cá chặt đuôi
Trang 28Trước mỗi mùa đi biển, ngư dân phải làm lễ tại nhà, sau đó ra lễ tại đình Nghè cầu khấn thần linh phù hộ Đặc biệt, khi ra khơi, người ta thường cập bến vào Miếu
Cụ trên Hòn Dáu để vái đức Nam Hải thần vương bảo trợ cho
1.3.2 Diễn xướng dân gian - Hát đúm
Hát đúm là một loại hình dân ca đặc sắc của người Đồ Sơn Nó là nơi ngưng
tụ tài năng sáng tạo văn hoá, hưởng thụ văn hoá của cư dân Đồ Sơn Nó gắn bó gần gũi với tâm tư tình cảm của con người trong cuộc sống lao động và môi trường tự nhiên, do vậy dân ca phản ánh nhiều khía cạnh, lĩnh vực của cuộc sống người Đồ Sơn Cùng với sự xuất hiện của các loại hình nghệ thuật như nghệ thuật tạc tượng ở
xã Đồng Minh, rối nước Nhân Hoà, các công trình khảo cổ, di chỉ đồ đá ở Việt Khê, Kiến An, Tràng Kênh , hát đúm Đồ Sơn đã tạo ra một bình diện lịch sử văn hoá đặc sắc mà giới nghiên cứu gọi là văn hoá vùng biển Hải Phòng
Hát đúm Hải Phòng được xem như một thành tố văn hoá chung của văn hoá vùng biển Do các vùng này đều có mối quan hệ giao lưu và chịu ảnh hưởng lẫn nhau nên khó có thể xác định rõ ràng dứt khoát hát đúm gốc cổ xưa là Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên hay Cát Hải - Cát Bà
Hát đúm vùng Đồ Sơn được sử dụng một phần trong dịp lễ hội chọi trâu, còn chủ yếu nó là hình thức sinh hoạt hấp dẫn thường ngày của những ngươì dân lao động trong những lúc nhàn rỗi Những lúc đó, họ thường tụ tập đông vui trên bờ biển để phơi lưới, đan lưới, tu bổ đồ nghề, khâu buồm, se thừng chuẩn bị cho con nước sau ra khơi Vào những dịp tập trung lao động tập thể như thế, họ thường vận dụng tiếng hát lời ca để giảm đi nỗi nhọc nhằn mệt mỏi, họ vừa làm vừa hát những bài dân ca với lời ngợi ca nghề nghiệp, cảnh sắc quê hương, đồng thời sáng tạo ra những lời ca biểu hiện tâm tư tình cảm của mình Đó là cơ sở để dần hình thành hình thức đối đáp nam nữ - Hát đúm
Trang 29Hát đúm vùng Đồ Sơn được định hình, phát triển ở mức độ cao ổn định với nội dung phong phú, làn điệu đa dạng Trong mỗi cuộc hát, hai bên thường thay đổi làn điệu, bên nào ít thay đổi làn điệu là bên đó thua Nội dung các lời ca hát đúm Đồ Sơn thường phản ánh nhiều khía cạnh mang nét đặc trưng về cuộc sống của con người lao động trên đất biển, vì vậy nó thể hiện rõ nét đặc điểm tính chất văn hoá biển nói chung và hát đúm vùng biển nói riêng Trước khi vào cuộc hát, đôi bên thường mào đầu bằng "lời ca dẹp đám" Trong cuộc hát đúm, các cô gái bao giờ cũng "hát giao hẹn" trước với các chàng trai, thách thức các chàng trai có tài có sức hãy hát, nếu không hãy đứng nghe hoặc giao hẹn không được hát đố hát hoạ về các sách Sau đó đôi bên bắt đầu bằng những lời hát gặp, hát chào ân tình:
"Đêm thu phảng phất gió đưa
Hàng năm tháng tám là mùa chơi xuân
Gái trai sống ở cõi trần
Lẽ nào bỏ phí cái xuân cho đành"
Chào hỏi rồi, họ bắt đầu tìm hiểu về nhau, đó là phần hát "hỏi tên", "xưng tên" Xong màn mở đầu, hai bên nam nữ bắt đầu những câu hát mượt mà trao duyên:
Nam: "Nước lên cá đối ăn theo
Lòng anh muốn lấy cô chèo phách ba
Phách nhất còn trẻ chưa già Phách nhì đương độ, phách ba chưa chồng
Cá kìm mắc lưới cua đồng
Đố ai gỡ được thưởng công lạng vàng"
Nữ: "Đôi ta còn lạ chưa quen
Trang 30Như thuyền mới đóng chưa êm mái chèo"
Một hình thức hát khác trong hát đúm là "hát đố" Hát đố khá phong phú, sinh động, hấp dẫn, biểu hiện tài năng, trí tuệ, sự thông minh nhanh nhậy của con người
về nghệ thuật văn chương Trong suốt cuộc hát, thỉnh thoảng cả hai bên nam nữ lại ngẫu hứng quay sang "hát chua" Đây là những câu hát đùa cợt, vui vẻ, đôi khi rất tục, có tính chất khích bác, thể hiện tài ứng đối nhanh:
Nữ: "Hôm qua em mất cái váy thâm
Hôm nay em thấy anh cầm chiếc ô đen"
Nam: "Em nói thế là em cũng nhầm
Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình"
Hát hoạ có vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong lời hát đúm Hát hoạ phản ánh thiên nhiên, cuộc sống lao động và mối quan hệ gia đình, xã hội của con người một cách phong phú, nhiều màu sắc Nếu hát hoạ sôi nổi thì "hát huê tình" lại là chặng hát mượt mà, đằm thắm Loại hát này có tính chất khoa trương, đặt ra những vấn đề khó hoặc không có trong thực tế Qua trí tưởng tượng, con người thể hiện niềm ước mơ, khao khát vươn tới cái chân thiện mỹ trong cuộc sống Trước khi bước vào chặng hát cuối cùng, trong nhiều cuộc hát đúm lại có "hát giở giọng"
Họ thi tài với nhau bằng các làn điệu dân ca ở mọi vùng như làn điệu quan họ, cò
lả, trống quân, sa mạc, lý giao duyên Cuối cuộc hát là "hát giã bạn", mang nội dung thể hiện sự bâng khuâng lưu luyến nhớ nhung của đôi bên nam nữ khi phải giã từ nhau, đồng thời đó cũng là những lời nhắn nhủ hẹn ngày gặp lại với tấm lòng đợi chờ thuỷ chung son sắt của đôi lứa yêu nhau:
"Bây giờ giã bạn bạn ơi,
Giã điếu ăn thuốc, giã cơi ăn trầu
Trang 31Giã từ dao bé bổ cau
Giã từ tích nước mời nhau uống cùng
Già từ anh em bạn đồng
Cầu vui cũng dốc một lòng chơi xuân"
Hát đúm Đồ Sơn là một di sản quý giá tồn tại trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng từ xưa Nhưng loại hình sinh hoạt văn hoá này ngày nay chỉ còn là kỷ niệm đẹp một thời đã qua trong trí nhớ của những người già
1.3.3 Tôn giáo - Tín ngưỡng
Nói đến đời sống văn hoá tinh thần của người dân Đồ Sơn, không thể không tìm hiểu diện mạo tôn giáo tín ngưỡng với sự hiện diện đầy sinh động và cụ thể của các di tích Tôn giáo lớn nhất của người dân vùng này là đạo Phật Có thuyết cho rằng Đồ Sơn là cửa ngõ của các tăng sĩ Ấn Độ vào Luy Lâu thành lập trung tâm Phật giáo Thuyết này cho rằng từ hướng tây Nam, nơi thương thuyền Ấn Độ sang Giao Châu phải qua một trong các cửa biển là Ba Lạt, cửa sông Thái Bình, cửa Văn Úc, cửa Đại Bàng, cửa Họng Giang, cửa Lạch Tray, cửa Cấm, cửa Nam Triệu Trong tất cả các cửa biển trên thì chỉ có cửa Đại Bàng, cửa Họng thuộc Đồ Sơn là
có các di tích chùa tháp của đạo Phật Đó là di tích chùa Hang, tương truyền do một nhà sư Ấn Độ - được dân gian gọi là sư Bần, xây dựng vào khoảng năm 200 -
100 năm B.C Ngoài ra còn có chùa Vạn Bổn, chùa Bần Đặc biệt nhất là di tích
tháp Tường Long Việt sử lược đã ghi: "Năm Mậu Tuất, niên hiệu Long Thuỵ -
Thái Bình (1058), mùa thu tháng 9, vua ngự ra cửa biển Ba Lộ (là ba cửa Lạch Tray, Đại Bàng, Văn Úc), nhân đó ngự ra chỗ xây tháp ở Đồ Sơn Năm sau (1059), vua Lý Thánh Tông thấy rồng vàng hiện ra ở điện Trường Xuân, vua ban cho tháp này tên hiệu Tường Long" Công trình này được xây dựng bằng gạch, đá, cao trăm thước, trong đặt tượng A Di đà, bên ngoài còn được ốp gạch, trang trí hình hoa sen
Trang 32hoa cúc Ngày nay, tất cả các di tích trên không còn nữa, nhưng những dấu tích còn lại cũng đủ chứng minh cho sự hiện diện của Phật giáo trên mảnh đất này
Bên cạnh sự tồn tại của đạo Phật, Đồ Sơn còn là nơi có nhiều truyền thuyết tín ngươĩng mang đậm màu sắc địa phương Đó là truyền thuyết liên quan đến đền thờ
Bà Đế Câu chuyện xúc động về cuộc đời bà, cuộc đời một cô gái xinh đẹp, ngoan ngoãn nhưng bất hạnh đã khiến bao người đời sau nhỏ lệ Cái chết oan khuất của
cô đã làm cho ngôi đền thờ càng thêm huyền bí Khách thập phương đến đền lễ bái quanh năm vì họ tin bà sẽ phù hộ cho họ giải trừ được mọi điều phiền muộn oan
ức Đó còn là miếu Cụ ở Hòn Dáu, với truyền thuyết về một thi hài cụt đầu, mặc võ phục, bị trôi mắc vào đá hầu ở chân núi Dân vớt lên định chôn, nhưng sáng hôm sau, mối đã đùn lên thành mả Những ngày sau đó thường hiển linh thành một cụ già tóc bạc phơ Mọi người thấy linh thiêng bèn lập đền thờ và gọi là Lão Đảo Thần Vương (hay Nam Hải đại vương) Đó là đền Vừng thờ Mẫu - Liễu Hạnh công chúa Dân trong vùng kể rằng, sau một trận bão to, có gốc cây vừng trôi mắc vào mỏm đá ở khu vực đền Vừng ngày nay, rồi nảy lộc trổ cành xanh tốt Thỉnh thoảng, người ta lại thấy một người con gái hiển linh, tự xưng là công chúa Liễu Hạnh Dân bèn lập đền thờ, cầu cúng rất được ứng nghiệm Đó còn là động Phật Tích ở chân núi Tháp, có bệ thờ bằng đá, trên vòm khắc ba chữ Phật Tích động Tương truyền nàng Bạch Hoa công chúa, con gái vua Tần ở bên Trung Quốc theo chồng sang Việt Nam, trên đường đi bị bão đánh, quân sĩ đều chết hết, riêng bà vớ được mảnh ván, sóng đánh trôi dạt vào Đồ Sơn Hươu nai kiếm hoa quả nuôi bà ở động Phật Tích Lại cũng có tên là Hang Phủ Chúa, với tích Chúa Trịnh Doanh về thăm Đồ Sơn, gặp bà Đế, lúc đó là một cô thôn nữ xinh đẹp, đã đưa bà về đây, đóng dinh hạ trại, ăn chơi suốt một tháng Đó cũng còn là Miếu Vạn Ngang, với câu chuyện tình đầy lãng mạn của một đôi trai gái Họ yêu nhau tha thiết dưới sự chứng kiến của biển khơi bao la Rồi người con trai phải ra nơi chiến trận Người
Trang 33con gái chung thuỷ ở nhà, thường ra mép biển ngóng đợi người con trai, nhưng chờ mãi, chờ mãi mà vẫn bặt tin Nghĩ rằng người mình yêu đã tử trận, cô nhảy xuống biển để trọn đời trinh tiết với chàng Khi trở về, chàng trai cũng quyên sinh
để hai người mãi mãi được bên nhau Thuơng đôi lứa thuỷ chung, dân vạn chài đã lập miếu thờ họ Ngoài ra, ở Đồ Sơn còn rất nhiều di tích khác như đình Nghè, đình Ngọc Xuyên ở dưới chân núi Tháp, các miếu thờ cụ Cao Sơn thần vương ở phía Tây vụng Ngọc, miếu thờ cụ Đại Hùng ở chân mỏm Tù Vè, đình Chài ở chân núi Cô Tiên, đền Vạn Ngang ở núi Vạn Ngang Đặc biệt, cư dân cả vùng Đồ Sơn đều thờ chung một vị thành hoàng tại đền Nghè Vị thần Điểm Tước (thần Vết chân chim) đã trở thành người bảo trợ cho ngư dân khi đi biển Đáp lại sự cầu mong của người dân muốn có một vị thần giúp sức, phù hộ, thần Điểm Tước đã hiển linh Có chuyện rằng năm ấy, thuỷ quái hoành hành dữ dội khiến không ai dám đi biển Sau khi tế thần cầu mong diệt thuỷ quái thì một đêm, bỗng trời nổi cơn sấm sét, biển cuộn sóng dữ dội Sáng ra thấy xác thuỷ quái chết dạt vào bờ, trên cổ có vết chân chim Cho rằng vị thần đã giúp mình ra tay, người dân đã tôn xưng duệ hiệu của thần là Điểm Tước và tôn thần lên thành Thành Hoàng Vì linh thiêng như vậy nên đền Nghè đã không chỉ là nơi cầu cúng của dân đi biển mà còn của dân cư cả vùng Đồ Sơn Trong Bản khai thần tích phố Đồ Sơn, phố Đồ Hải, xã Ngọc Xuyên, tổng Đồ Sơn, phủ Kiến Thuỵ, tỉnh Kiến An năm 1938 có ghi:" Ba làng vẫn thờ chung một vị tôn thần Điểm Tước Thần là đức thiên thần, tên hiệu Điểm Tước Đền thờ ngài đến bây giờ không thờ chung với ai cả thờ ngài ở Nghè, chân núi Tháp Sơn (Ngọc Xuyên) và đình Công (Đồ Sơn) cùng đình tư các
xã, thôn (Đồ Sơn ba đình, Đồ Hải một đình, Ngọc Xuyên một đình), chỉ có Nghè chính là chân núi rậm, còn các đình đều ở đồng bằng cả Chốn Nghè chỉ để thờ cúng mà thôi, còn các đình ngoài sự thờ phụng thì họp bàn các công việc nữa " Sau này, cùng với thời gian, ngưòi ta còn đưa cả Lục vị tiên công - Sáu vị tiền hiền đại diện cho 6 dòng họ đã có công khai sơn phá thạch ra vùng đất này - vào thờ
Trang 34cúng ở đền Nghè Đó là các vị Nuôi Nường Thần vương (họ Lương), Hải Bộ Thần vương (họ Lê), Chàng Ngọ Thần vương (họ Đinh), Đại Hùng Thần vương (họ Hoàng), Thanh Sam Thần Vương (họ Nguyễn), Cao San Thần vương (họ Phạm) 1.4 Tiểu kết chương 1
Trên một diện tích nhỏ, Đồ Sơn dã có được sự đa dạng của thiên nhiên với biển rừng, núi non, sông suối hoà quyện Có được một lịch sử hào hùng, lâu dài, có nền kinh tế khá vững vàng Về mặt tự nhiên thì sắc thái biển vẫn là chủ đạo và về mặt kinh tế thì nghề biển vẫn là nghề truyền thống và là nguồn sống chính của người dân Tất cả những điều kiện tự nhiên - xã hội ấy làm nảy sinh và nuôi dưỡng đời sống văn hoá dân gian rất đặc sắc của cư dân nơi đây
Trong đời sống văn hoá dân gian của người dân thì sinh hoạt lễ hội chiếm một
vị trí rất quan trọng Lễ hội dân gian như một bảo tàng sinh động, hầu hết các lĩnh vực của văn hoá dân gian, là chỗ dựa tinh thần của cư dân Lễ hội dân gian còn chứa đựng nhiều yếu tố di sản văn hoá vật thể (các di tích diễn ra lễ hội, lễ vật thờ cúng ), yếu tố xã hội (các quan hệ về họ hàng làng xóm, vị thế xã hội trong tổ chức lễ hội, ý thức tham gia hội của người dân )
Vì yếu tố biển cũng là yếu tố rất nổi trội trong đời sống xã hội cũng như môi trường tự nhiên Đồ Sơn nên trong những phần sau, tác giả có mong muốn tìm hiểu yếu tố biển đã ảnh hưởng như thế nào đến lễ hội dân gian của cư dân nơi đây
Trang 35CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ BIỂN TRONG MỘT SỐ LỄ HỘI DÂN GIAN VÙNG ĐỒ SƠN 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm chung về lễ hội dân gian
Lễ hội dân gian của dân tộc ta đã có lịch sử lâu dài từ thời Hùng Vương dựng nước cách nay ba, bốn nghìn năm Quan sát những trang trí trên mặt trống đồng Đông Sơn, ta có thể thấy những hình người, hình chim, hình thuyền đã ghi lại một vài sinh hoạt cộng đồng thời cổ Có thể xác định đó là một hình thức lễ hội sơ
kỳ Hay nói cách khác “hơi thở của cuộc sống” đã ảnh xạ vào trống đồng Trong làng xã người Việt, lễ hội đóng vai trò hoạt động tập trung, biểu thị các giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cộng đồng Lễ hội là nơi biểu hiện tập trung
tư tưởng và tâm lý của dân làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng đồng, nguyện vọng, ước mơ về một cuộc sống thái bình thịnh vượng Về mặt lịch đại, lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hoá của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ, dồn nén lại cho đương thời Lễ hội là nơi thu hút toàn bộ các hoạt động văn hoá nghệ thuật thể thao vui chơi, nhưng không chỉ có vậy, trong tâm thức sâu lắng nhất của người nông dân, lễ hội là những hoạt động không thể thiếu được của chu trình sản xuất Trong tâm thức dân gian, lễ hội chính
là một khâu quan trọng tạo nên chỉnh thể của đời sống nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Lễ: theo giáo sư Hà Văn Tấn “là các nghi lễ liên quan đến tôn giáo”, lễ là hành vi cúng tế thần tổ tông, cầu phúc, lễ bao quát mọi nghi thức ứng xử của một
xã hội “Lễ” vẫn giữ được một phương diện nguyên thuỷ của nó, là hình thức biểu thị quen thuộc mối quan hệ giữa con người với môi sinh tự nhiên của nó Hiểu theo
Trang 36nghĩa từ, là biểu hiện một sự tôn kính, một sự “bày tỏ kính ý” với một đối tượng nào đó Sự kính trọng được thể hiện trong những mối quan hệ giữa người với người hoặc giữa người với tự nhiên Sự “kính ý” chỉ là cái ý tưởng, còn “bày tỏ kính ý” là sự khách thể hoá “kính ý” để đối tượng nhận sự kính ý có thể nắm được Nói cách khác, là sự cụ thể hoá các ý tưởng để nó trở thành hiện thực, có thể tri giác bằng các hành động mang “tính biểu tượng” hoặc toàn bộ các hệ thống biểu tượng (vật thay thế) để nhận ra các giá trị mang tính trừu xuất Toàn bộ sự kính ý
đó được biểu thị ở các phương diện sau đây:
Trước hết, ở thái độ xã hội (của cá nhân hoặc nhóm) thông qua các hành động hoặc nhận vật biểu thị mang “tính biểu tượng” Đó là vẻ mặt (diện mạo), giọng nói (ngữ điệu), hình thức nói (ngữ ngôn), dáng điệu (tư thế), cử chỉ, điệu bộ… và kể cả phục trang, đầu tóc, giày dép… Tóm lại, đó là những biểu thị bằng đích thực cơ thể người
Thứ đến, là những nghi thức ứng xử bằng “nghi lễ” vật chất hoặc tinh thần, bao gồm toàn bộ “nghi vật” và “nghi trượng”…
Lễ được thực hành theo hai trình độ: lễ (lễ phép) trong sinh hoạt thường ngày và Lễ (cuộc lễ) có những sự kiện xã hội đặc biệt
Theo ngôn ngữ thông thường thì “lễ phép” được hiểu là sự thực hiện, hành động theo các phép tắc, quy ước… Tức là những “khuôn mẫu” đã được tiêu chuẩn hoá, hợp tác hoá, trưởng thành những “chuẩn mực” cảu sự bày tỏ kính ý (lễ ) trong quan hệ tự nhiên cũng như trong quan hệ xã hội thường ngày Bên cạnh những quan hệ thông thường, con người còn bị chi phối bởi những quan hệ đặc biệt về xã hội cũng như tự nhiên Đó là những sự kiện xã hội hoặc cá nhân được gắn liền với đời sống tập thể như các chiến tích về chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự,… hoặc
xã hội đối với cá nhân như sinh đẻ, hôn phối, chuyển đoạn tuổi, chuyển vai trò xã hội, sự chết… Ngoài ra, là những bất thường do tự nhiên đem lại cho đời sống con
Trang 37người: thiên nhiên tạo nên sự thịnh vượng, an khang hoặc ngược lại, thiên nghịch gây nên đói kém , bệnh tật, chết chóc… trong các xã hội nông nghiệp cổ xưa Ở mối quan hệ đặc biệt này, sự “bày tỏ kính ý” vượt khỏi cấp độ thông thường để trở thành cuộc lễ với tầm rộng lớn của “nghi điển” và độ sâu đậm của “nghi tiết”
Cuộc lễ đó là những “khuôn mẫu ứng xử” biểu thị sự “bày tỏ kính ý” trong quan hệ ứng xử đặc biệt giữa con người với các sự kiện xã hội và tự nhiên Ở tầm vóc rộng lớn toàn diện của các nghi thức, tức là nó bao gồm nhiều hệ thống nghi thức:
- Hệ thống nghi thức về thái độ của người hành lễ
- Hệ thống nghi thức về nghi trượng (các công cụ cử hành lễ)
- Hệ thống nghi thức về diễn trình (trình thức) cuộc lễ
Điều đáng nói trong các cuộc lễ là độ sâu đậm của nghi thức, nghĩa là mỗi nghi tiết đều được “biểu tượng hoá”, “cảnh diễn hoá” Chỉ với hai đặc điểm này, cuộc lễ đã có thể hoàn thành một trong những mục đích quan trọng của nó là biểu hiện giá trị của đối tượng nhận lễ Qua đó, các mục đích thực dụng của nó đồng thời được hoàn thành Đó là biện pháp bảo đảm làm tăng những tốt lành, dự phòng
và khu trừng những bất trắc xấu đối với đời sống của nhóm hoặc cộng đồng
Có thể nói, “lễ” trong lễ hội là một hệ thống nghi thức mang “tính biểu tượng” và được cảnh diễn hoá tạo thành một “lễ thức” toàn vẹn, nhằm biểu hiện lòng tôn kính của cộng đồng đối với thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng Qua hành động của lễ, các nguyện vọng, ước mơ, khát vọng chính đáng của con người được phản ánh trước cuộc sống đầy rẫy những bất trắc, khó khăn mà bản thân họ- những người nông dân của vùng cư dân nông nghiệp lúa nước trước đây chưa có đủ khả năng cải tạo được tự nhiên
Trang 38Lễ trong lễ hội là một hệ thống liên kết có trật tự tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh của các lễ thức theo tuần tự của mỗi một cuộc lễ như sau: lễ rước nước- lễ mộc dục - tế gia quan - đám rước - tế đại tế - lễ túc trực - lễ hèm
Hội là một hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng Có thể kể đến các loại trò sau đây theo đặc trưng tương đối của nó:
- Trò đua tài : * Thượng võ( đấu vật, đua thuyền, hất phết…)
* Trò khéo léo: nữ dệt vải, nấu cơm nam bơi, chạy, đi cà kheo, thả thơ…
- Trò trình nghề : trò tứ dân…
- Trò phồn thực : bắt chạch trong chum, múa mo, chen nhau, hát múa nõ nường…
- Trò chơi giải trí (có hay không cũng được) : cờ người, ca hát…
- Trò diễn ( được coi là trò chưa thành tích nhưng có biểu diễn ): trò diễn trận ở hội Gióng diễn lại công cuộc diệt trừ giặc Ân, trò cờ lau tập trận ở Trường Yên diễn lại cảnh tập trận xưa của Đinh Bộ Lĩnh
Trò chơi phong tục nếu đã xuất hiện trong lễ hội nào thì luôn bắt buộc phải
có vì nó giải quyết nhu cầu tâm linh của dân làng Ví dụ như trò chơi ném cầu làng Gừa ở Thanh Liêm, Hà Nam Trò chơi này sử dụng quả cầu đỏ, người chơi ném cầu theo hưóng đông tây Ý nghĩa của trò chơi này là cầu mặt trời, cầu ánh sáng cho nghề nông
Hội là phần nổi của lễ, hoàn chỉnh một lễ hội Hội là để vui chơi thoả thích, thoải mái Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện Đến hội, ai cũng thấy
ngoài chuyện được vui chơi giải trí , họ còn nhận được lộc, khước, may Tuy ồn
ào, náo nhiệt, chen chúc nhưng hội không hề hỗn độn, sa đà … Phải chăng vì trong hội có lễ, có sự điều tiết cân bằng để niềm vui không quá đà
Trang 39Hội làng là sinh hoạt văn hoá- tôn giáo- nghệ thuật của cộng đồng người làng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; từ sự tồn tại và phát triển cho cả làng; sự bình yên cho từng cá nhân; niềm hạnh phúc cho từng gia đình; sự vững mạnh cho từng dòng họ; sự sinh sôi của gia súc; sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời đã quy tụ vào
niềm mơ ước chung là “nhân khang vật thịnh” hay “quốc thái dân an ”
Lễ hội là một cấu trúc tương đối hoàn chỉnh về nhiều mặt Lễ hội thể hiện thế đối ứng trong tâm lý và hành động diễn ra giữa đời sống lao động nông thôn thường ngày và hội làng
Bảng đối sánh giữa lao động ngày thường và hội làng
Lao động hàng ngày Bình thường, quanh
*Thăng hoa.Ăn đủ Mặc đẹp Vui tươi
*Bình đẳng Dân chủ Hưởng lộc chung Giải thoát Tự do vui chơi Tự tin
*Thiêng liêng Khác thường Trang nghiêm Sảng khoái
*Quần thể Náo động Lộng lẫy Cao thượng Tập trung
(Trích trong bài giảng về lễ hội truyền thống của PGS Lê Trung Vũ, 1997)
Có thể nói lễ hội là tập đại thành các khuôn mẫu hành vi và là một hiện tượng văn hoá xã hội lớn mang tính biểu tượng, giúp con người có thể hoàn thiện nhân cách toàn diện trong quá trình nhập thân vào các khuôn mẫu văn hoá trong lễ hội Qua đây ta thấy hội là sự mở rộng của phần lễ , khiến cho phần lễ vừa mang tính
Trang 40chất nghiêm trang, thiêng liêng, lại vừa gần gũi với cuộc sống thế tục, thông qua các trò vui chơi giải trí và trò chơi phong tục Hội là dành cho quần chúng rộng rãi
mà nội dung là nối tiếp và phát triển lễ, thiên về đua tài Lễ hội truyền thống là lễ hội hướng tới các giá trị trong quá khứ được tôn vinh thành cái thiêng và được tổ chức lặp đi lặp lại theo một qui luật trở thành truyền thống của làng, vùng, miền hay quốc gia…Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng cư dân Bản thân cuộc sống không thể thành hội được nếu như nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các hiện tượng, vượt lên trên thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai phản ánh cuộc sống thực với ước vọng nâng cao cuộc sống thực được nghệ thuật hoá, thẩm mỹ hoá
2.1.2 Môi trường tự nhiên là yếu tố quan trọng tác động tới lễ hội dân gian
Lễ hội luôn hình thành và biến đổi dưới tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử, và ngược lại, qua lễ hội người ta có thể thấy rõ hoàn cảnh
tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử của dân tộc Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ xem xét điều kiện tự nhiên đóng vai trò gì với sự hình thành và biến đổi của lễ hội người Việt nói chung và đặc biệt là lễ hội của ngư dân nói riêng
Đồng bằng Bắc bộ là cái nôi hình thành cộng đồng dân tộc Việt, do vậy, lễ hội của người Việt nơi đây tiêu biểu nhất cho lễ hội truyền thống của người Việt Đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong lễ hội của người Việt ở Đồng bằng Bắc bộ là nó
in đậm dấu ấn của nông nghiệp Dấu ấn nông nghiệp trong các lễ hội xuất phát từ tiền đề đầu tiên rất quan trọng là điều kiện tự nhiên nơi đây hoàn toàn phù hợp cho sản xuất nông nghiệp phát triển