ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THU TRANG THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THU TRANG
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT - SINH HỌC 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THU TRANG
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT - SINH HỌC 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
MÃ SỐ: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thị Thanh Hội
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tác giả xin cảm ơn đến các thầy, cô giáo Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, chỉ bảo cho tác giả trong suốt thời gian vừa qua
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trung tâm thông tin thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Phan Thị Thanh Hội, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tác giả
hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo bộ môn Sinh học – Trường THPT Hưng Đạo và các học sinh đã tạo điều kiện cho tôi được thực nghiệm
sư phạm để hoàn thành luận văn của mình
Nghiên cứu đã thu được một số kết quả bước đầu, mặc dù đã cố gắng nhưng chắc hẳn không tránh khỏi những mặt còn hạn chế Rất mong được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các anh/chị học viên
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày……tháng……năm……
Tác giả
Nguyễn Thu Trang
Trang 4Năng lực Năng lực tự học Nhà xuất bản Phương pháp Trung học phổ thông
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Biểu hiện các thành tố của NLTH 14
Bảng 1.2 Khó khăn trong việc phát triển NL tự học cho HS THPT 18
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học về bệnh truyền nhiễm 31
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học miễn dịch 31
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá khả năng hoạt động nhóm 32
Bảng 2 4 Tiêu chí đánh giá bài thuyết trình sản phẩm 33
Bảng 2.5 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học chu trình nhân lên của virus 38
Bảng 2.6 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học tìm hiểu về HIV/AIDS 39
Bảng 2.7 Các nội dung trong phần Sinh học Vi sinh vật có thể thiết kế theo định hướng phát triển năng lực tự học 39
Bảng 2 8 Nhiệm vụ và yêu cầu trong dạy học dự án: “Ngày hội lên men” 47
Bảng 2 9 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học 50
Bảng 2.10 Bảng quy đổi mức độ năng lực tự học của HS 51
Bảng 2.11 Bảng hỏi kiểm tra mức độ phát triển năng lực tự học của HS 51
Bảng 3.1 Thống kê mô tả điểm trung bình NLTH của HS qua 3 bài thực nghiệm 60 Bảng 3 2 Phân loại mức độ NLTH của HS qua các bài thực nghiệm 61
Bảng 3 3 Điểm trung bình của từng kỹ năng thành tố của NLTH qua bài học 62
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH
Biểu đồ 1 1 Mức độ hiểu biết của GV về các kĩ năng thành tố của NLTH 16
Biểu đồ 1 2 Mức độ các phương pháp, kỹ thuật được sử dụng trong dạy học Sinh học của các GV THPT 17
Biểu đồ 1.3 Khảo sát thời gian học ở nhà trung bình trong 1 tuần của HS 19
Biểu đồ 1.4 Kết quả thu được qua điều tra hoạt động báo cáo kết quả học tập của HS 20
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt cấu trúc chương trình Sinh học vi sinh vật 24
Sơ đồ 2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho HS 25
Sơ đồ 2.3 Quy trình tổ chức dạy học 46
Hình 3 1 Học sinh hào hứng nghiên cứu nội dung học tập của nhóm 55
Hình 3 2 HS tích cực hoàn thành sản phẩm học tập 55
Hình 3 3 Các sản phẩm bằng video được đưa lên youtube để HS tham gia đóng góp ý kiến 56
Hình 3 4 HS báo cáo kết quả học tập tại lớp 57
Hình 3 5 Học sinh tự báo cáo kết quả học tập trên lớp 57
Hình 3 6 HS đánh giá sản phẩm của nhóm học tập 59
Biểu đồ 3 1 Điểm trung bình của NLTH ở 3 bài thực nghiệm 60
Biểu đồ 3.2 Mức độ phân loại NLTH của HS qua các bài thực nghiệm 61
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
9 Những đóng góp mới của đề tài 4
10 Cấu trúc đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Tổng quan những nghiên cứu về tự học và năng lực tự học trên thế giới 6
1.1.2 Tổng quan những nghiên cứu về tự học và năng lực tự học ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lý luận 10
1.2.1 Hoạt động học tập 10
1.2.2 Năng lực và năng lực tự học 11
1.3 Cơ sở thực tiễn 15
1.3.1 Thực trạng việc thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học của giáo viên trong dạy học Sinh học 15
1.3.2 Thực trạng việc dạy học Sinh học theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 16
1.3.3 Thực trạng năng lực tự học của học sinh lớp 10 trung học phổ thông 18
Trang 8CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ TỔ CHỨC CHO
HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT- SINH HỌC 10 22
2.1 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung phần sinh học vi sinh vật- sinh học 10 22
2.1.1 Mục tiêu phần Sinh học vi sinh vật 22
2.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 23
2.2 Thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh phần Sinh học vi sinh vật- Sinh học 10 24
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh 24
2.2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh 25
2.3 Tổ chức cho học sinh tự học phần sinh học vi sinh vật - sinh học 10 45
2.3.1 Các nguyên tắc tổ chức dạy tự học 45
2.3.2 Quy trình tổ chức dạy học sinh tự học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 46
2.4 Thiết kế các tiêu chí và công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh 49
2.4.1 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học 49
2.4.2 Các công cụ đánh giá năng lực tự học 50
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 53
3.1 Mục đích thực nghiệm 53
3.2 Nội dung thực nghiệm 53
3.3 Kết quả thực nghiệm 53
3.3.1 Đánh giá định tính 54
3.3.2 Đánh giá định lượng 59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 66
3 Hướng phát triển của đề tài 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội XI chỉ rõ: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”[25] Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, chất lượng giáo dục phổ thông nói riêng là vấn đề cấp thiết, là giải pháp quan trọng để giáo dục nước ta có thể tiến kịp với sự phát triển khoa học trên thế giới đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế và quốc tế hiện nay
Tinh thần đó đã được quán triệt và nhấn mạnh trong Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005, tại điều 28 quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho mọi học sinh” [25] Như vậy, nền giáo dục Việt Nam cần thay đổi toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức
tổ chức dạy học Trong đó, vấn đề đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm tích cực phát huy hoạt động nhận thức của học sinh, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh là một yêu cầu cấp thiết và thực tiễn nhất
Năng lực tự học là một trong những năng lực quan trọng và cốt lõi cần phải
có ở mỗi cá nhân Tự học giúp người học biết cách xác định mục tiêu học tập, lập
kế hoạch và thực hiện cách học, biết tự đánh giá và và điều chỉnh học tập của mình,
từ đó người học tự biến đổi mình, tự biến đổi các giá trị của mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác tư duy và ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của
cá nhân Rèn luyện cho học sinh tự học là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Để rèn luyện cho người học năng lực tự học trong quá trình dạy học, giáo viên cần hướng dẫn tự học từng bước thông qua các hoạt động học tập
Trang 10Trong chương trình sinh học phổ thông, kiến thức Phần 3: Sinh học vi sinh vật có nội dung rất phong phú, đa dạng gần gũi với thực tế không những giúp học sinh tìm hiểu những nội dung liên quan đến kiến thức của vi sinh vật mà quan trọng hơn giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng gặp trong thực tế đời sống Vì vậy, việc hướng dẫn cho học sinh tự học, để học sinh tìm tòi, khám phá tri thức là rất cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình, thiết kế các hoạt động học tập và tổ chức cho học sinh tự học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề làm cơ sở lý luận cho đề tài như: hoạt động học tập, năng lực tự học, tổ chức dạy học tự học cho học sinh,…
- Tìm hiểu thực trạng phát triển năng lực tự học và tổ chức dạy học Sinh học ở một
số trường trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh
- Xác định quy trình và thiết kế các hoạt động học tập trong phần Sinh học vi sinh vật- Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh
- Xác định quy trình tổ chức dạy học sinh tự học phần Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10
- Thiết kế các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của nghiên cứu
4 Câu hỏi nghiên cứu
Có thể thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập theo quy trình như thế nào
để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10?
Trang 115 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu thiết kế được các hoạt động học tập theo hướng HS tự học, đề xuất được quy trình tổ chức cho học sinh tự học, vận dụng vào dạy học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 thì sẽ phát triển được năng lực tự học cho HS, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập theo hướng học sinh tự học
- Năng lực tự học
6.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 theo hướng HS tự học
7 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: phần ba Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10
- Địa bàn nghiên cứu: Các lớp 10 thuộc trường THPT Hưng Đạo
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 09/2019 - tháng 05/2020
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan tới đề tài để làm cơ sở lí luận cho đề tài:
+ Các văn bản pháp luật: Văn kiện của Đảng, Nhà nước có liên quan về đổi mới phương pháp dạy học
+ Các tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận gồm: Tài liệu lí luận dạy học sinh học, tài liệu về thiết kế các hoạt động học tập, tài liệu về dạy học theo hướng tự học, các công trình khoa học có liên quan,…
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- PP điều tra bằng phiếu khảo sát để tìm hiểu thực trạng năng lực tự học của học sinh và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần Sinh học
vi sinh vật - Sinh học 10 ở trường THPT
Trang 128.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Khi đã sưu tầm, thiết kế các hoạt động học tập phần Sinh học vi sinh vật, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của một số giảng viên, giáo viên có kinh nghiệm
8.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm tra giả thuyết đã đặt ra của đề tài, chúng tôi tiến hành thực nghiệm 6
+ Trường tham gia thực nghiệm: Trường trung học phổ thông Hưng Đạo, huyện Tứ
Kỳ, Tỉnh Hải Dương Chọn 2 lớp thực nghiệm
+ Số HS tham gia thực nghiệm: 90 học sinh
Bố trí thực nghiệm
Thực nghiệm không có đối chứng, mỗi lớp thực nghiệm đánh giá 3 lần
Dạy theo giáo án đã xây dựng theo ý tưởng của đề tài Thu thập và xử lí số liệu
8.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học áp dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm qua phần mềm SPSS
9 Những đóng góp mới của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về thiết kế các hoạt động học tập
nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
- Xác định được quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học và quy trình tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
- Xác định được các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh
Trang 13Chương 2 Thiết kế các hoạt động học tập và tổ chức cho học sinh tự học phần Sinh học vi sinh vật- Sinh học 10 THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan những nghiên cứu về tự học và năng lực tự học trên thế giới
Từ trước công nguyên, nhiều nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc như Khổng
Tử, Mạnh Tử đã cho rằng dạy học là phải kích thích được suy nghĩ của người học, khiến người học phải tự mình suy nghĩ Khổng Tử coi trọng sự tích cực suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, ông luôn gợi mở để các học trò tự tìm ra được chân lý mới Mạnh Tử cho rằng người giáo viên như người dạy bắn cung, chỉ kéo dây cung mà không bắn tên hộ, tự người bắn phải bắn lấy
Ở thế kỷ 17, J.A Cômenxki (1592- 1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên nói ít hơn, học sinh học nhiều hơn Một số nguyên tắc dạy học của ông đến nay vẫn được sử dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh đó là: nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trọng dạy học, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng [21]
Đến thế kỉ 18 – 19 các nhà giáo dục nổi tiếng như J.Rutxô (1712 – 1778), K.D.Usinxki (1824 – 1890), T.H Petstalogi (1746 – 1827) và Disterverg (1790 – 1886) đã khẳng định rằng: “Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức”
Trong những năm gần đây, vấn đề tự học nhận được sự quan tâm của nhiều người, nhiều cuốn sách đã được xuất bản Trong cuốn “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó
đã hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi và nhấn mạnh vai trò của tự học [17]
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, N.A Rubakin (1862-1946) đã cho rằng: “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học”, đồng thời ông nhấn mạnh: Muốn học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người có động cơ đúng đắn trong tự học Điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học là giáo dục có động cơ đúng đắn là Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôi vẫn chưa đủ mà người học cần phải có kĩ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả [27]
Trang 15Năm 1994, Raja Roy Singh- nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách
“Giáo dục thế kỷ XXI: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” Raja Roy Singh đã nhấn mạnh: “Làm thế nào để cá nhân hoá quá trình học tập, để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được bộc lộ, phát triển đầy đủ đang là thách thức chủ yếu đối với giáo dục” Ông đề cao vai trò cố vấn của người thầy trong học tập thường xuyên
và học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát huy NLTH của người học [26]
Trong Tâm lý học sư phạm và Tâm lý học lứa tuổi, A.V.Petrovxki đã nêu:
“Trong quá trình dạy học, giáo viên phải tổ chức bồi dưỡng, hoàn thành kĩ năng tự học cho người học Việc GV giao bài tập nhận thức cho HS trong thời gian tự học là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo cho HS trong học tập”
Như vậy, vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục thế giới đã được nghiên cứu từ rất lâu với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau nhưng đều tập trung đều nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của người học Đây là một vấn đề quan trọng mà cho đến ngày nay, nó vẫn là vấn đề một vấn
đề mà các nhà giáo dục vẫn đặc biệt quan tâm
1.1.2 Tổng quan những nghiên cứu về tự học và năng lực tự học ở Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng và là tấm gương sáng về tinh thần tự học của mọi thế hệ Người đặt niềm tin rất lớn vào khả năng tự học của mỗi con người Người đã từng dạy: “Còn sống thì còn phải học” và “học phải lấy tự học làm cốt” Người đã động viên toàn dân “phải tự nguyện, tự giác, coi học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, phải tích cực, chủ động hoàn thành kế hoạch học tập” Quá trình học như vậy có thể hiểu là: sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
Trong thư gửi các học sinh toàn quốc nhân ngày khai trường năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng đinh: Để đất nước Việt Nam phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu thì cần nhờ một phần vào "công học tập" của thế hệ trẻ, vì vậy việc tự học của mỗi học sinh là vô cùng quan trọng
Công trình nghiên cứu về tự học của Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự trong
Trang 16cách học”: “nếu phát huy được tính tích cực, chủ động, trên cơ sở xác định động cơ đúng đắn thì người học hoàn toàn có thể tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập” và trong tự học: “người học nên học hệ thống với thầy trước sau đó hãy tự học hoàn toàn”
Năm 1971, NXB Khai Trí đã xuất bản cuốn “Chúng tôi tự học” của tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần, cuốn sách đã tổng hợp những kinh nghiệm quý báu
về phương pháp tự học, tự nâng cao kiến thức và trí lực cho từng cá nhân đồng thời đưa ra 8 nguyên tắc để làm việc [9]
Cuốn sách “Tự học thế nào cho tốt”, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (2009) đã rút ra những nguyên tắc, những kinh nghiệm, những quy luật giúp người học thấy các bước đi một cách rõ ràng để tiến nhanh đến đích; biết cách giải quyết những khó khăn trong quá trình tự học Những cuốn sách này là những tài liệu thực sự bổ ích giúp cho quá trình đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học [31]
Tác giả Thái Duy Tuyên trong “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” cũng đã chỉ ra được vai trò của GV trong quá trình tự học Trong dạy tự học, giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ Càng lên lớp trên vai trò trực tiếp của người thầy càng giảm dần, cho đến lúc học sinh hoàn toàn đảm nhận được việc học của mình… Hoạt động tự học không chỉ tổ chức khi học tập ở nhà mà cần coi trọng hoạt động độc lập của học sinh ngay cả trong giờ lên lớp” [32]
Theo tác giả Nguyễn Thị Côi với nghiên cứu: “Rèn luyện NLTH lịch sử cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn ở trường phổ thông” trong tạp chí giáo dục số 260 năm 2011, đã cho rằng: Tự học là một vấn đề quan trọng, là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập, quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nỗ lực, tự học để nắm vững những tri thức mà nhân loại đã tích lũy
Tác giả Lê Thanh Huy, Phạm Minh Hải với đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “Quang hình học” (Vật lí 11) theo mô hình B-Learning” đã cho rằng: để tự học có hiệu quả, việc bồi dưỡng năng lực tự học là rất cần thiết Tác giả đã sử dụng mô hình B-Learning và đề xuất được quy trình tổ chức
Trang 17dạy học bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong giảng dạy để nâng cao năng lực tự học cho HS [12]
Tác giả Đặng Thị Dạ Thủy, Phan Thị Hồng Liên trong nghiên cứu về: “Thiết
kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học Sinh học 6” đã trình bày cơ sở lý luận về năng lực tự học, đề xuất quy trình và thiết
kế các hoạt động học tập phát triển năng lực tự học cho HS [29]
Nghiên cứu: “Phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học chương Cảm ứng (Sinh học 11)” tác giả Phan Thị Thanh Hội, Kiều Thị Thu Giang đã thiết kế quy trình phát triển năng lực tự học và phân tích quy trình ở 5 tiểu chủ đề, bước đầu cho thấy việc vận dụng quy trình đã thiết kế có hiệu quả, đồng thời việc tự học các tiểu chủ đề cũng góp phần nâng cao hiệu quả lĩnh hội tri thức của học sinh [11]
Tác giả: “Trần Thị Ngần (2019)” với nghiên cứu: “Sưu tầm, thiết kế và sử dụng tư liệu dạy học trong dạy học sinh học 8 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh” đã đề xuất quy trình sưu tầm, thiết kế tư liệu áp dụng vào nội dung dạy học Thông qua kết quả thực nghiệm đã thấy được rằng việc sử dụng đa dạng các tư liệu dạy học đã tạo nên hứng thú, tích cực học tập cho HS, HS chiếm lĩnh kiến thức nhanh chóng, nhớ kiến thức lâu hơn, đồng thời, qua việc hướng dẫn HS khai thác các dạng tư liệu được thiết kế đã góp phần phát triển NLTH cho HS [18]
Luận án tiến sĩ về đề tài: Tổ chức dạy tự học Sinh học tế bào cho học sinh chuyên Sinh học trung học phổ thông” của tác giả Cao Xuân Phan năm 2018 đã đề xuất các nguyên tắc, quy trình tổ chức dạy tự học phần sinh học tế bào nhằm, tổ chức cho HS tự học giúp HS chuyên Sinh học THPT vừa chiếm lĩnh được kiến thức, vừa phát triển NLTH góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học ở các trường THPT chuyên [23]
Ngoài ra còn rất nhiều luận án tiến sĩ khác nghiên cứu khác về vấn đề tự học môn Sinh học cụ thể như các nghiên cứu của Lê Thị Huyền năm 2017 với đề tài:
“Tổ chức hoạt động tự học học phần Di truyền học cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học” [13], Trần Sỹ Luận năm 2013: “Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học Sinh học 11 THPT” [16],
Trang 18Việc khơi dậy và phát triển NLTH cho HS đã được Đảng, Nhà nước quan tâm Ngày 24/12/1996, khi bàn về định hướng chiến lược để phát triển GD - ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đề ra nhiệm vụ đến năm 2000, hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ: “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học” [8]
Nhìn chung, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề tự học dưới nhiều góc độ khác nhau Các tác giả đã đưa ra tầm quan trọng của tự học và các kĩ năng tự học cho người học từ đó giúp học sinh có thể rèn luyện và phát triển được năng lực tự học của mình
Theo tác giả Trần Bá Hoành (2006), hoạt động học tập là chuỗi hành động,
thao tác trí tuệ hướng tới mục tiêu xác định của bài học [10]
1.2.1.3 Các dạng hoạt động học tập
Trong dạy học sinh học có thể có các hoạt động học tập như: trả lời câu hỏi; điền từ, điền bảng, điền tranh câm; lập bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, bản đồ, đọc và phân tích; làm thí nghiệm; thảo luận, tranh cãi về vấn đề nêu ra; giải bài toán nhận thức, bài tập tình huống; nghiên cứu trường hợp điển hình,
Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động thành các dạng khác: hoạt động lập kế hoạch học tập; hoạt động giải quyết vấn đề học tập; hoạt động báo cáo kết quả học tập; hoạt động đánh giá kết quả học tập
Trang 191.2.1.4 Đặc điểm các hoạt động học tập phát triển NL tự học
- Hoạt động lập kế hoạch học tập: Kế hoạch tự học là người học tự xây dựng một kế hoạch hợp lý, phù hợp với bản thân nhằm tối ưu hóa hoạt động học tập để đạt được mục tiêu học tập đã đề ra Kế hoạch học tập phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, trong đó có tính đến những yếu tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch đã đề ra
Kế hoạch học tập có thể cho cả năm học, có thể cho từng môn học, kế hoạch theo tháng, theo tuần hay kế hoạch học tập cho từng chủ đề/bài học
- Hoạt động giải quyết vấn đề học tập: Là quá trình người học triển khai các hoạt động học tập thành các việc làm cụ thể Kết quả của quá trình giải quyết vấn đề học tập là học sinh phải tạo ra được các sản phẩm cụ thể đáp ứng được những yêu cầu về của học tập
Để giải quyết vấn đề học tập, người học cần thực hiện các nhiệm vụ như: thu thập thông tin, tài liệu liên quan; xử lí thông tin bằng việc lập dàn ý, vẽ sơ đồ, trả lời câu hỏi,…; thiết kế sản phẩm, sản phẩm có thể là báo cáo bản word, bản powerpoint, video,
- Hoạt động báo cáo kết quả học tập: Là hoạt động học sinh tự thể hiện, báo cáo sản phẩm của mình trong nhóm hoặc trước lớp HS trình bày sản phẩm của mình, các HS khác góp ý, bổ sung, đặt câu hỏi Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, đồng thời là người trọng tài, cố vấn cho hoạt động báo cáo sản phẩm và thảo luận của học sinh
- Hoạt động đánh giá kết quả học tập: Đánh giá kết quả học tập là quá trình theo dõi, phản ánh thông tin về sự tiến bộ của người học trong suốt quá trình dạy học Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục, định kì và đòi hỏi khách quan, chính xác, phân hóa Thông qua đánh giá (tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng) học sinh xác định được năng lực của mình đang ở mức độ nào và quan trọng hơn là học sinh nhận ra được những tồn tại, hạn chế của bản thân, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục hạn chế, điều chỉnh hoạt động phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra
1.2.2 Năng lực và năng lực tự học
Trang 20Theo F.E.Weinert (2001): “Năng lực là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [37]
Trong từ điển Tiếng Việt thông dụng có định nghĩa năng lực gắn liền với
“phẩm chất tâm sinh lí” và “trình độ chuyên môn” giúp cho con người hoàn thành hoạt động với chất lượng cao” [28]
Tác giả Nguyễn Trọng Khanh đã nghiên cứu phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, cho rằng “năng lực là những kỹ năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [14]
Tóm lại, trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa để mô tả về năng lực dựa trên chương trình giáo dục phổ thông Tổng thể của bộ giáo dục và đào tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có
và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2] làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
1.2.2.2 Tự học
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, say mê khoa học, biến khó khăn thành thuận lợi, )
để chiếm lĩnh một lĩnh vực kiến thức nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình” [30]
Trong các nghiên cứu về giáo dục học, một định nghĩa về tự học được các nhà khoa học sử dụng nhiều hơn cả đó là định nghĩa của Malcolm Shepherd Knowles được: “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động
Trang 21học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện” [36]
Như vậy, tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
+ Hình thức tự học
Tự học có các hình thức như sau [5]:
- Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập: Ngoài giờ học ở lớp, người học luôn phải dành thời gian tự học ở nhà để hoàn thành việc học của mình Ví dụ: đọc sách, tham khảo tài liệu, làm bài tập,…
- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của người dạy: Với hình thức này, người dạy đã biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người học
- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học tự học qua mạng Internet, mạng di động,… mà không tiếp xúc trực tiếp với người dạy
- Tự học qua tài liệu có hướng dẫn: Người học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu, để người học tìm kiếm, bổ sung kiến thức
- Tự học hoàn toàn: Là hình thức học mà người học người học cũng tự quyết định mục tiêu học tập, lựa chọn nội dung học, các hoạt động tự học, cách học, tự chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, dựa vào đó người học tự xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của mình Với hình thức này, người học không cần không cần đến trường, không cần sự hướng dẫn trực tiếp của người dạy
1.2.2.3 Năng lực tự học
Trong Chương trình giáo dục phổ thông Tổng thể thì năng lực tự học được xếp số một trong số ba năng lực chung cần đạt Năng lực tự học có vai trò quan trọng, vì tự học là chìa khoá để tiến vào thế kỉ XXI - một thế kỉ với quan niệm học
Trang 22Tác giả Nguyễn Kỳ trong biến quá trình dạy học thành quá trình tự học có viết: “NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau” [15]
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự, NLTH được hiểu là một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp Nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra [30]
Theo tác giả Lê Công Triêm, NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức
và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [33]
NLTH là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả hành động cùng các động cơ, tình cảm,… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [12]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn định nghĩa như sau: NLTH là khả năng người học độc lập, tự giác từ việc xác định mục tiêu học tập, thiết kế và thực hiện kế hoạch học tập đến việc tự đánh giá và điều chỉnh việc học nhằm tối ưu hóa việc lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng và các năng lực [11]
Cấu trúc NLTH bao gồm các kĩ năng thành phần như sau: kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng thực hiện học tập, kĩ năng tự thể hiện, kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh việc học
Các biểu hiện của NLTH được thể hiện như sau:
Bảng 1 1 Biểu hiện các thành tố của NLTH
Kĩ năng lập kế
hoạch học tập
- Xác định các nội dung cần học trong bài học
- Dự kiến các tài liệu cần thiết
- Dự kiến các hoạt động nhiệm vụ để học các nội dung trong bài
Trang 23học
- Dự kiến sản phẩm cần thiết kế
Kĩ năng thực
hiện học tập
Tự học theo các nhiệm vụ đã đƣợc xác định, bao gồm:
- Thu thập thông tin liên quan
- Xử lí thông tin: trả lời các câu hỏi, thực hiện các nhiệm vụ học tập theo gợi ý của GV
- Thiết kế sản phẩm: lập dàn ý; lập bảng, sơ đồ, viết báo cáo; bài thuyết trình
- Sử dụng tiêu chí đánh giá do GV cung cấp đánh giá hoặc tự thiết
kế các tiêu chí để đánh giá kết quả và điều chỉnh việc học
- Đánh giá quá trình tự học và rút kinh nghiệm, việc học điều chỉnh quá trình tự học trong các bài học tiếp theo
Để tìm hiểu mức độ hiểu biết của GV về kĩ năng thành tố của NLTH để thiết
kế bài giảng, chúng tôi đã tìm hiểu mức độ hiểu biết của GV về các kĩ năng thành tố của năng lực tự học Kết quả đƣợc trình bày ở hình 1.1
Trang 24Biểu đồ 1 1 Mức độ hiểu biết của GV về các kĩ năng thành tố của NLTH
Kết quả cho thấy, đa số giáo viên đã có những hiểu biết về các hiểu biết về những kĩ năng thành tố của NLTH, tuy nhiên mức độ hiểu biết không đồng đều Để hình thành và phát huy NLTH cho HS thì phải có tất cả các kĩ năng trên
1.3.2 Thực trạng việc dạy học Sinh học theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh
Qua điều tra khảo sát 32 giáo viên Sinh học trên địa bàn tỉnh Hải Dương, chúng tôi nhận thấy 100% GV đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của dạy
tự học và tự học Trong đó, 81,3% GV cho rằng rất cần thiết và 18,7% GV cho rằng cần thiết phải hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS Hầu hết các GV đã thường xuyên dạy tự học cho HS (75%), chỉ có 25% GV không thường xuyên, không có GV nào chưa bao giờ dạy tự học cho học sinh Qua đó cho thấy: Việc tổ chức DTH cho học sinh để rèn luyện NLTH cho học sinh hiện nay đã được các GV quan tâm, đầu tư và nghiên cứu đến dạy tự học giúp tự học, tuy nhiên mức độ vẫn chưa thường xuyên Trong dạy học, GV vẫn là người chủ động truyền thụ kiến thức, chưa chú ý đến nhu cầu thiết thực của học sinh Kết luận này được minh chứng ở hình sau:
71.9
93.8 84.4 84.4 40.6
81.3 71.9 65.6 78.1 34.4
Xây dựng động cơ học tập
Lập kế hoạch tự học Đọc sách và đọc tài liệu
Nghe giảng và ghi chép Tìm kiếm tài liệu
Kỹ năng làm việc theo nhóm
Báo cáo kết quả học tập
Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Nghiên cứu khoa học
Trang 25Biểu đồ 1 2 Mức độ các phương pháp, kỹ thuật được sử dụng trong dạy học Sinh
học của các GV THPT
Kết quả cho thấy 32 GV giảng dạy Sinh học 10 ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hải Dương thì các phương pháp, kĩ thuật dạy học thường xuyên sử dụng trong giảng dạy là: thuyết trình, dạy học giải quyết vấn đề, dạy tự học, sử dụng phiếu học tập, sơ đồ tư duy Các phương pháp, kĩ thuật dạy học ít được sử dụng, số lượng GV chưa bao giờ sử dụng cao như: dạy học dự án, dạy học khám phá, các kĩ thuật KWL, động não và phương pháp nghiên cứu khoa học Trong khi đó, để rèn luyện NLTH cho HS thì việc sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực là rất cần thiết Điều này chứng tỏ đa số GV vẫn chưa có những phương pháp cụ thể để thực sự tổ chức dạy học phát triển NLTH cho HS
Như vậy, nguyên nhân nào đã làm cho GV chưa thực sự tổ chức được dạy tự học để nâng cao NLTHcho HS? Để có câu trả lời, chúng tôi đã đặt ra câu hỏi: Theo thầy cô khó khăn trong việc phát triển NL tự học cho HS THPT là gì? Kết quả thu được ở Bảng 1.2
Trang 26Bảng 1.2 Khó khăn trong việc phát triển NL tự học cho HS THPT
lượng
Tỉ lệ
%
1 GV chưa được tập huấn các PP, kỹ thuật dạy tự học 17 53,1
2 Nguồn tài liệu (SGK) hiện nay khó thiết kế các phương
3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy tự học
4 HS chưa làm quen với PP học tích cực để tự học 21 65,6
5 HS còn tình trạng học lệch, không quan tâm đến môn
6 Làm mất nhiều thời gian của GV và HS 7 21,9
Từ bảng 1.2, chúng tôi thấy: Có rất nhiều khó khăn trong việc phát triển NLTH cho HS cụ thể như: HS còn tình trạng học lệch, không quan tâm đến môn học, cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy tự học còn thiếu thốn, HS chưa làm quen với PP học tích cực để tự học Ngoài ra còn một số lý do khách quan như nguồn tài liệu (SGK) hiện nay khó thiết kế các phương án tổ chức dạy tự học, ý thức của HS chưa cao trong quá trình tự học, Điều đáng nói là vẫn còn có 7 ý kiến chiếm 21,9% GV cho rằng việc tổ chức dạy và học tự học làm mất nhiều thời gian của GV và HS
1.3.3 Thực trạng năng lực tự học của học sinh lớp 10 trung học phổ thông
Khi khảo sát GV đánh giá năng lực tự học của HS ở mức nào, đa phần GV đều đánh giá NLTH của HS ở mức trung bình và khá, trong đó khá là 62,5%, trung bình là 37,5% không có tốt và yếu Tuy nhiên, qua khảo sát HS chúng tôi thấy rằng, việc hình thành và phát triển năng lực HS vẫn chưa đồng đều, vẫn còn HS chưa tự giác học tập Cụ thể như sau:
Khi đặt câu hỏi cho HS: “Thời gian học môn Sinh học ở nhà trung bình trong một tuần của em là bao nhiêu?”, chúng tôi nhận được câu trả lời như hình 1.3 dưới đây
Trang 27Biểu đồ 1.3 Khảo sát thời gian học ở nhà trung bình trong 1 tuần của HS
Từ biểu đồ 1.3, có thể thấy thời gian HS tự học ở nhà trong một tuần đối với môn sinh học là rất ít, có 18 HS chiếm tỉ lệ 8,5% không bao giờ học ở nhà, 46% số
HS chỉ giành thời gian học dưới 30 phút, 36,5% HS giành từ 30 phút đến 1 tiếng trong 1 tuần để học bài môn sinh, còn lại 9% số HS giành hơn 1 tiếng
Ngoài ra, khi được hỏi về vấn đề có bao giờ tự đặt câu hỏi cho GV hay không, có tới 105/211 (49,8%) ý kiến cho rằng không bao giờ đặt câu hỏi cho GV Đây là một thực trạng đáng buồn trong nhận thức tầm quan trọng trong tự học của
để nghiên cứu kiến thức mới Chỉ còn tồn tại một số học sinh (19 HS) cho rằng chưa bao giờ HS thực hiện các việc chuẩn bị bài mới theo các gợi ý đó
+ Nhiệm vụ trên lớp: Hầu hết HS đã có ý thức thực hiện những nhiệm vụ của giáo viên giao trên lớp, 141/211 (66,8%) HS trả lời rằng tập trung giải quyết những nhiệm vụ mà GV giao, 65 HS thỉnh thoảng, chỉ còn tồn tại 5HS hiếm khi và 2 HS chưa bao giờ thực hiện nhiệm vụ đó Số HS thụ động đợi chờ đáp án từ GV cũng tồn tại không nhiều, 20 HS chiếm tỉ lệ 14,2%
Trang 28+ Báo cáo kết quả học tập: Để tìm hiểu về kĩ năng báo cáo kết quả học tập, một trong những kĩ năng thành tố của NLTH, chúng tôi nghiên cứu dựa trên 2 vấn đề: Chia sẻ với bạn những gì đã học; Góp ý cho báo cáo của các bạn hoặc nhóm khác Qua đó, số liệu thu được được trình bày ở Hình 1.4
Biểu đồ 1.4 Kết quả thu được qua điều tra hoạt động báo cáo kết quả học tập của
HS
Từ biểu đồ 1.4, chúng tôi thấy phần lớn HS đã bắt đầu hình thành được NLTH trong báo cáo kết quả học tập, vẫn còn 1 phần nhỏ HS lơ là chưa quan tâm đến nó Trong khảo sát 211 HS thì số HS thường xuyên chia sẻ những gì học được
và góp ý cho báo cáo của các bạn hoặc nhóm khác là 123, thỉnh thoảng là 191, tồn tại 81HS hiếm khi và 43 HS chưa bao giờ quan tâm đến việc báo cáo kết quả học tập Vì vậy, trong quá trình dạy và học tự học, GV còn phải rèn luyện nhiều để nâng cao ý thức cũng như rèn luyện kĩ năng cho HS
+ Đánh giá kết quả học tập: Hầu hết HS đã ý thức được việc tự đánh giá kết quả học tập của mình, 69 HS (32%) đã thường xuyên tự đánh giá rút kinh nghiệm cho các hoạt động hoặc nhiệm vụ, 80 HS thỉnh thoảng, 46 HS hiếm khi và chỉ có 21HS (10%) chưa bao giờ tự đánh giá rút kinh nghiệm các hoạt động học tập
Như vậy, qua điều tra khảo sát 211 HS lớp 10 trường THPT Hưng Đạo, chúng tôi có thể được một phần nhỏ các em HS lớp 10 chưa ý thức và tự giác cũng
Chưa bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Góp ý cho báo cáo của các bạn hoặc nhóm khác Chia sẻ với bạn những gì đã học
Mức độ
Số HS
Trang 29như hình thành và phát triển được năng lực tự học cho bản thân, GV cần hình thành, rèn luyện và bồi dưỡng
Tiểu kết chương 1
Chương I đã khái quát các nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Tổng quan nghiên cứu về tự học và năng lực tự học trên thế giới và ở Việt Nam, xây dựng và phân tích cơ sở lí luận của đề tài về: hoạt động học tập, năng lực và năng lực tự học
từ đó xác định rõ hướng nghiên cứu cho luận văn
Cơ sở thực tiễn đã chứng minh, hầu hết GV đã quan tâm tới việc phát triển NLTH cho HS tuy nhiên mức độ vẫn chưa thường xuyên Một phần nhỏ các em HS lớp 10 chưa ý thức và tự giác cũng như hình thành và phát triển được năng lực tự học cho bản thân, GV cần hình thành, rèn luyện và bồi dưỡng Do vậy, việc xây dựng quy trình thiết kế, tổ chức các hoạt động học tập theo hướng tự học cho HS là phù hợp với yêu thực tiễn
Trang 30CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ TỔ CHỨC CHO HỌC SINH
TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT- SINH HỌC 10
2.1 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung phần sinh học vi sinh vật- sinh học
+ Rèn luyện kĩ năng tư duy thông qua phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, nêu và giải quyết được các vấn đề gặp phải trong học tập và thực tiễn đời sống
Trang 31+ Rèn luyện kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng tự học: lập bảng biểu, sơ đồ,
đồ thị, thu thập số liệu và xử lí thông tin; làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm; làm báo cáo; thuyết trình,…
- Về thái độ:
Sau khi học xong phần Sinh học vi sinh vật có thái độ đúng trong việc bảo vệ sức khỏe bản thân; tham gia tích cực trong các phong trào phòng chống các bệnh truyền nhiễm và tệ nạn xã hội,
2.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật - Sinh học 10
Nội dung phần ba Sinh học vi sinh vật gồm 12 bài, trong đó có 9 bài lí thuyết, 2 bài thực hành và 1 bài ôn tập Phần này, giới thiệu cho HS về những sinh vật có kích thước vô cùng nhỏ bé, phần lớn chỉ ở mức độ hiển vi nhưng cũng có vai trò quan trọng trong thế giới và đời sống con người
Chương II Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật (gồm 4 bài từ bài 25 đến bài 28)
Chương này đề cập đến sự sinh sản rất nhanh của vi sinh vật theo cấp số mũ, đặc điểm của sự sinh trưởng của vi sinh vật trong nuôi cấy liên tục và không liên tục, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vi sinh vật
Chương III Virus và bệnh truyền nhiễm (gồm 5 bài từ 29 -32 và bài 33 “Ôn tập phần sinh học Vi sinh vật")
Mặc dù virusvirus chưa có cấu tạo tế bào hoàn chỉnh và chưa có đầy đủ các đặc điểm đặc trưng của cơ thể sống nhưng virusvirus lại có vai trò đặc biệt quan trọng trong thế giới sống nói chung và đối với con người nói riêng nên virusvirus
Trang 32Nội dung chương III đề cập đến cấu trúc chung của virus, sự nhân lên của virus trong tế bào vật chủ Tiếp đến, giới thiệu phương thức truyền bệnh của virus cũng như ứng dụng của virus trong thực tiễn Và cuối cùng là giới thiệu về một số bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
Cấu trúc phần III được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt cấu trúc chương trình Sinh học vi sinh vật
2.2 Thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh phần Sinh học vi sinh vật- Sinh học 10
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh
Khi thiết kế hoạt động tự học, ngoài những nguyên tắc chung về việc xây dựng nội dung, cấu trúc chương trình, cần đặc biệt chú ý đến các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo mục tiêu dạy học: Mục tiêu dạy học là đích mà người dạy và
người học cần hướng tới, quyết định việc học tập của HS cũng như việc giảng dạy của GV Vì vậy, khi thiết kế các hoạt động học tập, GV xác định rõ mục tiêu dạy học cũng như lựa chọn các phương pháp dạy học, đánh giá trong các hoạt động học tập đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đó
- Đảm bảo rèn luyện được NL tự học cho HS: Khi thiết kế các hoạt động
học tập, GV định hướng các hoạt động học tập cho HS về cách tiếp cận kiến thức, các phương pháp học tập thích hợp từ đó HS có thể tự tìm tòi, khám phá tri thức, thực hiện nhiệm vụ, hình thành và phát triển NLTH
Trang 33- Các hoạt động kích thích được sự hứng thú, tính tích cực học tập của HS: Trong rèn luyện HS tự học thì đảm bảo kích thích được sự hứng thú và tính
tích cực học tập rất cần thiết để đưa người học vào các hoạt động Vì vậy, khi thiết
kế các hoạt động cho học sinh, cần xác định: không làm thay cho học sinh, phải tạo điều kiện để học sinh được học, các phương pháp học tập phải tích cực Nếu người thầy làm cho việc học dễ dàng thì học sinh sẽ mất đi sự cố gắng, tích cực Nhưng nếu thầy cứ để cho trò tự xoay sở, yêu cầu quá cao, dù học sinh có tích cực suy nghĩ, làm việc cũng không đạt được yêu cầu thì học sinh sẽ có cảm giác chán Vậy khi thiết kế các hoạt động học tập phải linh hoạt các phương pháp, tạo ra tình huống học tập sao cho hấp dẫn, vừa sức để học sinh thấy rõ nhiệm vụ của mình, hứng thú học tập và tích cực học tập
2.2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho học sinh
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn chúng tôi xác định quy trình thiết
kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho HS được tiến hành theo các bước sau:
Sơ đồ 2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo hướng tự học cho HS
- Cụ thể các bước như sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
GV phân tích mục tiêu về kiến thức, KN, thái độ và phát triển NL, chú trọng mục tiêu phát triển NLTH Trên cơ sở đó, xác định những nội dung có thể phát triển NLTH của HS
Bước 4: Thiết kế các công cụ đánh giá Bước 3: Thiết kế các HĐHT theo định hướng phát triển NLTH
Bước 2: Phân tích nội dung, xác định các HĐHT phát triển
NLTH
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Trang 34+ Bước 2: Phân tích nội dung, xác định các HĐHT phát triển NLTH
Phân tích nội dung của bài học nhằm xác định thành phần kiến thức, mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã biết của HS để thiết kế HĐHT sao cho phù hợp với NLTH của HS
+ Bước 3: Thiết kế các HĐHT theo định hướng phát triển NLTH
GV lựa chọn tư liệu và mã hóa tư liệu thành HĐHT trong dạy học, bao gồm các hoạt động như:
Lập kế hoạch học tập: Kế hoạch tự học là người học tự xây dựng một kế hoạch hợp lý, phù hợp với bản thân nhằm tối ưu hóa hoạt động học tập để đạt được mục tiêu học tập đã đề ra Trong kế hoạch tự học, người lập kế hoạch phải xác định rõ được nội dung tự học, mục tiêu cần đạt được đối với từng hoạt động, dự kiến được các tài liệu cần thiết, các hoạt động để học các nội dung, và các sản phẩm cần thiết kế Kế hoạch học tập phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, trong đó có tính đến những yếu tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch đã đề ra
Giải quyết vấn đề học tập: Là quá trình người học triển khai các hoạt động học tập dự kiến trong bản kế hoạch học tập thành các việc làm cụ thể Kết quả của quá trình giải quyết vấn đề học tập là học sinh phải tạo ra được các sản phẩm cụ thể đáp ứng được những yêu cầu về tự học
Trong hoạt động này, GV và HS cần:
Thu thập các tài liệu học tập: là các tranh ảnh, video, mẫu vật, liên quan đến nội dung bài học có thể tìm ở sách vở, thư viện, tìm bằng từ khóa trên internet
Xử lí thông tin: Trả lời các câu hỏi, thực hiện các nhiệm vụ học tập theo gợi
ý của GV hoặc các câu hỏi HS đã dự kiến
Thiết kế sản phẩm: HS có thể lập bảng, sơ đồ tư duy, làm báo cáo, thuyết trình, theo kế hoạch lập sẵn theo yêu cầu GV đưa ra
Báo cáo kết quả học tập: Ở bước này, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, đồng thời là người trọng tài, cố vấn cho hoạt động báo cáo sản phẩm
Trang 35và thảo luận của học sinh Học sinh tự thể hiện, báo cáo sản phẩm của mình trong nhóm hoặc trước lớp
Đánh giá kết quả học tập: Thông qua đánh giá (tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng) học sinh biết được NLTH của mình đang ở mức độ nào và quan trọng hơn là học sinh nhận ra được những tồn tại hạn chế của bản thân, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục hạn chế, điều chỉnh hoạt động tự học phù hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra Trong hoạt động này, GV thiết kế các tiêu chí đánh giá để cung cấp cho HS đánh giá hoặc HS tự thiết kế các tiêu chí để đánh giá kết quả và điều chỉnh việc học Ngoài ra còn đánh giá quá trình tự học và rút kinh nghiệm, điều chỉnh quá trình tự học trong các bài học tiếp theo
+ Bước 4: Thiết kế các công cụ đánh giá
Trong hoạt động này, GV thiết kế các tiêu chí đánh giá cả về kiến thức, kĩ năng và năng lực tự học để cung cấp cho HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau; hoặc
HS tự thiết kế các tiêu chí để đánh giá kết quả và điều chỉnh việc học, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh quá trình tự học trong các bài học tiếp theo
Ví dụ minh họa quy trình thiết kế hoạt động học tập theo hướng tự học cho
HS trong dạy học nội dung Bài 32: Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
- Lấy được ví dụ về biện pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm
B Kĩ năng
- Tìm kiếm tài liệu, lập bảng,xử lí thông tin, thảo luận nhóm, thuyết trình
Trang 36C Thái độ
- Có ý thức tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh cho bản thân và xã hội
- Có ý thức bảo vệ sức khỏe, tránh các bệnh do virus gây nên
Hoạt động 1: Tìm hiểu về các bệnh truyền nhiễm
Hoạt động này, HS tìm hiểu về bệnh truyền nhiễm: khái niệm, tác nhân gây bệnh, điều kiện gây bệnh, phương thức lây nhiễm Trong đó nội dung chủ yếu là giới thiệu về bệnh truyền nhiễm đã gặp Trong hoạt động này có thể thiết kế hoạt động phát triển năng lực tự học, đó là học sinh có thể tự tìm hiểu về các bệnh truyền nhiễm, tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm của bệnh, phương thức lây truyền, biện pháp phòng tránh
Hoạt động 2: Tìm hiểu về miễn dịch
Ở hoạt động này, học sinh tự tìm hiểu về miễn dịch, phân biệt miễn dịch đặc hiệu và miễn dịch không đặc hiệu, miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào
+ Bước 3: Thiết kế các HĐHT theo định hướng phát triển NLTH
Cả 2 hoạt động học tập đều có thể thiết kế theo định hướng phát triển năng lực tự học Cụ thể như sau:
- Hoạt động 1: Tìm hiểu các bệnh truyền nhiễm:
Trong hoạt động này, học sinh tự nghiên cứu nội dung sách giáo khoa và tìm hiểu nội dung theo hướng dẫn của giáo viên
GV sử dụng kĩ thuật mảnh ghép, kết hợp khăn trải bàn để tổ chức HS hoạt động
Bước 1: Hoạt động của nhóm chuyên gia
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, tìm hiểu 4 bệnh truyền nhiễm thường gặp hiện nay đó là:
Nhóm 1: Tìm hiểu bệnh viêm đường hô hấp cấp (COVID-19)
Trang 37Bước 2: Thành lập nhóm mảnh ghép
Mỗi nhóm gồm 4 người được lấy từ 4 nhóm chuyên gia Thực hiện nhiệm vụ: Mỗi HS báo cáo lại kết quả bước 1, sau đó thảo luận về nhiệm vụ bước 2
+ Nêu khái niệm bệnh truyền nhiễm và các nguyên nhân gây bệnh
+ Phân tích các phương thức lây truyền bệnh
+ Trình bày một số biện pháp phòng tránh bệnh truyền nhiễm
Bước 3: Đại diện các nhóm chia sẻ kết quả học tập trước toàn lớp
Bước 4: HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Bước 5: GV đánh giá và chốt kiến thức
- Hoạt động 2: Tìm hiểu về miễn dịch
Sử dụng kĩ thuật think – pair – share
- Bước 1: HS tự đọc tài liệu và thực hiện nhiệm vụ
+ Nêu khái niệm miễn dịch
+ Lập bảng so sánh miễn dịch đặc hiệu, miễn dịch không đặc hiệu; miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào
- Bước 2: HS chia sẻ, trao đổi cùng với bạn bên cạnh
- Bước 3: Đại diện các cặp đôi chia sẻ kết quả học tập trước toàn lớp
- Bước 4: HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
- Bước 5: GV đánh giá và chốt kiến thức
- Hoạt động 3: Luyện tập và vận dụng
Corona là một họ virus lớn Trước kia đã từng gây hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) và hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS) Hiện tại chủng virus corona gây dịch tại Vũ Hán (2019-nCoV) là một chủng mới chưa từng xuất hiện
Trang 38Virus này ban đầu xuất hiện từ nguồn động vật nhưng có khả năng lây lan từ người sang người Khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ gây ra hội chứng viêm đường
hô hấp cấp, dẫn đến suy hô hấp, thậm chí tử vong Đối với nhưng người bị nhiễm phải virus Corona, thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 5 đến 7 ngày
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố sự bùng phát chủng virus corona mới (2019-nCoV) là "tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu" Tính đến ngày 2 tháng 3 năm 2020, dịch bệnh đã lây lan sang 71 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 89.835 trường hợp được xác nhận trên toàn thế giới, 3.061 trường hợp tử vong và 45.604 hồi phục
Chủng mới của virus Corona (Covid 19) lây truyền qua 4 con đường chính:
Lây qua tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh
Lây trực tiếp khi tiếp xúc với người bệnh như bắt tay
Lây truyền gián tiếp: Lây nhiễm khi chúng ta vô tình chạm vào các bề mặt có chứa virus, sau đó đưa lên mắt, mũi, miệng và nhiễm bệnh
Lây nhiễm qua đường phân: Những người chăm sóc bệnh nhân có thể bị phơi nhiễm virus khi xử lý các chất thải của người bệnh nhiễm virus Hãy đọc đoạn thông tin ở trên và trả lời các câu hỏi sau:
1 Hãy dựa vào một số tiêu chí trên đoạn thông tin trên để chứng minh bệnh do chủng mới của virus Corona đã gây đã gây ra “đại dịch” trên toàn thế giới
2 Đoạn thông tin trên cho biết “Đối với những người bị nhiễm phải virus Corona, thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 5 đến 7 ngày” Hãy giải thích thuật ngữ “thời gian ủ bệnh”?
3 Bệnh do virus Corona lây truyền bệnh qua những con đường nào?
4 Thế nào là bệnh truyền nhiễm? Vi sinh vật gây bệnh có thể lây truyền theo các con đường nào?
5 Ngoài bệnh do chủng mới của virus Corona gây ra, hãy kể thêm một số bệnh truyền nhiễm do virus gây nên và cho biết phương thức lây truyền bệnh?
+ Bước 4: Thiết kế các công cụ đánh giá
- Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học
Trang 39Nhiệm vụ 1: Trình bày nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm của bệnh, phương thức lây truyền, biện pháp phòng tránh
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học về bệnh truyền nhiễm
đa
Nhóm khác chấm
GV chấm
- Trình bày được nguyên nhân gây bệnh
(bệnh viêm đường hô hấp cấp, bệnh sởi, bệnh
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm tự học miễn dịch
đa
Nhóm bạn chấm GV chấm
1 Nêu được khái niệm miễn dịch 2
2 Lập được bảng so sánh miễn dịch đặc
hiệu và miễn dịch không đặc hiệu về đầy
đủ các tiêu chí: Điều kiện để có miễn dịch,
cơ chế tác động, tính đặc hiệu
3
3 Lập được bảng so sánh miễn dịch đặc
hiệu và miễn dịch không đặc hiệu về đầy
đủ các tiêu chí: Phương thức miễn dịch, cơ
chế tác động
3
Trang 40- Hoàn thành mọi công việc luôn đúng thời hạn
- Luôn đúng giờ trong các cuộc họp nhóm
- Tham gia đầy
đủ các buổi họp nhóm
- Thường đúng giờ trong các buổi họp nhóm
- Tham gia không đầy đủ các buổi họp nhóm
- Đôi khi đến muộn trong các buổi họp
- Tham gia không đầy đủ các buổi họp nhóm
- Thường xuyên đến muộn trong các cuộc họp nhóm
- Tích cực đóng
góp ý kiến
- Những ý tưởng đưa ra có tính khả thi
- Tích cực đóng góp ý kiến nhưng chưa có tính khả thi cao
- Ít đóng góp ý kiến và không
- Đầy đủ các nội dung được giao và đạt chất lượng tốt, khoa học, sáng tạo
- Nộp bài đúng hạn
- Đầy đủ các nội dung được giao và đạt chất lượng
- Nộp bài đúng hạn
- Đầy đủ các nội dung được giao nhưng còn phải sửa một số chỗ
- Nộp bài không đúng thời hạn
- Nội dung chưa đầy đủ và phải chỉnh sửa nhiều