1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng nông lâm kết hợp

96 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Nông Lâm Kết Hợp
Tác giả Lê Thị Hương Giang
Trường học Trường Đại Học Quảng Bình
Chuyên ngành Nông Lâm Kết Hợp
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU (5)
    • 1.1. Các vấn đề trong phát triển nông thôn miền núi (5)
      • 1.1.1. Tính đa dạng về sinh thái- nhân văn của khu vực nông thôn và miền núi (5)
      • 1.1.2. Những thay đổi tác động đến phát triển bền vững nông thôn miền núi (5)
      • 1.1.3. Những thách thức đối với phát triển bền vững nông thôn miền núi (8)
    • 1.2. PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM KẾT HỢP LÀ PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG (9)
      • 1.2.1. Lược sử hình thành và phát triển nông lâm kết hợp (9)
      • 1.2.2. Lợi ích của các hệ thống nông lâm kết hợp (14)
      • 1.2.3. Tiềm năng và triển vọng phát triển nông lâm kết hợp ở Việt Nam (16)
      • 1.2.4. Một số hạn chế trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp ở Việt nam (16)
  • CHƯƠNG 2 (19)
    • 2.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP (19)
      • 2.1.1. Các khái niệm về nông lâm kết hợp (19)
      • 2.1.2. Các đặc điểm của nông lâm kết hợp (20)
      • 2.1.3. Vai trò của nông lâm kết hợp (22)
      • 2.1.4. Quan hệ giữa nông lâm kết hợp và lâm nghiệp xã hội (22)
    • 2.2. PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP (23)
      • 2.2.1. Quan điểm và nguyên tắc để phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp (23)
      • 2.2.2. Phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp (24)
    • 2.3. VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN CÂY LÂU NĂM TRONG CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP (26)
      • 2.3.1. Chức năng phòng hộ của cây lâu năm (26)
      • 2.3.2. Chức năng sản xuất của cây lâu năm (28)
    • 2.4. RỪNG TRONG CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP (29)
      • 2.4.1. Vai trò bảo vệ sinh thái của rừng (29)
      • 2.4.2. Vai trò kinh tế, văn hoá và xã hội của rừng (31)
  • CHƯƠNG 3 (32)
    • 3.1.1. Khái niệm (32)
    • 3.1.2. Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống đặc trưng (32)
      • 3.1.2.1. Hệ thống canh tác nương rẫy (32)
      • 3.1.2.3. Vườn hộ truyền thống (35)
      • 3.1.2.3. Vườn rừng (35)
      • 3.1.2.4. Vườn cây công nghiệp (37)
      • 3.1.2.5. Vườn cây ăn quả (38)
      • 3.1.2.6. Hệ thống Vườn - Ao - Chuồng (VAC) (39)
      • 3.1.2.7. Hệ thống Rừng vườn ao chuồng (40)
    • 3.2. CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP CẢI TIẾN (41)
      • 3.2.1. Giới thiệu về các hệ thống NLKH cải tiến (41)
      • 3.2.2. Các hệ thống NLKH cải tiến (42)
        • 3.2.2.1. Hệ thống canh tác xen theo băng (42)
        • 3.2.2.2. Trồng cây ranh giới/hàng rào xanh (48)
        • 3.2.2.3. Hệ thống đai phòng hộ chắn gió (49)
        • 3.2.2.4. Hệ thống rừng và đồng cỏ phối hợp (50)
        • 3.2.2.5. Hệ thống Taungya (51)
        • 3.2.2.6. Hệ thống lâm ngư kết hợp (52)
        • 3.2.2.7. Các hệ thống NLKH trên đất cát ven biển (53)
  • CHƯƠNG 4 (55)
    • 4.1. KỸ THUẬT BẢO TỒN ĐẤT VÀ NƯỚC (55)
      • 4.1.1. Sự cần thiết của việc bảo tồn đất và nước (55)
      • 4.1.2. Xói mòn và các yếu tố chi phối đến xói mòn đất (55)
      • 4.1.3. Các nhóm biện pháp kỹ thuật bảo tồn đất và nước (57)
      • 4.1.4. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát xói mòn (58)
    • 4.2. CÁC KỸ THUẬT ÁP DỤNG TRONG TRANG TRẠI NHỎ NÔNG LÂM KẾT HỢP . 69 1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại (69)
      • 4.2.2. Quản lý trang trại NLKH (70)
        • 4.2.2.1. Quản lý các nguồn tài nguyên trong trang trại NLKH (70)
        • 4.2.2.2. Quản trị trang trại Nông lâm kết hợp (72)
        • 4.2.2.3. Kỹ thuật quản lý trang trại giúp tăng cường bảo vệ đất và nước (73)
        • 4.2.2.4. Kiểm soát lửa rừng trong trang trại Nông lâm kết hợp (74)
        • 4.2.4.5. Quản lý dịch bệnh tổng hợp trong trang trại Nông lâm kết hợp (IPM) (75)
  • CHƯƠNG 5. PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM KẾT HỢP VÀ VẤN ĐỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM (76)
    • 5.1. QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT NÔNG LÂM KẾT HỢP CÓ SỰ THAM GIA (76)
      • 5.1.1. Tính cấp thiết của phát triển kỹ thuật nông lâm kết hợp có sự tham gia (76)
      • 5.2.1. Khái niệm (80)
      • 5.2.2. Các bước tiến hành mô tả điểm, chẩn đoán và thiết kế (80)
    • 5.3. THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU NÔNG LÂM KẾT HỢP CÓ SỰ (83)
      • 5.3.1. Các giai đoạn phát triển kỹ thuật nông lâm kết hợp có sự tham gia (83)
      • 5.3.2. Các tiêu chí, chỉ báo trong giám sát và đánh giá kỹ thuật nông lâm kết hợp (86)
    • 5.4. ĐÁNH GIÁ CÁC HỆ THỐNG NLKH (87)
      • 5.4.1. Đánh giá hiệu quả về sử dụng đất và hiệu quả kinh tế (87)
      • 5.4.2. Đánh giá hiệu quả về bảo vệ sinh thái, môi trường (88)
      • 5.4.3. Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội (89)
    • 5.5. THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CÁC SẢN PHẨM NÔNG LÂM KẾT HỢP (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (96)

Nội dung

KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP

Nông lâm kết hợp, một lĩnh vực khoa học mới được King đề xuất vào thập niên 1960, đã trải qua nhiều năm phát triển với nhiều khái niệm khác nhau nhằm nâng cao hiểu biết về nó Các khái niệm này tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng cho đến ngày nay.

Nông lâm kết hợp là một phương pháp quản lý đất bền vững, giúp nâng cao năng suất tổng thể của đất đai Hệ thống này kết hợp sản xuất với các loại hoa màu, cây trồng lâu năm, cây rừng và gia súc, thực hiện đồng thời hoặc theo chu kỳ trên cùng một diện tích đất Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương là rất quan trọng trong mô hình này.

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai hiệu quả, trong đó sản phẩm từ rừng và nông nghiệp được sản xuất đồng thời hoặc kế tiếp nhau trên cùng một diện tích đất, nhằm mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng địa phương (PCARRD, 1979).

Nông lâm kết hợp là hệ thống đất nơi cây lâu năm như cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, cây ăn quả và cây công nghiệp được trồng có kế hoạch, kết hợp với hoa màu và/hoặc vật nuôi theo không gian hoặc thời gian Hệ thống này tạo ra sự tương tác tích cực về mặt sinh thái và kinh tế giữa các thành phần, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất hiệu quả, kết hợp cây lâu năm, cây hoa màu và vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái và xã hội Hệ thống này tối ưu hóa sự phối hợp không gian và thời gian, nhằm gia tăng sản lượng tổng thể của thực vật và vật nuôi một cách bền vững trên mỗi đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các khu vực có kỹ thuật thấp và điều kiện đất đai khó khăn.

Nông lâm kết hợp được xem là một kỹ thuật và khoa học phát triển thành một ngành nghề, tập trung vào việc sử dụng đất bền vững thông qua quản lý tài nguyên tự nhiên đa dạng Leaky (1996) định nghĩa nông lâm kết hợp là hệ thống quản lý tài nguyên dựa trên đặc tính sinh thái, nhằm gia tăng lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường cho các trang trại nhỏ Năm 1997, ICRAF mở rộng khái niệm này, coi nông lâm kết hợp là hệ thống sử dụng đất trong nông trại, nhấn mạnh sự phối hợp cây trồng lâu năm để nâng cao tính đa dạng và bền vững trong sản xuất ICRAF định nghĩa nông lâm kết hợp đơn giản là việc trồng cây trên trang trại, với mục tiêu tạo ra một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động, từ đó gia tăng lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở nhiều cấp độ khác nhau.

2.1.2 Các đặc điểm của nông lâm kết hợp a Các đặc điểm nhận biết hệ thống nông lâm kết hợp

Với định nghĩa trên của ICRAF, một hệ canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp có các đặc điểm sau đây:

Kỹ thuật nông lâm là phương pháp canh tác kết hợp hai hoặc nhiều loại thực vật, hoặc giữa thực vật và động vật, trong đó ít nhất phải có một loài cây trồng lâu năm.

- Có ít nhất hai hay nhiều sản phẩm từ hệ thống

- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn một năm

- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc canh

- Cần phải có một mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa thành phần cây lâu năm và thành phần khác

Hệ thống nông lâm kết hợp đặc trưng bởi mối quan hệ tương hỗ về sinh thái và kinh tế giữa các thành phần trong hệ thống Những đặc điểm chính của hệ thống này bao gồm sự liên kết chặt chẽ giữa nông nghiệp và lâm nghiệp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên và tăng cường bền vững.

Theo Nair (1987), các đặc điểm mấu chốt của nông lâm kết hợp đã được đa số các nhà khoa học chấp nhận như sau:

Hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng cây lâu năm kết hợp với hoa màu và gia súc trên cùng một đơn vị diện tích.

- Phối hợp giữa sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn các nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống

- Chú trọng sử dụng các loại cây địa phương (bản địa), đa dụng

- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hoá và đầu tư thấp

- Nó quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội so với các hệ thống sử dụng đất khác

- Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú và đa dạng hơn so với canh tác độc canh

Nông lâm kết hợp, thông qua sự phối hợp có suy tính giữa các thành phần khác nhau, đã mang lại cho các hệ thống sản xuất nông nghiệp những lợi ích quan trọng.

- Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững

- Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất

Sắp xếp hoa màu canh tác hợp lý với các thành phần cây lâu năm, hoa màu và vật nuôi theo không gian và thời gian trên cùng một diện tích đất là rất quan trọng Việc này không chỉ tối ưu hóa năng suất mà còn giúp duy trì sự cân bằng sinh thái và tăng cường hiệu quả sử dụng đất.

Đóng góp cho sự phát triển bền vững của các cộng đồng dân cư cần chú trọng đến các yếu tố dân sinh, kinh tế và môi trường, đồng thời phải phù hợp với các đặc điểm văn hóa và xã hội của địa phương.

- Kỹ thuật của nó mang đậm nét bảo tồn sinh thái môi trường c Đặc điểm của hệ thống nông lâm kết hợp được xem là phù hợp

* Có sức sản xuất cao

Sản xuất mang lại nhiều lợi ích trực tiếp, bao gồm lương thực, thức ăn gia súc, chất đốt, sợi, gỗ cho cột và xây dựng Ngoài ra, còn có các sản phẩm khác như chai, mũ, nhựa, dầu thực vật và thuốc trị bệnh thực vật.

Sản xuất các lợi ích gián tiếp như bảo tồn đất và nước, cải thiện độ phì của đất thông qua việc sử dụng phân hữu cơ và phân xanh, cũng như bơm dưỡng chất từ tầng đất sâu, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn đất Ngoài ra, việc cải thiện điều kiện tiểu khí hậu thông qua các biện pháp như trồng hàng cây xanh và sử dụng băng phòng hộ cũng góp phần bảo vệ môi trường.

- Áp dụng các chiến thuật bảo tồn đất và nước để đảm bảo sức sản xuất lâu dài

Để đảm bảo nông dân tự cung tự cấp tiếp nhận hiệu quả các kỹ thuật bảo tồn, cần có sự hỗ trợ kỹ thuật chuyển giao Những hình thức hỗ trợ này bao gồm quyền sử dụng đất, canh tác bền vững, cùng với các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và tín dụng.

* Mức độ chấp nhận của nông dân

- Kỹ thuật phải phù hợp với văn hoá/chấp nhận được (tương thích với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nông dân)

PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP

2.2.1 Quan điểm và nguyên tắc để phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới, phát triển dựa trên hiểu biết và nghiên cứu tại từng vùng để tạo ra các hệ thống nông lâm đa dạng Nair (1989) đã tổng hợp các đặc điểm và nguyên tắc phân loại mô hình nông lâm, bao gồm: cấu trúc thành phần, sự phối hợp không gian và thời gian của cây gỗ; chức năng chính của các thành phần, như sản xuất thực phẩm và bảo vệ đất; điều kiện sinh thái, với sự thích hợp của các hệ thống cho từng vùng sinh thái khác nhau; và các yếu tố kinh tế xã hội, dựa trên mức độ đầu tư và mục đích thương mại của quản lý nông trại.

Các nguyên tắc phân loại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nguyên tắc dựa vào cấu trúc tầng và chức năng thường là cơ sở để phân chia hệ thống Đồng thời, các nguyên tắc như dân sinh kinh tế và vùng sinh thái được áp dụng để phân nhóm theo mục đích cụ thể.

2.2.1.1 Phân loại theo cấu trúc của hệ thống

Dựa trên tính chất của các thành phần nông lâm kết hợp

Hệ thống nông lâm điển hình bao gồm ba thành phần chính: cây lâu năm, cây nông nghiệp ngắn ngày và vật nuôi Sự kết hợp giữa cây lâu năm và hoa màu tạo ra một phương thức canh tác hiệu quả, tối ưu hóa nguồn tài nguyên và tăng cường sự bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

Phương thức kết hợp cây lâu năm, đồng cỏ và gia súc

Phương thức kết hợp hoa màu, đồng cỏ, gia súc và cây lâu năm

Dựa trên sự sắp xếp của các thành phần

+ Hệ thống hỗn giao dày (thí dụ như hệ thống vườn nhà)

+ Hệ thống hỗn giao thưa (như hệ thống cây trên đồng cỏ)

+ Hệ thống xen theo vùng hay băng (canh tác xen theo băng)

+ Song hành cả đời sống

+ Song hành giai đoạn đầu

+ Trùng nhau một giai đoạn

+ Trùng nhau nhiều giai đoạn

2.2.1.2 Phân loại theo chức năng của hệ thống

Các hệ thống nông lâm kết hợp có thể có các chức năng sau:

1 Sản xuất (sản xuất một hay nhiều sản phẩm để tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá)

2 Phòng hộ (để che chắn và bảo vệ các hệ thống sản xuất khác)

3 Kết hợp giữa sản xuất và phòng hộ

2.2.1.3 Phân loại theo vùng sinh thái

Các hệ thống nông lâm kết hợp có thể phân chia theo từng vùng sinh thái khác nhau, với cấu trúc và sắp xếp thành phần tương tự nhưng phân loại khác nhau Điều này phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái như vùng đồi núi, vùng cao, vùng thấp, vùng khô và vùng ngập nước, cũng như khí hậu và đất đai khác nhau Ví dụ, hệ thống VAC phát triển rộng rãi ở Việt Nam nhưng có sự khác biệt giữa các vùng núi, đồng bằng, miền Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long.

2.2.1.4 Phân nhóm theo điều kiện dân sinh kinh tế xã hội

Hệ thống nông lâm kết hợp còn được phân chia theo tình trạng và mục tiêu của sản xuất như:

- Sản xuất hàng hoá: Khi mà hệ thống cho đầu ra là các sản phẩm khác để bán ra thị trường để lấy lãi

Tự cung tự cấp là khi hệ thống sử dụng đất sản xuất cung cấp các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu gia đình, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm cho các nông hộ.

- Trung gian cả hai thứ: Hệ thống sản xuất để thoã mãn cả nhu cầu tại chỗ của nông hộ và sản xuất hàng hoá cho thị trường

Các yếu tố dân sinh xã hội và văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các hệ thống kỹ thuật nông lâm kết hợp Tại những khu vực có điều kiện tự nhiên và sinh thái tương đồng, kỹ thuật như VAC có thể được áp dụng khác nhau tùy thuộc vào tình trạng kinh tế của nông hộ (giàu, trung bình hay nghèo) và sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc (như dân tộc thiểu số, người Kinh ở đồng bằng, và người di cư từ các vùng khác).

2.2.2 Phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp

Các biện pháp phân loại các hệ thống và kỹ thuật nông lâm kết hợp ở phạm vi thế giới

Phân cấp các hệ thống

(Đặt cơ sở trên cấu tạo và chức năng của chúng)

Chia nhóm các hệ thống dựa trên phạm vi và cách quản trị, đồng thời xem xét cấu tạo và tính chất sắp xếp của các thành phần, đặc biệt là đối với cây gỗ.

Chức năng (nhiệm vụ hay các xuất phẩm của các thành phần)

Sự thích nghi với điêu kiện sinh thái nông nghiệp

Mức độ quản lý và dân sinh kinh tế

Tính chất các thành phần

Sắp xếp các thành phần

(phối hợp hoa màu và cây bụi đa niên)

- Hệ lâm và đồng cỏ

(phối hợp đồng cỏ chăn nuôi và cây lâu năm)

- Hệ nông, lâm và đồng cỏ ( phối hợp cây hoa màu, cây lâu năm và đồng cỏ chăn nuôi)

( nuôi Ong với cây và hoa màu, kết hợp thuỷ sản và trồng rừng ngập mặn, phèn)

HT hỗn giao dày (vườn hộ)

HT hỗn giao thưa là các hệ thống cây trồng trong đồng cỏ chăn thả, giúp tăng cường sự đa dạng sinh học Băng, với chiều rộng bao gồm nhiều hơn một loài cây, đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng đất và hỗ trợ hệ sinh thái Việc trồng cây làm ranh giới không chỉ tạo ra hàng rào tự nhiên mà còn bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đồng cỏ.

Trùng nhau Chồng lên Cách đoạn phân biệt Xen vào

Lương thực Thức ăn gia súc

Gỗ chất đốt Các loại gỗ khác Các loại sản phẩm khác

Đai cản gió và đai phòng hộ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và duy trì độ ẩm, đồng thời góp phần cải tạo đất hiệu quả Chúng cũng giúp che bóng cho hoa màu, gia súc và con người, tạo ra một môi trường sống và sản xuất bền vững.

Vùng đồng bằng nhiệt đới ẩm Vùng cao nguyên nhiệt đới ẩm (cao hơn 1.200m so với mực nước biển)

Vùng đồng bằng nhiệt đới bán ẩm Vùng cao nguyên nhiệt đới bán ẩm

Căn cứ vào mức độ đầu tư kỹ thuật Đầu tư ít (quảng canh) Đầu tư trung bình Đầu tư nhiều

Căn cứ vào tỷ lệ chi phí/lợi nhuận

Sản xuất hàng hoá Sản xuất tự túc Sản xuất cả hai

VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN CÂY LÂU NĂM TRONG CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP

2.3.1 Chức năng phòng hộ của cây lâu năm

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng rừng ẩm nhiệt đới là thảm thực vật lý tưởng cho đất vùng nhiệt đới, đặc biệt là trên đất dốc Mặc dù các hệ thống nông lâm kết hợp không thể hoàn toàn thay thế rừng tự nhiên về mặt bảo vệ sinh thái, việc trồng cây lâu năm trong các hệ thống này sẽ cải thiện đáng kể khả năng bảo vệ của các nông trại ở vùng núi.

Chức năng phục hồi và lưu giữ độ phì của đất

Kỹ thuật nông lâm kết hợp nổi bật với khả năng của cây trồng lâu năm trong việc lưu giữ và phục hồi độ phì nhiêu của đất Điều này ảnh hưởng tích cực đến các tính chất lý, hóa của đất và chu trình chất dinh dưỡng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp bền vững.

Cây lâu năm có tác động tích cực đến lý tính của đất, giúp phát triển cấu trúc ổn định và khả năng giữ nước tốt nhờ vào chất hữu cơ từ vật rơi rụng và rễ mục (Young, 1987) Theo Nair (1987), việc trồng cây lâu năm trong nông trại cải thiện đáng kể lý tính đất, bao gồm độ thấm nước, khả năng giữ nước, cấu trúc và chế độ nhiệt.

Để cải thiện đất, cây lâu năm cần thời gian tác động lâu dài, và cần nhiều thí nghiệm hơn để chứng minh ảnh hưởng của chúng trong hệ thống nông lâm kết hợp Mặc dù còn thiếu chứng cứ rõ ràng, các bằng chứng gián tiếp cho thấy sự gia tăng chất hữu cơ trong đất đã dẫn đến giả thuyết rằng cây lâu năm có khả năng cải thiện sức sản xuất của đất trong các hệ thống này.

Anh hưởng đến hoá tính của đất

Giữ chất hữu cơ trong đất

Cây lâu năm đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng và duy trì hàm lượng chất hữu cơ trong đất, điều này được khẳng định bởi Young (1986) Sự gia tăng chất hữu cơ là nền tảng cho việc cải thiện độ phì nhiêu trong kỹ thuật nông lâm kết hợp (Avery, 1988) Hiện tượng này chủ yếu do lượng vật rụng từ cây và sự phân hủy của hệ rễ cây dưới đất (Young, 1987) Một nghiên cứu của Kellman (1979) tại vùng trảng khô Savanna ở Belize đã chứng minh ảnh hưởng tích cực của cây lâu năm đối với tính chất hóa học của đất Litisols bị phong hóa mạnh và thiếu dinh dưỡng.

Cây họ Đậu đóng vai trò quan trọng trong việc cố định đạm và tăng cường chất dinh dưỡng cho đất Cây lâu năm, thông qua vật rụng của chúng, đã hoàn trả các chất dinh dưỡng vào đất (Nair, 1984) Các thí nghiệm so sánh giữa đất dưới rừng cây Byrsohima sp và đất ở rừng trảng bụi cho thấy rằng đất dưới rừng cây có hàm lượng các chất Ca, K, Na và phần trăm lượng bazơ cao hơn nhờ vào sự đóng góp của vật rụng Kellman (1978) cũng đã chứng minh rằng các dinh dưỡng như Ca, Mg, K, Na, PO4 và N gia tăng ở đất dưới tán rừng so với các vùng trống trải xung quanh.

(1969) cũng đã có kết quả về tổng số N, P, và K cao hơn ở dưới tán cây so với các vùng đất trống

Jou và Lai (1977) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống hưu canh với cây Keo dậu so với cây bụi hoang dã trên đất Alfisol ở Tây Nêgria Sau 3 năm, cây Keo dậu được cắt xén hàng năm để làm chất tủ và cải thiện đất Kết quả cho thấy, đất hữu canh với cây Keo dậu có khả năng hoán chuyển và mức độ trao đổi các ion Ca++ và K+ cao hơn so với đất hưu canh với cây cỏ bụi hoang dã.

Cây lâu năm có khả năng bổ sung dinh dưỡng cho đất thông qua nhiều cơ chế, trong đó đáng chú ý là sự cố định đạm của cây họ Đậu và mối quan hệ cộng sinh với nấm Mycorrhizac ở rễ cây (Young, 1987).

Kỹ thuật nông lâm kết hợp giúp cải thiện chu trình chất dinh dưỡng nhờ hiện tượng cộng sinh giữa vi khuẩn Rhizobium và rễ cây họ Đậu, cho phép bơm chất dinh dưỡng từ tầng sâu lên mặt đất và sản xuất phân xanh Việc sử dụng cây cố định đạm họ Đậu và cơ chế "bơm" dinh dưỡng từ cây lâu năm là những yếu tố quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình chuyển hoá chất dinh dưỡng Cây họ Đậu không chỉ giúp tăng độ phì của đất mà còn cố định đạm tự do thành đạm hữu hiệu, tạo ra sinh khối thực vật, và khi phân huỷ, chúng sẽ trở lại với đất qua vật rơi rụng và rễ cây.

Hiện tượng "bơm chất dinh dưỡng lên tầng trên" diễn ra khi cây có hệ rễ sâu hấp thu chất dinh dưỡng bị rửa trôi xuống tầng đất sâu và chuyển hóa chúng thành dạng hữu hiệu cho các loài hoa màu có rễ nông thông qua vật rơi rụng Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào giải thích hiện tượng này một cách khoa học.

Chức năng ngăn chặn xói mòn đất và cải thiện bảo tồn nước

Bảo tồn đất và nước là vấn đề quan trọng tại vùng cao Việt Nam và các quốc gia nhiệt đới khác Cây cối đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn, điều này khiến cây lâu năm trở thành lựa chọn phổ biến trong nông nghiệp Nghiên cứu cho thấy, các khu vực có tán cây che phủ giúp giảm đáng kể lượng xói mòn và nước chảy trên bề mặt so với các diện tích canh tác không có cây.

Chức năng cải tạo tiểu khí hậu và đất đai phù hợp cho đất xen canh

Cây có khả năng cải thiện điều kiện khí hậu và đất đai thông qua việc che chắn tán cây, giảm bốc hơi nước, cung cấp chất hữu cơ cho đất và cải thiện độ thấm nước Do đó, cây thường được trồng để tạo bóng mát, giúp các loại hoa màu và cây trồng khác phát triển tốt hơn.

Vận tốc gió cao có thể gây hại cho hoa màu, không chỉ gây thiệt hại cơ giới mà còn làm tăng bốc hơi, dẫn đến tình trạng thiếu nước cho cây, đặc biệt ở những vùng khô Để giảm thiểu tác động của gió mạnh, việc sử dụng các đai chắn gió là cần thiết.

Chức năng làm hàng rào sống Ở các vùng nông thôn, cây thường được trồng xung quanh nông trại, vườn nhà để ngăn chặn gia súc phá hại

2.3.2 Chức năng sản xuất của cây lâu năm a Cây lâu năm cung cấp các sản phẩm cho công nghiệp

Cây lâu năm không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sinh thái môi trường trong hệ thống nông lâm kết hợp, mà còn cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao cho ngành công nghiệp như gỗ xẻ, gỗ làm bột giấy, nhựa, mũ và thuốc chữa bệnh sinh học Ngoài ra, cây lâu năm còn cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người và gia súc, cùng với các sản phẩm khác.

Cây lâu năm không chỉ cung cấp sản phẩm cho ngành công nghiệp mà còn mang lại nhiều sản phẩm thiết yếu cho nông dân, bao gồm các loại quả ăn được, lá cây dùng làm thức ăn cho gia súc, thuốc nhuộm và củi.

Hình 3: Mô tả chu trình hoàn trả chất dinh dưỡng và khả năng kiểm soátt chống xói mòn trong hệ thống trồng xen theo băng Kang và Wilson (1987)

RỪNG TRONG CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP

2.4.1 Vai trò bảo vệ sinh thái của rừng a Sự mô phỏng cấu trúc và vai trò của rừng tự nhiên

Một nghiên cứu của Olofson (1993) về nông lâm kết hợp tại Philippines đã giới thiệu khái niệm "cấu tạo mô phỏng thay thế rừng tự nhiên" (AFS: alternative Forest-like Structure) Cấu tạo này đại diện cho các hệ thống nông lâm mô phỏng cấu trúc của rừng tự nhiên, với những đặc điểm riêng biệt mà nghiên cứu đã chỉ ra.

- Chỉ tiêu đa dạng sinh học cao

- Chu trình dinh dưỡng kín và nhanh

- Diễn thế tự nhiên theo từng đám

- Có sự cộng hưởng giữa các hệ thống “nông lâm giống rừng tự nhiên” với các hệ sinh thái rừng tự nhiên xung quanh

Hệ thống lô rừng nhỏ ở Philippines là ví dụ tiêu biểu cho sự đa dạng sinh học, nơi cây gỗ, tre, mây và cây thuốc được trồng chung, thậm chí đa dạng hơn cả rừng tự nhiên Kỹ thuật này cố gắng mô phỏng các đặc tính của rừng tự nhiên, nổi bật với tính bền vững nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau và khả năng thích ứng Hệ thống này thường xen kẽ với các hệ sinh thái rừng tự nhiên và các mô hình canh tác nông lâm Hơn nữa, việc áp dụng các nghiên cứu về rừng có thể làm cơ sở khoa học để phát triển kỹ thuật nông lâm kết hợp, trong đó các tập đoàn thực vật sống hỗ trợ lẫn nhau.

Nghiên cứu năm 1987 đã chỉ ra rằng rừng mưa nhiệt đới đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống nông lâm kết hợp bền vững, đặc biệt là các hệ thống nhiều tầng Bên cạnh đó, rừng mưa còn góp phần tái tạo độ phì nhiêu của đất, giúp duy trì sự bền vững của môi trường nông nghiệp.

Hệ thống hưu canh ( bỏ hoá)

Canh tác nương rẫy là một hình thức nông lâm kết hợp lâu đời, được coi là bền vững trong việc sử dụng đất Hệ thống này cho phép đất được bỏ hoá để phục hồi rừng sau một thời gian canh tác hoa màu, nhằm tái tạo độ phì của đất Cuối giai đoạn hưu canh, rừng lại được phát và đốt để tăng cường lượng phân tro trong đất và giảm công làm cỏ Do đó, vai trò chính của rừng tự nhiên trong hệ thống hưu canh là tái tạo độ phì và sức sản xuất của đất.

Sử dụng vật rơi rụng từ rừng để bón đất nông trại là một tập quán phổ biến ở Việt Nam và một số quốc gia khác, giúp nông dân cải thiện đất ruộng hàng năm Tuy nhiên, việc này cũng có thể dẫn đến kiệt quệ đất rừng do phá vỡ chu trình dinh dưỡng tự nhiên Tại Tây Guatemala và Mexico, nông dân áp dụng kỹ thuật tương tự để chuyển hóa rừng thành ruộng, trong đó vật rơi rụng được rải và vùi vào đất, không chỉ cải thiện cấu trúc và khả năng giữ nước của đất mà còn đóng vai trò như vật che phủ cho đất.

Tại Đông Bắc Thái Lan và vùng Tây Nguyên Việt Nam, người dân địa phương đã áp dụng hệ thống truyền thống trồng cây rừng trong ruộng lúa để tận dụng vật rơi rụng từ cây rừng, đồng thời kiểm soát xói mòn đất và nước chảy bề mặt.

Trong hệ thống canh tác lúa bậc thang, người Dao và Hmông chú trọng bảo vệ rừng trồng và rừng tự nhiên ở những vị trí quan trọng, nhằm giảm thiểu lượng nước chảy bề mặt, xói mòn đất, và điều tiết nguồn nước cho sinh hoạt và canh tác Rừng phòng hộ không chỉ bảo vệ môi trường mà còn tạo bóng mát cho cây trồng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Một số loài hoa cần bóng che hoặc có thể phát triển dưới bóng râm Rừng tự nhiên được ứng dụng trong hệ thống nông lâm kết hợp nhờ vào khả năng cung cấp bóng mát Cây cà phê thường được trồng dưới tán rừng thông hoặc rừng thứ sinh, trong khi cây quế cũng phát triển tốt dưới tán của các loài cây khác.

2.4.2 Vai trò kinh tế, văn hoá và xã hội của rừng a Kinh tế

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng và xã hội, đồng thời là nguyên liệu thiết yếu cho các ngành công nghiệp Ngoài ra, rừng còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ cho các dân tộc, làm cho nó trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống nông lâm kết hợp.

Nhiều vùng núi và rừng được coi là nơi thiêng liêng, nơi cư trú của các vị thần thiện và ác, bảo vệ bản làng khỏi sự xâm lấn của các thế lực ác Tín ngưỡng này nhấn mạnh tầm quan trọng của rừng trong việc duy trì giá trị thiêng liêng, vì việc chặt hạ rừng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của họ Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phục hồi của các hệ thống hưu canh, vì những khu rừng thiêng này cung cấp hạt giống cho các vùng đất trống, hỗ trợ quá trình canh tác.

Rừng tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp kết hợp, nhưng hiện nay mới chỉ được áp dụng trong các hệ thống truyền thống của các cộng đồng dân tộc Các kỹ thuật nông lâm cải tiến vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng về vai trò của rừng trong hệ thống này, dẫn đến việc nhiều thông tin giá trị cho phát triển kỹ thuật nông lâm kết hợp bị bỏ qua Do đó, cần thiết phải tìm hiểu và phân tích tỉ mỉ các hệ thống truyền thống để làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển các hệ thống nông lâm kết hợp cải tiến.

1 Tại sao kỹ thuật nông lâm kết hợp là cần thiết cho phát triển nông thôn miền núi ở Việt Nam?

2 Các đặc điểm để đánh giá hệ thống canh tác đồi núi là một hệ thống nông lâm kết hợp?

3 Yếu tố dân sinh kinh tế của một địa điểm đã chi phối đến sự sắp xếp hệ thống nông lâm kết hợp như thế nào?

4 Vai trò của vật rơi rụng từ cây lâu năm đối với vòng quay dưỡng chất kín trong hệ thống nông lâm kết hợp.

Khái niệm

Hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) truyền thống là các phương thức canh tác đã được phát triển và sử dụng qua nhiều thế hệ, thể hiện sự bền vững và hiệu quả qua thời gian Những hệ thống này thường phổ biến trong cộng đồng người dân tộc sống gần rừng, và có thể được hiểu đơn giản là các kiểu canh tác nông lâm kết hợp do người dân địa phương sáng tạo ra.

Mặc dù nông nghiệp khoa học (NLKH) là một môn học mới, nhưng thực tế nó đã được nông dân áp dụng từ lâu Nhiều kỹ thuật NLKH đã được thử nghiệm và chấp nhận bởi cộng đồng địa phương trong suốt hàng ngàn năm Người dân địa phương có khả năng xác định loại cây trồng, vật nuôi và sự phối hợp loài phù hợp cho từng hoàn cảnh Do đó, việc tổng kết và phân tích các hệ thống NLKH truyền thống là cần thiết.

Các yếu tố để xem xét một hệ thống là truyền thống (bản địa) bao gồm:

- Hệ thống được tồn tại từ lâu

- Hệ thống có sức sản xuất cao

- Hệ thống đuợc chấp nhận bởi cư dân địa phương vì nò phù hợp với tập quán, tín ngưỡng và suy nghĩ của họ.

Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống đặc trưng

3.1.2.1 Hệ thống canh tác nương rẫy Đây là hình thức lâu đời của hệ thống NLKH nhằm khắc phục khó khăn canh tác nương rẫy Thật ra kiểu canh tác này không có ý nghĩa bỏ hoá đất mà đất cũng được phát, đốt và “trỉa” trong vài năm Sau đó ngừng canh tác một số năm để tạo điều kiện cho rừng phục hồi độ phì (cho đất “nghỉ”) Thật ra người dân luân canh từ mảnh đất này sang mảnh đất khác theo thời gian đã được suy tính trước Kỹ thuật này đã tỏ ra bền vững trong nhiều năm, mấu chốt cho sự bền vững của kỹ thuật canh tác này là thời gian ngừng canh tác để độ phì của đất được phục hồi Thời gian bỏ hoá dài hay ngắn phụ thuộc vào quỹ đất Nếu thời gian bỏ hoá quá ngắn, hệ thống canh tác nầy sẽ bị suy thoái dần

Hình 4 : Bỏ hoá để cải tạo phục hồi đất

Nhiều cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam có kiểu canh tác nương rẫy bỏ hoá khá dài so với các giai đoạn canh tác khác

Trong bối cảnh đất canh tác ngày càng khan hiếm và dân số ngày càng tăng, các cộng đồng dân cư thường tìm cách cải tiến phương thức canh tác để thích ứng và đối phó với thách thức này.

Hệ thống cải tiến của người Nalad là một ví dụ Hệ thống đã được thực hiện hơn

Trong suốt 80 năm qua, nhiều cộng đồng ở Philippines đã áp dụng phương pháp trồng cây Keo Dậu để cải thiện tình trạng thiếu đất và độ phì của đất suy giảm nhanh chóng Việc trồng cây này không chỉ giúp kéo dài thời gian canh tác mà còn khắc phục hiệu quả tình trạng bỏ hoá ngắn hạn.

Người dân thường chia đất canh tác thành nhiều lô để trồng luân canh cây hoa màu và cây Keo Dậu nhằm cải tạo đất, với thời gian canh tác từ 2-4 năm tùy thuộc vào số lô và sức sinh trưởng của Keo Dậu Hạt Keo Dậu được gieo ngay sau khi đất bỏ hoá, thời gian bỏ hoá có thể kéo dài từ 8-10 năm hoặc ngắn hơn Phương pháp này không chỉ rút ngắn thời gian bỏ hoá mà còn cho phép khai thác Keo Dậu để làm cột nhỏ, củi đun, và phân xanh từ lá và cành nhánh Ngoài ra, việc xây dựng các rào chắn cơ giới theo đường đồng mức giúp chống xói mòn và được xem như một chỉ tiêu canh tác; khi hàng rào mục nát thì ngừng canh tác Kỹ thuật này đã mang lại kết quả tích cực với sức sinh trưởng và năng suất cao hơn cho các loại hoa màu nông nghiệp trồng xen.

Cây thân gỗ họ Đậu, như keo lá tràm và keo tai tượng, có khả năng cố định đạm vào đất, giúp rút ngắn thời gian bỏ hoá đáng kể.

- Xúc tiến vòng tuần hoàn dinh dưỡng khoáng một cách có hiệu quả (không đốt)

- Hình thành dần các bờ đất ổn định mặt dốc

- Công việc rất năng nhọc do phải xây dựng và duy trì các hàng rào chắn cơ giới

- Gỗ thu hoạch được từ cây Keo dậu để được dùng làm hàng rào nhiều hơn là dùng làm cơ giới

Hình 5: Sơ đồ theo thời gian của kỹ thuật bỏ hoá cải tiến của người dân tộc Naalad, Philippin

3.1.2.2 Hệ thống NLKH rừng và ruộng bậc thang

Hệ thống nông lâm kết hợp rừng và ruộng bậc thang được áp dụng tại vùng Tây Bắc Việt Nam và Banaue (Philippines), nổi bật với cảnh quan bậc thang lúa nước và năng suất lúa cao (8,2 tấn/ha) Hệ thống này đã tồn tại hàng ngàn năm, giúp người dân canh tác ổn định trên đất có tầng đá mẹ bền vững và hạn chế xói mòn Quản lý nước là yếu tố quan trọng, với các hệ thống dẫn nước từ cao xuống thấp, đồng thời sử dụng nước như nguồn dinh dưỡng cho cây trồng Rừng đóng vai trò thiết yếu trong việc dự trữ và điều hòa nguồn nước, chống sạt lở đất, và cung cấp lâm sản ngoài gỗ Do đó, cộng đồng địa phương chú trọng bảo vệ các khu rừng đầu nguồn.

Hình 6: Hệ thống rừng- ruộng bậc thang Lợi ích:

- Tạo ra một hệ thống sử dụng đất bền vững

- Từng bước biến đất dốc thành ruộng trồng lúa nước và các hoa màu khác

- Rất tốn công lao động trong việc xây dựng và duy trì hệ thống

- Chỉ áp dụng được những vùng có nguồn nước tự nhiên

3.1.2.3 Vườn hộ truyền thống Ở Việt Nam, vườn hộ là một trong những phương thức nông lâm kết hợp truyền thống rất phổ biến, đặc biệt là ở vùng đồng bằng và trung du nơi có đất canh tác hạn chế

Vườn hộ là mô hình kết hợp hài hòa giữa cây lâu năm, cây ngắn ngày, vật nuôi và thủy sản, nhằm tối ưu hóa khả năng sản xuất của đất Không gian mặt đất được sử dụng triệt để, giúp gia đình tận dụng thời gian và nguồn lao động để sản xuất lương thực, thực phẩm Mô hình này không chỉ mang lại hiệu quả xã hội mà còn góp phần bảo tồn sinh thái và cảnh quan môi trường Hệ thống vườn hộ ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, thay đổi theo điều kiện khí hậu, đất đai và tập quán truyền thống, do đó cần được người dân duy trì và phát triển.

Vườn rừng là khu đất trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả theo phương pháp thâm canh, nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cao Diện tích vườn rừng thường dao động từ 0,3 đến 0,5 ha, nhưng cũng có thể mở rộng lên đến vài ha tùy thuộc vào đất thổ cư của từng hộ gia đình.

Hình 7: Hệ thống vườn rừng ở Việt Nam

Vườn rừng có cấu trúc gồm một tầng cây gỗ chính trồng thuần loài, bên cạnh đó là tầng cây thấp được trồng xen kẽ dưới tán hoặc tầng thảm thực vật tự nhiên được duy trì và bảo vệ.

Tầng cây chính trong vườn rừng thường được nông dân lựa chọn dựa trên điều kiện sinh thái, tập quán và kinh nghiệm truyền thống của từng vùng, cũng như nhu cầu của thị trường Các loài cây phổ biến được trồng bao gồm tre trúc, quế, sở, giẻ và trám.

Tầng cây thấp thường được trồng kết hợp để tối ưu hóa sử dụng đất và ánh sáng mặt trời, nhằm sản xuất lương thực, thực phẩm, cây dược liệu, thức ăn gia súc và các sản phẩm giá trị khác, hỗ trợ cho cây trồng chính Các loài cây nông nghiệp ngắn ngày như sắn, ngô, các loại đậu, cùng với cây dược liệu như gừng, nghệ, sa nhân và cây làm phân xanh như cốt khí, keo dậu là những ví dụ điển hình cho tầng cây này.

- Vườn rừng bao gồm các loài cây bản địa có tính thích ứng cao với điều kiện sinh thái và đất đai của địa phương

- Duy trì và phát triển được tầng cây thấp có tác dụng phù trợ cho tầng cây chính

- Góp phần tạo dựng môi trường sinh thái ổn định cho sự phát triển bền vững của cây trồng Bảo tồn được nguồn tài nguyên đất và nước

Các hộ gia đình sử dụng hiệu quả thời gian và nguồn lao động để sản xuất nhiều loại hàng hóa có giá trị cao, từ đó tăng thu nhập và tạo nguồn đầu tư cho cây trồng Điều này giúp cân bằng lợi ích ngắn hạn và dài hạn.

Công việc chuẩn bị đất cho trồng cây lâm nghiệp đòi hỏi nhiều công sức lao động và có thể gây hư hại cho lớp thực bì tự nhiên Trong những năm đầu, xói mòn đất dễ xảy ra, ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng sau này.

- Xây dựng vườn rừng thường ít được hộ nghèo chấp nhận vì chu kỳ sản xuất cây lâm nghiệp dài và đầu tư vốn, lao động cao

Vườn được trồng các loại cây công nghiệp theo hướng thâm canh, thường có diện tích từ 0,5 đến vài hecta Diện tích chủ yếu dành cho cây công nghiệp, kết hợp với cây đa mục đích để tạo bóng mát và tận dụng sản phẩm khác Nhà ở, chuồng trại và vườn rau quả thường được đặt ở khu vực thấp hơn, gần hoặc xa vườn, nhưng phải đảm bảo điều kiện nước và đường đi thuận lợi cho sinh hoạt và giao lưu hàng hóa.

CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP CẢI TIẾN

3.2.1 Giới thiệu về các hệ thống NLKH cải tiến

Các hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) cải tiến được phát triển bởi các kỹ sư bên ngoài, thường có cấu trúc đơn giản hơn về số lượng loài cây trồng và mức độ đa dạng sinh học so với các hệ thống truyền thống Tuy nhiên, do chưa trải qua thử nghiệm lâu dài tại một số địa điểm, tính bền vững của những hệ thống này cần được xem xét kỹ lưỡng trước khi áp dụng rộng rãi.

3.2.2 Các hệ thống NLKH cải tiến

3.2.2.1 Hệ thống canh tác xen theo băng

Canh tác theo băng, đặc biệt là canh tác theo đường đồng mức trên đất dốc, đã trở thành một hệ thống nông lâm kết hợp phổ biến tại Việt Nam trong 15 năm qua.

Hình 11: Trồng xen theo băng

Canh tác xen theo băng là một phương pháp nông lâm kết hợp, trong đó các hàng cây được trồng làm ranh giới và cây hoa màu được canh tác giữa các hàng này Các hàng ranh rộng 1m, thường được trồng bằng một hoặc hai hàng cây thân gỗ lâu năm, và được cắt tỉa định kỳ để không che bóng cho cây hoa màu Mục đích của việc trồng cây trên hàng ranh là tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của hoa màu, cung cấp chất hữu cơ cho đất từ vật liệu rơi rụng, và đồng thời cung cấp gỗ và củi cho nông trại.

Kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc, hay còn gọi là SALT 1 (Sloping Agricultural Land Technology), được áp dụng trên các vùng đồi núi Trong phương pháp này, hàng cây làm ranh được bố trí theo đường đồng mức với khoảng cách từ 2m đến 6m tùy theo độ dốc của quả đồi Việc trồng hàng ranh theo đường đồng mức giúp hạn chế xói mòn, giữ lại lượng đất mặt bị cuốn trôi và làm giảm vận tốc dòng chảy bề mặt Quan trọng hơn, kỹ thuật này cung cấp phân xanh cho đất, phục hồi và tăng độ phì, đồng thời hình thành dần từng bậc thang sau vài năm.

* Đặc điểm của hệ thống

Hệ thống canh tác trên đất dốc được xây dựng trên các đặc điểm sau:

Canh tác theo đường đồng mức trên đất dốc với công cụ đo đạc đơn giản phù hợp với điều kiện vùng sâu vùng xa là khung chữ “A”

Hình 13: Khung chữ A để đo đường đồng mức

Lựa chọn các loài cây họ đậu có khả năng cố định đạm để trồng trên hàng ranh đồng mức là rất quan trọng Tiêu chí bao gồm khả năng sống sót dễ dàng, sinh trưởng nhanh, có thể trồng bằng hạt, nảy chồi tốt sau khi cắt tỉa và không cạnh tranh với cây hoa màu.

Để tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp, cần áp dụng triệt để kỹ thuật luân canh và xen canh giữa hai hàng ranh Đồng thời, việc đa dạng hóa tầng tán thông qua trồng xen cây nông nghiệp lâu năm hoặc cây rừng xung quanh khu vực canh tác cũng rất quan trọng.

* Điều kiện để xây dựng thành công kỹ thuật SALT 1

- Chọn đúng loài cây họ đậu trồng trên đường ranh đồng mức

- Phải gieo hạt cây này càng dày càng tốt và theo hàng đôi song song với nhau

- Phải định kỳ cắt tỉa hàng ranh xuống thấp hơn 0,8m để hoa màu nhận đủ ánh sáng và dùng phẩm vật này bón tủ vào đất canh tác

Bảo tồn đất và nước trên đất dốc là một yếu tố quan trọng trong nông nghiệp bền vững Việc trồng các hàng cây xanh thuộc họ Đậu và hoa màu theo đường đồng mức giúp kiểm soát hiệu quả tình trạng xói mòn đất do nước, từ đó bảo vệ nguồn tài nguyên đất và nước.

Phục hồi độ phì của đất bằng cách sử dụng vật phẩm từ ranh đai tủ sẽ làm tăng đáng kể độ phì nhiêu, từ đó nâng cao năng suất cây hoa màu Việc này cũng góp phần kích thích hoạt động của vi sinh vật trong đất, giúp cải thiện các tính chất hoá lý của đất.

Tăng năng suất và thu nhập của nông trại

- Trồng hàng ranh trên sẽ ảnh hưởng đến hoa màu do chúng chiếm đến 20% diện tích đất canh tác

- Cây trồng trên đường đồng mức có thể cạnh tranh về ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của hoa màu

Một số loài cây trồng, như Keo dậu, sản sinh ra các chất kháng hóa học khi vật rụng của chúng phân hủy hoặc khi rễ cây tiết ra các chất cản trở sự nảy mầm, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các loại hoa màu khác.

Kỹ thuật cải thiện độ phì của đất thường chỉ cho thấy hiệu quả sau khoảng thời gian dài, khoảng 4 năm, điều này khiến người dân nghèo, đặc biệt là những người thiếu đất canh tác, khó bị thuyết phục áp dụng.

Hệ thống này yêu cầu nhiều lao động để cắt xen hàng ranh, đồng thời lượng hạt cần thiết để xây dựng cây hàng ranh cũng rất lớn, vượt quá khả năng thu hoạch và thu mua của nông dân nghèo.

Hệ thống này chỉ được coi là một giải pháp kỹ thuật nhằm phục hồi đất nương rẫy hoặc đất canh tác trên vùng dốc đang bị thoái hóa, và không thể thay thế cho rừng tự nhiên dày đặc hay các hệ thống nông lâm kết hợp đa tầng.

Canh tác xen theo băng là một kỹ thuật hiệu quả để ổn định và nâng cao sản xuất bền vững ở vùng cao, đặc biệt trong việc trồng lúa và ngô, nơi đất dễ bị suy thoái và xói mòn Kỹ thuật này có thể giảm xói mòn chỉ trong 1 đến 3 năm, đồng thời cải thiện sức sản xuất của nông trại Tuy nhiên, đây không phải là bước cuối cùng trong phát triển nông trại vùng cao; thay vào đó, cần hướng tới hệ thống hỗn giao cây lâu năm và hoa màu như nông lâm kết hợp nhiều tầng để đảm bảo sự bền vững lâu dài Canh tác xen theo băng được coi là bước chuyển tiếp đến một thảm cây thường trực ở vùng cao, và thời điểm áp dụng kỹ thuật này sẽ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nông dân, do nhu cầu canh tác hoa màu liên tục.

Jane Carter (Agrforestry Today số 2/1996) đã chỉ ra rằng trong hai thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu khoa học đã tập trung vào canh tác xen theo băng như một kỹ thuật thâm canh bền vững để cải thiện đời sống của nông dân nghèo ở vùng cao Mặc dù đã đầu tư nhiều công sức và tài chính vào nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật này, nhưng phần lớn nông dân vẫn nhận thấy rằng kỹ thuật này còn nhiều hạn chế trong việc đạt được mong đợi Những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ các điều kiện tự nhiên và các yếu tố kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến mức độ tiếp nhận của người nông dân.

+ Các đặc điểm tự nhiên:

- Ưu tiên cho vùng sản xuất ngô

- Đất canh tác có độ phì nhiêu thấp hay giảm dần, chủ yếu do nông dân tự định lượng

- Nơi có khí hậu hai mùa mưa và khô, lượng mưa tối thiểu 1000mm/năm

- Nơi thiếu cây lâu năm để che phủ đất đai

+ Các đặc điểm dân sinh kinh tế:

- Nơi có áp lực lớn của dân số gia tăng, kết quả là giai đoạn bỏ hoá phải ngắn dần

- Phần lớn nông dân sẽ chấp nhận kỹ thuật này nếu quyền sử dụng đất được thiết lập một cách cụ thể và chắc chắn

- Nông dân có phương thức chăn nuôi có kiểm soát, không thả rong

- Thu nhập chính của nông dân là dựa vào canh tác nông nghiệp

Hệ thống lâm-nông-đồng cỏ (SALT 2) là một kỹ thuật cải tiến trong trồng xen theo băng, kết hợp giữa nông nghiệp và chăn nuôi Kỹ thuật này sử dụng đất tổng hợp, trong đó một phần đất được dành cho chăn nuôi gia súc, đặc biệt là nuôi dê để lấy thịt và sữa Tại Philippines, mô hình này thường dành 1/4 ha để trồng cây lương thực với hàng rào xanh theo đường đồng mức nhằm chống xói mòn và bảo vệ đất, trong khi 1/4 ha còn lại được trồng cỏ làm thức ăn cho dê Mỗi hộ gia đình có thể nuôi 14 con dê, với sản lượng sữa đạt khoảng 2 lít mỗi con mỗi ngày nếu có đủ thức ăn.

PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM KẾT HỢP VÀ VẤN ĐỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM

Ngày đăng: 30/05/2021, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006). “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp – Chương Sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp – "Chương Sản xuất nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
[2]. Lê Quốc Doanh (2006). “Canh tác đất dốc bền vững”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác đất dốc bền vững
Tác giả: Lê Quốc Doanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
[3]. Chu Thị Thơm (2006). “Hiện tượng xói mòn đất và biện pháp phòng chống“, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng xói mòn đất và biện pháp phòng chống“
Tác giả: Chu Thị Thơm
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
[4]. Chu Thị Thơm (2006). “Kỹ thuật canh tác trên đất dốc“, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác trên đất dốc“
Tác giả: Chu Thị Thơm
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
[5]. Đặng kim Vui (2007). “Giáo trình Nông lâm kết hợp”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nông lâm kết hợp”
Tác giả: Đặng kim Vui
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
[6]. Lê Quang Vĩnh (2013). “Giáo trình Nông lâm kết hợp”; NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Nông lâm kết hợp”
Tác giả: Lê Quang Vĩnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2013