1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu

68 366 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Nguyên nghĩa CDM Clean Development Mechanism: Cơ chế phát triển sạch CERMES Centre for Resource Management and Environmental Studies: Trung tâm Quản

Trang 1

Mạng lưới Giáo dục Nông lâm kết hợp Việt Nam

Vietnam Network for Agroforestry Education - VNAFE

BÀI GIẢNG

NÔNG LÂM KẾT HỢP VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Biên soạn: PGS.TS Bảo Huy, TS Võ Hùng và TS Nguyễn Thị Thanh Hương

Đăk Lăk, tháng 12 năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC HÌNH V DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VI

CHƯƠNG 1 : BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 1

1.1.1 Biến đổi khí hậu là gì? 4

1.1.2 Làm thế nào để chúng ta biết được đang biến đổi khí hậu? 5

1.1.3 Biến đổi khí hậu trong những năm gần đây 8

1.1.4 Biến động khí CO2 trong khí quyển 12

1.2 Tác động của biến đổi khí hậu 15

1.3 Vấn đề đạo đức của biến đổi khí hậu 18

CHƯƠNG 2 : GIẢM NHẸ VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 22

2.1 Các khái niệm 22

2.2 Chiến lược giảm nhẹ 23

2.3 Chiến lược thích ứng 23

CHƯƠNG 3 : NÔNG LÂM KẾT HỢP VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 26

3.1 Nhận thức chung về Nông lâm kết hợp 26

3.1.1 Các khái niệm về nông lâm kết hợp 26

3.1.2 Lợi ích canh tác nông lâm kết hợp 27

3.2 Giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng thông qua nông lâm kết hợp 27

3.2.1 Nông Lâm kết hợp giúp giảm phát thải của hệ thống canh tác 27

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu hấp thụ CO2 của mô hình NLKH – Cơ sở lượng hóa giá trị môi trường của NLKH 33

3.3 Ứng dụng GIS trong giám sát thay đổi sử dụng đất và phát thải khí CO2 – Vai trò Nông Lâm kết hợp trong giảm phát thải từ thay đổi sử dụng đất 42

3.3.1 Phân tích thay đổi trạng thái/thảm phủ 43

3.3.2 Ước tính phát thải CO2 từ thay đổi thảm phủ và kịch bản áp dụng NLKH để giảm phát thải 49

3.4 Thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua nông lâm kết hợp 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng góp của các loại khí trong khí quyển 9

Bảng 1.2: Lượng phát thải khí CO2 của một số quốc gia trên thế giới 14

Bảng 3.1: Các mô hình ước lượng carbon trong các bộ phận và cây bình quân bời lời đỏ 36

Bảng 3.2: Khối lượng C/CO2 hấp thụ trong các bộ phận và cây bình quân bời lời đỏ 36 Bảng 3.3: Các mô hình dự báo sinh khối tươi/khô và lượng carbon cây bời lời đỏ tích lũy trong mô hình NLKH bời lời đỏ - sắn 37

Bảng 3.4: Dự báo sinh khối tươi/khô và lượng CO2 bời lời đỏ hấp thụ/ha tối ưu trong mô hình NLKH bời lời đỏ - sắn 40

Bảng 3.5: Dự báo giá trị kinh tế, môi trường của mô hình NLKH bời lời đỏ - sắn theo chu kỳ kinh doanh 41

Bảng 3.6: Bảng ma trận thay đổi sử dụng đất 48

Bảng 3.7: Giá trị trung bình Carbon tích lũy và CO2 hấp thụ của các trạng thái, thảm phủ 49

Bảng 3.8: Hấp thụ CO2 năm 2003 49

Bảng 3.9: Hấp thụ CO2 năm 2009 50

Bảng 3.10: Kịch bản áp dụng NLKH cho đất nông nghiệp 50

Bảng 3.11: Các giai đoạn và các bước chính trong tiến trình PTD để phát triển NLKH 54

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Gia tăng hiệu ứng nhà kính 2

Hình 1.2: Nồng độ gia tăng của khí nhà kính 3

Hình 1.3: Mực nước biển dâng do nóng lên toàn cầu và Dự báo 2100 4

Hình 1.4: Hiệu ứng nhà kính khí quyển 6

Hình 1.5: Nghiên cứu mới khẳng định toàn cầu đang thật sự nóng lên 7

Hình 1.6: Thay đổi Carbon toàn cầu từ 1850-2000 10

Hình 1.7: Quỹ đạo của bão ở Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông 11

Hình 1.8: Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu 12

Hình 1.9: Nhà máy nhiệt điện chạy than thải nhiều khí CO2 (Nguồn: hecweb.org) 17

Hình 1.10: Phát thải CO2 bình quân đầu người năm 2007 ở một số quốc gia 19

Hình 1.11: Người dân Somalia phải đi tị nạn ở Kenya do hạn hán (Nguồn: AFP/TTXVN) 20

Hình 3.1: Dự báo tiềm năng hấp thụ C vào năm 2040 (Mt C/ năm) với các phương thức sử dụng đất và lựa chọn quản lý khác nhau (nguồn IPCC, 2000) 28

Hình 3.2: Lưu giữ C trong các hệ sinh thái khác nhau của vùng nhiệt đới ẩm 28

Hình 3.3 : Lượng carbon được lưu giữ trong thực vật và dưới mặt đất theo các kiểu sử dụng rừng nhiệt đới ở Brazil, Cameroon, Indonesia 29

Hình 3.4: Mô hình hàm 1/2 log biểu diễn sự suy giảm lượng C tích luỹ trong các kiểu sử dụng rừng nhiệt đới ở Brazil, Cameroon, Indonesia 30

Hình 3.5: Giải tích cây bời lời trong mô hình NLKH : Bời lời – Sắn để xác định sinh khối và phân tích C 32

Hình 3.6: Cân để xác định khối lượng sinh khối tươi 4 bộ phận cây bời lời đỏ: Thân, cành, lá và vỏ 33

Hình 3.7: Lấy mẫu 4 bộ phận cây bời lời đỏ để phân tích hàm lượng carbon: Thân, cành, lá và vỏ 34

Hình 3.8: Tỷ lệ %C trong các bộ phận thân cây so vói tổng C trong cây bời lời 35

Hình 3.9: Tỷ lệ %C trong sinh khối khô ở các bộ phận thân cây bời lời 35

Hình 3.10: Cách ứng dụng các mô hình ước lượng CO2 bời lời đỏ hấp thụ trong mô hình NLKH bởi lời đỏ - sắn 39

Hình 3.11: Tiến trình phát triển kỹ thuật có sự tham gia - PTD 53

Hình 3.12: Làm giàu rừng khộp nghèo bằng cây tếch 56

Hình 3.13: Mô hình NLKH: Tre; Mít nghệ xen dứa Cayen trên đất dốc 57

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên nghĩa

CDM Clean Development Mechanism: Cơ chế phát triển sạch

CERMES Centre for Resource Management and Environmental Studies: Trung

tâm Quản Lý Tài Nguyên và Môi trường CGIAR Consultative Group on International Agricultural Research: Nhóm

Tư vấn Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế

CO2 Carbon Dioxide

COP Conference of the Parties: Hội nghị các đối tác

COP/MOP Conference of the Parties Serving as the Meeting of the Parties to the

Kyoto Protocol: Hội nghị các đối tác để thực hiện Nghị định thư Kyoto

GEF Global Environmental Facility: Quỹ Môi trường toàn cầu

GHGs Greenhouse Gases: Khí nhà kính

IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change: Ủy ban liên chính phủ

về biến đổi khí hậu HFCs Khí Hydrofluorocarbons

IEA International Energy Agency: Cơ quan năng lượng quốc tế

ICRAF International Center on Research in Agroforestry: Trung tâm quốc tế

nghiên cứu về Nông lâm kết hợp

KP Kyoto Protocol: Nghị định thư Kyoto

MACC Mainstreaming Adaptation to Climate Change: Lồng ghép vấn đề

thích ứng với biến đổi khí hậu môi trường MDGs Millennium Development Goals: Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ NLKH Nông lâm kết hợp

REDD Reduced Emission from Deforestation in Developing Countries:

Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng ở các nước đang phát triển SBA Slash and Burn Agriculture: Canh tác nương rẫy

UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change: Công

ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNCED United Nations Council for Environment and Development: Hội

đồng Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển UNEP United Nations Environment Programme: Chương trình Môi trường

của Liên Hợp quốc WMO World Meteorological Organisation: Tổ chức Khí tượng thế giới

Trang 7

CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

Trái đất đang phải đối mặt với một thảm họa khí hậu gây ra bởi hành động của con người Khoa học không còn nghi ngờ về chất gây ô nhiễm từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và các hoạt động khác của con người tích tụ trong bầu khí quyển, bẫy bức xạ, và làm nhiệt độ trái đất gia tăng

Nhiều loại tác động được dự đoán và một số có khả năng theo cách: tăng nhiệt

độ, thay đổi trong mức độ mưa và thời vụ, tăng tỷ lệ của các biểu hiện thời tiết khắc nghiệt như hạn hán, lũ lụt và bão lớn, nước biển dâng, sự tan chảy của băng vùng cực

và sông băng Những tác động sinh thái và con người do những thay đổi này được dự kiến sẽ bao gồm sa mạc hóa, mất mát của khu rừng nhiệt đới và rạn san hô, giảm năng suất nông nghiệp, sự tuyệt chủng của sinh vật, thiếu nước, thương vong ngày càng tăng từ các thảm họa tự nhiên, và lây lan của các bệnh nhiệt đới

Quy mô của những tác động này mang lại là một sự suy giảm hơn nữa trong chất lượng môi trường và phúc lợi xã hội, dẫn đến sự bất ổn bởi nạn đói, di cư khổng lồ, và chiến tranh tài nguyên Tất cả sẽ phụ thuộc vào hành động của con người trong vài thập kỷ tới, về khả năng thích ứng giảm nhệ tác động của biến đổi khí hậu do nhiệt độ

ngày càng tăng và nồng độ khí gây hiệu ứng nhà kính (Nguồn: Nautilus Viện An ninh

và bền vững.)

Carbon dioxide và một số khí khác trong bầu khí quyển của Trái đất như một nhà kính điều hòa nhiệt độ chúng ta Giữ ấm bề mặt của hành tinh tự nhiên bằng cách giữ nhiệt năng lượng mặt trời trong khí quyển là một điều tốt vì nó giữ cho hành tinh của chúng ta sinh sống Tuy nhiên, bằng cách đốt nhiên liệu hóa thạch như khí đốt, than đá và dầu mỏ và các khu rừng bị mất, đã làm tăng đột ngột lượng carbon dioxide trong bầu khí quyển của Trái đất và nhiệt độ đang tăng lên Điều này được gọi là "tăng cường hiệu ứng nhà kính"

Một chất khí không màu và không mùi, được hình thành từ carbon và hai nguyên tử ôxy, CO2 chiếm khoảng 0,03%, của bầu khí quyển của Trái đất Đây là một

tỷ lệ rất nhỏ, nhưng nó đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng khí quyển cần thiết đối với sự sống Ngược lại, bầu khí quyển của hành tinh chết "như sao Kim và sao Hỏa được tạo thành chủ yếu là CO2

Trang 8

Hình 1.1: Gia tăng hiệu ứng nhà kính

CO2 được sản xuất bởi nhà máy đã được trung tâm trong việc giữ nhiệt độ bề mặt trái đất ở trung bình 14°C trong 10.000 năm qua, đó là điều kiện sinh sống cho thực vật, động vật và các hoạt động của con người chúng ta biết ngày hôm nay Điều này được gọi là "hiệu ứng nhà kính tự nhiên"

Phần lớn các loại đá, đất, động vật, thực vật và nước trên Trái đất được tạo thành

từ carbon, rất nhiều carbon được lưu trữ hàng triệu năm dưới lòng đất hoặc đại dương

ở dạng hóa thạch từ động vật phân hủy và thực vật Khi nó được chiết xuất và đốt cháy

- như là một nhiên liệu hóa thạch như dầu, khí đốt và than đá, thoát ra carbon vào bầu không khí nơi nó kết hợp với oxy để tạo thành CO2 Điều này có nghĩa rằng CO2 là một sự lãng phí sản phẩm, gây ô nhiễm - mỗi khi chúng ta đốt cháy nhiên liệu hóa thạch để tạo năng lượng điện cho ánh sáng, sưởi ấm và nấu ăn hoặc xăng sử dụng để chạy động cơ - và nó vẫn tồn tại trong khí quyển khoảng 100 năm

Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) thông báo lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã tăng lên mức cao nhất trong năm 2010 kể từ thời điểm tiền công nghiệp

Trang 9

Hình 1.2: Nồng độ gia tăng của khí nhà kính

Lưu ý rằng chlorofluorocarbons (CFC) không xuất hiện trước năm 1900

Báo cáo của WMO cho thấy, trong giai đoạn 1990 - 2010, lượng phóng xạ có nguồn gốc từ các loại khí gây hiệu ứng tăng 29% và đang làm nhiệt độ trái đất ấm dần lên Ba loại khí gây hiệu ứng nhà kính phổ biến và tồn tại lâu trong khí quyển là carbon dioxide (CO2), metan (CH4) và nitơ oxide (N2O)

Tuy nhiên, khí thải từ quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch, chặt phá rừng và những thay đổi trong quá trình sử dụng đất làm cho khí CO2 tăng 39% so với năm

1750 - thời điểm thế giới bước vào kỷ nguyên công nghiệp hóa

Năm 2010, nồng độ khí metan trung bình là 1.808 phân tử trong một tỷ phân tử không khí ở trạng thái khô, tăng nhẹ so với năm 2009 và tăng 158% kể từ năm 1750 Đây là bản báo cáo tác hại hiệu ứng nhà kính thứ 7 trong một loạt các báo cáo về tác

hại của hiệu ứng nhà kính kể từ năm 2004 (VNexpress)

Kết quả là, tỷ lệ CO2 và các khí Methane, Nitrogen Oxides và CFC trong khí quyển tăng nhanh, làm cho trái đất ấm lên Điều này đang gây ra nhiệt độ trung bình tăng lên, làm xảy ra thường xuyên hơn các sự kiện thời tiết khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán dài hạn, tan chảy băng cực và sông băng và tăng mực nước biển Các mối quan hệ giữa nhiệt độ tăng và mực nước biển trong 100 năm qua được thể hiện qua đồ thị sau đây

Trang 10

Hình 1.3: Mực nước biển dâng do nóng lên toàn cầu và Dự báo 2100

1.1.1 Biến đổi khí hậu là gì?

Theo Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì biến đổi khí hậu

là một biến thể có ý nghĩa thống kê trong một thời gian dài, thường thập kỷ hoặc lâu hơn Nó bao gồm các thay đổi về tần suất và cường độ của các sự kiện thời tiết không bình thường và sự gia tăng liên tục (chậm) về nhiệt độ trung bình của bề mặt toàn cầu Biến đổi khí hậu còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu Đó là do trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển

(UNFCCC trích dẫn của Lasco et al, 2004)

IPCC đã kết luận rằng hoạt động của con người phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính vào bầu khí quyển có trách nhiệm đối với hầu hết của sự ấm lên của ít

nhất 50 năm qua (http://www/ifpri.org/)

Lasco et al (2004) báo cáo rằng nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đã tăng hơn 30% kể từ thời tiền công nghiệp và vẫn còn tăng ở mức trung bình 0,4% mỗi năm, chủ yếu là do quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và phá rừng

Báo cáo năm 2007 của Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC)

đã khẳng định rằng sự nóng lên toàn cầu đang xảy ra và biến đổi khí hậu là do con người gây ra IPCC kết luận rằng "sự ấm lên của hệ thống khí hậu là rõ ràng", và đó

là hậu quả do ảnh hưởng của các hoạt động của con người trên trái đất kể từ khi bắt

Mực nước biển dâng do trái đất ấm lên Mực nước biển dâng trong thế kỷ qua Dự báo mực nước biển dâng đến 2100

Trang 11

đầu của cuộc Cách mạng công nghiệp trong những năm 1700 trong Châu Âu và sau

đó ở Bắc Mỹ (Nguồn: Kirby, A 2008 Khí hậu ở Peril, UNEP/GRID)

Một bản đồ được đưa ra tại Bảo tàng Khoa học ở London cho thấy rằng lục địa sẽ nóng lên nhanh hơn so với biển, và nơi vĩ độ cao, đặc biệt là Bắc cực, sẽ có gia tăng nhiệt độ lớn hơn các vùng khác

Các hiện tượng bão mạnh hơn và thường xuyên hơn, đêm ấm áp hơn, ngày dài hơn và nóng hơn là vài trong số những bằng chứng phổ biến nhất mà biến đổi khí hậu là có thật Những chứng cứ, tuy nhiên, thường bị nhầm lẫn với những thay đổi thời tiết Từ phổ biến cụm từ "khí hậu là những gì bạn mong đợi, trong khi thời tiết là những gì bạn nhận được", thay đổi thời tiết là biểu hiện khác nhau của nhiệt

độ, mưa, và gió… Biến đổi khí hậu, đề cập đến sự khác biệt trong điều kiện thời tiết trung bình trong một thời gian nhất định, một tháng, 10 năm đến hàng ngàn hoặc hàng triệu năm

Ngày nay, khí hậu thay đổi là một mối quan tâm toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Bằng chứng về biến đổi khí hậu là khả năng cung cấp thực phẩm hạn chế, thay đổi mùa vụ trồng trọt, tăng tỷ lệ sâu bệnh, phân phối cung cấp nước, và buộc người nông dân để thích nghi bằng cách sử dụng các nguồn tài nguyên ít ỏi

Báo cáo của IPCC (2001) nhấn mạnh rằng "sản lượng một số cây trồng ở các vùng nông nghiệp nhiệt đới sẽ giảm do sự sụt giảm lớn về lượng mưa’

Những dự báo thực tế rằng lĩnh vực nông nghiệp sẽ dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu, vì nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện nước và khí hậu Biến đổi khí hậu đặt ra mối đe dọa và rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp nói chung, và đặc biệt đối với nông dân nghèo Trớ trêu thay, người nông dân có đóng góp ít nhất về khí thải trong bầu khí quyển, nhưng họ dễ bị tổn thương nhất với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu

1.1.2 Làm thế nào để chúng ta biết được đang biến đổi khí hậu?

Tăng nhiệt độ: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu là do phát thải

ngày càng tăng và sự tích tụ của khí gây hiệu ứng nhà kính như carbon dioxide trong khí quyển Các khí nhà kính được phát hành từ các hoạt động của con người như phá rừng, đốt, sử dụng hóa chất, và nhiều người khác Những cái bẫy khí nhiệt

bề mặt trong khí quyển và ngăn không cho chúng được phát tán vào không gian Tình trạng này được gọi là hiệu ứng nhà kính, làm tăng nhiệt độ toàn cầu thay đổi thời tiết và điều kiện khí hậu

Trang 12

Hình 1.4: Hiệu ứng nhà kính khí quyển

Một nhóm các nhà khoa học Mỹ vừa công bố kết quả nghiên cứu mới nhất về nhiệt độ bề mặt trái đất, theo đó xác nhận các cảnh báo trước đó của giới khoa học: Trái đất đang thật sự nóng lên

Theo BBC, nhóm nghiên cứu - được gọi là nhóm Berkeley, với sự có mặt của nhà khoa học Saul Perlmutter vừa đoạt giải Nobel cùng nhiều nhà khoa học nổi tiếng khác - đã dùng các phương pháp mới và dữ liệu mới để phục vụ nghiên cứu trên Họ đã tổng hợp hơn 1 tỉ ghi nhận về nhiệt độ Trái đất từ năm 1800 từ 15 nguồn khác nhau trên thế giới Kết quả, họ nhận thấy nhiệt độ mặt đất trung bình trên toàn cầu tăng khoảng 10C từ giữa những năm 1950

Một số bức xạ bị phản xạ lại bởi khí quyển và bề mặt đất

(103 W/m2)

Một số bức xạ hồng ngoại vượt qua lớp khí quyển vào không gian

Một số tia hồng ngoại được hấp thu và phát ngược trở lại bởi các phân tử khí nhà kính Ảnh hưởng trực tiếp là sự nóng lên của bề mặt đất và tầng đối lưu

Bề mặt đất thu được nhiều nhiệt và tia hồng ngoại và được phát ra trở lại

Trang 13

Hình 1.5: Nghiên cứu mới khẳng định toàn cầu đang thật sự nóng lên

Con số này khớp với các ước tính của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), Cục Khí hậu và đại dương quốc gia Mỹ (NOAA), Cơ quan khí tượng Anh…Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy sự thay đổi nhiệt độ nước biển ở bắc Đại Tây Dương có thể là nguyên nhân chính làm nhiệt độ trung bình trên Trái đất thay đổi từ năm này sang năm khác

Nhóm này bày tỏ lo ngại các nhà khoa học khí hậu đã không công bố toàn bộ

dữ liệu họ có ra trước công chúng, dẫn đến nhiều ý kiến nghi ngờ về toàn cầu ấm lên và khẳng định “khoa học nên công khai, dữ liệu khoa học nên được công bố”

Theo tờ Guardian, nghiên cứu trên là cuộc đánh giá độc lập toàn diện nhất về

các ghi nhận nhiệt độ Trái đất từ trước tới nay (Tuổi trẻ Online; 22/10/2011)

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt

độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó Nhiệt độ trên lục địa

tăng nhanh hơn so với trên đại dương (IPCC, 2007)

Bão mạnh hơn: Sự nóng lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ đại dương và tốc độ

bốc hơi nước, làm gia tăng mưa bão Biến đổi khí hậu, thông qua sự nóng lên toàn cầu, đã tăng số lượng, tần suất và cường độ các trận bão ở nhiều nơi trên thế giới trong những năm qua

Trang 14

Biến đổi khí hậu cực đoan: Biến đổi khí hậu đề cập đến thay đổi khí hậu

ngắn hạn như mùa khô dài hơn, nhiệt độ cao trong mùa hè, mưa nhiều hơn trong các tháng mùa mưa Tạo ra hiện tượng ENSO, ENSO có hai giai đoạn, giai đoạn El Nino gây ra hạn hán rộng lớn trong khi giai đoạn La Nina gây ra mưa nhiều hơn Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn

300 Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm 1970 Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới

(IPCC,2007)

Tăng mực nước biển: Tăng nhiệt độ toàn cầu làm sông băng và chỏm băng

vùng cực tan chảy do đó làm cho mực nước biển tăng Ở Việt Nam, các chuyên gia xác định một sự gia tăng 15 cm mực nước biển 1980-1989 Nếu mực nước biển tiếp tục tăng, thêm nhiều đất có thể bị ngập dưới nước vĩnh viễn

Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao Hai nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn nở nhiệt của đại dương

và sự tan băng Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961- 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm, trong

đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70

± 0,50mm/năm (IPCC, 2007)

Số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON trong giai đoạn 1993 - 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu là 3,1 ± 0,7mm/năm,

nhanh hơn đáng kể so với thời kỳ 1961 - 2003 (IPCC, 2007)

1.1.3 Biến đổi khí hậu trong những năm gần đây

Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian bên ngoài hành tinh chúng ta Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển Trong khi đó, bức xạ của trái đất là sóng dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí mêtan, khí CFC Kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh sẽ dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất Hiện tượng này diễn

ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà kính Khí nhà kính bao gồm carbon dioxide (CO2), chlorofluorocarbons (CFC's), methane (CH4), nitrous oxide (N20), tropospheric ozone (O3), và hơi nước Mỗi một phân tử của khí ga được tạo thành năng lượng bởi tia sóng dài, sau đó phân tử này phát năng lượng ra theo các hướng, đó chính là hiện tượng đã làm tăng nhiệt độ trên trái đất Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng tự nhiên để bảo toàn nhiệt độ trung

Trang 15

bình của trái đất ở khoảng 60 độ F, đây cũng là một hiện tượng cần thiết để giữ cho toàn bộ sức nóng của Trái đất tránh khỏi bầu khí quyển bên ngoài Không có hiệu ứng nhà kính nhiệt độ của Trái đất có thể sẽ thấp hơn hiện tại và sự sống trên trái đất sẽ không tồn tại, tuy nhiên quá nhiều khí nhà kính trong khí quyển sẽ làm tăng hiệu ứng nhà kính, dẫn đến tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp thứ tự theo tỷ lệ được trình bày trong bảng

dưới đây (Nguồn: Md Mahmudur Rahman, 2004)

Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng góp của các loại khí trong khí quyển

CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 3oC Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ 1885-1940 do thay đổi của khí CO2 trong khí quyển từ 0,027% lên 0,035%

Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5- 4,5oC vào năm 2050

Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất Kể từ những năm 1860, khi nền công nghiệp phát triển cùng với những cánh rừng bị thu hẹp đã làm cho CO2 trong khí quyển tăng lên tới mức 100 phần triệu và nhiệt độ ở Bắc bán cầu cũng tăng lên Và hiện tượng này có xu hướng gia tăng nhanh hơn kể từ những năm 1950

Với vai trò đặc biệt quan trọng trong cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, rừng có ảnh hưởng lớn đến khí hậu từng vùng cũng như toàn cầu Hàng năm có khoảng 100 tỉ tấn CO2 được cố định bởi quá trình quang hợp do cây xanh thực hiện

và một lượng tương tự được trả lại khí quyển do quá trình hô hấp của sinh vật Tuy nhiên tác động của con người đã làm tăng nhanh lượng CO2 vào khí quyển, tính từ năm 1958 đến 2003 thì lượng CO2 trong khí quyển tăng lên 5% Nếu toàn bộ sinh khối của rừng mưa nhiệt đới bị đốt trong vòng 50 năm tới thì lượng CO2 thải ra cùng với lượng không được hấp thụ từ rừng mưa sẽ làm tăng lượng CO2 trong khí

Trang 16

quyển gấp đôi hiện nay và nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 2 - 50C, làm cho băng 2 cực tan dẫn đến những thay đổi đối với các hệ sinh thái và mực nước biển sẽ dâng lên 1-3m làm ngập các vùng thấp ven biển phía nam của Bangladesh, đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam và một phần lớn diện tích các bang Florida và Louisiana của

Mỹ, nhiều hòn đảo trên Thái Bình Dương sẽ biến mất trên bản đồ thế giới Hình 1.6

đã so sánh lượng C phát thải và tích tụ toàn cầu, dữ liệu cho thấy trong suốt thập niên 1990, lượng phát thải trung bình khoảng 8,5 PgC1/năm từ việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch và thay đổi sử dụng đất, trong khi đó tổng số carbon tích tụ hàng năm ở các nguồn như rừng, đất, đại dương chỉ vào khoảng 5,6 PgC/năm Như vậy để cân bằng lượng C phát thải và tích tụ thì phải giảm thiểu hoặc tăng tích

tụ khoảng 2,9PgC/năm (Nguồn: Woods Hole Research Center)

Hình 1.6: Thay đổi Carbon toàn cầu từ 1850-2000

Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khí hậu và mực nước biển có những điểm đáng lưu ý sau:

1 PgC: 1 Petagram carbon= 1 tỷ tấn carbon

Sự thay đổi carbon (PgC/năm)

Phát thải từ nhiên liệu hóa thạch Phát thải từ thay đổi sử dụng đất

Bể chứa từ các nguồn khác Đại dương hấp thụ Tích tụ trong khí quyển

Phát thải

Tích

tụ

Trang 17

- Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt

Nam tăng lên khoảng từ 0,50C đến 0,70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt

độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C Năm 2007, nhiệt

độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940

là 0,8 - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,4 - 0,50C (Chương trình mục tiêu

quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)

- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình

năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958-2007) đã giảm

khoảng 2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ

TNMT, 2008)

- Không khí lạnh: Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ

rệt trong hai thập kỷ qua Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện

mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong

tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó

với biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008)

- Bão: Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn Quỹ

đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn,

nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn (Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho

Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2003)

Hình 1.7: Quỹ đạo của bão

ở Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông

Trang 18

- Mưa phùn: Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần từ thập

kỷ 1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây

(Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 2003)

- Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt

Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay

là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008),tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu

dâng lên khoảng 20cm (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí

hậu, Bộ TNMT, 2008)

Hình 1.8: Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu

Hàm lượng khí CO2 trong khí quyển hiện nay là 0,35% và tỷ lệ này đang có

xu hướng gia tăng Để đánh giá hàm lượng dioxit carbon của không khí trái đất của thời kỳ xa xưa, các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ, đã lấy các mẫu băng trong các chỏm núi băng dày 3400m (có niên đại 160 thiên niên kỷ) ở các độ sâu khác nhau Kết quả phân tích các mẫu băng Bắc cực nói trên của các nhà khoa học Xô Viết và các mẫu băng ở đảo Grinlen của các nhà khoa học ở Grenoble và Berne của Pháp

và Thụy Sỹ đều cho thấy rằng không khí bị nhốt trong các khối băng chứa hàm lượng dioxit carbon là 0,020%, tức 200ppm2 Các giá trị đó thấp hơn 1/3 so với mức

2 ppm: (percent per millions) 1 phần triệu

Trang 19

ở thời kỳ tiền công nghiệp (trước cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18) là

279 – 280ppm và vào cuối thế kỷ 19, tỷ lệ tăng lên 290ppm Kết quả phân tích của Đài thiên văn Mauna Loa (trên đảo Hawaii) cho biết hàm lượng CO2 khí quyển năm 1958 là 315ppm Đến năm 1989 việc phân tích đã cho thấy hàm lượng dioxit carbon đã tăng lên 350ppm và đến năm 1990 là 354ppm Như vậy, trong thời gian khoảng một thế kỷ, nghĩa là từ năm 1850 đến nay, hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển đã tăng lên 25% Việc đo lường loại khí này trong băng của các cực đới

đã cho thấy rõ từ 150 thiên niên kỷ nay chưa bao giờ hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển lại tăng lên nhanh đến như vậy Hiện tại tỷ lệ khí CO2 tăng trong không khí khoảng 0,5% mỗi năm, nếu tiếp tục tăng ở mức độ này, lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi trong khoảng 140 năm tới (Botkin and Keller, 1998) Lượng carbon dioxide hiện tại đã đạt tới 400 ppm, dự đoán sẽ tăng khoảng 450ppm vào năm 2050 tức là hơn gấp 1,5 lần trong thời kỳ tiền công nghiệp và sẽ lên đến 980ppm vào năm

2100

Sự tăng cao hàm lượng CO2 trong không khí sẽ dẫn tới nhiều hậu quả do ô nhiễm môi trường Sự tăng cao này đến một mức độ nào đó sẽ gây hại cho sự sống của con người và sinh vật Có hai cứu tinh có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn dioxit carbon phát thải vào không khí bởi con người là đại dương và thảm thực vật, nhờ đó mà hàm lượng CO2 làm ô nhiễm không khí đã giảm đi Trước đây, các nhà khoa học cho rằng một nửa khối lượng dioxit carbon tích tụ trong không khí, phần còn lại do đại dương và cây xanh hấp thụ Ngày nay, các đo lường của các nhà khoa học đã cho thấy thảm thực vật đã thu giữ trữ lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trên thế giới

Và từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật trên Trái đất đã tạo ra được

150 tỷ tấn vật chất khô thực vật Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò của cây xanh: việc trồng nhiều cây xanh làm giảm hàm lượng dioxit carbon khí quyển hay ngược lại việc phá rừng đã làm tăng hàm lượng đó trong khí quyển

Những nghiên cứu và dẫn liệu đã chỉ ra một số nguyên nhân chính gây nên biến động CO2 trong không khí bao gồm:

- Các nhà máy công nghiệp và các hoạt động khác của con người trên toàn cầu

đã đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ và khí đốt) hơn 10 tỷ tấn quy ra than đá trong một năm Đó chính là nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển

- Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Viện Tài nguyên thế giới (World Ressousces Institute) cho rằng xã hội loài người từ 1860 – 1949 đã thải vào khí quyển khoảng 51 tỷ tấn carbon dưới dạng dioxit carbon thông qua hình thức duy nhất là sử dụng các nhiên liệu hóa thạch Sau đó nhịp độ thải khí CO2 gia tăng

Trang 20

và đạt tới 130 tỷ tấn bổ sung từ 1950 đến 1987 Nếu người ta cộng thêm vào đó khối lượng khí carbonic phát thải do việc đốt phá rừng từ 1860 thì đến năm

1987 khối lượng carbon thải vào khí quyển đạt tới tổng số 241 tỷ tấn chỉ trong vòng hơn một thế kỷ

- Các số liệu được đưa ra bởi các cơ quan nghiên cứu của các nước khác nhau, dù được diễn đạt dưới những hình thức và kết quả khác nhau đều khẳng định rằng

sự gia tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển là một điều xác thực Hiện nay, người ta ước tính rằng hàng năm việc đốt nhiên liệu hóa thạch đã phát thải vào khí quyển 5,5 tỷ tấn dioxit carbon

- Tỷ lệ phát thải CO2 trên toàn cầu được thống kê như sau: Mỹ và Canada 27%, Liên Xô cũ và Đông Âu 25%, Tây Âu 17%, Trung Quốc 9%, Nhật Bản, Ôxtralia và Niu Zilân 8% và các nước còn lại 14% (theo D.Dubrana, 1991)

- Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về gây ô nhiễm không khí bởi CO2 và các loại khí thải khác Mỹ, Canada và Mêhicô đã tiêu thụ gần 40% năng lượng hóa thạch tiêu thụ trên thế giới

- Tại hội nghị Manila 1995, các quốc gia công nghiệp phương Tây bị xem là thủ phạm gây ô nhiễm môi trường bởi lẽ hàng năm các quốc gia này đã phát thải vào khí quyển 23 tỷ tấn khí CO2 phá hoại lớp ôzôn

- Ở châu Á, Trung Quốc là nước đứng đầu trong phát thải CO2 và các khí khác vào môi trường (6,6% trong tổng số), tiếp theo đó là Nhật Bản (chiếm 3,9% trong tổng số) Thống kê thứ hạng về phát thải CO2 của một số nước được xếp

trong bảng dưới đây (Nguồn: World Resources, 1990 – 1991)

CO2

ại

Trang 21

- Các vụ nổ hạt nhân hay các tên lửa hạt nhân đã đốt cháy một khối lượng ôxy rất lớn và cũng tạo ra một khối lượng dioxit carbon khổng lồ

- Việc đốt rừng làm rẫy và nạn phá rừng ở các nước đang phát triển cùng với nạn cháy rừng ở khắp các Châu lục đã làm phát sinh một lượng dioxit carbon không kém phần quan trọng

- Các vật dụng như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ cũng góp phần làm tăng nồng

độ CO2 trong không khí

- Hoạt động tự nhiên như phún xuất của núi lửa hàng năm trên thế giới cũng đã làm sản sinh ra một lượng khí CO2 và SO2 lớn Hồ Nyos ở Cameroon nằm gọn trong miệng núi lửa, làm nước hồ chứa một khối lượng CO2 lớn là 200 triệu

m3 vì vậy mà từ nước hồ bốc lên một đám mây dioxit carbon phủ quanh hồ, có lần đã làm chết ngạt 1700 người sống xung quanh hồ và mọi sinh vật khi đi qua Hồ Monuon ở cách đó 100km, nước hồ sâu 96m và chứa đến 15 triệu m3dioxit carbon và luôn phát thải vào không khí xung quanh và có lần đã giết chết 37 người sống gần đó

1.2 Tác động của biến đổi khí hậu

Tác động từ biến đổi khí hậu được phân loại làm hai mức độ, mức thứ nhất bao gồm các tác động của nhiệt độ tăng trên môi trường vật lý:

• Các sông băng tan chảy nhanh hơn so với dự đoán

• Dòng chảy của băng từ những sông băng ở Greenland đã tăng hơn gấp đôi trong thập kỷ qua

• Các chỏm băng Bắc Cực đoạn biển giữa Bắc Mỹ và Nga đã gần như hình thành vào mùa hè gần đây

• Mực nước biển toàn cầu tăng lên, đặc biệt là ở các vùng đồng bằng sông thấp, vùng các quốc đảo nhỏ

• Số lượng nhóm cơn bão lớn đã gần như tăng gấp đôi trong 30 năm qua

• Gần 300 loài thực vật và động vật đang di chuyển gần hơn với các cực

• Những đợt nắng nóng đang trở nên thường xuyên hơn và mạnh hơn

• Hạn hán và cháy rừng xảy ra thường xuyên hơn

Bởi vì con người chúng ta phụ thuộc vào môi trường vật lý cho tất cả các nguồn lực chúng ta cần như nước, thực phẩm, quần áo, chỗ ở, hàng hóa sản xuất,

Trang 22

vận tải, năng lượng, việc làm, vui chơi giải trí, vv – cho nên biến đổi khí hậu tác động đến các nguồn tài nguyên chúng ta cần như:

• Nước - bao gồm cả hạn hán, nguồn cung cấp nước, chất lượng nước

• Thực phẩm - bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp

• Các hệ sinh thái - bao gồm cả các khu bảo tồn, vườn quốc gia, đa dạng loài,

và rừng tự nhiên, rừng trồng

• Bờ biển - bao gồm cả thủy sản, đời sống biển, ven biển cơ sở hạ tầng

• Y tế - bao gồm cả nhiệt căng thẳng, bệnh truyền nhiễm

• Định cư - bao gồm cả cơ sở hạ tầng, quy hoạch địa phương, vận tải, năng lượng, dịch vụ xã hội

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến môi trường thể hiện qua các mặt sau :

Cung cấp thực phẩm bị hạn chế: Biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi lịch

trình và thời gian của mùa trồng trọt Nó có thể mở rộng El Nino hoặc mang lại mưa nhiều hơn bình thường trong quá trình La Nina Nông dân có thể mắc sai lầm khi họ phải trồng cây, do đó ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, mùa vụ, thời gian thu hoạch và giảm năng suất, phẩm chất Tình trạng thiếu nước trong những tháng khô cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng và sản xuất lương thực, thực phẩm

Tăng sự xuất hiện của sâu bệnh: Biến đổi khí hậu có thể thay đổi vòng đời

của sâu bệnh, gia tăng mật độ tại một thời điểm khác nhau Nông dân có thể không nhận thức và không chuẩn bị cho những thay đổi này Bệnh cũng có thể trở thành phổ biến dựa trên các điều kiện môi trường do biến đổi khí hậu Bão, lũ nhiều trong mùa mưa đã tăng tỷ lệ mắc bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, trùng xoắn, và bệnh truyền nhiễm qua nước thường xảy ra trong những tháng tháng mùa mưa

Sinh thái mất cân bằng: Biến đổi khí hậu có thể làm cho các tháng mùa hè

ấm hơn hoặc tháng lạnh lạnh hơn bình thường Những thay đổi về nhiệt độ có thể làm cho động vật di chuyển đến những nơi phù hợp hơn, hoặc buộc họ phải thích nghi với các điều kiện bất lợi Một số thậm chí có thể chết và bị tuyệt chủng vì không có khả năng thích nghi với những thay đổi trong điều kiện môi trường khắc nghiệt Mức độ đa dạng sinh học bị suy giảm và rủi ro hơn bởi vì biến đổi khí hậu Thế giới chỉ còn 5 năm hành động để các hiện tượng thời tiết cực đoan, thay đổi khí hậu bất thường không diễn ra, theo Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) Với xu hướng hiện nay, “việc sử dụng năng lượng hóa thạch ngày càng tăng

sẽ dẫn tới thay đổi khí hậu dạng thảm họa và không thể thay đổi được” Để khí hậu

Trang 23

không biến đổi đến mức không thể kiểm soát, các nhà khoa học và chính phủ khắp thế giới đã chấp nhận mức tăng nhiệt độ toàn cầu tối đa là 20C

Hình 1.9: Nhà máy nhiệt điện chạy than thải nhiều khí CO 2 (Nguồn: hecweb.org)

Tuy nhiên, ngưỡng này có thể sớm bị vượt qua trong 5-6 năm tới, khi mà các nhà máy điện, nhà máy sản xuất cùng các nguồn phát thải khác vẫn liên tục thải khí gây hiệu ứng nhà kính, trong đó có CO2

Để khí hậu thay đổi mạnh, trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu năng lượng, các chính phủ phải giảm thiểu sử dụng năng lượng hóa thạch, IEA nói cụ thể là giảm trợ cấp cho sản xuất, mua bán, sử dụng năng lượng hóa thạch, hỗ trợ việc phát triển năng lượng tái tạo, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng, đánh thuế phát thải carbon…Nếu không, nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm 60C, tác động mạnh đến đa dạng sinh học, nông nghiệp và sự định cư của con người Nói chung, sẽ khó sống vì hạn hán, lũ lụt, các đợt nắng nóng và bão lũ thường xuyên diễn ra

Nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng khoảng 10C trong thế kỷ qua và dự báo tăng thêm 1-50C tính đến năm 2100

Báo cáo của IEA dự báo nhu cầu năng lượng sơ cấp sẽ tăng 33% vào năm

2035, với 90% mức tăng này đến từ các nền kinh tế đang phát triển

Một nửa nhu cầu sẽ được đáp ứng thông qua việc tăng cường sử dụng than

đá Trung Quốc, nước tiêu thụ than đá lớn nhất thế giới, tiếp tục duy trì vị trí này đến năm 2035 Vào thời điểm đó, Trung Quốc sử dụng năng lượng nhiều hơn Mỹ gần 70%, theo báo cáo của IEA

Trang 24

Tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch trong tiêu thụ năng lượng sơ cấp toàn cầu có thể giảm từ 81% hiện nay xuống 75% năm 2035, trong khi tỷ lệ năng lượng tái tạo tăng

từ 13% lên 18% Để có được điều này, mức trợ cấp cho năng lượng tái tạo sẽ tăng

từ 64 tỷ USD hiện nay lên 250 tỷ USD năm 2035 (Nguồn: AFP)

1.3 Vấn đề đạo đức của biến đổi khí hậu

Chúng ta cần nhìn thấy sự thay đổi khí hậu không chỉ là một vấn đề khoa học

và chính trị cho các chính phủ cần giải quyết Biến đổi khí hậu còn là vấn đề đạo đức, bởi vì các thảm họa khí hậu tác động nhiều đến những người nghèo trên thế giới

Trong một bài phát biểu tại Diễn đàn Thanh niên thế giới năm 2007 tại Kampala, Mark Collins nói rằng biến đổi khí hậu là vấn đề quan trọng nhất đối với thế giới: "Nếu các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã được viết ngày hôm nay, giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu sẽ đứng đầu danh sách" Chúng ta đã qua giai đoạn nửa chặng đường hướng tới mục tiêu năm 2015 đối với các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), nhưng hiệu quả là tụt lại phía sau, ít nhất một phần là

do tính bền vững môi trường không được giải quyết đầy đủ Trừ khi chúng ta có thể kiểm soát nạn phá rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo nguồn cung cấp nước và địa chỉ [carbon] ô nhiễm là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, nghèo đói sẽ luôn

luôn theo dõi thế giới (Nguồn: Collins, M.(2008) Biến đổi khí hậu: Một vấn đề ưu

tiên cho Khối thịnh vượng chung.)

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng những tác động của biến đổi khí hậu đến các nước nghèo nhất trên thế giới là rất quan trọng Điều này là do các nước đang phát triển dễ bị tác động bởi các sự kiện thời tiết khắc nghiệt (như lũ lụt, hạn hán và bão) và những thay đổi khác so với các nước giàu Biến đổi khí hậu sẽ làm:

• Tổn hại năng suất nông nghiệp trên khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (an ninh lương thực đe dọa)

• Nguồn nước giảm hơn nữa số lượng và chất lượng ở các vùng khô hạn và bán khô hạn (nơi các cộng đồng nghèo phụ thuộc vào lượng mưa cho cây trồng của

Trang 25

• Nâng cao mực nước biển và di dời hàng chục triệu người trong khu vực, vùng thấp như sông Hằng, sông Cửu Long, Sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Nile (đe dọa sự tồn tại của nhiều thành phố và thậm chí một số quốc đảo nhỏ.) Phản ứng với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển cũng có thể làm tăng giá thực phẩm, năng lượng, và các hàng hóa khác, làm cho các mặt hàng này đắt tiền hơn

Như vậy, Sự phát triển sẽ bị chậm lại do tác động của biến đổi khí hậu, để lại nhiều người trong cảnh nghèo đói Các cộng đồng nghèo nhất và các quốc gia nghèo đã đóng góp ít nhất cho vấn đề phát thải khí nhà kính, nhưng họ sẽ bị ảnh hưởng tồi tệ nhất

Hình 1.10: Phát thải CO 2 bình quân đầu người năm 2007 ở một số quốc gia

Đại diện từ gần 200 quốc gia đã tụ hội về Durban, Nam Phi, dự Hội nghị Liên Hiệp Quốc (LHQ) về biến đối khí hậu, kéo dài 12 ngày bắt đầu từ thứ Hai, 28/11/

2011 Trong bản phúc trình đưa ra ngay khi các cuộc hội đàm của LHQ bắt đầu, tổ chức từ thiện Oxfam cho biết tình trạng khí hậu khắc nghiệt đã dẫn tới tình trạng giá thực phẩm tăng cao khiến hàng chục triệu người bị đẩy vào tình trạng nghèo đói trong hơn 18 tháng qua

Tháng 2 năm 2011, Ngân hàng Thế giới cho biết có khoảng 44 triệu người tại các nước đang phát triển đã bị rơi vào tình trạng nghèo đói khốn cùng do kết quả của giá lương thực tăng cao

Phát thải CO 2 bình quân đầu người năm 2007

Trang 26

Mưa bão tại Đông Nam Á cũng đẩy giá gạo tại Thái Lan và Việt Nam lên cao Vào tháng Chín và tháng Mười, giá gạo cao hơn so với năm ngoái 25-30% Ngoài yếu tố tự nhiên còn có những tác động của con người vượt ra ngoài tầm kiểm soát đang ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu tại Việt Nam, đó là vì Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu nhiều ảnh hưởng của bão tố

Theo nhận định của IPCC trong thế kỷ 21, số lượng thảm họa thiên nhiên có thể sẽ tăng gấp 10 lần và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người cũng như gây thiệt hại nặng nề về kinh tế

Hình 1.11: Người dân Somalia phải đi tị nạn ở Kenya do hạn hán (Nguồn:

Dự báo, khu vực châu Âu và vùng Địa Trung Hải, Trung và Bắc Mỹ, Brazil

và Nam Phi nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với thảm họa hạn hán Điều đó đòi hỏi các nước, đặc biệt là các nước phát triển, thực hiện nghiêm túc các cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

Nhóm chuyên viên hy vọng rằng những nhận định của họ sẽ là cơ sở để cộng đồng quốc tế thông qua những giải pháp mới nhằm cắt giảm khí thải nhà kính, ngăn chặn mức độ nghiêm trọng của tình trạng biến đổi khí hậu

Trang 27

Trong khi đó, Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) Antonio Guterres cảnh báo rằng biến đổi khí hậu và hậu quả của nó là nạn di cư ồ ạt ngày càng đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế Theo ông, sản xuất nông nghiệp bị giảm ở các nước đang phát triển, công dân các quốc đảo nhỏ buộc phải từ bỏ quê hương do nước biển dâng cao, quan hệ hữu cơ giữa biến đổi khí hậu và các thảm họa thiên nhiên làm hơn 40 triệu người trên thế giới phải di cư, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt các nguồn tài nguyên khan hiếm… là những nguy cơ tiềm ẩn gây ra nạn di cư ồ

ạt và tình trạng xung đột trên thế giới

Biến đổi khí hậu đang làm tăng quy mô và sự phức tạp của tình trạng di cư trên toàn cầu, do đó không thể tách rời thách thức toàn cầu này với các thách thức toàn cầu khác như dân số tăng, đô thị hóa, an ninh lương thực, nước và năng lượng Ông Guterres kêu gọi Hội đồng bảo an Liên hợp quốc thực hiện các biện pháp khẩn cấp nhằm hạn chế các tác nhân gây xung đột và di cư của tình trạng biến đổi khí hậu Cộng đồng quốc tế cần nhanh chóng thúc đẩy chương trình hỗ trợ các nước nghèo thích nghi và đối phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, đồng thời thiết lập các nguyên tắc chỉ đạo hỗ trợ những người buộc phải rời bỏ quê hương do ảnh hưởng từ các thảm họa thiên nhiên và môi trường Đây không chỉ là vấn đề nhân đạo cấp bách mà còn tạo ra các điều kiện để củng cố hòa bình và an ninh quốc tế

Trang 28

CHƯƠNG 2: GIẢM NHẸ VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU

2.1 Các khái niệm

Giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu là bất kỳ hành động nào được thực

hiện nhằm loại bỏ vĩnh viễn hoặc giảm thiểu nguy cơ tác động lâu dài và nguy hiểm của biến đổi khí hậu đối với cuộc sống con người và tài sản

Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC) xác định giảm nhẹ như: "Một sự can thiệp của con người để giảm nguồn phát thải khí nhà kính hoặc tăng cường các

bể hấp thụ các khí gây hiệu ứng nhà kính"

Thích ứng với biến đổi khí hậu đề cập đến khả năng của một hệ thống thích

nghi với biến đổi khí hậu, giảm thiệt hại tiềm năng, tận dụng cơ hội, và để đối phó với những hậu quả

IPCC xác định "Thích ứng với biến đổi khí hậu là điều chỉnh các hệ thống tự nhiên hoặc con người phản ứng với thực tế hoặc dự kiến sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu, khai thác các cơ hội có lợi Các loại thích ứng có thể được phân biệt, bao gồm thích ứng với dự báo và phản ứng tức thì, thích ứng tư nhân và công cộng, thích ứng tại chỗ và có kế hoạch”

Giảm nhẹ và thích ứng với khí hậu: Các thuật ngữ "thích ứng" và "giảm nhẹ"

là hai điều khoản quan trọng cơ bản trong các cuộc tranh luận về thay đổi khí hậu IPCC định nghĩa thích nghi như điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người đáp ứng với thực tế hoặc dự kiến sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu Theo

Mitchell và Tanner (2006) thích ứng được định nghĩa như một sự hiểu biết của cá

nhân, nhóm và các hệ thống tự nhiên có thể chuẩn bị và đáp ứng với thay đổi khí hậu và môi trường của họ Điều này là rất quan trọng để giảm thiểu tính dễ tổn

thương với biến đổi khí hậu Trong khi giảm nhẹ là khắc phục những nguyên nhân

của biến đổi khí hậu, thích ứng là khắc phục những tác động của hiện tượng này

Tiềm năng để điều chỉnh, giảm thiểu tác động tiêu cực và tối đa hóa lợi ích từ thay đổi khí hậu được biết đến như khả năng thích ứng Một thích ứng thành công có thể làm giảm tính dễ bị tổn thương bằng cách xây dựng và tăng cường các chiến lược đối phó hiệu quả

Loài người ngày nay, đang nhận thức được dần những tác động của việc không hành động trong quá khứ để giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, thích ứng không có nghĩa là hoàn toàn thụ động, đúng hơn đó là một điều chỉnh tích cực trong việc phản ứng với các tác động mới Chúng ta đã lựa chọn chủ động (giảm

Trang 29

nhẹ), và phải lập kế hoạch để sống với những hậu quả (thích ứng) của sự nóng lên toàn cầu

Ý tưởng giảm thiểu ít hơn sự tác động có nghĩa là biến đổi khí hậu lớn hơn,

và do đó đòi hỏi phải thích ứng hơn đó là cơ sở mang tính cấp bách phải giảm khí gây hiệu ứng nhà kính Giảm thiểu và thích ứng với khí hậu nên được xem là lựa chọn thay thế cho nhau, vì chúng không hoạt động rời rạc mà là một kết hợp của hành động trong một chiến lược tổng thể để giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính

2.2 Chiến lược giảm nhẹ

Biến đổi khí hậu liên quan đến tương tác phức tạp giữa khí hậu, môi trường, kinh tế, chính trị, quá trình thể chế, xã hội, và công nghệ Nó phải được giải quyết triệt để trong các mục tiêu mang tính tổng hợp

Trong Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)

có ba điều kiện cần được thực hiện rõ ràng khi hướng tới mục tiêu ổn định khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển:

1 Phải diễn ra trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi tự nhiên đối với biến đổi khí hậu;

2 Sản xuất lương thực không bị đe dọa và;

3 Sự phát triển kinh tế cần phải tiến hành một cách bền vững

Để loại bỏ hoặc làm giảm nguy cơ của biến đổi khí hậu đến cuộc sống con người và tài sản, cả hai công cụ chính sách và công nghệ phải được sử dụng trong bối cảnh phát triển bền vững

tế, y tế công cộng và chất lượng môi trường, dự án hoặc các biện pháp thực hiện để giảm nhẹ hoặc thích ứng với thay đổi khí hậu"

Thích ứng khí hậu là khắc phục những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bằng cách giảm thiểu tác động của nó Đó là tất cả các hành động của chúng ta có thể làm để ngăn chặn hoặc bù đắp thiệt hại đến hệ sinh thái, nông nghiệp, vùng ven

Trang 30

biển, cơ sở hạ tầng đô thị và sức khỏe con người Một số ví dụ về các chiến lược hành động thích ứng bao gồm:

• Nước uống: tăng thu và dự trữ nước mưa cho đời sống và sản xuất, tái sử dụng nước, khử muối nước mặn, nâng cao hiệu quả trong sử dụng nước và thủy lợi

• Nông nghiệp: thay đổi thời vụ trồng và giống cây trồng, chuyển đổi cây trồng, quản lý đất đai tốt hơn (kiểm soát xói mòn và bảo vệ đất để trồng cây)

• Cơ sở hạ tầng: di dời người dân đến nơi an toàn, xây dựng đê biển ngăn mặn

và các rào cản dâng do bão, củng cố các đụn cát, tạo ra các đầm lầy và vùng đất ngập nước là vùng đệm chống lại mực nước biển dâng và lũ lụt

• Sức khoẻ con người: các kế hoạch hành động để đối phó với mối đe dọa từ nhiệt độ cực đoan, các dịch vụ y tế khẩn cấp, giám sát bệnh nhạy cảm với khí hậu tốt hơn và kiểm soát, nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh

• Du lịch: đa dạng hóa thu hút du khách và tăng các khoản thu từ du lịch để xây dựng các công trình phúc lợi chung, giảm tác động biến đổi khí hậu

• Giao thông vận tải: sắp xếp lại và di chuyển các tuyến đường, thiết kế đường giao thông, đường sắt và thiết bị vận tải khác để đối phó với sự nóng lên của khí hậu và thuận lợi cho việc thoát nước

• Năng lượng: tăng cường chi phí truyền tải và mạng lưới phân phối, đưa một

số hiệu quả năng lượng cáp ngầm, và năng lượng tái tạo, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch

Đối với các nước đang phát triển, thích ứng tốt và chính sách phát triển tốt là gắn bó mật thiết với nhau Thực tiễn biến đổi khí hậu bây giờ phải trở thành trung tâm cho quá trình lập kế hoạch quốc gia và hỗ trợ phát triển Quốc tế hỗ trợ cho giải pháp thích ứng sẽ được nhận thông qua việc cung cấp các các cam kết của các nước giàu tăng gấp đôi viện trợ, cung cấp hàng trăm tỷ đô la để giảm phát thải khí nhà kính và mua chứng chỉ carbon

Phát triển và đa dạng hóa chiến lược quan trọng ở bất cứ nơi nào có thể, nhưng cuối cùng cộng đồng quốc tế sẽ phải tìm cách để hỗ trợ các phản ứng thay thế, bao gồm cả tái định cư quản lý của một số người di cư ở các nước Điều này sẽ mang lại nhiều thách thức, đặc biệt là đối với những người phải di cư Áp lực sẽ lớn hơn nhiều nếu không làm giảm biến đổi khí hậu dẫn đến mực nước biển dâng, đang

đe dọa nhiều hơn trong các khu vực ven biển, vùng thấp

Trang 31

Giảm thiểu và thích ứng khí hậu không nên được xem là lựa chọn thay thế cho nhau, vì chúng không hoạt động tách rời mà thiết lập một sự kết hợp hành động trong một chiến lược tổng thể để giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính

Hành động của các quốc gia được đề nghị:

- Phát thải khí nhà kính toàn cầu phải giảm ít nhất 50% so với mức năm 1990 vào năm 2050, để hạn chế những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến biến đổi khí hậu Điều này đòi hỏi hành động hợp tác, phối hợp với mọi quốc gia, mọi thành phần dân cư

- Các nước phát triển – nơi sản xuất nhiều loại khí gây hiệu ứng nhà kính đã

có trong khí quyển trên một thế kỷ qua - phải ngay lập tức có mục tiêu quốc gia ràng buộc giảm phát thải 20% đến 40% vào năm 2020, và cam kết cắt giảm ít nhất 80% vào năm 2050

- Thành quả của các nước phát triển phải được thực hiện đáng tin cậy vào năm 2020

- Các nước đang phát triển, mới phát triển có thu nhập trên trung bình (như Nga, Trung Quốc, Ấn độ, Brasil, Nam Phi…) cũng phải được đưa vào mục tiêu ràng buộc quốc gia giảm phát thải 20% khí nhà kính vào năm 2020 Các quốc gia này phải hành động ngay lập tức để ổn định và đảo ngược tốc độ tăng trưởng lượng khí thải nhà kính

- Một cam kết của tất cả các nước, không phân biệt các mục tiêu phát triển, các tổ chức, …cần có các chính sách cụ thể để giảm phát thải khí nhà kính

Bản thân mọi thành viên nhân loại đều có thể hành động để góp phần giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu, các hành động cụ thể là:

 Thay đổi việc sử ánh sáng hợp lý, tiết kiệm năng lượng

 Ít sử dụng xe ô tô, dùng phương tiện công cộng

 Sử dụng các vật liệu tái chế nhiều hơn

 Ít sử dụng nước nóng

 Tránh dùng các sản phẩm với rất nhiều bao bì không phân hủy được

 Hạn chế sử dụng máy điều hòa nhiệt độ

 Trồng nhiều cây xanh

 Tắt các thiết bị điện tử khi không sử dụng

 ……

Trang 32

CHƯƠNG 3: NÔNG LÂM KẾT HỢP VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

3.1 Nhận thức chung về Nông lâm kết hợp

3.1.1 Các khái niệm về nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp (NLKH) là một lĩnh vực khoa học tương đối mới Theo thời gian, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển cho đến nay

NLKH là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác thích ứng với các điều kiện văn hóa, xã hội của dân cư địa phương (Bene và các cộng sự, 1977)

NLKH là một hệ thống quản lý đất đai, trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp

để tạo ra các lợi ích kinh tế - xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979)

NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có tính toán trên cùng một đơn vị diện tích đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các bộ phận hợp thành nên hệ thống (Lundgren và Raintree, 1983)

Gần đây, NLKH còn được hiểu theo góc độ cảnh quan (Landscape), có nghĩa

là không chỉ là việc phối hợp giữa cây lâu năm với cây ngắn ngày trên một đơn vị diện tích mà còn có thể hiểu ở góc độ rộng hơn trên một lưu vực Trong một lưu vực từng loại cây trồng, vật nuôi được phối trí một cách hài hoà ở các phần diện tích khác nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau tạo ra sự đa dạng và bền vững (Ví dụ: đầu nguồn là rừng; dưới thấp hơn là các loài cây lâu năm, cây ngắn ngày không cần tuới, chịu hạn; và vùng ẩm là lúa nước, rau, )

Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng tài nguyên năng động, thông qua

sự tích hợp của cây lâu năm ở các trang trại và cảnh quan nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm và duy trì sản xuất để tăng lợi ích kinh tế xã hội, và môi trường (Leakey 2007)

Từ các định nghĩa này, nhận thấy hệ thống nông lâm kết hợp có đặc điểm

Trang 33

- Có hai hoặc nhiều loài thực vật (hoặc thực vật và động vật) ít nhất một trong số đó là một thân gỗ lâu năm,

- Hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra;

- Luôn luôn có chu kỳ sản xuất dài hơn một năm và

- Có mối quan hệ tương tác đáng kể về mặt sinh thái và kinh tế giữa các bộ phận hợp thành nên hệ thống (Lasco và Visco, 2003)

Các tương tác giữa các thành phần khác nhau làm cho nông lâm kết hợp độc đáo hơn nông nghiệp hoặc lâm nghiệp truyền thống độc canh

3.1.2 Lợi ích canh tác nông lâm kết hợp

Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm từ các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người và gia súc; tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất và cung cấp nước, cải thiện môi trường sống… Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu hoạch nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và giảm nguy cơ mất mùa Với những lợi ích này, nông lâm kết hợp có thể cải thiện cuộc sống của người nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, và duy trì sự ổn định sinh thái

Beetz (2002) chỉ ra rằng các kết quả tương tác sinh học cung cấp nhiều lợi ích, bao gồm cả nguồn thu nhập đa dạng, sản xuất sinh học tăng, chất lượng nước tốt hơn, và cải thiện môi trường sống cho cả người và động vật Tính chất đa chức năng của NLKH cung cấp một loạt các cơ hội, lợi ích cho các thành phần trên và dưới mặt đất, ví dụ như tạo ra hàng rào sống, gỗ và môi trường sống của động vật hoang dã, cải thiện môi trường cho hoạt động của sinh vật đất

3.2 Giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng thông qua nông lâm kết hợp

3.2.1 Nông Lâm kết hợp giúp giảm phát thải của hệ thống canh tác

Theo báo cáo của IPCC (2000), nông lâm kết hợp có một vai trò quan trọng trong giảm thiểu sự tích tụ các khí nhà kính (GHG) vào khí quyển (Albrecht, 2003) Nông lâm kết hợp có khả năng cao trong hấp thụ các-bon bởi các loài thực vật, trong đó đáng kể nhất là thực vật thân gỗ sống lâu năm Hệ thống nông lâm kết hợp làm giảm tính dễ bị tổn thương của nông dân và giúp họ thích nghi với điều kiện thay đổi ở quy mô nhỏ, thường đáp ứng được để trồng rừng, tái trồng rừng đủ điều kiện trong cơ chế phát triển sạch (CDM)

Sự tương tác của các thành phần khác nhau của các hệ thống nông lâm kết hợp có thể giúp hấp thụ và cô lập carbon dioxide và các khí nhà kính khác từ khí quyển Các nghiên cứu đã cho thấy khoảng 5,7 triệu ha của hệ thống nông lâm kết hợp ở Philippines có thể cô lập khoảng 1,37 đến 26 triệu tấn carbon mỗi năm

Trang 34

Một trong những vai trò quan trọng của Nông lâm kết hợp trong việc giảm tác động của biến đổi khí hậu là khả năng tích tụ cácbon thông qua hệ thống nông lâm kết hợp nhằm giảm thiểu thay đổi khí hậu

Nông lâm kết hợp có một vai trò đặc biệt trong việc giảm thiểu tích tụ khí nhà kính trong khí quyển (IPCC, 2000) Phân tích các thay đổi sử dụng đất trong báo cáo của IPCC, cho thấy nông lâm kết hợp có tiềm năng cao nhất trong việc hấp thụ các-bon, bởi vì hiện tại tổng diện tích đất được sử dụng theo hướng Nông lâm kết

hợp chiếm diện tích lớn

Đất ngập nước phục hồi

Phục hồi các vùng đất bị suy thoái

Nông lâm kết hợp Quản lý rừng thứ sinh

Chăn thả gia súc Qquan lý đất trồng lúa

Quản lý đất trồng trọt hàng năm

0 100 200 300 400 500 600 700

Hình 3.1: Dự báo tiềm năng hấp thụ C vào năm 2040 (Mt C/ năm) với các phương

thức sử dụng đất và lựa chọn quản lý khác nhau (nguồn IPCC, 2000)

Kết quả chương trình nghiên cứu các giải pháp thay thế canh tác nương rẫy (SBA) của Nhóm Tư vấn Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR) (Palm et al 2004) cho thấy khả năng hấp thụ carbon của các hệ thống nông lâm kết hợp so với của kiểu rừng nhiệt đới ẩm được ước tính như sau:

Hình 3.2: Lưu giữ C trong các hệ sinh thái khác nhau của vùng nhiệt đới ẩm

R

N Hoa màu

Ngày đăng: 28/02/2015, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Tuấn Anh, (2007): Dự báo năng lực hấp thụ CO2 của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Dăk Nông. Luận Văn Thạc Sĩ Khoa học Lâm nghiệp. Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo năng lực hấp thụ CO2 của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại huyện Tuy Đức, tỉnh Dăk Nông
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2007
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2009). Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân cho Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dân cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
4. FCCC/SBSTA/2004/INF.7 (2004): Framework convention on climate change: Estimation of emissions and removals in land-use change and forestry and issues relating to projections. Note by the secretariat.http://www.unfccc.int. com (www.greenhouse.gov.au) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Framework convention on climate change: Estimation of emissions and removals in land-use change and forestry and issues relating to projections
Tác giả: FCCC/SBSTA/2004/INF.7
Năm: 2004
5. Flannery, T. (2007). Thinking about Climate Change: A Guide for Teachers and Students Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thinking about Climate Change
Tác giả: Flannery, T
Năm: 2007
6. Joyotee Smith and Sara J. Scherr (2002): Forest Carbon and Local Livelohhods. Assessment of Opportunities and Policy Recommendations.CIFOR Occasional Paper No. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest Carbon and Local Livelihoods. Assessment of Opportunities and Policy Recommendations
Tác giả: Joyotee Smith, Sara J. Scherr
Nhà XB: CIFOR
Năm: 2002
7. Zack Guido, (2008). Basic Concepts climate change. The University of Arizona. USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basic Concepts climate change
Tác giả: Zack Guido
Nhà XB: The University of Arizona
Năm: 2008
8. Bao Huy, Pham Tuan Anh (2008): Estimating CO 2 sequestration in natural broad-leaved evergreen forests in the Central Highlands of Vietnam. Aia- Pacific Agroforestry Newsletter – APANews, FAO, SEANAFE; No.32, May 2008, ISSN 0859-9742 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating CO 2 sequestration in natural broad-leaved evergreen forests in the Central Highlands of Vietnam
Tác giả: Bao Huy, Pham Tuan Anh
Nhà XB: Aia- Pacific Agroforestry Newsletter – APANews
Năm: 2008
9. Bảo Huy (2009): Phương pháp nghiên cứu ước tính trữ lượng carbon của rừng tự nhiên làm cơ sở tính toán lượng CO 2 phát thải từ suy thoái và mất rừng ở Việt Nam. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Số 1/2009.Hà Nội; tr. 85 – 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu ước tính trữ lượng carbon của rừng tự nhiên làm cơ sở tính toán lượng CO 2 phát thải từ suy thoái và mất rừng ở Việt Nam
Tác giả: Bảo Huy
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2009
10. Bảo Huy và CTV, (2009). Ước lượng năng lực hấp thu CO 2 của bời lời đỏ (Litsea glutinosa) trong mô hình Nông lâm kết hợp Bời lời đỏ - Sắn ở huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Việt Nam. VNAFE Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước lượng năng lực hấp thu CO 2 của bời lời đỏ (Litsea glutinosa) trong mô hình Nông lâm kết hợp Bời lời đỏ - Sắn ở huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Việt Nam
Tác giả: Bảo Huy, CTV
Nhà XB: VNAFE
Năm: 2009
11. Bảo Huy, (2010). Viễn thám và GIS trong Quản lý tài nguyên thiên nhiên. Nhà xuất bản Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viễn thám và GIS trong Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Bảo Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp
Năm: 2010
12. Võ Hùng, (2009). Bài giảng Nông lâm kết hợp – Dùng cho cao học. Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nông lâm kết hợp
Tác giả: Võ Hùng
Năm: 2009
14. Louis V. Verchot; Meine Van Noordwijk et al (2007). Climate change: linking adaptation and mitigation through agroforestry. Science Business Media B.V Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change: linking adaptation and mitigation through agroforestry
Tác giả: Louis V. Verchot, Meine Van Noordwijk
Nhà XB: Science Business Media B.V
Năm: 2007
15. Mark W. Rosegrant, Mandy Ewing, et al (2008). Climate Change and Agriculture: Threats and Opportunities. W.B. Druckerei GmbH Hochheim am Main. Eschborn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change and Agriculture: Threats and Opportunities
Tác giả: Mark W. Rosegrant, Mandy Ewing, et al
Năm: 2008
16. Santiago Olmos, (2001). Vulnerability and Adaptation to Climate Change: Concepts, Issues, Assessment Methods Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability and Adaptation to Climate Change
Tác giả: Santiago Olmos
Năm: 2001
17. Ulric O.D. Trotz (2005). Mainstreaming Adaptation to Climate Change (MACC) Project. Belmopan, Belize Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mainstreaming Adaptation to Climate Change (MACC) Project
Tác giả: Ulric O.D. Trotz
Năm: 2005
3. Chi cục kiểm lâm Đăk Lăk, (2011). Báo cáo tổng kết chương trình khuyến lâm tỉnh Đăk Lăk, giai đoạn 2010 – 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Gia tăng hiệu ứng nhà kính - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.1 Gia tăng hiệu ứng nhà kính (Trang 8)
Hình 1.2: Nồng độ gia tăng của khí nhà kính - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.2 Nồng độ gia tăng của khí nhà kính (Trang 9)
Hình 1.3: Mực nước biển dâng do nóng lên toàn cầu và Dự báo 2100 - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.3 Mực nước biển dâng do nóng lên toàn cầu và Dự báo 2100 (Trang 10)
Hình 1.4: Hiệu ứng nhà kính khí quyển - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.4 Hiệu ứng nhà kính khí quyển (Trang 12)
Hình 1.5: Nghiên cứu mới khẳng định toàn cầu đang thật sự nóng lên - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.5 Nghiên cứu mới khẳng định toàn cầu đang thật sự nóng lên (Trang 13)
Hình 1.8: Diễn biến của mực nước biển tại Trạm  hải văn Hòn Dáu - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.8 Diễn biến của mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dáu (Trang 18)
Hình 1.9: Nhà máy nhiệt điện chạy than thải nhiều khí CO 2 . (Nguồn: hecweb.org) - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.9 Nhà máy nhiệt điện chạy than thải nhiều khí CO 2 . (Nguồn: hecweb.org) (Trang 23)
Hình 1.10: Phát thải CO 2  bình quân đầu người năm 2007 ở một số quốc gia - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 1.10 Phát thải CO 2 bình quân đầu người năm 2007 ở một số quốc gia (Trang 25)
Hình 3.4: Mô hình hàm 1/2 log biểu diễn sự suy giảm lượng C tích luỹ trong các - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.4 Mô hình hàm 1/2 log biểu diễn sự suy giảm lượng C tích luỹ trong các (Trang 36)
Hình 3.5: Giải tích cây bời lời trong - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.5 Giải tích cây bời lời trong (Trang 38)
Bảng 3.2: Khối lượng C/CO 2  hấp thụ trong các bộ phận và cây bình quân bời lời đỏ - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Bảng 3.2 Khối lượng C/CO 2 hấp thụ trong các bộ phận và cây bình quân bời lời đỏ (Trang 42)
Hình 3.10: Cách ứng dụng các mô hình ước lượng CO 2  bời lời đỏ hấp thụ trong mô - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.10 Cách ứng dụng các mô hình ước lượng CO 2 bời lời đỏ hấp thụ trong mô (Trang 45)
Hình 3.11: Tiến trình phát triển kỹ thuật có sự tham gia - PTD - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.11 Tiến trình phát triển kỹ thuật có sự tham gia - PTD (Trang 59)
Hình 3.12: Làm giàu  rừng khộp nghèo  bằng cây tếch - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.12 Làm giàu rừng khộp nghèo bằng cây tếch (Trang 62)
Hình 3.13: Mô hình NLKH: Tre; Mít nghệ xen dứa Cayen trên đất dốc - Bài giảng nông lâm kết hợp với biến đổi khí hậu
Hình 3.13 Mô hình NLKH: Tre; Mít nghệ xen dứa Cayen trên đất dốc (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w