Sau đây là một số khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay: - Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA NÔNG – LÂM - NGƯ
BÀI GIẢNG (Lưu hành nội bộ) NÔNG LÂM NGƯ KẾT HỢP
(Dành cho sinh viên ngành Phát triển nông thôn, hệ đại học chính quy)
Tác giả: Lê Thị Hương Giang
Quảng Bình, năm 2016
Trang 2CHƯƠNG 1
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA NÔNG LÂM NGƯ KẾT HỢP
1.1 Lược sử phát triển các khái niệm nông lâm kết hợp
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nông lâm kết hợp Sau đây là một số khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay:
- Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức
sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất với các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/ hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hoá xã hội của dân cư địa phương (Bene và các cộng sự, 1977)
- Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm
của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trêm một diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979)
- Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống đất trong đó các cây
lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, cây ăn quả hay cây công nghiệp ) được trồng
có suy tính trên một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng (Lundgren và Raintrree, 1983)
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu
năm với cây hoa màu và /hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái
và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách vững bền trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn (Nair, 1987)
Các khái niệm trên mô tả nông lâm kết hợp như là một loạt các hướng dẫn cho một cách sử dụng đất liên tục Tuy nhiên, nông lâm kết hợp như là một kỹ thuật và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướng dẫn Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững Trong nỗ lực để định nghĩa nông lâm kết hợp theo ý nghĩa tổng thể và mang đậm tính sinh thái môi trường hơn, Leaky (1996) đã mô tả nó như
là các hệ thống quản lý tài nguyên, trên cơ sở đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sản xuất, giúp gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các trang trại nhỏ Vào năm 1997, Trung tâm quốc tế nghiên cứu về
Trang 3nông lâm kết hợp (gọi tắt là ICRAF) đã xem lại khái niệm nông lâm kết hợp và phát triển nó rộng rãi hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt trên cơ sở đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến “kinh tế trang trại” Một cách đơn giản, ICRAF đã xem “nông lâm kết hợp là trồng cây trên trang trại” và định nghĩa nó như là một
hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại, hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau
1.2 Các đặc điểm của nông lâm kết hợp
- Có ít nhất hai hay nhiều sản phẩm từ hệ thống
- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn một năm
- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc canh
- Cần phải có một mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa thành phần cây lâu năm và thành phần khác
Trong các hệ thống nông lâm kết hợp sự hiện diện của các mối quan hệ tương hỗ bao gồm về sinh thái và kinh tế giữa các thành phần của hệ thống là đặc điểm cơ bản
b Các đặc điểm chính của Nông lâm kết hợp
Theo Nair (1987), các đặc điểm mấu chốt của nông lâm kết hợp đã được đa
số các nhà khoa học chấp nhận như sau:
- Nó là tên chung để chỉ các hệ thống sử dụng đất bao gồm việc trồng các cây lâu năm kết hợp với hoa màu và/hay gia súc trên cùng một đơn
vị diện tích
- Phối hợp giữa sản xuất các loại sản phẩm với việc bảo tồn các nguồn tài nguyên cơ bản của hệ thống
- Chú trọng sử dụng các loại cây địa phương (bản địa), đa dụng
- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hoá và đầu tư thấp
Trang 4- Nó quan tâm nhiều hơn về các giá trị dân sinh xã hội so với các hệ thống sử dụng đất khác
- Cấu trúc và chức năng của hệ thống phong phú và đa dạng hơn so với canh tác độc canh
Tóm lại, nông lâm kết hợp với sự phối hợp có suy tính giữa các thành phần khác nhau của nó đã mang đến cho các hệ thống sản xuất nông nghiệp các điểm chính sau:
- Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững
- Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất
- Sắp xếp hoa màu canh tác phù hợp với nhiều thành phần cây lâu năm, hoa màu và/hay vật nuôi theo không gian và thời gian trên cùng một diện tích đất
- Đóng góp vào sự phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh tế và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hoá, xã hội
- Kỹ thuật của nó mang đậm nét bảo tồn sinh thái môi trường
c Đặc điểm phù hợp của hệ thống nông lâm kết hợp
* Có sức sản xuất cao
- Sản xuất các lợi ích trực tiếp như lương thực, thức ăn gia súc, chất đốt, sợi, gỗ cừ cột và xây dựng, các sản phẩm khác như chai, mũ, nhựa, dầu thực vật, thuốc trị bệnh thực vật
- Sản xuất các lợi ích gián tiếp hay “dịch vụ” như bảo tồn đất và nước (xói mòn đất, vật liệu tủ đất ) cải tạo độ phì của đất (phân hữu cơ, phân xanh, bơm dưỡng chất từ tầng đất sâu, phân huỷ và chuyển hoá dưỡng chất), cải thiện điều kiện tiểu khí hậu (băng phòng hộ, che bóng ), làm hàng cây xanh
* Mang tính bền vững
- Áp dụng các chiến thuật bảo tồn đất và nước để đảm bảo sức sản xuất lâu dài
- Đòi hỏi vài hình thức hỗ trợ trong kỹ thuật chuyển giao để đảm bảo
sự tiếp nhận các kỹ thuật bảo tồn đặc biệt đối với các nông dân đang ở mức canh tác tự cung tự cấp (thí dụ về các động cơ về quyền sử dụng, canh tác trên đất, các hỗ trợ về kỹ thuật và tín dụng )
* Mức độ chấp nhận của nông dân
- Kỹ thuật phải phù hợp với văn hoá/chấp nhận được (tương thích với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nông dân)
- Để đảm bảo sự chấp nhận cao, nông dân phải được tham gia trực tiếp vào lập kế hoạch, thiết kế và thực hiện các hệ thống nông lâm kết hợp
1.3 Lợi ích của các hệ thống nông lâm kết hợp
Trang 5Thực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy nông lâm kết hợp là một phương thức sử dụng tài nguyên tổng hợp có tiềm năng thoả mãn các yếu tố phát triển của nông thôn và miền núi bền vững Các lợi ích mà nông lâm kết hợp có thể mang lại rất
đa dạng, tuy nhiên có thể chia thành 2 nhóm: Nhóm các lợi ích trực tiếp cho đời sống cộng đồng và nhóm các lợi ích gián tiếp cho cộng đồng và xã hội
a Các lợi ích trực tiếp của hệ thống nông lâm kết hợp
- Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình nông lâm kết hợp được
hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Điển hình là
hệ thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta Ưu điểm của các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn
- Các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại có thể
tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cho hộ gia đình
- Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác
dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân
- Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về
đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho hộ gia đình
- Giảm rủi ro cho sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu trúc
phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán ) Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro
về thị trường và giá cho nông hộ
b Các lợi ích của hệ thống nông lâm kết hợp trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên đất và nước:
Hơn 20 năm nghiên cứu nông lâm kết hợp phối hợp với các kết quả nghiên cứu sinh thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ thống nông lâm kết hợp nếu được thiết kế và quản lý thích hợp sẽ có khả năng làm giảm dòng chảy bề mặt và xói mòn đất; duy trì độ mùn, cải thiện lý tính của đất và phát huy chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi Nhờ vậy, làm tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả
sử dụng đất và giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài nguyên đất (Young, 1997)
Trang 6Ngoài ra, trong các hệ thống nông lâm kết hợp có hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hoá học, vì thế giảm nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước ngầm (Young, 1997)
- Nông lâm kết hợp trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học:
Thông qua việc cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, nông lâm kết hợp có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên Mặt khác, nông lâm kết hợp là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng Chính vì vậy, canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young, 1997)
Các hộ nông dân canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức vai trò của cây thân gỗ trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới về kiến thức, thái độ có lợi cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng
Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ thống trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại
và cảnh quan
Chính vì lợi ích này mà nông lâm kết hợp thường được chú trọng phát triển trong công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên
và bảo tồn nguồn gen
- Nông lâm kết hợp và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính:
Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển nông lâm kết hợp trên quy
mô lớn có thể làm giảm khí CO2 và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dixon, 1995,1995; Schoroeder, 1994) Các cơ chế của tác động này có thể là:
Sự đồng hoá khí CO2 của cây thân gỗ trên nông trại; gia tăng lượng cácbon trong đất và giảm nạn phá rừng (Young, 1997)
1.4 Nông lâm kết hợp và lâm nghiệp xã hội
Nông lâm kết hợp là một ngành kỹ thuật mà mục tiêu chính của nó là phát triển những hệ thống sản xuất bền vững Nó trả lời không chỉ cho những vấn đề như loại hoa màu hay gia súc nào được phối hợp? Xen như thế nào trong nuôi trồng? Làm sao tài nguyên đất và rừng được bảo tồn? mà còn tìm ra biện pháp
để giải quyết các khó khăn, phục vụ các nhu cầu của nông dân và các cộng đồng vùng cao nhằm cân đối phát triển và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Lâm nghiệp xã hội là một cách tiếp cận mới đặt trọng tâm, tăng cường năng lực cho con người để quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững Một hệ thống nông lâm kết hợp có thể được sử dụng không những cho dân
ở vùng cao mà còn ở vùng đồng bằng, cho các nông dân riêng lẻ lẫn cả một cộng đồng dân cư Tuy nhiên, cho đến hiện nay nông lâm kết hợp là một trong nhiều ngành kỹ thuật chính, đang được sử dụng trong các chương trình lâm nghiệp xã hội, vì đối tượng khách hàng chính của cả hai là cư dân nghèo, thiếu
Trang 7tài nguyên vùng cao Vì vậy có thể nói rằng hiện nay, nông lâm kết hợp là một
“trợ thủ” kỹ thuật thích hợp nhất cho chiến lược phát triển lâm nghiệp xã hội ở vùng cao
1.5 Quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống nông lâm ngư kết hợp 1.5.1 Chức năng phòng hô của cây lâu năm
Nhiều kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng, rừng ẩm nhiệt đới là thảm thực vật thích hợp nhất cho đất ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là cùng đất dốc Mặc dù các hệ thống nông lâm kết hợp không thể sao chép nguyên bản rừng tự nhiên về mặt bảo vệ điều kiện sinh thái, việc trồng cây lâu năm vào các hệ thống nông lâm kết hợp sẽ thúc đẩy mạnh tính chất phòng hộ của các nông trại ở vùng đối núi
1.5.2 Chức năng phục hồi và lưu giữ độ phì của đất
Phần hấp dẫn của kỹ thuật nông lâm kết hợp được tìm thấy trong khả năng của cây trồng lâu năm đối với lưu giữ và phục hồi độ phì của đất đai qua ảnh hưởng đến lý, hoá tính và chu trình chất dinh dưỡng của đất
Anh hưởng đến lý tính của đất
Đất ở phía dưới cây lâu năm có xu hướng phát triển cấu tượng ổn định và giữ nước tốt do chất hữu cơ từ vật rơi rụng và rễ rả mục của cây (Young,1987) Nair (1987) trong bài tổng hợp các hệ thống sử dụng đất khác nhau đã đề cập
rằng “việc đưa cây lâu năm vào trồng nông trại cho kết quả là lý tính đất được
cải tạo tốt hơn về độ thấm nước, khả năng giữ nước, cấu tượng và chế độ nhiệt”
Tuy nhiên, lưu ý rằng để đạt được sự cải thiện trên, đất cần thời gian tác động lâu dài của cây lâu năm
Các kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng khả năng giữ nước đã gia tăng
với đất có trồng cây Albizzia albida so với không trồng ( Felker, 1976) Các thí nghiệm khác đã chứng tỏ cây A albida ở Sahel, Ấn Độ đã làm tăng hàm lượng
sét của đất dưới tán rừng loài cây này (Jung, 1966)
Để có thêm chứng cớ rõ ràng về ảnh hưởng của cây lâu năm trong hệ thống nông lâm kết hợp cần thêm nhiều thí nghiệm khác để làm sáng tỏ sự cải thiện đối với đất Tuy nhiên, căn cứ vào chứng cớ gián tiếp được trình bày ở trên, cũng như các bằng cớ hiển nhiên của sự gia tăng chất hữu cơ trong đất, nhiều tác giả đã đưa ra các giả thuyết cho rằng, trong các hệ thống nông lâm kết hợp cây lâu năm cải thiện được sức sản xuất của đất
Anh hưởng đến hoá tính của đất
Giữ chất hữu cơ trong đất
Cây lâu năm thường được đánh giá làm gia tăng hay ít nhất là giữ được hàm lượng chất hữu cơ trong đất (Young, 1986) Sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất sẽ là nền tảng cho việc cải tạo độ phì nhiêu trong kĩ thuật nông lâm kết hợp (Avery, 1988) Hiện tượng này được giải thích chủ yếu do lượng vật rụng trên không và sự rã mục của hệ rễ cây dưới đất (Young, 1987) Một thí nghiệm
Trang 8của Kellman (1979) về ảnh huởng của các loài cây lâu năm ở vùng trảng khô
Savanna ở Belize trên đất Litisols bị phong hoá mạnh và nghèo chất dinh dưỡng
đã chứng tỏ ảnh hưởng này của cây đối với hoá tính của đất
Tăng thêm các chất dinh dưỡng vào đất: Điều này giải thích tại sao cần lưu ý vai trò của các cây họ Đậu trong việc cố định đạm Một cách tổng quát, cây lâu năm đã hoàn trả các chất dinh dưỡng vào đất thông qua vật rụng của chúng
(Nair, 1984) Trong một số thí nghiệm so sánh đất dưới rừng cây Byrsohima sp
và đất ở rừng trảng bụi, kết quả phân tích cho thấy do sự đóng góp của vật rụng
mà đất dưới rừng cây trên có hàm lượng các chất Ca, K, Na, và phần trăm lượng bazơ gia tăng cao hơn so với đất trảng cỏ bụi Kellman (1978) cũng đã chứng tỏ rằng các dinh dưỡng Ca, Mg, K, Na, PO4 và N gia tăng khi khảo sát đất ở vùng dưới tán rừng từ các vùng trống trải xung quanh Tương tự như vậy Singh và Lai (1969) cũng đã có kết quả về tổng số N, P, và K cao hơn ở dưới tán cây so với các vùng đất trống
Jou và Lai (1977) đã so sánh được các ảnh hưởng của hệ thống hưu canh (bỏ hoá) dùng cây Keo dậu so với cây bụi hoang dã trên đất Alfisol ở Tây Nêgria về
một số chỉ tiêu hoá tính của đất Sau 3 năm, cây Keo đậu được cắt xén hàng năm
để làm chất tủ và bồi dưỡng cho đất, đất hữu canh với cây Keo dậu cho khả năng hoán chuyển cũng như mức độ trao đổi các ion Ca++
và K+ cao khi so sánh với đất hưu canh bằng cây cỏ bụi hoang dại
Nhiều khả năng khác của cây lâu năm bổ sung dinh dưỡng cho đất đã được nghiên cứu và tổng hợp thành tài liệu bao gồm sự cố định đạm của các cây họ
Đậu và cộng sinh của nấm Mycorrhizac với rễ cây (Young,1987)
Làm cho chu trình chất dinh dưỡng trở nên hữu hiệu hơn qua các hiện
tượng cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium với rễ cây họ Đậu, bơm chất dinh
dưỡng ở tầng sâu lên tầng mặt và sản xuất phân xanh Một giả thuyết khác về lợi ích của kỹ thuật nông lâm kết hợp đối với cải tạo đất là chu trình chuyển hoá hữu hiệu các chât dinh dưỡng trong hệ thống Các cơ chế quan trọng cần chú ý
là sự sử dụng các cây cố định đạm họ Đậu, hiện tượng “bơm” các chất dinh dưỡng từ tầng sâu lên của cây lâu năm và việc dùng phân xanh trong canh tác Vai trò của cây họ Đậu cố định đạm được nghiên cứu từ lâu và đã sử dụng cây họ Đậu để làm tăng độ phì của đất Đạm tự do trong đất được cố định thành đạm hữu hiệu nhờ các loài cây họ Đậu và các loài vi khuẩn cố định đạm Các chất này sẽ cấu thành sinh khối thực vật và được trả lại cho đất qua vật rơi rụng
và rễ cây phân huỷ
Cơ chế quan trọng của hiện tượng “bơm chất dinh dưỡng lên tầng trên” được giả thích rằng; cây có hệ rễ sâu có thể hấp thu chất dinh dưỡng bị rửa trôi xuống tầng sâu và chuyển chúng thành hữu hiệu ở tầng đất mặt thông qua vật rơi rụng
Trang 9cho các loài hoa màu có rễ nông Tuy vậy, chưa có kết quả nghiên cứu cụ thể để giải thích cặn kẽ hiện tượng này một cách khoa học
1.5.3 Chức năng ngăn chặn xói mòn đất và cải thiện bảo tồn nước
Bảo tồn đất và nước là mối quan tâm chính cho vùng cao Việt Nam và các nước nhiệt đới khác Vai trò của cây trong việc bảo tồn nước và kiểm soát xói mòn là một trong những lợi ích của cây lâu năm khiến chúng được trồng trong các nông trại (Nair,1987) Nhiều thí nghiệm so sánh các vùng có tán cây che khác nhau trên các diện tích canh tác và người ta đã phát hiện lượng xói mòn và nước chảy trên bề mặt sẽ giảm nhiều dưới tán rừng
Bảng 2 Mức độ xói mòn của các phương thức sử dụng đất khác nhau ( Theo Ohigbo và Lai,1977)
Địa điểm Độ dốc
(%)
Lượng mưa (mm)
MỨC XÓI MÒN (tấn/ha) Rừng Hoa màu Đất trống
0,6-0,8 7,3 1,76 90.000
10-20 21,3 18,3 108-170
1.5.4 Chức năng cải tạo tiểu khí hậu và đất đai phù hợp cho đất xen canh
Cây cải tạo điều kiện khí hậu và đất đai của một địa điểm nhờ vào ảnh hưởng che chắn của tán cây, giảm lượng bốc hơi nước, cung cấp chất hữu cơ cho đất, cải thiện độ thấm nước của đất vì vậy, cây thường được trồng để che bóng thích hợp cho hoa màu và các loài cây khác
1.5.5 Chức năng chắn gió
Vận tốc gió cao có thể gây ảnh hưởng cho hoa màu Bên cạnh các thiệt hại cơ giới, gió mạnh sẽ dẫn đến bốc hơi nhiều tạo nên hiện tượng thiếu nước cho cây hoa màu, nhất là ở các vùng khô Cây có thể làm giảm vận tốc gió nhờ các đai chắn gió
1.5.6 Chức năng làm hàng rào sống
Ở các vùng nông thôn, cây thường được trồng xung quanh nông trại, vườn nhà để ngăn chặn gia súc phá hại
Trang 10Hình 3: Mô tả chu trình hoàn trả chất dinh dưỡng và khả năng kiểm soátt chống xói mòn trong hệ thống trồng xen theo băng Kang và Wilson (1987)
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ SINH THÁI, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NÔNG LÂM NGƯ KẾT HỢP
2.1 Cơ sở sinh thái
2.1.1 Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của khu vực nông thôn miền núi
Mặc dù núi non ở Việt Nam không cao lắm (Fan Si Pan, núi cao nhất của Việt Nam, chỉ cao 3.143m, Ngọc Linh 2.598m) nhưng địa hình phần lớn bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, ít đất bằng phẳng để làm lúa nước, buộc nông dân phải làm nương rẫy trên các sườn dốc
Vùng núi Việt Nam nằm trong điều kiện nhiệt đới mưa mùa, lượng mưa lớn với 1800mm/năm ở miền núi phía Bắc; 3200 đến 3500mm ở A Sầu, A Lưới, Thừa Thiên – Huế, Bảo Lộc, Lâm Đồng Mưa tập trung vào một thời gian ngắn Những cơn mưa ác liệt gây nên lũ lụt; nhiều trận lũ quét đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, các công trình xây dựng, đường sá, thuỷ lợi, gây thiệt hại người và của không lường hết được
Tính đa dạng của các loại đất khá lớn Đất Faralitic đỏ-vàng là loại đất phổ biến những diện tích đất rộng lớn, như ở các tỉnh Tây Nguyên, đất mầu mỡ; đặc biệt có 1.358nghìn hình ảnh đất đỏ Bazan rất thích hợp cho các cây công nghiệp như Cao su, Cà phê, Chè, Tiêu… cây nông nghiệp và các cây ăn quả khác, v.v Tuy nhiên, phần lớn đất miền núi bị phong hoá mạnh, nghèo chất dinh dưỡng, rất dễ bị suy thoái, do xói mòn
Tính đa dạng của môi trường thiên nhiên tạo nên sự đa dạng các điều kiện sinh thái Trên các điều kiện đa dạng sinh thái đó có thể sản xuất ra các loại sản phẩm đa dạng có giá trị kinh tế cao Đó là những lợi thế Tuy nhiên, núi cao, suối sâu, địa hình cắt xẻ mạnh là những trở ngị lớn cho việc phát triển thị trường, giao thông, thông tin, tiếp cận với chủ trương chính sách, khoa học kỹ thuật v.v…
2.2.2 Tác động của các yếu tố tự nhiên đối với NLKH
Đất và môi trường - cơ sở bền vững để phát triển nông thôn Đối với nông nghiệp và nông thôn, đất là tài sản vô giá, là nguồn tài nguyên tái tạo được, đất vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng lao động Phần lớn những sản phẩm nông lâm nghiệp nuôi sống con người đều được lấy từ đất
Do vị trí và địa hình của nước ta phức tạp làm cho tài nguyên đất rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây, có thể phân thành 13 nhóm đất chính và 31 loại Ba phần tư diện tích đó thuộc về miền núi và trung du, chiếm khoảng 25 triệu ha Diện tích đất phù sa không nhiều, chỉ có khoảng 3,4 triệu ha, chiếm hơn 10% diện tích tự nhiên cả
Trang 12nước Các loại đất sử dụng trong nông nghiệp hiện nay chủ yếu là đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất cát biển, đất mặn và đất phèn
Theo niên giám thống kê (2009), tổng diện tích đất tự nhiên cả nước là 33,105 triệu ha, trong đó diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100 ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,1 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), và là một trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ, đất chật người đông, xếp vào nhóm thứ năm trong nhóm nước
có diện tích bình quân từ 0,3 - 0,5 ha/người, đứng thứ 203 trong số 218 nước trên thế giới Bình quân đất nông nghiệp 0,11 ha/người, thuộc nhóm 7 có mức bình quân diện tích đất từ 0,1 - 0,2 ha/người
Hiện nay, đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 75% diện tích đất (25,127 triệu ha) Đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp đã lên đến 3,4 triệu ha; đáng chú ý là diện tích đất chưa đưa vào sử dụng vẫn còn lớn, 4,5 triệu
ha, chiếm 14,3% Phần lớn diện tích này là đất bị suy thoái và hoang mạc hoá, mất giá trị sử dụng do quá trình khai thác không hợp lý
Với xu hướng tăng dân số nhanh như hiện nay thì áp lực đối với nhu cầu khai thác, sử dụng đất sẽ tiếp tục là vấn đề đáng lo ngại Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cũng gây ra nhiều sức ép đối với đất đai Quy hoạch sử dụng đất của nhiều tỉnh thành bộc lộ hạn chế và bất hợp lý trong phân bổ quỹ đất cho các ngành, lĩnh vực Tình trạng phổ biến hiện nay là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Diện tích đất sản xuất nông nghiệp suy giảm mạnh do đô thị hoá quỹ đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất công nghiệp, xây dựng và giao thông Tỷ lệ diện tích đất phi nông nghiệp trên diện tích nông nghiệp có xu hướng tăng Năm 2006, tỷ lệ này là 0,133% và đến năm
2009 tỷ lệ tăng 0,138% Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tốc độ đô thị hoá diễn ra sôi động nhất cả nước thì trung bình mỗi năm quỹ đất nông nghiệp bị mất khoảng 0,43%
Một thực tế là hiện nay tài nguyên đất đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đe dọa đến sự phát triển bền vững của đất nước Một mặt, hoạt động sản xuất nông nghiệp tác động mạnh đến môi trường đất như việc sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật chưa đúng kỹ thuật đã gây tồn dư nhiều trong môi trường đất, nước; nhiều vùng chăn nuôi tập trung thiếu hệ thống thu gom và xử
lý chất thải; nhiều vùng làng nghề sản xuất thủ công chưa có hệ thống thu gom
và xử lý chất thải mà thải thẳng ra đất Mặt khác thời tiết diễn biến phức tạp, vụ đông xuân ở miền Bắc ấm, lạnh bất thường, hạn hán, bão lũ lụt, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, sâu bệnh cây trồng phát sinh trên diện rộng; nhiều vùng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, một số quá trình thoái hóa đất chính vẫn đang diễn ra phức tạp Ví dụ: những thay đổi về sử dụng đất ở nước ta, chuyển đổi 400.00 ha từ đất nông nghiệp sang đất phi nông
Trang 13nghiệp từ năm 2000 đến nay, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất lương thực và thực Ở khu vực miền núi do địa hình cao, dốc nên các quá trình gây thoái hóa đất như: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp, mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua dần, thoái hóa hữu cơ, ô nhiễm, khô hạn, hoang mạc hóa, trượt đất, nứt đất Ở các vùng đồng bằng ven biển những quá trình mặn hóa, phèn hoá và cát bay, cát chảy đang diễn ra phổ biến Những quá trình thoái hoá đất này dẫn tới suy giảm khả năng sản xuất của đất trong điều kiện quản lý đất đai chưa tốt
Để đảm bảo phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn, cần tuyên truyền để người dân hiểu được giá trị của đất đai với các phương châm:
- Sử dụng tiết kiệm quỹ đất, với phương châm “tấc đất tấc vàng”, đặc biệt
là những loại đất màu mỡ, đất lúa 2-3 vụ/ năm
- Sử dụng đất luôn đi liền với bồi bổ độ phì nhiêu đất, tiến hành thâm canh tăng vụ, chú ý bón nhiều các loại phân bón hữu cơ, phân xanh, phân rác làm tơi xốp đất và tạo điều kiện để nhiều sinh vật khác trong đất phát triển
- Có các biện pháp ngăn chặn hoặc giảm thiểu ô nhiễm đất bởi các chất thải, các chất độc hại xung quanh các khu công nghiệp, các làng nghề
Sự suy thoái về tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Sự suy giảm nhanh chóng về tài nguyên rừng: Độ che phủ rừng cả nước giảm từ 43% vào năm 1943 xuống 32,1% năm 1980, 27,2% năm 1990 sau đó
tăng lên 28,1% năm 1995 và đạt đến 33,2% năm 1999 ( Theo tài liệu “ Chiến
lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001-2010” được Bộ NN&PTNT phê
duyệt theo QĐ số 199/QĐ-BNN-PTNT ngày 22/01/2002) Cách đây 50 năm, rừng tự nhiên bao phủ phần lớn khu vực đồi núi, nhưng trong những năm gần đây đã giảm xuống 20% ở phần lớn khu vực đồi núi phía Bắc, thậm chí có nơi còn 10% như khu vực đồi núi Tây Bắc Các diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp và hiếm có các loài có giá trị kinh tế
- Sự suy thoái của đất đai là điều dễ thấy ở khắp khu vực miền núi Việt Nam Do thiếu rừng che phủ, xói mòn đất và rửa trôi chất dinh dưỡng diễn ra mạnh mẽ, làm giảm độ màu mỡ của đất Canh tác nương rẫy vốn là phương thức canh tác truyến thống của dân tộc miền núi tỏ ra khá phù hợp trong điều kiện
mật độ dân
cư thấp và tài nguyên rừng còn phong phú
Trong những thập niên gần đây, do áp lực dân số và suy giảm tài nguyên rừng, giai đoạn canh tác kéo dài hơn và giai đoạn bỏ hoá bị rút ngắn lại, dẫn đến
sự suy giảm liên tục của độ phì đất và cỏ dại phát triển mạnh Kết quả dẫn đến
sự suy giảm năng suất cây trồng một cách nhanh chóng
- Sự suy giảm về đa dạng sinh học: Nhiều loài động thực vật đã bị biến mất hoặc trở nên khan hiếm Nạn phá rừng, việc phát triển trồng rừng thuần loài và
Trang 14nông nghiệp độc canh đã làm suy giảm đa dạng sinh học, trong đó bao gồm cả
ba cấp độ: Đa dạng di truyền, đa dạng chủng loại và đa dạng về hệ sinh thái
2.2.3 Sự mô phỏng cấu trúc rừng tự nhiên
Một nghiên cứu về nông lâm kết hợp ở Philippin, Olofson (1993) đã nêu ra một cấu tạo mà ông ta gọi là “cấu tạo mô phỏng thay thế rừng tự nhiên (AFS: alternative Forsest-like Structure)” Đây là cấu tạo của những hệ thống nông lâm
đã mô phỏng cấu tạo của rừng tự nhiên, ông đã nêu các tính chất của các hệ thống trên như sau:
- Chỉ tiêu đa dạng sinh học cao
- Nhiều tầng tán
- Chu trình dinh dưỡng kín và nhanh
- Diễn thế tự nhiên theo từng đám
- Có sự cộng hưởng giữa các hệ thống “nông lâm giống rừng tự nhiên” với các hệ sinh thái rừng tự nhiên xung quanh
Hệ thống lô rừng nhỏ ở Philippin là một thí dụ điển hình của đặc tính này, nơi mà cây
gỗ, tre, mây và cây thuốc đã được trồng chung với nhau Sự đa dạng của nó có lúc đa dạng hơn cả rừng tự nhiên Kỹ thuật cố gắng mô phỏng theo các đặc tính rừng tự nhiên có đặc điểm nổi bật về sinh thái môi trường Thực tế, có nhiều trường hợp hệ thống bền vững
do có sự hỗ trợ lẫn nhau, thích ứng và đa dạng nhất là khi xen nối tiếp với hệ sinh thái rừng
tự nhiên tại chỗ với các hệ canh tác nông lâm Hơn nữa, có đề nghị rằng; hệ sinh thái tự nhiên có thể được vận dụng làm cơ sở khoa học để chọn lọc xây dựng kỹ thuật nông lâm kết hợp từ các kết quả nghiên cứu về rừng, trong đó các tập đoàn thực vật sống liên kết hỗ trợ với nhau, hoặc lấy hệ sinh thái rừng tự nhiên làm kiểu mẫu cho hệ thống canh tác hoa màu trong nông nghiệp (Hart,1980) Lasco
(1987) cũng đã nghiên cứu và nhận định rừng mưa nhiệt đới đã được xem như là
cơ sở của việc xây dựng hệ thống nông lâm kết hợp bền vững, đặc biệt là các hệ thống nhiều tầng
2.1.4 Nguyên tắc chung để lựa chọn đất sử dụng canh tác nông lâm kết hợp
Về nguyên tắc tất cả các loại đất đều có thể lựa chọn cho sản xuất nông lâm kết hợp, hay nói một cách khác 9 vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam đều có thể áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp khác nhau Tuy nhiên khi lực chọn đất cho canh tác nông lâm kết hợp cần chú ý một số điểm sau:
(1) Qui mô (diện tích) diện tích cho một mô hình nông lâm kết hợp cần phải đủ lớn
để đảm bảo đa dạng hoá cây trồng theo nguyên tắc bổ trợ cho nhau Trên thực tế qui mô diện tích phụ thuộc vào điều kiện cụ thể Đối với miền núi diện tích NLKH khoảng 0,1 ha trở nên là vừa đủ Diện tích tối thiểu cho mô hình NLKH ở đồng bằng có thể nhỏ hơn (qui
mô vườn hộ
gia đình)
Trang 15(2) Vị trí thích hợp nhất đối với miền núi là đất chuyển tiếp giữa đât lâm nghiệp và đất nông nghiệp, nơi có độ dốc vừa phải và có khả năng trồng cây Lâm nghiệp và Nông nghiệp Trên thực tế việc phân loại đất đai còn nhiều bất cập, tiêu chí phân loại đất lâm nghiệp, nông nghiệp, đất canh tác NLKH không rõ Người dân sử dụng đất theo mục đích riêng của họ, nhiều diện tích đất lâm nghiệp được sử dụng vào mục đích NLKH nhưng vẫn
có hiệu quả về kinh tế, môi trường, nhưng có thể không theo đúng qui hoạch của địa phương
2.1.5 Nguyên tắc lựa chọn cây trồng vật nuôi trong mô hình NLKH
- Đảm bảo mục đích gây trồng
Căn cứ vào giá trị sử dụng của từng loài cây để lựa chọn Có rất nhiều loài cây có thể đáp ứng được cùng một mục tiêu thì phải chọn lấy cây có giá trị sử dụng nhiều nhất Cần chọn cây nào vừa có giá trị sử dụng cao cho mục đích chính vừa có thể kết hợp có lợi ích trước mắt cũng như lâu dài
- Phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu nơi trồng
Nên dựa trên nguyên tắc đất nào cây ấy tức là căn cứ vào đặc tính sinh thái cây trồng, đặc điểm đất đai tốt hay xấu, dày hay mỏng, chua hay kiềm và khí hậu nóng hay rét, mưa nhiều hay ít, vào lúc nào…để chọn cây Khi có nhiều loài cây đều đòi hỏi một loại đất như nhau thì dành đất đó cho loài cây nào có giá trị sử dụng cao nhất Khi cây chỉ mọc tốt trên đất không chua và cũng không kiềm quá như tếch, keo dậu, mía, bông, không thể chọn cây đó để trồng ở đất chua hoặc kiềm quá được…
Khi cây chỉ mọc tốt ở xứ rét, vùng núi cao như pơmu, sa mộc, mận, đào không thể đem trồng ở vùng núi thấp quanh năm nắng nóng
- Có khả năng sản xuất hàng hoá cho năng suất cao và đạt hiệu quả kinh tế lớn hơn
Phải chọn những cây có năng lực sinh trưởng mạnh mẽ và có khả năng chống chịu thiên tai, sâu bệnh, đảm bảo được năng suất, hiệu quả tốt trong nhiều tình huống đặc biệt là
có thể sản xuất hàng hoá, có nơi tiêu thụ Ngô và sắn đều là cây lương thực có thể trồng trên nương dốc, nhưng ngô có thể trồng được 2 – 3 vụ và cho năng suất cao nên nhiều nơi ở vùng núi không trồng sắn mà chỉ trồng ngô Nhiều cây ăn quả ở miền Nam như bơ, dứa, chôm chôm và cây điều trồng tốt trên đất xám nhưng cây điều ưa sáng có năng lực sinh trưởng tốt trên đất nghèo xấu và khô hơn, hạt lại có giá trị xuất khẩu cao, nhiều nơi ở Đồng Nai, Sông Bé, Bình Thuận đã phát triển trồng điều thay cho cây ăn quả
Cây bạch đàn trắng “petpho” và cây bạch đàn trắng Phú Khánh đều trồng được trên đất đồi trọc Đồng Nai để lấy gỗ cung cấp nguyên liệu giấy nhưng bạch đàn petpho mấy năm đầu mọc tốt nhưng về sau lại bị nấm hại lá nên sinh trưởng kém Do vậy ở vùng này nhiều nơi chọn trồng bạch đàn Phú Khánh, tuy mấy năm đầu sinh trưởng kém,nhưng những năm sau mọc nhanh và không bị sâu bệnh lại cho năng suất cao hơn và cũng có khả năng sản xuất hàng hoá tốt
- Có nguồn gốc giống tốt hoặc có khả năng giải quyết được nguồn giống đủ về số lượng
và có chất lượng Nên chọn cây trồng có nguồn gốc giống được rõ ràng và đã được thử
Trang 16nghiệm Ưu tiên chọn các loại cây trồng tạo giống bằng phương pháp tiên tiến (mô, hom)
để phát huy tính ưu trội của cây trồng
2.1.6 Nguyên tắc bố trí các hợp phần trong xây dựng hệ thống NLKH
- Nguyên tắc sinh thái
+ Tính thích ứng:Các thành phần phải thích ứng với điều kiện sinh thái, kinh tế xã hội của vùng
+ Hỗ trợ: Các thành phần có tác dụng tương hỗ sinh thái với nhau hoặc không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng phát triển của nhau
+ Tận dụng tối đa tài nguyên, sự phối hợp phải bảo vệ duy trì độ màu mỡ của đất + Đảm bảo sự ổn định của hệ sinh thái: việc bổ xung hoặc loại bỏ đi một loài nào đo phải cân nhắc đến tính ổn định của HST
- Nguyên tắc kinh tế:
+ Đáp ứng nhu cầu thị trường
+ Giảm thiểu rủi ro thiệt hại
+ Kết hợp lợi ích trước mắt lẫn lâu dài
2.2 Cơ sở kinh tế, xã hội
2.2.1 Tập quán tín ngưỡng
2.2.2 Kiến thức bản địa
2.2.3 Nhu cầu phát triển NLKH của người dân
Kỹ thuật nông lâm kết hợp tuy mới được chú ý phát triển gần đây ở Việt Nam từ đầu thập niên 90, nhưng có một tiềm năng lớn để phát triển lâu dài vì:
- Sự đa dạng về sinh thái môi trường ở Việt Nam tạo điều kiện cho việc áp dụng
các hệ thống nông lâm kết hợp
Trong đó phải kể đến: Đa dạng về điều kiện lập địa (đất đai, địa hình và khí hậu), đa dạng sinh học đã góp phần vào sự phát triển phong phú của các hệ thống nông lâm kết hợp ở Việt Nam
- Sự phong phú và đa dạng về kiến thức kỹ thuật bản địa về nông lâm kết hợp
Sự kết hợp giữa cây rừng, hoa màu và vật nuôi trong sử dụng đất ở Việt Nam đã được nông dân của các cộng đồng dân tộc áp dụng từ lâu, là cơ sở vững chắc cho việc phát triển, cải tiến các hệ thống nông lâm kết hợp
Qua một thời kỳ phát triển ở Việt Nam, kỹ thuật nông lâm kết hợp đã chứng tỏ phù hợp với nhu cầu phát triển của Nhà nước và nhân dân như:
- Nhu cầu phát triển nông lâm kết hợp của nhân dân
Dưới áp lực của dân số gia tăng, việc thâm canh đất đai đồng thời sử dụng đất một cách tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài, cân đối giữa sản xuất, phòng hộ và nâng cao được mức sống là nguyện vọng và nhu cầu của nông dân Việt Nam
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về việc hỗ trợ, ưu tiên phát triển nông lâm kết hợp
Trang 17Các chính sách giao đất giao rừng cho nông dân canh tác, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, dự án 661, dự án định canh định cư đã tạo động lực cho người nông dân ổn định sản xuất
- Sự quan tâm đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp trên thế giới đã tạo điều kiện để cán bộ kỹ thuật được học tập và nghiên cứu về lĩnh vực
nông lâm kết hợp áp dụng ở các nước trên thế giới, đồng thời cung cấp thông tin
về nông lâm kết hợp giúp các nhà hoạch định chính sách lưu ý để phát triển
2.2.4 Chính sách của Đảng và Nhà nước về việc hỗ trợ và phát triển NLKH
để sử dụng ổn định và lâu dài (Điều 4) Đồng thời, người nhận đất đựơc sản xuất nông lâm kết hợp (Điều 15); đựơc hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao; được miễn giảm thuế sử dụng đất theo quy định của pháp luật; được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng (Điều 18)
- Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC, ngày 6/6/2000 về Hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Theo Quyết định này, quyền lợi của chủ đất và rừng liên quan đến sử dụng đất theo phương thức nông lâm kết hợp được xác định, cụ thể:
Hộ gia đình, cá nhân được giao rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh được thu hái lâm sản phụ, hoa, quả, dầu, nhựa…, trong quá trình bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh theo quy định hiện hành (Điều 5)
Hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp chưa có rừng thuộc quy hoạch rừng phòng hộ được sử dụng cây nông nghiệp lâu năm làm cây trồng chính rừng phòng hộ hoặc xen với cây rừng bản địa lâu năm theo thiết kế trồng rừng được Sở NN-PTNT phê duyệt Được hưởng 100% sản phẩm khai thác từ cây phù trợ, cây trồng xen, sản phẩm tỉa thưa theo thiết kế được Sở NN-PTNT phê duyệt và phải đảm bảo độ tàn che của rừng trên 0,6 sau khi tỉa thưa Được sử dụng tối đa không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa
có rừng để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp (Điều 6)
Trang 18Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng tự nhiên quy hoạch rừng sản xuất được trồng xen cây nông nghiệp, cây dược liệu, chăn thả gia súc và khai thác các lợi ích khác của rừng phù hợp với quy chế quản lý rừng sản xuất (Điều 7)
Đối với các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng cũng được hưởng các quyền lợi trong quá trình làm nông lâm kết hợp như quy định đối với giao rừng như trên
- Nghị định số 01-CP ngày 4/1/1995 của Chính Phủ về Giao khoán đất
sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước Nghị định này quy định rõ quyền lợi
và nghĩa vụ của bên nhận khoán (hộ gia đình và cá nhân): Được chủ động sản xuất trên diện tích đất nhận khoán theo hợp đồng Được nuôi trồng xen theo hợp đồng và được hưởng toàn bộ sản phẩm nuôi trồng xen (Điều 8) Được giao khoán đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm và cây hàng năm (Điều 9 và 10) Được giao khoán đất lâm nghiệp quy hoạch cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất (Điều
12,13 và 15)
- Quyết định số 08/2001/QĐ-TTG, ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên cũng có những quy định khuyến khích làm nông lâm kết hợp Ví dụ như: đuợc tận dụng tối đa 20% diện tích đất chưa có rừng được giao để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp (Điều 30)
- Quyết định số 661/QĐ-TTg, ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới
5 triệu ha rừng Trong Quyết định này, hàng loạt các chính sách được đề ra, nhờ
đó đã có tác động thúc đẩy sản xuất nông lâm kết hợp Ví dụ như: Chính sách
về đất đai; chính sách về đầu tư và tín dung; chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm; chính sách thuế; chính sách về khoa học và công nghệ
Thông tư liên tịch số 28/1999/TTg-LT, ngày 3/2/1999 của Bộ NN-PTNT,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính về Hướng dẫn việc thực hiện Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tưởng Chính phủ
b Chính sách về khoa học công nghệ
Chính sách về khoa học công nghệ trong nông lâm kết hợp, tại Điều 9 của Quyết định 661/QĐ-TTG đã nêu rõ: Bộ NN-PTNT phối hợp với Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, tập trung chỉ đạo việc nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo, nhập nội các giống cây rừng có khả năng thích nghi tốt, đạt hiệu quả cao và kỹ thuật trồng rừng thâm canh, các biện pháp bảo vệ và phòng chống cháy rừng… để phổ biến nhanh ra diện rộng
Trang 19Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành nhiều Quy trình, Quy phạm, Hướng dẫn kỹ thuật, trong đó đề cập đến các biện pháp kỹ thuật
áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp trong trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh và làm giầu rừng
Viên khoa học Lâm nghiệp đã có nhiều nghiên cứu và rất thành công trong việc xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp trong các vùng sinh thái trên phạm vi cả nước Những kết quả nghiên cứu khoa học cùng với các mô hình này đã giúp cho nông dân áp dụng trên diện tích đất được giao của các hộ
và các trang trại đem lại hiệu quả sử dụng đất cao cả về kinh tế và môi trường sinh thái
c Chính sách về Khuyến nông lâm đối với nông lâm kết hợp
Chính sách về khuyến lâm để hỗ trợ phát triển NLKH của Chính phủ được phản ánh trong:
- Nghị định 13/CP ngày 2/3/1993 về Quy định công tác khuyến nông Theo đó, ngày 2/8/1993 đã ban hành Thông tư liên bộ số 02/LBTT về hướng dẫn thi hành nghị định số13/CP Sau khi có nghị định 13/CP, công tác khuyến nông lâm ở Việt nam đã có những bước phát triển rất nhanh chóng Hệ thống tổ chức khuyến nông lâm đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương Ngoài các hoạt động khuyến nông của Chính phủ, nhiều tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước đã thực hiện nhiều chương trình khuyến nông khuyến lâm trên phạm vi cả nước
- Đối với Nghị định 13/CP, nội dung chính của chính sách này là:
a) Thành lập hệ thống khuyến nông-khuyến lâm của Nhà nước từ cấp trung ương đến cấp huyện với số lượng cán bộ trong biên chế Nhà nước và mạng lưới khuyến nông viên ở cấp xã theo chế độ hợp đồng
Khuyến khích và cho phép thành lập các tổ chức khuyến nông tự nguyện của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân ở trong và ngoài nước
b) Kinh phí cho hoạt động của hệ thống khuyến nông Nhà nước được hình thành từ các nguồn:Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm, tài trợ của các tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước, thu của nông dân một phần giá trị sản phẩm tăng thêm nhờ áp dụng khuyến nông
c) Chính sách đối với cán bộ khuyến nông-khuyến lâm: Cán bộ khuyến nông được Nhà nước đào tạo về kỹ năng và nghiệp vụ khuyến nông-khuyến lâm Khi đi công tác tại cơ sở, cán bộ khuyến nông-khuyến lâm được hưởng một khoản phụ cấp ngoài lương Cán bộ khuyến nông-khuyến lâm có thể ký hợp đồng kỹ thuật với nông dân và được nhận thưởng theo hợp đồng
- Ngày 26 tháng 4 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 56/2005/NĐ- CP về Nội dung, tổ chức và chính sách khuyến nông, khuyến
Trang 20ngư (trong đó bao gồm cả khuyến lâm) đã thay thế Nghị định 13/CP Ngoài một số nội dung đã nêu trên, Nghị định 56/2005/NĐ-CP có một số đổi mới là:
a) Nguyên tắc hoạt động khyến nông, khuyến ngư:
Phải xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất (Nông dân, diêm dân, ngư dân, hộ gia đình, công nhân nông-lâm trường, chủ trang trại, doanh nghiệp…)
và yêu cầu phát triển nông nghiệp, thuỷ sản
Tạo điều kiện liên kết chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp với người sản xuất và giữa người sản xuất với nhau Xã hội hoá hoạt động khuyến nông, khuyến ngư
b) Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư
Ngoài các hoạt động như đã quy định trong Nghị định 13/CP, hoạt động tư vấn và dịch vụ đã được quy định rõ trong Nghị định 56-2005/NĐ-
CP Trong đó đáng chú ý một số đổi mới trong nội dung hoạt động dịch vụ khuyến nông, khuyến ngư là: Tập huấn, đào tạo, cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mai, thị trường… và các họat động khác liên quan đến nông nghiệp, thủy sản
c) Tổ chức khuyến nông, khuyến ngư cơ sở
Mỗi xã, phường, thị trấn (cấp xã) có ít nhất 1 nhân viên làm công tác khuyến nông, khuyến ngư Ở các thôn, bản, buôn, sóc (cấp thôn) có cộng tác viên khuyến nông, khuyên ngư
Nói riêng về công tác khuyến lâm, đánh giá chung kết quả trong 10 năm qua là: các chương trình khuyến lâm đã thực hiện đúng mục tiêu; giúp chuyển biến được nhận thức của người dân miền núi từ chỗ chỉ biết khai thác, lợi dụng rừng, sang kinh doanh tổng hợp, tạo thu nhập từ đất rừng, đồng thời tái tạo lại rừng đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội
Chương trình khuyến lâm mang lại cả hai mục đích: kinh tế và môi trường Nhiều tiến bộ kỹ thuật canh tác trên đất đốc, quản lý rừng bền vững được chuyển tải đến nông dân và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất thông qua xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp trình diễn
Thực tế khuyến lâm có tác động thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nông lâm kết hợp trên diện tích đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và các lâm nông trường
Ngày 06/04/2006 Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Thuỷ sản ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động khuyến nông, khuyến ngư (Hướng dẫn thực hiện Nghị định 56/CP) Thông tư đã thể hiện một số chính sách ưu tiên cho người nghèo xây dựng mô hình nông lâm kết hợp ở miền núi; đó là Nhà nước hỗ trợ kinh phí (80% giống và 60 % đối với vật tư sản xuất) cho người nghèo vùng núi xây dựng mô hình khuyến nông, khuyến lâm Thông tư qui
Trang 21định có hai loại kinh phí cho hoạt động khuyến nông, khuyến lâm: (1) Hoạt động khuyến nông, khuyến ngư Trung ương do ngân sách Trung ương cấp; (2) Hoạt động khuyến nông khuyến ngư địa phương do ngân sách địa phương cấp Hàng năm Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước để hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình khuyến nông khuyến lâm trên toàn quốc
2.2.5 Tác động của yếu tố kinh tế xã hội
Sự gia tăng dân số gây ra các vấn đề bức xúc về đất canh tác, an toàn lương thực và sức ép lên tài nguyên thiên nhiên miền núi
Ở các khu vực nông thôn miền núi, mật độ dân cư không cao như các khu vực đô thị ở vùng đồng bằng nhưng lại có tốc độ tăng dân số rất nhanh Theo Đỗ Đình Sâm (1995), tốc độ tăng dân số ở vùng núi Việt Nam biến động trong khoảng 2,5% - 3,5%, trong khi tốc độ tăng dân số cả nước dưới mức này nhiều Tình trạng này chủ yếu do phong trào di dân tự do từ các khu vực đồng bằng quá đông đúc lên các vùng núi, đặc biệt là các tỉnh khu vực Tây Nguyên Dân số tăng trong điều kiện khan hiếm đất có tiềm năng nông nghiệp ở miền núi đã dẫn đến bình quân đất canh tác theo đầu người giảm Tuy vùng núi Việt Nam được xem là khu vực dân cư thưa thớt với mật độ bình quân 75 người/km2, nhưng
bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp (vào khoảng 1200-1500
m 2 /người) ( FAO và IIRR, 1995), trong khi đó mức đất canh tác để đáp ứng nhu
cầu lương thực tối thiểu là 2.000 m2/người Ở khu vực miền núi của 11 tỉnh phía Nam, diện tích đất canh tác bình quân đầu người dưới 1.000 m2/người, còn thấp hơn cả ở miền núi của các tỉnh phía Bắc miền Trung như: Nghệ An và Thanh Hoá Vì vậy, có thể nói rằng; mật độ dân số đang tiến gần đến thậm chí
đã vượt quá khả năng chịu đựng của đất đai ở phần lớn khu vực miền núi
Sự gia tăng dân số đã tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên miền núi
là rừng, đất và nguồn nước, làm các nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này ngày càng suy giảm nhanh chóng
Tình trạng nghèo đói
Vào năm 1994, khi GDP bình quân theo đầu người của cả nước là 270 USD
thì ở miền núi phía Bắc là 150USD và ở Tây Nguyên là 70USD Rất nhiều nơi ở miền núi có thu nhập bình quân đầu người dưới 50 USD/năm Hộ nghèo đói chiếm 34% ở miền núi phía Bắc và hơn 60% ở Tây Nguyên, với thu nhập bình quân đầu người dưới 50.000 đ/tháng, rất thấp so với tỷ lệ hộ nghèo đói bình quân là 27% của cả nước Hơn 56% hộ gia đình ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ở tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng, có nơi tiêu thụ năng lượng dưới 1500Kcal/người/ngày trong lúc đó phải cần 2200-2500 kcals/người/ngày Tình trạng đói nghèo không chỉ thể hiện thu nhập thấp mà còn không đảm bảo các nhu cầu cơ bản khác như: Giáo dục, y tế, thông tin văn hoá - xã hội
Trang 22Sự phát triển theo các mô hình canh tác rập khuôn, áp đặt và phụ thuộc vào bên ngoài
Trái ngược với đa dạng về điều kiện về sinh thái- nhân văn và sự phong phú
về kiến thức canh tác truyền thống ở miền núi, các chương trình phát triển miền núi của Chính phủ thường thực hiện theo các “mô hình” quản lý kỹ thuật đồng
bộ, hình thành theo cách nghĩ của người dân đồng bằng Các nhà nông nghiệp và lâm nghiệp chính thống thường có định kiến về phương thức sản xuất lạc hậu của các phương thức sản xuất truyền thống hay là nghĩ đến việc tăng cường thực hiện pháp luật Nhà nước và áp đặt các mô hình sản xuất bên ngoài hơn là hình thành và phát triển các hệ thống quản lý kỹ thuật thích ứng, phối hợp giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật mới, phù hợp với các điều kiện cụ thể của nông dân và thúc đẩy phát huy tính tự chủ của họ trong quản lý tài nguyên (Hoàng Hữu Cải,1990) Chính điều này đã làm giảm hiệu quả và tác dụng của các chương trình phát triển miền núi mặc dù có đầu tư lớn
Xu hướng giao thoa giữa lâm nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế
Khái niệm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp một cách thuần tuý và tách biệt theo quan niệm trước đây đã trở nên không còn phù hợp với nhiều khu vực dân
cư miền núi Phát triền và sử dụng đất thuần nông hoặc thuần lâm đã bộc lộ nhiều hạn chế, chẳng hạn trồng thuần nông trên đất dốc cho năng suất thấp và không ổn định, trong khi đó trồng thuần lâm lại khó khăn về nhu cầu lương thực trước mắt Thực tiễn sản xuất đã xuất hiện các phương thức sử dựng đất tổng hợp, có sự đan xen giữa nông nghiêp, lâm nghiệp và thuỷ sản
CHƯƠNG 3 PHÂN LOẠI HỆ THỐNG NÔNG LÂM NGƯ KẾT HỢP
3.1 PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP
3.1.1 Quan điểm và nguyên tắc để phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp
Trang 23Nông lâm kết hợp như đã được khái niệm ở trên là một lĩnh vực khoa học mới, đặt cơ sở trên các hiểu biết và phát triển riêng biệt tại mỗi vùng và dựa vào các nghiên cứu nhằm bổ sung thêm thành các hệ thống mới Vì thế, nhiều tác giả
đã cố gắng phân loại các mô hình nông lâm khác nhau vào một bảng sắp xếp thống nhất Nair (1989) đã tổng kết các đặc điểm của phương thức nông lâm và nêu ra một số nguyên tắc đặt cơ sở cho phân loại như sau:
o Cơ sở cấu trúc: Dựa trên cấu trúc của các thành phần, bao gồm sự phối
hợp không gian của các thành phần cây gỗ, sự phân chia theo tầng thẳng đứng của các thành phần hỗn giao với nhau và sự phối hợp theo thời gian khác nhau
o Cơ sở chức năng: Dựa trên chức năng chủ yếu hay vai trò của các thành
phần trong hệ thống, chủ yếu là thành phần thân gỗ (thí dụ: Nhiệm vụ sản xuất như sản xuất thực phẩm, thức ăn gia súc, củi, chất đốt hay nhiệm vụ phòng hộ chẳng hạn: đai cản gió, rừng phòng hộ chống cát bay, bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ vùng đầu nguồn nước, bảo dưỡng đất đai)
o Cơ sở sinh thái: Dựa vào điều kiện sinh và sự tương thích sinh thái của
các hệ thống do nhận định rằng; một vài loại hệ thống thích hợp hơn cho một số vùng sinh thái như vùng khô hạn, bán khô hạn, nhiệt đới ẩm
o Cơ sở kinh tế xã hội: Dựa trên các mức độ đầu tư vào quản lý nông trại
(thấp hay cao) hay cường độ, tầm mức của sự quản trị và mục đích thương mại (tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá hay cả hai)
Các nguyên tắc phân loại trên có mối quan hệ lẫn nhau, chẳng hạn như các nguyên tắc dựa vào cấu trúc tầng và dựa vào chức năng thường được đặt làm cơ
sở để phân chia hệ thống, còn nguyên tắc khác như dân sinh kinh tế, vùng sinh thái được sử dụng làm nền tảng để chia các nhóm theo mục đích
3.1.1.1 Phân loại theo cấu trúc của hệ thống
a Dựa trên tính chất của các thành phần nông lâm kết hợp
Trong hệ thống nông lâm điển hình có ba thành phần chính là: Cây lâu năm, cây nông nghiệp ngắn ngày và vật nuôi, dẫn đến sự phân chia sau đây: Phương thức kết hợp cây lâu năm và hoa màu
Phương thức kết hợp cây lâu năm, đồng cỏ và gia súc
Phương thức kết hợp hoa màu, đồng cỏ, gia súc và cây lâu năm
b Dựa trên sự sắp xếp của các thành phần
- Theo không gian
Hệ thống hỗn giao dày (thí dụ như hệ thống vườn nhà)
Hệ thống hỗn giao thưa (như hệ thống cây trên đồng cỏ)
Hệ thống xen theo vùng hay băng (canh tác xen theo băng)
- Theo thời gian
Song hành cả đời sống Song hành giai đoạn đầu
Trang 24Trùng nhau một giai đoạn Tách biệt nhau
Trùng nhau nhiều giai đoạn
3.1.1.2 Phân loại theo chức năng của hệ thống
Các hệ thống nông lâm kết hợp có thể có các chức năng sau:
- Sản xuất (sản xuất một hay nhiều sản phẩm để tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá)
- Phòng hộ (để che chắn và bảo vệ các hệ thống sản xuất khác)
- Kết hợp giữa sản xuất và phòng hộ
3.1.1.3 Phân loại theo vùng sinh thái
Các hệ thống nông lâm kết hợp có thể được phân chia tuỳ theo từng vùng sinh thái khác nhau Nhiều hệ thống có thể có cấu tạo và sắp xếp các thành phần giống nhau nhưng được phân loại khác, do chúng được bố trí ở các hoàn cảnh sinh thái khác nhau như vùng đồi núi, vùng cao, vùng thấp, vùng khô, vùng ngập nước; khí hậu và đất đai khác nhau Thí dụ: Hệ thống VAC được phát triển khắp Việt Nam nhưng chúng ta có thể phân biệt VAC ở các vùng núi hay đồng bằng, miền Bắc, Tây Nguyên hay ở Đồng bằng Sông Cửu Long
3.1.1.4 Phân nhóm theo điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
Hệ thống nông lâm kết hợp còn được phân chia theo tình trạng và mục tiêu của sản xuất như:
Sản xuất hàng hoá: Khi mà hệ thống cho đầu ra là các sản phẩm khác để bán ra thị trường để lấy lãi
Tự cung tự cấp: Khi hệ thống sử dụng đất sản xuất cung cấp các sản phẩm dùng trong gia đình như thoả mãn các nhu cầu về lương thực thực phẩm cho nông hộ
Trung gian cả hai thứ: Hệ thống sản xuất để thoã mãn cả nhu cầu tại chỗ của nông hộ và sản xuất hàng hoá cho thị trường
Hơn nữa các yếu tố dân sinh xã hội và văn hoá cũng ấn định những nét riêng
lẽ cho từng hệ thống kỹ thuật nông lâm kết hợp Tại một địa điểm đồng nhất về các yếu tố tự nhiên, sinh thái, một kỹ thuật như VAC có thể được phân biệt khác nhau do được áp dụng bởi tình trạng kinh tế (giàu, trung bình hay nghèo) của nông hộ hoặc do các nhóm dân khác nhau (dân tộc ít người ở địa phương, người kinh ở đồng bằng, người di cư ở các vùng khác)
3.2 Nông lâm kết hợp trên các vùng kinh tế- sinh thái Việt Nam
Trong sản xuất nông lâm nghiệp, chỉ có một hệ canh tác bao gồm một tổ hợp vật nuôi và cây trồng thích hợp mới có khả năng sử dụng có hiệu quả cao các điều kiện tự nhiên của từng vùng lãnh thổ và phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội của vùng đó Điều đó có nghĩa là sản xuất nông lâm nghiệp bao giờ cũng gắn với vùng kinh tế – sinh thái, chỉ có như vậy mới tạo cho cây trồng và vật
Trang 25nuôi đạt năng suất và chất lượng cao, đồng thời quá trình sản xuất mới ổn định
và hiệu quả
Căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên (địa hình, khí hậu, thực bì ) và các yếu tố kinh tế – xã hội (mật độ dân số, tập quán canh tác, thị trường ) các nhà khoa học nông lâm nghiệp đã phân chia nước ta thành 8 vùng kinh tế - sinh thái nông lâm nghiệp: Vùng núi Bắc Bộ, vùng Trung du Bắc Bộ, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng Sông Cửu Long Đặc điểm chính và hướng sản xuất nông lâm kết hợp ở từng vùng như sau:
3.2.1 Vùng núi Bắc Bộ
Bao gồm 10 tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La,
Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn
Tại đây, diện tích tự nhiên là 7,94 triệu ha, là vùng có diện tích lớn nhất trong 8 vùng (chiếm 24,1% diện tích của cả nước), độ che phủ rừng 40,6% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) nhưng địa hình phức tạp, đất dốc chiếm chủ yếu, giao thông kém phát triển Đây cũng là địa bàn sinh sống chủ yếu của các dân tộc ít người phía Bắc Các dân tộc khác nhau cư trú ở các rẻo cao khác nhau theo kiểu phân tầng từ thung lũng ven suối đến độ caohơn
2000 m Trình độ văn hóa và khoa học kỹ thuật nói chung của vùng còn thấp Địa hình trong toàn vùng tất cả đều là núi, đặc biệt có dãy Hoàng Liên Sơn đồ
sộ với những đỉnh cao nhất nước (3000m)
Tỉ lệ rừng che phủ hiện nay là còn thấp, trong vùng núi Bắc Bộ có một vấn đề nổi cộm về sử dụng đất rừng, đó là phương thức canh tác “du canh”; tất nhiên “du canh” không chỉ có ở vùng núi Bắc Bộ, mà có ở các vùng đồi núi khắp cả nước
Du canh ở Việt Nam có thể chia làm 3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất là du canh truyền thống, ở đây du canh gắn liền với du cư, khi di chuyển vị trí nương rẫy người dân di chuyển cả nhà ở Đây là phương thức canh tác rất lạc hậu gắn liền là đời sống thấp, tạm bợ và thường gặp ở các dân tộc ít người như H’Mông, Dao
- Nhóm thứ hai là du canh không du cư, nơi trồng trọt thay đổi còn nhà ở cố định Phần lớn đây cũng là những dân tộc ít người sống ở các làng bản
- Nhóm thứ ba là “du canh phụ”, bao gồm những người chủ yếu sống bằng canh tác ruộng đất cố định, thường là trồng lúa Để bổ sung cho nhu cầu lương thực họ trồng thêm ngô, sắn hoặc rau quả ở nương rẫy Trước đây kiểu canh tác bổ sung này hạn chế về quy mô nhưng với sức ép tăng dân số nó trở thành phổ biến ở nhiều vùng khắp Việt Nam nhiều đồi núi đã bị mất hết độ màu mỡ đến mức không thể trồng trọt hàng năm được
Trang 26Ở vùng núi Bắc Bộ du canh thuộc nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai là chủ yếu Khi mật độ dân số rất thấp, du canh tỏ ra vẫn có tác dụng nhất định để đảm bảo cuộc sống của người dân mà không phải đầu tư nhiều trong điều kiện của người dân sống cách biệt với các trung tâm kĩ thuật và dịch vụ, giao thông lại cực kì khó khăn Mặt khác nó cũng không làm tổn hại nhiều đến đất rừng do thời gian bỏ hoá rất dài (10 đến 15 năm) đủ để có thể phục hồi lại được độ phì của đất rừng đã bị mất do xói mòn và canh tác nông nghiệp nhờ vào cây rừng thứ sinh mọc lên nhanh chóng trên diện tích đó Nhưng khi sức
ép dân số tăng lên, thời gian bỏ hoá bị rút ngắn đi rất nhiều, việc canh tác liên tục với sự trả lại cho đất rất ít, cộng với mưa mùa nhiệt đới đã làm suy giảm
độ phì của đất theo đó là sản lượng cây trồng bị giảm sút Như vậy lại phải phát quang nhiều diện tích hơn để đủ bù số lương thực bị giảm năng suất, dẫn đến vòng quay “đất nghỉ” càng ngắn hơn, cứ như vậy hình thành cái vòng luẩn quẩn không thể thoát ra khỏi Hiện nay, có hiện tượng di cư tự phát của đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi Bắc Bộ vào các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Nguyên nhân chính là do đất đai của họ bị nghèo xấu đi không thể canh tác được nữa, họ kéo cả bản vào các vùng đất mới hoang vu, rừng rậm của Tây Nguyên để khai hoang trồng trọt Như vậy chu trình mới của lối canh tác cũ lại bắt đầu ở đây
Ở vùng núi Bắc bộ, đất bằng trồng lúa rất hiếm, vì thế để đảm bảo lương thực người ta phải canh tác ở đất dốc là điều không thể tránh khỏi và trải qua quá trình lâu đời lối canh tác nương rẫy trở thành tập quán ăn sâu vào đời sống đồng bào các dân tộc ở đây Chính vì vậy ý muốn loại bỏ phương thức “du canh” trong vùng này là không thể thực hiện triệt để ngay được Có lẽ tốt hơn
cả là đồng thời với cuộc vận động định canh, định cư chúng ta phải chấp nhận canh tác nương rẫy trong một thời kì, nhưng cần có qui hoạch để tránh phát quang ở khu vực đầu nguồn, ở đỉnh núi, đường dông Đồng thời, hướng dẫn người dân biết gieo hạt hoặc trồng cây con, các cây họ đậu dạng cây bụi ngay sau khi kết thúc chu kì sản xuất để bảo vệ và cải tạo đất, làm như vậy có thể rút ngắn được thời gian “đất nghỉ”, có nghĩa là giảm được diện tích phát quang; tiến tới áp dụng phương thức Taungya để đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ vừa chuyển thu nhập chủ yếu bằng sản phẩm lâm nghiệp trong đời sống của người dân miền núi ở những nơi đủ điều kiện (vốn trồng rừng, thị trường tiêu thụ lâm sản )
Do điều kiện đất rộng nên một thế mạnh của vùng núi Bắc Bộ là có thể thực hiện hệ thống lâm súc Ngoài việc chăn thả trâu bò dưới tán rừng tự nhiên của các hộ gia đình vốn đã có truyền thống ở đây, việc chăn nuôi gia súc lớn qui mô tập trung là có cơ sở Muốn vậy phải có qui hoạch trồng rừng kết
Trang 27hợp với đồng cỏ chăn nuôi, nên chọn những khu vực có độ dốc dưới 200 thiết kế các băng cây rừng, giữa các băng cây này trồng các thảm cỏ để tổ chức chăn thả theo phương thức luân phiên Đồng thời dành ra những lô trồng cỏ thâm canh làm nơi chuyên cắt thức ăn bổ sung tại chuồng Có thể dùng các cây họ đậu thân gỗ (như keo dậu, keo lá phượng, keo lá tràm, ) trồng làm các hàng rào phân lô đồng cỏ thay thế cho các hàng rào dây thép gai vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất vừa làm thức ăn bổ sung cho gia súc Ngoài ra một vấn đề quan trọng khác trong chăn nuôi tập trung là xác định tập đoàn giống cỏ Hiện nay có một số giống cỏ thích hợp cho vùng này là cỏ voi, cỏ ghine, cỏ stylo, cỏ Mộc Châu, cỏ lông ruzi, cỏ tín hiệu, cỏ lông humi,…
Đồng bào các dân tộc miền núi thường không có vườn nhà, mọi thứ phục
vụ cho sinh hoạt như rau, quả, đều ở nương rẫy, điều này gây lãng phí sức lao động và thời gian Trong điều kiện đất rộng cần phát triển loại hình RVAC để tạo ra một hệ sinh thái khép kín Ở đây rừng (R), tốt nhất là rừng tự nhiên được giữ lại trên đỉnh núi có tác dụng phòng hộ giữ đất, giữ nước, đồng thời là nơi cung cấp củi cho từng gia đình trong quá trình chăm sóc, làm giàu rừng và cũng là nơi để chăn thả gia súc lớn dưới tán rừng
Ở những nơi có điều kiện, nên phát triển loại hình ruộng bậc thang chỉ nên ở giữa sườn núi trở xuống đến chân núi, còn phần trên đỉnh núi cần để lại rừng tự nhiên hoặc rừng trồng các loài cây gỗ
Ở vùng núi Bắc Bộ có thể phát triển nuôi ong Tuy nhiên, ở đây nguồn hoa rải rác và nhất là giao thông khó khăn nên không phát triển đàn ong qui
mô lớn mà chỉ nên phát triển nuôi ong hộ gia đình là phù hợp
Nhờ có tính chất phi địa đới trên núi cao ở Tây Bắc và Hoàng Liên Sơn
có điều kiện trồng các cây ăn quả á nhiệt đới và ôn đới như mơ, đào, mận, lê, tạo thành hàng hoá trao đổi làm phong phú thêm các sản phẩm hoa quả ở nước ta Các loài cây này có thể phát triển cả ở vườn nhà, vườn rừng Đồng thời ở đây cũng có điều kiện trồng các loại rau ôn đới như su hào, súp lơ, đậu côve, bao gồm cả khâu kinh doanh giống cung cấp cho cả nước Dưới tán rừng trên núi cao có thể phát triển các loại dược liệu như tam thất, sâm, đỗ trọng, thục địa, thảo quả Ngoài ra ở từng khu vực còn có các loài cây đặc sản như trồng quế dưới tán rừng ở Yên Bái, trồng hồi ở Lạng Sơn, nuôi thả cánh kiến
đỏ ở Sơn La, Lai Châu
Có thể nói vùng núi Bắc Bộ có tiềm năng tự nhiên rất lớn để phát triển nông lâm kết hợp, nhưng khó khăn ở vùng này cũng không phải ít Để có thể thực hiện nông lâm kết hợp ở vùng này trên diện rộng và phổ biến ngoài vấn
đề kỹ thuật ra còn cần đầu tư phát triển về cơ sở hạ tầng như giao thông, liên
Trang 28lạc và các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp để kích thích tính tích cực, ham muốn làm giàu của người dân, đặc biệt là người dân tộc ít người
3.2.2 Vùng Trung du Bắc Bộ
- Với tổng diện tích 2,3 triệu ha (chiếm 7,1% diện tích cả nước) độ che phủ rừng 32,1% ( Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) Vùng này bao gồm 7 tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình hình thành một vành đai quanh châu thổ sông Hồng
- ở đây có cả những cánh đồng lúa nước, cả những đồi độc lập và các dãy đồi liên tục Tài nguyên rừng còn lại rất ít Những đồi trọc là điểm đặc trưng gây ấn tượng mạnh ở nhiều vùng Các đồi này bị canh tác quá mức đã tạo ra vấn đề sinh thái môi trường với tốc độ xói mòn rất mạnh
- Những vùng đồi này đã từng có rừng rậm che phủ, cho đến tận cuối năm
50 ở đây vẫn chỉ thưa thớt người dân tộc thiểu số Từ năm 1954 trở đi Nhà nước khởi xướng chương trình di dân từ vùng đồng bằng sông Hồng đông đúc tới vùng trung du thưa dân này Những người dân khai hoang vốn đã quen với lối canh tác trên đất bằng, ở trung du họ gặp một môi trường mới, việc canh tác trên đất dốc là điều mới mẻ với họ, do đó người dân vẫn áp dụng những kỹ thuật sản xuất ở đất bằng cho vùng trung du Vì thế ruộng lúa nước và vườn nhà ở trung du tỏ ra vẫn có chu trình dinh dưỡng có hiệu quả Nhưng tình hình
ở trên các vùng đất dốc hoàn toàn ngược lại Trước hết rừng bị phá đi để lấy
gỗ, củi và lấy đất trồng trọt Đất đồi thường được sử dụng theo kiểu bóc lột để trồng sắn, khoai, để chăn thả trâu bò và lấy củi đun Khi dân số tăng lên, đất đồi càng được sử dụng liên tục quá mức dẫn đến xói mòn nghiêm trọng không thể canh tác được
- Để giải quyết tình trạng này cùng với việc nhanh chóng chia đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải đẩy mạnh việc xây dựng các vườn rừng, trang trại lâm nghiệp của các hộ gia đình với việc hướng dẫn trồng các loài cây đa mục đích vừa bảo vệ và cải tạo đất vừa cung cấp nhiều sản phẩm khác nhau
- Khuyến khích phát triển các loại hình VAC hoặc RVAC, ở đây thường không có rừng tự nhiên nên bố trí rừng trồng ở trên phần đỉnh đồi để giữ đất, nước, phần sườn đồi trồng các loài cây ăn quả thân gỗ lâu năm để trong quá trình chăm sóc sẽ cải tạo được đất nhanh chóng
- Đây là vùng cung cấp gỗ cho các ngành công nghiệp (gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu giấy sợi, ván nhân tạo) Trên diện tích trồng rừng công nghiệp nên kết hợp trồng xen dưới tán hoặc trồng xen theo băng các loài cây họ đậu thân bụi hoặc thân gỗ để phục hồi môi trường sinh thái được nhanh chóng Ở những nơi đất còn tốt có thể áp dụng phương thức Taungya là hợp lý với các loài cây công nghiệp theo hướng kết hợp giữa các loài cây công nghiệp dài
Trang 29ngày (chè, cọ, sơn, ) và cây chịu bóng dưới tán (dứa, sả, hương bài, gừng, riềng ) góp phần phục hồi môi trường sinh thái của vùng
3.2.3 Vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Bao gồm 9 tỉnh – thành phố: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Hà Nội và Hải Phòng, diện tích tự nhiên 1,27 triệu ha (chiếm 3,8% diện tích cả nước)
- Vùng này là nơi đông dân cư nhất của cả nước nên diện tích bình quân đầu người rất thấp Mạng lưới giao thông phát triển, các cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tương đối thuận lợi, trình độ khoa học kỹ thuật của vùng này vào loại nhất nước
- Đất đai phì nhiêu và bằng phẳng nên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu đảm bao cung cấp lương thực và thực phẩm cho nhiều vùng, có thể nói đây là
“vựa lúa thứ hai của nước ta”
- Chính do đất đai quý hiếm như vậy cho nên sản xuất nông lâm kết hợp ở đây trước hết phải tận dụng mọi khả năng ưu thế về lao động, vật tư, kỹ thuật
và thị trường Cần đẩy mạnh phát triển loại hình VAC theo hướng nuôi trồng các giống cây và con quý hiếm có giá trị cao và tạo ra chu trình sinh học khép kín nhằm giữ vệ sinh môi trường
- Cần tận dụng đất đai mọi chỗ, ven dường đi, dọc bờ kênh, bờ mương, để trồng cây phân tán, vừa có tác dụng chắn gió, cải tạo điều kiện tiểu khí hậu, vừa cung cấp gỗ củi cho vùng đồng bằng đông dân vốn thiếu nhiều chất đốt, thường phải sử dụng các sản phẩm phụ của nông nghiệp như rơm, rạ đáng ra cần được hoàn trả lại cho đất để giúp cho việc duy trì và cải thiện muà màng
- Ngoài ra, ở vùng đồng bằng sông Hồng do có nguồn hoa tương đối tập trung và điều kiện giao thông thuận lợi cho việc di chuyển đàn ong theo nguồn hoa cho nên có thể phát triển nuôi ong quy mô tập trung
Trên tuyến ven biển của vùng này đa phần là sự hiện diện của cồn cát, đầm phá Vì thế, sản xuất nông lâm nghiệp ở đây trước hết phải là trồng rừng
Trang 30phòng hộ cải tạo đất cát, tiến tới có thể trồng cỏ để chăn nuôi trâu bò và trồng các loài cây nông nghiệp (khoai lang, đậu, lạc, ) để có sản phẩm lương thực thực phẩm, ngoài ra tận dụng mặt nước để nuôi tôm cá nước lợ
Trong tuyến nội đồng cần phát triển mạnh VAC ở các hộ gia đình với các loài cây đa tác dụng vừa cho sản phẩm vừa cải tạo đất và cung cấp chất đốt trong vùng Đồng thời đẩy mạnh trồng cây phân tán góp phần phòng chống gió bão thường xuyên xảy ra ở vùng này
Ở tuyến đồi núi cần đẩy mạnh áp dụng hệ thống lâm súc, đặc biệt là việc nuôi hươu ở các hộ gia đình vốn đã có truyền thống và kinh nghiệm lâu năm ở vùng này để tận dụng được chất xanh thô của rừng và các phụ phẩm nông nghiệp tạo ra hàng hoá chất lượng cao
Đây cũng là vùng có thể trở thành vùng nguyên liệu cho công nghiệp giấy, công nghiệp mía đường, công nghiệp thực phẩm như mía, chè, dứa và nhất là cây lạc vốn có truyền thống từ lâu Ngoài ra ở một số địa điểm đất đỏ bazan (Phủ Quì, Do Linh.) có thể trồng các cây công nghiệp dài ngày
có giá trị cao như cà phê, hồ tiêu, cao su theo phương thức Taungya
3.2.5 Vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Gồm 8 tỉnh và thành phố: Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận Diện tích tự nhiên 4,37 triệu ha (chiếm 13,3% diện tích cả nước), độ che phủ rừng 31,8% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) Trừ Quảng Nam, còn lại các tỉnh trong vùng đều rất hẹp nằm kẹp giữa biển và cao nguyên, đây cũng là vùng khô nhất nước
Diện tích rừng che phủ toàn vùng là 31,8% thấp hơn vùng Bắc Trung Bộ nhưng chất lượng rừng còn khá tốt với các loài gỗ quí (Huỷnh, Cẩm lai, Mun, ) Cho nên cần tập trung kinh doanh rừng tự nhiên bằng các phương thức trồng rừng dưới tán rừng hoặc trồng theo băng kết hợp các loài cây che bóng với các loài cây bản địa hoặc phát triển lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng nhằm giữ vững và nâng cao chất lượng của rừng
Do đặc điểm tự nhiên của vùng mà các loài cây trồng khác hẳn với phía Bắc ở đồng bằng ven biển nổi bật lên là loài cây dừa có thể trồng theo phương thức phân tán hoặc tập trung và kết hợp với các loại cây ăn quả khác,
ở khu vực đồi núi có thể phát triển trồng các cây công nghiệp dài ngày như điều ở các vườn nhà, vườn rừng hoặc trồng xen các loài cây công nghiệp như hồ tiêu, đỗ tương
Đồng bào dân tộc ít người ở vùng cao cũng không có tập quán sử dụng phân bón, không có vườn nhà và cũng canh tác theo kiểu du canh, cho nên cần hướng dẫn xây dựng các kiểu RVAC với các loài cây công nghiệp và cây ăn quả đặc trưng của miền Nam Đặc biệt ở một số khu vực (Trà My, Phước Sơn)
Trang 31người dân có kinh nghiệm trồng quế dưới tán rừng thứ sinh, nên cần khuyến khích phát triển mặt hàng có giá trị xuất khẩu này Đồng thời đẩy mạnh áp dụng phương thức Taungya để có thể chấm dứt nạn du canh với các loài cây nông nghiệp phù hợp với thói quen tiêu dùng của các dân tộc ít người ở vùng này như cao lương, kê, mạch, ngô
Ở miền đồi núi việc chăn nuôi trâu bò là nhu cầu thiết yếu của nông dân Nhưng cần chấm dứt lối chăn thả tự nhiên gây ảnh hưởng đến rừng và đất đai bằng biện pháp xây dựng các đồng cỏ chăn nuôi theo các phương thức sau:
- Hệ thống bãi cỏ lâm sinh, tức là xen kẽ các băng cây rừng với các ô cỏ, băng
cỏ
- Trồng hỗn hợp cỏ với các loài cây họ đậu
- Trông luân canh giữa cỏ và các loài cây họ đậu
Tuỳ theo điều kiện đất đai mà áp dụng phương thức chăn thả luân phiên hay nuôi tại chuồng Phương thức nuôi tại chuồng có ưu điểm là tốn ít đất, bảo
vệ được đất tốt hơn nhưng lại tốn công lao động
3.2.6 Vùng Tây Nguyên
Gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng
Diện tích tự nhiên 5,44 triệu ha, chiếm 16,6% tổng diện tích cả nước, độ che phủ rừng 57,6% ( Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) vùng này
là nơi mật độ dân thấp nhất
Việt Nam, trong đó có nhiều người di cư từ nơi khác đến sinh cơ lập nghiệp
Phần lớn diện tích của vùng là những vùng đồi gợn sóng thoai thoải ở
độ cao 500 - 1000m so với mặt biển Đây là vùng đất đỏ bazan lớn nhất cả nước, với hơn 1,7 triệu ha Cho nên vùng này có tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp rất lớn Nhưng khó khăn của vùng là có mùa khô hạn kéo dài và khá sâu sắc nên cần giải quyết vấn đề thuỷ lợi để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Tây Nguyên có tỷ lệ rừng che phủ lớn nhất nước với nhiều loài gỗ quý và các lâm sản, động vật rừng khác Thế mạnh của vùng là các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, hồ tiêu, cao su Các cây công nghiệp ngắn ngày như: đỗ đậu các loại, lạc thầu dầu, dâu tằm, bông Các loại cây này có thể trồng ở vườn nhà, vườn rừng, đồn điền Với phương thức trồng xen canh gối
vụ, phương thức Taungya cho kết quả rất tốt
ở Tây Nguyên các kiểu thảm thực vật rừng thưa tự nhiên như rừng khộp, rừng thông dưới tán rừng đều có thảm cỏ tự nhiên phát triển tốt Chứng tỏ sự thích nghi sinh thái của chúng cho nên cần xây dựng hệ thống lâm súc kết hợp Tuy nhiên các loài cỏ tự nhiên mọc dưới tán rừng thưa chủ yếu là cỏ cứng, sắc giá trị dinh dưỡng thấp, ít thích hợp cho chăn nuôi như cỏ tranh, cỏ kiên ngâu,
cỏ phao lưới Có thể thay thế bằng các loại cỏ mềm, chất lượng cao như cỏ
Trang 32voi cỏ ruzi, ghinê và các loại cây họ đậu, khả năng phát triển chăn nuôi sẽ tăng lên
Ngoài ra, ở một số khu vực trong vùng có truyền thống chăn nuôi thuần dưỡng các loài thú kinh tế như voi, nai, cần duy trì và phát triển
Trên diện rộng rừng gỗ kinh tế cần sử dụng các loài cây bản địa như các cây họ dầu trồng kết hợp theo băng với các cây cải tạo đất, che bóng như muồng đen, keo, bời lời
3.2.7 Vùng Đông Nam Bộ
Với tổng diện tích 2,35 triệu ha (chiếm 7,1% diện tích cả nước) độ che phủ rừng 16,7% ( Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003) vùng này nằm trên địa phận của 6 tỉnh - thành phố: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Riạ - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh
Vùng Đông Nam Bộ có dạng đồng bằng thềm và bán bình nguyên cao
100 - 200m so với mặt nước biển nên thoát nước tốt, đất đai phần lớn là phù sa
cổ đất xám và một phần đất đỏ bazan Vì thế, ở đây có điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế nông lâm nghiệp hiện đại, cơ giới hoá
Thế mạnh của vùng là phát triển cây công nghiệp, hiện tại diện tích cây công nghiệp của vùng là lớn nhất cả nước (9,3 vạn ha) cây công nghiệp dài ngày gồm có cao su, cà phê, dừa, đào lộn hột, hồ tiêu Cây công nghiệp ngắn ngày gồm lạc, đậu tương, mía, đay, cọ dầu Việc trồng xen các cây công nghiệp dài ngày có thể thực hiện ở cả vườn nhà, vườn rừng và các đồn điền
Cây ăn quả vùng này có diện tích lớn thứ hai sau vùng đồng bằng sông Cửu Long Cho nên có thể phát triển các cây ăn quả nhiệt đới đặc trưng ở đây trở thành nguồn hàng hoá xuất khẩu
Rừng trồng kinh tế phát triển mạnh các cây cho gỗ lớn đặc biệt là tếch, theo phương thức Taungya với các cây công nghiệp ngắn ngày và trồng hỗn giao với cây họ đậu thân gỗ như keo, so đũa, hoặc các cây họ dầu với các cây che bóng ban đầu
3.2.8 Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Gồm 12 tỉnh - thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang, Hậu Giang
Diện tích tự nhiên của vùng là 4,16 triệu ha (chiếm 12,4% diện tích cả nước) độ che phủ rừng 5,0% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)
Đây là vùng đồng bằng thấp, độ cao trung bình chỉ 2m so với mặt nước biển Về mùa khô thuỷ triều xâm nhập sâu nên nước mặn ảnh hưởng đến 1/3 diện tích châu thổ Về mùa mưa do không có đê nên hàng năm nước sông Cửu Long vẫn tràn bờ làm ngập một vùng rộng lớn hơn 1 triệu ha, vì vậy, công tác thuỷ lợi ở đây phải chống được ngập úng trong mùa mưa, chống được sự khan
Trang 33hiếm nước ngọt trong mùa khô đồng thời ngăn chặn sự xâm nhập vào sâu của nước mặn Nhưng vấn đề đặt ra không ít phức tạp vì vùng sinh lũ nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam Việc cải tạo đất cũng gặp nhiều khó khăn vì vùng này nói chung bằng phẳng, nhưng địa hình và đất đai thay đổi tuỳ nơi Có thể phân ra các vùng sau: Vùng bị ngập sâu, vùng ít bị ngập, vùng không ngập nước, vùng đất phèn và vùng đất mặn
Vùng bị ngập sâu có thể chìm dưới 2m nước về mùa lũ, nằm về phía Tây Long Xuyên, Cao Lãnh Đất chỉ khô ráo từ tháng 1 đến tháng 4 Do đó nhân dân ở đây có truyền thống sạ lúa nổi Biện pháp chính để cải tạo vùng bị ngập sâu là phải đắp đê ngăn lũ Hướng dẫn sản xuất nông lâm kết hợp ở đây chủ yếu
là áp dụng hệ thống lâm ngư, phát triển trồng cây phân tán trên các bờ kênh rạch
Vùng không bị ngập có diện tích rộng hơn 800.000ha nằm về phía đông con đường từ Vĩnh Long đến Cần Thơ thuộc địa phận các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Hậu Giang, Cửu Long Vùng này, đất đai phì nhiêu, dễ canh tác khiến cho nó trở thành vựa lúa của cả nước Ở đây có diện tích vườn cây ăn quả lớn nhất (gần 10 vạn ha) cho nên thế mạnh trước hết là phát triển VAC Cây công nghiệp dài ngày, nhất là dừa rất phát triển, ngoài ra còn các cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương, lạc, vừng; có thể trồng xen canh gối vụ trên các diện tích vườn nhà, ruộng
Tại đây nước và đất đều chứa sunfat nhôm và sunfat sắt, khi bị thuỷ phân
sẽ cho axit sunfuric làm đất rất chua, độ pH ≤ 4, có khi ≤3, ngoài ra còn có mùi hôi và độc tố của H2S Muối phèn rất dễ di động vì thế hàm lượng của nó trong đất thường thấp vào mùa mưa và cao vào mùa khô Biện pháp cải tạo chính vùng này là khoanh vùng, dùng nước mưa hoặc thuỷ lợi để rửa phèn, đồng thời bón vôi và apatit Đất phèn có độ phì tiềm năng cao có thể áp dụng biện pháp công trình là lên các “líp” để hạn chế phèn di động và thực hiện mô hình nông lâm ngư sẽ cho năng suất cao
Hướng sản xuất nông lâm kết hợp ở đây chủ yếu là áp dụng hệ thống nông lâm ngư với các loài cây trồng rừng chính là tràm kết hợp với sạ lúa, nuôi
cá, trên đất phèn nếu lên líp có thể trồng thành rừng bạch đàn trắng kết hợp với trồng sắn, dứa cũng có kết quả tốt Ngoài ra cần phát triển trồng cây phân tán
và VAC với các loài cây ăn quả phong phú của miền Nam Tại vùng này có thể phát triển nuôi ong cho hiệu quả cao do có nguồn hoa tập trung
Vùng đất mặn nằm từ cửa sông Vàm Cỏ đến tận duyên hải Hà Tiên, tập trung nhất ở Minh Hải Hướng sử dụng tự nhiên có lợi nhất là bảo vệ vùng đất mặn với hệ sinh thái rừng ngập mặn (là hệ sinh thái có năng suất tự nhiên cao nhất) Tại đây có thể phát triển trồng các loại cây nước mặn (đước, vẹt, trang, bần ) kết hợp với nuôi thuỷ hải sản Đặc biệt là có thể nuôi các loài bò sát như
Trang 34trăn, rắn, rùa và bảo vệ hệ sinh thái đặc trưng là các “sân chim” Ngoài ra có thể phát triển nuôi ong do có nguồn hoa phong phú của rừng ngập mặn và rừng tràm
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích hiện trạng sử dụng đất ở vùng núi Việt Nam theo các tiêu chí: Tính hiệu quả, tính bền vững và tính công bằng
2 Xác định và phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến
sự không bền vững, kém hiệu quả và thiếu công bằng trong sử dụng tài nguyên ở miền núi Việt Nam
3 Phân tích tiềm năng, cơ hội và các vấn đề thách thức để phát triển NLKH
Trang 35CHƯƠNG 4
MÔ TẢ VÀ PHÂN TÍCH CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP
4.1 CÁC HỆ THỐNG NÔNG LÂM KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG
4.1.1 Khái niệm
Hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) truyền thống là những hệ thống canh tác được phát triển và sử dụng qua nhiều thế hệ, được chứng thực qua thời gian Chúng thường phổ biến ở cộng đồng người dân tộc sống gần ngay tại rừng Một cách đơn giản hơn, hệ thống NLKH truyền thống là các kiểu canh tác nông lâm kết hợp được phát triển bởi người dân tại địa phương
Mặc dù NLKH là môn học còn mới mẻ nhưng nó thực sự là một kiểu canh tác được nông dân áp dụng từ lâu Nhiều kỹ thuật NLKH đã tồn tại, được thử nghiệm và chấp nhận bởi người dân địa phương qua hàng ngàn năm Ví dụ : Chúng ta có thể xác định được loại cây trồng, vật nuôi và sự phối hợp loài thích hợp cho một hoàn cảnh nào đó bởi người dân địa phương Cho nên, chúng ta cần tổng kết và phân tích các hệ thống NLKH truyền thống
Các yếu tố để xem xét một hệ thống là truyền thống (bản địa) bao gồm:
- Hệ thống được tồn tại từ lâu
- Hệ thống có sức sản xuất cao
- Hệ thống đuợc chấp nhận bởi cư dân địa phương vì nò phù hợp với tập quán, tín ngưỡng và suy nghĩ của họ
4.1.2 Các hệ thống nông lâm kết hợp truyền thống
4.1.2.1 Hệ thống bỏ hoá/ nương rẫy cải tiến:
Đây là hình thức lâu đời của hệ thống NLKH nhằm khắc phục khó khăn canh tác nương rẫy Thật ra kiểu canh tác này không có ý nghĩa bỏ hoá đất mà đất cũng được phát, đốt và “trỉa” trong vài năm Sau đó ngừng canh tác một số năm
để tạo điều kiện cho rừng phục hồi độ phì (cho đất “nghỉ”) Thật ra người dân luân canh từ mảnh đất này sang mảnh đất khác theo thời gian đã được suy tính trước Kỹ thuật này đã tỏ ra bền vững trong nhiều năm, mấu chốt cho sự bền vững của kỹ thuật canh tác này là thời gian ngừng canh tác để độ phì của đất được phục hồi Thời gian bỏ hoá dài hay ngắn phụ thuộc vào quỹ đất Nếu thời gian bỏ hoá quá ngắn, hệ thống canh tác nầy sẽ bị suy thoái dần
Trang 36Hình 4 : Bỏ hoá để cải tạo phục hồi đất
Nhiều cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam có kiểu canh tác nương rẫy bỏ hoá khá dài so với các giai đoạn canh tác khác
Tuy nhiên trong bối cảnh đất canh tác ngày càng ít đi, trong khi dân số ngày càng đông đúc, các cộng đồng dân cư thường cải tiến kiểu canh tác để đối phó
Hệ thống cải tiến của người Nalad là một ví dụ Hệ thống đã được thực hiện hơn
80 năm nay tại một số cộng đồng ở Philippin Để khắc phục tình trạng thiếu đất
độ phì của đất suy giảm nhanh, bỏ hoá ngắn lại, kéo dài thời gian canh tác, nông dân địa phương đã trồng thành công loài cây Keo Dậu trong giai đoạn bỏ hoá
Họ thường chia đất canh tác thành nhiều lô để trồng luân canh cây hoa màu cây Keo Dậu để cải tạo đất Thời gian canh tác thay đổi từ 2-4 năm, lệ thuộc vào số
lô luân canh, tổng diện tích rẫy, sức sinh trưởng của Keo dậu Hạt Keo dậu được gieo thẳng ngay sau khi đất bỏ hoá, thời gian bỏ hoá kéo dài 8-10 năm hoặc ngắn hơn Với cách làm này, người dân đã rút ngắn thời gian bỏ hóa, ngoài ra còn khai thác được Keo dậu làm cột nhỏ, củi đun, lá và cành nhánh nhỏ làm phân xanh và xây dựng các rào chắn cơ giới theo đường đồng mức Chức năng chủ yếu của rào cản cơ giới là chống xói mòn và được xác định như là một chỉ tiêu canh tác (chừng nào hàng rào này mục nát thì ngừng canh tác) Kết quả của
kỹ thuật này được thể hiên trên sức sinh trưởng và năng suất cao hơn của các loài hoa màu nông nghiệp trồng xen
Lợi ích:
- Trồng cây thân gỗ họ Đậu cso khả năng cố định đạm vào đất bỏ hoá, nhờ
đó rút ngắn đáng kể thời gian bỏ hoá, ví dụ: Keo lá tràm, Keo tai tượng
- Xúc tiến vòng tuần hoàn dinh dưỡng khoáng một cách có hiệu quả (không đốt)
- Hình thành dần các bờ đất ổn định mặt dốc
Hạn chế:
Trang 37- Công việc rất năng nhọc do phải xây dựng và duy trì các hàng rào chắn cơ giới
- Gỗ thu hoạch được từ cây Keo dậu để được dùng làm hàng rào nhiều hơn
Ở những nơi đất có tầng đá mẹ bền vững, ít sạt lỡ, người dân tạo ruộng bậc thang để canh tác ổn định Kỹ thuật này hạn chế xói mòn và chủ động được nước Quản lý nước là một yếu tố quan trọng của hệ thống canh tác này, người dân địa phương thường chú trọng phát triển các hệ thống dẫn nước từ cao xuống thấp Hơn nữa người dân biết cách dùng nước như là nguồn dẫn nhập các chất dinh dưỡng cho hệ thống Rừng trong hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc dự trữ và điều hoà nguồn nước cung cấp cho các ruộng bậc thang, chống sạt lỡ đất, ngoài ra còn cung cấp nguồn lâm sản ngoài gỗ như củi, mây, thuốc Vì vậy mà cộng đồng địa phương quan tâm và quản lý bảo vệ các mảng rừng đầu nguồn
Trang 38- Rất tốn công lao động trong việc xây dựng và duy trì hệ thống
- Chỉ áp dụng được những vùng có nguồn nước tự nhiên
4.1.2.3 Vườn hộ truyền thống
Ở Việt Nam, vườn hộ là một trong những phương thức nông lâm kết hợp truyền thống rất phổ biến, đặc biệt là ở vùng đồng bằng và trung du nơi có đất canh tác hạn chế
Trong vườn hộ, các thành phần cây lâu năm, cây ngắn ngày, vật nuôi và thuỷ sản được kết hợp hài hoà, tận dụng có hiệu quả khả năng sản xuất của đất Không gian trên mặt đất được tận dụng triệt để và phát huy một cách tối đa thời gian và nguồn lao động trong gia đình để sản xuất lương thực, thực phẩm Vườn
hộ không chỉ có hiệu quả xã hội mà còn mang ý nghĩa bảo tồn sinh thái môi trường, cảnh quan nên được người dân không ngừng xây dựng, duy trì và phát triển Các hệ thống vườn hộ ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, chúng thay đổi theo điều kiện khí hậu, đất đai và tập quán truyền thống
* Vườn rừng
Vườn rừng là những khu đất được sử dụng để trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả theo hướng thâm canh để cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị hàng hoá cao Vườn rừng có diện tích biến động từ 0,3-0,5 ha, cũng có khi lên đến vài ha tuỳ vào đất thổ cư hộ gia đình
Trang 39Hình 7: Hệ thống vườn rừng ở Việt Nam
Vườn rừng thường có cấu trúc một tầng cây gỗ chính được trồng thuần loài, ngoài ra còn có tầng thấp trồng xen dưới tán hay tầng thảm tươi tự nhiên được duy trì, giữ lại bảo vệ
Tầng cây chính: Tuỳ theo điều kiện sinh thái, tập quán và kinh nghiệm truyền
thống của từng vùng cũng như nhu cầu của thị trường, người nông dân thường chọn một trong những loài cây sau để trồng trong vườn rừng: Các loại tre trúc, Quế, Sở, Giẻ, Trám
Tầng cây thấp: Thường được trồng kết hợp để tận dụng đất đai và năng
lượng ánh sáng mặt trời, sản xuất thêm lương thực, thực phẩm, cây dược liệu, thức ăn gia súc và các sản phẩm có giá trị khác hay có tác dụng phù trợ cho cây trồng chính Ví dụ: Các loài cây nông nghiệp ngắn ngày như Sắn, Ngô, các loại Đậu, cây cho dược liệu như Gừng, Nghệ, Sa nhân, cây làm phân xanh như Cốt khí, Keo dậu
Lợi ích:
- Vườn rừng bao gồm các loài cây bản địa có tính thích ứng cao với điều kiện sinh thái và đất đai của địa phương
- Duy trì và phát triển được tầng cây thấp có tác dụng phù trợ cho tầng cây chính
- Góp phần tạo dựng môi trường sinh thái ổn định cho sự phát triển bền vững của cây trồng Bảo tồn được nguồn tài nguyên đất và nước
- Các hộ gia đình tận dụng được thời gian, nguồn lao động, tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá có giá trị cao, tăng thu nhập cho gia đình và có nguồn đầu tư trở lại cho cây trồng Điều hoà được lợi ích trước mắt và lâu dài
Hạn chế:
- Công việc chuẩn bị đất tốn nhiều công lao động Việc làm đất và trồng cây lâm nghiệp dễ làm hư hại thực bì tự nhiên Xói mòn đất dễ xảy ra trong những năm đầu, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng
về sau
Trang 40- Xây dựng vườn rừng thường ít được hộ nghèo chấp nhận vì chu kỳ sản xuất cây lâm nghiệp dài và đầu tư vốn, lao động cao
* Vườn cây công nghiệp
Vườn được trồng các loài cây công nghiệp theo hướng thâm canh Vườn thường
có diện tích 0,5 đến vài hecta Phần lớn diện tích dành cho cây công nghiệp kết hợp với cây đa mục đích để che bóng chắn gió và tận dụng các sản phẩm khác Nhà ở hoặc chuồng trại và vườn rau quả ở nơi thấp hơn, gần hoặc xa vườn nhưng có điều kiện nước và đường đi lại thuận lợi cho sinh hoạt và giao lưu hàng hoá
Vườn cây công nghiệp được tạo lập theo kiểu nông trại hay rừng đồn điền để kinh doanh những sản phẩm cây công nghiệp có giá trị cao Kết cấu của vườn thường gồm một tầng cây để sản xuất hàng hoá chính và một tầng cây có ý nghĩa sinh thái phụ trợ
- Tầng cây kinh tế: Bao gồm các loài cây Cà phê, Ca cao, Chè, Cao su,
Điều ở vùng thấp hơn còn có hồ Tiêu, Dâu tằm Cây thường được trồng thành hàng hoặc băng theo đường đồng mức Giữa các hàng cây trông những năm đầu thường được trồng các loài nông nghiệp ngắn ngày như Lúa, Lạc, các loại Đậu
đỗ, Ớt, Gừng để tận dụng đất, hạn chế cỏ dại và che phủ đất
- Tầng cây sinh thái: Được trồng để che phủ đất, hạn chế dòng chảy bề mặt,
che bóng giữ ẩm và điều tiết nước cho cây trồng chính Các loài cây thường được sử dụng là các loại Muồng, Keo, Đậu chàm, So Đũa những năm gần đây một số vườn hộ đã mạnh dạn đưa các loài cây ăn quả có giá trị như Sầu riêng, Chôm chôm cây đặc sản như Quế, Bòi lời vào trồng kết hợp trong các vườn cây công nghiệp để vừa phát huy hiệu quả sinh thái, phòng hộ vừa tăng cao đáng
kể nguồn thu nhập Đặc biệt trong các vườn trồng hồ Tiêu, một số loài cây cao, thân thẳng, tán hẹp, sinh trưởng nhanh như cây Lòng mức, Vông, Gòn gai, Dừa, Cau, Trám trắng, Cóc rừng, So đo thuyền, Muồng vàng được trồng làm giá bám sống cho hồ Tiêu
Ỏ một số nơi, người ta còn trồng Muồng đen, Keo lá tràm, Bồ kết với mật
độ dày hoặc kết hợp với các loài cây đa mục đích khác để làm hàng rào xanh bảo vệ chống gia súc và chắn gió
Hạn chế: