Bên cạnh đó đối với nhà quản lý và lãnh đạo công ty, việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh với sự biến động của rất nhiều yếu tố khác nhau và trong các bối cảnh kinh doanh kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN NHẬT HẢI
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP DƯỢC TẠI VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DƯỢC PHẨM BALI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN NHẬT HẢI
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP DƯỢC TẠI VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DƯỢC PHẨM BALI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 62720412
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
TS Nguyễn Đức Vân
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nêu trong luận án này là trung thực, chưa được công bố trong
bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Nhật Hải
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận án này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình,
tạo điều kiện thuận lợi của Ban Giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội, Bộ
môn Quản lý và Kinh tế dược, Phòng Sau đại học, các Phòng Ban khác - Trường
Đại học Dược Hà Nội và các cán bộ - nhân viên Công ty TNHH một thành viên
Dược phẩm Bali Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà, Trưởng Phòng Sau đại học - Trường
Đại học Dược Hà Nội đã tận tình hỗ trợ tôi về phương pháp luận và trong việc
phát triển và hoàn thiện luận án
TS Nguyễn Đức Vân đã tạo điều kiện thuận lợi, chỉ bảo, gợi ý cho tôi
hướng phát triển nghiên cứu và góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thiện luận
án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đăng Hòa,
PGS.TS Nguyễn Thị Thái Hằng, GS.TS Nguyễn Thanh Bình, và cố PGS
TS Lê Viết Hùng Thầy, Cô giáo đã khích lệ, động viên, chỉ hướng đi cho tôi
trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các học viên cao học, sinh viên đã
tham gia triển khai một phần luận án này và những người bạn đã động viên,
khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trường
Với tình cảm và lòng biết ơn vô bờ bến, tôi không biết nói gì hơn ngoài
lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình thân yêu của tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Nhật Hải
Trang 5v
MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 5
1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 5
1.2 Phương pháp phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 6
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh 9
1.3.1 Các yếu tố môi trường nội bộ 9
1.3.2 Các yếu tố môi trường ngành 11
1.3.3 Các yếu tố môi trường vĩ mô 15
1.4 Tổng quan về kỹ thuật tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh 17
1.4.1 Các kỹ thuật cơ bản trong tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh 17
1.4.2 Kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian 19
1.5 Các nghiên cứu liên quan 25
1.5.1 Một số nghiên cứu trong nước 25
1.5.2 Một số nghiên cứu ngoài nước 28
1.6 Giới thiệu về công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali và một số doanh nghiệp dược khác trong nghiên cứu 30
1.6.1 Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali 30
1.6.2 Công ty cổ phần dược phẩm ANPER Pháp 31
1.6.3 Công ty cổ phần thương mại xuất nhập khẩu APEC 31
1.6.4 Công ty cổ phần thương mại và thiết bị y tế HP 31
Trang 6vi
1.7 Tính cấp thiết của đề tài 31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Thiết kế nghiên cứu 34
2.3 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 35
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính 37
2.4 Nhập liệu và làm sạch số liệu 38
2.4.1 Nhập liệu và làm sạch số liệu định lượng 38
2.4.2 Nhập liệu và làm sạch số liệu định tính 38
2.5 Biến số nghiên cứu 38
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 43
2.6.1 Phương pháp mã hóa và xử lý một số biến số 43
2.6.2 Phương pháp phân tích số liệu định lượng 45
2.6.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 49
2.6.2 Phương pháp xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh 49
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam, giai đoạn 2013-2016 50
3.1.1 Mô tả hoạt động kinh doanh 50
3.1.2 Khái quát tình hình tài chính 53
3.1.3 Khái quát khả năng thanh toán 56
3.1.4 Phân tích cấu trúc tài sản của công ty 60
3.1.5 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty 68
Trang 7vii
3.1.6 Phân tích tình hình thanh toán từng khoản nợ phải thu, nợ phải trả theo thời
gian của công ty 73
3.1.7 Phân tích vòng quay các khoản phải thu và phải trả 76
3.1.8 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh 79
3.2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali, giai đoạn 2013-2016 81
3.2.1 Mô tả xu hướng thay đổi về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali theo thời gian 81
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường nội bộ 89
3.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ngành 97
3.2.4 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường vĩ mô 101
3.3 Xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bali 110 3.3.1 Cấu trúc mô hình tiên lượng 110
3.3.2 Tham số đầu vào sử dụng trong mô hình tiên lượng 113
3.3.3 Một số giả định của mô hình 114
3.3.4 Tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali giai đoạn 2018-2020 115
Chương 4 BÀN LUẬN 118
4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của một số công ty dược phẩm tại Việt Nam, giai đoạn 2013-2016 118
4.2 Mộtsố yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali, giai đoạn 2013-2016 126
4.3 Mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali 133
4.4 Một số ưu điểm và hạn chế 134
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136
5.1 Kết luận 136
5.2 Khuyến nghị 140
Trang 8viii
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 148
PHỤ LỤC 1: Bảng kiểm thu thập số liệu 149
PHỤ LỤC 2: Hướng dẫn phỏng vấn sâu 152
PHỤ LỤC 3: Một số kết quả phân tích mô tả chi tiết 154
PHỤ LỤC 4: Tóm tắt kết quả phỏng vấn sâu 157 PHỤ LỤC 5: Chi tiết một số tham số đầu vào cho mô hình tiên lượng 162
Trang 9ix
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
đụng điều trị và bộ phận giải phẫu mà thuốc tác động đến (Anatomical Therapeutic Chemical Classification)
Trang 10x
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mô tả đối tượng nghiên cứu và tiêu chí lựa chọn, loại trừ 33
Bảng 2.2 Số hóa đơn và sản phẩm của Công ty Bali giai đoạn 2013-2016 36
Bảng 2.3 Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu 37
Bảng 2.4 Danh sách biến số, phân loại và nguồn số liệu 38
Bảng 2.5 Các chủ đề sử dụng trong nghiên cứu định tính 43
Bảng 3.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty giai đoạn 2013-2016 51
Bảng 3.7 Mức độ độc lập về mặt tài chính của các công ty giai đoạn 2013-2016 54
Bảng 3.8 Khái quát khả năng thanh toán của các công ty giai đoạn 2013-2016 57
Bảng 3.9 Cơ cấu tài sản của các công ty giai đoạn 2013-2016 61
Bảng 3.10 So sánh cấu trúc tài sản của các công ty giai đoạn 2013 – 2016 63
Bảng 3.11 Cơ cấu nguồn vốn của bốn công ty giai đoạn 2013-2016 69
Bảng 3.12 So sánh cơ cấu nguồn vốn của bốn công ty giai đoạn 2013-2016 70
Bảng 3.13 Tình hình thanh toán nợ phải thu, nợ phải trả của bốn công ty giai đoạn 2013-2016 75
Bảng 3.14 Vòng quay các khoản phải thu và phải trả của công ty giai đoạn 2013-2016 77
Bảng 3.15 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2013-2016 80
Bảng 3.16 Tổng doanh thu và tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp sau điều chỉnh theo lạm phát theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 82
Bảng 3.17 Doanh thu sau điều chỉnh theo lạm phát theo từng nhóm khách hàng theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 83
Bảng 3.18.Doanh thu theo nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 85
Bảng 3.19 Doanh thu của từng nhóm mặt hàng theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 87
Trang 11xi
Bảng 3.20.Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa tổng doanh thu hàng năm (đơn
vị tính: đồng) và các biến số độc lập là các yếu tố nội tại 89Bảng 3.21 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa tổng doanh thu hàng năm (đã được biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố nội tại 90Bảng 3.22 Mô hình VAR phân tích mối liên quan giữa tổng doanh thu theo quý (biến đổi theo hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố nội tại 91Bảng 3.23 Mô hình VAR phân tích mối liên quan giữa tổng doanh thu theo quý (chưa biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là một số yếu tố nội tại 92Bảng 3.24 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa tổng doanh thu hàng năm (biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 101Bảng 3.25 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa doanh thu TTB hàng năm (biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 103Bảng 3.26 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa doanh thu VTTH hàng năm (biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 104Bảng 3.27 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa doanh thu TPCN hàng năm (biến đổi hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 104Bảng 3.28 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa l doanh thu của các nhóm mặt hàng cụ thể hàng năm (biến đổi theo hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 106Bảng 3.29 Phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến giữa doanh thu theo nhóm khách hàng cụ thể hàng năm (biến đổi theo hàm logarit) và các biến số độc lập là các yếu tố bên ngoài 109Bảng 3.30 Các tham số đầu vào sử dụng trong mô hình tiên lượng 113Bảng 3.31 Tiên lượng doanh thu và lợi nhuận trên doanh thu của công ty Bali từ năm
2018 đến 2020 theo các mô hình tiên lượng khác nhau 116Bảng 3.32 Kết quả tiên lượng doanh thu của công ty Bali từ 2018-2020 theo các nhóm khách hàng và xuất xứ của hàng hóa 117
Trang 12xii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh 9Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu 35Hình 2.3 Sơ đồ lựa chọn mô hình đa biến trong phân tích chuỗi thời gian 48Hình 3.4 Doanh thu theo từng nhóm khách hàng theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 84Hình 3.5 Doanh thu theo nguồn gốc xuất xứ của các mặt hàng theo quý từ năm 2013 đến năm 2016 86Hình 3.6 Sơ đồ cây quyết định cấu trúc mô hình tiên lượng 112
Trang 131
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Việt Nam ngày càng tăng, ước tính chi tiền thuốc bình quân trên đầu người tăng từ 13 USD vào năm 2007 lên đến 56 USD vào năm 2017 [15] đi đôi với nhu cầu tiếp cận thuốc chất lượng cao, đòi hỏi ngành dược Việt Nam nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng phải không ngừng phát triển về quy mô và chất lượng để thực hiện được mục tiêu “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý” của chính sách quốc gia về thuốc [41] Bức tranh về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây là đặc biệt quan trọng để đo lường việc thực hiện mục tiêu trên
Hiện nay, các doanh nghiệp dược Việt Nam chủ yếu vẫn thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ [17], thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này lại nhiều, do đó nghiên cứu này tập trung vào nhóm các doanh nghiệp vừa
và nhỏ để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được lựa chọn để đưa vào nghiên cứu này bao gồm Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali (gọi tắt là Công ty Bali); Công ty cổ phần dược phẩm ANPER Pháp (viết tắt là Công ty ANPER); Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu APEC (viết tắt là Công ty APEC); và Công ty Cổ phần Thương mại và thiết bị Y tế HP (viết tắt là Công ty HP)
Trong số các công ty trên, việc đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh được thực hiện đối với Công ty Bali Công ty Bali chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 2012 có trụ sở và địa bàn hoạt động chính tại tỉnh Bắc Giang với lĩnh vực kinh doanh đăng ký bao gồm: (1) bán buôn dược phẩm (tân dược, đông dược) nguyên liệu, hóa chất, phụ liệu để sản xuất thuốc phòng và chữa bệnh dược phẩm và dụng cụ y tế; (2) sản xuất các mặt hàng: thuốc, nguyên liệu làm thuốc, sản phẩm chăm sóc sức khoẻ; và (3) xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh Dù mới thành lập trong 5 năm trở lại đây, công ty luôn nỗ lực phát triển
và mở rộng với sứ mạng giúp cho tất cả mọi người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung được tiếp cận với dược phẩm và thiết bị y tế có chất lượng với mức chi phí hợp lý mà không gặp phải bất kì rào cản nào; đồng thời góp phần đẩy mạnh sự phát triển của công nghiệp dược trong nước
Để có thể hoàn thiện được sứ mạng nói trên, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2021, công ty Bali chú trọng vào thị trường tỉnh Bắc Giang và dần mở rộng ra các thị trường khác như Lạng Sơn Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn
Trang 142
vừa qua cũng như lý giải được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả này đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp công ty tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến sản xuất thuốc góp phần đẩy mạnh công nghiệp dược trong nước cũng như giúp cho tất cả mọi người dân được tiếp cận với thuốc cơ bản, có chất lượng Những phân tích sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công
ty có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng các yếu tố thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
Bên cạnh đó đối với nhà quản lý và lãnh đạo công ty, việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh với sự biến động của rất nhiều yếu tố khác nhau và trong các bối cảnh kinh doanh khác nhau đóng vai trò quan trọng giúp đưa ra các mục tiêu phù hợp trong tương lai cũng như thu hút được các nhà đầu tư giúp cho công ty có thể mở rộng được hoạt động sang các thị trường khác cũng như thúc đẩy hoạt động sản xuất – là cốt lõi trong việc thúc đẩy công nghiệp dược trong nước Và quan trọng hơn, việc tiên lượng được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và đối với mỗi nhóm khách hàng và mỗi mặt hàng thuốc nói riêng là một trong các yếu tố cốt lõi giúp cho công ty có thể điều chỉnh hoạt động nhằm hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người dân
Nhiều câu hỏi nghiên cứu cần phải được giải quyết nhằm đưa ra được đáp án cho những nội dung trên như: Kết quả hoạt động kinh doanh của một số công ty dược phẩm tại Việt Nam như thế nào trong giai đoạn vừa qua? Trong các công ty đó, công
ty Bali đã có kết quả hoạt động kinh doanh như thế nào trong giai đoạn qua? Kết quả hoạt động kinh doanh đó chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? Mô hình nào có thể
sử dụng để tiên lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali?
Vì lý do đó, đề tài “Nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của một số
doanh nghiệp dược tại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tại Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali” được thực hiện với các mục tiêu chính như sau:
1 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam, giai đoạn 2013 -2016
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công
ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali, giai đoạn 2013 - 2016
3 Xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali
Trang 153
Những đóng góp mới của đề tài
Để hướng tới mục tiêu chính của chính sách thuốc quốc gia: “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý”, những bằng chứng về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây là đặc biệt quan trọng để đo lường việc thực hiện mục tiêu này Trong khi các doanh nghiệp dược Việt Nam chủ yếu vẫn thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ [17], kết quả tổng quan tài liệu lại cho thấy thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này lại không nhiều Do đó nghiên cứu tập trung vào nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này là vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện tại
Trong các nghiên cứu mô tả kết quả hoạt động kinh doanh nói trên, các chỉ tiêu nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh lại không được mô tả toàn diện mà chỉ dừng lại ở một số chỉ số cơ bản Do đó, nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích một cách có hệ thống toàn bộ các chỉ số kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty được lựa chọn vào trong nghiên cứu để đưa ra được bức tranh toàn diện về kết qủa hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược vừa và nhỏ
Khác với các nghiên cứu khác chỉ dừng lại phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nghiên cứu này tiến hành phân tích sâu kết hợp định tính và định lượng nhằm tiến đến lý giải được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh Nghiên cứu này đã tiếp cận với các phương pháp phân tích thống
kê chuyên sâu như phân tích chuỗi thời gian để hỗ trợ cho quá trình phân tích Những phân tích sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công ty có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng các yếu tố thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Bài học từ nghiên cứu trường hợp của công ty Bali có thể là những đóng góp quan trọng cho cả các doanh nghiệp với quy mô tương tự khác
Bên cạnh đó đối với nhà quản lý và lãnh đạo công ty, việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh với sự biến động của rất nhiều yếu tố khác nhau và trong các bối cảnh kinh doanh khác nhau đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp cho công ty
có thể đưa ra các mục tiêu phù hợp trong tương lai cũng như thu hút được các nhà đầu tư giúp cho công ty có thể mở rộng được hoạt động sang các thị trường khác cũng như thúc đẩy hoạt động sản xuất – là cốt lõi trong việc thúc đẩy công nghiệp dược trong nước Và quan trọng hơn, việc tiên lượng được hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trang 164
nói chung và đối với mỗi nhóm khách hàng và mỗi mặt hàng thuốc nói riêng là một trong các yếu tố cốt lõi giúp cho công ty có thể điều chỉnh hoạt động nhằm hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người dân Việc thực hiện thành công mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty Bali sẽ đem đến những bài học kinh nghiệm quý báu khác cho các doanh nghiệp với quy mô tương tự
Quá trình nghiên cứu trường hợp và xây dựng mô hình tiên lượng cũng giúp xác định các điểm yếu về hệ thống số liệu phục vụ cho tính toán mà công ty cần phải khắc phục nhằm phục vụ tốt hơn cho việc lập kế hoạch hoạt động kinh doanh của công ty trong ngắn hạn cũng như dài hạn
Trang 175
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
1.1.1 Thuốc: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người
nhằm mục đích phòng, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc hoá dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [38]
1.1.2 Dược chất (hay còn gọi là hoạt chất): là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng để
sản xuất thuốc, có tác dụng dược lý hoặc có tác dụng trực tiếp trong phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người [38]
1.1.3 Thuốc generic: là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt
dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [38]
1.1.4 Biệt dược gốc: là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ
dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [38]
1.1.5 Mã ATC: Từ năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng hệ thống
phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu – Điều trị - Hoá học (Anatomical Therapeutic Chemical Classification – Gọi tắt là hệ thống phân loại theo mã ATC) cho các thuốc
đã được WHO công nhận và khuyến khích các nước trên thế giới sử dụng Trong hệ thống phân loại theo mã ATC, thuốc được phân loại thành 5 bậc [96]:
• Bậc 1: Được biểu thị bằng 1 chữ cái (A-V), thể hiện nhóm cơ quan giải phẫu
mà thuốc tác động;
• Bậc 2: Được biểu thị bằng 2 số, thể hiện nhóm điều trị chính của thuốc;
• Bậc 3: Được biểu thị bằng 1 chữ cái, thể hiện phân nhóm dược lý/điều trị của thuốc;
• Bậc 4: Được biểu thị bằng 1 chữ cái, thể hiện phân nhóm hoá học/điều trị/dược
lý của thuốc;
• Bậc 5: Được biểu thị bằng 2 số, thể hiện chất hoá học của thuốc
1.1.6 Thực hành tốt phân phối thuốc “GDP”
Thực hành tốt phân phối thuốc –GDP (viết tắt của Good Distribution Practice) – là một phần của công tác đảm bảo chất lượng toàn diện để đảm bảo chất lượng thuốc duy trì qua việc kiểm soát đầy đủ tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình phân phối thuốc Những hoạt động cơ bản của phân phối thuốc là điều phối, tồn trữ,
Trang 186
vận chuyển, giao nhận, thông tin thuốc[4] GDP áp dụng cho các cơ sở tham gia vào quá trình phân phối thuốc tại Việt Nam, bao gồm các cơ sở sản xuất, kể cả cơ sở sản xuất sản phẩm trung gian, sản xuất thành phẩm thuốc, cơ sở cung cấp, xuất nhập khẩu, phân phối, bán buôn, các cơ sở vận chuyển, các đại lý giao nhận, các cơ sở đầu mối bảo quản, phân phối thuốc của các chương trình y tế quốc gia [4]
1.2 Phương pháp phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích kinh doanh là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lời [32] Nói cách khác, phân tích kinh doanh là việc phân chia các hoạt động, các hiện tượng, các quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng, quá trình nghiên cứu; tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, chính sách kinh doanh và hệ thống thông tin Phân tích kinh doanh góp phần giúp hiểu được các vấn đề kinh doanh và cơ hội kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu cầu cụ thể, cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh [24,47]
Hiểu theo chiều sâu:“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu,
để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp” [26,27].Như vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình
nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn [34] Phân tích hoạt động kinh doanh là hoạt động được tiến hành một cách thường xuyên và liên tục theo chu kỳ, nhằm khai thác các yếu tố ảnh hưởng và tiềm năng khai thác, từ đó đưa ra định hướng chiến lược cho các giai đoạn tiếp theo [24] Muốn việc phân tích hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa thiết thực, làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thì việc phân tích phải đáp ứng được tính đầy đủ, tính chính xác và tính kịp thời Phân tích hoạt động kinh doanh không những
là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ để cải tiến công tác quản lý trong kinh doanh Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn những khả năng
Trang 197
tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ thông qua phân tích, doanh nghiệp mới có thể phát hiện và khai thác được chúng để mang lại hiệu quả cao hơn Thông qua phân tích mới thấy rõ nguyên nhân cũng như nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và từ đó có những giải pháp thích hợp để cải tiến hoạt động quản lý có hiệu quả hơn Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để đề ra các quyết định kinh doanh Thông qua việc phân tích, các nhà quản lý có nhận thức đúng đắn về khả năng, những hạn chế cũng như thế mạnh của doanh nghiệp mình, trên cơ sở đó có thể ra quyết định đúng đắn để đạt được những mục tiêu và chiến lược kinh doanh đã đề ra
Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để đề phòng rủi ro trong kinh doanh Để hoạt động kinh doanh đạt được kết quả mong muốn, doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh Dựa trên các tài liệu có được và thông qua việc phân tích, doanh nghiệp có thể dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới để đề ra các chiến lược kinh doanh phù hợp
Số liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản
lý bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích mới đưa ra được những quyết định đúng đắn cho việc đầu tư, vay… với doanh nghiệp [27,34]
Trong phạm vi của nghiên cứu này, việc phân tích tập trung vào kết quả hoạt động kinh doanh (thay vì bao gồm toàn bộ quá trình kinh doanh), được thể hiện thông qua phân tích và đánh giá các chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh được quy định trong Thông tư 113/2016/BTC [2] Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh
có thể kể đến bao gồm:
Doanh thu: Thu nhập của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu được do tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng là tổng giá trị sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong kỳ Doanh thu bán hàng thuần được ước tính bằng doanh thu bán hàng trừ các khoản giảm trừ, các khoản thuế, chỉ tiêu này phản ánh thuần giá trị hàng bán của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo
Lợi nhuận: là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, là khoản chênh lệch giữ tổng thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để phục vụ cho việc thực hiên hoạt động
Trang 208
kinh doanh trong một thời kì nhất định Lợi nhuận của doanh nghiệp gồm có lợi
nhuận gộp, là lợi nhuận thu được của doanh nghiệp sau khi lấy tổng doanh thu trừ đi
các khoản giảm trừ như giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, trừ giá vốn bán hàng; lợi nhuận thuần phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, được tính toán dựa trên cơ sở lợi nhuận gộp từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp trong kỳ báo cáo
Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh có thể phân thành nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán (bao gồm hệ số khả năng thanh toán tổng quát;
hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; hệ số khả năng thanh toán nhanh; hệ số khả năng thanh toán tức thời); nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh (bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cố định; tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản); nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời (bao gồm tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA); tỷ suất lợi nhuận ròng trên VCSH (ROE); tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng doanh thu (ROS))
Trang 219
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Hình 1.1 tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường nội bộ; các yếu tố thuộc về môi trường ngành và môi trường vĩ mô Các nội dung sau tập trung trình bày các nhóm yếu tố cụ thể này
1.3.1 Các yếu tố môi trường nội bộ
1.3.1.1 Yếu tố vốn
Không một doanh nghiệp nào có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có vốn Vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vốn trong doanh nghiệp được hình thành từ
3 nguồn chính: Vốn tự có, vốn ngân sách nhà nước cấp và vốn vay: được phân bổ dưới hai hình thức là vốn cố định và vốn lưu động Tuỳ đặc điểm của từng doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì vốn ngân sách nhà nước cấp là chủ yếu, doanh nghiệp tư nhân vốn chủ sở hữu và vốn vay là chủ yếu [45]
Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 2210
1.3.1.2 Yếu tố nhân lực
Con người là nhân tố quyết định cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp Hàm lượng chất xám sản phẩm ngày càng cao thì trình độ chuyên môn của người lao động
có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nhất là các cán bộ quản
lý Họ là những lao động gián tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại rất quan trọng bởi họ là những người điều hành và định hướng cho doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp [45]
1.3.1.3 Yếu tố quản lý
Nhân tố này đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong một môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp [45] Điều đó đặc biệt đúng đối với ngành dược phẩm- một loại hàng hoá đặc biệt, có quan hệ trực tiếp đến sức khoẻ con người nhưng việc sử dụng hàng hoá này lại không quyết định bởi người tiêu dùng mà được quyết định chủ yếu bởi cán bộ y tế Do đó các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp dược là yếu tố quyết định doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3.1.4 Yếu tố cơ sở vật chất
Yếu tố cơ sở vật chất được nhắc đến nhiều nhất bao gồm kỹ thuật và công nghệ Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh Ngày nay vai trò của kỹ thuật và công nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển [45]
Bên cạnh đó, hệ thống thông tin cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng Thông tin được coi là một hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh
tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hoá Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hoá, về công nghệ
kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất
Trang 2311
cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan [45]
1.3.2 Các yếu tố môi trường ngành
Các yếu tố môi trường cạnh tranh liên quan trực tiếp tới ngành nghề và thị trường kinh doanh của doanh nghiệp (hay còn gọi là môi trường ngành) tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Sức ép của các yếu tố này lên doanh nghiệp càng mạnh thì khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp cùng ngành cũng bị hạn chế
quản lý trong môi trường ngành – trong bối cảnh của ngành dược và trong phạm vi của nghiên cứu này, yếu tố thuộc về chính sách dược phẩm được đi sâu phân tích, khách hàng, hệ thống cung cứng, nhóm áp lực và các đối thủ cạnh tranh
Chính sách áp đặt hạn mức chi phí tối đa (Global budget): Đây là nhóm
chính sách áp đặt mức giới hạn tối đa hàng năm cho chi phí dược phẩm và được coi
là chính sách “hứa hẹn” nhất có thể kiểm soát tốt mức chi tiêu cho dược phẩm của một quốc gia [55,56] Bản chất và phạm vi của chính sách ngân sách tối đa khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới Ví dụ: ở Italia chính sách này hạn chế chi tiêu của toàn quốc gia, trong khi ở Đức (trước năm 2001) lại chỉ áp dụng cho một số khu vực
cụ thể, còn ở New Zealand thì lại chỉ áp dụng đối với từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm Hay ở một số quốc gia, chính sách này được áp dụng dưới hình thức ép buộc (ví dụ như Đức), trong khi ở các nước khác, lại được thương lượng dưới dạng thỏa thuận về giá cả - số lượng với các doanh nghiệp dược phẩm (ví dụ, tại Hungary, Bồ Đào Nha, Italia) Mặc dù có sự khác nhau, nói chung, các doanh nghiệp dược phẩm phải hoàn trả tất cả các khoản thu vượt quá số tiền đã được đàm phán hoặc đã xác định bởi chính phủ hoặc Bảo hiểm y tế quốc gia, do đó gây ảnh hưởng tới hoạt động
Trang 2412
kinh doanh của doanh nghiệp [78] Tại Việt Nam, chính sách Ngân sách tối đa vẫn chưa được áp dụng
Chính sách quy định chi phí tối đa cho kê đơn thuốc (Prescribing budgets):
Chính sách này quy định mức phí tối đa hàng năm cho việc kê đơn thuốc của các bác
sỹ với các biện pháp xử phạt về tài chính trong trường hợp vượt quá mức quy định Mức chi phí tối đa được xác định thông qua quá trình thương lượng giữa Hiệp hội các bác sỹ với Bảo hiểm y tế quốc gia theo quy định Có rất ít các quốc gia trên thế giới áp dụng chính sách này Cho đến năm 1997, chỉ có Vương quốc Anh đã áp dụng
và đến năm 1998 có thêm Đức Tuy nhiên, chỉ sau đó 1 năm, cả hai nước đã bỏ chính sách này [78]
Chính sách kiểm soát lợi nhuận (Profit controls): Các nhà hoạch định chính
sách áp đặt mức tối đa về lợi nhuận hoặc tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm của các công ty dược phẩm Ví dụ, lợi nhuận của các công ty dược phẩm ở Anh không được phép vượt quá 17-21% cho đến năm 1998 và 29% vào những năm sau đó [22] Hay cho đến năm 2012, các hãng dược phẩm Thổ Nhĩ Kỳ đã phải đối mặt với mức giới hạn tối đa 15% lợi nhuận ở cấp doanh nghiệp và 20% đối với từng sản phẩm [78] Tại Việt Nam, chính sách kiểm soát lợi nhuận chỉ áp dụng đối với các cơ sở bán
lẻ thuốc trong bệnh viện, được quy định tại Thông tư số 15/2011/TT-BYT của Bộ Y
tế ngày 19/4/2011, quy định về tổ chức và hoạt động bán lẻ của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện Theo đó, Bộ Y tế đưa ra thặng số bán lẻ tối đa dựa trên giá mua vào của thuốc [3]
Chính sách kiểm soát giá (Drugs price controls): Mặc dù lý thuyết kinh tế
chỉ ra rằng không cần phải can thiệp vào thị trường thuốc thông qua việc điều chỉnh/kiểm soát về giá, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia Châu Âu
đã và đang áp dụng các chính sách kiểm soát giá dược phẩm thông qua các hình thức như: kiểm soát giá trực tiếp (thông qua việc quy định giá tối đa, đàm phán giá…) hay kiểm soát gián tiếp (thông qua giá tham khảo chung [58,64,66,81,90] Khi không được tự do đưa ra mức giá cho sản phẩm của mình, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng là điều tất yếu
• Chính sách kiểm soát giá trực tiếp, quy định mức giá trần dựa trên giá tham khảo của các nước khác: là chính sách phổ biến nhất được áp dụng bởi nhiều quốc gia
trên thế giới Cơ quan quản lý quy định mức tối đa giá thuốc BHYT hoặc giá thuốc trên thị trường tự do dựa trên giá thuốc tham chiếu ở các quốc gia khác Ví dụ: kể
từ năm 1996 giá thuốc kê đơn ở Hà Lan được dựa trên giá bán lẻ ở Bỉ, Pháp, Đức
Trang 25đã đưa ra tiêu chí để xác định tính hợp lý của giá thuốc do cơ sở kinh doanh kê khai/kê khai lại quy định trong Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 [38] và Nghị định 54/2017/NĐ-CP ngày 08/05/2017 [39] quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược Trong đó, tiêu chí “không cao hơn mặt bằng giá thuốc trên thị trường trong nước của các thuốc tương tự cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật hoặc giá thuốc tại các nước khác trong trường hợp chưa có thuốc tương tự trên thị trường trong nước” đã thể hiện một phần chính sách kiểm soát giá trực tiếp dựa trên giá tham khảo của các nước khác
• Chính sách kiểm soát giá trực tiếp thông qua đàm phán giá: Cơ quan quản lý quy
định giá thuốc bằng cách sử dụng các cuộc đàm phán giá và áp đặt mức giá tối đa, thông qua việc xem xét cơ cấu giá thành hay áp dụng các công thức tính giá, không phụ thuộc vào giá các sản phẩm tương tự ở các nước khác (mặc dù đó có thể là một trong các tiêu chí xem xét) Chẳng hạn, chính phủ Đan Mạch đã đàm phán với ngành công nghiệp dược để áp đặt mức giá trần đối với các thuốc kê đơn [78] Việt Nam cũng áp dụng chính sách đàm phán giá đối với các thuốc biệt dược gốc, được quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu [40]
• Kiểm soát giá trực tiếp thông qua giá tham chiếu thuốc generic (GRP): Trong
trường hợp này, cơ quan quản lý quy định giá tham chiếu đối với thuốc generic
và nếu trên mức giá này, BHYT sẽ không chi trả Mức giá này phụ thuộc vào giá của các sản phẩm tương tự (có cùng hoạt chất và dạng bào chế) ở trong nước Ví
dụ, ở Đan Mạch bắt đầu từ năm 1996, chính phủ quy định giá tham chiếu đối với thuốc generic bằng với mức giá thấp nhất có sẵn trên thị trường Trong trường hợp một loại thuốc generic có giá cao hơn giá tham chiếu, người bệnh phải tự thanh toán phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá tham chiếu [78]
Trang 26Chính sách thuốc generic (Generics policy): bao gồm các biện pháp nhằm
tăng cường sử dụng thuốc generic, được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới Ví
dụ, các quốc gia Mỹ La tinh, Nam Phi và Philippins đã có các chính sách ưu đãi tài chính đối với người tiêu dùng/người kê đơn thuốc generic, các chương trình hành động thúc đẩy sử dụng thuốc generic trong người tiêu dùng, các biện pháp về kinh tế (miễn thuế, giảm giá…) hay các chính sách về bảo hiểm y tế (tăng tỷ trọng các thuốc generic) [90] Chính sách thuốc generic đã được chứng minh có tác dụng làm giảm giá thuốc tại nhiều quốc gia trên thế giới do đó mang lại tác động tích cực cho người tiêu dùng, tuy nhiên, đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tác động của chính sách lại theo chiều hướng ngược lại [75] Tại Việt Nam, chính sách thuốc generic được thể hiện qua các quy định như: yêu cầu bác sỹ kê đơn thuốc dưới dạng tên gốc (tên generic) hoặc tên chung quốc tế; cho phép dược sỹ được phép thay thế thuốc viên có cùng thành phần hoạt chất nếu bệnh nhân đồng ý mà không cần có sự chấp thuận của bác sĩ [5]
Các chính sách quản lý chất lượng:
Tóm lại môi trường chính trị – luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dược nói riêng bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp, cộng cụ vĩ mô…
1.3.2.2 Yếu tố khách hàng
Khách hàng là yếu tố quyết định quan trọng đến doanh nghiệp Trong kinh tế học kinh điển, khách hàng hay người mua có vai trò quyết định trong việc xác định giá cả Ngoại trừ một số thị trường không hoàn hảo chẳng hạn như thị trường dược phẩm thì mối quan hệ giữa người mua và người bán trở nên phức tạp hơn Nghiên
Trang 2715
cứu hành vi của người tiêu dùng đóng vai trò rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp
1.3.2.3 Yếu tố đối thủ cạnh tranh
Sự tồn tại song song của các doanh nghiệp cung ứng các mặt hàng tương tự -
mà kinh tế học sử dụng thuật ngữ hàng hóa thay thế gây ra những ảnh hưởng nhất định đối với việc cung ứng một loại hàng hóa cụ thể của doanh nghiệp Nghiên cứu
về ảnh hưởng của các hàng hóa thay thế này đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với
dự báo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2.4 Yếu tố nhà cung ứng
Ngành sản xuất đòi hỏi phải có nguyên nhiên vật liệu, lao động và các yếu tố đầu vào khác Các yêu cầu này dẫn đến các quan hệ giữa người mua – nhà cung cấp giữa ngành sản xuất (với tư cách là tập hợp các nhà sản xuất trong một ngành) và người bán (là những đơn vị cung cấp các yếu tố đầu vào) Nhà cung cấp, nếu có lợi thế về quyền lực trong đàm phán có thể có những tác động quan trọng vào ngành sản xuất, như việc ép giá nguyên, nhiên vật liệu
1.3.3 Các yếu tố môi trường vĩ mô
1.3.3.1 Các yếu tố thể chế – luật pháp
Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại [42]
1.3.3.2 Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Các nhân tố kinh tế gồm có: tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất cho vay của ngân hàng và các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước… [45]
Nền kinh tế tăng trưởng làm cho thu nhập của người dân tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên, trong đó có dược phẩm Theo báo cáo của Cục Quản lý Dược, từ giai đoạn 2007-2017, tiền thuốc bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp hơn 4 lần (từ 13 USD/người lên 56 USD/người), tương ứng với mức tăng trưởng của GDP (từ 71,4 tỷ USD đến 222 tỷ USD) [15] Nền kinh tế tăng trưởng là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng kéo theo hoạt
Trang 2816
động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn tới sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Tỷ giá hối đoái là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia
và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa như hiện nay Thông thường, khi đồng nội tệ giảm giá sẽ dẫn đến tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước ở cả thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán hàng hóa trong nước giảm so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài [45] Một nghiên cứu tại Ấn
Độ về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái đến giá xuất xưởng của dược phẩm cũng cho thấy, trong khoảng thời gian theo dõi từ năm 2003 đến năm 2013, đồng rupee suy yếu
có mối quan hệ tích cực đáng kể với kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm [84] Tuy nhiên, ngành dược Việt Nam với đặc thù khoảng 50% thuốc thành phẩm và 90% nguyên liệu làm thuốc là nhập khẩu [15] nên sự thay đổi
về tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ (đồng Đôla Mỹ và đồng Euro) lại dẫn tới sự tăng lên đáng kể của giá thuốc, và điều này lại gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dược trong nước [20]
Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh [20,45]
Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xảy ra lạm phát rất lớn [45] Ngoài ra, một số nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng CPI) với mức chi tiêu dành cho thuốc [71] Nghĩa là nếu lạm phát càng tăng sẽ dẫn tới sự giảm chi tiêu dành cho thuốc của người dân, do đó ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3.3 Các yếu tố văn hóa – xã hội
Yếu tố xã hội là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng… Doanh nghiệp cần phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư Những yếu tố này tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất cũng như công tác marketing và cuối cùng là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đối với ngành Dược phẩm, các yếu tố văn
Trang 2917
hoá ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: quy mô và cơ cấu dân số, tình trạng sức khoẻ và đặc biệt là văn hoá dùng thuốc của cán bộ y tế và người dân [79]
1.3.3.4 Yếu tố công nghệ: Sự phát triển của các thuốc mới, dạng bào chế mới
Đối với doanh nghiệp các yếu tố công nghệ như bản quyền, đổi mới công nghệ, khuynh hướng tự động hoá, điện tử hoá, máy tính hoá…đã làm cho chu kỳ sống của sản phẩm cũ bị rút ngắn do sản phẩm mới ra đời có tính năng tác dụng tốt hơn nhưng chi phí sản xuất lại thấp hơn [45] Tương tự đối với doanh nghiệp Dược, trong những năm qua các hoạt chất mới, dạng bào chế hiện đại được phát triển khá nhanh (với khoảng và điều đó làm cho các chu kỳ sản phẩm của các thuốc cũ rút ngắn lại, nếu doanh nghiệp không cập nhật kịp thời các sản phẩm công nghệ mới sẽ có nguy cơ bị giảm danh thu và lợi nhuận
1.4 Tổng quan về kỹ thuật tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh
1.4.1 Các kỹ thuật cơ bản trong tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh
Tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh, hay tiên lượng doanh thu (forecasting revenue) là một trong những thách thức lớn nhất của người thực hiện phân tích mô hình kinh doanh (business modelling) [68] Có nhiều cách tiếp cận trong việc thực hiện tiên lượng doanh thu và cũng có nhiều cách phân loại về các cách tiếp cận khác nhau này [59,61,67,68,73,74] Theo đó, nhìn chung, các cách tiếp cận cơ bản trong tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh thường được phân loại thành:
Sử dụng các kỹ thuật ngoại suy (extrapolation techniques) bao gồm các phân
tích chuỗi thời gian, dựa trên nền tảng giả định cơ bản rằng các số liệu hồi cứu trong
quá khứ là các tham số dự báo chính xác cho các thay đổi trong tương lai Ưu điểm của cách tiếp cận này là sự chính xác trong việc tiên lượng doanh thu của các doanh nghiệp có sự phát triển ổn định cũng như ưu điểm trong việc sẵn có các nguồn số liệu
để áp dụng kỹ thuật ngoại suy Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp và lĩnh vực thường xuyên có sự thay đổi lớn về cấu trúc, việc áp dụng kỹ thuật ngoại suy này có thể không đạt được kết quả như mong muốn [68]
Sử dụng các kỹ thuật nhân quả (causative techniques) bao gồm các phân
tích hồi quy đa biến, nhằm mục đích tìm hiểu một cách hệ thống và toàn diện về các
mối quan hệ có thể ảnh hưởng và quyết định đến sự thay đổi của thị trường Hiểu biết
về các mối quan hệ nhân quả này cùng với các giả định cơ bản trong tương lai đóng
Trang 3018
vai trò nền tảng của việc tiên lượng Vì thông thường mối liên hệ nhân quả này được tìm hiểu dựa vào các số liệu hồi cứu đã có sẵn, do đó kỹ thuật này có ưu điểm trong trường hợp các giả định về tương lai tương đối ổn định, không có sự thay đổi một cách đột biến [68]
Sử dụng các kỹ thuật phán đoán (judgmental techniques) khi mà việc tiên
lượng doanh thu được yêu cầu thực hiện đối với các sản phẩm mới hoặc các thị trường mới trong bối cảnh không có bất kì các số liệu hồi cứu trong quá khứ nào Trong các trường hợp này, việc tiên lượng doanh thu có thể được thực hiện theo hướng phán đoán dựa trên các nguyên tắc nhất định, cụ thể là dựa trên kết quả của các nghiên cứu sẵn có về các sản phẩm và các bối cảnh thị trường tương tự Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của cách tiếp cận này là kết quả tiên lượng có thể trở nên rất chủ quan
Trong thực tế, tác giả John Tennent và Graham Friend [68] tổng hợp rằng phần lớn các tiên lượng kết quả kinh doanh phải dựa vào việc phối hợp cả ba cách tiếp cận
kể trên Người tiên lượng có thể tiến hành xác định các xu hướng kết quả kinh doanh dựa trên các phân tích chuỗi thời gian, cũng như tiến hành phân tích hồi quy đa biến nhằm xác định các mối liên quan ảnh hưởng đến thị trường Các thông tin này sau đó được kết hợp với các quan điểm của các bên liên quan về việc các mối quan hệ này
có thể thay đổi trong tương lai như thế nào để tiên lượng về kết quả kinh doanh trong tương lai
Vì kỹ thuật phán đoán phải dựa vào kinh nghiệm cũng như bài học rút ra từ tổng quan tài liệu, do đó nội dung này được trình bày trong các phần tiếp theo về các nghiên cứu tương tự Riêng kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến và phân tích chuỗi thời gian được trình bày ngay dưới đây
Trong tiên lượng kết quả hoạt động kinh đoanh đối với các công ty dược phẩm [51], tác giả Arthur G Cook và cộng sự trình bày tổng quan nhiều phương pháp công
cụ sử dụng trong tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty dược phẩm với các mặt hàng dược phẩm mới được đưa vào thị trường hoặc đã duy trì trên thị trường Trong đó, tác giả nêu ra các bước cần thiết để thực hiện mô hình tiên lượng bao gồm:
(1) Giai đoạn chuẩn bị - xác định câu hỏi tiên lượng và lựa chọn cách tiếp cận phù hợp;
(2) Giai đoạn mô hình - lựa chọn mô hình tiên lượng, xây dựng mô hình, kiểm soát mô hình và thẩm định tính giá trị của mô hình;
Trang 3119
(3) Giai đoạn phân tích - Phân tích kết quả theo các kịch bản và phân tích độ nhạy;
(4) Trình bày kết quả - Trình bày kết quả và các yếu tố ảnh hưởng
Về các phương pháp tiên lượng, không chỉ tác giả Arthur G Cook và cộng sự
mà nhiều tác giả khác [65] cũng trình bày các phương pháp cùng với các phần mềm
sử dụng tương ứng tương tự như các phương pháp tiên lượng đã được trình bày ở các phần trên cho tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty nói chung Trong đó, tác giả tổng hợp thành hai nhóm phương pháp cơ bản Thứ nhất, là dựa vào đánh giá chủ quan (dartboard methods) của cá nhân trong hình thành tiên lượng Đây
là phương pháp rất đơn giản, người tiên lượng có thể tiến hành một chuỗi các suy luận logic hoặc chỉ đơn thuần đưa ra nhận định dựa trên kinh nghiệm Nhược điểm chính của phương pháp này là thiếu tính minh bạch cũng như phụ thuộc rất nhiều và kinh nghiệm của người tiên lượng Nhóm phương pháp thứ hai dựa vào các mô hình thống kê phức tạp (workstation methods) trong đó sử dụng các phân tích chuỗi thời gian, phân tích dọc… như đã trình bày ở các phần trên Trong nhóm phương pháp này, người tiên lượng tiến hành nhập các số liệu cần thiết vào các phần mềm thống
kê cùng với các giả định cần thiết để tiến hành tiên lượng kết quả Nhược điểm của phương pháp này nằm ở chỗ các kỹ thuật thống kê phức tạp có thể khó để giải thích cho người đọc Với hai nhóm phương pháp chính này, có rất nhiều các kỹ thuật trung gian như sử dụng các trang tính excel từ đơn giản đến phức tạp để xây dựng mô hình tiên lượng Phương pháp này hiện tại được coi như là phương pháp được ưa chuộng
vì cân bằng được ưu và nhược điểm của hai phương pháp nói trên
Trong quá trình xây dựng mô hình, một trong những công việc cơ bản của người tiến hành tiên lượng là chuyển hóa các thông tin định tính liên quan đến thị trường, chính sách, cạnh tranh… trở thành các khung/mô hình mang tính chất định lượng Trong rất nhiều các cách tiếp cận xây dựng mô hình tiên lượng, mô hình cây quyết định (decision tree) là một trong các mô hình phổ biến được sử dụng [51]
1.4.2 Kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian
Số liệu chuỗi thời gian (time series) có thể được hiểu là một tập hợp các giá trị được thu thập, đo lường về sự kiện/hiện tượng trong một khoảng thời gian nhất định Trong nghiên cứu này, số liệu về doanh thu của doanh nghiệp mặc dù có thể được tính toán tại bất kì thời điểm nào, tuy nhiên về cơ bản được trình bày theo quý, do đó việc phân tích số liệu dựa trên nguyên tắc cơ bản coi số liệu này như là số liệu thời
kỳ
Trang 3220
a Phân tích mô tả đối với chuỗi số thời gian
Các phân tích mô tả với chuỗi số thời gian bao gồm việc tính toán và mô tả các giá trị như tốc độ tăng (giảm) trung bình Trong trường hợp chuỗi thời gian được chỉ ra là ngẫu nhiên (white noise) chứ không phải là xác định thì việc phân tích [9]sử dụng tốc độ tăng (giảm) trung bình cũng như dự báo sử dụng tốc độ tăng (giảm) trung bình là phương án duy nhất có thể thực hiện đối với chuỗi thời gian có đặc điểm ngẫu nhiên đơn thuần
Trước khi trình bày chi tiết về tốc độ tăng (giảm) trung bình và việc sử dụng tốc độ tăng (giảm) trung bình trong dự báo sự kiện/hiện tượng, cần phải có các khái niệm cơ bản về một số chỉ tiêu thường được sử dụng để mô tả chuỗi số thời gian như sau:
Giá trị trung bình: Với số liệu chuỗi thời gian D1, D2, D3…Dn, giá trị trung bình theo thời gian phản ánh giá trị trung bình của hiện tượng/sự kiện trong suốt thời gian nghiên cứu Tuỳ theo dãy số thời kỳ hoặc dãy số thời điểm mà có các công thức tính khác nhau Đốivới dãy số thời kỳ, giá trị trung bình theo thời gian được tính theo công thức sau đây:
Lượng tăng (giảm) tuyệt đối: chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về mức độ
tuyệt đối giữa hai thời gian nghiên cứu Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, ta có chỉ tiêu
về lượng tăng (giảm) sau đây:
Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn (kí hiệu là ,) là hiệu số giữa mức độ
mức tăng (giảm) tuyệt đối giữa hai thời gian liền nhau Công thức tính như sau:
., = !, − !,0%
Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc/tính dồn (kí hiệu là ∆,) là hiệu số giữa
đối trong những khoảng thời gian dài Công thức tính như sau:
∆,= !,− !%Lượng tăng (giảm) tuyệt đối trung bình:
Trang 3321
) ,-%
* − 1
Tốc độ tăng (giảm): cho biết qua thời gian, hiện tượng được nghiên cứu tăng
(+) hoặc giảm (-) bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu (%)
Tốc độ tăng (giảm) liên hoàn hay từng thời kỳ là tỷ số giữa lượng tăng (giảm) liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên hoàn Với số liệu chuỗi thời gian D1, D2, D3…Dn, tốc độ tăng (giảm) từ thời điểm i-1 đến i được tính như sau:
4, = 5 !,
Tốc độ tăng (giảm) định gốc là tỷ số giữa lượng tăng hoặc (giảm) định gốc với
thì với số liệu chuỗi thời gian D1, D2, D3…Dn, tỷ lệ thay đổi từ thời điểm i-1 đến i được tính như sau:
có sự thay đổi thì phương pháp này sẽ gây ra sai số lớn hơn, ví dụ minh họa đơn giản
là nếu sử dụng số liệu của năm 2014 để dự báo số liệu của năm 2015 thì bản thân dự báo này sẽ hàm chứa các sai số của bản thân năm 2013 và các sai số cộng dồn trước
đó và vì thế giá trị dự báo có thể không đại diện cho một giá trị chính xác
Trang 3422
b Phân tích suy luận đơn biến đối với chuỗi số thời gian
Các phân tích suy luận đối với chuỗi số thời gian có thể được phân thành các
mô hình phân tích suy luận đơn biến và các mô hình phân tích suy luận đa biến Việc
áp dụng mô hình xu hướng nào phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của chuỗi số thời gian đang áp dụng Các mô hình có thể được sử dụng đồng thời và có sự cân nhắc để đưa ra mô hình phù hợp nhất khi lựa chọn trong việc phân tích chuỗi số thời gian [57]
Đối với mô hình phân tích chuỗi thời gian đơn biến, có 3 mô hình phổ biến
thường được sử dụng bao gồm (1) mô hình xu hướng tuyến tính (linear trend model); (2) mô hình xu hướng lũy thừa (exponential trend model) và (3) mô hình xu hướng bậc hai (quadratic trend model) [54] Bên cạnh đó, mô hình tự tương quan (AR – autoregressive model), mô hình trung bình động (MA – moving average) và mô hình ARMA cũng là các mô hình xu hướng đơn biến thường được nhắc đến Trong đó, mô hình tuyến tính đơn biến được sử dụng phổ biến trong phân tích chuỗi số thời gian Dạng thức của mô hình tuyến tính như sau:
Yt= ax + b
Mô hình xu hướng tuyến tích rất hữu ích trong trường hợp chuỗi số mô hình
có độ tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn đều nhau theo chu kì thời gian Đây cũng là mô hình đơn giản nhất và phù hợp cho việc dự báo trong một thời gian ngắn Trong đó,
độ dốc (slope) a được tính theo công thức:
) F-%
∑) (7F− 7̅)' F-%
Điểm cắt b được tính theo công thức:
H = GC − E7̅
Hệ số giá trị R2 (coefficient of determination): Thể hiện mô hình y = at+b giải thích bao nhiêu % sự thay đổi của biến phụ thuộc y là do biến x Hệ số giá trị R2 dùng
để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình thể hiện mối liên hệ tương quan tuyến tính
d Phân tích suy luận đa biến đối với chuỗi số thời gian
Đối với mô hình xu hướng đa biến [61,92], người ta thường sử dụng hồi quy
tuyến tính (linear regression), mô hình vecto tự hồi quy (VAR - Vector autoregressive model) hay mô hình vector điều chỉnh sai số (VEC - Vector error correction)
Mô hình hồi quy tuyến tính (LR - Linear regression)
Trang 35Trong đó OJ và OK là trung bình của hai chuỗi số thời gian và mỗi chuỗi số
quan chéo Khi xử lý thống kê bằng phần mềm stata, lệnh REGRESS có thể được dùng để đánh giá tương quan chéo.Trong phân tích hồi quy liên quan tới các dữ liệu của chuỗi thời gian, một trong các giả định đòi hỏi các dữ liệu đó phải dừng, nếu dữ liệu của biến không đạt trạng thái dừng thì các kiểm định thống kê có thể không đáng tin cậy Đó là lý do vì sao khi mà sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đối với dữ liệu chuỗi số thời gian không dừng (non-stationary)[61], giá trị R-square luôn đạt giá trị rất lớn, thường là trên 0,95, tuy nhiên với đặc điểm của chuỗi không dừng, thực tế giá trị R-square và kiểm định t trên thực tế không hề tuân theo phân bố thông thường và
có xu hướng biến động rất lớn
Mô hình vecto tự hồi quy (VAR - Vector autoregressive model)
Mô hình VAR hay còn gọi là mô hình vecto tự hồi quy, đây là một dạng tổng quát của mô hình tự hồi quy đơn biến AR trong dự báo một tập hợp biến, tức là một vector của biến chuỗi thời gian Nó ước lượng từng phương trình của mỗi biến chuỗi theo các độ trễ của biến (p) và tất cả các biến còn lại Để dễ dàng hình dung về mô hình tương tự quan, ta xem xét hai chuỗi số thời gian với độ trễ 1 chu kì, mô hình tương tự quan có dạng như sau:
GF = QR+ Q%GF0% + Q'7F0%+ S%F
7F = TR+ T%GF0%+ T'7F0%+ S'FKhi xử lý thống kê bằng phần mềm stata, lệnh VAR cho phép thực hiện mô hình tương tự quan đa biến để xem xét mối tương quan của mỗi biến số phụ thuộc dựa trên độ trễ của chính nó và dựa trên độ trễ của tất cả các biến độc lập [66] Tuy nhiên, một trong các đặc tính cơ bản của chuỗi số thời gian để áp dụng được mô hình VAR là các chuỗi số thời gian không có mối quan hệ đồng kết hợp (cointergrated) [69] Để kiểm định mối quan hệ đồng kết hợp, người ta thường sử dụng Johansen testhay Durbin Watson
Trang 3624
Mô hình vector điều chỉnh sai số (VEC - Vector error correction)
Như đã trình bày, mô hình VEC được sử dụng thay thế mô hình VAR khi các biến số có mối quan hệ đồng kết hợp (cointergrated) bằng cách sử dụng phương pháp Johasen Mô hình VEC hay còn gọi là mô hình vector điều chỉnh sai số, tương tự như
mô hình VAR mô hình VEC được thiết lập thông qua xác định sai phân và độ trễ của biến chuỗi; kiểm tra sự đồng kết hợp của các biến; ước lượng và kiểm định mô hình
và cuối cùng nếu có mục đích dự báo sẽ tiến hành dự báo sử dụng mô hình này
Về kĩ thuật phân tích thống kê, người ta có thể áp dụng các mô hình phân tích chuỗi số thời gian đơn biến khác nhau (mô hình tuyến tính, mô hình lũy thừa, mô hình bậc hai, mô hình AR, mô hình MA, mô hình ARMA…) để phân tích xu hướng của biến số thời gian trước thời điểm can thiệp và sau thời điểm can thiệp, sau đó đánh giá sự khác biệt của hai xu hướng này Một tổng quan hệ thống về phương pháp phân tích interrupted time series cho thấy mô hình tuyến tính là mô hình đơn giản và phổ biến nhất được sử dụng trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chuỗi số thời gian theo giai đoạn không liên quan đến các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng [86] Trong các nghiên cứu về sử dụng thuốc, mô hình hồi quy từng phần (segmented regression model) là cách tiếp cận thống kê hay được sử dụng
do phù hợp với dữ liệu có số lượng quan sát nhỏ để lượng giá các thay đổi về xu hướng (trend) và mức độ (level) tiêu thụ thuốc [51]
• Việc biểu diễn các quan sát sử dụng đồ thị là rất quan trọng trong phân tích
Kể cả không có các số liệu thống kê được trình bày thì đồ thị là công cụ quan trọng giúp người đọc đánh giá tổng quan về xu hướng trước và sau khi can thiệp Do đó, một số tác giả khuyến cáo rằng việc biểu diễn kết quả bằng đồ thị là bắt buộc khi trình bày
• Một trong các nội dung cơ bản khác cần phải đưa ra bàn luận liên quan đến phương pháp này là ảnh hưởng có thể có của các yếu tố nhiễu theo thời gian, chẳng hạn như các đồng can thiệp, thước đo các quan sát có sự thay đổi, quần thể đích có sự thay đổi…Trong khả năng có thể, các phân tích đặc thù phân theo các nhóm đối tượng khác nhau là cần thiết để loại bỏ tác động của các yếu tố nhiễu
Trang 3725
1.5 Các nghiên cứu liên quan
1.5.1 Một số nghiên cứu trong nước
Tổng quan nghiên cứu cho thấy có nhiều nghiên cứu tương tự mô tả kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong những năm qua Phần lớn các nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp phân tích số liệu thứ cấp kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm theo giai đoạn 3-5 năm Các nghiên cứu có tiến hành mô tả một số chỉ số được mô tả trong các nội dung sau
Doanh thu và lợi nhuận
Kết quả nghiên cứu hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Dược – Thiết
bị Y tế Đà Nẵng (DAPHARCO) giai đoạn 2009 – 2013 cho thấy doanh số mua tăng trưởng đều từ 1.080 tỷ đồng lên 1.921 tỷ đồng trong cả giai đoạn, doanh số bán liên tục tăng trưởng từ 1.185 tỷ đồng lên 2.031 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng bán buôn chiếm trên 94% và tăng qua các năm Năng suất lao động bình quân tăng từ 2.380 triệu đồng/năm lên 4.153 triệu đồng/năm qua 5 năm, tương tự thu nhập bình quân của cán
bộ công nhân viên cũng tăng từ 3,35 lên 6,57 triệu đồng/người/tháng [48]
Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Đắc Tuấn phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2010 –
2014 [21] đã chỉ ra doanh số mua của công ty tăng từ 73,1 tỷ đồng trong năm 2010 đạt 163% vào năm 2014; doanh số bán cao nhất là vào năm 2011 (130 tỷ đồng) và
2012 (122,8 tỷ đồng) Lợi nhuận thuần của công ty này sau 3 năm đầu kỳ tăng dần từ 3,4 tỷ lên 4,9 tỷ, tụt giảm trong năm 2013 (3,2 tỷ) và 2014 (3,6 tỷ)
Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần thiết bị y tế và dược phẩm Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015lại cho doanh số mua của doanh nghiệp này giảm mạnh từ 47,08 tỷ đồng năm 2011 đến năm 2015 chỉ còn 37,04 tỷ đồng Doanh số bán cũng giảm từ 52,59 tỷ đồng năm 2011 xuống còn 41,03 tỷ đồng năm 2015 Lợi nhuận giảm mạnh từ năm 2012 đạt 2,8 tỷ đồng đến năm 2015 chỉ còn 1/3 là 750 triệu đồng, mức thu nhập của cán bộ công nhân viên đạt trung bình từ 6,20 – 8,93 triệu đồng/người [19]
Tương tự, nghiên cứu của Trần Ánh Vân Hường về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Dược phẩm Trung ương 1 – chi nhánh Bắc Giang giai đoạn 2010-
2014 cho thấy doanh thu từ bệnh viện chiếm tỷ trọng cao trên 90% trong tổng doanh
Trang 3826
thu của doanh nghiệp, song có xu hướng giảm mạnh trong khi thị trường ngoài bệnh viện có nhiều tiềm năng còn bỏ ngỏ Khách hàng chủ yếu tập trung tại Bắc Giang trên 50% song giảm mạnh từ 101 còn 53, thị trường Lạng Sơn chưa được xem xét mở rộng dẫn tới suy giảm doanh thu của chi nhánh và của từng thị trường [44]
Cơ cấu doanh thu
Nghiên cứu về Công ty Dược phẩm Trung ương 1– chi nhánh Bắc Giang và Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai báo cáo về cơ cấu doanh thu của các doanh nghiệp này, trong đó, doanh thu của kênh bệnh viện luôn chiếm tỷ trọng cao, tương ứng 90% và 80% và có xu hướng tăng nhẹ [31,32,44] Công ty cổ phần thiết
bị y tế và dược phẩm Nghệ An có doanh số bán thu được chủ yếu từ bán buôn Còn doanh thu bán buôn của Dapharco chiếm tỷ trọng thấp hơn bán lẻ nhưng tăng dần qua các năm [14,15]
Tổng vốn và cơ cấu nguồn vốn
Toàn bộ các nghiên cứu được rà soát đều báo cáo tổng vốn và cơ cấu nguồn vốn theo thời gian Trong đó, nghiên cứu về công ty Dược phẩm Trung ương 1 – chi nhánh Bắc Giang cho thấy công ty có tổng vốn trong 5 năm từ 2010 – 2014 giảm gần 50%, tổng vốn liên tục giảm gần 30% qua từng năm từ 29.313 triệu đồng năm 2010 xuống 18.176 triệu đồng năm 2014 [44] Tổng vốn của Công ty cổ phần dược – vật
tư y tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010 – 2014 và Công ty cổ phần thiết bị y tế và dược phẩm Nghệ An giai đoạn 2011 – 2015 lại tăng giảm thất thường Tổng vốn của Công
ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai tăng 110,4% vào năm 2011 và giảm dần trong năm 2012 và 2013, tăng trở lại vào năm 2014, xấp xỉ năm 2011 [23] Tổng vốn của Công ty cổ phần thiết bị y tế và dược phẩm Nghệ An tăng 44% trong năm 2012 rồi giảm mạnh còn 72% so với năm 2011 (16.246 triệu đồng) Số vòng quay VLĐ giảm dần từ 11,1 còn 8,3 [19] Trong khi đó, Dapharco chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn của nguồn vốn trong giai đoạn 2009 – 2013 [48]
Theo nhận định của FPT Securities, nhóm doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm có tỷ trọng nợ phải trả tương đối cao trong cơ cấu nguồn vốn (bình quân khoảng 70%) và chủ yếu là nguồn vốn vay [21] Thực tế các nghiên cứu tại trường đại học Dược Hà Nội, tỷ trọng nợ phải trả tại Công ty Dược phẩm Trung ương 1– chi nhánh Bắc Giang là 100%, Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai >54%, Công ty
cổ phần thiết bị y tế và dược phẩm Nghệ An trong khoảng 56 – 76% [44]
Khả năng thanh toán
Trang 3927
Một số nghiên cứu có trình bày về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp thông qua chỉ số khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh của Công
ty Dược phẩm Trung ương 1 – chi nhánh Bắc Giang luôn tiệm cận <1 trong giai đoạn
2010 – 2014 [44] Trong khi đó, Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai trong cùng giai đoạn lại có sự thay đổi tích cực khi bắt đầu năm 2010, khả năng thanh toán
là 0,9 <1 sau đó tăng đều đạt 1,3 trong năm 2014 Nợ phải trả của công ty chiếm tỷ
lệ cao hơn Khả năng thanh toán nhanh tăng đều qua các năm từ 0,9 lên 1,3 [23]
Các chỉ số luân chuyển vốn lưu động
Các nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh cũng tiến hành tính toán các chỉ số luân chuyển vốn lưu động Trong đó, ba trong bốn doanh nghiệp nêu trên có
số vòng quay vốn lưu động tương đối thấp, số liệu cho các năm đều <4, và còn có xu hướng giảm hoặc giảm mạnh tại một năm Kỳ luân chuyển vốn lưu động còn cao cho thấy vốn lưu động không được luân chuyển nhanh Công ty cổ phần TBYT và dược phẩm Nghệ An có số vòng quay vốn lưu động khá cao so với 3 công ty còn lại, tuy vậy trong giai đoạn 2011 – 2015, chỉ tiêu này lại có xu hướng giảm từ 11,1 còn 8,3
[14,31,32]
Các chỉ số luân chuyển hàng tồn kho
Chỉ số luân chuyển hàng tồn kho cũng là một trong các chỉ số được nhắc đến trong các nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Cụ thể, với Công ty Dược phẩm Trung ương 1– chi nhánh Bắc Giang, số vòng quay hàng tồn kho không đều qua các năm từ 2010 – 2014 và giảm mạnh còn 29,6 trong năm 2012, thể hiện việc chưa giải quyết được tình trạng ứ đọng hàng hóa [44]
Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai trong cùng giai đoạn có số vòng quay hàng tồn kho thấp hơn nhưng lại cho thấy tín hiệu tốt hơn khi tình trạng ứ đọng đang dần được giải quyết, với số liệu tăng dần qua các năm từ 7,8 đến 16,6 và
kỳ luận chuyển hàng tồn kho giảm từ 46,2 xuống còn 21,7 [23]
Các chỉ số luân chuyển nợ phải thu
Tương tự các nghiên cứu cũng đề cập đến các chỉ số luân chuyển nợ phải thu,
cụ thể, công ty Dược phẩm Trung ương 1– chi nhánh Bắc Giang có số vòng quay nợ phải thu giảm mạnh giữa giai đoạn còn 1,5, các khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá cao trên 90% Khả năng thanh toán luôn xấp xỉ mức 0 Số vòng quay vốn lưu động ≤
Trang 4028
2,6 Số vòng quay hàng tồn kho giảm mạnh còn 29,6 trong năm 2012 Kỳ thu hồi nợ khá cao (238 ngày) cho thấy việc thu hồi công nợ gặp khó khăn [41] Trong khi đó, Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai lại có số vòng quay nợ phải thu tăng dần và kỳ thu hồi nợ giảm dần cho thấy tốc độ thu hồi nợ của công ty có sự cải thiện [23] Vòng quay hàng tồn kho tăng từ 7,8 lên 16,6 qua 5 năm Số vòng quay vốn lưu động tăng đều trong 4 năm đầu chu kỳ, từ 2,5 lên 4,0; giảm đôi chút xuống 3,7 vào năm 2014 Vòng quay khoản phải thu tăng dần từ 3,8 lên 8,5 [23]
Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh của các công
ty dược phẩm trình bày ở trên mới chỉ dừng lại ở mô tả bức tranh về kết quả hoạt động kinh doanh của một số công ty dược phẩm theo thời gian, và đưa ra những bàn luận về những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của công ty nhưng chưa tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh này Chỉ có một trong những bài báo xuất bản gần đây vào tháng 7 năm 2017 của tác giả Antonio và cộng sự đi sâu phân tích một số yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô ảnh hưởng chung đến tiêu thụ dược phẩm tại Việt Nam bao gồm (1) tăng trưởng kinh tế nhanh và gia tăng thu nhập bình quân đầu người; (2) gia tăng dân số và đô thị hóa có liên quan đến hành vi của người tiêu dùng trong việc tìm kiếm thuốc và dịch vụ y tế; (3) già hóa dân số và các vấn đề sức khỏe mạn tính [50]
1.5.2 Một số nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và khẳng định các nhóm yếu tố liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty dược phẩm như trình bày trong Hình 1.2 Cụ thể, đối với nhóm yếu tố môi trường nội bộ, tác giả Dana-Maria Boldeanu và cộng sự [53] đã tóm tắt các yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty dược phẩm tại thị trường châu Âu Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố liên quan đến vốn tài chính của công ty Yếu tố về nhân sự cũng được chỉ ra là có mối liên hệ chặt chẽ đối với doanh thu của doanh nghiệp dược phẩm thông qua mô hình phân tích thống kê dựa trên số liệu theo dõi dọc từ năm 1984-2007 [85]
Đối với nhóm yếu tố môi trường ngành, một tổng quan tài liệu trên 19 quốc gia của tác giả Neeraj Sood và cộng sự [78] cho thấy yếu tố môi trường ngành dược đặc biệt là các quy định chính sách trong giai đoạn 1992-2004 có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược tại các quốc gia này Trong đó, các tác giả nhấn mạnh các nhóm chính sách chính thuộc về môi