Phân tích sâu về yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công ty Bali có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN NHẬT HẢI
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP DƯỢC TẠI VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Dược Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Có thể tìm hiểu thêm tại: Thư viện Quốc gia Việt Nam Thư viện Trường Đại học Dược HN
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Việt Nam càng ngày càng tăng, ước tính chi tiền thuốc bình quân trên đầu người tăng từ 13 USD vào năm 2007 lên đến 56 USD vào năm 2017 đi đôi với nhu cầu tiếp cận thuốc chất lượng cao, đòi hỏi ngành dược Việt Nam nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng phải không ngừng phát triển về quy mô và chất lượng để thực hiện được một trong các mục tiêu chính của chính sách quốc gia về “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý” Bức tranh về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây rất quan trọng để đo lường việc thực hiện mục tiêu nói trên Trong khi các doanh nghiệp dược Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm vừa và nhỏ, thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này lại không nhiều Do đó nghiên cứu này tập trung vào một
số doanh nghiệp dược phẩm vừa và nhỏ bao gồm Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali (viết tắt là Công ty Bali); Công ty cổ phần dược phẩm ANPER Pháp (viết tắt là Công ty ANPER); Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu APEC (viết tắt là Công ty APEC); Công ty Cổ phần Thương mại và thiết bị Y tế HP (viết tắt là Công ty HP)
Phân tích sâu về yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công ty Bali
có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng các yếu tố thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh Việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh cũng là một trong các yếu
tố cốt lõi giúp công ty hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người Vì vậy,
“Nghiên cứa kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tại Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali” được thực hiện với mục tiêu:
(1) Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam, giai đoạn 2013 -2016;
(2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali, giai đoạn
2013 – 2016;
(3) Xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Phương pháp phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích kinh doanh là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lời Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hoạt động, các hiện tượng, các quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng, quá trình nghiên cứu; tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, chính sách kinh doanh và hệ thống thông tin Phân tích kinh doanh góp phần giúp hiểu được các vấn đề kinh doanh và cơ hội kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu cầu cụ thể, cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh Trong phạm vi của nghiên cứu này, việc phân tích tập trung vào kết quả hoạt động kinh doanh (thay vì bao gồm toàn bộ quá trình kinh doanh), được thể hiện thông qua phân tích và đánh giá các chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh được quy định trong Thông tư 113/2016/BTC
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Hình 1.1 tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 51.3 Kỹ thuật tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh
Có nhiều cách tiếp cận trong việc thực hiện tiên lượng doanh thu Nhìn chung, người tiên lượng có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp một trong ba kỹ thuật sau:
Sử dụng các kỹ thuật ngoại suy (extrapolation techniques) bao
gồm các phân tích chuỗi thời gian, dựa trên giả định cơ bản các số liệu
hồi cứu là các tham số dự báo chính xác cho các thay đổi trong tương lai Ưu điểm của cách tiếp cận này là sự chính xác trong tiên lượng cho các doanh nghiệp có sự phát triển ổn định và sự sẵn có các nguồn
số liệu Tuy nhiên, với các doanh nghiệp và lĩnh vực thường xuyên có
sự thay đổi lớn về cấu trúc, việc áp dụng kỹ thuật ngoại suy có thể không đạt được kết quả mong muốn Các phân tích chuỗi thời gian cơ bản thường được thực hiện bao gồm: (1) mô tả chuỗi thời gian sử dụng các chỉ số như giá trị trung bình qua thời gian; tổng tốc độ tăng (giảm), tốc độ tăng (giảm) trung bình; (2) Phân tích suy luận đơn biến với chuỗi số thời gian với 3 mô hình phổ biến bao gồm mô hình xu hướng tuyến tính (linear trend model), xu hướng lũy thừa (exponential trend model) và xu hướng bậc hai (quadratic trend model); (3) phân tích suy luận đa biến với chuỗi số thời gian với mô hình hồi quy tuyến tính (Linear regression), mô hình vector tự hồi quy (VAR-Vector autoreression), mô hình vector điều chỉnh sai số (VEC-vector error correction)
Sử dụng các kỹ thuật nhân quả (causative techniques) bao gồm
các phân tích hồi quy đa biến, nhằm mục đích tìm hiểu một cách hệ
thống và toàn diện về các mối quan hệ có thể ảnh hưởng và quyết định đến sự thay đổi của thị trường Hiểu biết về các mối quan hệ nhân quả này cùng với các giả định cơ bản trong tương lai đóng vai trò nền tảng của việc tiên lượng Vì thông thường mối liên hệ nhân quả này được tìm hiểu dựa vào các số liệu hồi cứu đã có sẵn, do đó kỹ thuật này có
ưu điểm trong trường hợp các giả định về tương lai tương đối ổn định, không có sự thay đổi một cách đột biến
Sử dụng các kỹ thuật phán đoán (judgmental techniques) khi mà
việc tiên lượng doanh thu được yêu cầu thực hiện đối với các sản phẩm mới hoặc các thị trường mới trong bối cảnh không có bất kì các số liệu hồi cứu trong quá khứ nào Trong các trường hợp này, việc tiên lượng doanh thu có thể được thực hiện theo hướng phán đoán dựa trên các nguyên tắc nhất định, cụ thể là dựa trên kết quả của các nghiên cứu
Trang 6sẵn có về các sản phẩm và các bối cảnh thị trường tương tự Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của cách tiếp cận này là kết quả tiên lượng có thể trở nên rất chủ quan
1.4 Các nghiên cứu liên quan
1.4.1 Nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm
Tổng quan cho thấy kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong những năm qua tuy có sự khác nhau nhưng đều có nhiều biến động đáng kể về mặt doanh thu, lợi nhuận
Doanh thu và lợi nhuận: Các nghiên cứu cho thấy sự khác nhau về
lợi nhuận và doanh thu giữa các doanh nghiệp dược phẩm trong 10 năm trở lại đây Kết quả nghiên cứu hoạt động kinh doanh của Công
ty cổ phần Dược–Thiết bị Y tế Đà Nẵng 2009 – 2013, doanh số mua tăng trưởng đều từ 1.080 tỷ đồng lên 1.921 tỷ đồng, doanh số bán liên tục tăng trưởng từ 1.185 tỷ đồng lên 2.031 tỷ đồng, trong đó tỷ trọng bán buôn chiếm trên 94% và tăng qua các năm Nghiên cứu của Nguyễn Đắc Tuấn về Công ty cổ phần dược–vật tư y tế tỉnh Lào Cai
2010 – 2014 chỉ ra doanh số mua tăng từ 73,1 tỷ đồng năm 2010 đạt 163% năm 2014; doanh số bán cao nhất vào 2011 (130 tỷ đồng) và
2012 (122,8 tỷ đồng) Lợi nhuận thuần sau 3 năm đầu kỳ tăng dần từ 3,4 tỷ lên 4,9 tỷ, tụt giảm trong 2013 (3,2 tỷ) và 2014 (3,6 tỷ)
Cơ cấu doanh thu: Tỷ trọng doanh thu kênh bệnh viện của Công ty
Dược phẩm Trung ương 1– chi nhánh Bắc Giang và Công ty cổ phần dược – vật tư y tế tỉnh Lào Cai luôn chiếm tỷ trọng cao, tương ứng 90% và 80% và có xu hướng tăng nhẹ Công ty cổ phần thiết bị y tế và dược phẩm Nghệ An có doanh số bán thu được chủ yếu từ bán buôn Còn doanh thu bán buôn của Dapharco chiếm tỷ trọng thấp hơn bán lẻ nhưng tăng dần qua các năm
1.4.2 Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh
Tác giả Dana-Maria Boldeanu tóm tắt các yếu tố môi trường nội
bộ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty dược phẩm tại thị trường châu Âu, trong đó nhấn mạnh yếu tố vốn tài chính Yếu tố
về nhân sự cũng được chỉ ra là có mối liên hệ chặt chẽ với doanh thu qua số liệu theo dõi dọc từ 1984-2007 Về yếu tố môi trường ngành, tổng quan tài liệu trên 19 quốc gia của tác giả Neeraj Sood cho thấy các quy định chính sách trong giai đoạn 1992-2004 có ảnh hưởng quan
Trang 7trọng Một tổng quan hệ thống khác trên 25 nghiên cứu của tác giả Mousnad nhấn mạnh ảnh hưởng của hành vi sử dụng thuốc, lựa chọn phương pháp điều trị, cầu và hệ thống y tế là các yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến doanh thu công ty dược phẩm Nghiên cứu của Luis cho thấy mối liên quan giữa GDP và chi tiêu cho thuốc tại các quốc gia châu Âu Đối với thị trường thuốc mới, tổng quan tài liệu của Agnes Lubloy cho thấy nhiều yếu tố liên quan đến người kê đơn như các đặc điểm về nhân khẩu – xã hội học, các yếu tố thuộc về người bệnh có ảnh hưởng lớn nhất đến doanh thu của các thuốc mới Tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mô tả bức tranh về kết quả hoạt động kinh doanh, và đưa ra những bàn luận về những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động kinh doanh Chỉ có một bài báo gần đây của tác giả Antonio phân tích một số yếu tố thuộc về môi trường
vĩ mô ảnh hưởng chung đến tiêu thụ dược phẩm tại Việt Nam bao gồm (1) tăng trưởng kinh tế nhanh và gia tăng thu nhập bình quân đầu người; (2) gia tăng dân số và đô thị hóa có liên quan đến hành vi của người tiêu dùng trong việc tìm kiếm thuốc và dịch vụ y tế; (3) già hóa dân số và các vấn đề sức khỏe mạn tính
1.4.3 Các mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh
Nghiên cứu của Duccio và cộng sự tiên lượng doanh thu của thị trường dược phẩm tại châu Âu từ 2012 đến 2016 Các tác giả xác định góc độ đánh giá từ cả phía cơ sở y tế và nhà sản xuất; và phân tách mô hình gồm hai cấu phần theo hai nhóm khách hàng chính là nhà thuốc bán lẻ và bệnh viện Nghiên cứu khác của Wettemark tiên lượng doanh thu của các sản phẩm mới sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính Mô hình được xây dựng cho từng nhóm thuốc (theo mã ATC) dựa trên số liệu từ 2006 đến 2009 để tiên lượng cho năm 2010-2011 Theo đó kết quả cho thấy mức độ gia tăng doanh thu hàng năm vào khoảng 2-4% Nghiên cứu này cũng tổng hợp một số yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả của mô hình tiên lượng bao gồm các yếu tố liên quan đến thị trường dược phẩm như hết hạn pa-tăng của các thuốc brand-name và
sự gia đời của các thuốc generics; thay đổi về chính sách giá và chi trả bảo hiểm y tế; các thuốc mới được giới thiệu trong thị trường dược phẩm, các chính sách dược phẩm của quốc gia/khu vực; sự thay đổi về
hệ thống y tế liên quan đến cung ứng dịch vụ y tế, dược phẩm, các chính sách liên quan đến chi trả; các chính sách liên quan đến kê đơn Gần gũi nhất là tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 8dược phẩm lớn tại Iran, sử dụng số liệu kết quả hoạt động kinh doanh hàng tháng để tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty theo các nhóm khách hàng (bệnh viện, phòng khám, hiệu thuốc–thông qua mua thuốc trực tiếp hoặc đặt hàng qua điện thoại) sử dụng mô hình chuỗi thời gian khác nhau
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Kết quả hoạt động kinh doanh của các
công ty dược phẩm ANPER, APEC, HP và Bali
2.2 Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính
và định lượng (Hình 2.2)
Hình 2.2 Thiết kế nghiên cứu
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng 12/2010 đến
tháng 6/2017 tại Thành phố Bắc Giang và Hà Nội, Việt Nam
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Đối với cấu phần định lượng: Sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ các chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh cũng như sản phẩm được kinh doanh trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 của các công
ty Bali, ANPER, APEC và HP Đối với số liệu của công ty Bali: tiến hành thu thập toàn bộ số liệu về các sản phẩm theo các hóa đơn mua vào và bán ra Tổng số hóa đơn được rà soát của công ty Bali trong
Trang 9giai đoạn nghiên cứu là 3.908 hóa đơn với tổng số lượt sản phẩm được đưa vào nghiên cứu là 15.562
Đối với cấu phần định tính: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu định tính dựa trên phương pháp chọn mẫu có chủ đích với số lượng như sau:
• Công ty Bali: Gồm 02 Phó giám đốc; 01 đại diện bộ phận kế toán;
01 đại diện bộ phận kinh doanh; 01 đại diện bộ phận giao nhận, vận chuyển; 01 đại diện bộ phận kho
• Công ty bán buôn: 02 Đại diện/lãnh đạo
• Cơ sở KCB công lập: 02 Phụ trách khoa dược/bộ phận quản lý
• Nhà thuốc BV: 02 Phụ trách nhà thuốc
• Cơ sở bán lẻ: 02 Phụ trách nhà thuốc
• Nhóm chuyên gia: 01 đại diện từ Cục Quản lý Dược; 01 chuyên gia về kinh tế y tế
2.3.3 Công cụ thu thập số liệu: Thu thập số liệu định lượng dựa trên
mẫu trích xuất số liệu được thiết kế sẵn trên định dạng excel Phỏng vấn sâu các đối tượng dựa trên Bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu cho từng nhóm đối tượng Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 30-45 phút được ghi chép hoặc ghi âm tùy vào yêu cầu của đối tượng
2.4 Nhập liệu, quản lý số liệu: Số liệu định lượng sau khi được thu
thập được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Excel, và được
xử lý bằng phần mềm STATA 10.0 Các băng phỏng vấn sâu được gỡ bang, mã hóa, tổng hợp thông tin ghi chép và phân tích theo chủ đề
2.5 Phân tích số liệu:
• Tiến hành tính toán các chỉ số kết quả hoạt động kinh doanh bao
• Tính toán các chỉ số mô tả chuỗi thời gian gồm tổng tốc độ tăng giảm và tốc độ tăng giảm trung bình
• Tiến hành phân tích đơn biến và đa biến chuỗi số thời gian
• Sử dụng kỹ thuật mô hình hóa (modelling technique) để phát triển
mô hình tiên lượng
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược
Doanh thu bán hàng của các công ty dược phẩm đều tăng qua các năm từ 2013 đến 2016 Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức tăng và tốc
độ tăng của từng công ty Công ty Bali có sự tăng đều theo từng năm, đến 2016 thì doanh thu bán hàng tăng gấp 3 lần so với năm 2013 Tương tự, doanh thu của công ty ANPER tăng từ 52,6 tỷ đồng năm
2013 lên 73,9 tỷ đồng năm 2016 Công ty HP tăng từ 31,4 tỷ đồng năm
Trang 102013 lên 95,3 tỷ đồng năm 2016, gấp hơn 3 lần so với 2013 Riêng công ty APEC cho thấy sự tăng trưởng đột biến trong thời gian gần đây Cụ thể, doanh thu của công ty đã tăng thêm khoảng 22-23 tỷ mỗi năm sau các năm 2014 và 2015; đến năm 2016, con số tăng thêm so với năm 2015 xấp xỉ 40 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế (sau đây gọi tắt
là lợi nhuận) của các công ty tăng đều qua các năm Công ty APEC có
sự tăng trưởng lớn từ 30,5 tỷ (2013) lên 22,8 tỷ (2016) Đối với công
ty HP, sự tăng trưởng lãi ròng cũng khá khả quan từ con số 31 tỷ đồng năm 2013 lên đến 93 tỷ (2016) – gấp 3 lần so với 2013
Vốn chủ sở hữu của các công ty Bali; ANPER và APEC đều tăng
ở năm 2014 so với 2013, tuy nhiên, không thay đổi đáng kể trong từ
2014-2016 Hệ số tài trợ của các công ty có xu hướng giảm theo thời
gian Hệ số tài trợ của công ty Bali năm 2013 có giá trị lớn nhất trong giai đoạn nghiên cứu (tương đương 0,7) và trị số giảm dần qua thời gian, đến năm 2015 chỉ còn là 0,45 (dưới 0,5) và đến năm 2016 chỉ còn 0,28 Tương tự, hệ số này cũng giảm ở ba công ty ANPER, APEC
và HP ở mức lần lượt là 0,29; 0,37; 0,62 vào năm 2013 và xuống còn mức lần lượt 0,25; 0,33; 0,28 ở năm 2016 Hay nói cách khác là đến năm 2016, vốn chủ sở hữu của bốn công ty thuộc nghiên cứu lần lượt chỉ chiếm 28%, 25%, 33% và 28%
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát có xu hướng giảm theo thời
gian ở cả bốn công ty trong nghiên cứu Hệ số này của công ty Bali
2013 có giá trị lớn nhất (3,31) và giảm dần, đến 2015 chỉ còn là 1,86 đến 2016 còn 1,38 Công ty HP cũng có hệ số này cao nhất vào 2013
và có xu hướng giảm dần xuống giá trị 1,38 năm 2016 Trong khi đó,
hệ số này của công ty ANPER tăng từ 1,40 (2013) lên 1,52 (2014) và giảm xuống ở 2 năm kế tiếp; còn lại 1,34 vào năm 2016 Tương tự, hệ
số khả năng thanh toán tổng quát của công ty APEC tăng từ 1,59 (2013) lên 1,86 (2014); nhưng giảm xuống 1,50 (2016)
Hệ số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả của công ty Bali tăng
đột biến vào năm 2015 sau đó lại có xu hướng giảm theo thời gian Hệ
số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả của năm 2013 có giá trị bằng 0,4
và tăng lên thành 1,09 và giảm dần qua thời gian, đến năm 2015 chỉ còn là 0,65 và đến năm 2016 chỉ còn 0,33 Tương tự, hệ số giữa nợ phải thu so với nợ phải trả của công ty APEC cũng tăng từ 0,42 năm
2013 lên 0,99 năm 2014 và giảm xuống từ năm 2015 và xuống còn 0,65 vào năm 2016 Trong khi đó, hệ số này của công ty ANPER tăng
Trang 11từ 0,31 năm 2013 lên 0,41 năm 2016 và duy trì ở con số này năm 2015 rồi giảm xuống 0,33 năm 2016 Ngược lại, hệ số này ở công ty HP lại giảm từ 1,16 năm 2013 xuống 0,50 năm 2014 và tăng trở lại ở 2 năm tiếp theo và ở mức 0,86 vào năm 2016
Hệ số vòng quay các khoản phải thu ở công ty Bali năm 2013 là
1,19 vòng, tăng đột biến vào 2015 lên thành 1,62 vòng, sau đó lại có
xu hướng giảm theo thời gian, đến 2015 chỉ còn là 1,13 vòng và đến
2016 chỉ còn 0,88 vòng Trong khi đó, ở công ty ANPER, hệ số vòng quay các khoản phải thu năm 2013 chỉ có 0,92 vòng, tăng lên ở mức 1,22 năm 2014, rồi lại giảm ở các năm 2015, 2016 và còn 0,94 năm
2016 Công ty APEC chứng kiến sự thay đổi đáng lưu ý trong hệ số vòng quay các khoản phải thu qua các năm Con số này của công ty ở mức cao nhất là 2,00 vào năm 2013 và giảm mạnh xuống còn 0,58 vào năm 2015, sau đó tăng mạnh và đạt mức 1,47 vào năm 2016
Hệ số vòng quay các khoản phải trả của công ty Bali năm 2013 là
1,07 vòng, tăng đột biến vào năm 2015 lên thành 1,53 vòng, sau đó lại giảm, đến năm 2015 chỉ còn là 1,06 vòng và đến năm 2016 tăng nhẹ lên thành 1,18 vòng Trong khi đó, hệ số vòng quay các khoản phải trả của công ty ANPER có xu hướng giảm qua các năm, năm 2013 là 1,21 vòng xuống còn 1,09 vòng năm 2016 Hệ số vòng quay các khoản phải trả của công ty APEC giảm dần từ năm 2014 (1,32 vòng) xuống còn 1,02 năm 2016 Con số này ở công ty HP lại có sự tăng từ 1,40 vòng
ở năm 2013 lên 1,73 vòng năm 2014 Hệ số sức sinh lợi của vốn chủ
sở hữu (return on equity – ROE) của cả 4 công ty qua các năm không
có sự thay đổi đáng kể Sức sinh lợi của doanh thu thuần (doanh thu bán hàng – Return on sales ROS) của cả 4 công ty mặc dù đều ở mức
2 Theo khuyến cáo của một số tác giả, sự phù hợp của mô hình có thể được phiên giải thông qua giá trị SBIC (Schwarz's Bayesian
Trang 12Information Criterion), trong đó giá trị SBIC càng nhỏ thì mô hình càng được ưa chuộng Kết quả phân tích mối liên hệ giữa các biến số nội tại trong mô hình 1 có thể được sự dụng tốt trong mô hình tiên lượng doanh thu của mục tiêu 3
Bảng 3.2 Mô hình VAR phân tích mối liên quan giữa tổng doanh thu theo quý và một số biến số độc lập
Kết quả nghiên cứu định tính về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường nội bộ lên kết quả hoạt động kinh doanh
Yếu tố tài chính: Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy yếu tố tài chính
ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến doanh thu và lợi nhuận trên doanh thu của công ty Bali, đồng thời cũng chỉ ra một số thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động duy trì và không ngừng tăng cường nguồn vốn cho công ty bao gồm các vấn đề liên quan đến lãi suất, các vấn đề liên quan đến huy động đầu tư, vay vốn cho công ty Nếu như các vấn đề
về ảnh hưởng của lãi suất sẽ được trình bày trong yếu tố môi trường
vĩ mô thì các vấn đề liên quan đến đòi hỏi của hệ thống thông tin nhằm
Trang 13cung cấp các bằng chứng thuyết phục các nhà đầu tư sẽ được trình bày trong nội dung liên quan đến yếu tố cơ sở vật chất Qua đây có thể thấy được ảnh hưởng đan xen nhiều chiều của các nhóm yếu tố khác nhau đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali
Yếu tố nhân lực: Yếu tố nguồn nhân lực được các đối tượng tham
gia trả lời PVS nhấn mạnh là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Kết quả PVS lãnh đạo công ty cũng nhấn mạnh vấn đề tuyển dụng và duy trì nguồn nhân lực đủ số lượng và chất lượng thông qua nhiều hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực khác nhau
Yếu tố quản lý: Vai trò của các mô hình quản trị doanh nghiệp được
đề cập đến rất nhiều trong việc xem xét ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali nói riêng và các công ty dược phẩm nói chung Cụ thể mô hình trực tuyến được đề cập đến nhiều với những phân tích về ưu nhược điểm liên quan đối với mô hình các công ty dược phẩm vừa và nhỏ Bên cạnh vai trò của các mô hình quản trị doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến chiến lược của nhà quản lý/lãnh đạo công ty cũng được nhấn mạnh có ảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy điểm tương đồng và lý giải cho yếu tố đã được đưa ra phân tích trong cấu phần phân tích định lượng về định hướng tỷ trọng các nhóm khách hàng khác nhau cũng như nhập khẩu các sản phẩm có xuất xứ khác nhau đóng vai trò rất quan trọng đến tổng doanh thu
Yếu tố cơ sở vật chất: Với thế mạnh này về cơ sở vật chất đạt chuẩn
GSP, mục tiêu của công ty Bali trong các năm tiếp theo là nhập khẩu trực tiếp hoặc nhập khẩu ủy thác các mặt hàng công ty có thế mạnh
Hệ thống thông tin cũng là yếu tố thuộc về cơ sở vật chất được nhấn mạnh là ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty theo hai chiều hướng Thứ nhất, hệ thống thông tin về kết quả kinh doanh của tự thân công ty Bali cùng những phân tích khai thác số liệu của hệ thống này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư cho công ty Thứ hai, hệ thống thông tin về thị trường và các nhóm khách hàng, sản phẩm và các đối thủ cạnh tranh là hết sức cần thiết để công
ty Bali có thể tận dụng được mọi lợi thế nhằm tăng cường kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 143.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường ngành
Yếu tố khách hàng: doanh thu của công ty theo các nhóm khách
hàng từ 2013 đến 2016 cho thấy doanh thu từ doanh nghiệp dược chiếm tỷ trọng cao nhất (49,11%), tiếp đến là nhóm nhà thuốc bệnh viện (30,77%), tiếp đến là nhóm cơ sở khám chữa bệnh công lập (10,61%), nhóm khác hàng khác (7,20%) và thấp nhất là nhóm cơ sở bán lẻ khác (2,29%) Kết quả phỏng vấn sâu đưa ra một số lý giải cho
sự khác biệt này đến từ bản chất của các nhóm khách hàng
Yếu tố cạnh tranh: được chỉ ra là một trong những vấn đề quan
trọng ảnh hưởng đến doanh thu của công ty Bali Các ý kiến trả lời PVS cũng cho thấy rõ những hành động của công ty Bali nhằm khắc phục ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh đối với kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Yếu tố nhà cung ứng: Việc tìm kiếm được các nhà cung ứng trong
và ngoài nước và mối quan hệ với các nhà cung ứng được đánh giá là
có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh, thậm chí là yếu
tố quan trọng thứ hai sau yếu tố liên quan đến vốn Để tìm kiếm được các nhà cung ứng uy tín, đối tượng trả lời phỏng vấn sâu cũng nhấn mạnh vai trò của thông tin cập nhật về sản phẩm, nhà cung ứng và các thông tin liên quan
Yếu tố quản lý ngành: Kết quả phỏng vấn sâu phân tích khó khăn
và thuận lợi của các vấn đề quản lý ngành lên hoạt động kinh doanh của công ty từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động này
3.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường vĩ mô
Tổng doanh thu sau khi được biến đổi bằng hàm logarit được chỉ
ra là có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với chỉ số giá đô la Mỹ, chỉ
số cước vận tải, chỉ số cước kho bãi và tỷ lệ người dân tham gia BHYT (Bảng 3.3) Kết quả phỏng vấn sâu cũng chỉ ra những điểm tương đồng với kết quả này Cụ thể, doanh thu cũng như lợi nhuận trên doanh thu của công ty Bali được đánh giá là bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như tỷ số giá đô la Mỹ khi liên quan đến các mặt hàng nhập khẩu; các vấn đề liên quan đến yếu tố kinh tế - xã hội như nhóm dân cư mà công ty phục vụ; vấn đề rủi ro do nhập khẩu…