1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập

263 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Tác giả Nguyễn Kiều Duyên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Danh Ngà, PGS.TS. Lê Phước Minh
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nhà nghiên cứu, quản lý tài chính, giáo dục trong nước và quốc tế đã công bố công trình nghiên cứu của mình trên các diễn đàn hội thảo, sách báo, tạp chí; trong đó đưa ra các phân

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KIỀU DUYÊN

CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2023

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KIỀU DUYÊN

CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 9.34.04.10

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS Nguyễn Danh Ngà

2 PGS.TS Lê Phước Minh

Hà Nội, 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng công bố trong công trình nghiên cứu nào trước đó Các thông tin trích dẫn trong luận án được trích dẫn đầy đủ, chính xác từ các sách, báo, tạp chí

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận án

Nguyễn Kiều Duyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án “Cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật và thể dục thể thao công lập”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các

cán bộ, giảng viên công tác tại Học viện Khoa học Xã hôi, Khoa Kinh tế học, Khoa Khoa học quản lý, Viện nghiên cứu Kinh tế (Viện Hàn lâm Khoa học

Xã hội Việt Nam) Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về những sự giúp

đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Danh Ngà và PGS.TS

Lê Phước Minh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án này

Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cơ quan trực thuộc

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch như Vụ Kế hoạch, Tài chính; Vụ Tổ chức Cán bộ; Vụ Đào tạo; Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, các trường đào tạo về văn hoá, nghệ thuật và thể dục thể thao đã tạo điều kiện thuận lợi giúp nghiên cứu sinh điều tra, khảo sát thu thập tài liệu nghiên cứu cần thiết cho luận án

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9

1.1.1 Nghiên cứu làm rõ nội hàm khái niệm quyền tự chủ đại học, trong đó có quyền tự chủ về tài chính 9

1.1.2 Nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ của các trường đại học trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường 14

1.1.3 Nghiên cứu so sánh cơ chế, chính sách tự chủ đại học giữa các trường đại học và giữa các quốc gia 14

1.1.4 Nghiên cứu vấn đề tự chủ tài đại học và tự chủ tài chính trong mối quan hệ giữa trường đại học với Nhà nước 16

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 18

1.3 Khoảng trống nghiên cứu của các công trình đã công bố 22

Tiểu kết chương 1 23

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP 24

2.1 Cơ sở đào tạo nghệ thuật - thể dục thể thao công lập 24

2.1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập 24

2.1.2 Cơ sở đào tạo nghệ thuật, TDTT công lập 27

2.2 Cơ chế tự chủ tài chính 29

2.2.1 Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính 29

2.2.2 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính 45

2.2.3 Nguyên tắc thực hiện tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 58

2.2.4 Các tiêu chí đánh giá cơ chế tự chủ tài chính 59

2.2.5 Những tác động của cơ chế tự chủ tài chính 64

2.3 Kinh nghiệm trên thế giới về cơ chế tự chủ tài chính và bài học cho Việt Nam 66

2.3.1 Kinh nghiệm một số thế giới về cơ chế tự chủ tài chính 66

Trang 6

2.3.2 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 70

Tiểu kết chương 2 73 Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ

SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 74 3.1 Khái quát về các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập 74

3.1.1 Cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 74 3.1.2 Cơ sở đào tạo NT-TDTT thuộc các Bộ ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý 78

3.2 Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập 81

3.2.1 Tổ chức cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập 81 3.2.2 Kết quả thực trạng tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 82 3.2.3 Kết quả điều tra về thực trạng cơ chế tự chủ tài chính của các cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch 117 3.2.4 Đánh giá chung về thực trạng cơ chế TCTC 124

Tiểu kết chương 3 132 Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT VÀ THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP 133 4.1 Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo NT- TDTT công lập 133

4.1.1 Đổi mới cơ chế học phí trong lĩnh vực đào tạo NT-TDTT 133 4.1.2 Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN đối với các đơn vị đào tạo công lập

về NT-TDTT 135 4.1.3 Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính để áp dụng lịch hoạt, phù hợp từ nội dung quy định của các Nghị định 43; 16; 60 137 4.1.4 Đổi mới chính sách đối với người học NT-TDTT 140 4.1.5 Nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và các giải pháp khác 140

Trang 7

4.2 Một số điều kiện để thực hiện giải pháp 143

4.2.1 Các cơ quan chức năng của nhà nước cần nhận thức rõ về chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lý các trường ĐHCL 143 4.2.2 Chính phủ cần giao cho Bộ VHTT&DL nghiên cứu, xây dựng các chính sách để từng bước giao quyền tự chủ đại học cho các trường NT-TDTT 143 4.2.3 Giao quyền TCTC phải dựa vào năng lực quản lý, chất lượng nhà trường và tính đến yếu tố đặc thù trong đào tạo NT-TDTT 145 4.2.4 Các trường cần làm rõ mục tiêu phát triển trong ngắn hạn, dài hạn, tăng cường kiểm soát nội bộ, đổi mới hoạt động của nhà trường 146

Tiểu kết chương 4 148 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 165

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số lượng các trường văn hoá nghệ thuật cả nước 79 Bảng 3.2: Báo cáo tình hình thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập năm 2018 94 Bảng 3.3: Tổng hợp ngân sách giao tự chủ cho các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2019 98 Bảng 3.4: Tổng hợp bổ sung kinh phí hoạt động của các trường NT-TDTT năm 2019 100 Bảng 3.5: Kinh phí CTMTQG cấp cho các trường NT-TDTT của Bộ VHTT&DL 101 Bảng 3.6: Tổng hợp nguồn thu của các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc

Bộ VHTTDL năm 2019 103 Bảng 3.7: Tổng hợp nguồn thu của các trường NT-TDTT giai đoạn 2015-2019 104 Bảng 3.8: Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo phục cấp chức vụ (K1) và hệ

số chức vụ 109 Bảng 3.9: Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo lương (K2) và hệ số lương 109 Bảng 3.10: Tổng hợp số liệu nộp NSNN của các trường NT-TDTT năm 2019 117

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế

Bên cạnh những thành quả đạt được, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước thách thức rất to lớn: Cơ chế quản lý nhà nước đối với các trường đại học chậm được thay đổi, chất lượng đào tạo của toàn hệ thống chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế, việc phát huy sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và SV còn hạn chế Số lượng giáo viên đại học một số chuyên nành còn thiếu ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, chất lượng nguồn nhân lực đang còn yếu kém Đời sống kinh tế người dân tuy có thay đổi khá hơn nhưng vẫn còn ở mức thấp, cùng với ý thức người dân chưa cao nên việc đầu tư vào học tập cho con, cháu chưa được chú trọng Sự mở rộng qui mô đào tạo ở các trường đại học Việt Nam chưa theo một định hướng chung, chưa thống nhất giữa các trường nên khó có thể kiểm soát được chất lượng giáo dục Nhiều trường Đại học được mở ra nhưng chưa đảm bảo được các điều kiện cho hoạt động như

về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, năng lực tài chính đã phát sinh nhiều bất cập gây nên bức xúc trong xã hội

Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là thuộc tính cơ bản của các trường Đại học trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay Tự chủ Đại học là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học, tạo ra sự linh hoạt, năng động của các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình sáng tạo ra tri thức dẫn dắt xã hội phát triển Bên cạnh đó, tự chủ đại học còn làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo đại học, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của xã hội và nhu nâng cao chất lượng lao động trí thức và trí tuệ con người

để phục vụ xây dựng và phát triển đất nước Thế nhưng, có thể nói ở Việt Nam trong nhiều năm qua, việc xác định quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước ta còn chưa thực sự rõ ràng Nhà nước liên tục phải điều chỉnh cơ chế, chính sách tự chủ về tổ chức bộ máy, tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học Điều này dẫn đến việc hoàn thiện cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở nước

Trang 11

ta có thể chưa toàn diện, hiệu quả giáo dục đào tạo chưa cao

Qua các lần cải cách cơ chế tự chủ tài chính (với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002; Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015; Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 15/8/2021), đã giảm bớt một số rào cản trong quá trình phát triển quyền tự chủ giáo dục đại học Tuy nhiên, tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng, tính ràng buộc tổ chức, sự chấp thuận của cộng đồng đối với cơ chế tự chủ tài chính (TCTC) vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế Cơ chế tự chủ mà các cơ sở giáo dục đại học đang thực hiện ở các mức độ khác nhau chưa tạo ra sự tự chủ thực sự về tạo nguồn tài chính, tự cân đối thu chi, trách nhiệm giải trình của các trường, của các cơ quan quản

lý trước xã hội và người học cho việc nâng cao chất lượng đào tạo Như vậy, để các

cơ sở giáo dục đại học công lập thật sự “lột xác” xoá bỏ các mặt hạn chế, rào cản phát triển thì các quy định cơ chế TCTC cần thay đổi để tạo ra những giải pháp đột phá về

cơ chế tài chính, cơ chế quản trị điều hành, nhất là giải quyết thoả đáng vấn đề nguồn thu tài chính Nguồn thu của các trường đại học công lập được hình thành từ hai nguồn là ngân sách Nhà nước cấp và ngoài ngân sách Nhà nước Trong đó, nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp dưới 50% (có trường chỉ đạt 10% đến 20%), nguồn thu ngoài NSNN chiếm trên 50% chủ yếu là thu từ học phí và lệ phí Ngoại trừ các trường đại học khối kinh tế, luật có khả năng tự bảo đảm trên 50% mức chi từ các nguồn thu sự nghiệp, các trường còn lại chỉ bảo đảm dưới 50% mức chi; đặc biệt

là các trường khối y dược, thể thao, văn hoá nghệ thuật gặp rất nhiều khó khăn vì nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước rất nhỏ, nhiều trường không có khả năng tăng nguồn để tự cân đối thu chi

Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, nước ta đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị, hội thảo bàn về vấn đề xây dựng cơ chế tự chủ cho giáo dục đại học công lập (GDĐHCL) Nhiều nhà nghiên cứu, quản lý tài chính, giáo dục trong nước và quốc tế

đã công bố công trình nghiên cứu của mình trên các diễn đàn hội thảo, sách báo, tạp chí; trong đó đưa ra các phân tích, đánh giá về mô hình TCTC của các trường đại học cũng như đưa ra quan điểm phê phán về những mặt tích cực và hạn chế trong chính sách thực hiện cơ chế TCTC giáo dục đại học công lập ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa

có đề tài, công trình nào đi sâu nghiên cứu, phân tích đánh giá đầy đủ về kết quả thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cũng như thực trạng vận hành cơ

Trang 12

chế TCTC của các trường đào tạo về nghệ thuật và thể dục thể thao (NT - TDTT) kể

từ khi Nhà nước ban hành thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học

ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật và thể dục thể thao công lập” là điều rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần nâng

cao hiệu quả giáo dục đào tạo NT-TDTT ở nước ta hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa và bổ sung, cập nhật những luận điểm mới với vấn đề lý luận

về cơ chế TCTC trong GDĐH, áp dụng cho các trường NT-TDTT công lập;

Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế TCTC ở các trường NT-TDTT công lập ở nước ta trong thời gian qua (từ năm 2011- sau 5 năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-

CP đến năm 2019);

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế TCTC ở các trường TDTT nước ta tầm nhìn đến năm 2025

NT-2.2 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Thực trạng thực hiện cơ chế TCTC ở các trường NT-TDTT công lập ở nước

ta trong thời gian qua diễn ra như thế nào? Thuận lợi, khó khăn và đánh giá hiệu quả của việc thực hiện cơ chế TCTC ở các trường NT-TDTT công lập?

(2) Để thúc đẩy hoạt động tạo nguồn thu; nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính tại các trường NT-TDTT công lập, cần đổi mới cơ chế TCTC như thế nào?

(3) Điểu kiện để thực hiện cơ chế TCTC của các trường NT-TDTT công lập?

Có ba nhân tố tác động tới cơ chế TCTC của các trường NT-TDTT công lập, đó là: (1) Mục tiêu phát triển giáo dục đại học (GDĐH), chẳng hạn muốn hội nhập quốc

tế thì cần thay đổi vai trò của nhà trường là đơn vị cung ứng dịch vụ tri thức (hoạt động như một doanh nghiệp); muốn tạo ra sự cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, giảm gánh nặng chi NSNN cho GDĐH; tăng sự minh bạch, trách nhiệm giải trình trước

xã hội (XH)… thì cần tăng quyền tự chủ cho các trường NT-TDTT công lập

(2) Cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước như mô hình tài chính cho giáo dục đại học công lập, hệ thống pháp luật đi kèm (Luật giáo dục, ngân sách, khoa học công nghệ…); năng lực quản lý của cơ quan chủ quản; những điều này tạo ra một khung pháp lý có thể thúc đẩy hoặc hạn chế quyền TCTC trong khai thác, đa dạng

Trang 13

hóa nguồn thu, sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính sẵn có của nhà trường

(3) Cơ chế tài chính do mỗi trường xây dựng thông qua qui chế tài chính (trong

đó có cả quy chế thu chi) có đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả hay không…, nó phụ thuộc vào mô hình, năng lực quản lý của nhà trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án có một số nhiệm vụ cụ thể:

- Nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước về vấn đề cơ chế TCTC trong các trường NT-TDTT từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu từ các công trình này cho luận án

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về cơ chế TCTC trong các trường NT-TDTT: Mục đích, vai trò, nội dung, điều kiện thực hiện cơ chế TCTC trong các trường NT-TDTT

- Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế TCTC trong các trường NT-TDTT công lập

ở nước ta trong thời gian qua (từ năm 2011 - sau 5 năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP đến năm 2019)

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế TCTC trong các trường NT-TDTT công lập ở Việt Nam tầm nhìn đến năm 2025

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Cơ chế tự chủ tài chính trong các trường nghệ thuật - thể dục thể thao công lập ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung làm rõ cơ chế TCTC tại các trường

NT-TDTT công lập: những yếu tố tạo nên cơ chế TCTC; các tiêu chí đánh giá, ảnh hưởng của cơ chế TCTC tới việc sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính của các trường NT-TDTT công lập

Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến 2019, cụ thể là nằm trong giai đoạn

các trường NT-TDTT áp dụng triển khai Nghị định số 43/2006/NĐ-CP được 5 năm đến năm 2019; áp dụng những sửa đổi, bổ sung, những điều mới khi thực hiện Nghị định 16/2015/NĐ-CP, quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, sau đó cập nhật thêm những đổi mới từ Nghị định 60/2021/NĐ-CP

Về không gian nghiên cứu: Trong điều kiện có hạn, luận án tiến hành nghiên

Trang 14

cứu tại các trường NT- TDTT trực thuộc Bộ VHTT&DL quản lý ở 3 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng (Tổng cộng 15/21 trường NT-TDTT như Phụ lục14)

5 Phương pháp luận, tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Tiếp cận nghiên cứu

Đề tài sử dụng hướng tiếp cận hệ thống để thực hiện nghiên cứu làm rõ vấn đề TCTC trong GDĐH ở Việt Nam: trường hợp các trường NT-TDTT công lập Lý thuyết hệ thống thể hiện tiếp cận hệ thống và được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig von Bertalanffy Lý thuyết hệ thống tập trung về sự sắp đặt và những quan hệ giữa những phần kết nối chúng trong một tổng thể Theo đó thiết chế giáo dục đào tạo (nghệ thuật, thể thao) được xác định như một hệ thống, gồm những thành

tố cấu thành và có quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài Việc sử dụng lý thuyết cho phép phân tích và lý giải các vấn đề của các trường đại học nói chung, các trường đào tạo NT-TDTT nói riêng khi phải đối mặt với áp lực bên ngoài dẫn đến những thay đổi trong các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, quản trị và quản lý tài chính của trường để phù hợp với các chính sách công Quan điểm được đưa ra là nhà nước Việt Nam trong bối cảnh khó khăn về ngân sách đang ban hành và thực hiện các chính sách quy định TCTC cho các trường NT-TDTT để đạt được hợp lý hóa nguồn nhân lực, vật chất và tài chính trong GDĐH; thúc đẩy các sáng kiến hình thành việc giảng dạy

và nghiên cứu đại học để phục vụ nhu cầu của xã hội và phát triển kinh tế quốc dân Sự thay đổi ấy dẫn đến sự "phá vỡ tình trạng cân bằng" trước đây và dẫn đến quá trình tái cấu trúc đối với các trường, hình thành một cơ chế vận hành tài chính mới, phù hợp với sự thay đổi môi trường bên ngoài (nhu cầu xã hội, chính sách nhà nước) Ngược lại, chính sách nhà nước sẽ tiếp tục thay đổi cho đến khi nào các trường có được sự cân bằng đảm bảo đi đến sự hợp lý hóa nguồn nhân lực, vật chất và tài chính trong GDĐH, đáp ứng được nhu cầu xã hội và sự phát triển của nền kinh tế

Với tiếp cận hệ thống, đề tài vận dụng tiếp cận mô hình tự chủ GDĐH đa chiều để giải thích xu hướng thay đổi tự chủ GDĐH ở Việt Nam nói chung, giáo dục, đào tạo NT-TDTT nói riêng Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, Việt Nam trong những năm tới sẽ tiếp tục theo đuổi đồng thời cả 4 mô hình : (1) GDĐH công lập miễn phí hoặc với học phí thấp (Expansion of a public sector charging little or no tuition fees); (2) Chi phí đại học được hoàn trả sau khi SV tốt nghiệp (Publicly financed fees repaid through the tax

Trang 15

system once students graduate); (3) Gia tăng học phí kết hợp với mở rộng các chính sách

hỗ trợ (Increased cost sharing combined with higher levels of student aid); (4) Mở rộng

hệ thống đại học tư (Expansion of a private sector of institutions) Và GDĐH sẽ vẫn kết hợp cơ chế đại học tư thục phi lợi nhuận và đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận Sự phát triển mô hình tự chủ GDĐH đa chiều phản ánh khá sát hợp bối cảnh thể chế chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài chính (các nội dung chủ yếu là phân tích việc quản lý

và sử dụng tài chính của các trường đào tạo NT-TDTT theo quy định của Nghị định 43/2006/NĐ-CP; Nghị định 16/2015/NĐ-CP; Nghị định 60/2021/NĐ-CP và quy định của các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Nghị định do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành

- Các phương pháp điều tra, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm (việc thực hiện điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm áp dụng cho các đối tượng bao gồm các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên và một số đối tượng khác có liên quan đến lĩnh vực đào tạo NT - TDTT) Phương pháp này cho phép tìm hiểu những quan điểm, khó khăn, thuận lợi và những sáng kiến giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế

tự chủ tài chính trong các trường đào tạo NT- TDTT hiện nay

- Phương pháp thống kê (tập hợp số liệu thống kê theo các mẫu biểu đánh giá thực hiện kết quả tự chủ về tài chính, sử dụng phương pháp thống kê so sánh giữa các giai đoạn thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính của các trường đào tạo NT- TDTT nhằm làm rõ các nội dung cần minh họa

- Phân tích số liệu thứ cấp (số liệu của các đề tài nghiên cứu đi trước, số liệu thống kê của quốc gia, bộ, ngành, lĩnh vực; báo cáo của các cơ quan, đơn vị; và các nguồn thông tin khác (sách, báo, tạp chí, internet…); các đối tượng văn bản chính sách, pháp lý liên quan đến nội dung thực hiện quyền tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học, đào tạo NT- TDTT (Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định phê duyệt Chiến lược, Quy hoạch, Đề án, Chương trình hành động được ban hành bởi các

cơ quan có thẩm quyền như Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ ngành; các báo cáo tổng kết, sơ kết, phân tích đánh giá của các cơ sở đào tạo NT- TDTT có nội dung liên quan đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Trang 16

Phiếu điều tra được gửi tới 21 CSĐT thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (Phụ lục 14), gồm 02 loại phiếu cho 02 đối tượng:

M u phiếu số 01:

- Khảo sát lãnh đạo, quản lý CSĐT bao gồm: Hiệu trưởng; 01 phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn; 01 cán bộ quản lý/ làm công tác tài chính và 01 cán bộ quản lý/làm văn phòng của CSĐT

Tổng số phiếu: 21 CSĐT x 04 người/đơn vị = 84 phiếu

- Nội dung phiếu điều tra gồm:

+ Nhận thức về CSĐT tự chủ tài chính;

+ Đánh giá khả năng kiểm soát và giải quyết các công việc liên quan đến thực hiện cơ chế TCTC;

+ Về xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ (CTNB);

+ Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

+ Đánh giá tác động của thực hiện cơ chế TCTC

+ Mức độ thông tin của lãnh đạo ĐVSNCL đối với viên chức, người lao động

về việc thực hiện cơ chế TCTC;

+ Về xây dựng và thực hiện quy chế CTNB;

+ Đánh giá tác động của thực hiện cơ chế TCTC

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận, văn bản pháp lý về vấn đề cơ chế tự chủ tài chính để tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án và những vấn đề có liên quan

6 Đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận, luận án làm rõ bản chất của TCTC, cơ chế TCTC; phân tích

các nhân tố ảnh hưởng; tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế; đưa ra 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế TCTC, đặc biệt đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế TCTC

Trang 17

Về mặt thực tiễn, luận án phân tích, đánh giá thực trạng kết quả thực hiện cơ chế

TCTC ở các trường NT- TDTT tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ VHTT&DL quản lý (Nghị định 43/2006/NĐ-CP; Nghị định 16/2015/NĐ-CP; Nghị định 60/2021/NĐ-CP) Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện cơ chế TCTC góp phần nâng cao chất lượng GDĐT đối với các trường NT-TDTD Các giải pháp tập trung vào những khía cạnh sau: Đổi mới cơ chế học phí trong lĩnh vực đào tạo NT-TDTT; Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN đối với các đơn vị đào tạo công lập về NT-TDTT; Đổi mới cơ chế TCTC trong quy định hiện hành của Chính phủ; Đổi mới chính sách đối với người học NT-TDTT Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về TCTC trường ĐHCL

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung của luận án kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở đào tạo nghệ

thuật-thể dục thể thao công lập

Chương 3: Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở cơ sở đào tạo nghệ

thuật-thể dục thể thao công lập

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở cơ sở đào tạo nghệ

thuật-thể dục thể thao công lập

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Cho đến nay, có nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu về vấn đề cơ chế tự chủ tài chính trong hệ thống giáo dục bậc cao (higher education) hay còn gọi

là giáo dục đại học Nội dung nghiên cứu của các học giả thường đề cập đến những khía cạnh chủ yếu sau đây:

1.1.1 Nghiên cứu làm rõ nội hàm khái niệm quyền tự chủ đại học, trong đó

có quyền tự chủ về tài chính

Tiếp cận nguồn gốc khái niệm tự chủ đại học, Barrow và Milburn (1990) xem xét từ nguồn gốc ngôn ngữ cho rằng khái niệm này vốn là hai từ trong ngôn ngữ Hy Lạp là autos (tự động) và nomos (pháp luật) Trong một cái nhìn rộng lớn hơn, G Neave (1988; xem thêm U Felt và Glanz 2003; J.P Olsen 2005) giải thích quyền tự chủ của các tổ chức giáo dục đại học hình thành từ các bối cảnh khác nhau và liên quan đến hệ thống kinh tế, chính trị, lịch sử pháp lý và sự phát triển của bản thân các trường đại học trong các giai đoạn khác nhau

Theo các nhà nghiên cứu, khái niệm tự chủ là một khái niệm đa chiều, bao gồm nhiều khái niệm khác nhau được xem xét Ví dụ:

- Tự chủ học tập hoặc tự chủ học thuật (Ashby và Anderson 1966; Berdahl 1990; Pritchard 1998; Volkwein và Malik 1997; Wasser 1995; Snyder, 2002)

- Quyền tự chủ hành chính (Volkwein và Malik 1997; Wasser 1995)

- Tự chủ biên chế, nhân sự (Volkwein 1986)

- Tự chủ thể chế (Amaral và Magalhães 2001; Ashby và Anderson 1966; Berdahl 1990; Bladh 2007; Frazer 1997; Gornitzka và Maassen 2000; Herbst 2007; Salmi 2007)

- Quyền tự chủ giống như tự chủ đại học (Dill 2001, Ordorika 2003; Moses 2007; Neave 1988; Tapper và Salter 1995)

- Tự chủ tài chính (Cazenave 1992; Rothblatt 2002; Sheehan 1997)

- Quyền tự chủ ngân sách (Volkwein 1986)

- Quyền tự chủ đại học nằm trong 4 loại quyền: tự chủ về tổ chức bộ máy; tự chủ về học thuật; tự chủ về tài chính và tự chủ về biên chế (nhóm học giả Đại học kỹ thuật Moldova)

Trang 19

Thực tế cho thấy, quyền tự chủ của một số trường đại học ở Châu Âu đã được kết hợp với quyền tự do học thuật từ khá sớm trong lịch sử Một trong những giá trị

cơ bản của giáo dục đại học và cộng đồng khoa học ở khu vực này được thừa nhận là

tự do học thuật (Clark 1983; xem thêm Henkel 2005; Tirronen 2005)

Theo nghĩa tự do học thuật, việc giảng dạy giáo dục đại học phải được hưởng việc duy trì tự do học thuật, tự do giảng dạy và thảo luận, tự do trong việc thực hiện nghiên cứu và phổ biến và công bố kết quả của chúng, tự do bày tỏ ý kiến của mình một cách tự do về tổ chức, hệ thống mà họ làm việc, tự do từ kiểm duyệt thể chế và

tự do tham gia vào các cơ quan học thuật chuyên nghiệp hoặc người đại diện Tất cả các nhân viên giảng dạy giáo dục đại học có quyền thực hiện chức năng của mình

mà không phân biệt đối xử của bất cứ loại nào và không sợ đàn áp của nhà nước hoặc các nguồn khác (Unesco: Tuyên ngôn thế giới về giáo dục Đại học cho thế kỷ XXI tầm nhìn và hành động, 1998)

Tự chủ hay tự do về học thuật về bản chất đó là sự chủ động trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường Các trường đại học cần được tự quyết định về ngành học và chương trình đào tạo; các tiêu chuẩn học thuật và chất lượng; số lượng và phương thức tuyển sinh

Tự do học thuật liên quan đến sự tự do cá nhân của các học giả, hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu và xuất bản Vấn đề học tập miễn phí được các nước Châu Âu tin rằng có thể giúp tăng cường việc theo đuổi và áp dụng các giá trị kiến thức, và như vậy cần được hỗ trợ bởi xã hội thông qua sự tài trợ của các viện nghiên cứu và các tổ chức giáo dục Tự do học thuật là hiện thân của sự chấp nhận của các học giả về sự cần thiết khuyến khích sự cởi mở và tính linh hoạt trong công việc học tập, và trách nhiệm của họ với nhau và với xã hội nói chung

Tự chủ tổ chức là một quyền khác quan trọng tạo thành cơ chế tự chủ đại học Trong một số tài liệu giáo dục đại học, khái niệm tự chủ tổ chức còn được gọi là tự chủ về thể chế (xem Ashby và Anderson 1966; Berdahl 1990; Dill 2001, Frazer 1997; Gornitzka và Maassen 2000, Jones 2002, Kogan và Marton 2000; Shattock

2003, Sizer và Mackie 1995, Neave và VanVught 1994) Khái niệm tự chủ tổ chức được sử dụng rộng rãi và có thể được tìm thấy thường xuyên hơn tự chủ tài chính đặc biệt là trong các tài liệu giáo dục đại học

Quyền tự chủ thể chế của các trường đại học được phân tích khá công phu bởi Ashby và Anderson (1966), người đưa ra sáu thành phần thiết yếu của một trường đại học tự chủ: (1) Tự do tuyển chọn sinh viên; (2) Tự do tuyển dụng nhân viên; (3)

Trang 20

Tự do để thiết lập các tiêu chuẩn riêng; (4) Tự do để quyết định ai cấp bằng; (5) Tự

do để thiết kế chương trình giảng dạy; (6) Tự do để quyết định cách thức phân bổ thu nhập nhận được từ các nguồn tư nhân hoặc nhà nước

Khác với quan điểm trên, Frazer (1997) cho rằng tự chủ tổ chức bao gồm những yếu tố quy định sau: (1) Tình trạng pháp lý của tổ chức; (2) Thẩm quyền để hoạt động như một tổ chức giáo dục đại học; (3) Nhiệm vụ; (4 ) Quản trị; (5) Quyết định tài chính; (6) Tình trạng sử dụng lao động; (7) Các vấn đề học thuật

Theo quan điểm của Frazer quyền học tập, việc làm và quyết định tài chính tương tự như các loại được sử dụng bởi Ashby và Anderson, và các khu vực học tập quyền hạn và nhiệm vụ tương tự như quyền tự chủ thực chất của Berdahl (1990)

Theo quan điểm của Felt và Glanz (2003), mỗi khía cạnh của quyền tự chủ tổ chức có thể bao gồm một số nhóm, và trong mỗi nhóm có phạm vi bổ sung khác nhau Bổ nhiệm cán bộ là một ví dụ Trong một tổ chức giáo dục đại học, các nhân viên bao gồm một loạt các nhóm và trong mỗi nhóm, các nhân viên có thể có toàn thời gian hoặc bán thời gian vĩnh viễn hoặc tạm thời

Berdahl (1990) chia quyền tự chủ tổ chức thành 2 loại: tự chủ nội dung chương trình và tự chủ thủ tục Trong cách tiếp cận của mình, Berdahl cho rằng tự chủ là sức mạnh của tổ chức để xác định phương tiện mà các mục tiêu và chương trình của mình sẽ được theo đuổi hoặc thực hiện mục tiêu và chương trình giảng dạy, đào tạo Volkwein và Malik (1997) đã áp dụng cách giải thích Berdahl để nghiên cứu các vấn đề tự chủ trong học tập và tự chủ thủ tục trong các vấn đề hành chính của một số trường đại học

Về khái niệm tự chủ tài chính, có nhiều cách định nghĩa và giải thích khác nhau Các tác giả cuốn sách "Tài chính trong giáo dục đại học” (Yeager, Nelson, Potter, Weidman và Zullo 2001) mô tả khái niệm này như vấn đề nguồn lực, chi phí giáo dục đại học, lập kế hoạch chiến lược và quản lý tài chính

Theo Anderson, tự chủ về tài chính về bản chất đó là sự chủ động về việc đảm bảo các nguồn lực bên trong phục vụ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường Các trường đại học cần được tự quyết định và chủ động về khai thác, tìm kiếm các nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho tài sản tương lai; và cân đối các nguồn tài chính thu và chi nhằm đảm bảo hệ thống tài chính minh bạch, tuân thủ pháp luật, và không vụ lợi

Một số nghiên cứu khác xem xét vấn đề tự chủ tài chính như là tự chủ về các nguồn lực quan trọng để duy trì một tổ chức hoạt động - các nguồn tài nguyên Các

Trang 21

nguồn tài nguyên có thể gồm cả hai loại là tiền tệ và phi tiền tệ Theo Slaughter và Leslie (1997, xem thêm De Witt và Verhoeven 2000) các nguồn tài nguyên quan trọng trong các tổ chức giáo dục đại học bao gồm cơ sở vật chất của đơn vị, nhân viên, sinh viên, các tiện ích và tiền bạc Một yếu tố trong các loại này còn được nghiên cứu khám phá bởi Ashby và Anderson (1966); hai nhà nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề tự chủ trong cách thức phân bổ doanh thu từ các nguồn công cộng

và tư nhân của trường đại học Bên cạnh đó, một số nghiên cứu còn cho rằng yếu tố quan trọng trong thực hiện cơ chế tự chủ tài chính là gây quỹ công cộng và tư nhân

Barney (1991) khi nghiên cứu nguồn lực tài chính của các trường đại học đã chia thành bốn loại liên quan đến cơ chế tự chủ: (1) Nguồn lực tài chính (ví dụ như vốn chủ sở hữu, vốn vay, lợi nhuận giữ lại , v.v ); (2) Tài nguyên vật chất (ví dụ như máy móc, nhà xưởng, cơ sở hữu hình khác); (3) Nguồn nhân lực (ví dụ như kinh nghiệm, trí tuệ, đào tạo, đánh giá, và trí tuệ liên kết với một đơn vị như doanh nghiệp chẳng hạn); (4) Nguồn lực tổ chức (ví dụ như làm việc theo nhóm, tin cậy , tình bạn và danh tiếng của nhóm cá nhân liên kết với một cơ sở đơn vị)

Theo Sizer và Mackie (1995), tự chủ tài chính bao gồm những vấn đề tài chính liên quan đến các nguồn tài nguyên của cơ sở giáo dục đại học như huy động vốn, phân bổ và sử dụng (nhân lực, vật chất) nguồn lực tài chính và phi tài chính Những quy định tự chủ về tài nguyên có thể nhóm lại theo hai khía cạnh: (1) Nguồn lực tài chính: vốn ngân sách nhà nước, vốn từ bên ngoài, kinh phí từ khu vực tư nhân hoặc quỹ từ các nguồn khác so với chính phủ, vốn vay, quỹ từ hoạt động tạo thu nhập, học phí, lợi nhuận hàng năm; (2) Nguồn lực phi tiền tệ: nhân viên, bài viết, cấu trúc học, số lượng sinh viên, cơ sở xây dựng, danh tiếng, địa vị

Cazenave (1992) đưa ra cách tiếp cận tự chủ tài chính của cơ sở đại học như

là nguồn lực tài chính và không phải bằng tiền - công quỹ, nhân viên, bài viết và các

cơ sở xây dựng

McDaniel (1996) đo các khía cạnh tự chủ tài chính là khả năng vay tiền trên thị trường vốn; sự tự do ký kết hợp đồng nghiên cứu và quyền giữ lợi nhuận (trái ngược với chuyển giao cho chính phủ)

Trong nghiên cứu của Dill (2001), người ta thấy rằng để duy trì vị thế cạnh tranh của mình, các cơ sở giáo dục đại học thường yêu cầu các quyền tự chủ quan trọng như quyền phân bổ kinh phí một lần; quyền tự chủ để mua các sản phẩm hàng hóa và ký kết hợp đồng; quyền của cơ quan để thiết lập và duy trì học phí; quyền tự chủ để kiểm soát nguồn nhân lực của nhà trường, và quyền sở hữu và quản lý cơ sở vật chất

Trang 22

Jongbloed (2000) đứng trên quan điểm của việc quản lý quỹ đại học, đã định nghĩa quyền tự chủ tài chính đại học như là quyền có kinh phí trọn gói, quyền thực hiện nhiệm vụ của các cán bộ, giaos viên nhà trường, quyền quyết định tài sản và cơ

sở hạ tầng vật chất, quyền quyết định học phí, quyền mua lại và chi tiêu quỹ thu được từ khu vực tư nhân

Glanz đã ví quyền tự chủ đại học giống như tự chủ kinh doanh Theo tác giả,

tổ chức giáo dục đại học có thể duy trì quyền tự chủ bằng cách thu hút các nguồn vốn đa dạng và các hoạt động của tổ chức này ngày càng có xu hướng chuyển sang

mô hình quản lý kinh doanh (Felt và Glanz 2003)

Một số nhà nghiên cứu (Volkwein năm 1986, cũng thấy Volkwein & Malik năm 1997) đưa ra quan điểm cho rằng quyền tự chủ đại học cần mang tính linh hoạt tài chính Tính linh hoạt tài chính cần coi như là một phần của quyền tự chủ và được đo bằng các yếu tố như: hình thức ngân sách, thẩm quyền giữ lại và kiểm soát các khoản thu học phí; quyền giữ lại và kiểm soát các khoản thu khác; sự tồn tại của quy định khung bên ngoài cho đội ngũ giảng viên và cho các nhân viên khác; sự tự do kiểm toán chi tiêu; các quy tắc riêng cho số dư kinh phí và thẩm quyền về bảng lương và mua sắm hàng hóa

Theo Burke (2002), Sheehan (1997), Williams (1984), Slaughter và Leslie (1997), hệ thống tài chính với các quy tắc và cơ chế quản lý tài nguyên được phân

bổ cho các cơ sở giáo dục đại học là một trong những công cụ quan trọng để tăng cường hoặc hạn chế tự chủ tài chính Thu nhập có thể đến từ nhà nước hoặc từ các nguồn khác Kinh phí công có thể được chia thành tái phát chi tiêu và đầu tư chi tiêu Cách phân biệt kinh phí cho các mục đích nhất định sẽ thu hẹp quyền tự chủ tài chính của một tổ chức giáo dục đại học Cơ chế tự chủ trong đó kinh phí được phân

bổ và các hình thức quản lý và sử dụng của quỹ có thể có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hành vi của các tổ chức giáo dục đại học

Như vậy, quan điểm tự chủ tài chính gắn với tự chủ nguồn tài nguyên có liên quan đến: (1) Quyền tự chủ trong việc mua lại và phân bổ nguồn lực tiền tệ (Sheehan năm 1997; Rothblatt 2002; Ordorika 2003); (2) Quyền tự chủ trong việc mua lại và phân bổ nguồn lực tài chính cùng với quyền tự chủ trong việc mua lại và phân bổ nguồn lực phi tiền tệ (Cazenave năm 1992, Mc Daniel 1996)

Quan điểm tự chủ tài chính tài nguyên khác với quan điểm tự chủ tài chính thực thể (Cazenave năm 1992) Quan điểm thực thể đề cập đến tình trạng pháp lý và quyền hạn tài chính của một tổ chức giáo dục đại học như một thực thể tự chủ riêng biệt theo đúng nghĩa của nó

Trang 23

Theo nhận xét của Vuokko Kohtamäki (2009), tự chủ tài chính có thể được nghiên cứu từ những quan điểm hẹp và rộng Tuy nhiên, không có cách tiếp cận hẹp hoặc rộng duy nhất về tự chủ tài chính Cách tiếp cận hẹp tập trung vào quan điểm tài nguyên hoặc trên quan điểm thực thể Cách tiếp cận rộng đưa cả hai quan điểm vào xem xét mà không áp đặt hạn chế về nội dung của chúng

1.1.2 Nghiên cứu quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ của các trường đại học trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường

Một số tác giả lựa chọn chủ đề nghiên cứu về quá trình chuyển đổi tự chủ của các trường đại học trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường Arthur M Hauptman (2006) tập trung nghiên cứu các xu hướng

và vấn đề tài chính cho giáo dục đại học Ames J Duderstad (2007), Philip G Albach (2007) bàn luận về những thách thức và vai trò mới của các trường đại học trong thế kỷ 21 Kmineva (2009) xem xét giải pháp tăng quyền tư chủ tài chính như một lối thoát đưa các trường đại học châu Auu thoát khoit cuộc khủng hoảng hiện nay Henry M Levin, Dong Wook Jeong, Dongshu Ou (2009) nghiên cứu tìm hiểu con đường phát triển của các trường đại học trở thành các trường đẳng cấp quốc tế

Jones (2002, 229) cho rằng các tổ chức giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay phải đối phó với các vấn đề chính sách mới như sở hữu trí tuệ, các mối quan hệ mới với ngành công nghiệp, các hình thức mới của việc gây quỹ và phát triển sắp xếp và các vấn đề chính sách chung liên quan đến tương tác với xã hội Ranh giới quyền lực truyền thống dường như không phải luôn luôn phù hợp với bối cảnh chính sách mới của các tổ chức giáo dục đại học

Trong một cuốn sách mang tựa đề “Giáo dục đại học trong thế giới đang phát

triển, đang thay đổi bối cảnh và sự hồi đáp” được Praeger xuất bản năm 2002, hai

tác giả David W Chapman và Ann E Austin đã trình bày một cách khá thuyết phục

5 vấn đề lớn mà hầu hết các trường đại học, cao đẳng phải đối mặt trên con đường phát triển hiện nay Đó là tìm kiếm một sự cân bằng mới trong các mối quan hệ giữa trường đại học với chính phủ; đối phó với vấn đề tự chủ; mở rộng quản lý trong khi vẫn giữ cổ phần, nâng cao chất lượng và kiểm soát chi phí; giải quyết những áp lực mới về trách nhiệm; và hỗ trợ người học tập trong các vai trò mới

1.1.3 Nghiên cứu so sánh cơ chế, chính sách tự chủ đại học giữa các trường đại học và giữa các quốc gia

Một số nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi, những bất cập về cơ chế, chính sách tự chủ tài chính giáo dục đại học của quốc gia; so sánh cơ chế tự chủ tài chính giữa các

Trang 24

trường đại học và chính sách tự chủ tài chính giữa các quốc gia trên thế giới

Những nghiên cứu điển hình về phương diện này là các báo cáo so sánh của các học giả trong các nước khu vực Châu Âu Trong công trình nghiên cứu mang tên

“So sánh tự chủ hành chính và tài chính của các tổ chức giáo dục đại học trong 7

nước EU" xuất bản năm 2008, Michael Mitsopoulos và Theodore Pelagidis đã tiến

hành phân tích so sánh cơ chế, chính sách tự chủ của các nước Đức, Bỉ, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Italia, Pháp và Anh

Những nghiên cứu khác có “Quá trình chuyển đổi tư nhân hoá, phân quyền

hoá và sự tự chủ của các trường đại học trong thời kỳ quá độ ở Cộng hoà Liên bang Nga” (xem tài liệu tham khảo tại Hội thảo Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các

trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam, năm 2009), “Tự chủ đại học, nhà nước và

những thay đổi xã hội ở Trung Quốc” của Su Yan Pan do Đại học Hồng Kông xuất

bản năm 2009; “Khủng hoảng trong các trường đại học công lập ở Malaysia” của

Aliran Monthly (xem Bản tin Giáo dục Quốc tế và So sánh số 1/2010 của Trường

Đại học Hoa Sen), “Quan niệm của người Mỹ về giáo dục đại học như một dịch vụ

trong giáo dục xuyên biên giới” của Nguyễn Xuân Thảo (trên Tạp chí Thông tin

Giáo dục Quốc tế số 5/2009)…

Các tác giả Phân tích chính sách giáo dục của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) xuất bản năm 2003 dựa trên quan điểm quốc tế cung cấp thông tin cập nhật, đề xuất các sáng kiến để thay đổi tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học

Báo cáo của Ban Trung ương tư vấn Giáo dục (CABE) thuộc Ủy ban Về Quyền tự chủ của các tổ chức giáo dục đại học Ấn Độ năm 2005 (Report of the Central Advisory Board of Education (CABE) Committee On Autonomy of Higher Education Institutions) đã trình bày khá toàn diện sự thay đổi chính sách tự chủ trong nền giáo dục đại học ở Ấn Độ

Vuokko Kohtamäki (2009) đi sâu phân tích sự thay đổi trong định hướng chính sách tự chủ tài chính đối với giáo dục đại học của Phần Lan, đặc biệt là chính sách tiếp cận phụ thuộc nguồn tài nguyên của giáo dục đại học Benjamin N Nyewusira và Chituru Nyewusira (2013) chỉ ra những bất cập trong chính sách về tự chủ tài chính đại học của Nigeria

Trong tham luận mang tên “Tự chủ chuyên nghiệp trong các trường đại học Anh và Hà Lan: các Ảnh hưởng của cải cách trong thực hành nghiên cứu của các trường đại học nghiên cứu công lập”, Liudvika Leisyte đã cho người đọc thấy những

Trang 25

điểm tương đồng và khác biệt của chính sách tự chủ tài chính giáo dục đại học giữa hai quốc gia Anh và Hà Lan Theo tác giả Liudvika Leisyte, nhờ có sự cải cách giáo dục và chính sách tự chủ tài chính mà Anh và Hà Lan đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong giáo dục đại học, trở thành những nước đi đầu trong thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính

Nghiên cứu của Laura de Dominicis, Susana Elena Pérez, Ana Zubieta (European Union, 2011) chỉ ra ảnh hưởng của cơ chế, chính sách tự chủ của các quốc gia châu Âu đã dẫn đến mức độ đa dạng hóa cao trong cơ cấu nguồn vốn

Fernández-và chia sẻ kinh phí cạnh tranh giữa các trường đại học châu Âu

Thorsten Nyboml (2008) cho rằng triển vọng chính sách phát triển giáo dục đại học của các nước bắt buộc phải bước trên con đường trao quyền tự chủ cho trường đại học

1.1.4 Nghiên cứu vấn đề tự chủ tài đại học và tự chủ tài chính trong mối quan hệ giữa trường đại học với Nhà nước

Có khá nhiều công trình tập trung nghiên cứu quyền tự chủ đại học trong quan

hệ với nhà nước (ví dụ như Berdahl 1990, Dill 2001, Fisher 1988, Jongbloed et al 2000, Kogan và Marton 2000, Murasawa 2002, Ordorika 2003, Van Vught 1994, 1997b ) Các nghiên cứu này đề cập đến tầm quan trọng và ý nghĩa của cơ quan nhà nước đối với quyền tự chủ của giáo dục đại học Các tác giả lý giải rằng quyền tự chủ của một tổ chức giáo dục đại học được giới hạn trong phạm vi các thông số khung rộng rãi của nhà nước và cơ chế được tạo ra bởi các nguồn tài trợ của các cơ quan cung cấp (Tapper và Salter năm 1995, Bladh 2007, George và McAllister 995, Moses 2007, Sizer và Cannon

1999, Leslie 1997) Do đó, các tổ chức giáo dục đại học có thể kiểm soát công việc của mình trong khi hoạt động trong phạm vi các thông số khung được xác định trực thuộc

cơ quan trung ương quy định Các thông số khung thiết lập mức độ các nguồn lực cho giáo dục đại học, đảm bảo rằng các quyết định tài trợ được gắn liền với kết quả của các quy định trách nhiệm Với các tổ chức giáo dục đại học, điều này có nghĩa là các đơn vị phải có những lựa chọn trong phạm vi mà bên ngoài áp đặt, trong đó có thể phân biệt đối xử chống lại một số quyết định đồng thời khuyến khích những người khác thực hiện

nó (Tapper và Salter , 1995)

Trong một nghiên cứu so sánh về mối quan hệ giáo dục nhà nước và các trường đại học giữa Anh, Thụy Điển và Na Uy, Kogan và Marton (2000) đã làm rõ vai trò của nhà nước đang thay đổi trong bối cảnh của sự chuyển đổi sang một xã hội tri thức Sự phát triển của cơ chế chỉ đạo nhà nước trong các nước Châu Âu trong giai đoạn 1975-

Trang 26

2000 cho thấy một sự kết hợp mô hình chỉ đạo khác nhau Xu hướng chung trong chỉ đạo là hướng tới một sự kết hợp giữa có chế quản lý thị trường và nhà nước

Ở một số nước, sự chỉ đạo nhà nước phản ánh rõ nét trong vấn đề kiểm soát chất lượng giảng dạy và nghiên cứu (ví dụ Hà Lan); một số nước tập trung được vào hợp đồng thỏa thuận giữa cơ quan nhà nước và cơ sở giáo dục đại học (ví dụ Anh, Phần Lan) Các quốc gia khác cho phép trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học nhưng vẫn giữ lại quyền lựa chọn của nhà nước để gây ảnh hưởng và sử dụng nó khi thấy phù hợp Sự can thiệp của nhà nước diễn ra một cách gián tiếp hơn và phức tạp hơn so với trong quá khứ (Felt và Glanz 2003, Scott và Hood 2004)

Nghiên cứu của Slaughter và Leslie (1997) cũng cho thấy rằng nhà nước đang

có những chính sách thay đổi cách thức tài trợ nhằm làm cho các trường ngày càng cạnh tranh hơn Nguồn vốn của các trường học Châu Âu có xu hướng ngày càng trở nên đa dạng đi cùng với sự tăng cường quyền tự chủ

Tiếp cận vấn đề quản lý tự chủ giáo dục đại học của quốc gia thông qua quyền được sử dụng nguồn thu để tự trả lương cho giáo viên của trường, Hsu Yu- Ling Flora (2009) đã khảo sát nghiên cứu tại 167 trường đại học ở khu vực Châu Á Ông phát hiện một nguyên nhân cơ bản dẫn đến chính sách tự chủ hạn chế của các trường đại học ở Đài Loan chính là kiểu xây dựng chính sách kiểm soát từ trên xuống

Cơ chế chính sách thực hiện từ trên xuống mang đậm yếu tố văn hóa truyền thống trong các quốc gia Châu Á Ngược lại với Đài Loan và Malaysia, Hàn Quốc

và Nhật Bản đã thoát khỏi mô hình quản lý từ trên xuống, các chính sách giáo dục ngày càng thể hiện vai trò trung tâm của các trường đại học Tại Hàn Quốc, Đại học Quốc gia Seoul đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo trong chính sách quốc gia

về doanh nghiệp hóa các trường đại học Còn ở Nhật Bản, các trường đại học quốc gia chứ không phải chính phủ trở thành lãnh đạo trong cơ chế tự đánh giá cho giáo dục đại học công lập Xu hướng này cho thấy các tổ chức giáo dục đại học bắt đầu lãnh đạo trong chính sách quốc gia và những người lãnh đạo các trường đại học là thành phần chính trong những chính sách mà họ tham gia

Thực tế cho thấy, việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cần phải được tiến hành đồng thời cả cơ chế tự chủ về tổ chức, biên chế và học thuật Trước tình hình các quốc gia kêu gọi đẩy mạnh cơ chế tự chủ cho các trường đại học, Frank Ziegele đưa ra cảnh báo về khả năng các chính sách tự chủ không thành công bởi vấn đề quyền tự chủ giả hiệu Trong công trình “Tự chủ tài chính của các tổ chức giáo dục đại học: Việc cần thiết và thiết kế của một thể chế” (Financial Autonomy of Higher

Trang 27

Education Institutions: The Necessity and Design of an Institutional Framework, Centrum für Hochschulentwicklung, 1998), ông cho rằng để đảm bảo đảm bảo quyền tự chủ thực tế, các quốc gia cần thực hiện 3 nhiệm vụ, đó là: (1) Bảo đảm quyền tự chủ thực tế; (2) Tạo ra các ưu đãi thích hợp cho các trường đại học ;(3) Hợp pháp hóa các quyết định độc lập

Theo quan điểm của Frank Ziegele, mô hình tài chính dựa trên công thức cải cách thể chế Lower Saxony ở Đức là phù hợp để đảm bảo không xảy ra quyền tự chủ tài chính giả hiệu Trong đó, mấu chốt của công thức này là nhà nước thực hiện cấp tài trợ cho các trường đại học 1 lần thay thế cho phương thức kiểm soát tài chính hiện có

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay, công tác nghiên cứu, đánh giá quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong giáo dục đại học và đào tạo ở các trường ngày càng nhận được sự quan tâm từ phía chính phủ, các Bộ ngành và tổ chức nghiên cứu trong nước Các phương diện chủ yếu được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm

làm rõ là: Nghiên cứu phân tích những nhân tố tác động bên ngoài đến quá trình cải

cách cơ chế tự chủ trong giáo dục đại học; Nghiên cứu làm rõ khái niệm quyền tự chủ và trách nhiệm về mặt tài chính trong các trường đại học và cao đẳng của Việt Nam hiện nay; Nghiên cứu bàn luận mô hình tự chủ đại học ở Việt Nam

Các tác giả tiêu biểu nghiên cứu về các chủ đề này gồm có Lâm Quang Thiệp (2005), David Dapice (2005), Hoàng Tuy (2008), Jim Cobbe (2008), Lee Little

Soldier (2008) Nguyễn Duy Tạo (2000) đã nghiên cứu khá hệ thống nội dung cơ chế

quản lý tài chính đối với các trường đào tạo công lập, từ quy trình lập dự toán đến phân bổ chi tiêu, cơ chế giám sát Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là cơ chế quản lý tài chính ở các trường công lập nói chung nên tác giả không phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cho các trường công lập với mô hình riêng với những đặc thù nhất định

Tác giả Trần Thị Thu Hà (1993) phân tích về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Tuy nhiên, một số nội dung nghiên cứu

và kết luận không còn phù hợp bởi sau 15 năm tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam đã có nhiều thay đổi và những yếu tố tác động đến cơ chế quản lý tài chính và quản lý giáo dục cũng có nhiều khác biệt

Tác giả Đặng Văn Du (2004) đã phân tích về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học Tác giả đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tư tài chính và

Trang 28

đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí được xây dựng Tác giả cũng đã đề xuất

hệ thống giải pháp tương đối toàn diện và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu

tư tài chính đại học ở nước ta

Tác giả Lê Phước Minh (2005) nghiên cứu chính sách tài chính cho GDĐH Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho GDĐH trong và ngoài nước, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH ở nước ta

Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) với đề tài “Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam.” đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục, xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính

xã hội hóa giáo dục Phân tích rõ thực trạng xã hội hóa giáo dục và những tác động tích cực, hạn chế của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua Đồng thời tổng kết một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính có tính khả thi nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện tốt hơn công bằng và hiệu quả trong phát triển giáo dục, cụ thể:

Thứ nhất: bỏ quy định giới hạn trần về tổng thu nhập hàng năm trả cho người

lao động trong các cơ sở giáo dục công lập thực hiện cơ chế tự chủ;

Thứ hai: cụ thể hóa quy định trách nhiệm các cơ sở giáo dục công lập tự đảm

bảo nguồn để thực hiện khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ nhà nước khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu

Tác giả Nguyễn Anh Thái (2008) với đề tài luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học của Việt Nam.” đã đề cập đến những ảnh hưởng của cơ chế tài chính đối với kết quả hoạt động của các trường đại học của Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam, như:

Thứ nhất: tạo dựng khung pháp lý về quản lý giáo dục đại học một cách đồng bộ; Thứ hai: Cải tiến việc phân bổ và cấp phát NSNN;

Thứ ba: Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trường đại học công lập; Thứ tư: Xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài

chính cho phát triển giáo dục đại học công lập;

Trang 29

Thứ năm: Tăng cường phân cấp quản lý tài chính theo hướng tăng tính tự chủ,

tự chịu trách nhiệm xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập;

Thứ sáu: Xây dựng chính sách công về tài chính giáo dục đại học công lập;

Tác giả Nguyễn Thu Hương (2011) với nghiên cứu “Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường Đại học công lập.” đã chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong khi cơ chế thu học phí vẫn chưa đồng bộ, các trường đại học vẫn chưa được tự chủ mức thu học phí đối với các chương trình đào tạo phổ thông (vẫn phải thực hiện mức thu trần đối với học phí)

Tác giả Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012) nghiên cứu chính sách học phí trong bối cảnh đổi mới cơ chế tài chính, hướng tới nền giáo dục đại học tiên tiến, tự chủ Theo các tác giả, việc áp mức trần học phí theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ- CP của Chính phủ tại các trường được giao cơ chế tự chủ về tài chính là chưa hợp lý Các tác giả đề xuất, đối với các ngành nghề có khả năng xã hội hóa cao (ví dụ tài chính, ngân hàng, thương mại v.v ), nên xây dựng lộ trình cho phép các cơ

sở đào tạo tự xác định mức học phí, đảm bảo tự cân đối kinh phí đào tạo Ngân sách nhà nước tiết kiệm được từ những ngành nghề này chuyển sang góp phần thực hiện

cơ chế nhà nước đặt hàng đối với các ngành nghề đào tạo ít có khả năng xã hội hóa (ví dụ, khoa học cơ bản, nghệ thuật, điện hạt nhân, đào tạo giáo viên sư phạm v.v ), với mức giá đặt hàng được tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo

Một số công trình đề cập đến mô hình giáo dục đại học ngoài công lập, đại học

tư thục, đại học dân lập coi đây như mô hình tự chủ cao nhất về quản trị đại học và tự chủ tài chính Tuy nhiên, ở Việt Nam, mô hình đại học này cũng còn những vấn đề bất

cập trong việc thực hiện quyền tự chủ Lâm Quang Thiệp đã có bài viết sâu sắc về “Sự

phát triển Đại học tư ở Việt Nam và Trung Quốc” Bài viết mô tả quá trình hình thành

và phát triển hệ thống giáo dục đại học tư củaViệt Nam từ năm 1988 đến nay, sau khi Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới kinh tế xã hội, từ bỏ mô hình kế hoạch hóa tập trung, đi theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với hệ thống này cũng được phân tích tỷ mỉ Nhà nước muốn khai thác sự đóng góp của khu vực ngoài công lập, nhưng hệ thống luật lệ để đảm bảo phát triển hệ thống đó không đầy đủ và thiếu nhất quán, tình trạng đó gây khó khăn cho việc phát triển ổn định hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập

Ngoài ra, có một số tác giả có nghiên cứu phân tích, đánh giá chính sách giáo

dục và đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế tự chủ tài chính ở các trường đại học

Trang 30

như Báo cáo “Giáo dục Việt Nam - Đầu tư vào cơ cấu tài chính” (Bộ GDĐT công bố vào tháng 10/2007), “Đề án Đổi mới cơ chế tài chính Giáo dục 2009-2014” (đề án đã được Bộ Giáo dục- Đào tạo trình xin ý kiến Quốc hội ngày 30/5/2008), “Tự chủ đại

học bao gồm tự chủ tài chính” của Nguyễn Thiệu Tống, “Tự chủ tài chính: yếu tố quan trọng trong việc mở rộng quyền tự chủ toàn diện đối với các trường đại học”

của tác giả Nguyễn Thanh Tuyền, “Một số cách làm phong phú ngân sách đại học” của Võ Tòng Xuân (công bố trong hội thảo “Quản lý nhà nước và tự chủ tài chính

trong các trường đại học” năm 2001) Các bài nghiên cứu “Những xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học” của Lê Văn Hảo, “Mấy suy nghĩ về nguồn tài chính giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới” của

Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Yến Nam (công bố trong kỷ yếu Hội thảo “Giáo dục

So sánh lần 2: Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, năm 2008) Nghiên cứu trường hợp cụ thể của một trường đại học thực hiện chính sách của nhà nước về

cơ chế tài chính có bài của Nguyễn Văn Khôi mang tựa đề “Vấn đề tự chủ - tự chịu

trách nhiệm ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội” (in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học

"Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam"

năm 2009)

Bên cạnh những công trình nghiên cứu, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, một số hội thảo khoa học đáng chú ý đã bàn luận trực tiếp về vấn đề cơ chế tự

chủ, trong đó nhấn mạnh đến cơ chế tài chính trong giáo dục đại học như hội thảo “Quản

lý nhà nước và tự chủ tài chính trong các trường đại học” do Viện nghiên cứu Giáo dục

và trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh tổ chức tháng 12 năm 2001, hội thảo

“Giáo dục đại học và việc gia nhập WTO” do Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục

tổ chức tháng 11 năm 2005, hội thảo "Giáo dục so sánh lần 1: Phát triển giáo dục so sánh

ở Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức năm 2007, hội thảo “Giáo dục So sánh lần 2: Giáo dục Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” do Viện Nghiên cứu giáo

dục - Trường đại học Sư phạm Tp.HCM tổ chức vào tháng 5/2008, hội thảo “Vấn đề tự

chủ, tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” do Ban Liên lạc

các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức tại Tây Nguyên tháng 10 năm

2009, hội thảo “Phân quyền trong giáo dục đại học: quan điểm toàn cầu và ý nghĩa đối

với Việt Nam và khu vực” do Trung tâm Đào tạo khu vực của SEAMEO tại Việt Nam tổ

chức trong tháng 7 năm 2010… Các hội thảo này không chỉ có các nhà khoa học trong nước mà còn cả các nhà khoa học quốc tế tham gia

Trang 31

Gần đây nhất, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với

các cơ sở giáo dục đại học công lập thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả” do Bộ Tài chính, Chương trình Phát triển Liên Hiệp

Quốc (UNDP) và Dự án hỗ trợ phân tích chính sách tài chính tổ chức Tại Hội thảo, lãnh đạo nhiều trường đại học được tự chủ về tài chính đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình về những bó hẹp khi được giao tự chủ

Nhiều tác giả khi thực hiện nghiên cứu, công bố kết quả khảo sát cơ chế tài chính giáo dục đã viện dẫn, phân tích một số tài liệu quan trọng của Quốc hội, Chính phủ,

Bộ, ngành đăng tải thông tin liên quan đến vấn đề xây dựng cơ chế tự chủ tài chính giáo dục đại học ở Việt Nam Đó là những văn bản mang tính pháp lý thể hiện quan điểm, đường lối chính sách của nhà nước đối với vấn đề xây dựng cơ chế tài chính đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp Trong chính sách tài chính đại học, vấn đề xây dựng phương pháp tính học phí là một vấn đề được thảo luận sôi nổi gần đây

Bên cạnh đó còn có một số ý kiến phản biện cơ chế giao quyền tự chủ tài chính cho giáo dục đại học đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng như một số bài báo (trên các báo Sài Gòn- Giải phóng, Tiền Phong, Xã luận, Hà Nội mới, Thời báo Kinh tế Sài Gòn) đã chuyển tài quan điểm nhiều chiều của dư luận xã hội về quá trình đổi mới cơ chế tự chủ giáo dục đại học Các bài viết trên phương tiện truyền thông đại chúng gần đây tập trung phản biện chính sách cơ chế tự chủ tài chính với những vấn đề giao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học nên dựa vào nguồn thu học phí; hạn chế bao cấp đối với giáo dục đại học; thực hiện lộ trình thực hiện giao quyền tự chủ; định hướng giao quyền tự chủ trong tuyển dụng giáo viên, chỉ tiêu tuyển sinh, quy định mức học phí; trao cơ chế tự chủ tài chính đặc thù cho một số trường đại học tiên tiến

1.3 Khoảng trống nghiên cứu của các công trình đã công bố

Qua tiếp cận, nghiên cứu các công trình đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cứu có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Một là, hầu hết các công trình nghiên cứu bàn về vấn đề quản lý tài chính, cơ

chế TCTC đối với các trường ĐHCL nhìn từ phía những quy định của Nhà nước đối với cơ chế tự chủ tài chính trong các trường ĐHCL, chưa đi sâu nghiên cứu, làm rõ cách tiếp cận vấn đề cơ chế TCTC ở các trường đào tạo NT-TDTT công lập và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế TCTC ở các trường này

Hai là, các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính, cơ chế TCTC của Nhà

nước đối với các trường ĐHCL đều khẳng định việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu

Trang 32

trách nhiệm đối với các trường ĐHCL đã có tác dụng tích cực đến công tác quản lý tài chính, cơ chế TCTC trong các trường ĐHCL ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia đang phát triển: nguồn thu về hoạt động sự nghiệp trong các trường ĐHCL tăng so với giai đoạn trước khi chưa thực hiện chính sách mở rộng quyền tự chủ nói chung TCTC nói riêng; việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính được các trường ĐHCL chủ động linh hoạt hơn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đều khẳng định quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính của Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế Chính sách thu học phí nhìn chung còn bất cập: mức thu không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động thường xuyên, thiếu công bằng, mô hình quản lý tài chính, cơ chế TCTC trong các trường ĐHCL ở Việt Nam vẫn theo mô hình quản lý truyền thống, chưa sử dụng những công

cụ quản lý hiện đại theo mô hình công ty hoạt động phi lợi nhuận, chưa xây dựng được tiêu chí, đánh giá hiệu quả của hoạt động tài chính nói riêng đối với các trường ĐHCL Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa cơ sở

lý luận về cơ chế TCTC ở các trường đào tạo NT-TDTT công lập

a là, các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính, cơ chế TCTC của Nhà

nước đối với các trường ĐHCL đã chú trọng phân tích mối quan hệ giữa cơ chế TCTC nhà nước với thực tiễn quản lý tài chính, cơ chế TCTC của các trường ĐHCL, tuy vậy vẫn chưa thực sự đậm nét, chưa đánh giá kết quả thực hiện cơ chế TCTC ở các trường đào tạo NT-TDTT công lập và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chế TCTC các trường NT-TDTT

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận án đã tổng hợp các tài liệu liên quan đến nội dung của luận án, những nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu để phân tích những khía cạnh mà các đề tài nghiên cứu đi trước đã nghiên cứu và những khoảng trống từ những nghiên cứu này trên cơ sở đó luận án tìm ra những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu này để đảm bảo tính kế thừa, tính phát triển các nghiên cứu

đi trước Tuy nhiên, để đảm bảo tính logic trong luận án, tiếp theo luận án cần đi phân tích nội hàm các khái niệm công cụ của đề tài để làm nền tảng lý luận cho các nghiên cứu thực tiễn tiếp theo

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP

2.1 Cơ sở đào tạo nghệ thuật - thể dục thể thao công lập

2.1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập

2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập

Khái niệm:

Theo Điều 9 Luật viên chức năm 2010 thì đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước

Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau:

- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền

ở Trung ương hoặc địa phương

- Được nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nước quy định

- Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nước quy định

- Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSNCL bao gồm:

- Trong lĩnh vực Văn hoá Nghệ thuật gồm các Đoàn Nghệ thuật: Ca múa Nhạc kịch, Cải lương, Chèo, Tuồng, Múa rối, Xiếc ; Trung tâm Chiếu phim Quốc gia; các Nhà Văn hoá; Thư viện, Bảo tồn, Bảo tàng; Đài phát Thanh truyền Hình; Trung tâm Báo chí Xuất bản

- Trong lĩnh vực Giáo dục Đào tạo gồm các trường Phổ thông Mầm non, Tiểu học, Phổ thông Cơ sở, Phổ thông Trung học; các Học viện, trường Đại học, Trung tâm Đào tạo

- Trong lĩnh vực Nghiên cứu Khoa học gồm các Viện Nghiên cứu Khoa học; Trung tâm Ứng dụng, chuyển giao Công nghệ

- Trong lĩnh vực Thể dục, Thể thao (TD, TT) gồm các Trung tâm Huấn luyện TDTT; Liên đoàn, đội Thể thao; Câu lạc bộ TD, TT

Trang 34

- Trong lĩnh vực Y tế gồm có các Cơ sở Khám chữa Bệnh: Bệnh viện, phòng Khám; Trung tâm Điều dưỡng, Phục hồi Chức năng

- Trong các lĩnh vực Xã hội có các Trung tâm Chỉnh hình; Trung tâm Dịch vụ Việc làm

- ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực Kinh tế;

- Các Viện Thiết kế, Quy hoạch Đô thị, Nông thôn;

- Các Trung tâm Bảo vệ Rừng, Cục Bảo vệ Thực vật, Trung tâm Nước sạch

Vệ sinh Môi trường, Trung tâm Dâu tằm Tơ Trung tâm Đăng kiểm, Trung tâm 8 Kiểm định An toàn Lao động

- Các ĐVSN Giao thông Đường bộ, Đường sông

- Các Vụ Đường biển, Đường sông, Đường hàng Không

- Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn

Đặc điểm:

Là các tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước, ĐVSNCL có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, ĐVSNCL là đơn vị thuộc của các cơ quan Nhà nước, tổ chức Chính

trị, tổ chức Chính trị - Xã hội, trong đó chủ yếu là các cơ quan Nhà nước Hoạt động

sự nghiệp trong các ĐVSNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước

Thứ hai, ĐVSNCL là Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật để hoạt động Tùy

từng loại ĐVSN mà Nhà nước có sự hỗ trợ ngân sách ở những mức độ khác nhau

Thứ ba, các ĐVSNCL được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ sự nghiệp

công trong những lĩnh vực mà Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng chủ yếu cho nhân dân hoặc trong những lĩnh vực mà khu vực phi Nhà nước không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm đầu tư

Thứ tư, cơ chế hoạt động của các ĐVSNCL đang ngày càng được đổi mới theo

hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập Căn cứ vào cơ chế hoạt động, có thể phân loại ĐVSNCL thành ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về Tài chính, tổ chức Bộ máy, Nhân sự và ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, Tài chính, tổ chức Bộ máy, nhân sự

Thứ năm, các ĐVSNCL hoạt động theo chế độ thủ trưởng Tuy nhiên, để đảm

bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền đồng thời

Trang 35

phòng chống tham nhũng, pháp luật quy định việc thành lập Hội đồng quản lý tại các ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và các ĐVSNCL khác trong trường hợp cần thiết

Thứ sáu, nhân sự tại ĐVSNCL chủ yếu được tuyển dụng theo vị trí việc làm,

làm việc theo hợp đồng làm việc, được quản lý, sử dụng với tư cách là viên chức Trong khi đó, người đứng đầu ĐVSNCL (và trong nhiều trường hợp gồm cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị) là công chức

2.1.1.2 Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập

Nhà nước thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính:

- Về tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động

+ Về thành lập mới: đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập các tổ chức sự nghiệp trực thuộc để hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; phù hợp với phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tự bảo đảm kinh phí hoạt động

+ Về sáp nhập, giải thể: các đơn vị sự nghiệp được sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc

+ Chức năng, nhiệm vụ cụ thể và quy chế hoạt động của các tổ chức trực thuộc

do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quy định

- Về quản lý và sử dụng cán bộ viên chức Thủ trưởng đơn vị có toàn quyền trong việc: + Quyết định việc tuyển dụng cán bộ viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển + Quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức, ký hợp đồng làm việc với những người đã được tuyển dụng, trên cơ sở bảo đảm đủ tiêu chuẩn của ngạch cần tuyển và phù hợp với yêu cầu của đơn vị

+ Quyết định điều động, biệt phái, nghỉ hưu, thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, khen thưởng, kỷ luật cán bộ viên chức thuộc quyền quản lý của đơn vị mình + Quyết định nâng lương đúng thời hạn, trước thời hạn đối với nhân viên tại đơn vị mình theo điều kiện và tiêu chuẩn do pháp luật quy định

+ Quyết định mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc chuyên môn, quyết định cử viên chức của đơn vị đi công tác, học tập ở trong và ngoài nước để nâng cao trình độ chuyên môn

- Về tài chính

+ Huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ viên chức trong đơn vị để đầu tư

Trang 36

mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

+ Quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị

sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn từ NSNN đơn vị ưu tiên chi trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Qũy phát triển hoạt động sự nghiệp

- Nhà nước thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập với mục tiêu:

+ Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

+ Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN

+ Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, nhà nước quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn

+ Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập với cơ

chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước

2.1.2 Cơ sở đào tạo nghệ thuật, TDTT công lập

2.1.2.1 Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo

Theo cách phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập như trên, các cơ sở đào tạo công lập vừa mang đặc điểm các đơn vị sự nghiệp có thu, vừa mang đặc trưng riêng

về lĩnh vực hoạt động giáo dục đào tạo

Các cơ sở đào tạo công lập hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà hướng

về phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội Các đơn vị này có trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học,

kỹ thuật có trình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước

Trang 37

Các cơ sở đào tạo công lập do nhà nước đầu tư xây dựng, cung cấp trang thiết bị dạy học, bố trí cán bộ quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy và nhà nước thống nhất quản lý về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng Kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ sở đào tạo công lập chủ yếu do NSNN cấp, bên cạnh đó, các cơ sở có thêm kinh phí từ nguồn thu học phí, lệ phí và thu khác được giữ lại để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của trường Các cơ sở đào tạo công lập là các đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên Các cơ sở đào tạo công lập được quyền chủ động trong công tác đào tạo như: xây dựng đề cương, giáo trình môn học, kế hoạch giảng dạy và học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo;

tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Bộ chủ quản, thực hiện tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng theo thẩm quyền Cũng như đơn vị sự nghiệp, các cơ

sở đào tạo công lập là đơn vị sự nghiệp công lập có thu được nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo công lập nhằm giúp các trường chủ động trong việc thực

hiện nhiệm vụ được giao

2.1.2.2 Đơn vị sự nghiệp đào tạo nghệ thuật

Đơn vị sự nghiệp đào tạo nghệ thuật là cơ sở giáo dục đào tạo công lập về lĩnh vực chuyên môn nghệ thuật bao gồm tổ hợp các trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo nguồn nhân lựcthuộc lĩnh vực chuyên môn nghệ thuật Do đặc thù phát triển giáo dục đào tạo chuyên nghiệp về nghệ

thuật ở nước ta, khái niệm trường nghệ thuật có thể bao hàm một số trường VHNT

2.1.2.3 Đơn vị sự nghiệp đào tạo TDTT

Đơn vị sự nghiệp đào tạoTDTT là cơ sở giáo dục công lập về các lĩnh vực chuyên môn TDTT bao gồm tổ hợp các trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo nguồn nhân lực thuộc các

lĩnh vực chuyên môn TDTT

2.1.2.4 Trường nghệ thuật, TDTT công lập

Là cơ sở giáo dục công lập bao gồm tổ hợp các trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo tiến sỹ các lĩnh vực chuyên môn NT-TDTT Do đặc thù phát triển giáo dục đào tạo chuyên nghiệp về nghệ thuật ở nước ta, khái niệm trường nghệ thuật có thể bao hàm một số trường VHNT Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Trường đào tạo nghệ thuật, TDTT công lập” tương đương với thuật ngữ “Cơ sở đào tạo nghệ thuật, TDTT công lập”

Trang 38

Theo sự phân cấp quản lý, hệ thống các trường đào tạo nghệ thuật và thể thao được phân loại thành đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Bộ và của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý

2.2 Cơ chế tự chủ tài chính

2.2.1 Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính

Thuật ngữ “cơ chế” là sự chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng Pháp và theo từ điển Le Petit Larousse năm 1999, nó được giải nghĩa là “cách thức hoạt động của một tập các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2000 giải nghĩa “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” Như vậy, “cơ chế” là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tại và phát triển [1]

Tự chủ (autonomy), theo Từ điển tiếng Anh Oxford 2004 là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng hoặc một đơn vị như là nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức, một cơ quan [117, tr 69] Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối

Theo cách giải thích thuật ngữ từ Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021

về việc Quy định cơ chế TCTCcủa đơn vị sự nghiệp công lập xá định: Cơ chế TCTC

của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ tự chủ tài chính; tự chủ sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công

và các quy định khác có liên quan

Một cách khái quát nhất, cơ chế TCTC trong các trường ĐHCL là những quy

định của Nhà nước về quyền của các trường ĐHCL tự tổ chức, quản lý các hoạt động tài chính của nhà trường và những quy định đó được thể chế bằng các văn bản quy phạm pháp luật ản chất của cơ chế TCTC nói riêng là việc Chính phủ ngày càng rút bớt vai trò trong QLTC thường nhật, cho ph p các trường ĐHCL tự quyết định các vấn đề QLTC của mình với những cơ chế khuyến khích định hướng thị trường tối

Trang 39

bảo vệ khỏi những ảnh hưởng từ bên ngoài; đặc biệt là sức ép của chính khách hàng của đơn vị Nhóm này gắn với quyền tự do học thuật của GV, của nhà khoa học

Ba là, liên quan tới tự do điều hành các hoạt động của nhà trường Nhóm này

tập trung vào quá trình vận hành nhà trường Có nghĩa là nhà trường được thực hiện chức năng mà không phụ thuộc vào bất kỳ ai

Tự chủ đại học là một khái niệm phức tạp, đa chiều Các tác giả có cách trình bày khác nhau về phạm vi quyền tự chủ của tổ chức giáo dục đại học Nó thường được các tác giả chi tiết hóa dưới dạng một bảng liệt kê danh mục về các thẩm quyền cần có đối với một tổ chức GDĐH Trong khi tiến hành nghiên cứu về tự chủ tài chính giáo dục đại học, các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã triển khai theo 2 hướng là nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu lý thuyết

Một số nhà nghiên cứu mô tả việc thực hiện quyền tự chủ tài chính như là kiểu tự chủ có điều kiện (Neave 1988; Neave và Van Vught 1991); hoặc tự chủ được thay đổi theo thời gian (Felt và Glanz 2003; Ordorika 2003; Tapper và Salter năm 1995; Sizer và Mackie 1995)

Một số nghiên cứu khác chỉ ra quyền tự chủ đại học có thể thay đổi theo không gian và thời gian Để chứng minh quyền tự chủ thay đổi trong các hệ thống giáo dục đại học khác nhau, McDaniel đã tiến hành đo mức độ tự chủ giữa các trường đại học (1996, xem thêm Fisher 1988, Volkwein và Malik 1997) McDaniel xem xét vấn đề quyền tự chủ bằng cách chia ra các nhóm đo lường như tài chính, quản

lý, đào tạo, nhân viên và sinh viên Sizer và Mackie (1995) nghiên cứu thay đổi quyền

tự chủ giáo dục đại học như là những thay đổi quy định học tập, bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng sinh viên và chương trình, nội dung giảng dạy Moses (2007) tìm hiểu sự thay đổi trong thể chế tự chủ giáo dục đại học thông qua sự thay đổi trong phạm vi quyền tự chủ của nhân viên, sinh viên, chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn học thuật, nghiên cứu và xây dựng ấn phẩm, quản trị, điều hành và tài chính

Nhóm nghiên cứu tự chủ liên quan đến sự thay đổi, xu hướng và sự phát triển, cải cách và chính sách tiêu biểu có Felt và Glanz (2003); Fisher (1988); Kogan và Marton (2000); Moses (2007); Neave và Van Vught (1991)

Các nghiên cứu liên quan đến tự chủ tài chính giáo dục đại học trong chỉ đạo, điều hành và quản lý có thể tìm thấy qua nghiên cứu của Gornitzka và Maassen (2000); McDaniel (1996)

Nhóm nghiên cứu tập trung vào các giới hạn của quyền tự chủ hoặc mức độ

tự chủ được biểu hiện trong các nghiên cứu của Askling (1999); Moses (2007);

Trang 40

- Lý thuyết hệ thống (system theory): được sử dụng để mô tả và phân tích một

tổ chức giáo dục đại học và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các cơ sở này Một cơ sở giáo dục được coi là có đặc tính của các bộ phận hệ thống và bị thay đổi theo phản hồi từ môi trường cũng như từ sự thay đổi của toàn bộ hệ thống Các khái niệm quan trọng của lý thuyết này là đầu vào, đầu ra và phản hồi của hệ thống Hệ thống yêu cầu đầu vào từ môi trường và tạo ra kết quả đầu ra cho môi trường và thực hiện các mục đích liên quan đến mục đích của hệ thống như một toàn thể (Ví dụ: Von Bertalanffy 2001, Birnbaum 1988, Hölttä 1995)

Những ý tưởng của lý thuyết hệ thống được phát triển hơn nữa trong lý thuyết

dự phòng (contingency theory) Lý thuyết dự phòng là lý thuyết hành vi, nó cho rằng

không có cách nào tốt nhất để tổ chức một nhà trường, lãnh đạo một nhà trường, hoặc để đưa ra quyết định Thay vào đó, quá trình tối ưu của hành động này là dự phòng (phụ thuộc) theo tình hình nội bộ và bên ngoài Một nhà lãnh đạo dự phòng sẽ

áp dụng hiệu quả phong cách lãnh đạo trong những tình huống đúng đắn Trọng tâm của lý thuyết dự phòng là phân tích về cơ cấu và/hoặc thay đổi cấu trúc của một tổ chức giáo dục với các mối quan hệ và môi trường của nó Theo lý thuyết dự phòng, các trường đại học có xu hướng thực hiện mục đích đáp ứng với những bất ổn về môi trường của chúng, chúng tìm cách thích ứng với cấu trúc nội bộ với điều kiện môi trường Điều này dẫn đến các tổ chức được suy nghĩ như hệ thống mở Theo Vuokko Kohtamäki (2009), lý thuyết dự phòng không nhận ra tầm quan trọng của quyền tự chủ đối với một tổ chức như trường đại học

- Lý thuyết chủ thể/thân chủ - đại diện (principal-agent theory) cung cấp một

cái nhìn khác về mối quan hệ giữa một trường đại học và môi trường của nó so với hai lý thuyết trên Trong lĩnh vực kinh tế, vấn đề chủ thể- đại diện xử lý các khó

Ngày đăng: 29/04/2023, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Phạm Ngọc Dũng (2011), “Bàn về ổi mới cơ chế tài chính ối với các cơ sở GDĐHCL ở Việt Nam hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL", Bộ Tài chính, tr 143-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về ổi mới cơ chế tài chính ối với các cơ sở GDĐHCL ở Việt Nam hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Năm: 2011
14. Lê Văn Giạng (2005), “Những đặc điểm cơ bản của nền ĐH Hoa Kỳ”, http://dantri.com.vn/c4/s25-57518/nhung-dac-diem-co-ban-cua-nen-dai-hoc-hoa- ky.htm [Truy cập: 30/5/2005] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm cơ bản của nền ĐH Hoa Kỳ
Tác giả: Lê Văn Giạng
Năm: 2005
15. Nguyễn Trường Giang (2011), “Đổi mới cơ chế tài chính ối với các cơ sở giáo dục ại học công lập gắn với nâng cao chất lƣợng ào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL", Bộ Tài chính, tr 43-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế tài chính ối với các cơ sở giáo dục ại học công lập gắn với nâng cao chất lƣợng ào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Năm: 2011
17. Trần Xuân Hải (2011), “Nghị ịnh 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 những bất cập và hướng giải quyết”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL", Bộ Tài chính, tr 130-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị ịnh 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 những bất cập và hướng giải quyết”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL
Tác giả: Trần Xuân Hải
Năm: 2011
18. Lê Văn Hảo: “Những xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học”, Kỷ yếu Hội thảo “Giáo dục So sánh lần 2: Giáo dục Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu thế chung của giáo dục đại học và các mô hình phát triển tài chính đại học"”, Kỷ yếu Hội thảo “Giáo dục So sánh lần 2: Giáo dục Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
19. Vũ Duy Hào (2005), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ối với các trường ĐHCL khối kinh tế ở Việt Nam”, ề tài khoa học cấp Bộ, mã số B2005.38.125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ối với các trường ĐHCL khối kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Duy Hào
Năm: 2005
20. Hoàng Trần Hậu (2011), “Tự chủ ĐH qua nghiên cứu tình huống Học viện Tài chính”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL", Bộ Tài chính, tr 121-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự chủ ĐH qua nghiên cứu tình huống Học viện Tài chính”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL
Tác giả: Hoàng Trần Hậu
Năm: 2011
21. Võ Hiền (2010), “Học phí ĐH không ngừng tăng”, http://dantri.com.vn/c25/s25- 394804/han-quoc-hoc-phi-dai-hoc-khong-ngung-tang.htm[Truycập:09/05/2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học phí ĐH không ngừng tăng
Tác giả: Võ Hiền
Năm: 2010
22. Đặng Văn Huấn (2011), “Giao ĐH quyền tự chủ: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc”, http://www.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/50854/giao-dh-quyen-tu-chu-kinh-nghiem-tu-han-quoc.html [Truy cập: 02/12/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao ĐH quyền tự chủ: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Tác giả: Đặng Văn Huấn
Năm: 2011
23. Phạm Huy Hùng (2009), “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học ở Việt Nam”, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học ở Việt Nam”
Tác giả: Phạm Huy Hùng
Năm: 2009
24. Nguyễn Thế Hữu: “Có thể thực hiện được quyền tự chủ khi không có quyền đó?”, Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng hội đồng trường” do Viện nghiên cứu Giáo dục, Đại học Sƣ phạm Tp. Hồ Chí Minh tổ chức năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có thể thực hiện được quyền tự chủ khi không có quyền đó"?”, Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng hội đồng trường
25. Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam" năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam
26. Trần Thị Bích Liễu, Charles S. Gaede: “Phân tích chất lượng giáo dục đại học Việt Nam và Mỹ trong hoàn cảnh mỗi nước và rút ra bài học cho Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Giáo dục so sánh lần 1: Phát triển giáo dục so sánh ở Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Giáo dục tổ chức năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chất lượng giáo dục đại học Việt Nam và Mỹ trong hoàn cảnh mỗi nước và rút ra bài học cho Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Giáo dục so sánh lần 1: Phát triển giáo dục so sánh ở Việt Nam
27. Phạm Thị Ly (2010), “Vai Trò Của Nhà Nước Trong Việc Xây Dựng Một Trường Đại Học Đỉnh Cao Cho Việt Nam: Bài Học Thành Công Và Thất Bại”, http://ired.edu.vn/vn/DocTin/vai-tro-cua-nha-nuoc-trong-viec-xay-dung-mot-truong-dai-hoc-dinh-cao-cho-viet-nam-bai-hoc-thanh-cong-va-that-bai[Truycập:30/01/2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai Trò Của Nhà Nước Trong Việc Xây Dựng Một Trường Đại Học Đỉnh Cao Cho Việt Nam: Bài Học Thành Công Và Thất Bại
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2010
28. Lê Phước Minh (2010), “Xuất nhập khẩu GDĐH: Quan điểm, xu thế và giải pháp cho GDĐH Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu GDĐH: Quan điểm, xu thế và giải pháp cho GDĐH Việt Nam
Tác giả: Lê Phước Minh
Năm: 2010
29. Nhóm tƣ vấn và nghiên cứu chính sách, Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp Bộ Tài chính (2011), “Đánh giá tình hình thực hiện TCTC và ịnh hướng ổi mới cơ chế tài chính ối với GD ĐHCL giai oạn 2012-2020”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL", Bộ Tài chính, tr 34-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện TCTC và ịnh hướng ổi mới cơ chế tài chính ối với GD ĐHCL giai oạn 2012-2020”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Đổi mới cơ chế tài chính ối với cơ sở GD ĐHCL
Tác giả: Nhóm tƣ vấn và nghiên cứu chính sách, Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp Bộ Tài chính
Năm: 2011
30. Ngân hàng thế giới – Viện Ngân hàng thế giới (2002) “Phân tích kinh tế các hoạt động đầu tƣ, công cụ phân tích và ứng dụng thực tế”, Nhà xuất bản văn hóa – thông tin Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế các hoạt động đầu tƣ, công cụ phân tích và ứng dụng thực tế
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa – thông tin Hà Nội
31. Nguyễn Thiện Nhân (2010), “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam theo đúng quy luật phát triển”, http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Doi-moi-giao-duc-dai-hoc- Viet-Nam-theo-dung-quy-luat-phat-trien/20106/32482.vgp [Truy cập:16/6/2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam theo đúng quy luật phát triển
Tác giả: Nguyễn Thiện Nhân
Năm: 2010
34. Nguyễn Văn Khôi: “Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội”, Tham luận Hội thảo khoa học "Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam" năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội”, Tham luận Hội thảo khoa học "Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam
129. Petkovska, S. (2011), Uma Análise Da autonomia financeira Do Ensino Superior Na Macedónia An analysis of financial autonomy in Macedonian higher education, http://ria.ua.pt/bitstream/10773/6379/1/5124.pdf; Aveiro, July 2011 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: SỐ LƯỢNG CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT CẢ NƯỚC - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.1 SỐ LƯỢNG CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT CẢ NƯỚC (Trang 88)
Bảng 3.2: BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP NĂM 2018 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.2 BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP NĂM 2018 (Trang 103)
Bảng 3.3: Tổng hợp ngân sách giao tự chủ cho các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2019 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.3 Tổng hợp ngân sách giao tự chủ cho các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2019 (Trang 107)
Bảng 3.4: Tổng hợp bổ sung kinh phí hoạt động của các trường NT-TDTT n m 2019 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.4 Tổng hợp bổ sung kinh phí hoạt động của các trường NT-TDTT n m 2019 (Trang 109)
Bảng 3.6: Tổng hợp ngu n thu của các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL n m 2019 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.6 Tổng hợp ngu n thu của các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL n m 2019 (Trang 112)
Bảng 3.7: Tổng hợp ngu n thu của các trường NT-TDTT giai đoạn 2015-2019 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.7 Tổng hợp ngu n thu của các trường NT-TDTT giai đoạn 2015-2019 (Trang 113)
Bảng 3.8: Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo phục cấp chức vụ  K1  và hệ số chức vụ - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.8 Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo phục cấp chức vụ K1 và hệ số chức vụ (Trang 118)
Bảng 3.10: Tổng hợp số liệu nộp NSNN của các trường NT-TDTT n m 2019 - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.10 Tổng hợp số liệu nộp NSNN của các trường NT-TDTT n m 2019 (Trang 126)
Bảng 3.12. Kết quả khảo sát nhận thức của viên chức, người lao động CSĐT - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.12. Kết quả khảo sát nhận thức của viên chức, người lao động CSĐT (Trang 127)
Bảng 3.17. Kết quả khảo sát l nh đạo, quản lý CSĐT về tác động của thực hiện cơ - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.17. Kết quả khảo sát l nh đạo, quản lý CSĐT về tác động của thực hiện cơ (Trang 132)
Bảng 3.16. Kết quả khảo sát viên chức, người lao động về việc xây dựng và thực - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.16. Kết quả khảo sát viên chức, người lao động về việc xây dựng và thực (Trang 132)
Bảng 3.18. Kết quả khảo sát viên chức, người lao động về tác động của thực hiện - Luận án cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học ở việt nam nghiên cứu trường hợp các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập
Bảng 3.18. Kết quả khảo sát viên chức, người lao động về tác động của thực hiện (Trang 133)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w