1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ quân sự philippin – hoa kỳ từ 2001 đến 2012

60 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 855,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trên thực tế, cả Philippin và Hoa Kỳ vẫn duy trì mối quan hệ đồng minh đó và đến nay đã trở thành truyền thống trong chính sách đối ngoại của hai nước.. Tuy nhiên, tác giả chỉ chú

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M

K OA LỊC SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Quan hệ quân s Philippin – oa Kỳ từ 2001 đến 2012

Sinh viên th c hiện : Hồ Thị Thanh Thạch

Người hướng dẫn : Lưu Trang

à Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tác phẩm “Bảy cuộc đàm phán siêu cấp” xuất bản năm 2005, tác giả

Mộ Kiệt đã mở đầu phần dẫn luận của mình bằng một câu nói: “Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn, tất cả là để tranh giành quyền lực Khi hai tay nắm chặt và buông lơi, một quốc gia vĩ đại nếu không ra đời sẽ bị diệt vong” Câu nói

đó là lời mô tả cho bản chất của mối quan hệ ngoại giao thế giới trong bối cảnh những năm trước Chiến tranh thế giới thứ nhất đến thập niên 60 của thế kỉ XX Tồn tại trong lòng mối quan hệ đó là sự chồng chéo, giằng co giữa quyền lợi chung với quyền lợi riêng; tham vọng và trách nhiệm; cái được trước mắt và cái được lâu dài Thực tế cho thấy ranh giới để xác định bạn bè hay kẻ thù giữa các nước là khá mong manh Cuộc đấu tranh vì quyền lợi đã buộc các nước hoặc phải liên kết với nhau hoặc phải triệt tiêu nhau để tồn tại Nhưng đó là cục diện của nền ngoại giao thế giới thời kỳ trước, vậy so với ngày nay nó có gì đổi khác

Bước vào những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, thế giới có những bước biến chuyển mới Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh (1989) đã đưa quan hệ đối ngoại giữa các nước trên thế giới bước sang trang mới Chưa bao giờ trong lịch sử, quan

hệ quốc tế được đẩy mạnh theo xu hướng ngày càng đa phương hóa, đa dạng hóa

như ngày nay Các nước lớn không chỉ bắt tay nhau theo kiểu “nồi tròn vung tròn”

mà còn quan tâm hơn đến các nước nghèo hay các nước đang phát triển, hiển nhiên

là vì nhiều mục đích khác nhau Một trong số đó có thể nói đến quan hệ Philipin và Hoa Kỳ

Nằm ở phía Bắc của châu M , t sau Chiến tranh thế giới thứ II Hoa Kỳ đã vươn lên trở thành cường quốc bậc nhất thế giới Với tiềm năng hết sức lớn mạnh của một nước tư bản lớn, Hoa Kỳ nuôi trong mình tham vọng làm bá chủ toàn cầu

và tham vọng đó chưa bao giờ thay đổi iều đó khiến chủ tâm Hoa Kì muốn mình

luôn là “kẻ đứng trên” trong mối quan hệ với các nước Dựa vào sự giàu có t một

nền kinh tế phát triển cùng với uy thế của một siêu cường, Hoa Kỳ được quốc tế

Trang 3

đánh giá là “nhà tài trợ khổng lồ” đối với nhiều nền kinh tế khác Nhưng về bản

chất, đó là một chiêu bài để Hoa Kỳ không ng ng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình trên thế giới

Vốn là đồng minh của Hoa Kỳ ngoài khối NATO và cách Hoa Kỳ nữa vòng trái đất Vào thời kỳ chiến tranh lạnh, Philippin đối với Hoa Kì có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc ngăn chặn làn sóng Cộng sản lan rộng t ông Dương Nếu

trước đây, Philippin luôn bị xem như một “con bệnh c a ch u ” thì ngày nay,

Philippin nổi lên như một con hổ ở ông Nam Bởi tốc độ phát triển kinh tế của nước này đạt mức cao nhất so với các nước trong ASEAN và xấp xỉ bằng tốc độ phát triển của Trung Quốc Mặt dù có bước phát triển lớn như vậy song Philippin không d ng lại tham vọng của mình, vẫn luôn muốn tranh thủ t mọi mối quan hệ

để đưa mình đạt đến những vị thế cao hơn c ng như để đảm bảo an ninh cho mình trong giai đoạn đầy biến động như hiện nay

Hoa Kỳ - Philippin, hai quốc gia khác nhau về văn hóa, và xa cách về mặt địa lí nhưng đã thiết lập mối quan hệ thân thiết t giữa thế kỉ trước Tuy nhiên t sau chiến tranh lạnh đến nay, mà cụ thể hơn là t sau 1991, mối quan hệ giữa hai

nước này được nhận định là “một mối tình phai nhạt” Nguyên nhân là hai nước

không còn quan tâm khai thác quyền lợi t nhau hay do một trong hai bên đã bị cuốn theo một hoặc nhiều mối quan hệ khác? Nhưng c ng có thể không thực sự là như vậy?

Ngày nay, khi cục diện thế giới có sự thay đổi bởi những tác nhân mang tính toàn cầu khiến không quốc gia nào có thể giải quyết một cách độc lập: khủng bố, sự

ra đời của các quốc gia mới, sự trổi dậy của những nền kinh tế trẻ, bất ổn an ninh chính trị, khủng hoảng kinh tế tài chính, Các bên luôn muốn giành quyền lợi về mình song c ng đối diện với quyền lợi chung và dư luận quốc tế Nghiên cứu mối quan hệ trên l nh vực quân sự Philippin – Hoa Kỳ t 2001 đến nay không thể giúp

ta thấy hết được toàn cảnh bức tranh về hoạt động ngoại giao thế giới giai đoạn mới Song nó có thể cho ta cái nhìn tiệm cận hơn, cụ thể hơn hoạt động đối ngoại

và cách ứng xử của các nước trong mối quan hệ đó Qua đấy thấy được các bên đã làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt T đó rút ra bài học về đường lối đối ngoại cho đất nước đồng thời qua đó c ng có thể dự

Trang 4

đoán được hoạt động quan hệ quốc tế trong tương lai ó là lý do vì sao tôi chọn đề

tài Quan hệ quân s Philippin – Hoa Kỳ từ 2001 đến 2012 để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử Philippin và Hoa Kỳ thời cận hiện đại là đề tài lớn đã được đưa vào các giáo trình đào tạo bậc đại học, cao đẳng thuộc chuyên ngành lịch sử, văn hóa, kinh tế - đối ngoại Cùng với việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa hai quốc gia thì nghiên cứu về mối quan hệ hai nước trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh c ng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới T sau Chiến tranh Lạnh kết thúc, mối

quan hệ này đã bị đánh giá giống như “một mối tình phai nhạt” Nhưng trên thực

tế, cả Philippin và Hoa Kỳ vẫn duy trì mối quan hệ đồng minh đó và đến nay đã trở thành truyền thống trong chính sách đối ngoại của hai nước Tuy nhiên, để nói về mối quan hệ trên l nh vực quân sự giữa Philippin - Hoa Kỳ t 2001 đến 2012 thì còn rất ít công trình đề cập tới

Trong cuốn “Ch nh sách công c a oa Kì giai đoạn 1935 – 2001)”, xuất

bản năm 2001, tác giả Lê Vinh Danh đã phân tích một cách tương đối các chủ trương, chính sách Hoa Kỳ trong các mối quan hệ trên l nh vực quân sự ồng thời tác giả c ng vạch ra một số nhận định trong chính sách quan hệ quốc phòng Hoa Kì những năm đầu thế kỉ XXI Tuy nhiên, tác giả chỉ chú trọng phân tích một cách khái quát các chủ trương, chính sách của Hoa Kì trong thời kì Chiến tranh Lạnh mà chưa đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa Hoa Kì với các nước đồng minh nói chung và Philippin nói riêng

Trong bài viết “Quan hệ an ninh, qu n sự M – Philippin (2001 – 2011)”,

tác giả inh Thị Cẩm Hằng có đề cập đến mối quan hệ hai nước Philippin – Hoa Kì

ở l nh vực an ninh – quân sự một cách tương đối hệ thống ồng thời với đó, tác giả inh Thị Cẩm Hằng c ng đưa ra được những cơ sở quan trọng để hai bên tái thiết quan hệ đồng minh trong giai đoạn mới Song, xét một cách khách quan thì đây c ng chỉ d ng lại ở mức độ của một bài viết và tác giả c ng chưa thể đi sâu vào phân tích các biểu hiện cụ thể, thái độ các bên c ng như tác động của mối quan hệ này đối với xung quanh mà chỉ đề cập khá sơ lược

Trong các tin đăng tải của cơ quan Thông Tấn Xã Việt Nam tại thành phố

Trang 5

như động thái của hai nước đối với các vấn đề của nhau Tuy nhiên, những bài viết

đó khá rời rạc, mang tính sự kiện, tin tức hoặc chỉ đề cập đến một số phương diện rất hẹp

Song song với cơ quan TTX – N, trang web chính thức của Bộ quốc phòng Hoa Kì: www.defense.gov và bộ Ngoại giao Hoa Kì www.state.gov c ng liên tục cập nhập đến những sự kiện liên quan đến hai nước C ng như một số hoạt động hợp tác trên l nh vực quân sự giữa Nhà Trắng và Manila, nhưng tất cả vẫn không được trình bày một cách có hệ thống, mà theo dạng bản tin, cần có sự chắc lọc, phân tích và sâu chu i

Nhìn chung những bài viết, tác phẩm trên vẫn chưa nghiên cứu một cách đầy

đủ t ng l nh vực và động thái giữa các bên trong quan hệ hai nước mà chỉ nghiên cứu vào mảng này hay mảng khác của vấn đề Song đó c ng là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và quan trọng phục vụ cho tôi trong việc nghiên cứu đề tài này

Trên cơ sở kế th a kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, tiếp cận nguồn tài

liệu tương đối phong phú, tôi thực hiện đề tài: Quan hệ quân s Philippin – Hoa

Kỳ từ 2001 đến 2012

3 ối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các yếu tố chủ quan lẫn khách quan có tác động đến quan hệ hai nước

- Thái độ của Philippin và Hoa Kỳ trong mối quan hệ giữa hai nước t 2001 đến

4.Mục đích và nhiệm vụ đề tài

4.1 Mục đích nghiên cứu

ề tài làm sáng tỏ:

Trang 6

- Mối quan hệ giữa hai quốc gia: Philippin – Hoa Kì trong giai đoạn t 2001 đến

2012, nhất là trên l nh vực quân sự

- Thái độ của hai nước trong mối quan hệ đó

- Tác động của quan hệ an ninh Philippine – Hoa Kì đối với hai quốc gia và đối với khu vực

- Vị trí, vai trò của m i bên đối với nhau

- Bản chất và đặc điểm của mối quan hệ

4.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu khái quát quá trình thiết lập mối quan hệ hai nước

- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ hai nước Philippin – Hoa Kì thời kì t 2001 đến 2012

- Vạch ra và phân tích những l nh vực hợp tác giữa hai nước c ng như động thái

m i bên trong quá trình hợp tác

- Phân tích những kết quả đạt được c ng như những tác động của mới quan hệ Philippin – Hoa Kì

- Phân tích vị trí, vai trò của m i nước trong chiến lược phát triển của nhau

- Rút ra được bản chất của mối quan hê

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

ể hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã dựa vào một số nguồn tư liệu:

- Các sách chuyên đề về kinh tế, chính trị của Philippin và Hoa Kì

- Các bài viết của Thông Tấn Xã Việt Nam tại thành phố à Nẵng về các vấn đề liên quan đến sự hợp tác của hai nước

- Một số bài viết t các trang web, trong đó đặc biệt phải nói đến trang web chính thức Bộ quốc phòng Hoa Kì www.defense.gov và bộ ngoại giao Hoa Kì www.state.gov

- Một số bài viết trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu biển ông, tạp chí ông Bắc

- Bên cạnh đó là một vài luận văn và trang web khác

Trang 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: ứng vững trên lập trường của chủ ngh a duy vật lịch sử và phép biện chứng mácxit

- Phương pháp cụ thể :

+ Phương pháp lịch sử để tìm hiểu các sự kiện quan trọng gắn liền với mốc thời

gian và nhân vật cụ thể

+ Phương pháp logic để tìm hiểu mối quan hệ, hợp tác qua lại giữa hai quốc gia

+ Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, đối chiếu, phân tích để có thể tìm ra mối quan hệ giữa các vấn đề, t đó rút ra một số nhận xét, đánh giá mức độ, quy mô, thái độ các bên trong mối quan hệ Philippin – Hoa Kì, tác động mối quan hệ Philippin – Hoa Kì đối với tình hình m i nước c ng như tình

hình khu vực

6 óng góp của đề tài

ề tài đạt được mục đích nghiên cứu sẽ có những đóng góp sau đây:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ hai nước trên các l nh vực và làm

r được thái độ của các bên

- Góp phần đánh giá được kết quả c ng như sự tác động t mối quan hệ hai nước đối với m i bên nói riêng, khu vực và thế giới nói chung

- Trang bị thêm những hiểu biết về hoạt động đối ngoại, sự liên kết, hợp tác quốc

Trang 8

Chương 1: N ỮN YẾU TỐ T ÚC ẨY MỐ QUAN Ệ QUÂN SỰ

PHILIPPIN – HOA KÌ (2001 – 2012) 1.1 Tác động của bối cảnh quốc tế và khu v c đến quan hệ hai nước Philippin - oa Kì giai đoạn 2001 - 2012

1.1.1 Bối cảnh quốc tế

Những năm cuối thế kỉ XX, thế giới có những bước chuyển to lớn làm thay đổi cục diện quan hệ quốc tế Chiến tranh Lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của hệ thống Xã Hội Chủ Ngh a ở châu Âu và Liên bang Xô Viết Thế hai cực không còn, Hoa Kì là cực duy nhất còn tồn tại nhưng c ng đang mất dần phạm vi và mức độ ảnh hưởng trên toàn cầu Thế giới với một trật tự mới đang trong quá trình hình thành theo hướng đa cực ây là thời kì vươn lên, đua tranh mạnh mẽ giữa các cường quốc như: Hoa Kì, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc…Các nước này ra sức tập trung nguồn lực nhằm phát triển kinh tế làm nền tảng căn bản xây dựng sức mạnh thực sự ó là một cuộc đua tranh khốc liệt mà kinh tế là tiêu chuẩn đánh giá hàng đầu

Bước sang thế kỉ XXI, nền ngoại giao truyền thống được thay thế bằng nền ngoại giao mới, lấy xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển làm trọng tâm Trong

xu thế này nhiều quốc gia liên kết lại với nhau nhằm đủ sức chống chọi, đối kháng với những thách thức và can thiệp t bên ngoài, để cùng nhau lớn mạnh Tuy nhiên trong quan hệ giữa các cường quốc với nhau c ng không tránh khỏi những bất đồng xoay quanh vấn đề phân chia quyền lợi Mặt dù vậy nhưng những xung đột, bất đồng đó vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát vì các nước đều không muốn rơi vào tình thế đối đầu với nhau Song m i nước vẫn nuôi trong mình những tham vọng và toan tính riêng

Thế kỉ XXI được đánh giá là thế kỉ vươn mình của các nền kinh tế trẻ Việc Hoa Kì bắt đầu chựng lại trên cuộc đua giữa các quốc gia mới nổi đã tạo điều kiện cho các nước này có cơ hội rút ngắn khoảng cách với Hoa Kì và trực tiếp đe dọa đến quyền lợi, phạm vi ảnh hưởng của người M , buộc Nhà Trắng phải khôn khéo hơn trong hoạt động ngoại giao để bảo vệ những gì vốn thuộc về mình

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu nảy sinh yêu cầu các nước có

Trang 9

khiến nhiều quốc gia phải thắt chặc vấn đề an ninh và yêu cầu các nước trên thế giới phải có sự liên minh chặc chẽ trong mối quan hệ hợp tác trên l nh vực quốc phòng ó c ng là một phần trong xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nhằm chung tay giải quyết các vấn đề chung

Vậy có thể nói rằng, thế giới đầu thế kỉ XXI đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp

tác đa phương và “trong một vài thập kỉ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ tranh, hoạt động can thiệp lật đổ, kh ng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng gia tăng.”[10] Như vậy, vị trí của quan hệ ngoại giao trên l nh vực quốc

phòng, an ninh giữa các nước vẫn còn rất quan trọng nhằm đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định

Chính những vấn đề chung của thế giới trên đã tác động không nhỏ chủ trương, chính sách của Hoa Kì và Philippin trong mối quan hệ, đối ngoại nói chung

và hợp tác an ninh nói riêng trong giai đoạn mới

1.1.2 Bối cảnh khu v c châu Á – Thái Bình Dương

Có thể nói những năm đầu thế kỉ XXI là những năm khu vực châu - Thái Bình Dương nói chung và ông Nam nói riêng xảy ra nhiều biến động liên quan đến an ninh chủ quyền Việc gia tăng ảnh hưởng về kinh tế - quân sự của các nước lớn đã làm xáo trộn và gây căng thẳng đến quan hệ ngoại giao nhiều nước, khiến thế giới quan ngại cho một ông ngày càng phức tạp hơn

Trong “báo cáo chiến lược an ninh châu – Thái Bình Dương của Mỹ” gửi lên chính quyền Obama, trung tâm an ninh mới của Hoa Kì phan tích châu – Thái Bình Dương t đầu thế kỉ XXI đến nay nảy sinh nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có 4 thay đổi mang tính chất căn bản là: sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác; sự tr i dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ hội phát triển cho các nước cùng khu vực, song c ng gây nhiều hệ quả khiến các nước này quan ngại về vấn đề chủ quyền và đe dọa quân sự; các quốc gia sở hữu hạt nhân không ng ng tăng, mặc dù các hình thức cảnh báo đã được áp dụng, điều này rất có thể đưa đến tình trạng chạy đua v trang giữa Hoa Kì với các nước; cơ chế hợp tác đa phương khu vực diễn ra mạnh mẽ, đưa

Trang 10

đến khả năng của việc nhất thể hóa khu vực là rất lớn Trong nhận định của Nhà

Trắng, “ch u không chỉ là khu vực c a các quốc gia trỗi dậy, mà còn là nơi có

ch nh quyền bị cộng đồng quốc tế cô lập; ở đó không chỉ tồn tại thách thức l u dài,

mà còn đang phải đối mặt với các mối đe dọa chưa từng có”[59]

ối với ông Nam , t những năm 90 thế kỉ XX, Trung Quốc đã tạo được phạm vi ảnh hưởng nhất định đến hiệp hội các quốc gia ông Nam Sang thế kỉ XXI, với tư cách là một nước lớn có nền kinh tế phát triển, thị trường rộng, Trung Quốc được nhiều quốc gia trong tổ chức ASEAN tin tưởng hợp tác Các diễn đàn đối thoại như: ASEAN + 3, ARF, ASEM, EAC, đáng chú ý là việc Trung Quốc và các nước trong hiệp hội kí với nhau Hiệp ước Quy tắc ứng xử trên biển ông (DOC) cho thấy Trung Quốc đang t ng bước xâm nhập vào hiệp hội các quốc gia ông Nam với vai trò ngày càng to lớn

iều đáng lo lắng là các hoạt động của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân

Trung Hoa đối với khu vực không chỉ nhằm vào mục tiêu hợp tác kinh tế mà “họ đang mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam bằng cách n ng cao sự có mặt về ngoại giao, tăng viện trợ cho nước ngoài và k các thỏa thuận song phương Những thỏa thuận này không có giái trị đáng kể về tài ch nh nhưng chúng là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang sử dụng sức mạnh kinh tế mới có thể mở rộng sự có mặt và ảnh hưởng ch nh trị tại các nước láng giềng ở ph a nam”[35]

ể chi phối các nước trong hiệp hội ASEAN, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên các đảo thuộc vùng biển mà Trung Quốc gọi là Nam Hoa iều này đụng chạm quá nhiều đến an ninh lãnh hải các nước thuộc quần đảo Mã Lai, Việt Nam Cùng với đó là nhiều nước khác trên thế giới bởi biển ông là một phần của tuyến đường vận tải trên biển với gần một nửa số tàu thương mại hiện đang phải đi qua biển ông

Là bên tranh chấp mạnh nhất, Trung Quốc đưa quân đội vào hoạt động nhằm kiểm soát tình hình các nước Trong khi đó, chính sách mà Trung Quốc đưa ra tác động mạnh đến nhiều nước buộc các nước này phải lên tiếng như: Ấn ộ, Liên Bang Nga vì Ấn ộ và Nga đang được hưởng quyền thăm dò và khai thác tài nguyên ở đây; bên cạnh đó là Hoa Kì – quốc gia nắm quyền đảm bảo an toàn cho

Trang 11

Với nội bộ ASEAN, những can thiệp t phía Trung Quốc đã khiến Hiệp Hội

này xuất hiện nhiều bất đồng “Trong số các quốc gia yêu sách, Việt Nam và Philippin là hai quốc gia có nhiều va chạm nhất với Trung Quốc ở biển Đông Do

đó cả hai đều là những quốc gia ch động nhất kêu gọi sự đoàn kết ASEAN trong vấn đề biển Đông Kể từ khi M tuyên bố chiến lược “tái c n bằng ch u ”, Philippin đã tự tin hơn, đưa ra các sáng kiến mới tại các diễn đàn ASEAN Mặc dù

là quốc gia có yêu sách tại biển Đông nhưng Malaysia và Brunei lại không bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp trên biển và họ thường chú trọng đến mối quan hệ với Trung Quốc Singapore và Indonesia có quan điểm trung lập ọ không ng hộ yêu sách c a bất kì bên nào Lào, Thái Lan và Myanma không có lợi ch trực tiếp

ở biển Đông, do vậy họ rất t khi thể hiện quan điểm c a mình Campuchia – Quốc gia có mối quan hệ kinh tế và ch nh trị gắn bó với Trung Quốc - ở mức độ nào đó,

ng hộ đàm phán song phương với Trung Quốc.”[33]

Như vậy, sự can thiệp của Trung Quốc không những làm “nổi sóng” ở biển ông, hàng loạt các quốc gia rơi vào tình trạng bị đe dọa an ninh chủ quyền, gây bất ổn chính trị, căng thẳng ngoại giao mà còn khiến các quốc gia trong ASEAN bị phân hóa iều này gây hậu quả rất nghiêm trọng cho một ASEAN đang n lực hướng tới thống nhất c ng như nhiều cường quốc khác có quyền lợi nhất định tại vùng biển ông Nam Buộc các nước có liên quan phải điều chỉnh chính sách phó với Một Trung Quốc đầy tham vọng

1.2 Tình hình nội tại Philippin, Hoa Kì từ năm 2001 đến năm 2012

1.2.1 Tình hình nội tại Philippin

Nếu Hoa Kì được đánh giá là siêu cường quốc và là một trong những trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới thì Philippin t trước đến nay luôn bị xem

là “con bệnh của châu ” và xếp vào những nước nghèo nhất khu vực ông Nam Nhưng đó là bối cảnh của một Philippin trong những thập niên đầu 80 của thế kỉ

XX, dưới thời tổng thống Markos và thời kì khủng hoảng kinh tế - tài chính 1997 –

1998 Ngày nay, Philippin đang tr i dậy thực sự và tạo một sức hút đáng kinh ngạc

Về kinh tế: do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997 -1998) mà nền kinh tế Phlippines vốn đang hồi sinh thời kì hậu Markos lại bị giáng một đòn

nặng nề khiến tỉ lệ tăng trưởng đầu tư năm 1998 chỉ còn 0,6% Nhưng bước qua

Trang 12

năm 1999, tốc độ phát triển kinh tế nước này đạt 3%/năm và nhích lên hơn 6% vào

năm 2004 Mặc dù thế giới nói chung và ông Nam nói riêng đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm tăng trưởng nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Philippin

vẫn đạt ngưỡng 7,1% trong quí 3 năm 2012 ó là những con số hết sức ấn tượng

cho thấy bước chuyển mình lớn của kinh tế Philippin giai đoạn mới Năm 2011, quốc gia này được xếp là nền kinh tế lớn thứ 44 thế giới Philippin đã vượt mặt Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan và Singapore về tốc độ tăng trưởng GDP

để có thể so sánh với Trung Quốc khổng lồ 7,7%/năm) Nhiều chuyên gia nhận

định, Philippin sẽ trở thành con hổ kinh tế mới ở châu Á trong khi các nền kinh tế lớn khác đang phải vật vã với cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính cuối 2008

Về chính trị - xã hội: Nắm quyền t năm 2001, tổng thống Arroyo đã thực thi nhiều chính sách nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội Các tổ chức khủng

bố Hồi giáo vùng Midanao – nam Philippin vẫn tiếp tục hoạt động là mối đe dọa to lớn đối với chính quyền đương nhiệm của bà Arroyo Cùng với đó là nạn tham

nh ng đã làm l ng đoạn nền kinh tế Philippin và gây bất ổn chính trị Năm 2010, Benigno Aquino lên cầm quyền đã tiến hành hòa giải với nhóm phiến quân Mặt trận giải phóng Hồi giáo Moro (MILE) bằng hiệp định khuôn nhằm tạo môi trường hòa bình, tái thiết đất nước

Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, Philippin nói riêng và các quốc gia cùng khu vực nói chung đang phải đối mặt với vấn đề tranh chấp lãnh hải cùng Trung Quốc Việc này đe dọa đến chủ quyền của các nước trong đó có Philippin, do những đặc điểm địa lý, lãnh thổ và tài nguyên nên tính chất tranh chấp trên quốc đảo này diễn ra hết sức căng thẳng, đòi hỏi Philippin phải có những quyết sách giải quyết thỏa đáng những tranh chấp Chính những bối cảnh trong nội tại quốc gia đã thúc đẩy Philippin tìm kiếm đồng minh cho mình để tạo một ch dựa, đó là cơ hội cho quan hệ Philippin và Hoa Kì được tái thiết và đẩy mạnh hơn

1.2.2 Tình hình nội tại Hoa Kì

Bước vào những năm 90 của thế kỉ XX, trật tự hai cực chính thức bị tan rã

Hệ thống Xã Hội Chủ Ngh a ở ông Âu sụp đ đã chấm dứt thời kì Chiến tranh lạnh Hoa kì trở thành siêu cường duy nhất Vị thế của Hoa Kì ngày càng vượt trội

Trang 13

Về kinh tế: những năm cuối thế kỉ XX, kinh tế Hoa Kì lầm vào một cuộc suy thoái nặng nề Tuy nhiên, trong hai nhiệm kì cầm quyền của tổng thống B Cliton, kinh tế Hoa Kì có sự hồi phục và phát triển trở lại Hoa Kì vẫn là nước có nền kinh

tế hàng đầu thế giới Hiện nay nền kinh tế đó có sự quốc tế hóa cao độ, thể hiện rất

rõ qua quá trình mở rộng hoạt động trên phạm vi thế giới Ở tất cả các châu lục và khu vực đều có mặt của các tập đoàn, chi nhánh kinh tế Hoa Kì với đội ng lao động chất lượng cao, cơ sở vật chất hiện đại Mức độ ảnh hưởng và chi phối của nền kinh tế Hoa Kì là hết sức mạnh mẽ Nếu dân số Hoa Kì chỉ chiếm chưa đầy 5% tổng dân số thế giới thì GDP của quốc gia này lại chiếm đến gần 30% GDP toàn cầu Sự chênh lệch trên cho thấy mức độ và tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc mà nền kinh tế khổng lồ này đạt được Tất cả các ngành trong cơ cấu nền kinh tế Hoa

Kì đều áp dụng thành tự khoa học – công nghệ nhằm tạo ra dòng chất lượng sản phẩm đảm bảo và uy tín Tính quốc tế hóa của kinh tế Hoa Kì còn được biểu hiện ở đơn vị thanh toán ồng ôla (hay USD) tiếp tục là phương tiện thanh toán chủ yếu và được chọn là ngoại tệ dự trữ chính cho các quốc gia trên thế giới Tất cả những biểu hiện đó là minh chứng cho một nền kinh tế Hoa Kì lớn mạnh và có sức ảnh hưởng vô cùng lớn Cuộc khủng hoảng tài chính cuối 2008 đã tác động không nhỏ đến kinh tế Hoa Kì nhưng c ng không thể đánh gục “gã khổng lồ” này được Hoa Kì tiếp tục là một trong những trung tâm kinh tế - tài chính hàng đẫu thế giới khi những đóng góp và vị trí của Hoa Kì trong các tổ chức tài chính quốc tế vẫn

duy trì ở mức cao: với IMF là 18,4%, WB là 14,5%

Về khoa học – công nghệ: bằng nhiều cách thức khác nhau, Hoa Kì đã thu hút về mình một lực lượng các nhà khoa học có chất lượng thuộc nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau Họ là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế tri thức ở Hoa Kì Tính chung, Hoa Kì chiếm tới 1/3 số lượng bản quyền phát minh sang chế toàn thế giới Trong 29 l nh vực khoa học – công nghệ m i nhọn thì nước này đã có 20 l nh vực dẫn đầu ồng thời cho đến nay vẫn chưa có quốc gia nào vượt mặt Hoa Kì về số

người nhận giải Noben (286/755 người tính đến năm 2003) ó chính là cở sở hình

thành và thúc đẩy nền kinh tế Hoa Kì giàu mạnh, hiện đại giữa sự cạnh tranh gắt với các nền kinh tế mới nổi

Trang 14

Về chính trị - xã hội: Sau chiến tranh lạnh, đối trọng duy nhất của Hoa Kì là Liên Xô đã không còn Trật tự thế giới mới chưa định hình nhưng toan tính của người M vẫn muốn mình trở thành bá chủ Trên thực tế, Hoa Kì có một hệ thống đồng minh khổng lồ có mặt khắp các châu lục và hoạt động dười nhiều tổ chức hợp tác khác nhau D nhiên, trong các tổ chức đó, Hoa Kì giữ vai trò lãnh đạo và chi

phối Ngân sách đầu tư cho quốc phòng m i năm chiếm khoảng 45% tức hơn 400

tỷ USD/năm trong tổng chi tiêu toàn quốc iều đó cho thấy giới cầm quyền Hoa

Kì đặc biệt quan tâm sau l nh vực kinh tế Tuy nhiên, sau khủng hoảng tài chính cuối 2008 buộc Hoa Kì giảm bớt đầu tư cho quốc phòng iều này thể hiện qua việc Hoa Kì rút bớt quân đội ở các căn cứ quân sự bên ngoài và phải dàn mỏng quân tại nhiều khu vực chiến lược trên thế giới

Vậy, với tiềm năng lớn mạnh về các mặt cộng với sự tan rã của trật tự hai cực là một lợi thế qun trong để Hoa Kì thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu Tuy nhiên điều đó hoàn toàn không dễ khi hiện nay, nhiều nền kinh tế - quân sự trẻ nổi lên và hình thành cục diện “một siêu nhiều cường” ồng thời với đó là sự thu hẹp ảnh hưởng trên thế giới bởi sự can thiệp, cạnh tranh t nhiều cường quốc trẻ Hoa

Kì buộc phải v a chạy đua thật nhanh v a phải bắt tay với nhiều nước mới có thể tạo được khoảng cách an toàn Tham vọng thiết lập một thế giới đơn cực trong đó Hoa Kì là siêu cường duy nhất đóng vai trò chi phối đã, đang và sẽ vấp phải nhiều khó khăn vì thế giới không chấp nhận trật tự do Hoa Kì đơn phương sắp đặt Hơn thế nữa, Hoa Kì c ng luôn phải đối mặt với mối quan ngại về sự tồn tại của chủ ngh a khủng bố, khi mà những ám ảnh của sự kiện 11/9 vẫn còn Qua hai đời tổng thống: George W Bush (2001 – 2008) và Barach Obama hiện đang đương nhiệm

đã không ng ng đề ra các chính sách nhằm phục hồi lại hình ảnh một Hoa Kì siêu cường Nhưng có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay, để làm được điều đó là cả một chặng đường trường và càng không thể tiến hành được nếu Hoa Kì đơn độc

Chủ trương, chính sách hợp tác quân sự của Hoa Kì với Philippin là hệ thống các nguyên tắc, kế hoạch và nhận định của Nhà Trắng đối với vị trí của Philippin trong việc đảm bảo đầy đủ quyền lợi của Hoa Kì trên thế giới ở l nh vực quân sự chính sách hợp tác an ninh của Hoa Kì với Philippin là bộ phận quan trọng trong chính

Trang 15

nói riêng Nhưng tất cả các chủ trương, chính sách đó phải phục vụ cho lợi ích của người M

1.3 Truyền thống và nhu cầu hợp tác trên lĩnh v c quân s của hai nước

1.3.1 Quá trình thiết lập mối quan hệ quân s

Cùng với Thái Lan, Philippin là một trong những đồng minh quan trọng của Hoa Kì ngoài khối NATO và có lịch sử quan hệ lâu đời Nói cách khác, Philippin là đồng minh lâu đời nhất của Hoa Kì tại khu vực ông Nam

Vào những năm cuối thế kỉ XIX, nhận thấy được sự giàu có và vị thế quan trọng của Philippin, Hoa Kì đã đưa quân tấn công nơi đây để thay chân Tây Ban Nha thiết lập một nền thống trị mới Ban đầu, nhân dân Philippin hết sức giúp đỡ các đợt tấn công của Hoa Kì lên vùng đất của họ vì ngh quân đội Hoa Kì là những người bạn Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy Tháng 12/1898, sau cuộc giao tranh dữ dội tại vịnh Manila, Tây Ban Nha quyết định nhượng lại Philippin cho Hoa Kì để lấy 20 triệu ôla và t đó Philippin chính thức trở thành thuộc địa của Hoa Kì Vậy, khởi đầu cho mối quan hệ hai nước là quan hệ giữa kẻ chiếm đóng và những người dân thuộc địa

Năm 1934, Manuel L.Quezon – chủ tịch đầu tiên của Khối Thịnh vượng chung sau này, hứa sẽ trao trả cho Philippins nền độc lập vào năm 1946 Song, khi cuộc trao trả quyền lực vì nhiều mục đích khác nhau giữa hai bên chưa kịp thực hiện thì năm 1941, Nhật Bản đổ bộ lên Philippin chỉ sau ba ngày tấn công Trân Châu Cảng Việc Hoa Kì quay lại Philippin lần hai là mốc đánh dấu bước chuyển tốt đẹp trong quan hệ hai nước Quân đội Hoa Kì bây giờ không chỉ mang tư cách

là quân của phe ồng minh mà còn mang tư cách của một người bạn c do tướng Douglas Mc Athur dẫn đầu đã quét sạch lực lượng phát-xít Nhật

Năm 1946, độc lập được người M trao lại cho Philippin, cho đến bây giờ, quan hệ hai nước không còn là quan hệ giữa kẻ chiếm đóng với dân thuộc địa, mà

là quan hệ của nhưng “đồng minh” nhưng bất bình đẳng Nói đúng hơn là quan hệ của chính quốc với chư hầu Vì xét cho cùng, những Hiệp ước hai bên kí kết cho thấy Philippin hoàn toàn thua thiệt và bị sự chi phối khá mạnh t Hoa Kì Philippin ngày càng bị lôi kéo vào “cuộc chiến chống Cộng sản trong khu vực mà Việt Nam nói riêng và ông Dương nói chung là ngọn lửa hết sức nguy hiểm.”

Cùng với việc tìm kiếm thêm đồng minh ở ông Nam , Hoa Kì tích cực đẩy mạnh hợp tác với người bạn c Philippin để đảm bảo rằng: cùng với Thái Lan, Philippin sẽ là tiền đồn quan trong nhất ở ông Nam chống lại chủ ngh a Công sản Hoa Kì bắt đầu khai thác t Philippin về lực lượng con người trong các chiến

Trang 16

trường trên thế giới Năm 1951, Hiệp ước phong thủ chung được kí kết, qui định quyền lợi c ng như quyền quyết định trong l nh vực quốc phòng của Philippin một phận gắn chặc và phụ thuộc vào người M Mối quan hệ này ngày càng mang đậm

tính chất của kẻ chủ và chư hầu hơn là những người bạn liên minh Như vậy, “quá trình kéo cánh và liên minh ngày càng mở rộng sau hàng loạt biến cố như: kh ng hoảng Berlin 1948 – 1949, Liên Xô thành lập khối Varsava và Hồng Quân Trung Quốc chiếm lục địa năm 1949 Liên minh song phương với Nhật Bản, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan tức tốc được thành lập trong ý đồ liên kết các chế độ có cùng

hệ thống và quan điểm chính trị vào một phòng tuyến để ngăn chặn sự phát triển

c a khối Xã Hội Ch Nghĩa ở ch u ” [9,tr.679]

Bảng 1 Sơ đồ liên minh và hiệp ước Mỹ đã kí cho đến 1959

CENTO Anh

Thổ Nh Kì Pakistan Iran

Các Hiệp ước song phương

Úc

SEATO Anh

Pháp New Lealand

Úc Pakistan Thái lan Philippin

Trang 17

Vậy, qua sơ đồ trên có thể thấy, cho đến nửa sau thế kỉ XX, Hoa Kì đã thiết lập được một hệ thống đồng minh vững chắc và đảm bảo tính cơ động khi mà tại tất

cả các châu lục, khu vực đều có đồng minh của Hoa Kì

Cho đến giữa thế kỷ XX, Philippin trở thành kẻ sát cánh cùng Hoa Kì trong nhiều vấn đề mà Hoa Kì cần có một cánh tay khác thực hiện hay h trợ ó là chất keo dính nối quyền lợi hai nước vào nhau ở mức độ nhất định Mặc dù vậy, bước vào thời hậu Mackos, quan hệ hai nước rơi vào tình trạng khủng hoảng bởi sự chênh lệch, bất bình đẳng về quyền lợi

1.3.2 Hoạt động quân s hai nước trước 2001

Trên thực tế, nền tảng trong quan hệ an ninh hai nước được chính thức xác lập năm 1951 với việc hiệp ước Phòng thủ chung được kí kết Tuy nhiên, điều đó không có ngh a là trước 1951 không diễn ra các hoạt động hợp tác giữa hai bên

Ngay t những năm cuối thế kỉ XIX, cùng với việc thống trị quốc đảo ở khu vực ông Nam châu này thì Hoa Kì c ng áp dụng các qui chế và qui trình chính trị theo kiều Hoa Kì nhằm thiết lập ở đây một hệ thống chính trị mang đậm dấu

ấn kiểu chính quốc Năm 1935, tổng thống Quezon đã ra lời mời tướng Douglas MacThur của Hoa Kì làm cố vấn quân sự cho Khối thịnh vượng chung Cùng với

đó, tổng thống Quezon c ng giao cho tướng Douglas MacThur thiết lập hệ thống quốc phòng nhằm bảo vệ an ninh cho Philippin ây là những hoạt động đầu tiên trong hợp tác an ninh hai nước, đánh dấu bước chuyển đầy khởi sắc trong quan hệ Philippin – Hoa Kì

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc dâng cao tại ông Nam Lo sợ đám cháy của chủ ngh a Cộng sản ở ông Dương

có thể lan rộng, Hoa Kì đã lôi kéo Philippin và biến quốc gia này thành công cụ trong chiến lược toàn cầu của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương Theo đó hai bên đã kí với nhau khá nhiều Hiệp ước, nhưng nhìn chung đó đều là các hiệp ước bất bình đẳng với Philippin như: Hiệp ước các mối quan hệ chung Philippin –

Hoa Kì (1946), Hiệp ước phòng thủ chung (1951)… có qui định r : “Philippin không cho phép quốc gia nào được xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philippin hoặc mua vũ khí từ quốc gia nào mà không có sự động ý trước từ phía

Trang 18

M ”[44] iều này cho thấy Hoa Kì chi phối khá sâu vào quyền nội trị của

Philippin

Bên cạnh kí kết các Hiệp ước khẳng định vai trò phục vụ lợi ích cho người

Mỹ, Philippin còn đưa quân tham chiến trên nhiều chiến trường nhằm h trợ cho quân đội Hoa Kì tại vùng chiếm đóng Vấn đề này được thể hiện rõ qua việc hiện diện, cùng chiến đấu của quân đội Philippin và nhiều nước đồng minh khác bên cạnh quân đội Hoa Kì

Trong chiến tranh Triều Tiên, tháng 8/1950, Philippin đưa 7500 quân viễn

chinh sang tham chiến tại Triều Tiên Lực lượng mà Philippin đưa sang quốc gia ông Bắc Á này lớn thứ tư trong tổng lực lượng các quân đội đồng minh của Hoa

Kì nhằm đối phó với phe Cộng sản được Trung Quốc và Liên Xô h trợ Thực chất đây là cuộc đối đầu giữa Hoa Kì với Liên Xô và Trung Quốc, nhưng Nhà Trắng đã khôn khéo chia sẻ “trách nhiệm” cho các đồng minh trong đó có Philippin Quân

viễn chinh Philippin được tăng cường hoạt động cùng với Sư đoàn 1 kỵ binh, sư đoàn bộ binh 25 và sư đoàn 45 Hoa Kì

Năm 1965, Hoa Kì tiến hành chiến lược Chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam với sự góp mặt khá đông đảo của quân đội các nước đồng minh: Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin, Oxtraylia, Niudilan Philippin với trách nhiệm của một quốc gia tiền tiêu, đồng thời c ng là đồng minh lâu đời nhất của Hoa Kì tại ông

Nam đã cử 28 nhân viên quân sự sang Việt Nam Năm 1966, Philippin gởi đến đây 182 nhân viên và con số này tăng lên 1882 người năm 1973

Bảng 1 Bảng thống kê các đồng minh của Hoa Kì tham gia chiến tranh Việt Nam

Các nước tham gia Số lượng Ngày vào Ngày rút

Trang 19

Thông qua bảng thống kê trên có thể thấy rằng, quân đội Philippin đến Việt Nam rất sớm (chỉ sau Oxtraylia, ại Hàn Dân Quốc) nhưng lại là đội quân rút về nước muộn nhất ủ chứng minh độ tin cậy và mức độ hợp tác giữa Philippin và Hoa Kì là rất cao

Tiếp đó, quân đội nước này còn tham gia chiến đấu tại vịnh Ba Tư (1900 – 1991), nơi có vị trí quan trọng với Nhà Trắng và nhiều cường quốc khác

Chỉ riêng trong thời kì chạy đua v trang, để chống lại Liên Xô, Hoa Kì đã thành lập trận địa tên lửa với sự tham gia của 12 nước và Philippin là thành phần quan trọng trong hệ thống đồng minh Hoa Kì tại châu Á

Sơ đồ 2 Mục tiêu Liên Xô và trận địa tên lửa của Mỹ thời kì chạy đua v trang

Nauy Hàn Quốc Anh Nhật Bản Pháp Philippin Tây ức Afganistan

Hy Lạp Hạm đội Mỹ

Thổ Nh Kì Iran

Nguồn: Ch nh sách công c a oa Kì giai đoạn 1935 – 2001)

T sơ đồ trên cho thấy, Hoa Kì không ng ng mở rộng quá trình thiết lập quan hệ bạn bè với nhiều nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng cường phạm vi ảnh hưởng của Nhà Trắng trên thế giới Bên cạnh đó phía Hoa Kì còn hòng tìm kiếm đối tượng để chia sẻ gánh nặng trách nhiệm cho các nước đồng minh trong việc tranh giành ảnh hưởng và chạy đua v trang với các cường quốc mà Liên Xô là một điển hình Phlippines nói riêng c ng như các quốc gia trên thực sự đã bị kéo vào cuộc đối đầu giữa Nhà Trăng với các đối tượng đối lập cới quyền lợi của Nhà Trắng Ngược lại, các nước chư hầu hoặc đồng minh nói chung, Philippin nói riêng được nhận t Hoa Kì những khoản viện trợ trực tiếp khổng lồ hoặc gián tiếp thông qua việc đào đạo lực lượng quân đội

Liên Xô

Trang 20

Ngoài ra, Hoa Kì còn cho xây dựng khá nhiều các căn cứ quân sự ngoài lãnh thổ Hoa Kì nhằm đảm bảo tính cơ động khi cần tác chiến, điển hình là căn cứ không quân Clark – căn cứ không quân lớn nhất được xậy dựng bên ngoài nước

Mỹ, đồng thời là kho quân sự lớn nhất châu và căn cứ hải quân Subic - kho quân

sự lớn nhất thế giới Mặc dù hai căn cứ này xây dựng trên lãnh thổ Philippin, song

nó hoàn toàn phục vụ cho các hoạt động quốc phòng của Hoa Kì Tuy nhiên, việc Hoa Kì cho xây dựng 2 căn cứ quân sự có vị trí chiến lược như Clark và Subic đều tại Philippin cho thấy trong thời kì Chiến tranh lạnh, quan hệ hai nước khá khăng khít và vị trí của hai bên với nhau là hết sức quan trọng

Những năm cuối của thập niên 80 thế kỉ XX, cùng với sự sụp đổ của chế độ độc tài Mackos, quan hệ hai nước có chiều hướng đi xuống Năm 1987, Hiến pháp Philippin quy định cấm sự hiện diện của quân đội nước ngoài trong lãnh thổ quốc gia iều này là một phần nguyên nhân khiến quân đội Hoa Kì rút hết khỏi căn cứ Subic và Clark về nước ồng thời với đó là sự cắt giảm viện trợ quốc phòng

xuống còn 1,2 tỷ USD tính đến năm 1991 và chỉ còn 158 triệu USD tính đến năm

1993 Lúc bấy giờ, hai bên không còn quan hệ với nhau trên l nh vức quân sự mà

là sự hợp tác khá nhỏ giọt ở l nh vực kinh tế - thương mại Hiệp ước phòng thủ chung kí năm 1951 trở thành sợi dây rang buộc mang tính hình thức trên phương diện hợp tác an ninh Philippin – Hoa Kì

Vậy, có thể nói mối quan hệ Philippin – Hoa Kì được khởi đầu t những năm cuối thế kỉ XIX khi Hoa Kì t ng bước thay chân Tây Ban Nha đặt ách thống trị nơi đây Ban đầu đó là mối quan hệ đối kháng giữa một bên là một nước đế quốc xâm lược còn bên kia là nhượng địa Nhưng theo tiến trình lịch sử, quan hệ này trở thành quan hệ đồng minh Biểu hiện rõ nhất cho vấn đề này là Philippin không

ng ng đưa quân đi h trợ cho quân đội Hoa Kì trên nhiều chiến trường Song suy cho cùng, tất cả những điều đó đều phục vụ cho lợi ích của Nhà Trắng Nói đúng hơn mối quan hệ này là quan hệ giữa một nước chư hầu với một đế quốc lớn Chính điều đó là nhân tố dẫn đến rạn nức trong quan hệ hai nước cuối thế kỷ XX mà điều

dễ nhận thấy nhất là những sửa đổi trong Hiến pháp 1987 và việc quân đội Hoa Kì rút hết khỏi căn cứ Clark và Subic năm 1991, mở đầu cho thời kì đóng băng trong

Trang 21

1.3.3 Nhu cầu hợp tác quân s giữa Philippin – Hoa Kì thời kì 2001 đến 2012

Bước vào thế kỉ XXI, những hoạt động ngoại giao truyền thống lấy sức mạnh quân sự làm trọng tâm được thay thế bằng ngoại giao mềm dẻo, lấy lợi ích kinh tế làm tiêu chí hàng đầu Tuy nhiên, không phải vì vậy mà quan hệ trên l nh vực quân sự không còn tồn tại Xét trong bối cảnh hiện nay, khi những tranh chấp lãnh thổ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chủ quyền và đe dọa đến lợi ích của nhiều nước buộc các nước có liên quan phải liên kết và hợp tác với nhau Mặc

dù m i bên đều có những toan tính và mục đích riêng, song tất cả những toan tính

và mục đích đó lại chính là động cơ để các mối quan hệ trên l nh vực quân sự được thiết lập

Với Hoa Kì:

Xét cho cùng, để có thể thấy được nhu cầu của Hoa Kì trong việc nối lại quan hệ quân sự với Philippin trước nhất phải phân tích các chính sách của Nhà Trắng trong hoạt động đối ngoại

Thực tế cho thấy, ngoại giao Hoa Kì là một hoạt động mang tính kế th a và

“tất cả những bản chất riêng có c a nền ngoại giao Mĩ ngày nay có nguồn gốc từ nhiều ch nh sách và sự chuyển biến ch nh sách trước đ y kể từ khi bộ ngoại giao liên ban được thành lập 27/7/1789” [9, tr.586 ], vậy những chủ trương của Nhà

Trắng đề ra hiện nay thực chất chỉ là sự điều chỉnh mang tính sách lược nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho người M Song không thể phủ nhận khi nói Hoa Kì đang thực sự coi trọng vai trò của của Philippin trong việc thiết lập vành đai an ninh t

xa và các hoạt động hợp tác giữa hai nước ngày càng được đẩy mạnh Thông qua 2 chính sách: tăng cường kéo cánh và chuyển trọng tâm sang châu (hay còn gọi là Tái cân bằng châu ) là cơ sở để Philippin cùng Hoa Kì đưa mối quan hệ hai nước đến tầm cao hơn

Chính sách “tăng cường kéo cánh”: ngay t những năm 1951, bộ trưởng bộ ngoại giao Hoa Kì đã nhấn mạnh “không một ch nh sách đối ngoại nào có thể đơn phương đảm bảo được an ninh quốc gia nếu thiếu một lực lượng quốc phòng vững mạnh Tuy nhiên, trong thế giới mà chúng ta đang sống, không một ch nh sách quốc phòng tôt nào có thể đảm bảo được an ninh nếu thiếu bạn bè và đồng minh mạnh.” [9,tr 589]

Trang 22

Như vậy, không chỉ thành lập tổ chức NATO, Hoa Kì tiếp tục thực hiện chính sách kéo cánh và hợp tác sâu rộng với các đồng minh khác Tại ông Nam , hai tiền đồn quan trọng trong mục tiêu ngăn chặn ngọn lửa Công sản ở ông Dương là Thái Lan và Philippin đã không còn khăng khít với Hoa Kì t thời hậu Chiến tranh Lạnh Sự gia tăng ảnh hưởng của các cường quốc cùng khu vực trong những năm 90 của thế kỉ XX như Trung Quốc, Nhật Bản làm cho Hoa Kì lo lắng

ó sẽ là mối đe dọa lớn nếu vị trí ảnh hưởng của Hoa Kì tại đây bị “lấn sân” ặt biệt, sau sự kiện 11/9, chủ ngh a khủng bố đã khiến Hoa Kì và toàn thế giới b ng tỉnh ó là nguyên nhân để Hoa Kì tái thiết lại các mối quan hệ với các đồng minh

c , trong đó có Philippin Vì theo Hoa Kì, đây là nơi nguy hiểm bởi có nhiều tổ chức Hồi giáo cực đoan sinh sống Với chính sách này, Nhà Trắng chủ trương củng

cố đồng minh và bạn bè, xúc tiến đối ngoại nhằm hâm nóng lại các mối quan hệ vốn không còn khăng khít như trước hòng chia sẻ gánh nặng trắc nhiệm Thực chất

là nhằm đảm bảo an toàn t xa và quyền lợi cho người M trên toàn thế giới Như vậy với tư cách là một đồng minh quan trọng của Hoa Kì ở ông Nam , Philippin trở thành đối tượng quan tâm, tiếp cận và giúp đỡ t phía Hoa Kì Sự kiện thượng viện Philippin phê chuẩn thỏa thuận viếng thăm quân sự M – Philippin là mốc ghi nhận sự trở lại của quan hệ hai nước, bắt đầu cho tiến trình tái thiết, thúc đẩy hợp tác toàn diện trong các giai đoạn sau này

Chính sách “tái c n bằng ch u ”

Sau những bận rộn trong cuộc chiến chống khủng bố tại vùng Trung ông và Afghanistan, Hoa Kì đã quay sang ông để quan sát và tìm cách đối phó với

Trung Quốc Thực chất, đây là chính sách “can dự trở lại” hay còn gọi là chính

sách “tái cân bằng châu ” đối với khu vực mà quyền lợi của Hoa Kì đang bị Trung Quốc đe dọa Chính sách này được đánh giá là toàn diện trên tất cả cacsc mặt: chính trị - ngoại giao, kinh tế, quân sự Biểu hiện r nét cho tính chất toàn diện trên là gần đây, Hoa Kì tăng cường các cuộc viếng thăm cấp nhà nước t : tổng thống, ngoại trưởng, bộ trưởng bộ quốc phòng và nhiều quan chức cấp cao khác đến châu mà cụ thể là ông Nam ồng thời Nhà Trắng còn phê chuẩn các hiệp định chiến lược: Hiệp định mậu dịch tự do với Hàn Quốc, hiệp định đối tác

Trang 23

ASEAN + 3 của Trung Quốc Ngoài ra, mặt dù chương trình viện trợ cho các hoạt động quốc phòng bị cắt giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính cuối năm 2008, nhưng các lực lượng quân đội tại các căn cứ ở châu – Thái Bình Dương vẫn được giữ nguyên nguồn viện trợ Hoa Kì tuyên bố sẽ đưa 60% tàu chiến của họ đến Thái Bình Dương ể có đất trú quân, buộc Hoa Kì phải tái thiết quan hệ đồng minh với Philippin vì đây là nơi có hai căn cứ quân sự lớn nhất châu

và thế giới do Hoa Kì để lại sau 1991 Như thế đồng ngh a rằng, để cân bằng được quyền lợi ở châu mà trước hết là ông Nam , Hoa Kì phải quay trở lại Philippin Vì Philippin không chỉ có hai căn cứ lớn của Hoa Kì còn đang bỏ trống

mà đây còn là tiền đồn để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía nam và vùng viễn dương

Theo chính sách “Tái cân bằng châu ”, Nhà Trắng chủ trương “tăng cường các mối quan hệ với Indonesia, Philippin, Việt Nam và khôi phục quan hệ ngoại giao ch nh thức với Myanma Về mặt kinh tế, M đang tìm cách tăng cường thương mại với ch u , thúc đẩy việc k kết hiệp định Đối tác thường xuyên Thái Bình Dương… Tất cả những động thái này đều có ý nghĩa ngấm ngầm nhằm kiềm chế sự trỗi dậy c a một số cường quốc khu vực tại Đông Nam ”[32]

Trước những chính sách trên của Hoa Kì, Philippin c ng chủ trương tái thiết quan hệ với Hoa Kì Vì xét một cách quan, Philippin nói riêng và một vài nước ASEAN khác nói chung đang va phải nhiều vấn đề mà tự thân họ không thể giải quyết được Hơn thế nữa, sau quyết định tăng tàu tuần tiễu và trực chiến tại Singapore và đưa tới 2500 thủy quân lục chiến sang tạm trú tại miền Bắc c, Hoa

Kỳ muốn có thêm một điểm thứ ba là Philippines để kiểm soát vùng biển có các tuyến hải hành trọng yếu này

Như vậy, thông qua các chính sách và sự kiện trên, có thể nhận thấy rõ nhu cầu quay trở lại ông Nam nói chung và các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philippin nói riêng của Hoa Kì là rất lớn iều này là một phần của chính sách ngoại giao thời kì mới mà Nhà Trắng vạch ra

Với Philippin

Trước những bất ổn tại khu vực miền nam do các phiến quân Hồi giáo gây ra

đã khiến Philippin không thể cân bằng nhịp độ phát triển kinh tế trên toàn bộ các

Trang 24

vùng lãnh thổ của mình Việc tự tay đưa miền nam Philippin vào khuôn khổ của sự phát triển ổn định với Manila là điều hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có sự liên kết với một thế lực bên ngoài đủ mạnh Song để tìm kiếm một thế lực bên ngoài có thể giúp Philippin dẹp bỏ các nhóm Hồi giáo cực đoan mà vẫn đảm bảo các yếu tố an ninh quốc gia với Philippin là điều không dễ dàng Duy chỉ có Hoa Kì - “người bạn

c ” v a trải qua sự kiện 11/9 là thích hợp nhất Nếu nối lại quan hệ quân sự với Hoa Kì, Philippin sẽ có thể mượn sức mạnh của quốc gia này để đẩy lùi các tổ chức khủng bố nguy hiểm và đưa khu vực phía nam vào tầm kiểm soát của chính phủ

Hơn thế nữa, những tranh chấp ngày càng gay gắt xảy ra giữa Trung Quốc

và Philippin xung quanh ván đề lãnh thổ là mối quan ngại to lớn không chỉ riêng đối với chính quyền Manili mà còn với nhiều nước ông Nam khác Trong khi ASEAN đang bị phân hóa thì nhu cầu cần có một thế lực phi ASEAN đủ mạnh làm đối trọng để đối phó với các hành động phô trương sức mạnh quân đội của Trung Quốc lại càng bức thiết hơn Xét một cách khách quan và cụ thể, Hoa Kì không chỉ

là cường quốc trên thế giới, có quyền lợi tại ông Nam đang bị Trung Quốc đụng chạm… mà còn là “đồng minh” của Philippin trong quá khứ Nếu nối lại quan

hệ với Hoa Kì, Philippin sẽ có cho mình ch dựa không hề nhỏ Tháng 1/2012,

Philippines tuyên bố “sẽ không lùi bước trong chiến dịch tổ chức một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc trong việc tranh chấp lãnh hải”[61]

Qua những vấn đề trên, có thể khẳng định nhu cầu nối lại mới quan hệ quân sự Philippin – Hoa Kì không chỉ xuất phát t nhu cầu một phía mà trên cơ sở nhu cầu hợp tác của cả hai bên

Trang 25

Chương 2 QUAN Ệ PHILIPPIN -HOA KÌ TRÊN LĨN VỰC QUÂN SỰ

(2001 – 2012) 2.1 Một số biểu hiện trong quan hệ quân s Philippin – Hoa Kì

2.1.1 Hỗ trợ tài chính, trang bị cho quân đội

T đầu thế kỉ XX, Hoa Kì đã lợi dụng vào tiềm lực kinh tế của mình để can

thiệp vào các nước khác thông qua chính sách “ngoại giao Đôla”, hòng biến các nước đó trở nên phụ thuộc và dần biến thành sân sau của mình Sang thế kỉ XXI,

Hoa Kì vẫn tiếp tục sử dụng chính sách này nhằm không ng ng mở rộng phạm vi ảnh hưởng c ng như chi phối các nước tiếp nhận nguồn đầu tư t Nhà Trắng Bởi

vì ngoại giao của Hoa Kì “là một hoạt động mang đầy t nh kế thừa Tất cả những bản chất riêng có c a nền ngoại giao M ngày nay có nguồn gốc từ nhiều ch nh sách và sự chuyển biến ch nh sách trước đ y.”[9,tr.578]

Hoa Kì là nước đứng đầu thế giới về đầu tư quốc phòng ây được xem là

l nh vực mà Nhà Trắng chú tâm đầu tư nhất nhằm đảm bảo duy trì tình trạng an ninh cho quốc gia và an toàn cho người Mỹ trên toàn thế giới Việc đầu tư không chỉ d ng lại cho bản thân lực lượng quân đội trong nước, Hoa Kì còn chuyển một khối lượng tài chính khổng lồ đến các nước đồng minh để giúp quân đội các nước

sở tại kiện toàn chất lượng chiến đấu, cơ sở vật chất Là đồng minh của Hoa Kì nên việc Philippin c ng được tiếp nhận nguồn tài trợ này là điều hết sức hiển nhiên

Sau gần một thập kỉ đóng băng trong quan hệ hai nước, năm 2001, Philippin tuyên bố sẽ ủng hộ Hoa Kì xung quanh vấn đề thiết lập đồng minh chống khủng bố

Ngay lập tức, ngày 20/11/2001, phía Nhà Trắng hứa cấp cho Philippin 92 triệu USD viện trợ quân sự Dưới nhiệm kì tổng thống G Bush, ngân sách viện trợ cho quân đội Philippin của Nhà Trắng lên đến 1,23 tỉ USD thông qua tài trợ nước ngoài

Bảng 2: Ngân sách của Hoa Kì chi cho quân đội Philippies (2001 – 2003)

Năm Ngân sách oa Kì hỗ trợ cho quân đội Philippin

Trang 26

T bảng trên ta nhận thấy ngân sách mà Hoa Kì đầu tư cho quân đội Philippin là rất lớn Những con số trên thể hiện hai vấn đề:

Thứ nhất, chính quyền G Bush đặt biệt quan tâm đến công tác chống khủng

bố Nó thể hiện lòng quyết tâm của Lầu Năm Góc trong việc tiêu diệt các tổ chức Hồi giáo cực đoan có thể gây nguy hiểm đến an ninh Hoa Kì

Thứ hai, quan hệ an ninh Philippin – Hoa Kì đã nối lại Nhà Trắng thấy được

vị trí của Philipines trong chiến lược của mình ồng thời nó thể hiện lòng tin của hai bên dành cho nhau, chuẩn bị mở đầu cho hàng loạt các hoạt động hợp tác sau này

Vậy, Hoa Kì đã sẵn sàng chi ra một số tiến lớn để tìm lại một đồng minh vốn

t ng rất thân thiết trong quá khứ Mặt khác, với việc được nhận h trợ t Nhà Trắng, Philippin phải chấp nhận cho quân đội Hoa Kì quay trở lại các căn cứ Subic

và Clark

Năm 2003, Hoa Kì công nhận Philippin là đồng minh quan trọng nhất của mình ngoài khối NATO iều này là cơ hội tốt để Philippin tiếp cận gần hơn với các nguồn viện trợ t Hoa Kì trên l nh vực quốc phòng Những giúp đỡ về mặt tài chính mà Hoa Kì dành cho Philippin sau này đều nằm trong khuôn khổ của Hiệp định H trợ hậu cần (21/11/2002)

Cuối năm 2008 đầu 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính diễn ra khiến nền kinh tế Hoa Kì gặp nhiều khó khăn Buộc Nhà Trắng phải cắt giảm chi phí quốc phòng Kéo theo nó là sự cắt giảm viện trợ đối với các nước đồng minh Tuy

nhiên ngân sách h trợ quân đội Philippin vẫn ở mức cao Năm 2011 là 11,9 triệu USD, năm 2012 lên 30 triệu USD Kể t khi tổng thống Obama nhận chức đến

2012, Philippin nhận t Hoa Kì 700 triệu USD Mặc dù so với thời của tổng thống tiền nhiệm, con số này nhỏ hơn 600 triệu USD, song xét trong bối cảnh kinh tế Hoa

Kì hiện nay thì đó là con số không hề nhỏ iều đáng chú ý hơn, bên cạnh về mặt tài chính, Hoa Kì còn h trợ các phương tiện tác chiến hiện đại cho Philippin Năm

2002, Philippin được nhận t quốc gia này 20 máy bay trực thăng tân trang Ngoài

ra, Hoa Kì còn nhượng lại cho Philippin nhiều v khí và phương tiện chiến đấu khác với giá rẻ ể quân đội Philippin hiện đại hóa và cải tiến khả năng quân sự

Trang 27

của hệ thống phòng thủ t xa, Hoa Kì tìm mọi cách trang bị cho quân đội Philippin những phương tiện phục vụ chiến đấu hiện đại vào loại bậc nhất Tháng 8 năm

2012, Hoa Kì đã đồng ý giao cho Philippin 2 tàu chiến, triển khai nhiều máy bay chiến đấu và hệ thống radar giám sát bờ biển Thậm chí, việc tăng cường binh lính Hoa Kì đóng quân ở đây c ng đang được bàn thảo Các quan chức Philippin cho rằng đây có thể là sự khởi đầu của một kỷ nguyên hợp tác quân sự lớn hơn giữa hai

nước “Báo Anh The Guardian ngày 6-8 đưa tin M đã chuyển giao cho Philippin 2 tàu tuần tra c a ải qu n M Một chiếc đầu đã giao hồi tháng 8-2011 và chiếc còn lại dự kiến giao trong năm nay”[58]

Ngoài ra, Trung tá Miko Okol – người phát ngôn cho không quân Philippin tuyên bố trong thời gian sắp tới, không quân Philippin sẽ nhận được một số máy bay chiến đấu gồm máy bay tấn công, trực thăng v trang và máy bay tuần thám tầm xa, và hiển nhiên nguồn đầu tư sẽ là Hoa Kì, tự tin hơn, ông Milo Okol nhấn

mạnh “Tôi không được phép thông tin chi tiết về những chiếc máy bay này Tuy nhiên, chắc chắn đ y là những thứ mà chúng tôi sẽ có trong tay vài năm nữa” [58]

Bên cạnh đó, năm 2012, nhân chuyến công du Hoa Kỳ của tổng thống Benigno Aquino, t ngày 06 đến 08/06, tại Washington, Ngoại trưởng Hoa Kì và Philippin đã cùng nhau tán thành việc thành lập Trung tâm Giám sát Bờ biển Quốc gia (7/6/2012) Chức năng của hệ thống giám sát là giúp phát hiện các tàu nước ngoài xâm nhập vào vùng biển thuộc chủ quyền của Manila, trong đó có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển

Mặt khác, hệ thống giám sát c ng được dùng để ngăn chặn tội ác xuyên quốc gia, buôn người, cướp biển, buôn lậu ma túy, đánh bắt hải sản bất hợp pháp và bảo

vệ nguồn tài nguyên biển của Philippine

Qua những số liệu và các sự kiện trên ta có thể thấy Nhà Trắng là nguồn tài trợ lớn và duy nhất của Philippin Xét về mặt h trợ tài chính, Philippin là nước nhận được nhiều viện trợ t Hoa Kì nhất khu vực ông Nam và nhiều thứ tư thế giới ồng ngh a với nó là sự can thiệp ngày càng sâu hơn của Hoa Kì vào tình hình nội tại Philippin Suy cho cùng, mọi thứ cho đi đều sẽ nhận lại dù ở hình thức này hay hình thức khác

Trang 28

2.1.2 Đào tạo, huấn luyện l c lượng quân đội

Trên thực tế, năm 1986, chế độ độc tài của Makos sụp đổ, Nhà Trắng đã mất

đi một thế lực ủng hộ sự tồn tại của họ trên đất nước Philippin Mối quan hệ hai nước vốn đã lung lay càng lung lay hơn nữa khi Hiếp pháp mới của Philippin quy định không cho phép bất kì một lực lượng quân đội nước ngoài nào có mặt trên lãnh thổ Philippin Bên cạnh đó, các phong trào dân tộc tr i dậy tạo sức ép về phía Chính phủ Philippin, khiến Chính phủ nước này càng quyết liệt hơn trong vần đề trú quân của Nhà Trắng tại các căn cứ quân sự iều này gây cho Hoa Kì những áp lực không nhỏ Năm 1991, các căn cứ Subic và Clark buộc phải đóng cửa Chính thức khép lại mối quan hệ t ng gắn bó giữa hai bên Các quan chức hai nước c ng

vì thế ngưng lại hoạt động thăm hỏi lẫn nhau Tình trạng này kéo dài gần 10 năm mãi tới khi thượng viện Philippin phê chuẩn cho phép các cuộc viếng thăm quân sự Philippin – Hoa Kì được diễn ra thì quan hệ trên l nh vực quân sự mới chính thức được tái thiết Không chỉ d ng lại ở đó, trong thời gian t 1999 mà đặc biệt t 2001 đến nay, giữa Manila và Nhà Trắng không ng ng tăng cường các hoạt động đào tạo, huấn luyện cho lực lượng quân sự của Philippin

Hoa Kì bên cạnh là cường quốc về kinh tế còn là cường quốc về quốc phòng với một lực lượng quân đội hết sức chuyên nghiệp, thiện chiến Chi phí cho quốc phòng luôn chiếm vị trí hàng đầu trong các l nh vực đầu tư của Nhà Trắng Việc đầu tư không chỉ tiến hành cho lực lượng quân đội trong nước Trong bài phát biểu của bộ trưởng bộ ngoại giao Dean Acheson năm 1951 trước Ủy ban đối ngoại Quốc hội Hoa Kì nhằm bảo vệ cho chương trình viện trợ an ninh của Nhà Trắng cho các

nước đồng minh đã chứng minh điều này: “Không một ch nh sách đối ngoại nào có thể đơn phương đảm bảo được an ninh quốc gia nếu thiếu một lực lượng quốc phòng vững mạnh Tuy nhiên, trong thế giới mà chúng ta đang sống, không một

ch nh sách quốc phòng tôt nào có thể đảm bảo được an ninh nếu thiếu bạn bè và đồng minh mạnh.”[9,tr.589] ể có được đồng minh mạnh, bên cạnh viện trợ tài

chính, Hoa Kì không ng ng đưa các chuyên gia quân sự của mình sang đào tạo cho quân đội các nước đồng minh Là “bạn bè” lâu đời với Hoa Kì và nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, lại đang rất nhạy cảm trong vấn đề tanh chấp lãnh hải Philippin

Trang 29

trong những năm v a qua luôn được Hoa Kì giúp đỡ trong công tác đào tạo nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của quân đội

Năm 2002, Hoa Kì cử 1000 nhân viên quân sự sang Philippin để dạy cho quân đội nước này các k năng bộ binh nhẹ như: thiện xạ, tuần tra và thu thập tình

báo Thiếu tá quân đội Hoa Kì Les Brơn đã nhận xét “các binh sĩ Philippin làm rất tốt Đặc bệt là tập trận trong rừng, chúng tối có thể giúp họ tốt hơn về chiến thuật

và chúng tôi đã làm điều đó”[54] Trong thời gian này, phía Hoa Kì c ng tiến hành

đào tạo hạ s quan và giảng dạy các chương trình cứu cánh chiến đấu

Không chỉ d ng lại ở việc huấn luyện các k năng tác chiến c ng như đào tạo đội ng hạ s quan cho quân đội Philippin Song song với quá trình chuyển giao các phương tiện và công nghệ quốc phòng, Hoa Kì còn tiến hành huấn luyện cho nhân viên quân sự và binh lính Philippin k năng tiếp cận với k thuật thuật mới Cụ thể

là hướng dẫn các đồng sự cách sử dụng các phương tiện chiến đấu mà Hoa Kì đã trang bị cho phía Philippin theo khuôn khổ Hiệp định H trợ hậu cần đã kí năm

2002 Chính những giúp đỡ mang tính toàn diện này đã nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội Philippin một cách r rệch

Có thể nói rằng, hoạt động đào tạo lựu lượng quân đội là một phần trong chính sách phát triển năng lực quốc phòng cho đồng minh của Hoa Kì, nhằm phục

vụ cho mục đích chia sẻ gánh nặng trách nhiệm trong trường hợp Hoa Kì Hoa Kì cần đến sự giúp sức t các nước này Song c ng không thể phủ nhận rằng: ý ngh a của đào tạo quân đội mà cụ thể là cuộc tập trận thường niên Balikatan là những n lực trong việc tái thiết và phát triển mối quan hệ hai nước sau gần một thập kỉ đóng băng

2.1.3 Hợp tác tập trận

iểm nổi bật trong hoạt động hợp tác đào tạo lực lượng quân đội là việc tổ chức các cuộc tập trận chung Ở hầu hết các nước đồng minh của mình, hằng năm Hoa Kì vẫn đều đặng đưa quân đội đến để tập trận chung nhằm nhiều mục đích

khác nhau Tại Thái Lan, m i năm hai nước đều triển khai cho cuộc tập trận “ ổ mang vàng” Còn với Philippin, trong nhiều năm nay, hai bên luôn duy trì cuộc tập trận Balikatan – có ngh a là “kề vai sát cánh” hay “vai kề vai” theo ngôn ngữ

Tagalon ây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Hiệp ước phòng thủ chung năm

Trang 30

1951 Balikatan có 3 nội dung: h trợ nhân đạo và dân sự, mô phỏng h trợ và cứu nạn thien tai, đào tạo năng lực chiến đấu cho binh s T tháng 1 đến tháng 7 năm

2002, Hoa Kì đưa 1200 nhân viên quân sự lên đảo Basilan thuộc khu vực phía nam Philippin để chính thúc khởi động lại quan hệ an ninh hai nước Song điều này vấp phải những phản ứng hết sức dữ dội bởi người dân Philippin lo sợ sự trở lại của quân đội Hoa Kì trên lãnh thổ của họ Mặc dù vậy, Balikatan vẫn là trọng tâm cho hợp tác an ninh hai nước, đồng thời là biểu trưng cho mối quan hệ hữu hảo giữa hai

bên iều đáng chú ý là tháng 1/2002 “qu n đội M đã cùng với qu n đội Philippin tiến hành cuộc tập trận “sát cánh bên nhau” Balikatan) kéo dài 6 tháng liền… đ y

là hoạt động qu n sự chống kh ng bố qui mô lớn đầu tiên được tiến hành trong khu vực Đông Nam sau việc M tấn công ch nh quyền Taliban ở Afganistan”[35] T

tháng 3 đến tháng 4 năm 2002, cuộc tập trận này đa huy động hơn 6500 binh s Philippin và Hoa Kì tham gia Ngày nay, Balikatan được diễn ra thường niên và có qui mô ngày càng lớn

Tháng 10/2011, thủy quân lục chiến Hoa Kì và Philipines đã tiến hành tập trận thường niên Tuy nhiên, điều đáng chú ý là đợt tập trận Balikatan 2011 lại diễn tập đổ bộ trên đảo San Antonio, tỉnh Zambales nằm về phía Bắc Manila giữa lúc mâu thuẫn giữa Manila và Bắc Kinh đang rất căng thẳng về vấn đề tranh chấp lãnh hải Giữa tháng 3 và tháng 4 năm 2012, trong vùng biển Manila gọi là Biển Tây, Hoa Kì và Philippin cho thực hiện đợt tập trận “vai kề vai” truyền thống “Vai kề vai 2012” thực chất là sự thách thức nửa công khai của Nhà Trắng và Manila dành cho những hành động quân sự trên biển ông Nam mà Trung Quốc phát động

v a qua hòng tuyên bố chủ quyền

T khi tái thiết lại quan hệ, Balikatan được hai bên Philippin – Hoa Kì cho tiến hành thường xuyên hằng năm, hành động này như một sự phô trương của quân đội Hoa Kì nhằm cảnh báo cho các lực lượng đối nghịch hiểu: Hoa Kì và quyền lợi của Hoa Kì luôn có mặt ở châu Á

Thứ trưởng quốc phòng Philippin Honorio Azcueta nhấn mạnh: tập trận thường niên Balikatan là một sự kiện đào tạo nhằm cải thiện kế hoạch tổng hợp, sẵn sàng chiến đấu, hoạt động h trợ nhân đạo giữa khả năng tương tác giữa quân

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w