Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà giáo dục lớn của dân tộc. Người đã để lại cho chúng ta nhiều quan điểm giáo dục có giá trị, trong đó quan điểm “Học đi đôi với hành” là cơ sở khoa học, phương pháp luận biện chứng và là quy luật của sự phát triển toàn diện nhân cách con người, phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện đại trong tương lai. Người nhấn mạnh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Vì thế, nền giáo dục mới phải đào tạo nên những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên. Người cũng chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người đức tài là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” 31, tr.4950 .
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ỨNG DỤNG
TÂM LÝ HỌC QUÂN SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ CHÍNH TRỊ HỌC VIỆN QUÂN Y 13
1.2 Những yếu ảnh hưởng đến năng lực ứng dụng Tâm lý
học quân sự trong hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị của cán bộ chính trị, Học viện Quân y 231.3 Đặc điểm hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực ứng dụng Tâm lý học
Quân sự trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC QUÂN
SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ CHÍNH
2.1 Thực trạng năng lực ứng dụng tâm lý học quân sự
trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của cán bộ chính trị, Học viện quân y 432.2 Biện pháp tâm lý xã hội phát triển năng lực ứng dụng
tâm lý học quân sự trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của cán bộ chính trị, Học viện
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng
Trang 2thời là nhà giáo dục lớn của dân tộc Người đã để lại cho chúng ta nhiều quanđiểm giáo dục có giá trị, trong đó quan điểm “Học đi đôi với hành” là cơ sởkhoa học, phương pháp luận biện chứng và là quy luật của sự phát triển toàndiện nhân cách con người, phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện đại trongtương lai Người nhấn mạnh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cầnphải có những con người xã hội chủ nghĩa Vì thế, nền giáo dục mới phải đàotạo nên những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừachuyên Người cũng chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người đức - tàilà: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trườnggắn liền với xã hội!” [31, tr.49-50]
Đại hội XI xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Namtheo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đóđổi mới cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên vàcán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đàotạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thựchành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đổi mớimạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học” [ 5, tr.130-131] Nội dung chương trình phải gắn với chuyên ngành đào tạo, coi trọng cả lýthuyết và thực hành, kiến thức và kinh nghiệm, nguyên lý và vận dụng.Phương pháp dạy và học phải coi trọng hướng dẫn hành động đi sâu vào quytrình hoạt động, tăng cường hệ thống bài tập thực hành, thực tập trong từngmôn học và phối hợp giữa các môn học Cần tạo điều kiện về tổ chức kếhoạch và đảm bảo vật chất, phương tiện kỹ thuật để tất cả người học đều đượcluyện tập, tập nhiều, tập thực sự và tự lực tập Cải tiến mạnh mẽ khâu đônđốc kiểm tra, đánh giá kết quả sao cho có thể nắm được thực chất hiệu quảdạy và học một cách khách quan, toàn diện, trung thực, không chỉ đơn thuần
là kiểm tra kiến thức mà còn cần phải kiểm tra cả năng lực vận dụng vào thựchành, kiểm tra trí thông minh chứ không kiểm tra khả năng thuộc lòng câu chữ
Trang 3Ngày nay, trang bị các kiến thức TLHQS đã trở thành một yêu cầutất yếu, cấp bách trong đào tạo sĩ quan các cấp trong quân đội ta Thực tiễnđã chỉ rõ, mỗi cán bộ chỉ huy phải đồng thời là nhà giáo dục, nhà tuyêntruyền, cổ động không mệt mỏi cho đường lối, chính sách của Đảng vàquân đội Người lãnh đạo, chỉ huy phải rèn luyện cho mình kiểu tư duy tâm
lý - sư phạm, biết và hiểu cấp dưới, để huấn luyện giáo dục họ, biết tiếpcận theo TLH khoa học để giải quyết các hiện tượng xảy ra trong đơn vị.Trong CTĐ, CTCT, người cán bộ chính trị phải căn cứ vào những kiếnthức khoa học của TLH, suy xét bằng khái niệm khoa học để tiến hànhlãnh đạo các mặt hoạt động của đơn vị mình mang lại hiệu quả cao nhất.Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, năng lực ứng dụng các kiến thức TLHQStrong hoạt động CTĐ, CTCT của đội ngũ cán bộ chính trị còn nhiều hạnchế Họ còn lúng túng, khó khăn trong xử lý các tình huống thực tiễn, chưatìm hiểu và điều khiển được một cách khoa học thế giới tâm hồn của quânnhân và tập thể quân nhân
Học viện quân y với bề dầy truyền thống vẻ vang của mình khôngthể không kể đến sự góp phần quan trọng của đội ngũ CBCT Đội ngũCBCT ở Học viện quân y đã phát huy được năng lực của mình trong cáchoạt động đặc biệt là hoạt động chủ trì về chính trị và tiến hành CTĐ,CTCT Họ đã thực hiện có hiệu quả trong thực tế các nhiệm vụ giáo dụcchính trị,tư tưởng, động viên, giúp đỡ cán bộ nhân viên trong thực hiệnnhiệm vụ, xây dựng các tổ chức, các lực lượng và đảm bảo sự đoàn kếtthống nhất trong đơn vị Đội ngũ CBCT ở Học viện quân y đã phát huy tốttinh thần trách nhiệm trong quán triệt, phát hiện và giải quyết các vấn đềtheo chức trách, nhiệm vụ được giao góp phần tích cực vào việc hoàn thànhcác nhiệm vụ ở đơn vị Tuy nhiên trong quá trình công tác vẫn còn một sốCBCT bộc lộ những hạn chế về năng lực trong đó có năng lực ứng dụngTLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT
Trang 4Về mặt lý luận, hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về năng lựcnhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về năng lực ứng dụng TLHQSvào hoạt động CTĐ, CTCT.
Từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Năng lực ứng dụng Tâm lý học Quân sự trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị, Học viện Quân y” để nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Năng lực nói chung và năng lực ứng dụng TLHQS nói riêng là mộttrong những thuộc tính quan trọng và phức tạp nhất của nhân cách người cán
bộ chính trị Vấn đề NL được đề cập đến từ rất sớm trong lịch sử và là đốitượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong và ngoài nước
* Những nghiên cứu ở nước ngoài
- Nghiên cứu của tâm lý học phương Tây về năng lực hoạt động
NL là một thuộc tính phức tạp của nhân cách, xung quanh vấn đề NL có rấtnhiều quan điểm khác nhau, trong đó phải kể đến một số quan điểm cơ bản sau:
+ Thuyết nguồn gốc sinh vật về NL
Cho rằng NL của con người phụ thuộc vào nguyên nhân sinh học màchủ yếu là do di truyền Sự di truyền sinh học quyết định cả số lượng và chấtlượng của NL con người Tiêu biểu là các quan điểm của F.Galton; K.Bule;Đ.Điway; G.Reves; S.Tranger; S.Freud F.Galton (Anh)(1822-1911), Thựcchất quan điểm là phủ nhận vai trò của xã hội và giáo dục - đào tạo đối với sựhình thành NL của con người
Các nhà tâm lý học trên đều có quan điểm chung: coi nhân tố sinh vật làthành phần không thể thiếu và là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển
NL của con người Như vậy, với quan điểm duy vật máy móc và phương phápxem xét siêu hình các nghiên cứu đó đã quá nhấn mạnh vai trò yếu tố sinh vật,xem nhẹ hoặc bỏ qua yếu tố xã hội trong quá trình luận giải sự hình thành và pháttriển NL cho hoạt động của con người
Trang 5+ Thuyết nguồn gốc xã hội về NL
Thuyết nguồn gốc xã hội về NL khẳng định: NL của con người hoàntoàn do nhân tố xã hội quyết định Đại biểu là các nhà tâm lý học hành vi như:J.Watson; B.F.Skiner và E.Tolman
Theo J.Watson (1878-1958) thì: NL là tất cả những gì con người họcđược qua những lần “thử và sai” với một chuỗi dài S - R Ông quan niệm conngười là “cỗ máy sinh học”, hành vi chỉ là những phản ứng máy móc trướcnhững tác động kích thích trong môi trường xã hội
Khắc phục những hạn chế của J.Watson, các nhà hành vi mới, đại biểunhư E.Tolman (1886-1959, Mĩ); K.Hull (1884-1952, Mĩ) bổ sung các kháiniệm tạo tác operant Cho nên dù "mới" hay "cũ" thì vẫn là chủ nghĩa hành vi, và
về cơ bản vẫn duy trì phương hướng lấy hành vi với tư cách là tổng các phảnứng để giải thích vấn đề NL người
Có thể thấy các nhà nghiên cứu trên đều có xu hướng tuyệt đối hóa tínhquyết định của môi trường xã hội đối với hành vi con người, không thấy được vaitrò của yếu tố sinh vật và hoạt động tích cực của cá nhân đối với sự hình thành vàphát triển NL Họ coi môi trường xã hội là bất biến, quyết định, con người hoàntoàn thụ động trước ảnh hưởng của môi trường
+ Thuyết hội tụ hai yếu tố về NL
Sự ra đời của thuyết hội tụ hai yếu tố ngay lập tức đã loại bỏ sự phiến diệncủa thuyết nguồn gốc về sinh vật và thuyết nguồn gốc xã hội của NL Theothuyết này thì sự tác động qua lại giữa môi trường và yếu tố di truyền của cánhân là quyết định trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển NL của conngười, trong đó di truyền giữ vai trò chủ yếu, nhân tố môi trường là điềukiện để biến những yếu tố có sẵn của di truyền thành hiện thực
Tóm lại, mặc dù quan niệm của những người đại diện cho các thuyết trênnhìn bên ngoài có vẻ khác nhau, nhưng thực chất đều giống nhau ở chỗ: đềuthừa nhận NL con người là bất biến, tiền định, hoặc là do bản năng sinh vật di
Trang 6truyền sẵn có, chịu ảnh hưởng của môi trường bất biến; và đều đánh giá khôngđúng vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển NL của con người
- Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết về năng lực
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nhà tâm lý học XôViết đã giải quyết đúng đắn, khoa học về sự hình thành và phát triển NL Cóthể kể đến các nghiên cứu của B.M.Chieplov; X.L.Rubinstein;A.N.Lêonchiev; A.G.Côvaliov; B.G.Ananhiev; N.X.Laytex và nhiều nhàtâm lý khác Những đóng góp của các nhà tâm lý học Xô Viết đã vạch raphương hướng cơ bản cho việc nghiên cứu NL của con người Tư tưởng củacác nhà tâm lý học Xô Viết được biểu hiện nhất quán trên những khía cạnh sau:
+ Đánh giá về vai trò của tố chất, coi đó là tiền đề vật chất không thể
thiếu của năng lực
A.N.Lêonchiev, trong các công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng, cácphẩm chất di truyền về mặt sinh học là một trong những điều kiện tiền đề vật chấtcủa NL Ông chỉ rõ: “Quá trình bẩm sinh di truyền chỉ là những điều kiện cần thiếtbên trong chủ thể giúp cho cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện” [25, tr.96]
B.M.Chieplov cũng cho rằng: “Cái bẩm sinh cá thể là các đặc điểmgiải phẫu sinh lý, có nghĩa là các tố chất, chúng là cơ sở của sự hình thành
và phát triển NL của con người, còn NL bao giờ cũng là kết quả của sựphát triển” [37, tr.25] Có thể thấy rằng, các nhà tâm lý học Xô Viết không
hề đối lập tư chất với NL mà coi tư chất là cơ sở tự nhiên, tiền đề vật chấtcủa sự hình thành và phát triển NL
+ Khẳng định năng lực tồn tại trong hoạt động và phát triển thông qua hoạt động của mỗi cá nhân
Thực hiện chủ trương đưa lí thuyết hoạt động vào nghiên cứu tâm lí, các nhàTLH Xô Viết đã nghiên cứu NL gắn liền với hoạt động nói chung và chủ thể nóiriêng Theo X.L.Rubinstêin: “Các năng lực của con người không chỉ được hìnhthành trong quá trình con người nắm sản phẩm do con người sáng tạo ra trong lịch
Trang 7sử, mà cả trong quá trình con người tạo ra sản phẩm, quá trình tạo ra thế giới đốitượng, đồng thời là quá trình phát triển chính bản thân mình” [dẫn theo 44, tr.23].
+ Khẳng định các điều kiện xã hội, giáo dục và tính tích cực hoạt động của cá nhân quy định NL của mỗi người
Các nhà TLH Xô Viết đều cho rằng, sự hình thành và phát triển NL
là thông qua quá trình phân công lao động xã hội quy định TheoP.A.Ruđích: “Không phải là tiền đề sinh vật mà do sự phân chia lao độnglàm xuất hiện những giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội là nguyênnhân làm hình thành và phát triển NL của con người” [35, tr.407] A.N.Lêonchiev luôn khẳng định tính quy định của các điều kiện xã hội và giáodục đối với sự hình thành và phát triển NL của cá nhân Để hình thành vàphát triển NL thì cá nhân phải thực hiện một hoạt động tích cực và phù hợpvới kinh nghiệm xã hội - lịch sử của hoạt động đó
Tóm lại, nghiên cứu của các nhà TLH Xô Viết đã có những đóng gópquan trọng vào lí luận PTNL, đánh giá đúng vai trò của tố chất trong việc hìnhthành và phát triển NL, khẳng định NL tồn tại và phát triển trong hoạt động, vaitrò quyết định của các điều kiện xã hội, giáo dục và tính tích cực hoạt động của
cá nhân với hình thành và phát triển NL
* Quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam về NL và năng lực ứng dụng.
TLH Việt Nam ra đời trên nền tảng của TLH Mác-xít, tuy còn non trẻ nhưng đã
có nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học tâm lý Trong đó, vấn đề NL đã đượcnhiều nhà TLH nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau Tác giả Phạm Minh Hạc khinghiên cứu về NL của con người đã chỉ ra vai trò của tri thức, kĩ xảo, kĩ năng trong cấutrúc của NL, đồng thời làm sáng tỏ con đường hình thành và phát triển NL của cá nhân.Trong TLH xã hội, tác giả Hồ Học Hải và các đồng nghiệp đã xem xét NL như là mộtphẩm chất nghề nghiệp được quy định bởi cấu trúc gồm: Kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng và
cả hệ thống niềm tin, thái độ nghề nghiệp của chúng
Trang 8Trong lĩnh vực TLH Sư phạm Đại học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đãchỉ rõ vai trò của yếu tố sinh vật, những đặc điểm bẩm sinh di truyền là điềukiện không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển NL.
Các tác giả Đặng Thị Ngọc và Nguyễn Đức Thục với “ Nghiên cứu vàứng dụng Tâm lý học trước những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn nhà trường” [
21, tr.13]đã cho rằng việc nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi ứng dụng TLH đã thuhút được nhiều công sức và khơi gợi được được nhiều hứng thú của đội ngũgiáo viên và cán bộ quản lý nhà trường
Tác giả Đinh Phương dung với “Ứng dụng TLH” nhận định: “ TLH đãphát triển thành rất nhiều chuyên ngành đa dạng mang tính ứng dụng thiếtthực TLH có thể được vận dụng trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, môitrường sống nào từ khoa học kỹ thuật nói chung tới các chuyên ngành cụthể”[22, tr 18]
Tác giả Lý Thị Mai trong : “TLH ứng dụng – một hệ thống tri thứcquan trọng và không thể thiếu trong nhà trường” [23, tr.31] cho rằng hệ thốngtri thức TLH cần phải thấm thật sâu trong nhận thức và hành vi ứng xử trướchết là của thầy giáo
Trong TLHQS, nhiều tác giả đã nghiên cứu về NL của người cán bộquân đội với nhiều góc độ khác nhau Tác giả Ngô Minh Tuấn, nghiên cứuvề: “Năng lực của Sĩ quan quân đội theo quan điểm Chủ tich Hồ ChíMinh” [36, tr.162-170], đã chỉ rõ những tư tưởng của Người về năng lựccủa người cán bộ quân đội, đồng thời luận giải vai trò của những yếu tốxã hội trong sự hình thành NL, con đường bồi dưỡng và phát triển NLcủa người Sĩ quan quân đội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Các nhà TLH Mác-xít, trong đó có các nhà TLHQS đã có những đónggóp to lớn trong việc phân tích khẳng định vai trò các nhân tố chi phối sự hìnhthành và phát triển NL và con đường bồi dưỡng NL Chính điều này đã tạo ra
Trang 9tiền đề lí luận cho đề tài đi vào nghiên cứu năng lực ứng dụng TLHQS tronghoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện quân y.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực ứng dụng TLHQSvào hoạt động CTĐ, CTCT, đề ra các biện pháp tâm lý xã hội để phát triểnnăng lực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trịHọc viện Quân y
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị HVQY
- Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị ở HVQY
- Đề xuất một số biện pháp tâm lý xã hội phát triển năng lực ứng dụngTLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCTcủa cán bộ chính trị ở HVQY
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Cán bộ chính trị học viện Quân y, học viên đào tạo bác sỹ đa khoa tại họcviện quân y
* Đối tượng nghiên cứu
Năng lực ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nănglực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Họcviện Quân y Số liệu, tư liệu phục vụ cho tác giả nghiên cứu chủ yếu từ năm
2010 đến nay
5 Giả thuyết khoa học
Trang 10Năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT là nănglực quan trọng trong hệ thống các năng lực của cán bộ chính trị, Học việnQuân y Nếu chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ứng dụngTLHQS, làm rõ đặc điểm hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị trên
cơ sở đó đánh giá đúng thực trạng năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị HVQY thì sẽ đưa ra được các biệnpháp tâm lý xã hội để phát triển năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị, HVQY
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận:
Đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứngcủa chủ nghĩa Mác-Lênin, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của yếu tố chính trị, tinh thần,vấn đề ứng dụng thành tựu của các môn khoa học xã hội và nhân văn vàocông tác xây dựng Đảng, hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của TLHMác xít như: Nguyên tắc quyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý,nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động, nguyên tắc phát triển,nguyên tắc tiếp cận nhân cách…
* Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả lựa chọn và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lýthuyết và thực tiễn sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phương pháp phântích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận chuyên ngành,liên ngành và nghiên cứu các tài liệu kinh điển; các văn kiện nghị quyết, chỉthị, quy chế của Đảng các cấp; các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng,Nhà nước để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
Trang 11+ Quan sát năng lực năng lực ứng dụng TLHQS, phong cách vàphương pháp tác phong công tác của cán bộ chính trị trong quá trìnhthực hiện hoạt động CTĐ, CTCT ở đơn vị.
+ Nghiên cứu những báo cáo tổng kết kinh nghiệm hoạt động CTĐ,CTCT của HVQY những năm qua
+ Trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi đối với 135 đồng chí, trong đó có 35đồng chí là cán bộ chính trị và 100 học viên đang trực tiếp công tác, học tậptại Học viện quân y
+ Trao đổi, toạ đàm với một số cán bộ chủ chốt ở các cơ quan, ban Cán
bộ phòng Chính trị và cán bộ chính trị về thực trạng chất lượng của đội ngũcán bộ chính trị hiện nay
+ Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học, nhà sư phạm
+ Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
7 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần luận giải một cách hệ thống những vấn đề lý luận
và thực tiễn của năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCTcủa cán bộ chính trị, Học viện quân y
- Đề xuất một số biện pháp tâm lý xã hội cơ bản nhằm phát triểnnăng lực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chínhtrị, Học viện quân y
8 Cấu trúc của luận văn
Đề tài gồm: Mở đầu, 2 chương (6 tiết), kết luận và kiến nghị, danh mụctài liệu tham khảo, phụ lục
Chương 1
Trang 12CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC QUÂN
SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ
CỦA CÁN BỘ CHÍNH TRỊ HỌC VIỆN QUÂN Y
1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Ứng dụng Tâm lý học quân sự
Ngày nay không có gì mang tính lý thuyết bằng thực tiễn Khoa học chỉ
có ý nghĩa khi biết áp dụng các nghiên cứu lý thuyết vào thực tiễn hoạt động,phục vụ nhu cầu của con người
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì nhữngkhoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thức thuộc một hay nhiều lĩnh vựccủa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để giải quyết những vấn đề thực tế
Tác giả Nguyễn Tuế nêu câu hỏi “ Cần thiết phải vận dụng khoa tâm lýhọc ứng dụng vào thời đại thực tiễn không?” [ 23, tr.28]và khẳng định cónhiều điều phát hiện trong lĩnh vực tâm lý học đã được vận dụng để giải quyếtcác vấn đề của con người TLH làm phong phú thêm cuộc sống , hình thànhnên nhiều ý tưởng cơ bản và nhiều triển vọng làm nền tảng cho cái gọi là
“hiểu biết có lương tri” ( Kỷ yếu hội thảo ứng dụng TLH, giáo dục học vàođổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt nam H.2011)
Theo từ điển tiếng việt của tác giả Hồ Ngọc Đức thì ứng dụng là đưa líthuyết áp dụng và thực tiễn: ứng dụng các thành tựu khoa học ứng dụng kĩthuật vào sản xuất
Theo các nhà Tâm lý học quân sự thì: “Tâm lý học quân sự là mộtngành của khoa học tâm lý, nghiên cứu các quy luật hình thành và hoạt độngtâm lý của quân nhân và tập thể quân nhân thuộc các lực lượng vũ trang trongđiều kiện hoạt động quân sự nói chung đặc biệt là trong chiến đấu, nhằm bảođảm cho quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó trong mọi tìnhhuống” [39, tr.12]
Trang 13Từ các quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm ứng dụng TLHQS nhưsau:
Ứng dụng TLHQS là việc đưa kiến thức TLHQS vào thực tiễn cuộc sống và hoạt động quân sự.
Khoa học chỉ được xem là khoa học khi nó có ý nghĩa thực tiễn vàđược thực tiễn chứng minh Tâm lý học cũng không vượt ra ngoài qui luậtkhách quan đó Điều này giải thích vì sao tác phẩm được xem là đỉnh caocủa tư duy khoa học trong lĩnh vực tâm lý đã ra đời cách nay khoảng2.400 năm nhưng mãi đến năm 1879, khi Nhà tâm lý học người Đức V.Vunt (1832 ?" 1920) thành lập ra phòng tâm lý học đầu tiên trên thế giới,thì tâm lý học mới được thừa nhận là một ngành khoa học độc lập
Hoạt động quân sự là hoạt động mang tính chất chính trị, xã hội tolớn, là hoạt động của lực lượng vũ trang nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đây là hoạtđộng đặc thù đòi hỏi ý chí cao, sự căng thẳng lớn về tinh thần, tâm lý,chịu nhiều gian khổ mất mát, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình.Điều này được phản ánh trong nội dung, cấu trúc của hoạt động và indấu lên tâm lý của bộ đội Nó đòi hỏi người quân nhân những nỗ lực tolớn về tinh thần, có niềm tin sắt đá vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội,tuyệt đối trung thành và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng TLHQS nghiêncứu đặc điểm này từ đó đề ra những biện pháp tổ chức hoạt động để hìnhthành những phẩm chất chính trị, tinh thần phẩm chất nhân cách củangười quân nhân đáp ứng được với thực tiễn xây dựng và phát triển củaquân đội Đó thực sự là những phẩm chất nhân cách rất cần thiết vớingười quân nhân như lòng trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhândân và chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng xả thân hy sinh khi cần thiết,
Trang 14luôn biết đặt lợi ích của tập thể, xã hội lên trên lợi ích của cá nhân, phấnđấu không mệt mỏi trong toàn bộ quá trình hoạt động quân sự
Hoạt động quân sự là hoạt động diễn ra trong những điều kiện nghiêmngặt của kỷ luật quân sự Ở khía cạnh này, TLHQS nghiên cứu các quy luậttâm lý hình thành và phát triển tính kỷ luật của người quân nhân, chỉ ra cấutrúc của hành vi kỷ luật và đề ra các biện pháp hình thành tính kỷ luật choquân nhân, giúp người lãnh đạo, chỉ huy tiến hành đồng bộ các giải pháp đểduy trì nghiêm kỷ luật của đơn vị mình
Hoạt động quân sự là hoạt động diễn ra với cường độ cao, đầy khókhăn, gian khổ, ác liệt và hy sinh Vì vậy, TLHQS đi vào nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến tâm lý bộ đội cả trước, trong và sau khi chiến đấu, trên cơ
sở đó đề ra các biện pháp chuẩn bị tâm lý cho bộ đội, giúp họ vượt qua được
sự căng thẳng để hoàn thành nhiệm vụ
Ngoài ra, do tính chất của hoạt động quân sự là hoạt động tập thể, kết quảhoạt động là của tập thể đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất từ trên xuốngdưới… Quá trình hoạt động đó làm nảy sinh các hiện tượng tâm lý của tập thể.TLHQS lại đi vào tìm hiểu quy luật nảy sinh các hiện tượng tâm lý nảy sinhtrong các hoạt động của tập thể quân sự, đề ra các biện pháp tác động, điều chỉnhcác hiện tượng đó làm cho nó đi đúng hướng và mang lại hiệu quả cao
Hoạt động quân sự còn chịu sự tác động mạnh mẽ từ phía người lãnhđạo chỉ huy TLHQS đi sâu nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của hoạt động lãnhđạo quản lý bộ đội, cả yếu tố thuộc về người lãnh đạo, chỉ huy, cả yếu tố thuộc
về người lính Từ đó chỉ ra những biện pháp cơ bản, khoa học để người lãnhđạo, chỉ huy biết cách tác động và nâng cao hiệu suất hoạt động của bộ đội
Thực tiễn xây dựng và chiến đấu của quân đội các nước xã hội chủnghĩa cho thấy vai trò to lớn của CTĐ, CTCT Chỉ ở đâu, khi nào quân độiđược sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ cho lợi ích của Đảng, của nhân dân và
Trang 15của toàn dân tộc, thì ở đó, khi đó quân đội mới đi đúng hướng, mới có sứcmạnh để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù
Chính vì vai trò hết sức quan trọng của CTĐ, CTCT nên Đảng ta khẳngđịnh: Tiến hành CTĐ, CTCT là một nguyên tắc trong xây dựng lực lượng vũtrang của Đảng
Nhiệm vụ cơ bản của CTĐ, CTCT là tiến hành công tác tư tưởng, côngtác tổ chức, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại, đảm bảo mọi quân nhân luôn trung thành với Đảng, hoàn thành mọinhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó
CTĐ, CTCT là một bộ phận trong hoạt động lãnh đạo của Đảng với lựclượng vũ trang nhân dân, do đó CTĐ, CTCT tuân theo quy luật, nguyên tắc xâydựng và hoạt động của Đảng nói chung cũng như sự nghiệp xây dựng Quân độinhân dân nói riêng Đó là hoạt động tự giác có ý thức dựa trên cơ sở khoa học
TLHQS được coi là cơ sở khoa học trực tiếp của CTĐ, CTCT vì cả haikhoa học này đều có chung đối tượng là con người mà cụ thể ở đây là quânnhân, tập thể quân nhân, đều tác động đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của họ đểmang lại hiệu quả cao trong hoạt động quân sự Điều này cũng trở nên quantrọng khi yếu tố chính trị tinh thần được Đảng ta xác định là nhân tố quyết định
sức mạnh chiến đấu của quân đội ta Lênin nói: “Đối với quần chúng, cần phải học cách gần gũi họ một cách đặc biệt kiên nhẫn và thận trọng để có thể hiểu được những đặc điểm, những nét tâm lý riêng biệt của mỗi tầng lớp, mỗi nghề nghiệp… của quần chúng đó” [26, tr 223] Người nhấn mạnh: “Phải biết xác định một cách chắc chắn bất cứ trong vấn đề nào, trong lúc nào, tâm trạng của quần chúng, những nhu cầu, những nguyện vọng, những ý nghĩ thật của họ” [27, tr 426] TLHQS cung cấp các luận cứ khoa học để người cán bộ chính
trị, các tổ chức đảng dựa vào đó xây dựng nội dung, chương trình, tiến hành cáchoạt động CTĐ, CTCT có hiệu quả Để làm được điều đó người cán bộ chínhtrị phải nắm được các đặc điểm tâm lý của quân nhân và các tập thể quân nhân
Trang 16TLHQS sẽ cung cấp cho họ những căn cứ khoa học về các đặc điểm tâm lý, cácquá trình tâm lý, các thuộc tính tâm lý của quân nhân cũng như các hiện tượngtâm lý xã hội của tập thể quân nhân để họ tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT đạthiệu quả cao nhất Do đó, để xây dựng quân đội đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụđòi hỏi phải sử dụng các kiến thức TLHQS vào hoạt động quân sự là một yêucầu cơ bản, trực tiếp nhất.
Với khả năng ứng dụng to lớn, đòi hỏi những người lãnh đạo, chỉ huyphải quan tâm, ứng dụng một cách toàn diện những thành tựu của TLHQSvào hoạt động quân sự nói chung, nhất là hoạt động CTĐ, CTCT để xây dựngquân đội ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng với yêucầu nhiệm vụ mới
1.1.2 Năng lực ứng dụng Tâm lý học quân sự
Các nhà TLH trong và ngoài nước đã đưa ra những khái niệm khác nhau vềnăng lực P.A.Rudik quan niệm: “Năng lực là tính chất tâm - sinh lí của con ngườichi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như hiệu quả thựchiện một hoạt động nhất định” [35, tr.401] Ở đây ông đã mở rộng khái niệm NL màtrong đó các điều kiện tâm - sinh lí có sự chi phối các loại hoạt động của con người
A.G.Côvaliov cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp nhữngthuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảmbảo cho hoạt động đạt kết quả cao” [3, tr.90] Theo ông, NL cần được hiểu như làmột tổ hợp của các thuộc tính cá nhân cần thiết cho việc thực hiện thành công mộthoạt động nhất định Các thuộc tính đó không tồn tại độc lập bên cạnh nhau mộtcách đơn giản, mà chúng tác động qua lại lẫn nhau trong một hệ thống nhất định
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Năng lực chính là một tổ hợp đặcđiểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của mộtnhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo rakết quả một hoạt động nào đó” [13, tr.145]
Trang 17Tác giả Vũ Dũng trong từ điển TLH cũng đưa ra quan niệm về NL: “Là tậphợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong,tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [12, tr.160]
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú và các nhà TLHQS cho rằng, toàn bộ cácphẩm chất tâm lí và sinh lí cá nhân đều góp phần tạo nên kết quả của hoạt động,người có NL là người có những phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của hoạt động
và đạt kết quả cao trong hoạt động Hoạt động là điều kiện hình thành và PTNL,
là thước đo NL của từng cá nhân, chất lượng và hiệu quả của hoạt động chophép chúng ta đánh giá mức độ phát triển NL của cá nhân, không có NL tồn tạingoài hoạt động
Trên cơ sở phân tích quan điểm của các nhà TLH nói chung, TLHQS
nói riêng về năng lực, có thể đưa ra khái niệm chung về NL như sau: Năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm lí và sinh lí cá nhân, đáp ứng với yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động ấy nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao.
Năng lực ứng dụng TLHQS là một bộ phận của NL chung Vì vậy,
có thể đưa ra khái niệm về NL ứng dụng TLHQS như sau:
Năng lực ứng dụng TLHQS là tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lí
cá nhân đảm bảo cho việc đưa hệ thống kiến thức cơ bản của TLHQS vào hoạt động thực tiễn quân sự nhanh chóng và đạt hiệu quả cao.
Khi nói đến năng lực ứng dụng TLHQS cần phải hiểu không phải là mộtphẩm chất tâm lí duy nhất nào đó mà là sự tổng hợp các phẩm chất tâm lí và sinh
lí đảm bảo cho cá nhân đạt được tốc độ, hiệu quả cao trong hoạt động Sự tổnghợp các phẩm chất tâm lí - sinh lí không phải là phép cộng giản đơn của các phẩmchất ấy mà là sự thống nhất hữu cơ, tác động qua lại, ảnh hưởng chi phối lẫn nhautrong quá trình hoạt động Năng lực ứng dụng TLHQS được hình thành, phát triển
và biểu hiện ra trong hoạt động, qua kết quả hoạt động có thể đánh giá năng lựcứng dụng TLHQS của từng cá nhân NL bao giờ cũng là NL trong một lĩnh vực
Trang 18hoạt động nhất định Đảng cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Năng lực của người cán bộđược thể hiện ở trình độ tri thức; kiến thức khoa học, ở chất lượng và hiệu quảcông tác cụ thể chứ không phải chỉ nhấn mạnh đơn thuần học vị, bằng cấp màkhông chú ý đầy đủ đến thực chất trình độ cũng như năng lực lãnh đạo, quản lý vàquá trình rèn luyện, thử thách trong thực tiễn công tác” [4, tr.114].
Năng lực ứng dụng TLHQS không phải là những thuộc tính tự nhiên cósẵn, quá trình hình thành và phát triển của nó tuân theo quy luật về sự hình thành,phát triển của NL chung, đồng thời luôn chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp bởichính hoạt động học tập, rèn luyện của người học
1.1.3 Năng lực ứng dụng Tâm lý học Quân sự trong hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị của cán bộ chính trị Học viện quân y
V.I.Lênin, người xây dựng và hoàn chỉnh học thuyết về chiến tranh
và quân đội, người đặt nền móng cho CTĐ, CTCT trong quân đội cáchmạng, coi CTĐ, CTCT là vũ khí mạnh mẽ của Đảng Cộng sản trong việcnâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của quânđội Lênin luôn đề cao vai trò của yếu tố chính trị tinh thần trong việcnâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội
Khẳng định vai trò của yếu tố chính trị tinh thần, Lênin nói: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạng phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy” [26, tr 147].
Cùng với vai trò của yếu tố chính trị tinh thần, Người cũng đã khẳng định
sức mạnh và hiệu quả to lớn của CTĐ, CTCT trong quân đội: “ Ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội làm được chu đáo nhất thì ở đấy không
hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ được trật tự tốt
Trang 19hơn và tinh thần của họ cũng cao hơn ở đấy thu được thu được nhiều thắng lợi hơn” [ 27, tr 66].
Sự phát triển của TLHQS liên quan rất chặt chẽ tới nhu cầu ngày càngtăng của thực tiễn xã hội và hoạt động quân sự Đặc biệt, thực tiễn hoạt độngquân sự ngày nay đã và đang dặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi TLHQS phảitham gia giải quyết
Đối với hoạt động CTĐ, CTCT trong quân đội - một hoạt động mà đốitượng tác động chủ yếu là con người thì việc nghiên cứu, nắm vững và vậndụng TLHQS vào hoạt động càng có ý nghĩa quan trọng Đó là điều kiệnkhông thể thiếu được trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động CTĐ,CTCT TLHQS vì thế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của cán
bộ chính trị Tuy nhiên để đưa được kiến thức TLHQS vào thực tiễn hoạtđộng CTĐ, CTCT đòi hỏi người cán bộ chính trị cần có hệ thống các năng lựcnhất là năng lực ứng dụng Ý nghĩa của TLHQS trong hoạt động của cán bộchính trị thể hiện rõ trên các khía cạnh sau:
Một là, TLHQS là điều kiện cần thiết giúp người cán bộ chính trị tiếp
cận tới từng quân nhân để hiểu rõ thế giới tâm lý của quân nhân
Muốn tiến hành thuyết phục, giáo dục đạt hiệu quả cao đòi hỏi ngườicán bộ chính trị phải có sự am hiểu về đời sống tâm lý của quân nhân và tậpthể quân nhân Sự am hiểu đó đảm bảo cho hoạt động tuyên truyền, cổ động,giáo dục, thuyết phục đạt hiệu quả Con đường để có sự am hiểu đó khôngbằng cách nào khác là phải nắm vững kiến thức TLHQS
Hai là, TLHQS giúp người cán bộ chính trị tổ chức hoạt động tuyên truyền,
giáo dục một cách khoa học mang lại chất lượng hoạt động cao cho đơn vị
Việc nắm bắt kiến thức TLHQS sẽ giúp người cán bộ chính trị hiểuđược các đặc điểm, quy luật, cơ chế nảy sinh và phát triển của các hiện tượngtâm lý người Từ đó, tổ chức hoạt động tuyên truyền giáo dục một cách hợp
lý, khoa học, đảm bảo logic nhận thức, nhằm tối ưu hóa quá trình này
Trang 20Ba là, TLHQS giúp người cán bộ chính trị có thái độ và phương pháp
khoa học trong đánh giá nhân cách quân nhân
Mỗi người là một nhân cách, trong mỗi con người đều có những mặttốt, mặt xấu nhất định, tồn tại, đan xen lẫn nhau trong quá trình phát triển.Nắm vững những đặc điểm tâm lý của nhân cách, hiểu tính quy định xã hộicủa tâm lý, thấy rõ sự thống nhất giữa tâm lý ý thức và hoạt động sẽ giúpngười cán bộ chính trị biết nhìn nhận, đánh giá nhân cách quân nhân theochiều hướng phát triển, gắn với hoạt động, không bị định kiến, chi phối bởinhững hành động, việc làm cụ thể, mà luôn luôn đặt nó trong sự vận động vàphát triển không ngừng của hoàn cảnh Từ đó, sẽ có những quyết định hợp lýtrong đánh giá nhân cách quân nhân, để phát huy tiềm năng của từng người,khắc phục những mặt hạn chế, dìu dắt giúp đỡ họ tiến bộ, góp phần trực tiếpnâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi người và của đơn vị nói chung
Bốn là, nắm vững tri thức TLHQS sẽ giúp người cán bộ chính trị biết cách
điều khiển, định hướng các hiện tượng tâm lý học xã hội nảy sinh trong đơn vị
Trong quá trình hoạt động cùng nhau sẽ làm nảy sinh các hiện tượngtâm lý xã hội trong tập thể quân nhân như: dư luận, tâm trạng, uy tín, truyềnthống Những hiện tượng này sẽ diễn ra theo 2 chiều hướng, tích cực hoặctiêu cực Là người cán bộ chính trị nếu nắm vững các đặc điểm, quy luật, cơchế tâm lý của những hiện tượng này sẽ có những biện pháp tâm lý xã hộiđịnh hướng, điều khiển chúng nhằm đạt tới hiệu quả mong muốn trong duy trìcác hoạt động của đơn vị TLHQS sẽ giúp người cán bộ chính trị biết cáchđịnh hướng dư luận, xây dựng tâm trạng tập thể, điều khiển những hiện tượngnày hình thành phát triển theo hướng tốt đẹp của đơn vị, hình thành và củng
cố uy tín cho cán bộ, chiến sĩ và cho chính bản thân mình, biết vận dụngnguyên tắc giáo dục tập thể bằng tập thể, xây dựng các mối quan hệ qua lại tốtđẹp giữa các quân nhân Đây là điều kiện quan trọng để gắn kết mọi quân
Trang 21nhân trong đơn vị thành một tập thể đoàn kết, thống nhất, có nề nếp tốt, kỷluật cao và thực sự vững mạnh.
Có thể thấy rằng, TLHQS có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của người cán bộ chính trị Đó là nhân tố không thể thiếuđược trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT Chính
vì vậy, quá trình đào tạo ở nhà trường cùng với tích cực, chủ động trau dồi,
mở rộng và nâng cao trình độ tri thức ở lĩnh vực chuyên ngành, thì nghiên cứu
để nắm vững và vận dụng tri thức TLHQS vào hoạt động của người cán bộchính trị là nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu qủa hoạt động CTĐ,CTCT, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chínhquy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Năng lực ứng dụng Tâm lý học quân sự trong hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị của cán bộ chính trị, Học viện Quân y là tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lí của cán
bộ chính trị đảm bảo đưa kiến thức TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT nhanh chóng và đạt hiệu quả cao.
Như vậy, căn cứ vào khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng: năng lựcứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị, Học việnquân y không phải là một phẩm chất tâm lí, sinh lí riêng lẻ nào mà là tổng hợpcác phẩm chất tâm - sinh lí của người cán bộ chính trị đáp ứng yêu cầu hoạt
động CTĐ, CTCT , đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra một cách nhanh chóng,
thành thạo và đạt kết quả cao Tổng hợp những phẩm chất tâm - sinh lí đó baogồm nhiều thành tố và nhiều nội dung, mỗi thành tố, mỗi nội dung phản ánhnhững đòi hỏi đặc thù mục tiêu đào tạo và thực tiễn cương vị chức trách màngười cán bộ đảm nhiệm Khác với các đơn vị, CBCT ở học viện Quân y hầuhết là cán bộ kiêm nhiệm Số cán bộ chính trị được đào tạo bài bản rất ít, hầuhết là cán bộ chuyển loại Do đó năng lực vận dụng, ứng dụng các kiến thứcTLHQS được trang bị cũng không giống nhau Mặt khác đối tượng tiến hành
Trang 22CTĐ, CTCT của CBCT Học viện quân y ngoài cán bộ nhân viên trong đơn vịcòn có cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Để tránh được những cám đỗ vềmặt vật chất đảm bảo đơn vị an toàn, ổn định về mọi mặt đòi hỏi đội ngũCBCT phải vận dụng tổng hợp các phẩm chất tâm-sinh lý cá nhân đề ra cácbiện pháp tiến hành CTĐ, CTCT phù hợp với đặc điểm đơn vị mình
Các phẩm chất tâm - sinh lý như phẩm chất trí nhớ, tưởng tượng; phẩmchất tư duy; phẩm chất ý chí là những phẩm chất cần có của người cán bộ Haynói cách khác phải có những phẩm chất tâm - sinh lý ấy người cán bộ mới đápứng được yêu cầu của hoạt động Chính nhờ những phẩm chất tâm - sinh lý ấy
mà đảm bảo cho hoạt động CTĐ, CTCT của người cán bộ được diễn ra nhanh
chóng, thành thạo và đạt hiệu quả
Mặt khác, khái niệm trên cũng chỉ rõ những nội dung cụ thể của năng lựcứng dụng Tâm lý học quân sự của cán bộ chính trị, biểu hiện ở các khía cạnhnhư: kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng; sự thành thạo các kĩ xảo, kĩnăng hoạt động CTĐ, CTCT; tính tích cực, sự chủ động của người cán bộ cácnội dung ấy luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại chi phối lẫn nhau,
đảm bảo cho hoạt động CTĐ, CTCT của người cán bộ diễn ra đạt hiệu quả cao.
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ứng dụng Tâm lý học quân sự trong hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị của cán bộ chính trị Học viện quân y
1.2.1 Yếu tố bên trong
- Các tố chất của cán bộ chính trị:
Tố chất là cơ sở tự nhiên tạo thành tiền đề vật chất, ban đầu không thểthiếu trong sự hình thành năng lực nói chung, năng lực ứng dụng TLHQScủa cán bộ chính trị HVQY nói riêng Bởi lẽ, nếu người cán bộ chính trị có
tố chất tốt sẽ tác động tích cực đến quá trình phát triển năng lực ứng dụngTLHQS của bản thân trong quá trình hoạt động thực tiễn Ngược lại nhữngngười có cố tật bẩm sinh về ngoại hình, giọng nói, cơ quan nghe, nhìn thì
Trang 23sự phát triển năng lực ứng dụng TLHQS của họ sẽ khó khăn hơn, ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT sau này Các tố
chất cần thiết của cán bộ chính trị thể hiện ở ngoại hình, sức khỏe, sự pháttriển của các giác quan, hệ thần kinh
Hoạt động của lực lượng vũ trang là một dạng hoạt động đặc biệt, diễn ra vớicường độ cao, gian khổ, ác liệt căng thẳng về mặt thể chất và tinh thần Vì vậy, vấn
đề ngoại hình và sức khỏe rất được quan tâm Ngoại hình của người cán bộ chính trịđược thể hiện ở vóc dáng, tầm thước cân đối, không dị tật Sức khỏe tốt là không
thể thiếu để bảo đảm cho việc tiến hành các hoạt động CTĐ, CTCT ở đơn vị.
Hệ thần kinh linh hoạt giúp cán bộ chính trị bình tĩnh, tự tin trong xử
lý tình huống, nhanh chóng phát hiện các mối liên hệ phức tạp của sựkiện, hiện tượng để giải quyết tình huống một cách chính xác, khoa học
và hợp lý Đồng thời, giúp cán bộ chính trị có độ nhạy cảm cao trong nhìn
và nghe, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan vận động và ghi nhớ ýnghĩa, di chuyển và phân phối chú ý đã được hoàn thiện, hoạt động tư duythay đổi về chất mang tính chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán Tât cả điều
đó giúp cán bộ chính trị nhận thức nhanh vấn đề, nắm chắc kiến thức,hình dung tổng thể các bước vận dụng tri thức vào thực tiễn để tiến hành
các hoạt động CTĐ, CTCT theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Học viện.
Đặc biệt trong môi trường khám chữa bệnh và điều trị của Học viện Quân
y hiện nay Hàng ngày CBCT ở các bệnh viện thường xuyên phải tiếp xúcvới những tình huống khó khăn như: người nhà bệnh nhân dọa nạt, gây
gổ, các ca biến chứng, tử vong điều này đòi hỏi đội ngũ CBCT phải có
hệ thần kinh linh hoạt, nắm bắt thông tin nhanh và xử lý khéo léo để tránhảnh hưởng tới đơn vị mình
- Tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập của cán bộ chính trị được bắt nguồn từ nhu cầu
và được thể hiện ra ở hệ thống động cơ, mục đích, sự hứng thú, say mê
Trang 24hoạt động nhằm chiếm lĩnh hệ thống kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng và lựa chọnphương pháp làm việc tối ưu nhất của cán bộ chính trị trong quá trình tiếnhành hoạt động Đây là nhân tố giữ vai trò quyết định sự phát triển năng
lực ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Bởi
lẽ, mỗi cán bộ chính trị có thuận lợi về tố chất, về các phẩm chất tâm líthích ứng và có thâm niên nghề nghiệp, nhưng thiếu tinh thần tính tích cựchọc tập, nghiên cứu và tu dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao lực ứng dụng
TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT thì sẽ khó có thể đáp ứng yêu cầu đòi
hỏi ngày càng cao của Quân đội và đơn vị
Trong tính tích cực thì hứng thú học tập có vai trò đăc biệt quan trọng Hứngthú là thái độ có tính chất chọn lọc của người cán bộ chính trị đối với một đối tượng
có ý nghĩa đối với cuộc sống và có sự hấp dẫn về mặt tình cảm Khi có hứng thú thìtính tích cực và hiệu quả hoạt động tăng lên Hứng thú là một trong những động cơđược nảy sinh trên cơ sở nhu cầu
- Kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng, kinh nghiệm, vốn sống
Các nhà TLH sư phạm đã khẳng định: có tri thức, kĩ xảo, kĩ năng trong mộtlĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có NL trong lĩnh vực này Kiến thức là sựphản ánh hiện thực khách quan của con người dưới dạng những hình ảnh, kháiniệm, biểu tượng và mối quan hệ của chúng, được giữ lại và củng cố trong trí nhớ.Kiến thức là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để hình thành kĩ xảo, kĩ năng
Người cán bộ chính trị trong quá trình hoạt động tại Học viện Quân y,cần phải trang bị một hệ thống các kiến thức khoa học bao gồm: kiến thứckhoa học xã hội và nhân văn; kiến thức về y học cơ sở, kiến thức y học lâmsàng; kiến thức về quân sự; kiến thức về hoạt động CTĐ, CTCT; kiến thức vềtâm lý học lãnh đạo-quản lý Kiến thức về khoa học xã hội nhân văn giúpcho người cán bộ chính trị có thế giới quan khoa học, phương pháp luận cáchmạng trong xem xét và đánh giá các sự vật, hiện tượng Kiến thức về chuyênngành y học cơ sở, kiến thức y học lâm sàng sẽ giúp người cán bộ chính trị
Trang 25làm tốt các hoạt động CTĐ, CTCT ở đơn vị chuyên môn Bên cạnh đó cán bộchính trị phải có kiến thức rộng về quân sự như: nắm được những nội dung cơbản về đường lối quân sự, hiểu được tâm lý của cán bộ, chiến sỹ, nhân viên và
kể cả bệnh nhân ở đơn vị mình
Kĩ xảo là những thủ pháp, cách thức hành động đã được củng cố và tự độnghóa Đó là hành động đã đạt đến một trình độ thuần thục cao, các thao tác đượcthực hiện một cách nhanh chóng, chính xác đạt tiêu chí về số lượng và chất lượng.Người cán bộ chính trị trong quá trình hoạt động tại Học viện cần rèn luyện chomình tất cả các loại kĩ xảo cơ bản cho hoạt động CTĐ, CTCT : kĩ xảo đánh giáphân tích tình hình, kĩ xảo giải quyết tình huống, kĩ xảo nắm bắt đặc điểm tâm,sinh lí cấp dưới
Kĩ năng là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức, kĩ xảo vàogiải quyết các nhiệm vụ trong mọi tình huống Kiến thức, kĩ xảo là cơ sởcho việc hình thành kĩ năng, nhưng chỉ có những kiến thức đã được tiếpthu sâu sắc, chắc chắn và những kĩ xảo thật sự thuần thục mới làm cơ sởcho việc hình thành kĩ năng Những kĩ năng cần rèn luyện cho người cán
bộ chính trị là: kĩ năng xây dựng kế hoạch bảo khám chữa bệnh và điềutrị và đào tạo cho đơn vị; kĩ năng điều hành; kĩ năng giải quyết côngviệc, giải quyết tình huống; kĩ năng tham mưu cho người chỉ huy; kĩnăng tổ chức điều hành hoạt động CTĐ, CTCT Ba yếu tố kiến thức, kĩxảo, kĩ năng có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Tích lũykiến thức, rèn luyện kĩ xảo, hình thành kĩ năng là điều kiện để người cán
bộ chính trị đạt đến trình độ cao trong hoạt động CTĐ, CTCT
Sự từng trải, vốn sống, kinh nghiệm, đây là vấn đề rất quan trọng tronglĩnh vực hoạt động CTĐ, CTCT Nhờ có sự trải nghiệm, kinh qua thực tiễnnhững cương vị công tác, mỗi cán bộ chính trị sẽ tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động CTĐ, CTCT đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn Thực tiễn đãkhẳng định: nếu mỗi cán bộ chính trị thường xuyên có sự tích luỹ mọi mặt
Trang 26trong thực tiễn hoạt động để trở thành "tài sản riêng" của mình, thì đễ dàngtiến hành xử lí các tình huống trong hoạt động CTĐ, CTCT tại đơn vị mình.
- Trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ
Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để con người có đờisống tâm lý bình thường, ổn định, lành mạnh Đó là công cụ để lưu giữlại các kết quả của quá trình cảm giác, tri giác, cung cấp các tài liệu cảmtính cho tư duy, tưởng tượng làm cho quá trình này đạt được kết quả hợp
lý Quá trình học tập, rèn luyện của cán bộ chính trị yêu cầu phải có trínhớ, tư duy và ngôn ngữ để phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức, hình thành
và phát triển nhân cách Sự phát triển năng lực ứng dụng TLHQS của cán
bộ chính trị đòi hỏi rất nhiều yếu tố trong đó cán bộ chính trị có trí nhớnhanh, chính xác và lâu dài, có tư duy sáng tạo, linh hoạt Ngôn ngữquan hệ mật thiết với tư duy, là công cụ, phương tiện của tư duy, vì vậyngôn ngữ trong sáng, ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, có sức truyền cảm,
để thực hiện tốt nhiệm vụ chức trách
1.2.2 Yếu tố bên ngoài:
- Cách thức tổ chức các loại hoạt động của Học viện quân y
Học viện quân y là đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm
vụ chính là đào tạo đội ngũ bác sỹ phục vụ trong toàn quân , điều trị cho cán bộcác cấp trong Quân đội và Nhân dân Hoạt động CTĐ, CTCT tại học viện thựchiện theo các kế hoạch, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị Nhiệm vụ là tuyêntruyền chủ nghĩa Mác-Lênin, giáo dục đường lối chính sách của Đảng và Nhànước, nhiệm vụ của Quân đội, của Học viện, nâng cao trình độ nhận thức, hìnhthành thế giới quan cách mạng, xây dựng ý chí, lòng tin trách nhiệm của cán bộcông nhân viên trong đơn vị Đào tạo đội ngũ bác sỹ có đủ phẩm chất, năng lựcđáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh và điều trị cho bộ đội, cho nhân dân Tíchcực nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của y hịc thế giới vào phục vụ chuyênmôn Phấn đấu là đơn vị dẫn đầu của Quân đội và cả nước về nghiên cứu khoahọc và điều trị
Trang 27Để thực hiện được nhiệm vụ trên Học viện phải thực hiện nhiều hoạtđộng phức tạp, có liên quan chặt chẽ với nhau: hoạt động học tập; hoạt độngkhám chữa bệnh và điều trị; hoạt động quản lý; hoạt động đảm bảo mục đíchcủa những hoạt động này là góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng và Quânđội giao cho Học viện Chất lượng, hiệu quả của hoạt động phụ thuộc rất lớnvào cách thức tổ chức, phương pháp tiến hành các loại hoạt động này Mỗi loạihoạt động cụ thể đều diễn ra theo những trình tự nhất định: nhận nhiệm vụ, xácđịnh mục đích, lập kế hoạch, tiến hành điều chỉnh hoạt động chu phù hợp vớiđặc điểm tình hình đơn vị mà vẫn đảm bảo nhiệm vụ đề ra, đánh giá kết quả, sosánh đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ.
Thông qua các loại hoạt động này người cán bộ chính trị trong quá trìnhtiến hành hoạt động CTĐ, CTCT tại đơn vị mình đòi hỏi phải sử dụng nhiềubiện pháp khác nhau Giáo dục động cơ, quán triệt mục đích, nhiệm vụ, xâydựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát, động viên khen thưởng Những biện pháp
đó nhằm tích cực hóa và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCTcủa đơn vị Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật,của sự chuyên môn hóa, hiện đại hóa trong lĩnh vực y học, tính hiệu quả củacác hoạt động CTĐ, CTCT phụ thuộc rất lớn vào việc người cán bộ chính trịbiết tổ chức khoa học hoạt động của họ, tạo ra những điều kiện tối ưu để hoạtđộng CTĐ, CTCT tại đơn vị mình đạt hiệu quả, chất lượng
Mối quan hệ qua lại của cán bộ chính trị
Mối quan hệ qua lại là các hình thức, các dạng liên hệ thực tế vàgiao tiếp trực tiếp của cán bộ chính trị trong quá trình sống và hoạtđộng cùng nhau Ở nhà trường quân đội, mối quan hệ qua lại có ảnhhưởng lớn đến chất lượng hiệu quả hoạt động nói chung, hoạt độngCTĐ, CTCT nói riêng Các mối quan hệ qua lại giữa cán bộ chính trịvới cơ quan chính trị; cán bộ chính trị với cấp ủy cấp mình và cấp ủycấp trên; giữa cán bộ chính trị với học viên, giữa cán bộ chính trị với
Trang 28các bộ phận phục vụ, giữa cán bộ chính trị với tập thể đơn vị và ở các
cơ sở điều trị là cả mối quan hệ giữa cán bộ chính trị với bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân Đây là những mối quan hệ cơ bản tạo nên môitrường thuận lợi nâng cao chất lượng hiệu quả của hoạt động CTĐ,CTCT mà cán bộ đó tiến hành
Vai trò các mối quan hệ của cán bộ chính trị trong đơn vị là rất tolớn Nếu các mối quan hệ đó được xây dựng phù hợp thì chúng gópphần tăng lòng tin, giữ vững kỷ luật, đoàn kết mọi người nhằm thựchiện nhiệm vụ chung Nó tạo nên tâm trạng phấn chấn, hình thành cáctruyền thống tích cực góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ củađơn vị trong đó có nhiệm vụ CTĐ, CTCT Ngược lại nếu các mối quan
hệ của cán bộ chính trị không phù hợp thì sẽ gây không khí chán nản,giảm ý chí phấn đấu, gây chia rẽ nội bộ, cản trở việc thực hiện nhiệm
vụ CTĐ, CTCT của đơn vị, gây chia rẽ nội bộ
Quá trình hình thành các mối quan hệ của cán bộ chính trị đượcquy định bởi các yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của đơn vị, đặc điểm tổ chức hoạt động của đơn vị và bởi yêu cầuchủ quan của mỗi cá nhân
Cán bộ chính trị là người phụ trách các mặt hoạt động CTĐ, CTCTcủa đơn vị, do nhu cầu muốn hoạt động CTĐ, CTCT tại đơn vị mình cóhiệu quả họ đều cần đến đồng chí, đồng đội, cần tri thức kinh nghiệm,vốn sống, sự đánh giá của những người xung quanh, sự động viên khích
lệ cũng như sự phê bình của cán bộ chiến sỹ trong đơn vị trên tinh thầntương thân, tương ái
Nếu nhu cầu hoạt động, nhu cầu tự khẳng định mình của cán bộ chính trị vìmục đích phục vụ hoạt động chung của tập thể và rèn luyện nhân cách của mình,được thỏa mãn thì các mối quan hệ của họ sẽ hình thành theo hướng tích cực.Ngược lại nếu nhu cầu của cán bộ chính trị ý thức trên cơ sở lợi ích cá nhân, vị kỷkhông được tập thể nghiên cứu đánh giá, định hướng đúng thì sẽ hình thành các
Trang 29mối quan hệ tiêu cực ảnh hưởng tới đơn vị nói chung, tới kết quả hoạt động củacán bộ chính trị nói riêng trong đó có hoạt động CTĐ, CTCT.
Thực tế ở HVQY cho thấy, quá trình tiến hành hoạt động CTĐ,CTCT phải chú ý xây dựng toàn diện cả mối quan hệ chính thức vàkhông chính thức trong các tập thể nói chung, đặc biệt là của cán bộchính trị nói riêng để tránh xảy ra các xung đột tâm lí ảnh hưởng đếnbầu không khí tâm lý ảnh hưởng đến kết quả hoạt động CTĐ, CTCT,rèn luyện phát triển năng lực ứng dụng TLHQS cũng như nhân cách củangười cán bộ chính trị
Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của CBCT
Đây là yếu tố quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến sự vận động và phát triểnnhân cách người cán bộ nói chung và năng lực ứng dụng TLHQS vào hoạt độngCTĐ, CTCT nói riêng Nó quyết định đến việc tạo ra những điều kiện thuận lợi haykhó khăn cho quá trình hình thành năng lực ứng dụng TLHQS của người cán bộ Nóđược ví như là cái “phông”, cái “nền” để trên cơ sở ấy năng lực ứng dụng TLHQScủa người cán bộ chính trị có thể nảy sinh, hình thành và phát triển Các điều kiệnđảm bảo cho hoạt động của CBCT gồm điều kiện vật chất và phương tiện
Cơ sở vật chất, phương tiện ở HVQY bao gồm: hệ thống giảng đường,phòng học chuyên dùng, thư viện, bệnh viện, labo thí nghiệm; các trung tâm nghiêncứu, hệ thống máy tính, đèn chiếu
Học viện Quân y là trung tâm y học hàng đầu của Quân đội, được đầu tưtrang bị tương đối hiện đại về mọi mặt từ cơ sở vật chất tới trang thiết bị kỹ thuật.Học viện có các bệnh viện điều trị ( bệnh viện 103, viện bỏng Quốc gia) và cáctrung tâm( trung tâm mô phôi, trung tâm y dược học quân sự ), nguồn thu từ cácbệnh viện và trung tâm này được tái đầu tư, trang bị lại cho cơ sở vật chất của họcviện và một phần chi cho cán bộ nhân viên toàn học viện Do đó đội ngũ CBCT tạihọc viện có đời sống tương đối thuận lợi so với các đơn vị khác trong quân đội,được làm việc trong môi trường với các trang thiết bị hiện đại, tính chuyên mônhóa cao Đây là điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực chủ động của CBCT,động viên họ ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT
Trang 30Cơ sở vật chất, phương tiện có vai trò to lớn trong việc nâng cao chấtlượng hoạt động CTĐ, CTCT và có ảnh hưởng rất rõ tới hiệu quả hoạt độngcủa cán bộ chính trị Bởi nó là cơ sở nền móng cho quá trình hoạt động của cán
bộ chính trị, quy định thao tác của CBCT trong qua trình hoạt động; giúp ngườiCBCT tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT được thuận lợi; tăng tính thuyết phục,tiết kiệm thời gian nhưng vẫn đạt hiệu quả cao
Trang 31Sơ đồ 1.1: Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ứng dụng Tâm lý học Quân
sự trong hoạt động công tác Đảng, công tác Chính trị của cán bộ chính trị, Học viện Quân y
Các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,qui định sự phát triển năng lực ứng dụng TLHQS của cán bộ chính trị Trong đó,các nhân tố thuộc về chính bản thân người cán bộ chính trị đặc biệt là các phẩm chấtnhân cách, tính tích cực hoạt động bao giờ cũng giữ vai trò quyết định
1.3 Đặc điểm hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện Quân y
1.3.1 Đội ngũ cán bộ chính trị tại Học viện quân y không đồng đều, năng lực công tác có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động CTĐ, CTCT
Khác với các đơn vị khác, HVQY là đơn vị chuyên môn, thực hiện nhiệm
vụ chính là đào tạo và điều trị Do đặc thù là đơn vị chuyên môn nên số lượngCBCT tại Học viện rất ít Với quân số trên 9000 người cả cán bộ và học viên tại
6 đầu mối trực thuộc là: Bệnh viện quân y 103, Viện bỏng Lê Hữu Trác, Trungtâm Y, Dược học quân sự, Trung tâm phía Nam, Trung tâm mô phôi, TrườngTrung cấp quân y I nhưng số lượng CBCT của toàn Học viện chỉ có 50 người.Ngay tại các Đại đội quản lý học viên cũng thường chỉ có đại đội trưởng chứkhông có chính trị viên Tại hầu hết các khoa giáo viên và khoa lâm sàng, số cán
bộ làm bí thư chi bộ đều là bác sỹ kiêm nhiệm Chính đặc điểm này dẫn tới chấtlượng, hiệu quả của hoạt động CTĐ, CTCT tại Học viện có mặt còn chưa đápứng được yêu cầu Ngay số cán bộ chính trị của Học viện cũng không đồng đều
về chất lượng Đa số là cán bộ chính trị chuyển loại, số CBCT đào tạo cơ bản rất
ít chỉ có 8/50 đồng chí là được đào tạo chính quy tại Đại học Chính trị Chínhđiều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới năng lực cán bộ chính trị nói chung trong
đó có năng lực ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT
Trang 321.3.2 Hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện Quân y phong phú, đa dạng, tính biến động cao.
Đây là đặc điểm chi phối đến kết quả hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộchính trị Học viện Quân y Học viện Quân y phải đồng thời thực hiện nhiềunhiệm vụ khác nhau cả với Quân đội và Dân sự Vừa đào tạo đội ngũ bác sỹQuân y cho cấp Trung sư đoàn, vừa đào tạo đội ngũ bác sỹ dân sự cho sựnghiệp CNH-HĐH Đất nước Vừa khám chữa bệnh cho Quân nhân, vừa khámchữa bệnh cho Nhân dân Mỗi nhiệm vụ đòi hỏi yêu cầu khác nhau về công tác
tư tưởng, nhưng lại thường tiến hành đồng thời với nhau Do đó, hoạt độngCTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện Quân y rất đa dạng và phức tạp
Yêu cầu về cán bộ phục vụ cho hoạt động CTĐ, CTCT bảo đảm chocác nhiệm vụ của học viện rất lớn, nhưng khả năng bảo đảm ở trên có hạn.Đến nay, cơ bản trên mới bảo đảm được nhu cầu ở các cơ quan chính trị củahọc viện, Bệnh viện 103, Viện Bỏng Lê Hữu trác và Trường trung cấp quân y
I Tổ chức biên chế, trình độ, năng lực của cán bộ chính trị có mặt chưa đápứng kịp sự phát triển của kinh tế-xã hội nói chung, hoạt động CTĐ, CTCTtrong quân đội nói riêng Số cán bộ chính trị ở cấp cơ sở còn thiếu nhiều, hầuhết là cán bộ kiêm nhiệm nên ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả thực hiện hoạtđộng CTĐ, CTCT của đơn vị Tuy nhiên, do yêu cầu nhiệm vụ hoạt động CTĐ,CTCT luôn đòi hỏi phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, đồng bộ, đáp ứng kịp thờinhu cầu nhiệm vụ của đơn vị Do đó, hoạt động CTĐ, CTCT gặp rất nhiều khókhăn, phức tạp
Hoạt động CTĐ, CTCT diễn ra một cách thường xuyên, lên tục do nhucầu trực tiếp của cuộc sống và hoạt động của bộ đội Nếu không được tiếnhành kịp thời, thường xuyên, liên tục sẽ giảm hiệu quả và chất lượng hoạtđộng của đơn vị
Những biểu hiện trên trong Hoạt động CTĐ, CTCT ở học viện Quân yđặt ra yêu cầu đối với cán bộ chính trị phải không ngừng học hỏi nâng cao
Trang 33trình độ chuyên môn nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, kiến thức, kĩ xảo,
kĩ năng đa ngành có như vậy mới hoàn thành được nhiệm vụ và có khảnăng, tiến hành CTĐ, CTCT một cách có hiệu quả đặc việt trong nhiệm vụđào tạo, khám chữa bệnh và điều trị
1.3.3 Hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện Quân y
là hoạt động trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, khám chữa bệnh và điều trị tại Học viện Quân y
Xây dựng và tăng cường sức mạnh tổng hợp của Quân đội nhân dânViệt Nam nói chung, ở từng đơn vị nói riêng luôn phải đáp ứng đầy đủ cácyếu tố vật chất và tinh thần bao gồm các yếu tố cơ bản có quan hệ biện chứngvới nhau như: số lượng; trạng thái chính trị, tinh thần; trình độ huấn luyện kỹthuật, chiến thuật; số lượng, chất lượng vũ khí, trang bị, kỹ thuật và phươngtiện vật chất khác Đối với mỗi quân đội, trước hết phải được bảo đảm cácđiều kiện vật chất để tồn tại rồi mới nói đến đánh thắng kẻ thù và hoàn thànhcác nhiệm vụ khác
HVQY là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị cóchất lượng cao của Quân đội và của Đất nước
Thực hiện tốt hoạt động CTĐ, CTCT ở HVQY là góp phần trựctiếp thực hiện thắng lợi nội dung lãnh đạo của Đảng đối với quân đội vềkhám chữa bệnh và điều trị đối với bộ đội Thực hiện quan điểm củaĐảng trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích vật chất vớiđộng viên tinh thần, giữa quyền lợi và trách nhiệm, giữa cống hiến vàhưởng thụ, giữa lợi ích cá nhân của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũtrang với lợi ích xã hội Thông qua đó làm cho bộ đội thật sự yên tâmgắn bó với quân đội, với đơn vị, xây dựng niềm tin tuyệt đối vào sựlãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong Họcviện, tạo sự đoàn kết nội bộ, tăng cường kỷ luật, thống nhất hành động
Trang 34góp phần ngăn ngừa sự thâm nhập của các hiện tượng tiêu cực, sự thoáihoá, biến chất về đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Do đó, thực hiện tốt hoạt động CTĐ, CTCT là một trong những yếu tố
cơ bản góp phần xây dựng Học viện vững mạnh
Đặc điểm này đòi hỏi cán bộ chính trị thường xuyên học tập nâng caotrình độ về mọi mặt, có các kĩ xảo, kĩ năng, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm mangtính hiệu quả cao Mặt khác còn đòi hỏi phương pháp, tác phong làm việc khoahọc, làm tốt công tác giáo dục bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, trình độchuyên môn cho cấp dưới, thường xuyên xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể, tỉ
mỉ trách để sót việc hoặc không bảo đảm kịp thời vật chất cho đơn vị
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực ứng dụng Tâm lý học Quân sự trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Học viện Quân y
X.N.Rubinstêin đã đưa ra nguyên tắc phát triển NL của con người, ôngviết: “Sự phát triển các năng lực diễn ra theo con đường xoắn ốc, là sự hiện thựchoá của tiềm năng, nó biểu hiện năng lực ở một trình độ nhất định, nó mở ra mộttiềm năng mới đối với sự phát triển tiếp theo, đối với năng lực của cá nhân ở mộttrình độ cao hơn Tính tài năng của con người được quy định bởi một tập hợpcác tiềm năng mới, đẫn tới sự thực hiện những cái tiềm năng hiện có” [37, tr.40]
A.G.Côvaliôv trong khi luận giải sự phát triển của NL đã chỉ rõ: Trongnăng lực của mỗi người biểu hiện một cách cô đọng kinh nghiệm lịch sử vàkinh nghiệm hoạt động của cá nhân về mặt lí luận và thực tiễn
A.G.Côvaliôv đưa ra các chỉ số đánh giá NL của cá nhân, theo ông:
“Năng lực thể hiện rõ ràng nhất trong khuynh hướng, trong nhịp điệu hoạtđộng, sự tiến bộ trong chất lượng, hiệu quả lao động và trong tính độc đáocủa nó” [3, tr.87]
Trang 35Các quan điểm trên là cơ sở lí luận quan trọng trong việc xác định tiêuchí đánh giá năng lực ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCT của cán
bộ chính trị, Học viện Quân y
Tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạtđộng CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị, học viện quân y là tổng hợp cácđại lượng dùng để đo năng lực ứng dụng TLHQS của cán bộ chính trị trongquá trình tiến hành hoạt động CTĐ, CTCT tại Học viện Mỗi tiêu chí cóthể là một hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều chỉ số đặc trưng cho cấu trúc
đó Các chỉ số dùng để ghi nhận các thông tin của một cấu trúc Tiêu chíđánh giá năng lực ứng dụng TLHQS trong hoạt động CTĐ, CTCT của cán
bộ chính trị, Học viện Quân y có nhiều loại, song việc lựa chọn những tiêuchí có ý nghĩa cơ bản nhất, phản ánh sát thực nhất mức độ phát triển nănglực ứng dụng TLHQS của cán bộ chính trị, Học viện quân y là một vấn đềphức tạp Tác giả xin đưa ra một số tiêu chí cơ bản sau:
1.4.1 Nhận thức và thái độ của cán bộ chính trị về vai trò của Tâm lý học quân sự với hoạt động CTĐ, CTCT
Nhận thức đúng về vai trò của TLHQS có ý nghĩa rất quan trọng tronghoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị Dưới góc độ nghiên cứu củaTLHQS, nhận thức, thái độ được coi như một cơ chế bên trong thúc đẩy quátrình nhận thức của cán bộ chính trị Nhận thức, thái độ là một trong nhữngyếu tố cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT Đối vớiTLHQS, việc hình thành và phát triển Nhận thức, thái độ cho cán bộ chính trịtrong quá trình hoạt động là một yêu cầu, nhiệm vụ mang tính đặc thù Bởi trithức TLHQS là cơ sở khoa học trực tiếp cho hoạt động CTĐ, CTCT, gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong quân đội nóichung và tại HVQY nói riêng
Trang 36Khi có Nhận thức, thái độ đúng về TLHQS, cán bộ chính trị như đượctiếp thêm sức mạnh trong quá trình hoạt động, họ sẽ tập trung chú ý cao hơn,ghi nhớ nhanh hơn, giữ lại lâu hơn và tái hiện dễ dàng hơn Nhận thức, thái độtạo ra sự say mê học tập, nghiên cứu Chính điều đó giúp cho cán bộ chính trị cóthể vượt qua mọi khó khăn để nắm bắt các kiến thức một cách nhanh nhất và vậndụng chúng một cách sáng tạo vào thực tiễn hoạt động quân sự, nhất là hoạtđộng chuyên ngành CTĐ, CTCT Thông qua đó một lần nữa củng cố nội dungtri thức đã được học, mặt khác cũng là kiểm nghiệm tính đúng đắn của trithức, xây dựng niềm tin cho mình.
Ngược lại khi không có nhận thức, thái độ đúng đắn, cán bộ chính trị dễrơi vào một tình trạng xa rời thực tiễn hoặc lý luận đơn thuần dẫn đến kết quảhoạt động CTĐ, CTCT không được như mong muốn
Nhận thức, thái độ của cán bộ chính trị đối với TLHQS không chỉ phụthuộc vào nhận thức của họ về vị trí, vai trò của nó đối với cuộc sống và hoạtđộng nghề nghiệp mà còn phụ thuộc vào sự hấp dẫn của tri thức môn học,trong đó có khả năng ứng dụng của nó trong thực tiễn cuộc sống
Nhận thức, thái đọ của CBCT về vai trò của TLHQS trong hoạt động củaCTĐ, CTCT là một nhân tố quan trọng, trước hết nâng cao chất lượng, hiêu quảhoạt động học tập rồi sau đó tăng cường khả năng vận dụng chúng vào thực tiễnhoạt động CTĐ, CTCT Do đó để tăng cường khả năng vận dụng TLHQS vàohoạt động CTĐ, CTCT trước hết phải hình thành nhận thức, thái độ về vai tròcủa TLHQS trong hoạt động của CTĐ, CTCT cho cán bộ chính trị
1.4.2 Tốc độ trong vận dụng kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng Tâm lý học quân sự vào hoạt động CTĐ, CTCT.
Kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng không đồng nghĩa với NL nhưng lại có quan
hệ mật thiết và là điều kiện không thể thiếu để hình thành và phát triển NL
Trang 37Xem xét sự phát triển kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng của người cán bộ chính trịluôn là tiêu chí quan trọng, phản ánh đúng nhất và thực chất nhất sự phát triểnnăng lực ứng dụng TLHQS của người cán bộ Hệ thống kiến thức sâu rộng(nhất là các kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ CTĐ, CTCT, kiếnthức liên chuyên ngành và kiến thức hiểu biết chung trên tất cả các lĩnh vực)cùng với sự thuần thục các kĩ xảo, kĩ năng tiến hành CTĐ, CTCT (kĩ xảo, kĩnăng tổ chức chỉ huy; kĩ xảo, kĩ năng xây dựng kế hoạch và thực hiện kếhoạch; kĩ xảo, kĩ năng nắm bắt thông tin và giải quyết tình huống; kĩ xảo, kĩnăng vận dụng lí luận vào thực tiễn; kĩ xảo, kĩ năng tổ chức các hoạt độngCTĐ,CTCT ), là cơ sở để người cán bộ thực hiện các hoạt động CTĐ,CTCT, giúp cho người cán bộ chính trị nhanh chóng thích ứng với những hoàncảnh khác nhau, kịp xử lý các vụ việc nảy sinh ở đơn vị Cũng chính sự phát triểncác kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng cần thiết là căn cứ quan trọng để đánh giá sự trưởngthành của người cán bộ, độ “vững vàng” về tay nghề, độ “yên tâm” về chất lượng
và hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT, trên cơ sở đó để lãnh đạo nhà trường, các cơquan ban, ngành có thể xem xét cân nhắc, đề bạt hay bổ nhiệm những cương vị caohơn cho cán bộ chính trị Vì vậy, khi xem sự phát triển năng lực ứng dụngTLHQS của cán bộ chính trị không thể không căn cứ vào tiêu chí sự phát triển kiếnthức, kĩ xảo, kĩ năng quản lý của người cán bộ
Tốc độ trong thực hiện các hoạt động CTĐ, CTCT là tiêu chí cơ bản vàquan trọng nhất để đánh giá sự phát triển năng lực ứng dụng TLHQS của ngườicán bộ chính trị Biểu hiện của tiêu chí tốc độ trong thực hiện các hoạt độngCTĐ, CTCT của người cán bộ chính trị được thể hiện ở thời gian hoàn thành vàkết quả đạt được Việc đánh giá NL của cá nhân trong bất kỳ lĩnh vực nào cũngphải dựa vào tiêu chí tốc độ thực hiện các hành động, tốc độ thực hiện hànhđộng trong một thời gian ngắn mà vẫn đạt được hiệu quả cao, ít tốn kém về thời
Trang 38gian thì được đánh giá là người có NL giỏi trong lĩnh vực ấy và ngược lại nó sẽtương ứng với các mức đánh giá như: năng lực khá; năng lực trung bình; nănglực yếu Tuy nhiên, một điểm cần chú ý đó là, năng lực là năng lực trong mộthoạt động nhất định, hình thành, phát triển trong hoạt động và biểu hiện tronghoạt động do đó việc đánh giá NL của một cá nhân phải gắn với những hoạtđộng nhất định mà cá nhân ấy tham gia chứ không đánh giá một cách chungchung, trừu tượng hay phiến diện một chiều Đối với hoạt động CTĐ, CTCT ởHọc viện quân y, để đánh giá được năng lực ứng dụng TLHQS của người cán
bộ chính trị thì người cán bộ ấy phải trực tiếp tham gia vào các hoạt động CTĐ,CTCT
Thực tế, hoạt động CTĐ, CTCT là hoạt động đa dạng và phức tạp vềnội dung và cách thức tiến hành, trong cùng một lúc người cán bộ chính trịphải tiếp xúc với một khối lượng công việc lớn, trên tất cả các mặt công tác,với nhiều loại đối tượng khác nhau do vậy, tiêu chí tốc độ chỉ có thể đạt được khingười cán bộ chính trị phải có kiến thức CTĐ, CTCT vững vàng, cùng với kiếnthức khoa học liên chuyên ngành và kiến thức về các mặt công tác khác nhau trêncác lĩnh vực như: chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa cộng với vốn hiểu biết sâurộng, sự thuần thục các kĩ xảo, kĩ năng hoạt động CTĐ, CTCT sẽ là cơ sở vữngchắc để yếu tố tốc độ được phát huy, rút ngắn thời gian thực hiện các hành động,bảo đảm cho hoạt động diễn ra nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đạt kết quả cao,đáp ứng mọi yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Học viện chính quy và hiện đại, giúpngười cán bộ dù ở bất kỳ cương vị nào, trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng hoànthành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao và luôn đảm bảo được tiêu chí tốc độtrong thực hiện các nhiệm vụ
1.4.3 Tính khoa học và tính kế hoạch trong hoạt động CTĐ, CTCT của người cán bộ chính trị.
Trang 39Cán bộ chính trị là người lãnh đạo, chỉ huy của đơn vị, là người chịutrách nhiệm chính trước cấp ủy cấp mình và cấp ủy cấp trên về kết quả hoạtđộng CTĐ, CTCT tại đơn vị mình Trong cùng một lúc phải tiếp xúc với khốilượng công việc lớn lại thường xuyên biến động, đan xen vào nhau, nếu nhưkhông có phương pháp làm việc khoa học, không có kế hoạch cụ thể, tỉ mỉ chotừng nhiệm vụ thì sẽ dẫn đến sự trùng lặp, lúng túng khi thực hiện, không thểlãnh đạo, chỉ huy đơn vị thực hiện tốt tất cả các nhiệm vụ được giao Mặt khác,
do sự đa dạng về đối tượng tiến hành CTĐ, CTCT sự đa dạng về nhân cách, tínhcách của mỗi một người, sự thay đổi và diễn biến tâm lí phức tạp, bất ngờ củalứa tuổi, tâm tư tình cảm của mỗi cá nhân sẽ tạo ra những tình huống đa dạng vàphức tạp, do đó cán bộ chính trị nhất định phải có tính kế hoạch và tính khoa họctrong tất cả các hoạt động Hay nói cách khác, không có tính khoa học và tính kếhoạch trong yiến hành hoạt động CTĐ, CTCT thì người cán bộ chính trị khôngthể hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Tính khoa học và tính kế hoạch tronghoạt động CTĐ, CTCT nó thể hiện trước hết ở chỗ, người cán bộ phải trực tiếpxây dựng cho mình một kế hoạch hoạt động cụ thể, bố trí thời gian, xắp xếpnhân sự, tổ chức thực hiện, dự trù các tình huống, đề ra các biện pháp xử lý Tínhkhoa học và tính kế hoạch trong hoạt động CTĐ, CTCT của người cán bộ cònđược thể hiện ở phương pháp, tác phong công tác, sinh hoạt, làm việc một cáchkhoa học, cụ thể, phải đảm bảo được mục đích chung, đúng nguyên tắc nhưng có
sự vận dụng linh hoạt trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, đảm bảo sựnhanh nhạy, năng động và hiệu quả Khi nhận bất kỳ một nhiệm vụ nào cán bộphải xây dựng cho đơn vị mình một kế hoạch hoạt động thực sự khoa học, mangtính tổng quát nhưng phải cụ thể, chú ý đến từng nội dung, có trọng tâm, trọngđiểm và phải được cụ thể hóa bằng những bảng phân công công việc trên đó cầnthể hiện rõ thời gian, địa điểm, thành phần, người phụ trách, yêu cầu đạt được ,
Trang 40cần chú ý đến đặc điểm đơn vị, tình hình nhiệm vụ và phải phù hợp với khả năng
và trình độ của nhân viên Có như vậy mới thể hiện được tính khoa học và tính
kế hoạch trong hoạt động Nói cách khác tính khoa học và tính kế hoạch là mộttrong những tiêu chí quan trọng để đánh giá NL nói chung, năng lực ứng dụngTLHQS của cán bộ chính trị nói riêng
1.4.4 Hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT của cán bộ chính trị
Đây là tiêu chí cụ thể để đánh giá tính chất “ hiện thực trực tiếp” củaquá trình phát triển năng lực ứng dụng TLHQS vào hoạt động CTĐ, CTCTcủa người cán bộ chính trị Bởi vì, “Nhân cách tiêu biểu của người sĩ quanđược thể hiện tập trung ở phẩm chất chính trị, đạo đức, ở năng lực hoànthành nhiệm vụ của quân đội, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa”[dẫn theo 15, tr.26], phản ánh chất lượng thành quả laođộng mà mình đạt được sau quá trình hoạt động CTĐ, CTCT Tiêu chí này
nó vừa là nội dung biểu hiện của năng lực ứng dụng TLHQS, vừa là tiêu chí
cơ bản để xem xét mức độ phát triển năng lực ứng dụng TLHQS của ngườicán bộ chính trị gắn với chức trách, cương vị mà người cán bộ đảm nhiệm.Hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT được thể hiện ở chỗ mức độ hoàn thànhnhiệm vụ của người cán bộ so với mục tiêu yêu cầu đặt ra trên cơ sở tập thểđơn vị đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ CTĐ, CTCT của người cán
bộ như thế nào (tốt, khá hay trung bình); cán bộ lãnh đạo nhà trường, cơquan chính trị, cấp ủy cấp trên và cấp mình nhận xét, đánh giá về kết quảhoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ chính trị, về kết quả đạt được củatập thể đơn vị mà người cán bộ đó lãnh đạo ra sao (từng tháng, từng quý,từng năm) và bản thân người cán bộ chính trị cũng có thể tự đánh giá vềkết hoạt động của chính bản thân mình Hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCTcủa người cán bộ chính trị là thước đo đơn giản nhất để đánh giá cả về