1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ kinh tế ấn độ mỹ từ 1991 đến 2010

140 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ kinh tế Ấn Độ - Mỹ từ 1991 đến 2010
Tác giả Nguyễn Thị Lan Vinh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Cảnh Huệ
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, mối quan hệ nổi bật giữa Ấn Độ- Mỹ trong suốt 4 thập kỷ của Chiến tranh lạnh chỉ duy trì quan hệ kinh tế là chủ đạo, nhưng với một mức độ nhất định không mặn mà sâu sắc, vì hai bê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG -

NGUYỄN THỊ LAN VINH

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Cảnh Huệ, người

đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô khoa Đông phương học, phòng sau Đại học trường Đại học KHXH & NV và các bạn học viên cao học Châu Á học khóa 2009 đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua

Những lời cảm ơn sau cùng xin dành đến ba mẹ, anh chị em trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập của mình Trân trọng cám ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2011

Nguyễn Thị Lan Vinh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 2

MỤC LỤC 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 7

I Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu: 7

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11

IV Phương pháp nghiên cứu 11

V Bố cục luận văn 12

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ-MỸ TỪ 1991 ĐẾN 2010 14

1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực 14

1.2 Khái quát quan hệ Ấn Độ - Mỹ 18

1.3 Chính sách của Mỹ sau Chiến tranh lạnh 23

1.3.1.Chiến lược toàn cầu của Mỹ 23

1.3.2.Chính sách kinh tế Mỹ 25

1.3.2.1.Kinh tế Mỹ 26

1.3.2.2.Chính sách đối ngoại của Mỹ 28

1.3.2.3.Chính sách kinh tế Mỹ đối với Ấn Độ 32

1.4 Công cuộc cải cách kinh tế của Ấn Độ từ năm 1991 đến nay 35

1.4.1 Ấn Độ trước cải cách 35

1.4.2 Ấn Độ thực hiện cải cách kinh tế từ 1991 đến nay 36

Chương 2: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ẤN ĐỘ-MỸ TỪ 1991 ĐẾN 2010 42

2.1 Chính sách thương mại của Ấn Độ đối với Mỹ 42

Trang 4

2.1.1 Mục tiêu của chính sách thương mại Ấn Độ đối với Mỹ 42

2.1.2 Biện pháp thực hiện chính sách thương mại với Mỹ của Ấn Độ 43

2.2 Hợp tác thương mại Ấn Độ-Mỹ 44

2.2.1 Thương mại hàng hóa 46

2.2.1.1.Tình hình chung 46

2.2.1.2.Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 49

2.2.1.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 53

2.2.2 Thương mại dịch vụ 60

2.2.2.1.Tỷ trọng thương mại dịch vụ 61

2.2.2.2 Các ngành trong thương mại dịch vụ 66

2.2.3 Thương mại quốc phòng 72

Chương 3: QUAN HỆ ĐẦU TƯ VÀ VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN ẤN ĐỘ - MỸ TỪ 1991 ĐẾN 2010 83

3.1 Quan hệ đầu tư Ấn Độ - Mỹ 83

3.1.1.Môi trường và lĩnh vực đầu tư 83

3.1.2 Đầu tư trực tiếp 85

3.1.2.1 Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Ấn Độ 85

3.1.2.2 Đầu tư trực tiếp của Ấn Độ vào Mỹ 93

3.2 Viện trợ phát triển (ODA) 100

3.2.1.Chính sách viện trợ phát triển của Mỹ ở Ấn Độ 100

3.2.2 Viện trợ phát triển của Mỹ ở Ấn Độ 102

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

DANH SÁCH BẢNG BIỂU 126

PHỤ LỤC 127

Trang 5

DPG: Nhóm chính sách quốc phòng (Defense Policy Group)

ESF: Quỹ hỗ trợ kinh tế (Economic Support Fund)

EU: Liên minh Châu Âu (European Union)

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FICCI: Liên đoàn phòng thương mại và công nghiệp Ấn Độ (Federation

of Indian Chambers of Commerce and Industry)

GDP: Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

GE: Công ty General Electric

HTCG: Nhóm hợp tác công nghệ cao Ấn Độ-Mỹ (High Technology Cooperation Group)

IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

IPR: Quyền sở hữu trí tuệ (Intellectual Property Rights)

IT: Công nghệ thông tin (Information Technology)

KTI: Sáng kiến thương mại tri thức (The Knowledge Trade Initiative) MoES: Bộ khoa học trái đất (Ministry of Earth Science)

NADR: Không phổ biến, chống khủng bố, cái chết và những vấn đề liên quan bao gồm viện trợ quản lý xuất khẩu và viện trợ chống khủng bố

Trang 6

(Nonproliferation, Anti- Terrorism, Demining and Related, mainly export control assisstance, but includes anti-terrorism assisstance)

NASDAQ: Sàn giao dịch chứng khoán Mỹ (National Association of Securities Dealers Automated Quotation System)

NIH: Viện Y tế quốc gia Mỹ (National Institute of Health)

NSE: Thị trường chứng khoán quốc gia (National Stock Exchange) ODA: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance) PEPFAR: Kế hoạch phát triển của tổng thống về trợ giúp AIDS (President’s Emergency plan for AIDS Relief)

PIHEAD: Chương trình cải tiến chất lượng giáo dục Ấn Độ (Promotion

of Indian Higher Education Abroad)

RBI: Ngân hàng dự trữ Ấn Độ (Reserve Bank of India)

TNC: Tập đoàn xuyên quốc gia (Transnational Cooperation)

USAID: Cơ quan phát triển kinh tế Mỹ (US Agency for International Development)

USD: Đô la Mỹ

WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 7

kỳ này hợp tác trên phương diện lấy kinh tế làm trọng điểm Do đó, mối quan

hệ nổi bật giữa Ấn Độ- Mỹ trong suốt 4 thập kỷ của Chiến tranh lạnh chỉ duy trì quan hệ kinh tế là chủ đạo, nhưng với một mức độ nhất định không mặn

mà sâu sắc, vì hai bên còn e dè những mâu thuẫn trên chính trường cùng với các mối quan hệ xung đột khác giữa Ấn Độ với Pakistan, Mỹ với Liên Xô… Sau khi Liên Xô sụp đổ, đối tác lớn nhất của Ấn Độ trong quan hệ kinh

tế song phương cũng gặp trở ngại lớn, kinh tế Ấn Độ rơi vào tình thế khủng hoảng năm 1991 Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế, điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước đặc biệt là Mỹ Vì muốn cải thiện mối quan hệ với Ấn Độ,

vì chính sách điều chỉnh kinh tế của Ấn Độ phù hợp với chiến lược của Mỹ trong bối cảnh thế giới lấy kinh tế là trung tâm trong mọi hoạt động đối ngoại của các nước, nên quan hệ kinh tế của Ấn Độ - Mỹ trong những năm đầu thập niên 1990 có bước tiến đáng kể Song do vấn đề nhân quyền trong xung đột biên giới Ấn Độ và Pakistan nên quan hệ Ấn Độ-Mỹ đã gặp phải khó khăn mới và có chiều hướng suy giảm không những về phương diện hợp tác kinh tế

Trang 8

mà còn cả về mặt chính trị vốn không mấy sâu sắc Điều này gây ra những trở ngại trong quan hệ kinh tế hai nước đang trên đà phát triển Tuy nhiên, bất chấp những xung đột giữa Ấn Độ với Pakisatan, Ấn Độ vẫn luôn xác định Mỹ

là đối tác thương mại, là nguồn viện trợ, nhà đầu tư lớn, do đó Ấn Độ đã có những hành động làm dịu mối quan hệ căng thẳng hai bên để thuận lợi cho việc phát triển kinh tế song phương Còn về phía Mỹ, nhận thấy tầm quan trọng và sự lớn mạnh của kinh tế Ấn Độ trong trong tương lai, vẫn khẳng định

Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn, có tiềm năng về kinh tế trong giai đoạn toàn cầu hóa lấy kinh tế làm trọng tâm cho các quan hệ song phương, đa phương, khu vực, quốc tế… Từ đó, quan hệ kinh tế hai nước lớn lại mở ra cơ hội mới, góp phần vào việc gia tăng mức độ ảnh hưởng của quan hệ này, đưa Ấn Độ dần hội nhập vào nền kinh tế của các cường quốc

Bước sang thế kỷ 21, quan hệ kinh tế Ấn Độ - Mỹ có cải tiến sâu rộng trong mọi lĩnh vực, hội nhập chung vào nền kinh tế thế giới Ấn Độ đã nâng địa vị kinh tế lên tầm cao có thể so sánh với Trung Quốc và có sự chi phối lớn

ở Nam Á và cả Châu Á Những năm đầu thế kỷ 21 có rất nhiều biến động lớn như sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc, rồi nhiều vấn đề xung đột sắc tộc, khủng bố… lan rộng trên toàn thế giới Do vậy, việc hợp tác hòa bình, hữu nghị lấy phát triển kinh tế làm tâm cùng với chiến lược toàn cầu hóa của mình, Mỹ nhận thấy được sự đối trọng của Ấn Độ với Trung Quốc tại khu vực Châu Á này, quan hệ kinh tế Ấn Độ - Mỹ lại một lần nữa mở ra con đường hợp tác gắn bó hơn Sau sự kiện 11-9-2001, trước sự hoành hành của nạn khủng bố, và việc mất đi ưu thế trung tâm về mặt kinh tế, Mỹ đã tiến hành hợp tác nhiều mặt, sâu rộng hơn trong các lĩnh vực kinh tế với Ấn Độ,

và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Quan hệ kinh tế thuộc hàng tầm cỡ của

Ấn Độ và Mỹ đã tác động rất lớn đến các quan hệ kinh tế song phương và đa phương giữa hai nước này với các nước khác ở châu Á cũng như trong nền kinh tế thế giới Đặc biệt là kinh tế quốc tế trong thế giới mới đầy biến động với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới gần đây vào năm 2008-2009, mỗi

Trang 9

bước đi, động thái trong mối quan hệ kinh tế song phương này cũng khiến cho các quốc gia khác có mối liên hệ kinh tế với họ cũng bị tác động mạnh mẽ Chính vì những lý do trên, cho thấy quan hệ kinh tế Ấn Độ- Mỹ là mối quan hệ kinh tế tiêu biểu trong giai đoạn bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ từ 1991 đến 2010” làm đề tài luận văn, hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ kinh tế quốc tế mà Ấn Độ và Mỹ là hai đại diện của hai khu vực

2 Mục đích nghiên cứu

-Phân tích những nhân tố và các chính sách ảnh hưởng đến quan hệ kinh

tế giữa Ấn Độ và Mỹ từ năm 1991 đến năm 2010

- Tìm hiểu tiến trình quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ từ năm 1991 đến năm

2010

- Đánh giá thực trạng mối quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và Mỹ, đồng thời tìm ra những thuận lợi và hạn chế trong quá trình tiến hành quan hệ kinh tế song phương

- Dự đoán triển vọng quan hệ kinh tế song phương Ấn Độ - Mỹ và phân tích tác động của quan hệ này đến nền kinh tế thế giới

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở nước ta có một số sách nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ, trong đó có một

số sách nghiên cứu đến vấn đề chính sách đối ngoại của Ấn Độ, và có đề cập đến mối quan hệ song phương Ấn Độ - Mỹ Ngược lại, cũng có rất nhiều sách nghiên cứu về lịch sử Mỹ cũng như những sách viết về chính sách đối ngoại

và mối quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia, khu vực trong đó có nhắc đến quan

hệ Mỹ-Ấn Độ nhưng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về vấn đề này như một chuyên luận Vấn

đề quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ từ 1991 đến 2010 là một giai đoạn lịch sử về quan hệ kinh tế song phương phong phú và không kém phần phức tạp như

Trang 10

những năm sau chiến tranh lạnh và một thập niên đầy biến động đầu thế kỷ XXI

Trong những năm qua, một số công trình khoa học được xuất bản hoặc đăng tải trên các tạp chí khoa học có đề cập đến quan hệ kinh tế song phương

Ấn Độ - Mỹ nhưng chỉ sơ lược không cụ thể mà chủ yếu nói đến những chính sách đối ngoại, sự điều chỉnh cải cách kinh tế … cuốn sách của tác giả Trần

Thị Lý chủ biên về “Sự điều chỉnh chỉnh chính sách của Cộng hòa Ấn Độ từ

1991 đến 2000” có nhắc tới chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Mỹ,

tr.183-tr.211 Hay cuốn sách của tác giả Lê Nguyễn Hương Trinh chủ biên

“Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách”, có nghiên cứu vấn đề

ngoại thương nói chung của Ấn Độ và các nhân tố ảnh hưởng Ngoài ra còn

có một số sách viết về chính sách đối ngoại, chiến lược toàn cầu của Mỹ như

cuốn sách “Hoa Kỳ cam kết và mở rộng”, nói qua quan hệ của Mỹ với các

nước nhưng cũng không đề cập rõ ràng đến quan hệ kinh tế song phương giữa

Ấn Độ và Mỹ Những cuốn sách trên nhằm giúp người đọc có cái nhìn chung

về hoạt động đối ngoại quốc tế của cả Ấn Độ và Mỹ

Một số bài nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - Mỹ như: “Quan hệ chính trị

ngoại giao Mỹ - Ấn Độ” của Ths Lê Thị Thu đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày

nay, số 7 (148) 2010, tr.41; “Quan hệ an ninh quốc phòng Mỹ - Ấn Độ”, tạp chí châu Mỹ ngày nay số 9-2009, tr.21; bài của Vũ Văn Lưu “Ấn Độ điều

chỉnh chính sách đối ngoại: đa dạng hóa và thực tế”, tạp chí quan hệ quốc tế

số 10/1992 Ngoài ra, có bài nghiên cứu của Đỗ Trọng Quang “Thăng trầm

trong quan hệ Hoa Kỳ - Ấn Độ”, tạp chí châu Mỹ ngày nay số 7-2007, tr.31

và số 8-2007, tr.21 Bên cạnh các bài nghiên cứu, là những tư liệu báo chí có

đề cập đến quan hệ Ấn Độ - Mỹ, “Ảnh hưởng của hiệp định hạt nhân Ấn-Mỹ

lên cán cân quyền lực châu Á” TTXVN (Niu Đêli 19/3), (TLTKĐB 27-3-06),

một số bài báo đăng trên TLTKĐB 31-5-05 “ Quan hệ Ấn-Mỹ ngày càng phát

triển”, TLTKĐB 16-9-2002 “ Quan hệ Ấn-Mỹ xuất hiện những bất đồng”…

Trang 11

Nhiều báo cáo tổng hợp của các cơ quan đối ngoại Ấn Độ và Mỹ có nêu tóm tắt về quan hệ kinh tế song phương Ấn Độ- Mỹ nhằm phục vụ công tác đối ngoại, khái quát tiến trình quan hệ ngoại giao hai nước về mặt kinh tế

“Thông tin Tóm tắt: Mỹ-Ấn Thương mại và Hợp tác Kinh tế” Nhà Trắng, văn

phòng thư ký Báo chí ngày 8 tháng 11 năm 2010 Phân phối của Văn phòng Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Bên cạnh đó còn có những bản báo cáo của Sở nghiên cứu thuộc quốc hội (CRS: Congressional Research Service) về mối quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ qua các thời kỳ từ sau

khi thành lập nước cộng hòa Ấn Độ như: K Alan Kronstadt (2008):

“India-U.S Relations”; Neena Shenai 2010: “US-India Trade Relationship gets some much needed attention”, the American Enterprise Institute; hay bài của Merle

David Kellerhals (2009): “United States seeks Deeper Relations with

India”…

Những công trình nghiên cứu trên giúp việc triển khai luận văn đi từ một

cơ sở kiến thức chung và từ đó định hướng tiếp cận, đi sâu nghiên cứu vấn đề

III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đề tài của luận văn “Quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ từ 1991 đến 2010”, lấy trọng tâm là quan hệ giữa Ấn Độ và Mỹ trên phương diện phân tích quan hệ hợp tác kinh tế nhiều mặt giữa hai nước, được giới hạn trong một khoảng thời gian xác định là sau Chiến tranh lạnh mà cụ thể là từ năm 1991 đến năm

2010 Đồng thời mối quan hệ kinh tế song phương này diễn ra trong không gian hai nước Ấn Độ và Mỹ của thế giới toàn cầu hóa

IV Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử

và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp cơ bản được dùng trong việc nghiên cứu Luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê để xử lý nguồn tư

Trang 12

liệu một cách chính xác, khách quan, bảo đảm tính khoa học của quá trình phân tích, lý giải các sự kiện, quan hệ song phương

Phương pháp hệ thống cũng được sử dụng để làm nổi rõ quá trình hợp tác và phát triển của quan hệ kinh tế hai nước Ấn Độ-Mỹ từ 1991 đến 2010

Chương này đề cập đến bối cảnh thế giới mới và khu vực, tình hình kinh

tế chính trị của Ấn Độ và Mỹ sau Chiến tranh lạnh, và phân tích những nhân

tố bên trong và bên ngoài tác động đến mối quan hệ kinh tế giữa hai nước này nhằm lý giải cho mối quan hệ song phương Ấn Độ-Mỹ ngày càng tiến triển sâu sắc hơn Những tác động này có ảnh hưởng nhất định trong tiến trình hợp tác kinh tế của hai nước lớn, có tầm chi phối đối với các mối quan hệ xung quanh

Chương 2: Quan hệ thương mại Ấn Độ - Mỹ từ 1991 đến 2010

Chương này viết về mối quan hệ thương mại hai chiều giữa hai nước Bên cạnh đó cũng so sánh phân tích dựa trên những số liệu thống kê, để qua

đó đánh giá tình hình quan hệ hợp tác thương mại song phương về mặt kinh tế của hai nước lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa chú trọng hợp tác và phát triển kinh tế Chương 2 còn nêu lên những mặt thuận lợi và khó khăn trong quá trình hợp tác thương mại và cuối cùng nhằm khẳng định tính ảnh hưởng của mối quan hệ kinh tế song phương này có tầm quan trọng trong nền kinh tế thế giới

Chương 3: Quan hệ đầu tư và viện trợ phát triển Ấn Độ - Mỹ từ 1991 đến 2010

Trang 13

Nội dung chương này nói đến tình hình hợp tác đầu tư hai chiều và viện trợ phát triển của Ấn Độ và Mỹ, đồng thời nhấn mạnh vai trò to lớn của mối quan hệ hợp tác song phương về mặt đầu tư trong thời đại lấy khoa học làm mục tiêu phát triển kinh tế

Kết luận: Nhận định đánh giá về quan hệ kinh tế Ấn Độ - Mỹ từ 1991

đến 2010 Phần này tổng kết lại hợp tác kinh tế Ấn Độ và Mỹ, song song phân tích tác động của quan hệ này đối với quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay Kết luận cũng đề cập một cách khái quát về triển vọng hợp tác kinh tế hai nước thông qua các chương trình kinh tế lớn, các chiến lược hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển, góp phần giải quyết những khủng hoảng kinh tế và đóng góp

to lớn vào nền kinh tế toàn cầu

Trang 14

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ

ẤN ĐỘ-MỸ TỪ 1991 ĐẾN 2010

1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực

Sau khi Liên Xô sụp đổ, trật tự hai cực tan rã làm cho tình hình thế giới

có nhiều diễn biến, thay đổi theo hướng đa cực, nhưng trong quá trình hình thành nên một quang cảnh thế giới mới có định hướng rõ ràng thì tạm thời cho rằng thời gian sau chiến tranh lạnh và đầu thế kỷ XXI là thời kỳ quá độ từ một trật tự cũ sang mới Trật tự mới có thể mất nhiều năm mới được xác lập nhưng ta có thể tin rằng sự chuyển đổi này mang một diện mạo mới “nhất siêu đa cường” và sẽ không có tình trạng chiến tranh căng thẳng toàn cầu như những năm trước đó Mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô tạo cho Mỹ cơ hội thực hiện chiến lược bá quyền đưa thế giới đi theo quỹ đạo của mình nhưng với sự kết thúc không đổ máu của Chiến tranh lạnh là sự nổi lên mạnh mẽ của các quốc gia độc lập có tiềm lực kinh tế phát triển như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazin, Hàn Quốc…đã làm mất đi thế độc tôn của Mỹ trong nền kinh tế, chính trị thế giới

Tuy thế giới đang bước sang một thời kỳ mới: hòa bình được củng cố, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi, song thời kỳ biến động này lại diễn ra xung đột và nội chiến ở nhiều nơi mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ, vấn đề hạt nhân Đặc biệt là sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa khủng bố đang lan rộng trở thành vấn nạn toàn cầu Nổi lên sự tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông, Nam Á…, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên hiện nay đang là điểm nóng của thế giới Những mâu thuẫn này trong Chiến tranh lạnh được sự khống chế của hai cực Liên Xô-Mỹ, vì vậy khi thế cân bằng bị phá vỡ thì những xung đột ngầm này dần bộc lộ mạnh

Trang 15

mẽ, tạo nên sự xáo trộn cho một thế giới đang chuyển đổi Phần lớn mâu thuẫn và tranh chấp giữa các quốc gia, dân tộc là những vấn đề có nguyên nhân lịch sử sâu xa không thể dễ dàng giải quyết, do đó đến nay những xung đột mang tầm quốc tế vẫn còn là vết thương khó lành của bối cảnh toàn cầu

Từ những thay đổi của thế giới ta thấy xuất hiện những xu thế mới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới dần hình thành một trật tự mới “đa cực” Trật tự mới này được đặc trưng bởi quá trình toàn cầu hóa, sự liên kết mật thiết giữa các nền kinh tế -ngày càng được phục hồi và tăng cường Cục diện thế giới mới mở ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng của kinh tế quốc tế, làm cho cuộc chạy đua vũ trang dịu bớt lại thay vào đó là chạy đua về phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật Có thể nói, nền kinh tế thế giới hiện nay được xúc tiến bằng quá trình toàn cầu hóa dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, gia tăng mối quan hệ hợp tác đối thoại, tránh xung đột… Toàn cầu hóa là xu thế bao trùm đã làm thay đổi mạnh mẽ nền kinh tế quốc tế, và mang lại một tiến trình tự do hóa thương mại, đầu tư, các thị trường tài chính Chính tiến trình này đã thúc đẩy mọi nền kinh tế riêng biệt cùng tham gia vào một thị trường chung như các nước ở phương Đông buộc phải cải cách, mở cửa, tìm kiếm cơ hội mới, hội nhập dần vào nền kinh tế quốc tế Do kinh tế các nước hoạt động theo một cơ chế chung của thị trường nên thời gian này nhiều tổ chức quốc tế ra đời nhằm giữ vai trò điều hòa các mối quan hệ, điển hình là các thể chế kinh tế quốc tế (WTO, IMF,WB…), các

tổ chức kinh tế khu vực, các công ty xuyên quốc gia (TNC) [17] Cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa là quá trình liên kết khu vực song phương, đa phương bằng những ký kết các hiệp định chung nhằm bảo vệ cũng như tăng cường lợi thế so sánh của các quốc gia trước khi tham gia vào sân chơi chung của những nền kinh tế lớn

Toàn cầu hóa kinh tế còn gia tăng nhanh chóng sự phát triển của các thị trường tiền tệ, dòng vốn, dịch vụ lao động, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật… Ngày nay, lưu thông tiền tệ quốc tế phát triển mạnh, là xu hướng

Trang 16

chung cho kinh tế thế giới Xu hướng này tạo ra một mối liên kết vô hình giữa các nền kinh tế song cũng sinh ra những bất ổn mới có thể gây đổ vỡ dây chuyền trong nền kinh tế thế giới hay khu vực Điển hình có thể nói đến cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á vào những năm 1997-1998 đã gây tổn thất lớn cho các quốc gia chủ yếu ở Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản…Tuy quy mô cuộc khủng hoảng này chỉ dừng lại ở một số nước nhưng cũng đã gây ra một dư chấn cho nền kinh tế toàn cầu, báo hiệu sự bất ổn lớn của thị trường tài chính thế giới với những quốc gia đang gia tốc tham gia vào cuộc chơi lớn Khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua năm 2008-2009 được

dự báo là một trong những hồi chuông báo hiệu sự thay thế của yếu tố cạnh tranh tự do do thị trường chi phối bằng một hệ thống chặt chẽ hơn của một trật tự thế giới đa cực Đến nay cuộc khủng hoảng này tuy có nhiều dấu hiệu hồi phục song vẫn chưa thống kê được tổn thất mà nó đem lại Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do những tồn tại và bất ổn của kinh tế Mỹ: tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp, nợ nước ngoài khổng lồ, khủng hoảng bất động sản… Những vấn đề đó đã làm nảy sinh những nguy cơ tiềm

ẩn để rồi dẫn đến sự đổ vỡ của nền tài chính lớn nhất thế giới Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã trực tiếp ảnh hưởng sâu sắc đến các nước từ những quốc gia phát triển đến những nền kinh tế đang phát triển Hầu hết các khu vực trên thế giới đều bị tác động mạnh rơi vào tình trạng suy thoái toàn cầu năm 2009 Mối quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ cũng bị xô đẩy vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi Mỹ là nền kinh tế lớn đóng góp hơn 30% tổng sản lượng vốn chu chuyển của thị trường thế giới Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu này, quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ bị giảm sút nhanh chóng, kinh tế Ấn Độ thời gian này chỉ đạt tăng trưởng 6,7% Kim ngạch thương mại hai nước cũng suy giảm nhanh so với những năm trước khủng hoảng, quan hệ thương mại, đầu tư giữa Ấn Độ và Mỹ không còn như trước Nếu trước đây quan hệ kinh tế này được Ấn Độ cho là đối tác lớn nhất và mức

độ phụ thuộc của Ấn Độ vào Mỹ quá lớn thì sau khủng hoảng Ấn Độ dần thoát khỏi tầm chi phối mạnh mẽ của Mỹ về lĩnh vực kinh tế khi tự mình đưa

Trang 17

ra các chương trình tự lực cánh sinh, không chờ vào sự hồi phục chậm chạp

và có phần không chắc chắn của kinh tế Mỹ Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn của suy thoái kinh tế toàn cầu, Mỹ nhận thấy được nội lực mạnh mẽ của

Ấn Độ từng bước vượt khủng hoảng để trở lại đà tăng trưởng 8% vào năm

2010 Trong giai đoạn hiện nay, Ấn Độ Dương là một trong những con đường chiến lược trọng điểm trong chính sách hướng về châu Á của Mỹ Vì vậy, tác động của khủng hoảng 2008-2009 một mặt gây ra những hệ quả không nhỏ đối với quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ nhưng mặt khác cũng tạo cơ hội cho quan

hệ này có sự bứt phá trong tiến trình giao thương, đầu tư kinh tế trong những thập niên tới của thế kỷ XXI Hy vọng với mức độ thân thiết giữa Ấn Độ và

Mỹ sẽ trở thành một trong những mối quan hệ chủ đạo của thế kỷ mới khi xu hướng chung hiện nay là “Châu Á sẽ dẫn đầu nền kinh tế thế giới” [83] Trước sự thay đổi nhanh của thế giới trong vòng hai thập kỷ qua kể từ sau Chiến tranh lạnh, nền kinh tế toàn cầu đã có những bước tiến vượt bậc so với những giai đoạn trước Dẫn chứng một vài số liệu: năm 2004, thương mại thế giới đạt 9,9%, chạm mức 10.806 tỷ USD, trong đó thương mại dịch vụ là 2.126 tỷ USD, chiếm khoảng 20%; giao dịch ngoại hối toàn cầu đạt mức 1.800 tỷ USD/ngày, song mỗi giai đoạn lại có những thuận lợi và khó khăn riêng, đó là vấn đề của thời đại Đứng trước sự phát triển của kinh tế ngày nay, không ai có thể phủ nhận được rằng toàn cầu hóa mang lại cho thế giới những nền kinh tế mới nổi như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ… hình thành nên bối cảnh quốc tế mới với nhiều thuận lợi, thách thức và cả những vấn đề mới như xung đột, khủng bố, biến đổi khí hậu… Trật tự thế giới ngày càng định hình rõ nét hơn là một thế giới đa cực với sự hợp tác, hội nhập trên cơ chế hòa bình lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu hướng đến của tất cả các quốc gia Bối cảnh quốc tế mới đã tạo điều kiện lớn cho kinh tế Ấn Độ hội nhập vào thị trường toàn cầu, giúp cho mối quan hệ của Ấn Độ với Mỹ được tiến hành thuận lợi, nâng cao tỷ trọng thương mại, đầu tư song phương góp phần hình thành nên quan hệ đối tác chiến lược có tầm quan trọng trong tương lai

Trang 18

Bên cạnh tình hình thế giới có những chuyển biến làm thay đổi cục diện kinh tế chính trị toàn cầu thì khu vực châu Á với sự nổi lên của Trung Quốc

và Nga đã tác động mạnh đến sự hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ và Mỹ những năm sau chiến tranh lạnh Trong cùng khu vực diễn ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước lớn hình thành những vị thế đối trọng nhau như tam giác Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ, hay Nga-Ấn Độ-Mỹ…, những mối quan hệ đan xen nhau trong bối cảnh phức tạp đều tác động sâu sắc đến quan hệ Ấn Độ-Mỹ Có thể nhận thấy trong thế kỷ XXI, các vấn đề nổi lên đều xoay quanh các mối quan

hệ lấy trục Ấn Độ-Mỹ làm trung tâm và mọi nhân tố của khu vực đều trực tiếp ảnh hưởng đến quan hệ này trên nhiều bình diện từ kinh tế đến chính trị

và đặc biệt là an ninh quốc phòng Nói đến phạm vi hẹp hơn trong địa hạt khu vực châu Á là Nam Á, với tình hình diễn biến ngày càng trầm trọng như vấn

đề khủng bố ở Pakistan Yếu tố này đã làm suy giảm mức độ tín nhiệm của

Mỹ dành cho Pakistan và dần chuyển sang hợp tác sâu sắc với Ấn Độ, mục đích nhằm gia tăng mối quan hệ kinh tế với đất nước rộng lớn và có khả năng kinh tế tiềm tàng này, mặt khác thông qua Ấn Độ tiến hành chống khủng bố trên diện rộng

Trong hai mươi năm qua từ sau khi Liên Xô tan rã, thế giới đã có những chuyển đổi làm thay đổi số phận của nhiều quốc gia, Mỹ trở thành nước dẫn đầu trong hệ thống kinh tế quốc tế, Ấn Độ từ nước nghèo vươn lên hàng các quốc gia đang phát triển Song song đó, mối quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ thời

kỳ này cũng bị tác động mạnh bởi tình hình thế giới và có chiều hướng đi lên, tuy nhiên trong những năm tới quan hệ này cần được đẩy mạnh hơn nữa để có thể ứng phó trước những bất ổn của kinh tế toàn cầu, sự xáo trộn nền chính trị thế giới và mối quan tâm về vấn đề an ninh quốc phòng…

1.2 Khái quát quan hệ Ấn Độ - Mỹ

Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Ấn Độ và Mỹ đặt quan hệ ngoại giao khá sớm, chủ yếu quan hệ chính là về mặt kinh tế, như Mỹ thời kỳ này viện trợ khá lớn cho Ấn Độ về nguồn vốn cũng như kỹ thuật chủ yếu trong một số

Trang 19

lĩnh vực như nông nghiệp, hải dương, đánh bắt và các ngành công nghiệp khác Trong suốt thời kỳ diễn ra Chiến tranh lạnh, Mỹ cung cấp cho Ấn Độ một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm và những mặt hàng thiết yếu, ngoài ra còn viện trợ các khoản vay không hoàn lại cho Ấn Độ Vì Mỹ luôn cho rằng Ấn Độ là một thị trường lớn, đồng thời Ấn Độ luôn xem Mỹ là nguồn đầu tư quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nên trong 40 năm trước khi Ấn Độ cải cách, quan hệ Ấn Độ-Mỹ chủ yếu là Mỹ viện trợ và đầu tư kinh

tế cho Ấn Độ còn thương mại hai nước thời kỳ này không đáng kể

Trong nhữn năm đầu tiên sau chiến tranh II, Mỹ theo đuổi mục đích xâm nhập kinh tế vào Ấn Độ và nắm chặt thị trường này, do đó Mỹ gia tăng giá trị xuất nhập khẩu và đầu tư vào Ấn Độ Tuy nhiên trước sự trở ngại trong quan

hệ chính trị nên giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của Ấn Độ từ Mỹ trong 20 năm (1960-1980) là thấp, nhưng bắt đầu từ thập niên 1980 trở đi đã có sự gia tăng mạnh mẽ trong dòng chảy thương mại của cả hai Giữa thập niên 1960 xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ đạt khoảng 300 triệu USD đến năm 1982 tăng lên được khoảng 1,2 tỷ USD Như vậy trong 20 năm giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Ấn Độ và Mỹ chỉ tăng khoảng 45 triệu/năm Qua thời gian dài trong chiến tranh lạnh dần dần trong tỷ lệ đóng góp xuất nhập khẩu ta thấy tỷ

lệ đóng góp của Mỹ trong xuất khẩu của Ấn Độ ngày càng có chiều hướng đi lên, ngược lại thị phần đóng góp của Mỹ trong nhập khẩu của Ấn Độ có thời gian nhiều trong những năm thập niên 1960-1970 khoảng 18% - 38% và sau

đó nhập khẩu của Ấn Độ từ Mỹ có khuynh hướng đi xuống, điều này tạo đà cho kinh tế Ấn Độ phát triển cao hơn, và ngày càng có mối quan hệ thương mại sâu sắc hơn với Mỹ (xem thêm phụ lục 1) Sau khi chính quyền Janata lên nắm quyền vào tháng 3-1977 đã chủ trương mở rộng cửa cho tư bản phương Tây, chủ yếu Mỹ, do đó quan hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ được cải thiện một bước, kim ngạch buôn bán hai nước năm 1979 đạt 1 tỷ USD, ngoài ra Mỹ còn giúp kinh tế Ấn Độ trong 2 năm 1979-1980 là 103,2 triệu USD [35:186] Trong khía cạnh giá trị xuất nhập khẩu thì Mỹ xuất khẩu sang Ấn Độ và Ấn Độ xuất

Trang 20

khẩu sang Mỹ được so sánh, đánh giá là đạt tỷ trọng thấp và không có nhiều thay đổi cho đến những năm của thập niên 1980 Sau sự gia tăng vào những năm 80 thế kỷ XX, năm 1980 đạt khoảng 2,7 tỷ USD tăng lên năm 1989 là 6,5 tỷ USD [86:34], đến đầu thập niên 90 thế kỷ XX thì xuất nhập khẩu giữa

Mỹ và Ấn Độ liên tục tăng nhanh, bên cạnh đó còn tác động mạnh tới xuất nhập khẩu của Ấn Độ vào thị trường Mỹ

Vai trò của Ấn Độ trong dòng chảy thương mại Mỹ ít có sự thay đổi đột ngột, điều này đã đánh giá tầm quan trọng của Mỹ trong thương mại của Ấn

Độ Giữa thập niên 1960 Ấn Độ đã cung cấp cho Mỹ khoảng 3% trong nhập khẩu của Mỹ và 1,5% trong xuất khẩu Mỹ Cả hai giá trị xuất nhập khẩu này của Ấn Độ đã giảm xuống còn dưới 1% trong những năm 1970 và tăng mạnh trong những năm cuối thập niên 80/XX Bên cạnh giá trị thương mại tương đối không đáng kể thì vấn đề đầu tư và viện trợ của Mỹ đối với Ấn Độ được đánh giá cao, thời gian Chiến tranh lạnh Mỹ viện trợ cho Ấn Độ 2 tỷ USD trong vòng 20 năm từ 1961 đến năm 1984 [101], và con số này tiếp tục tăng qua từng năm cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ tuyên bố cắt giảm viện trợ phát triển cho Ấn Độ khi Ấn Độ đã có được một thành tựu kinh tế thuộc các nền kinh tế lớn của thế giới

Còn về quan điểm chính trị và an ninh quốc phòng giữa Mỹ và Ấn Độ trong 4 thập kỷ của Chiến tranh lạnh do bị tác động bởi sự kình địch giữa Mỹ

và Liên Xô nên nỗ lực xích lại gần nhau giữa Ấn Độ và Mỹ không thực hiện được Ảnh hưởng của sự bất đồng này đã dẫn đến một mối quan hệ kinh tế hời hợt với một bên vẫn chưa có được thị trường lớn, tiềm năng là Mỹ, một bên chưa đạt được những mục tiêu đề ra trong phát triển kinh tế suốt thời gian dài Từ những năm 50 thế kỷ XX, Ấn Độ có xu hướng thân Liên Xô nên quan

hệ Ấn Độ-Mỹ trở nên căng thẳng, ngày càng gia tăng tình trạng này khi Ấn

Độ lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và ký với Liên Xô Hiệp định Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác vào tháng 8-1971 Sau đó, mặc dù Mỹ và Ấn

Độ đã có những chính sách thân thiện hơn nhưng do tương quan lực lượng

Trang 21

trên thế giới, do sự đấu tranh của các lực lượng tiến bộ ở Ấn Độ, do lợi ích chiến lược giữa hai nước khác nhau, do bất đồng trên nhiều vấn đề mang tính nguyên tắc nên Mỹ đã không thực hiện được ý đồ lôi kéo Ấn Độ [35:188] Vì vậy, quan hệ Ấn Độ-Mỹ trong Chiến tranh lạnh không có được sự thân thiết như mong muốn của hai nước Tuy nhiên trước khi bức tường Liên Xô sụp đổ

là thời kỳ khủng hoảng nặng nề của các nước xã hội chủ nghĩa, Ấn Độ nhận thấy cần cải thiện tình trạng đóng băng với Mỹ nhằm đưa kinh tế Ấn Độ phát triển Giữa những năm 80 thế kỷ XX, Ấn Độ bãi bỏ một loạt hạn chế trong lĩnh vực kinh tế, mở rộng các hoạt động kinh doanh tư nhân, bước đầu đưa

Mỹ trở thành bạn hàng lớn thứ hai của Ấn Độ sau Liên Xô Từ đây quan hệ

Ấn Độ-Mỹ trở nên tốt hơn, mặc dù vẫn còn nhiều bất đồng chưa giải quyết được nên không thể giải phóng được hàng rào thương mại khép kín của Ấn

Độ đối với Mỹ, làm cho kim ngạch mậu dịch, đầu tư song phương Ấn Độ-Mỹ trước năm 1991 không đạt được giá trị cao như thời gian Ấn Độ tiến hành cải cách

Sự cáo chung của Chiến tranh lạnh đã mở ra một cánh cửa khác cho sự phát triển của thế giới, cũng mở ra cho nền kinh tế Ấn Độ trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX một hướng đi mới, nhanh chóng gia nhập vào

vũ đài thế giới Về mặt địa lý, Ấn Độ là quốc gia lớn nhất vùng Nam Á, có nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, có tiềm lực sức mạnh về quân sự, là một xã hội đa sắc tộc, và có nền văn hóa ảnh hưởng to lớn trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới Những điều này đã biến Ấn Độ thành một quốc gia được Mỹ chú ý đến trong việc hoạch định chính sách vào thế kỷ XXI Mỹ không chỉ muốn Ấn Độ trở thành đối tác quan trọng của Mỹ về quân sự, chính trị mà còn muốn Ấn Độ đóng một vai trò đối trọng về kinh tế trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là nhằm cân bằng quyền lực ở khu vực Châu Á Từ những năm còn đương nhiệm tổng thống, Bill Clinton đã xây dựng một chương trình cam kết mới với Ấn Độ Sau đó, người kế nhiệm là tổng thống G.W.Bush trong vòng 6 năm nỗ lực để cả hai chính phủ thiết lập một mối

Trang 22

quan hệ đối tác chiến lược, gia tăng thương mại, đầu tư song phương và tính liên kết giữa hai quốc gia dựa trên nền tảng dân chủ

Quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ - Mỹ được định hình dựa trên việc chia sẻ những giá trị về nền dân chủ, chủ nghĩa đa tộc, và những qui tắc của luật pháp quốc tế Sự khởi đầu của mối quan hệ song phương này dựa vào tính toàn cầu, sự đảm bảo an ninh và nền kinh tế lớn đang bắt đầu có tiến triển Hai quốc gia đã ký kết hiệp định khung về quốc phòng trong 10 năm vào năm 2005 để thuận tiện cho việc mở rộng hợp tác an ninh hai nước Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, ngoài việc hợp tác về kinh tế, chính trị thì vấn đề an ninh toàn cầu cũng được tiến hành chặt chẽ giữa các quốc gia trong việc chống lại những vấn đề khủng bố, và nhiều vấn đề khác Hiện nay,

có hơn 100.000 sinh viên Ấn Độ đang theo học tại các trường đại học Mỹ, nhiều nhất so với sinh viên các quốc gia khác đang học ở Mỹ Đặc biệt, một

số lượng lớn người Mỹ gốc Ấn chiếm giữ những vị trí cao cấp trong chính phủ Obama, ví như người quản lý cơ quan phát triển quốc tế là Rajiv Patel (“Desis in DC,” Time of India (Dehli), December 19, 2009)

Hơn nữa, Mỹ cũng quan tâm đến tình trạng căng thẳng của hai nước Ấn

Độ và Pakistan mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tranh chấp vùng Kashmir Trên thực tế, Mỹ mong muốn khu vực này ổn định để có thể giải quyết vấn đề của nước láng giềng Afghanistan Đến nay, Mỹ cho rằng mối quan hệ hòa bình của Ấn Độ và Pakistan đang suy tàn và chỉ còn tồn tại một vấn đề tiềm ẩn bấy lâu nay, đó là cuộc xung đột vượt qua tầm kiểm soát của chính quyền Kashmir, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nóng bỏng ở hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân này Vì vậy, Mỹ đã cố gắng cắt giảm việc phổ biến tên lửa và vũ khí hạt nhân ở khu vực Nam Á

Bên cạnh việc tìm kiếm hòa bình trong mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan, Mỹ còn nỗ lực gia tăng mối quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện với

Ấn Độ bằng những cuộc viếng thăm và kí kết các hiệp định về thương mại, hợp tác đầu tư…Hiện nay, chính phủ Obama đang nỗ lực để tiếp tục mở rộng

Trang 23

hợp tác và cam kết với Ấn Độ Tháng 9 năm 2010, người phát ngôn cơ quan chính phủ đã gọi Ấn Độ “là một cái neo an toàn trong một bộ phận nguy cấp của thế giới” Mặc dù, mối quan hệ này còn tồn tại những bất cập, nhưng với

sự nỗ lực của cả hai bên đang hứa hẹn một sự khởi đầu mới cho sự liên kết kinh tế Ấn Độ - Mỹ Như vậy, sau Chiến tranh lạnh quan hệ Ấn Độ-Mỹ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi nhằm gia tăng mối quan hệ kinh tế hai nước để trở thành đối tác quan trọng của nhau trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ mới

1.3 Chính sách của Mỹ sau Chiến tranh lạnh

Mỹ là một siêu cường, nắm giữ nền kinh tế lớn nhất, giữ vai trò đặc biệt trong nền chính trị thế giới, có tiềm lực sức mạnh quân sự, khoa học công nghệ, văn hóa thông tin mạnh nhất Những thông số trên tạo nên một sức mạnh tổng hợp cho Mỹ trong suốt những năm sau Chiến tranh lạnh và trong nhiều thập kỷ tới chưa có nước nào có thể thách thức vị thế này của Mỹ trên

ba lĩnh vực quan trọng: kinh tế, chính trị, quân sự Dưới tác động của môi trường quốc tế, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ thì những yếu tố trên lại chính

là nhân tố tác động mạnh tới việc đề ra chiến lược phát triển đất nước hay hoạch định chính sách cả đối nội và đối ngoại của Mỹ Đặc biệt hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu hướng chung, do đó Mỹ cũng đã có những thay đổi chính sách toàn cầu phù hợp hơn với diễn biến phức tạp của bối cảnh quốc tế, nhằm củng cố và phát triển kinh tế đất nước đồng thời giữ vững vị trí siêu cường thế giới

1.3.1.Chiến lược toàn cầu của Mỹ

Với tham vọng biến thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ thành trật tự một cực do Mỹ chi phối đã buộc Mỹ phải vạch ra một chiến lược toàn cầu mới trong tình hình thế giới đang có nhiều thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, những mâu thuẫn xã hội đan xen nhau tạo ra một bức tranh cực kỳ phức tạp Trước những diễn biến của toàn cầu hóa, mưu đồ thống trị thế giới của Mỹ đành phải để lại, nhường chỗ cho một chiến lược toàn cầu khác Vì vậy, chiến lược

Trang 24

an ninh quốc gia cam kết và mở rộng ra đời nhằm giải quyết những vấn đề cấp thiết trước tình trạng suy thoái kinh tế của Mỹ sau Chiến tranh lạnh và xây dựng một chính sách đối ngoại mới phù hợp với bối cảnh quốc tế hơn Chiến lược cam kết và mở rộng của Mỹ thực chất là chiến lược toàn cầu,

Mỹ đưa ra nhằm lý giải vai trò lãnh đạo thế giới Chiến lược mới này đề cập đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng…và lợi ích của

Mỹ cũng như của nhiều quốc gia khác Chiến lược còn đáp ứng được những tham vọng bành trướng của Mỹ khi Mỹ đưa ra những chính sách hấp dẫn đối với các nước đồng minh, đồng thời không gây ra những phản ứng tiêu cực từ phía các nước chống đối Chiến lược toàn cầu nhấn mạnh đến việc Mỹ cần phải can dự vào các công việc quốc tế, phải mở rộng các cộng đồng tự do, các nền dân chủ, tạo ra những giá trị dân chủ kiểu Mỹ và nhân rộng ra thế giới để buộc họ phải đi theo mô hình định sẵn của Mỹ [11:73] Chính điều này đã chứng tỏ mộng bá quyền của Mỹ, muốn tiêu diệt những kẻ thù bất lợi với mình, xây dựng nên những giá trị có ích đối với quốc gia và kiến tạo nên một thế giới mới với Mỹ là trung tâm Mục tiêu cơ bản của chiến lược toàn cầu: 1)Đảm bảo an ninh và sự thịnh vượng cho Mỹ khi hoạch định những chính sách nhằm tăng cường sức mạnh quân sự và sức mạnh kinh tế, để Mỹ luôn duy trì vai trò lãnh đạo thế giới cả về an ninh quân sự và kinh tế 2) Thúc đẩy

tự do dân chủ và đề cao nhân quyền nhằm phát huy những ưu thế chính trị của

Mỹ trong các quan hệ quốc tế

Ba đời tổng thống Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay đều xác định chiến lược toàn cầu trên và tiếp tục thực hiện xuyên suốt trong các chính sách đối nội và đối ngoại Vẫn giữ nguyên chủ trương “can dự” vào công việc của quốc tế trên cơ sở những nguyên tắc do Mỹ đặt ra như tự do thương mại, tài chính, tiền tệ, kinh tế thị trường, dân chủ nhân quyền …, để thực hiện mục tiêu chiến lược “duy trì địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ” [11:77] Tuy nhiên,

do mỗi thời tổng thống tình hình thế giới lại có những chuyển biến mới, nên cách thức thực hiện chiến lược toàn cầu cũng có sự khác nhau và thay đổi

Trang 25

theo từng thời đại để luôn luôn giữ vững được vị trí cường quốc số một chi phối thế giới Thời Bill Clinton, chiến lược toàn cầu của Mỹ luôn được thực hiện dưới trọng tâm lấy phát triển kinh tế làm chủ đạo cho mọi quan hệ quốc

tế Sau ngày 11/9/2001, nạn khủng bố toàn cầu diễn ra ngày càng phức tạp, phá vỡ đi bức tường an ninh chắc chắn nhất thế giới đã buộc Mỹ thay đổi về cách thức thực hiện chiến lược trong việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của

Mỹ thời G.W Bush (con) Vì vậy, chống khủng bố, tăng cường an ninh quân

sự, lấy hành động đơn phương để theo đuổi lợi ích và Châu Á Thái Bình Dương là ưu tiên số một trong chủ trương thực hiện chiến lược toàn cầu Hiện nay, dưới thời của chính phủ Obama thực hiện chiến lược này trong đường lối đối ngoại của Mỹ là xây dựng một thế giới không khủng bố và phát triển kinh

tế làm nền cho một sự lãnh đạo mới của Mỹ trong con đường tìm kiếm quyền lực tối thượng trên diễn đàn quốc tế

Tổng quát lại, chiến lược toàn cầu của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, chúng ta thấy cốt lõi vẫn giữ nguyên là tham vọng bá quyền thế giới và luôn thực hiện chiến lược bằng những thực thi chính sách ngoại giao trên thế mạnh, dung hòa cả hai sức mạnh mềm và cứng Do đó, chiến lược toàn cầu của Mỹ được xem là theo chủ nghĩa thực dụng, được sử dụng linh hoạt, khéo léo tùy theo những thay đổi trong nội bộ nước Mỹ hay trong quan hệ quốc tế

Cứ thế, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ luôn biến đổi theo không gian và thời gian, mỗi khi thế giới biến động là lại có sự điều chỉnh trong chiến lược của Mỹ

1.3.2.Chính sách kinh tế Mỹ

Vốn là nền kinh tế lớn nhất của thế giới nhưng sau chiến tranh lạnh, do ảnh hưởng của cuộc chạy đua vũ trang, chú trọng quốc phòng… kinh tế Mỹ bước vào giai đoạn suy giảm nghiêm trọng Thời Bill Clinton do thừa hưởng

di sản chiến tranh lạnh để lại, nên chiến lược phát triển kinh tế đã được đặt lên hàng đầu và được thực hiện liên tục tiếp nối qua các đời tổng thống cho đến nay Vì là siêu cường của kinh tế thế giới nên các hoạch định chính sách kinh

Trang 26

tế của Mỹ đều có tác động lớn đến quan hệ kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó Mỹ định ra các mối quan hệ thương mại, đầu tư, hoạt động ODA, tham gia hỗ trợ, phát triển các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế như NAFTA, APEC…

1.3.2.1.Kinh tế Mỹ

Trong xu hướng toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đang trải qua một thời

kỳ quá độ chuyển đổi cơ cấu Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra cực kỳ mạnh mẽ với các ngành kỹ thuật mũi nhọn mới ra đời, nền kinh tế các nước tư bản đang chuyển dần sang một cơ chế kinh tế lấy phát triển công nghệ làm trọng tâm Trong bước quá độ đó nền kinh tế Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng buộc phải dựa trên chiến lược mới để hoạch định ra những chính sách kinh tế nhằm phục hưng và đưa kinh tế Mỹ bước vào thời kỳ phát triển mới [13:82] Như vậy, kết quả của chính sách phục hưng kinh tế Mỹ đã đạt được thắng lợi dựa vào bốn nội dung của chương trình phát triển kinh tế:1)Thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế thông qua ba biện pháp chính là gia tăng đầu tư, ấn định lãi suất thấp hơn và đào tạo nhân công tốt hơn 2)Cắt giảm thâm hụt ngân sách thông qua cắt giảm chi tiêu và tăng thuế 3)Phát triển kinh tế đối ngoại 4)Điều chỉnh chính sách công nghiệp và chính sách khoa học kỹ thuật theo hướng ưu tiên cho công nghiệp kỹ thuật cao và những ngành kỹ thuật mũi nhọn của thế kỷ XXI [13:90]

Những năm 90/XX là thời kỳ phát triển dài nhất, huy hoàng nhất của kinh tế Mỹ [19:108] Trong 10 năm liên tục, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Mỹ đạt khoảng 4%, chiếm 1/3 GDP toàn thế giới Kết quả bước đầu đạt được:

Trang 27

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ 1990-1997 (%)

Nguồn: World Economic Outlook, Tháng 5/1998, IMF, tr.145,146

Sự tăng trưởng kinh tế đó nguyên nhân chủ yếu là, Mỹ đã thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang những ngành hiện đại, dựa vào tri thức, đưa Mỹ bước vào thời kỳ phát triển cao và ổn định, tạo ra điều kiện phục hồi lại vị trí độc tôn trong nền kinh tế toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội cho các quốc gia khác cùng tham gia vào một trong những thị trường hàng hóa, dịch vụ lớn nhất thế giới Chính quyền Bill Clinton đã tiếp tục nâng cao các ngành có sức cạnh tranh mạnh như công nghiệp nặng và hỗ trợ công nghiệp dệt, may mặc…; dân sự hóa một phần hoạt động của các ngành công nghiệp nhằm thực hiện chính sách giảm chi tiêu cho quốc phòng; đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mới: sản xuất phần mềm, sản xuất thiết bị thông tin, công nghệ sinh học, các dịch vụ giải trí hiện đại…Ngoài ra, Mỹ còn điều chỉnh các chính sách khác như chính sách khoa học công nghệ, chính sách thương mại, tài chính, tiền tệ…

Song sự phát triển này không kéo dài mà dừng lại và đi xuống vào những năm đầu của thế kỷ XXI, quí IV năm 2000, tốc độ này giảm mạnh còn 1% và đến quí III năm 2001 giảm -1,3% (Số liệu của BEA (Mỹ) 30-11-2001 và World Economic Outlook 2001), chứng tỏ rằng kinh tế Mỹ đã bộc lộ sự suy thoái như lạm phát, thất nghiệp gia tăng, một bức tranh kinh tế ảm đạm Đứng

Trang 28

trước bối cảnh quốc tế cũng không gì khả quan hơn thì ngay lập tức chính phủ

Mỹ đã điều chỉnh chính sách kích thích kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng và trở lại nhịp độ tăng trưởng như giai đoạn trước

1.3.2.2.Chính sách đối ngoại của Mỹ

Mỹ là một trong những quốc gia diễn ra quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, chính vì vậy mà chính sách đối ngoại của Mỹ cũng đã tác động phần không nhỏ vào nền kinh tế thế giới Để khôi phục lại những hao tổn kinh tế do Chiến tranh lạnh gây ra, một mặt Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế trong nước nhằm đưa kinh tế Mỹ tiếp tục giữ địa vị một siêu cường Mặt khác, điều chỉnh chính sách đối ngoại để hòa nhập với quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng, củng cố

vị thế trung tâm trong các hoạt động ngoại thương với nước ngoài Nhờ các chính sách này mà Mỹ đã có những thành tựu đáng kể trong thập niên cuối của thế kỷ XX Xuất khẩu Mỹ đã đóng góp hơn 1/4 trong sự tăng trưởng kinh

tế quốc tế Đầu năm 2000, kim ngạch xuất khẩu Mỹ đạt 1,1 nghìn tỷ USD [18:127] Chính tầm quan trọng của chính sách kinh tế mà ngay từ sau khi trở thành tổng thống, Bill Clinton đã ra sức cải cách các chính sách về mặt ngoại thương, đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động tài chính tiền tệ, coi chính sách đối ngoại là đòn bẩy để thúc đẩy kinh tế trong nước phục hồi và phát triển Chính quyền Bill Clinton trong những năm 90 thế kỷ XX đã luôn xác định những điểm chính trong chương trình hoạt động của mình đối với một nền kinh tế đang đi vào hoạt động toàn cầu hóa, xóa bỏ lập trường buôn bán

tự do đơn thuần mà thay vào đó là kiểu buôn bán có điều kiện và thương mại phải phục vụ trực tiếp những nhiệm vụ cụ thể Mỹ sử dụng cụm từ “ buôn bán công bằng” tức là loại ra những ưu đãi không tương ứng theo từng cặp bạn hàng trên tinh thần mậu dịch tự do và ngược lại các đối tác trong mối quan hệ giao thương này cũng phải có sự chuyển giao công nghệ trong thời đại khoa học phát triển cùng với việc mở đường lớn cho việc lưu thông hàng hóa, dịch

vụ của Mỹ [40:162]

Trang 29

Đáp ứng những yêu cầu về chính sách đối ngoại, mở cửa các thị trường nước ngoài, buôn bán công bằng và đạt được những đầu tư đã đặt ra, chính quyền Bill Clinton đã đề ra hàng loạt giải pháp phù hợp xu thế thương mại, đầu tư… của quá trình toàn cầu hóa 1)Đẩy mạnh các hoạt động đàm phán thương mại toàn cầu, khu vực để xây dựng các hiệp định thương mại, mở rộng tự do hóa mậu dịch song phương, đa phương Những biện pháp này của

Mỹ nhằm phát huy thế mạnh của kinh tế Mỹ trên con đường tự do hóa theo

mô hình của chiến lược toàn cầu Biện pháp của Mỹ nhằm tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu có khả năng mà một quốc gia không thể giải quyết, đồng thời còn tránh được những rủi ro kinh tế, chính trị liên quan đến sự phân biệt đối xử giữa các đối tác trong hợp tác thương mại [18:147] Suốt một thời gian dài cố gắng đàm phán, Mỹ đã góp phần thành lập ra Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC)…và trong thời gian cầm quyền của mình, Bill Clinton đã ký kết hơn 3000 hiệp định thương mại song phương, nhiều hiệp định đa phương như Hiệp định thương mại dịch vụ, Hiệp định khung về viễn thông… từ những hiệp định này

đã giúp Mỹ thu về hàng năm từ 100-200 tỷ USD (Economic Report of the

President.Washington.D.C.GPO,1994)

2) Mỹ còn sử dụng các biện pháp gắn viện trợ, tín dụng vào việc mở rộng xuất khẩu và đầu tư, mà viện trợ là hoạt động chủ yếu Mỹ dùng như một phương sách để thể hiện “quyền lực mềm” trong công cuộc mở rộng buôn bán, tạo điều kiện cạnh tranh, khai thác thị trường, cũng như sử dụng các thiết chế trả đũa để bảo vệ lợi thế thương mại của Mỹ, kích thích tăng trưởng trong nước Người Mỹ mô tả chính sách này của Mỹ là “một công cụ để tạo ra các thị trường mới cho các nhà xuất khẩu Mỹ, đồng thời ngăn chặn khủng hoảng

và thúc đẩy dân chủ” [33:207] Trong 3 năm (1999-2001), Mỹ cung cấp hơn 1,3 tỷ USD thông qua Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) để hỗ trợ khả năng thương mại của Mỹ theo các khu vực Các chương trình viện trợ nước ngoài được thực hiện theo tinh thần tự do hóa thông qua hệ thống thương mại

có nguyên tắc phải đi đôi với các biện pháp xây dựng khả năng thương mại

Trang 30

Như vậy, viện trợ không còn thuần túy mang ý nghĩa nhân đạo mà nó đã được chính trị hóa và kinh tế hóa [18:161] Còn với việc sử dụng các thiết chế trả đũa, đến tháng 6 năm 2000, Mỹ đã có tới 336 biện pháp chống phá giá có hiệu lực đối với các nước khác [116] Đúng như mong muốn của Mỹ, thông qua viện trợ, đầu tư các quốc gia dưới sự bảo trợ của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc… và Ấn Độ đã giúp các nước này phát triển vượt bậc trở thành những nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất châu Á, có thể của thế giới trong tương lai gần

Khái quát lại, chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ đã có những đóng góp

to lớn đối với sự phát triển kinh tế Mỹ, đem lại những thách thức trong sự biến đổi của thị trường tự do hóa thương mại toàn cầu Có thể nhận xét về những chính sách thương mại mà chính quyền Bill Clinton đặt ra đã được sử dụng một cách nghiêm khắc và đạt được những kết quả tốt góp phần vào sự tăng trưởng kỷ lục cho nước Mỹ trong những năm 90/XX Một số thống kê tăng trưởng kinh tế của Mỹ:

Bảng1.1 : Thương mại Mỹ thời kỳ 1992-2000 (tỷ USD)

Năm

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Cân đối

Nguồn: Bộ thương mại Mỹ (số liệu đã bao gồm các khoản thuế) [40:182]

*Các số liệu của năm 2000 dựa trên số liệu từ đầu năm đến tháng 11-2000

Trang 31

Bảng 1.2: Đầu tư ra nước ngoài của Mỹ 1994-2000 (tỷ USD)

1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 94-00

Đầu tư 77,094 92,074 84,426 95,769 134,083 138,510 148,052 766,156 Nhận

đầu tư 45,095 58,772 84,455 103,513 181,764 271,169 311,899 1.056,667

Nguồn: BEA, US Departement of Commerce 2000;

International Investment Data: US Direct Investment Abroad-Capital

Outflows 1994-2000 [40:183]

Bảng 1.3: Thu nhập từ đầu tư nước ngoài của Mỹ qua các năm (tỷ USD)

Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 94-00

Thu nhập 86,987 87,346 93,594 104,794 92,755 105,001 134,596 687,093

Nguồn: BEA, US Departement of Commerce [40:183]

Bên cạnh những tích cực, chính sách kinh tế đối ngoại Mỹ cũng bộc lộ những hạn chế: vẫn chưa đẩy lùi được sự thâm hụt trong cán cân thương mại,

có chiều hướng ngày càng tăng năm 1992 số thâm hụt 96,7 tỷ USD, năm

1999 là 347,1 tỷ USD, năm 2000 con số lên đến 451,5 tỷ USD [40:185] Cho đến nay, con số thâm hụt trong thương mại Mỹ đã đến mức cao, đây là bài toán hóc búa giành cho những nhà cầm quyền Mỹ trong giai đoạn hiện nay Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ đã liên tục có những điều chỉnh trong chính sách kinh tế đối ngoại khi chú trọng nhiều hơn đến vấn đề an ninh Tổng thống G Bush đặt lên hàng đầu của chính sách đối ngoại là duy trì sự tăng trưởng kinh tế Phương pháp này sẽ xây dựng chiến lược quốc gia mang tính toàn diện, quyết định quan hệ với các nước công nghiệp chủ yếu, trong

đó có chính sách kinh tế và khu vực [39] Không những vậy, Mỹ còn chuyển hướng tập trung vào khu vực Châu Á Thái Bình Dương, “chiến lược quốc

phòng thế kỷ XXI của Mỹ là chiến lược coi trọng Châu Á” (Xem Đông Á và

Trang 32

sự thay đổi chiến lược của Mỹ Tạp chí Tokyo Keizai, 2/6/2001 Dẫn từ

TLTKĐB, số 134,2001), ngoài ra Mỹ còn đưa ra những thiết chế cứng rắn hơn đối với các đối thủ cạnh tranh trong thương mại Coi thương mại quốc tế

là xu hướng phát triển tất yếu nên chính quyền nào cũng có những chính sách riêng, nhưng nói chung vẫn phục vụ lợi ích cho Mỹ, duy trì một nước Mỹ siêu cường về kinh tế

1.3.2.3.Chính sách kinh tế Mỹ đối với Ấn Độ

Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang thổi một làn gió mới thúc đẩy kinh tế quốc tế phát triển mạnh, tạo ra những cơ hội đối với các quốc gia trên thế giới Ngoài việc đề ra các chính sách kinh tế đối với những “khách hàng cũ” như EU, Nhật Bản… thì với nền kinh tế mới nổi ở Nam Á như Ấn Độ là đối tác quan trọng mà Mỹ không thể không quan tâm sau một thời gian dài chỉ quan hệ cầm chừng Sau chiến tranh lạnh, với một thị trường mở rộng, tự

do thương mại hóa đã mở ra cho Ấn Độ nhiều cơ hội để tự mình vươn lên sau

4 thập kỷ chỉ tập trung phát triển theo hướng đối nội Kinh tế Ấn Độ đã từng bước vươn lên trở thành nền kinh tế lớn và ngày càng khẳng định vị trí của mình về kinh tế-chính trị-quân sự… trên trường quốc tế Chính vì vậy mà trong việc hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại, Mỹ dành một phần không nhỏ để cho ra đời những đối sách ngoại giao thương mại với nền kinh tế trên

tỷ người này

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ-Mỹ có thể nói là không có gì sâu sắc, thì từ thập niên 90/XX trở đi thái độ của Mỹ đối với Ấn Độ không còn như xưa Mỹ đánh giá Ấn Độ là một quốc gia đầy tiềm năng trên con đường tìm kiếm những đồng minh khác ở Châu Á khi mà Trung Quốc ngày càng nổi lên đe dọa vị trí của Mỹ tại khu vực này, về phía Nhật Bản không còn chịu sự không chế chặt chẽ như trước của Mỹ Dựa vào những yếu tố kinh tế tăng trưởng nhanh, mạnh, ổn định; chính trị vững vàng, một hệ thống quân sự đầy tiềm lực đã làm cho Mỹ phải đề ra các chính sách hợp tác với Ấn Độ nhiều hơn Trong những chính sách này nổi rõ lên là các

Trang 33

chính sách về quốc phòng, song song đó là những chính sách kinh tế trong quan hệ thương mại, đầu tư với Ấn Độ Quan hệ giữa Ấn Độ-Mỹ, và việc hoạch định chính sách kinh tế của Mỹ đối với Ấn Độ trong những năm 90 của thế kỷ XX hay cả sau này đều dựa trên những đặc điểm chung của Mỹ với Ấn

Độ Mục đích của các chính sách kinh tế của Mỹ với Ấn Độ không ngoài việc dựa vào Ấn Độ làm đối trọng với Trung Quốc ở Châu Á về mặt kinh tế, chính trị, ngoài ra còn dựa vào Ấn Độ để kìm hãm những xung đột ở Nam Á, đặc biệt là chương trình chống khủng bố của Mỹ và Ấn Độ từ sau sự kiện 11-9-

2001 Những hành động này của Mỹ trong chính sách của mình với Ấn Độ nhằm duy trì và tìm kiếm lợi ích từ Châu Á khi mà Ấn Độ đang có một con đường quan trọng hướng về phương đông trong “Chính sách hướng đông của

Ấn Độ”

Chính sách kinh tế của Mỹ dựa vào công cuộc cải cách kinh tế của Ấn

Độ vạch ra nhằm thực hiện mưu đồ trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Chính sách này thể hiện trong “Nội dung tuyên bố tầm nhìn của Mỹ và Ấn Độ”, ngày 21-3-2000 tại New Delhi, tổng thống Bill Clinton và thủ tướng Ấn Độ

A Bihari Vajpayee đã ký “Tuyên bố tầm nhìn” cho thế kỷ XXI, nhằm tạo nên mối quan hệ mới chặt chẽ và rộng lớn giữa hai nước [22:1] Nội dung của Tuyên bố: “Mỹ hoan nghênh thành công của Ấn Độ trong mở cửa kinh tế, những thành tựu của Ấn Độ trong khoa học và công nghệ, cam kết của Ấn Độ

về mở rộng cải cách kinh tế và quyết tâm của Ấn Độ mang lợi ích phát triển kinh tế tới cho tất cả nhân dân mình Các dân tộc chúng ta cam kết giảm những trở ngại trong thương mại, đầu tư và mở rộng quan hệ thương mại giữa hai nước, đặc biệt trong các ngành công nghiệp dựa trên kiến thức hiện đang phát triển vào các lĩnh vực công nghệ cao” [22:3] Dựa theo tuyên bố này thì chính sách kinh tế của Mỹ đối với Ấn Độ là thường xuyên tiến hành các hoạt động đối thoại kinh tế thương mại nhằm phát triển và thắt chặt hơn nữa hợp tác mậu dịch, đầu tư song phương Ấn Độ-Mỹ trong các lĩnh vực tư nhân Chính sách này căn cứ vào hai nguyên tắc sau: Khuyến khích tư nhân mạnh dạn giao thương và đầu tư mạnh vào Ấn Độ dựa trên các ngành tiềm năng của

Trang 34

nước này và hợp tác kinh tế Ấn Độ-Mỹ được cam kết giữa tư nhân và nhà nước Mỹ đề ra chính sách thương mại dễ dàng và tạo cơ hội đầu tư lớn vào

Ấn Độ trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng, công nghệ sinh học và dịch vụ: Gia tăng thương mại dựa vào các sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ chứa hàm lượng tri thức Đánh giá tiềm năng thương mại hai nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông Cải tiến dịch vụ truyền thông

để mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế Ấn Độ-Mỹ và cải tiến lại cơ chế hoạt động mậu dịch và đầu tư vào Ấn Độ nhằm tạo cơ hội cạnh tranh cho xuất khẩu hai nước như mở cửa mậu dịch và chống lại chủ nghĩa bảo hộ, mở rộng

hệ thống đa mậu dịch, tạo cơ hội cho Ấn Độ phát triển

Năm 2001, tổng thống Bush và thủ tướng Vajpajee có cuộc gặp gỡ, trao đổi, tuyên bố mở rộng các cuộc đối thoại kinh tế giữa Ấn Độ và Mỹ, thông qua đối thoại năm 2000, Ấn Độ và Mỹ nâng cao diễn đàn kinh tế tài chính, đối thoại thương mại, hoạt động thương mại của các tập đoàn Các cuộc đối thoại song phương này được Mỹ và Ấn Độ đề ra nhằm liên kết chặt chẽ hoạt động đầu tư, kinh doanh và nhằm vào mục đích vì lợi ích kinh tế của hai bên Đồng thời đó là các cam kết thực hiện những bảo đảm về việc hoạch định chính sách của Mỹ dựa trên công nghệ cao, cơ sở hạ tầng và nền công nghiệp tri thức đối với Ấn Độ Theo cuộc đối thoại này, Mỹ mở rộng quan hệ kinh tế song phương với Ấn Độ về hợp tác năng lượng, môi trường, sức khỏe, công nghệ như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin Hơn nữa, Mỹ còn chú trọng thương mại công nghệ cao, chuyển giao những hạng mục quốc phòng, nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác không gian dân sự…

Vì vậy chính sách kinh tế của Mỹ đối với Ấn Độ được hoạch định trên nền tảng cùng chia sẻ những giá trị dân chủ tự do, những tư tưởng được Mỹ thể hiện trong chiến lược toàn cầu của mình nhằm mở rộng thị trường kinh tế thương mại toàn cầu Chính sách đó đã được đề ra với một đối tác lớn, thị trường đông dân, có trình độ lao động cao, có nền khoa học công nghệ phát triển, cùng có một chiến lược phát triển kinh tế dựa trên những ngành công

Trang 35

nghiệp hiện đại như công nghiệp phần mềm, dịch vụ, vũ trụ, hạt nhân…như

Ấn Độ Mở đường cho các chính sách này, Mỹ đã xóa bỏ một phần cấm vận đối với Ấn Độ, tuy nhiên để nâng cao quan hệ kinh tế hai nước, Mỹ đưa ra một “Tuyên bố nguyên tắc” về thương mại công nghệ cao, bao gồm cả thương mại kép hàng hóa và công nghệ

5-2-2003 “Tuyên bố về các nguyên tắc thương mại công nghệ cao cho

Ấn Độ-Mỹ” được ký tại Washington DC, mục tiêu cơ bản của tuyên bố này là tiếp tục các quy định trong “Tuyên bố nguyên tắc” năm 2002; xúc tiến các hoạt động thương mại công nghệ cao giữa hai nước; thực hiện các bước để loại bỏ hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan; công nhận tầm quan trọng của hoạt động ở khu vực tư nhân nhằm mở rộng thị trường; tạo môi trường cho phát triển thương mại công nghệ cao; duy trì mạng lưới thông tin

về những thay đổi của luật kiểm soát xuất nhập khẩu; quy định và các chính sách trong việc trao đổi hoạt động mậu dịch song phương, đẩy mạnh thương mại, đầu tư hai nước vào các ngành công nghiệp tri thức

Những chính sách kinh tế của Mỹ đối với Ấn Độ bước đầu đã có những thành tựu trong quan hệ hợp tác kinh tế hai nước, từ sau cải cách kinh tế Ấn

Độ đứng thứ 24 trong số các đối tác thương mại của Mỹ về xuất khẩu, thứ 18

về nhập khẩu 1, qua từng giai đoạn đã chứng tỏ mối quan hệ này càng thân thiện và nồng ấm Ngày nay, Mỹ muốn xây dựng và phát triển một mối hợp tác kinh tế toàn diện với cường quốc châu Á này

1.4 Công cuộc cải cách kinh tế của Ấn Độ từ năm 1991 đến nay

1.4.1 Ấn Độ trước cải cách

Sau khi giành độc lập năm 1947, Ấn Độ theo đuổi chính sách xây dựng nền kinh tế tự lập, tự cường với hai thành phần chính: khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, phát triển trên cơ sở kế hoạch hoá với mục tiêu tạo ra một nền kinh tế hoàn chỉnh, vững chắc và có vị trí quốc tế Ngay từ những năm

1 Xem [http://www.economywatch.com/international-economic-relations/india’s-economic-relations.html]

Trang 36

đầu tiến hành các kế hoạch phát triển kinh tế, Ấn Độ tập trung công nghiệp nặng, coi nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng tích luỹ để phát triển công nghiệp, hai ngành này là ngành chủ lực để đưa nền kinh tế tiến lên theo hướng

tự lực cánh sinh, ngăn chặn cạnh tranh từ bên ngoài Bên cạnh đó, khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện và kiểm soát các hoạt động kinh tế xã hội, đi đầu trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tạo ra vốn đầu tư, tạo công việc, giảm nghèo đói Trong vòng 40 năm, Ấn Độ đã có những bước tiến dài, tuy nhiên chiến lược phát triển theo hướng hướng nội đó

đã tách Ấn Độ khỏi thị trường thế giới khiến cho xuất khẩu Ấn Độ ngày càng tụt dần Trong bối cảnh thế giới thay đổi, mô hình này kiềm chế động lực phát triển kinh tế Trước tình hình kinh tế khủng hoảng cơ cấu trầm trọng, chính phủ Ấn Độ đã tiến hành cải cách sâu rộng và toàn diện theo hướng thị trường rộng mở, tự do hoá gắn liền với hoạt động của quan hệ kinh tế quốc tế

1.4.2 Ấn Độ thực hiện cải cách kinh tế từ 1991 đến nay

Từ cơ chế tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường tự do hoá: Trước khi cải cách, kinh tế Ấn Độ là nền kinh tế hướng nội nhằm bảo toàn thị trường nội địa (90% vốn đầu tư dựa vào nguồn lực trong nước, thực hiện chính sách bảo

hộ mạnh mẽ cho công nghiệp trong nước, đề cao khu vực quốc doanh, coi nhẹ vai trò của tư bản nước ngoài và tư nhân trong nước…) [35:29], và dùng sức mạnh tự có để phát triển kinh tế Định hướng này không hiệu quả mà còn thể hiện sự bất cập và thụt lùi trong sự phát triển chung của thế giới, khi toàn cầu hoá dần dần thâm nhập và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, tháng 7-

1991, chính phủ Narasimha Rao lên cầm quyền đã thực hiện một loạt biện pháp mở cửa ngoại thương, thúc đẩy xuất khẩu, giảm thuế quan, tự do hoá xuất khẩu:

Ấn Độ đã xây dựng cho mình chiến lược với chủ trương khuyến khích xuất khẩu, đa dạng hoá và xác định những mặt hàng nào có tính cạnh tranh cao, hỗ trợ mọi hoạt động tự do hóa của thị trường, đưa hàng hóa Ấn Độ ra nước ngoài, nhanh chóng hội nhập vào dòng chảy thương mại thế giới Để

Trang 37

thúc đẩy thị trường nội địa, Ấn Độ đã tiến hành tự do hoá nhập khẩu tạo điều kiện cho sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đầu tư khoa học kỹ thuật vào nước này Một mặt tự do hóa nhập khẩu của Ấn Độ đem đến những thuận lợi cho Ấn Độ trong các lĩnh vực công nghiệp tri thức, mặt khác lại tạo ra thế bất lợi cho Ấn Độ khi phải cạnh tranh khốc liệt với khối lượng hàng hóa khổng lồ có chất lượng tốt hơn Chính vì vậy, Ấn Độ song song với tự do hóa nhập khẩu là một số biện pháp hạn chế những hàng hóa mà Ấn Độ không có lợi thế so sánh Đây là điểm bất cập trong nhập khẩu của Ấn Độ, và điều này sẽ gây ra một sự phản đối mạnh mẽ từ phía Mỹ khi hai nước này tiến hành giao thương, đồng thời cũng là lý do mà giá trị thương mại Ấn Độ-Mỹ thời kỳ này luôn nghiêng về phía Ấn Độ Trong suốt những năm cải cách, Ấn Độ từng bước đưa nền kinh tế của mình vươn lên giữ một vị trí nhất định trong nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó, thương mại Ấn Độ thời

kỳ này cởi mở hơn đã tạo ra môi trường thuận lợi giúp Ấn Độ dễ dàng tiến hành mậu dịch với nước ngoài đặc biệt là Mỹ Kim ngạch xuất nhập khẩu của

Ấn Độ cuối thế kỷ XX đã gia tăng nhanh chóng, giúp Ấn Độ trở thành một trong những quốc gia có tỷ trọng đóng góp lớn vào thương mại thế giới

Cùng với mở rộng ngoại thương, chính phủ Ấn Độ còn thực hiện tự do hoá trong ngành tài chính-tiền tệ-ngân hàng như đưa ra chính sách thả nổi tỷ giá hối đoái và chính sách này được điều chỉnh theo cung cầu của thị trường, dần dần chuyển đổi sang chế độ tỷ giá thống nhất theo cơ chế thị trường Về lĩnh vực tài chính ngân hàng, Ấn Độ chủ trương tự do hoá tài chính bằng cách giảm bớt sự kiểm soát của chính phủ, đồng thời cho phép cổ phần hoá để khuyến khích đầu tư tư nhân, tinh giản sự độc quyền của nhà nước trong các hoạt động của ngân hàng Bên cạnh các chính sách trên, Ấn Độ cũng thực hiện cải cách chính sách tiền tệ theo hướng cởi mở hơn khi giảm lượng dự trữ tiền mặt, giảm lãi suất ngắn hạn, 1-1997 dự trữ tiền mặt của Ấn Độ từ 14% còn 10% [26:116] Thay vào đó, Ấn Độ gia tăng mức độ dự trữ đồng ngoại tệ,

có thể nói năm 2004 Ấn Độ là một trong những quốc gia có lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới cùng với Nhật Bản và Trung Quốc Cải cách chính

Trang 38

sách tài chính-tiền tệ và hệ thống ngân hàng đã giúp cho Ấn Độ xây dựng được một thị trường phát triển với mạng lưới thể chế quản lý tài chính-tiền tệ

có điều tiết, mục tiêu tạo ra khả năng phát triển năng động, thông thoáng, tăng tính cạnh tranh trong kinh doanh tiền tệ Để thực hiện được sự liên kết thống nhất giữa các vấn đề liên quan đến tài chính tiền tệ, năm 1994 chính phủ Ấn

Độ quyết định thành lập thị trường chứng khoán tại Bombay mang tầm cỡ quốc gia National Stock Exchange (NSE) Qua thời gian dài, thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và khá phát triển, trở thành kênh đầu tư đáng tin cậy của thế giới trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Đây là thành công của Ấn Độ trong công cuộc cải cách kinh tế và được Mỹ đánh giá rất cao trong mối quan

hệ kinh tế Ấn Độ-Mỹ những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI

Với chủ trương tự do hoá, cải cách của Ấn Độ đã đem lại cho nước này một thị trường phát triển mạnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Từ 1990 đến năm 2001 giá trị xuất khẩu trung bình đạt 9,1%/năm và nhập khẩu là 9,5%/năm Năm 2002-2003, xuất khẩu của Ấn Độ đạt 52,2 tỷ USD và nhập khẩu 59,39 tỷ USD [26:117]

Song song với tiến trình tự do hóa thương mại, đầu tư, tài chính tiền tệ,

Ấn Độ bắt đầu thay đổi hệ thống cơ cấu ngành, từ các ngành nông nghiệp truyền thống chuyển dần sang chú trọng đầu tư phát triển ngành công nghiệp

và dịch vụ, nhất là các ngành dịch vụ -đây là ngành công nghiệp tri thức trong tương lai gần sẽ là trọng tâm phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Trước cơ chế thị trường được mở rộng, Nông nghiệp của Ấn Độ có sự tăng trưởng đáng kể, chiếm 24,8% GDP và nông nghiệp thời kỳ này được Ấn Độ

áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đảm bảo được sự gia tăng năng suất, chất lượng cũng như từng bước cơ giới hóa nông nghiệp, đưa các ngành nông nghiệp trở thành lĩnh vực trọng yếu đáp ứng nhu cầu lương thực trong tương lai hỗ trợ đắc lực cho công nghiệp và dịch vụ; Công nghiệp chiếm 26,4% và dịch vụ là 48,8% Hiện nay, Ấn Độ đang thực hiện cải cách kinh tế theo

Trang 39

hướng tăng cường sức mạnh ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn và dịch vụ

Sau năm 1991, Ấn Độ đưa ra các chính sách chú trọng đầu tư cho các ngành công nghệ kỹ thuật cao như công nghiệp điện tử đặc biệt lĩnh vực phần mềm, trong 10 năm xuất khẩu về công nghiệp phần mềm đạt 50% hàng năm Năm 1996, Ấn Độ thực thi một kế hoạch phát triển toàn diện phần mềm máy tính với khẩu hiệu “Công nghiệp phần mềm Ấn Độ là một kiểu mẫu của sức mạnh và thành công” [35:58] Ngoài ra, còn có sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, năng lượng, hàng không vũ trụ…Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp đã đưa Ấn Độ trở thành một trong

số những quốc gia có sự phát triển vững chắc về công nghệ thông tin, và một

số ngành công nghiệp khác như đóng tàu, chế tạo máy bay…Ngày nay nhắc tới Ấn Độ thì người ta nghĩ ngay đến thương hiệu Công nghệ thông tin đã được Ấn Độ đưa lên một tầm cao mới, trở thành một trong các trung tâm nghiên cứu IT lớn nhất thế giới Do dịch vụ là lĩnh vực chiếm tỷ trọng GDP lớn trong cơ cấu ngành nên khi cải cách Ấn Độ luôn chú trọng việc đầu tư cơ

sở hạ tầng, đưa ra nhiều chính sách đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao phục

vụ nhu cầu sản xuất, cung cấp nhân công Nếu Ấn Độ tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động cải cách ngành công nghiệp tri thức và dịch vụ thì thời gian tới những nhà cung cấp dịch vụ và chế tạo hàng công nghệ cao trên thế giới sẽ phải e ngại khi xuất hiện thêm một đối thủ cạnh tranh khổng lồ từ khu vực Nam Á

Mặc dù, Ấn Độ có nhiều thành tựu trong phát triển công nghiệp, nhưng

số lượng các ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao trên thế giới vẫn chưa nhiều, cần có giải pháp chú trọng nhiều hơn đến sự phát triển toàn diện ngành công nghiệp Còn đối với ngành dịch vụ, đây là ngành đầy tiềm năng

và Ấn Độ ngày càng đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, trong tương lai sẽ góp phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế chung

Trang 40

Cùng với những chính sách trên, Ấn Độ còn chú trọng thực hiện ngoại giao lấy kinh tế làm trọng tâm, phương pháp này được Ấn Độ thực hiện bằng đường lối thông qua quá trình toàn cầu hoá để mau chóng hội nhập kinh tế toàn cầu, thu hút hợp tác thương mại, đầu tư quốc tế vào Ấn Độ, thiết lập thị trường mở, cải thiện quan hệ với Mỹ tạo đà cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các chính sách này đề ra để tạo môi trường thuận lợi cho Ấn Độ thăng hoa, nhưng với những khó khăn trong cạnh tranh của thị trường tự do đã làm nảy sinh nhiều vấn đề dẫn đến sự bất ổn và tiêu cực đối với kinh tế Ấn Độ Qua các cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, hay gần đây khủng hoảng toàn cầu năm 2008-2009 và với mật độ khủng hoảng liên tiếp theo chu kỳ này liệu có gây bất ổn cho nền kinh tế mới nổi này Đây là những thách thức mà chính phủ Ấn Độ cần liên tục đưa ra nhiều giải pháp giúp cân bằng và đưa Ấn

Độ phát triển thành cường quốc kinh tế

Sau khi tiến hành cải cách, Ấn Độ đã có những thành tựu như giảm bớt được thâm hụt tài chính kinh tế Ấn Độ tăng trưởng nhanh chóng, lạm phát giá

cả tiêu dùng dưới 4,2% năm 2005, cũng trong năm này dự trữ ngoại tệ đạt 142

tỷ USD Ấn Độ là một trong những nền kinh tế lớn của thế giới, so sánh sức mua tương đương (PPP) thì Ấn Độ xếp thứ tư thế giới sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản Trong năm tài chính 2004, sự thay đổi trong GDP của Ấn Độ là 8,2%, tiếp tục tăng mạnh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Kinh tế Ấn

Độ tăng trưởng năm tài chính 2004-2005 dẫn đầu là lĩnh vực công nghiệp chế tạo tăng vọt với 6,9%, chỉ số tiêu chuẩn của thị trường chứng khoán Bom Bay tiếp tục tăng cao kể từ năm 2004 Ấn Độ được WTO (Ngân hàng thương mại thế giới) đánh giá là nước xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 30 và nhập khẩu đứng hàng 27 thế giới vào năm 2001 Một trong ba đối tác thương mại hàng đầu của Ấn Độ là Mỹ, xuất khẩu của Ấn Độ vào Mỹ chiếm 19,5% trong tổng giá trị xuất khẩu của nước này.Theo nhận định của WTO dựa vào nền tảng kinh

tế Ấn Độ, thì giá trị thương mại của Ấn Độ cao hơn nhiều so với hiện nay Tuy nhiên, cùng với tăng trưởng, Ấn Độ cần giải quyết những vấn đề về lạm phát, an sinh xã hội (Ấn Độ có hơn 433 triệu người chiếm 44,2% dân số chỉ

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối ngoại: đa dạng hóa và thực tế. Tạp chí quan hệ quốc tế số 10/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối ngoại: đa dạng hóa và thực tế
4. Ảnh hưởng của hiệp định hạt nhân Ấn – Mỹ lên cán cân quyền lực châu Á. TLTKĐB 27-3-06, tr.6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hiệp định hạt nhân Ấn – Mỹ lên cán cân quyền lực châu Á
5. Cải cách kinh tế Ấn Độ.TLTKĐB 24-6-2004, tr.21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách kinh tế Ấn Độ
6. Chính sách kinh tế cả gói của Clinton. Bản tin tham khảo quan hệ quốc tế số 5, 1995, tr.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế cả gói của Clinton
7. Chu Văn Chúc: Ấn Độ năm 2000. Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 37, tr.47- 51.8. Cục thống kê Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ năm 2000
9. Đặng Ngọc Hùng: Cải cách kinh tế ở Ấn Độ. Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 4, 1994, tr.18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách kinh tế ở Ấn Độ
10. Đỗ Đức Định 1999: 50 năm kinh tế Ấn Độ, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm kinh tế Ấn Độ
Nhà XB: NXB Thế giới
11. Hà Mỹ Hương: Nhìn lại sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ sau chiến tranh lạnh. Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 68, tr.73-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ sau chiến tranh lạnh
12. Khái quát về nền kinh tế Mỹ. NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về nền kinh tế Mỹ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
13. Lê Bá Thuyên: Hoa kỳ cam kết và mở rộng (Chiến lược toàn cầu của Mỹ). NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa kỳ cam kết và mở rộng (Chiến lược toàn cầu của Mỹ)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
14. Lê Nguyễn Hương Trinh (2005): Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách
Tác giả: Lê Nguyễn Hương Trinh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
15. Lê Thị Thu: Quan hệ anh ninh quốc phòng Mỹ-Ấn Độ. Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 9-2009, tr.21-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ anh ninh quốc phòng Mỹ-Ấn Độ
16. Lê Thị Thu: Quan hệ chính trị ngoại giao Mỹ-Ấn Độ. Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 7 (148) 2010, P.41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ chính trị ngoại giao Mỹ-Ấn Độ
17. Nguyễn Anh Tuấn (cb), Bùi Huy Khoát, Vũ Xuân Trường và một số tác giả khác (2006): Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn (cb), Bùi Huy Khoát, Vũ Xuân Trường và một số tác giả khác
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. Nguyễn Thiết Sơn (2003): Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiết Sơn (2003)
Tác giả: Nguyễn Thiết Sơn
Năm: 2003
19. Nguyễn Thiết Sơn (2004): Hoa Kỳ-Kinh tế và quan hệ quốc tế. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kỳ-Kinh tế và quan hệ quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thiết Sơn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
20. Nguyễn Văn Lịch: Sự nổi lên của Ấn Độ-Nhìn từ góc độ kinh tế đối ngoại năm 2007. Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 71, tr.91-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nổi lên của Ấn Độ-Nhìn từ góc độ kinh tế đối ngoại năm 2007
21. Nguyễn Văn Lịch: Vài nét về mô hình và triển vọng kinh tế Ấn Độ. Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 67, tr.84-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về mô hình và triển vọng kinh tế Ấn Độ
22. Nội dung tuyên bố tầm nhìn của Mỹ và Ấn Độ. TLTKĐB 27-3-2000, tr.1- tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung tuyên bố tầm nhìn của Mỹ và Ấn Độ
23. PGS.TS. Lê Văn Sang chủ biên (2005): Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI. NXB thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS. Lê Văn Sang chủ biên (2005): "Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: PGS.TS. Lê Văn Sang chủ biên
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w