Phương châm cơ bản của chính sách đối ngoại Việt Nam là tranh thủ mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác, thu hút đầu tư, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, để tạo môi trường quố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ YẾN
QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ: TỪ BÌNH THƯỜNG HÓA ĐẾN
ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN (1995 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
VŨ THỊ YẾN
QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ: TỪ BÌNH THƯỜNG HÓA
ĐẾN ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN (1995 - 2015)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN THỊ MAI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài Luận văn tốt nghiệp, học viên đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ to lớn từ quý thầy cô và bạn bè Học viên xin phép được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Trần Thị Mai – người hướng dẫn khoa học, đồng thời là người chỉ dạy tận tâm, tận tụy nhất, động viên, giúp đỡ, bảo vệ học viên không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn Với tình cảm đặc biệt, sự biết ơn chân thành đó, học viên xin gửi tới cô lời tri ân sâu sắc
Học viên cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm học viên học tập tại trường
Học viên xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Các thầy cô đã chỉ dạy, đóng góp nhiều ý kiến quý báu để học viên hoàn thiện hơn công trình này
Xin cảm ơn các anh chị em đồng môn, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, chia sẻ, giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện đề tài
Trân trọng!
Học viên thực hiện
Vũ Thị Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Mai Những số liệu, thông tin phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về sự cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 08 năm 2017
Học viên
Vũ Thị Yến
Trang 51.2 Cơ sở phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015 25 1.2.1 Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực 25 1.2.2 Mục tiêu chiến lược và lợi ích song trùng của hai nước Việt Nam
Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 - 2005 35
Chương 3: QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 2005 - 2015 66
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian
EAS East Asia Summit Thượng đỉnh Đông Á
IMF International Monetary Fund Qũy Tiền tệ quốc tế
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thứ nhất, nhìn từ cấp độ vĩ mô, trong lịch sử thế giới hiện đại, Đông Nam Á
luôn được đánh giá là một trong những địa bàn trọng yếu về an ninh, chính trị, quân
sự, kinh tế của thế giới, là nơi cạnh tranh chiến lược của các nước lớn, trong đó có Hoa Kỳ
Những động thái về mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á với Hoa Kỳ luôn là những chủ điểm quan trọng thu hút sự chú ý của toàn thế giới,
là chủ đề nóng hổi dành sự quan tâm nghiên cứu liên tục của các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực
Trong mấy năm trở lại đây, sau khi cuộc chiến chống khủng bố tạm thời lắng xuống, Hoa Kỳ chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu và củng cố địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình Những động thái trong việc gia tăng quan hệ với Việt Nam thời gian gần đây cũng được coi là một trong những bước đi rõ rệt trong việc tăng cường vai trò chiến lược của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á
Chính vì vậy, tất cả các vấn đề, động thái liên quan đến quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đều là những vấn đề cần thiết phải nghiên cứu sâu
Thứ hai, mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ chứa đựng nhiều “duyên nợ” của
lịch sử quan hệ quốc tế đương đại Chính sách đối với Việt Nam của Hoa Kỳ qua mỗi thời kỳ phản ánh rõ nét những bước biến đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, đồng thời nó cũng phản ánh hết sức rõ rệt cục diện quan hệ quốc tế nhiều thập kỷ qua
Nhìn lại khái quát tiến trình lịch sử, chúng ta thấy, ngay từ năm 1950, Hoa
Kỳ đã bắt đầu can dự vào Việt Nam khi cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam bước vào thời kỳ quyết liệt nhất Thông qua việc viện trợ quân sự cho Pháp, Hoa Kỳ mong muốn từng bước thay chân Pháp ở Việt Nam Mong muốn đó là một bộ phận trong chiến lược thế chân các nước thực dân cũ, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới, tiến tới lãnh đạo toàn cầu của Hoa Kỳ
Sau khi chiến tranh Pháp - Việt kết thúc, Hoa Kỳ là nước ủng hộ cho sự phân tách Việt Nam làm hai miền Nam - Bắc, sau đó thông qua các lực lượng thân cận của mình, từng bước can thiệp sâu và mở rộng chiến tranh tại Việt Nam
Trang 82
Chiến tranh Việt Nam, với việc Hoa Kỳ huy động một lực lượng quân sự đông đảo, chi phí tốn kém là biểu hiện của sự đối đầu trong trật tự hai cực Yalta và
sự đương đầu gián tiếp giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Hoa Kỳ áp dụng chính sách bao vây, cấm vận về kinh tế với Việt Nam Động thái này kéo dài 20 năm cũng nằm trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ chống chủ nghĩa cộng sản, làm tan rã Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Từ sau kết thúc Chiến tranh Lạnh đến năm 2000, thế giới có nhiều biến đổi, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, nhưng vị trí số một toàn cầu của Hoa Kỳ không thay đổi, và người ta nói nhiều đến “khoảnh khắc đơn cực” của nước này Xu thế toàn cầu hóa kinh tế buộc Hoa Kỳ phải rộng mở hơn trong các quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó có Việt Nam
Gác lại những vấn đề lịch sử, những vấn đề khó khăn trong quan hệ hai nước được tháo gỡ, một số vấn đề quốc tế liên quan được giải quyết, Việt Nam- Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ
Trong chiến lược quay trở lại Đông Nam Á thời gian gần đây, bắt đầu từ nhiệm kỳ thứ nhất của B.Obama, Hoa Kỳ đặt trọng tâm vào tăng cường quan hệ với Việt Nam, coi Việt Nam là nhân tố trung tâm trong chiến lược ngoại giao của mình tại Đông Nam Á
Với Việt Nam, phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ vừa đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của bản thân hai nước, vừa phù hợp với xu thế lịch sử Sự biến đổi trong quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ chứng minh rõ rệt, trong mỗi thời kỳ lịch sử Việt Nam luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ và trong sự cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trong quá khứ, hiện tại và tương lai là chủ thể đáng quan tâm của giới nghiên cứu
Thứ ba, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (tháng 12-1986) đã đề
ra chính sách đổi mới toàn diện đất nước Đường lối đó được hoàn thiện liên tục trong suốt 30 năm qua
Xét ở góc độ đối ngoại, Việt Nam mong muốn mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với các nước trên thế giới, muốn đi ra thế giới và đón thế giới vào Đó là nhu
Trang 93
cầu tất yếu mà lịch sử Việt Nam đặt ra Phương châm cơ bản của chính sách đối ngoại Việt Nam là tranh thủ mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác, thu hút đầu tư, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, để tạo môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Trên cơ sở đó, toàn bộ cơ chế đối ngoại của Việt Nam hướng đến việc nỗ lực không ngừng để cải thiện các quan hệ với các nước trên thế giới, trong đó có hai nước lớn là Trung Quốc và Hoa Kỳ Trên phương châm đối ngoại đã được xác định, những thay đổi theo chiều hướng tốt dần lên trong các mối quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ với Hoa Kỳ phù hợp với định hướng chiến lược của Việt Nam trong việc thúc đẩy và mở rộng hội nhập quốc tế
Quan điểm đối ngoại với Hoa Kỳ thay đổi không phải là một sự thay đổi riêng rẽ, chỉ có trong mối quan hệ này, mà nó là một biểu hiện trong sự thay đổi tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam
Bên cạnh đó, cần thấy rằng những thay đổi trong quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trùng hợp với bước phát triển của quá trình đổi mới toàn diện ở Việt Nam, nhất là đổi mới về kinh tế Cũng cần nhấn mạnh là, thành tựu mà chính sách ngoại giao của Việt Nam đạt được không chỉ đơn thuần có được từ quan hệ với Hoa Kỳ, mà còn có được từ rất nhiều những quan hệ kinh tế quan trọng khác như với Nhật Bản, Trung Quốc, Liên bang Nga, Hàn Quốc, các nước khu vực Đông Nam Á
Đánh giá lại hiện tượng thay đổi trong quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trong hơn 20 năm qua là hết sức cần thiết để thấy được sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hoa Kỳ là một phận trọng yếu của chính sách đối ngoại của Việt Nam
Thứ tư, nhìn lại quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, chúng ta
thấy những diễn biến cơ bản là: Tháng 3-1994, Hoa Kỳ chính thức xóa bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Việt Nam Ngày 11-7-1995, Tổng thống Mỹ B Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt (12-7-1995) chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ Tháng 8-1995, hai nước đã chính thức khai trương cơ quan đại diện ngoại giao cấp Đại sứ quán ở thủ đô mỗi nước
Trong những năm đầu sau khi bình thường hóa, quan hệ hai bên hầu như chỉ dừng lại ở mức hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh, cũng như việc hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực y tế Quan hệ thương mại chỉ thực
Trang 104
sự được thúc đẩy khi Việt Nam - Hoa Kỳ ký Hiệp định Thương mại song phương tháng 7-2000 (BTA), và chính thức có hiệu lực vào tháng 12-2001 Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ không chỉ làm thay đổi căn bản các mối quan hệ kinh tế hai bên, thúc đẩy thương mại và đầu tư, trợ giúp những cố gắng của Việt Nam trong việc tự do hóa nền kinh tế, mà còn làm thay đổi căn bản tất cả các mối quan hệ song phương khác
Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ được thúc đẩy hơn nữa khi tháng 11-2000, Tổng thống B Clinton thăm chính thức Việt Nam, trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm Việt Nam kể từ khi chiến tranh hai nước kết thúc
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ hai nước được thúc đẩy và mở rộng hơn bởi hàng loạt các cuộc gặp thượng đỉnh giữa những nhà lãnh đạo hai nước
Đó là chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11- 2006 và dự hội nghị thượng đỉnh APEC của tổng thống G.W Bush Chuyến thăm của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tháng 6-2007 và hai chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 6-2008 và tháng 4-2010
Trong xu thế hợp tác của thời đại và tính toán lợi ích riêng của mỗi nước hiện nay, Việt Nam- Hoa Kỳ cùng vượt qua quá khứ nặng nề, thu hẹp những khác biệt, bất đồng để bước sang một giai đoạn lịch sử mới để bình thường hóa quan hệ và thúc đẩy sự phát triển quan hệ hai bên một cách mạnh mẽ và ngày một thực chất hơn
Trước những vận hội mới của lịch sử, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang có những tiền đề để vượt qua những rào cản, tiến về phía trước Chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ (7/2015) và chuyến thăm của tổng thống B.Obama tới Việt Nam (5-2016) là những minh chứng sống động, rõ rệt, đáng tin cậy cho trạng thái tốt đẹp nhất của mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc chiến tranh
Hơn hai thập kỷ bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là thời điểm cần thiết để hai nước cùng đánh giá lại chặng đường đã qua, đối thoại thẳng thắn để hiểu nhau hơn, kể cả những khác biệt trên tinh thần không để những khác biệt đó ảnh hưởng đến việc tăng cường quan hệ chung Nhưng điều quan trọng hơn, đây là thời điểm để hai bên cùng chia sẻ tầm nhìn hướng tới tương lai, đưa quan hệ Việt Nam -
Trang 115
Hoa Kỳ ngày càng phát triển ổn định và thực chất
Việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong khoảng thời gian
1995-2015 về mặt khoa học sẽ góp phần làm rõ quá trình vận động của mối quan hệ hai nước với những diễn biến của tình hình quốc tế, khu vực đầy biến động và những điều chỉnh liên tục trong bản thân chính sách đối ngoại của mỗi nước Đồng thời, góp phần tìm hiểu và lý giải những bước thăng trầm, những khó khăn, thuận lợi, những thành tựu, hạn chế của mối quan hệ này, rút ra những bài học lịch sử, những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam và Hoa Kỳ trong quan hệ quốc tế
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu và tìm hiểu những bài học thành công và chưa thành công của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 - 2015), theo chúng tôi có thể phần nào giúp chúng ta tránh được những ứng xử thiếu linh hoạt, khôn khéo trong quan hệ với các nước lớn, từ đó đảm bảo tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc trong giai đoạn mà câu chuyện đối ngoại đang nóng bỏng như hiện nay
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Từ bình thường hóa đến đối tác toàn diện (1995 - 2015)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ lịch sử của mình
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Với tính chất quan trọng của vấn đề, quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ từ lâu đã thu hút sự chú ý nghiên cứu của đông đảo các chính trị gia, các nhà khoa học của Việt Nam và thế giới
Qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi nhận thấy rằng, liên quan đến mối quan
hệ Việt Nam- Hoa Kỳ và những nhân tố tác động đến mối quan hệ này, tại Việt Nam
và nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau, có nhiều chuyên gia nghiên cứu các khía cạnh cụ thể liên quan đến vấn đề này Có thể khái quát như sau:
2.1 Các công trình của các tác giả Việt Nam
Về chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trước hết, chính sách đối ngoại của Việt Nam thể hiện rõ nét trong văn kiện
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội từ năm 1986 đến nay Đây là
các tư liệu chính thống để tác giả tiếp cận và định hướng cho luận văn của mình
Kế tiếp là những công trình nghiên cứu, mang tính tổng kết về chính sách đối
Trang 126
ngoại của Việt Nam như công trình: Đối ngoại “Việt Nam thời kỳ đổi mới” do tiến
sĩ Hồng Vinh chủ biên Hay cuốn sách: “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020” do Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh làm chủ biên, được
coi là kim chỉ nam về chính sách đối ngoại của Việt Nam
Hai tác phẩm đã khái quát những nét cơ bản, chủ đạo về những định hướng chiến lược về chính sách ngoại giao của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cũng như những nét mới về ngoại giao của Việt Nam trước những tình hình biến đổi của thế giới
và khu vực
Cuốn sách: Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, của PGS TS
Phạm Xanh đã tái hiện lại mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ khi Th Jefferson chưa làm Tổng thống nước Mỹ cho đến thời kỳ của Tổng thống H Truman và Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong suốt thập kỷ 40 của thế kỷ XX và những chuyển biến của mối quan
hệ này cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Ngoài ra cuốn sách còn giúp tác giả định hướng rõ rệt hơn tư tưởng chỉ đạo trong quan hệ ngại giao của người Việt
Công trình nghiên cứu: Quan Hệ Việt Nam-Hoa Kỳ 1994-2010 của tác giả Bùi
Thị Phương Lan đã khái quát mối quan hệ của Việt Nam – Hoa Kỳ từ đối đầu sang đối tác với những cung bậc, thăng trầm khác nhau và vượt qua nhiều dự đoán
Về các khía cạnh cụ thể liên quan đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, có
các bài nghiên cứu có giá trị trên các tạp chí : “Vài suy nghĩ về triết lý ngoại giao truyền thống của Việt Nam”, “Nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam và việc rút ra các bài học kinh nghiệm về ngoại giao”, “Lòng tin trong quan hệ quốc tế và định
hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam”
Trong việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Việt Nam, nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và những ứng dụng trong thực hiện chính sách ngoại giao của
Việt Nam là rất quan trọng, về phương diện này, đã có những nghiên cứu đáng chú ý là:
nghiên cứu của nguyên Phó Thủ tướng Việt Nam Vũ Khoan trong bài viết “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về hoạt động quốc tế và công tác ngoại giao”; cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về ngoại giao”, Các bài viết của các nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao Nguyễn Phúc Luân: “Một số khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực đối ngoại: Những quan điểm, tư duy nổi bật và nghệ thuật thực hiện và Phan Doãn Nam “Một số tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nền ngoại giao Việt Nam hiện đại”
Trang 13“Tổng kết tình hình thế giới và hoạt động đối ngoại của Việt Nam năm 2007”, “Tiếp
cận vấn đề đưa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi vào chiều sâu”
Trong việc phân tích, tổng kết, dự báo bối cảnh và những biến đổi của tình hình quốc tế trong quá trình thực hiện chính sách ngoại giao của Việt Nam từ sau
Chiến tranh lạnh đến nay Thành tựu nghiên cứu trên lĩnh vực này cũng hết sức
phong phú, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho luận văn
Đáng chú ý nhất là cuốn sách: “Sự điều chỉnh chiến lược hợp tác khu vực châu Á- Thái Bình Dương trong bối cảnh quốc tế mới” do Giáo sư Nguyễn Xuân
Thắng - Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên Và cuốn sách mang tính dự báo toàn diện tình hình thế giới trong những
năm tới theo quan điểm Việt Nam “Cục diện thế giới đến 2020” do Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh chủ biên
Trên phương diện đánh giá tổng thể chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, đã có
kết quả nghiên cứu hết sức phong phú như: “Lý luận của chủ nghĩa hiện thực Mỹ về
quan hệ chính trị quốc tế”, “Chiến lược toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh”,
“Bàn về chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ”
Về các khía cạnh cụ thể liên quan đến đặc điểm, mô hình hành động trong
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ có các nghiên cứu sau: “Can thiệp nhân đạo trong
chính sách đối ngoại của Mỹ”, “Vấn đề trừng phạt kinh tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” do Nguyễn Thái Yên Hương (chủ biên); “Tìm hiểu logic kinh tế
trong chính sách đối ngoại của Mỹ”, “Cuộc thảo luận về sức mạnh khôn ngoan và
ảnh hưởng của nó đối với chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Obama”
Về những ảnh hưởng của chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương có các phân tích về sự thay đổi an ninh ở Đông Nam Á
sau sự kiện 11-9 của Hoàng Anh Tuấn: “Vụ khủng bố 11/9 và những thay đổi trong chính sách an ninh và đối ngoại của Mỹ”, “An ninh Đông Nam Á một năm sau vụ
Trang 148
khủng bố ngày 11 - 9 - 2001”, Và một số nghiên cứu liên quan đến chính sách an
ninh của Hoa Kỳ ở châu Á- Thái Bình Dương thời gian gần đây như: “Những yếu tố
chi phối sự lựa chọn chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương trong thập kỷ 90”, “Vai trò của Mỹ trong các cơ chế an ninh mềm ở Châu Á
- Thái Bình Dương”, “Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ lụy đối với khu vực châu
Á - Thái Bình Dương: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực”, “Obama và chính
sách Đông Nam Á của Mỹ hiện nay”
Về những chính sách kinh tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, có hai bài viết
đáng chú ý là: “Chính sách kinh tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam”, và “Những cơ sở
hoạch định chính sách kinh tế của Mỹ và vấn đề đối với Việt Nam”
Về quá trình thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế với Hoa Kỳ và quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ, có nhiều nghiên cứu đáng chú ý Giáo sư Nguyễn Thiết Sơn- nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Mỹ- Viện Khoa khọc xã hội Việt
Nam với cuốn sách chuyên khảo “Việt Nam- Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu
tư”, và một loạt các bài viết về quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ như: “Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ: triển vọng và hợp tác”, “Quan hệ kinh tế Việt- Mỹ trong bối cảnh Mỹ điều chỉnh chính sách đối ngoại”, “Những bước phát triển trong quan
hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ”
Bên cạnh đó có rất nhiều nghiên cứu đề cập tới các lĩnh vực khác nhau trong quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ, tổng kết, đánh giá và dự báo chính sách ngoại
giao kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ như: “Việt Nam- Châu Mỹ cơ hội và thách thức”, “Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ: thực trạng và cơ hội phát triển”, “15 năm quan hệ thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ”, “Triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ sau 15 năm bình thường hóa quan hệ”, “Quan hệ Việt- Mỹ: Những thách
thức trong nhiệm kỳ của tổng thống Obama”
Về vấn đề biển Đông và ảnh hưởng đối với quan hệ Nam- Hoa Kỳ có các
nghiên cứu điển hình là: “Biển Đông- Hợp tác vì An ninh và phát triển trong Khu
vực” của học giả Đặng Đình Quý- Giám đốc Học viện Ngoại giao Học giả nghiên
cứu biển Đông nổi tiếng Nguyễn Hồng Thao với các bài viết liên quan đến vấn đề
luận văn nghiên cứu là: “Biển Đông: Tìm kiếm một dàn xếp pháp lý mới nhằm tăng cường ổn định, hòa bình và hợp tác”, “Mười năm thực hiện Công ước Liên Hợp
Trang 159
Quốc về Luật Biển 1982 trong lĩnh vực đối ngoại”, “Các nước xung quanh biển
Đông và vấn đề trình hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa” Đánh giá về những lợi
ích cốt lõi của Hoa Kỳ ở biển Đông và lý giải tại sao Hoa Kỳ quay lại Đôg Nam Á
có bài viết: “Lợi ích của Mỹ ở biển Đông”
Một loạt các bài viết trong thời gian gần đây đã phân tích sâu về môi trường quốc tế, khu vực và những tác động đến quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ Đó là những nguồn tư liệu quý giá, những đánh giá, những cái nhìn rất mới
về các khía cạnh tác động, thúc đẩy đến sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn hiện nay
Tiêu biểu như các bài viết: Quan hệ Việt - Mỹ trong bối cảnh quan hệ Mỹ - ASEAN của Bùi Thành Nam, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 7/ 2013); Động thái điều chỉnh chiến lược của Hoa Kỳ đối với Việt Nam kể từ khủng hoảng tài chính
2008 của Nguyễn Tuấn Minh, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 8/ 2013); Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng của Cù Chí Lợi, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 5/ 2015); Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ 2015 và triển vọng quan hệ Việt - Mỹ của Nguyễn Thiết Sơn, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 5/ 2015); Những nền tảng và cơ hội mới thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ của Nguyễn Ngọc Mạnh và Đặng Thị Thư, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (số 5/ 2015)
2.2 Về các nghiên cứu của học giả nước ngoài
Điển hình trong số các công trình nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam, có
nội dung liên quan đến chủ đề của luận văn là: “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh”, “Nguyên tắc can dự của Mỹ tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương”
Nghiên cứu trực tiếp về mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ là bài viết của tác giả
Allan E Goodman: “Quan hệ Việt- Mỹ: Điều gì đang ở phía trước”, nói về quá trình
bình thường hóa quan hệ ở thời điểm nó đang diễn ra
Trong số các nghiên cứu ở nước ngoài về nội dung quan hệ Việt Nam- Hoa
Kỳ, có rất nhiều công trình của các chuyên gia là Việt Kiều, như Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng, giảng viên khoa chính trị và quan hệ quốc tế Trường Đại học George Manison, với nhiều bài viết đăng trên những tạp chí uy tín của thế giới đánh giá sâu sắc về quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, vị trí chiến lược của Việt Nam tại Đông Nam Á,
Trang 1610
cũng như cách thức thúc đẩy mối quan hệ hai bên, đánh giá những cơ hội và thách
thức trong mối quan hệ kinh tế Viêt- Hoa Kỳ Bài viết nổi bật nhất là “Quan hệ Việt
Mỹ - 35 năm nhìn lại”
Các công trình đã xuất bản phần lớn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh riêng biệt, làm rõ những vấn đề cụ thể Những công trình, bài viết của các tác giả đi trước giúp chúng tôi định hướng việc nghiên cứu của ḿình Trên cơ sở kế thừa các
công trình đã công bố, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về “Quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ: Từ bình thường hóa đến đối tác toàn diện (1995- 2015)”
3 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu: Làm rõ quá trình vận động, phát triển của quan hệ Việt Nam- Hoa
Kỳ giai đoạn 1995-2015 trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng- an ninh Từ đó, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, rút ra bản chất, đặc điểm của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 đến 2015
Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, luận văn phải thực hiện
Một là, đánh giá vị trí của Việt Nam và Hoa Kỳ trong chiến lược phát triển
và chính sách đối ngoại của mỗi nước
Hai là, khái quát các cơ sở, nhân tố tác động đến việc thúc đẩy sự phát triển
quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015
Ba là, hệ thống hóa quá trình vận động, phát triển mối quan hệ Việt Nam-
Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015 dựa trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng - an ninh Từ đó, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế trên các lĩnh vực quan hệ này
Bốn là, rút ra những đặc điểm, bài học trong quan hệ song phương Việt Nam
- Hoa Kỳ
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về thời gian, luận văn nghiên cứu khoảng thời gian từ khi Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam (năm 1995) đến năm 2015
Về không gian, đề tài luận văn tập trung nghiên cứu tình hình nội tại, chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hoa Kỳ và cố gắng tìm hiểu thêm chiều ngược lại; nghiên cứu quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Hoa Kỳ từ năm 1995 đến 2015 trên các lĩnh vực
Trang 1711
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tư liệu
- Tài liệu liên quan đến đường lối đối ngoại của Việt Nam nói chung và của Việt Nam đối với Hoa Kỳ nói riêng Bao gồm: các văn kiện Đảng, các bài phát biểu, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước
- Các văn bản về đường lối đối ngoại của Chính phủ Hoa Kỳ, các báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình Việt Nam, các công trình nghiên cứu của các học giả, các cuốn sách do Hoa Kỳ xuất bản
- Các số liệu thống kê của Nhà nước Việt Nam và Hoa Kỳ về quan hệ giữa hai nước trên các lĩnh vực tại các trang website chính thức của Bộ Ngoại giao, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam…
- Các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước về quan hệ ngoại giao Việt Nam- Hoa Kỳ
- Các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có liên quan tới đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận Mác - Lênin, cụ thể là phép biện chứng của chủ nghĩa Mác trong nghiên cứu một vấn đề
cụ thể của khoa học lịch sử
Luận văn là một đề tài nghiên cứu mang tính liên ngành vì đề cập toàn diện các mặt quan hệ ngoại giao, vì vậy, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm bức tranh tổng thể về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 - 2015) Thông qua những phân tích, kiến giải, luận văn bước đầu đưa ra một số đánh giá, nhận xét về những thành tựu, những vấn đề còn tồn tại và triển vọng phát triển của quan hệ hai nước
Luận văn sẽ góp thêm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
về Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và Quan hệ Quốc tế hiện đại hoặc có thể được sử dụng như một chuyên đề về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Trang 1812
Chương 1
CƠ SỞ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ
GIAI ĐOẠN 1995-2015
1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước năm 1995
1.1.1 Những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (từ thế kỷ XIX đến năm 1945)
Trong bài diễn văn đọc tại Đại học Quốc gia Hà Nội qua chuyến thăm chính thức Việt Nam (11-2000), Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton có nhắc đến- một cách đầy tiếc nuối- những cố gắng không thành và những cơ hội bị bỏ quên trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Tổng thống Clinton đã nói điều này như sau: "Cách đây 200 năm, vào khởi điểm của mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ, hai quốc gia đã cố gắng nhiều để đàm phán một hiệp định thương mại tương tự như Hiệp định thương mại mà chúng ta ký ngày 13-7-2000 Nhưng cách đây 200 năm, những cuộc đàm phán này đều thất bại và không một hiệp định nào được ký… Những nỗ lực này đều thất bại vì hai nền văn hóa xa lạ đã cùng lên tiếng mà không ai chịu lắng nghe nhau, và tầm quan trọng của bên này đối với bên kia không đủ sức thuyết phục để vượt qua những trở ngại này" [79]
Thực tế lịch sử cho thấy, quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ đã manh nha bắt đầu từ thế
kỷ XVIII Thomas Jefferson- sau này là Tổng thống thứ ba của nước Hoa Kỳ, trong thời gian làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp (1784-1789) đã rất quan tâm đến Xứ Cochinchina (Đàng Trongcủa Việt Nam) nhằm thu thập những giống lúa mới từ xứ
sở này đưa về Hoa Kỳ
Trong thời gian này, Jefferson đã gặp Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh đang được cha là Nguyễn Ánh gửi làm "con tin" ở Pháp để cầu ngoại viện Qua cuộc gặp này,
Jefferson "rất hy vọng sẽ nhận được một số giống lúa cạn của Xứ Cochinchina, vị hoàng tử trẻ tuổi của xứ sở này vừa mới rời nước Pháp đã cam đoan với tôi là sẽ gửi giống lúa đó cho chúng ta" [62, tr.26] Nhưng ý định này không thực hiện được,
do đó Hoa Kỳ và Việt Nam đã lỡ một dịp tiếp xúc quan hệ ngoại giao giữa hai nước Năm 1803, một con tàu lớn của Hoa Kỳ mang tên The Fame do Jeremiah Brigs chỉ huy đã được phái tới Nam Kỳ của Việt Nam để khảo sát thị trường, mua đường,
Trang 1913
cà phê Tháng 5-1803, tàu The Fame đã từng ghé Vịnh Tourane (Đà Nẵng) Đây được coi là chiếc tàu biển đầu tiên của Hoa Kỳ vào hải cảng Việt Nam Sau đó 16 năm, vào tháng 6-1819, một chiếc tàu khác của Hoa Kỳ là Brig Franklin do thuyền trưởng John White chỉ huy cũng đã đến Nam Kỳ
Cũng trong thời gian này, một số tàu Hoa Kỳ khác như tàu Beverly do John Gardner chỉ huy, tàu Aurora do Robert Gould chỉ huy, tàu Marmion do John Brown chỉ huy cũng đã tới Việt Nam Tất cả đều nhằm mục đích tìm kiếm thị trường và thiết lập quan hệ thương mại với Việt Nam Nhưng do những lý do khác nhau, mà những chuyến đi ban đầu này của người Hoa Kỳ vẫn chưa đạt được kết quả
Năm 1826, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Batavia (thuộc Indonesia) là John Shillaber tiếp tục thúc giục chính phủ Hoa Kỳ cố gắng thiết lập quan hệ thương mại với các quốc gia ở Viễn Đông, trong đó có Việt Nam Tháng 7-1831, Shillaber lại lập lại các yêu cầu của mình Do đó mà có các chuyến đi của Edmund Robert, Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ Andrew Jackson (1829-1837) tới Việt Nam, kiến tạo nên một cơ hội mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Tháng 1-1832, Edmund Robert được giao nhiệm vụ tiến hành các cuộc đàm phán cần thiết để có thể đi đến một hiệp ước ký kết thương mại với Đàng Trong của
Việt Nam Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Edward Livingston đã chỉ thị rõ: "nơi đầu tiên mà anh phải thực thi bổn phận của mình sẽ là xứ Cochinchina Anh sẽ đi Huế- kinh đô của xứ này" [63, tr.61]
Trên tinh thần đó, tháng 12-1832, một phái đoàn do Edmund Roberts và đại úy Goerges Thompson dẫn đầu đã đến Việt Nam, mang theo Quốc thư của Tổng thống Andrew Jackson gửi Hoàng đế Việt Nam
Nhưng do chính sách "bế quan tỏa cảng" của triều Nguyễn và do những rắc rối
về thủ tục ngoại giao mà vua Minh Mạng đã cự tuyệt, không tiếp nhận Quốc thư của Tổng thống Hoa Kỳ Dù vậy, vẫn có thể coi phái đoàn Edmund Robert đến Việt Nam năm 1832 là phái đoàn ngoại giao chính thức đầu tiên của Hoa Kỳ được cử tới Việt Nam nhằm thiết lập quan hệ bang giao chính thức giữa hai nước
Tháng 5-1845, chiến hạm USS Constitution (một bộ phận của Sư đoàn Đông Ấn thuộc Hải quân Hoa Kỳ) do John Percival đã đến Đà Nẵng Khác với các tàu đã đến Việt Nam trước đây, lần này chiến hạm Hoa Kỳ đã bắt một số quan lại thuộc triều
Trang 2014
đình Huế làm con tin nhằm gây sức ép buộc triều đình nhà Nguyễn phải thả một linh mục người Pháp đang bị giam giữ ở Huế Thậm chí, chiến hạm USS Constitution còn bắn đại bác để thị uy trước khi rời Việt Nam [70, tr.39] Điều này làm cho triều Nguyễn vốn cơ bản là chủ trương "bế quan tỏa cảng" càng thêm e ngại vì sự xuất hiện của các đại diện chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có Hoa Kỳ
Sau sự cố đáng tiếc của chiến hạm USS Constitution, tháng 8-1849, Ngoại trưởng Mỹ M.Clayton đã gửi thư cho đặc sứ Hoa Kỳ tại khu vực Đông Nam Á và Nam Kỳ Việt Nam là Balestier khẳng định rằng, Hoa Kỳ chỉ muốn thiết lập quan hệ hòa bình, thương mại với Nam Kỳ Việt Nam chứ không hề có ý định chiến tranh Cũng trong năm 1849, Tổng thống Hoa Kỳ Zachary Taylor (1849-1850) còn gửi thư cho vua Tự Đức để xin lỗi về những hành vi bất nhã của tàu USS Constitution năm
1845 Bên cạnh đó, Tổng thống Zachary Taylor quyết định phái đặc sứ Balestier sang để giải trình và hòa đàm với Nam Kỳ Việt Nam về việc ký kết một hiệp định thương mại
Cuối năm 1873, được sự giúp đỡ của đại diện Hoa Kỳ ở Hồng Kông, Bùi Viện sang Nhật, sau đó sang Hoa Kỳ Năm 1874, Bùi Viện được Tổng thống Hoa Kỳ Ulysses Simpson Grant (1869-1877) tiếp kiến Bùi Viện đã đề nghị Hoa Kỳ giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp Vì không có Quốc thư của vua Tự Đức nên Tổng thống Grant không thể giúp ông Bùi Viện buộc phải trở về nước, và năm sau, năm 1875, Bùi Viện trở lại Hoa Kỳ với Quốc thư của vua Tự Đức, nhưng tình hình thế giới đã biến đổi, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đã chuyển sang chính sách hòa dịu với Pháp, để tập trung vào ổn định và phát triển đất nước sau cuộc nội chiến (1861-1865) Do đó, chuyến đi lần thứ hai của Bùi Viện sang Hoa Kỳ đã không đạt được một kết quả nào
Tháng 9-1888, Hoa Kỳ đã mở một cơ quan thương mại tại Sài Gòn và Fonsales được bổ nhiệm là người đứng đầu cơ quan thương mại này Đây được coi là cơ quan duy nhất đại diện cho quyền lợi của Hoa Kỳ ở Việt Nam và Đông Dương cho đến năm 1940 Từ đầu thế kỷ XX, tập đoàn dầu mỏ Rockerfeller đã xâm nhập vào Việt Nam với trụ sở tại Hải Phòng [19, tr.58]
Trong quá trình bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, năm 1912 Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh) đã đến Hoa Kỳ, sinh sống và làm việc
Trang 21Trong các năm 1944 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm cách thiết lập quan hệ với lực lượng của Hoa Kỳ tại Trung Quốc, tìm kiếm sự ủng hộ của Hoa Kỳ trong công cuộc kháng chiến chống Nhật, giải phóng dân tộc
Ngày 16-7-1945, nhóm Tình báo chiến lược Hoa Kỳ OSS (Office of Strategic Services) mang tên "con Nai" (The Deer Team) do thiếu tá Allison K Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống vùng căn cứ Việt Minh để tiến hành hợp tác chống Nhật giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Kết quả của sự hợp tác có điều kiện này rất tốt Việt Nam đã cung cấp cho Hoa
Kỳ nhiều tin tức tình báo có giá trị, còn phía Hoa Kỳ đã giúp Việt Nam một số vũ khí, thuốc men, điện đài, nhân viên kỹ thuật, giúp huấn luyện và sử dụng thiết bị thông tin liên lạc [28, tr.121] Trong đó đáng chú ý là việc hình thành lực lượng "bộ đội Việt Nam- Hoa Kỳ" với quân số khoảng 200 người do Đàm Quang Trung chỉ huy, còn thiếu tá Allison K
Những kết quả cụ thể định lượng vật chất trong sự hợp tác Việt Nam- Hoa Kỳ chống Nhật trong chiến tranh thế giới lần thứ hai còn hết sức khiêm tốn, chỉ hạn chế
ở cấp độ những sự vụ nhỏ Nói cách khác là, sự hợp tác này không đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ thừa nhận vai trò của tổ chức Việt Minh [7, tr.32]
1.1.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1945-1975
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội Trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-
1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã khẳng định:
Trang 22để phát triển chúng thành quyền của các dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam Ngay từ những ngày đầu sau khi giành độc lập, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam đã khẳng định chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị, sẵn sàng hợp tác bình đẳng với các dân tộc, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây thù oán với bất cứ quốc gia nào "Thông báo về ngoại giao" của Chính phủ lâm thời
sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đã khẳng định: "Người Việt Nam gác sang một bên tất cả những khác biệt trong quan điểm chính trị, đoàn kết với nhân dân các nước, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, duy trì hòa bình ổn định giữa các nước trong khu vực và thế giới, thực hiện độc lập dân tộc, tôn trọng công lý và luật pháp quốc tế" [2, tr.53]
Có thể nói, đây chính là những nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong chính sách ngoại giao của Đảng và Chính phủ Việt Nam sau ngày độc lập Lúc này, quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ là quan hệ của một chủ thể đầy đủ- một quốc gia có độc lập, chủ quyền với một quốc gia có độc lập, chủ quyền khác
Điều đó, Đảng, Chính phủ Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực, tận dụng triệt để mọi cơ hội để Hoa Kỳ công nhận chính thức nhà nước Việt Nam, và lợi dụng ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong việc các nước khác công nhận về mặt ngoại giao chính thức nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Cụ thể thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chủ tịch đã tám lần gửi thông điệp, thư, điện tín cho Tổng thống, Ngoại trưởng và chính phủ Hoa Kỳ [25, tr.76] biểu thị nguyện vọng đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam,
và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Đông Dương Trong các
thông điệp nói trên, Hồ Chủ tịch khẳng định rằng nhân dân Việt Nam "quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Hoa Kỳ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ" [25, tr.80] và nhấn mạnh "mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn
Trang 2317
toàn và hợp tác toàn diện với Mỹ"
Đây được xem là cơ hội đặc biệt thuận lợi do phía Việt Nam chủ động tạo nên
để mở ra một trang mới cho mối quan hệ hai nước
Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Harry S Truman (1945-1953) đã có một lập trường và thái độ khác hẳn với chính phủ Franklin Roosevelt trong quan hệ với Việt Nam Chẳng những Truman từ bỏ chính sách "chế độ ủy trị quốc tế" (International Trusteeship) trước đó của Roosevelt trong vấn đề Đông Dương1, phớt lờ không đáp ứng những đề nghị hợp lý của Việt Nam về việc công nhận độc lập của Việt Nam Nghiêm trọng hơn, Hoa Kỳ còn dần dần chuyển sang lập trường thừa nhận và ủng
hộ Pháp trong việc tái xâm chiếm Đông Dương Thậm chí, "Mỹ tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương"2
Nhắc đến những cơ hội này, gần 40 năm sau, luật sư nổi tiếng của Mỹ Joseph
Amter viết: "Nếu được Mỹ ủng hộ, Hồ Chí Minh có thể đã thành lập ở Việt Nam một chính phủ tuy là cộng sản nhưng vẫn hữu nghị với Mỹ Là một người có tinh thần dân tộc mãnh liệt, Hồ Chí Minh không muốn Việt Nam bị bất cứ cường quốc thực dân nào thống trị Nếu lúc đó Mỹ ủng hộ Hồ Chí Minh, Mỹ đã
có thể tránh được một cuộc chiến tranh tốn kém và bi thảm ở Việt Nam những năm về sau" [67, tr.19]
Tuy vậy, Đảng và Chính phủ Việt Nam vẫn giữ một chủ trương mềm dẻo thích hợp trong quan hệ với Hoa Kỳ Tháng 9-1947, trả lời phỏng vấn của Hãng tin Hoa
Kỳ International News Service là Elie Maissie về "những nét đại cương chính sách
đối ngoại của Việt Nam", Hồ Chủ Tịch đã trả lời ngắn gọn là: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai" [26, tr.220]
Câu nói nổi tiếng này đã trở thành hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung, trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa
Trang 2418
Thường vụ Trung ương Đảng gửi các Xứ ủy, ngày 12-12-1947, Đảng nêu rõ: "tuy chúng ta nhận rõ tham vọng của Mỹ và nguy cơ Mỹ, nhưng chúng ta vẫn phải lợi dụng triệt để những mâu thuẫn dù nhỏ đến mấy, giữa Pháp và Mỹ Về ngoại giao chúng ta vẫn tuyên bố thân thiện với Mỹ và vẫn dùng Hội Việt Nam - Hoa Kỳ làm vũ khí tuyên truyền quốc tế" [10, tr.339]
Đến năm 1952, trong bản luận cương "Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội" do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội II của Đảng, Việt Nam mới nhận thức "cuộc kháng chiến của chúng ta không chỉ nhằm chống thực dân Pháp, mà còn nhằm chống lại cả sự can thiệp của Mỹ" [3, tr.29-30] Sự đối đầu thù địch này rõ ràng là do chính sách can
thiệp của Hoa Kỳ chống lại cuộc kháng chiến trường chinh của nhân dân Việt Nam,
do thực dân Pháp gây nên
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945-1954) kết thúc thắng lợi, Hiệp định Genève được ký kết (7-1954), Việt Nam vẫn tạo điều kiện cho Hoa Kỳ có một điểm dừng hợp lý trong sự can dự đầy tham vọng vào Đông Dương và Đông Nam Á Hiệp định Genève nêu rõ các nước ký kết hiệp định cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia Nhưng phía Hoa Kỳ đã không ký vào Hiệp định Genève, mà tự ra một bản tuyên bố riêng cam kết tôn trọng Hiệp định này
Hoa Kỳ đã tạo ra cuộc chiến tranh mới ở Việt Nam và Đông Dương với một quy
mô lớn và mức độ ác liệt hơn Đó là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ tại Việt Nam Cuộc chiến tranh kéo dài suốt 21 năm (1954-1975)
Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trong thời kỳ 1954-1975 là quan hệ đối đầu giữa những người bảo vệ tổ quốc và những người đi xâm lược
Tuy nhiên, Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn thể hiện rõ thiện chí hòa bình trong quan hệ với Hoa Kỳ, luôn mở rộng cửa cho Hoa Kỳ một lối thoát khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự khỏi cuộc chiến tranh, như Hồ Chủ tịch đã từng tuyên bố:
"Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút" [31, tr.7]
Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ thời kỳ 1954-1975, xét một cách đầy đủ, ở góc độ khác cần xem xét mối quan hệ giữa Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ Sau Hiệp định Genève 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm được Hoa Kỳ giúp sức và hậu
Trang 2519
thuẫn đã ngang nhiên phá hoại có hệ thống Hiệp định hòa bình, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử (trong nội dung hiệp định Genève thì đến năm 1956, hai năm sau khi hiệp định có hiệu lực sẽ tiến hành tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam
để bầu ra một chính phủ, quốc hội thống nhất)
Tại miền Nam Việt Nam, lực lượng của Ngô Đình Diệm đơn phương tổ chức bầu cử Quốc hội, dựng lên một thể chế chính trị gọi là "Việt Nam cộng hòa" ở phía Nam vĩ tuyến 17, lấy Sài Gòn làm thủ đô Trên thực tế, chính quyền Sài Gòn là tay sai của Hoa Kỳ, được chính phủ Hoa Kỳ nuôi dưỡng và che chở, tạo mọi điều kiện hoạt động trên diễn đàn quốc tế
Và khi cơ đồ của Việt Nam Cộng Hòa đã tới mức tuyệt vọng Nhận thấy tình hình không thể cứu vãn được, ngày 23-4-1975, tổng thống Gerald Ford đã phải
chính thức tuyên bố: "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc với người Mỹ Không thể giúp đỡ người Việt Nam được nữa, họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ" [22, tr.44] Và chiến thắng lịch sử ngày 30-4-1975 của quân
dân Việt Nam đã kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam Cộng hòa do Hoa Kỳ dựng lên ở miền Nam Việt Nam
1.1.3 Quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ giai đoạn 1975 - 1991
Sau khi kết thúc chiến tranh ở Việt Nam trong thế thất bại, ngày 15/5/1975, Hoa
Kỳ thực hiện chính sách cấm vận đối với Việt Nam Chính sách cấm vận này chịu
sự điều chỉnh của nhiều điều luật như: “Luật mở rộng các hiệp định thương mại” (TAEA) quy định không cấp “Quy chế tối huệ quốc” (MNF) cho các nước cộng sản
và các nước có xung đột vũ trang với Hoa Kỳ Luật này sau đó được bổ sung thêm một số quy chế khác như: “Quy chế kiểm soát các tài sản của nước ngoài” (FACR) dựa trên cơ sở của “Luật buôn bán với kẻ thù năm 1917 (TWEA - 1917) hay còn gọi là chính sách cấm vận buôn bán của Hoa Kỳ
Dựa trên các luật này Hoa Kỳ đã thực hiện một chính sách cấm vận và trừng phạt toàn diện với Việt Nam: Cấm các quan hệ đi lại, giao lưu của công dân hai nước, cấm thương mại, tiến hành phong tỏa tài sản của Việt Nam, phong tỏa các tổ chức tài chính quốc tế như: Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc Tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) trong quan hệ kinh tế, tài chính với Việt Nam, không cho Việt Nam vay tiền, phủ quyết Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc
Trang 2620
Vào năm 1976, Tổng Thống Gerald R.Ford tuyên bố: “Tôi không hề nói chúng
ta sẽ tìm kiếm việc bình thường hóa các quan hệ hoặc thừa nhận Bắc Việt Nam” [13,
tr.59] Thực hiện điều này, Hoa Kỳ nhắm tới mục đích trừng phạt và cô lập Việt
Nam với thế giới Từ đó, buộc Việt Nam phải tuân theo những điều kiện mà Hoa
Kỳ sẽ áp đặt nên việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước còn rất khó khăn và chưa thực hiện được
Một cơ hội nổi bật bị bỏ lỡ trong việc bình thường quan hệ giữa hai nước là vào năm 1977, sau khi Tổng Thống J Carter lên cầm quyền Lúc này, Hoa Kỳ để ngỏ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam Hoa Kỳ điều chỉnh chính sách đối với Việt Nam và chủ trương bình thường hóa quan hệ hai nước Sở dĩ Hoa Kỳ có chủ trương như vậy là vì lợi ích chiến lược của họ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tháng 1 năm 1977, Hoa Kỳ thông qua Liên Xô chuyển đến Chính phủ Việt Nam bản đề nghị về kế hoạch bình thường hóa gồm ba điểm:
- “Việt Nam thông tin về người Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA)
- Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam vào Liên hợp quốc và sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cũng như bắt đầu buôn bán với Việt Nam
- Hoa Kỳ có thể đóng góp vào khôi phục Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, cung cấp thiết bị và các hình thức hợp tác khác” [1, tr.313]
- Ngày 3/3/1977, chính quyền J Carter quyết định nới lỏng một phần cấm vận với Việt Nam Hoa Kỳ cho phép tàu thủy và máy bay nước khác chở hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của họ Và để thúc đẩy nhanh kế hoạch bình thường hóa với Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã cử một phái đoàn do Thượng nghị
sĩ L.Woodcock dẫn đoàn sang Việt Nam vào tháng 3/1977
Về phía Việt Nam: “đồng ý bình thường hóa quan hệ và tiếp tục tìm kiếm MIA
nếu Hoa Kỳ nhận viện trợ cho Việt Nam và bác bỏ việc lập văn phòng” [20, tr.565]
Tuy nhiên, cơ hội lại một lần nữa bị bỏ qua Ngay sau đó, một bản sửa đổi đạo luật viện trợ nước ngoài được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua nhanh chóng với số phiếu áp đảo Bản sửa đổi này có nội dung ngăn cấm chính quyền Hoa Kỳ “đàm phán đền bù chiến tranh, viện trợ hoặc bất kỳ một hình thức chi trả nào với Việt Nam” Và trước những áp lực đó, Tổng Thống J.Carter phải từ bỏ nỗ lực tìm kiếm
sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, rút lại lời hứa viện trợ nhân đạo
Trang 27Về phía Việt Nam, bắt đầu từ năm 1986 với đường lối đổi mới đất nước đã chủ trương không đối đầu với Hoa Kỳ mà tiến hành bàn bạc để từng bước cải thiện quan
hệ: “Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ vì lợi ích của hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á” [8, tr.108]
Bước sang những năm đầu 1990, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những dấu hiệu khởi sắc Ngày 29/09/1990, Ngoại Trưởng J.Baker gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tại New York và đã thỏa thuận sẽ thúc đẩy bình thường hóa quan
hệ với Việt Nam trong khung cảnh một giải pháp chính trị về Campuchia, đồng thời tốc độ và quy mô bình thường hóa tùy thuộc vào tiến bộ trong vấn đề MIA và các vấn đề nhân đạo khác”
Có thể nói, thời kỳ 1975 - 1991, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn
ở trong tình trạng thù địch, đối đầu Cũng đã có những cơ hội được mở ra, tạo đà cho việc bình thường hóa quan hệ nhưng vì những lý do chủ quan và khách quan nên những cơ hội đó đã bị bỏ qua Chính vì vậy, việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước bị chậm lại gần 20 năm mới được triển khai
1.1.4 Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trong những năm 1991 - 1995
Một trong những trở ngại chính trên con đường tiến tới bình thường hoá quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ là vấn đề Campuchia Trong bài phát biểu "Hãy nhìn quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ với đôi mắt mới" tại Hội đồng Đối ngoại Hoa Kỳ, Thứ trưởng
Ngoại giao Việt Nam Lê Mai đã kêu gọi Hoa Kỳ không nên coi việc giải quyết vấn
đề Campuchia là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ với Việt Nam [22, tr.3-6]
Trang 2822
Sau một thời gian dài bao vây và cô lập Việt Nam trong vấn đề Campuchia, Hoa
Kỳ đã có điều chỉnh chính sách trong đầu thập kỷ 90 Ngày 18-7-1990, Ngoại trưởng Hoa Kỳ J Baker đã tuyên bố mở đối thoại trực tiếp với Việt Nam về vấn đề Campuchia và không công nhận Chính phủ Liên hiệp Campuchia dân chủ ở Liên Hợp Quốc Tuyên bố này của Hoa Kỳ đánh dấu bước điều chỉnh chính sách quan trọng nhất của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và Campuchia, mở đường cho cuộc đối thoại chính thức đầu tiên giữa Hoa Kỳ và Việt Nam về vấn đề Campuchia
Ngày 9-4-1991, Hoa Kỳ chính thức đưa ra bản lộ trình gồm bốn bước, vạch ra tiến trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Bản lộ trình bình thường hóa quan
hệ với Việt Nam đánh dấu một bước điều chỉnh chính sách quan trọng khác của Hoa
Kỳ đối với Việt Nam Nếu như trước đây, Hoa Kỳ coi việc giải quyết vấn đề Campuchia và vấn đề POW/MIA là điều kiện quyết định đối với việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam thì trong bản lộ trình bốn điểm của chính phủ Bush, vấn
đề Campuchia và vấn đề POW/MIA chỉ được gắn với tiến trình bình thường hoá quan hệ song phương
Sau khi bản lộ trình bốn giai đoạn bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được công bố, phía Hoa Kỳ đã có những động thái bước đầu thể hiện thiện chí Ngày 8-7-1991, Hoa Kỳ mở văn phòng đại diện ở Hà Nội để cùng với Việt Nam giải quyết vấn đề MIA Tháng 9-1991, Hoa Kỳ tuyên bố viện trợ Việt Nam 130 vạn USD để lắp chân tay giả cho thương binh và giải quyết các vấn đề nhân đạo
Hoa Kỳ đã thực hiện một số hành động thiện chí bước đầu nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam như: Tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm du lịch có tổ chức vào Việt Nam và cho phép cơ quan viện trợ quốc tế Hoa Kỳ (USAID) được trực tiếp viện trợ nhân đạo với Việt Nam (4-12-1991); tiếp theo là việc Hoa Kỳ công bố viện trợ cho Việt Nam 300 vạn USD để đáp lại thiện chí của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề POW/MIA, bãi bỏ hạn chế liên lạc viễn thông với Việt Nam (13-4-1992); ký kết hiệp định lập lại đường dây liên lạc viễn thông trực tiếp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (16-4-1992); bãi bỏ tất cả các hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào Việt Nam và cho phép được xuất sang Việt Nam những hàng hóa thuộc khuôn khổ danh mục những hàng hóa đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người (29-4-1992)
Trang 2923
Chủ trương bình thường hoá quan hệ với Việt Nam được định hình và bước đầu
đi vào thực hiện bởi Chính phủ Bush và được Chính phủ Clinton tiếp tục thúc đẩy khi Bill Clinton chính thức nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ ngày 20-1-1993
Trong diễn văn nhậm chức của mình, vị Tổng thống thứ 42 của nước Hoa Kỳ
tuyên bố: "Ngày hôm nay chúng ta cầu cho kỷ nguyên bế tắc trôi dạt qua đi và cho một mùa đổi mới trên toàn nước Mỹ bắt đầu Để thay đổi nước Mỹ, chúng ta cả gan
và dám làm những gì mà các thế hệ trước chưa làm" [60, tr.1384]
Đặc biệt, ngày 2-7-1993, tổng thống Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không còn phản đối việc các nước trong cộng đồng quốc tế hỗ trợ Việt Nam trả các khoản nợ quá hạn của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hội nghị quốc tế về tài trợ cho Việt Nam ở Paris với sự tham gia của đại diện 22 nước Hội nghị này đã đi tới thống nhất thỏa thuận về viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam và cho vay với các điều kiện ưu đãi số tiền tổng cộng 1,86 tỷ USD Các thành viên của "Câu lạc bộ Paris" cũng đã quyết định hoãn trả nợ cho Việt Nam và xóa rất nhiều khoản nợ trước đó
Về phía Việt Nam, đáp lại thiện chí của Hoa Kỳ, ngày 17-7-1993, chính phủ Việt Nam đã cho phép ba nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ tới và làm việc trong sứ mệnh giải quyết tiếp vấn đề MIA Ngày 18-8-1993, Scot Marciel đã trở thành quan chức ngoại giao Hoa Kỳ đầu tiên có mặt và thường trú tại Hà Nội Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ dần dần tiến đến việc xóa bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận đối với Việt Nam Ngày 8-10-1994, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết khuyến nghị bỏ lệnh cấm viện trợ cho Việt Nam
Ngày 28-1-1995, Việt Nam và Hoa Kỳ tuyên bố chính thức mở cơ quan liên lạc tại thủ đô ở mỗi nước, đồng thời hai bên cũng ký các hiệp định về tài sản ngoại giao, các tài sản của Việt Nam ở Hoa Kỳ và của Hoa Kỳ ở Việt Nam Đây là một mốc quan trọng trong quá trình tiến tới bình thường hoá Ngày 1-2-1995, Việt Nam chính thức khai trương cơ quan đại diện tại Hoa Kỳ Một tuần sau đó, ngày 8-2-1995, Hoa
Kỳ chính thức khai trương cơ quan liên lạc của mình tại Hà Nội
Ngày 11-7-1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam, nhấn mạnh rằng kể từ đây, Hoa Kỳ sẽ bắt đầu bình thường
hóa quan hệ buôn bán với Việt Nam Ông nói: "Một thế hệ trước đây đã có những
Trang 3024
đánh giá khác nhau về cuộc chiến tranh đã từng gây chia rẽ chúng ta hết sức gay gắt….Bước đi này sẽ giúp đất nước chúng ta tiến lên phía trước về một vấn đề chia
rẽ người Mỹ quá lâu rồi" [2]
Ngày 12-7-1995, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tuyên bố: Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoan nghênh quyết định của Tổng thống Hoa Kỳ và tán đồng đề nghị trao đổi đại sứ Trong bản tuyên bố, Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn mạnh:
"Tuyên bố của Tổng thống Clinton công nhận ngoại giao và thiết lập quan hệ bình thường hóa với Việt Nam là một quyết định quan trọng, phản ánh nguyện vọng của đông đảo tầng lớp nhân dân Mỹ muốn khép lại quá khứ chiến tranh, xây dựng mối quan hệ bình thường, hữu nghị và hợp tác với Việt Nam Quyết định này phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á cũng như trên thế giới…Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoan nghênh quyết định ngày 11-7-1995 của tổng thống Bill Clinton và sẵn sàng cùng chính phủ Mỹ thỏa thuận một khuôn khổ mới giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế" [3]
Như vậy, trải qua hơn 20 năm sau khi cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam kết thúc, hai nước mới vượt qua được những trở ngại nhiều mặt để bước đầu tiến tới hàn gắn quan hệ, phục vụ lợi ích quốc gia của hai nước
Quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là chặng đường vô cùng khó khăn và gian nan Phải mất hơn 20 năm, với nhiều nỗ lực, hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ mới có thể chính thức khép lại quá khứ đau thương nhất trong lịch sử quan
hệ hai nước để xây dựng một mối quan hệ đối tác mới, phục vụ lợi ích của hai quốc gia
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước là xu thế phát triển tất yếu, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của mỗi nước
Trang 3125
1.2 Cơ sở phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015
1.2.1 Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực
Kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, cục diện thế giới đã có nhiều thay đổi to lớn tác động đến tương quan lực lượng giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các cường quốc trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản hay EU
Trong thập niên 1990, sau khi Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông
Âu sụp đổ (1989-1991), giai đoạn nửa cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX thế giới không diễn ra những sự kiện có sức chấn động lớn Nhưng các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt thậm chí sâu sắc hơn, nội dung và hình thức của những mâu thuẫn đó có nhiều nét mới hơn
Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt, trước hết là nguy cơ của chiến tranh hạt nhân bị đẩy lùi và giảm thiểu, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột về sắc tộc, dân tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật
đổ, khủng bố… vẫn thường xuyên xảy ra ở nhiều khu vực trên thế giới Đây quả là những nghịch lý của thế giới trong giai đoạn quá độ đi đến hình thành những quan
hệ quốc tế mới Nghịch lý đó phản ánh tác động hai mặt, hai chiều của sự kết cục diện hai cực đối đầu Và đó cũng là biểu hiện mới của của các mâu thuẫn giai cấp
và dân tộc
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình
độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, theo xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Tất cả các nước đều đứng trước cơ hội để phát triển Nhưng do ưu thế
về nguồn vốn, trình độ khoa học - công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý….thuộc về các nước Tư bản và các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia, cho nên các nước đang phát triển và chậm phát triển đứng trước những thách thức to lớn của quá trình khu vực hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa
Thực tế cho thấy, trong thời đại toàn cầu hóa, nếu không hội nhập được với khu vực và thế giới sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu là bị loại khỏi cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu, với những hậu quá rất lớn đối với nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các quốc gia, dân tộc Chính điều này sẽ dẫn đến sự chênh lệch về giàu nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng, cuộc cạnh tranh về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ
Trang 3226
thuật…ngày càng diễn ra gay gắt, quyết liệt
Vì lợi ích phát triển, các nước nói chung đều phải chấp nhận sự cạnh tranh này, đều tăng cường giao lưu quốc tế và hội nhập, mặt khác vẫn cố gắng giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc Cả hai quá trình này đều diễn ra rất mạnh mẽ
Bước vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế đứng trước nhiều vấn đề chung mang tính toàn cầu, như nguy cơ của chiến tranh hủy diệt, nạn thiếu lương thực, sự bùng nổ dân số, bệnh dịch, vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái, buôn lậu, tội phạm quốc tế và khủng bố quốc tế Đó là những vấn đề chung của toàn nhân loại, không của riêng bất cứ một quốc gia nào, đặt loài người trước những thách thức to lớn, đòi hỏi cần có sự hợp tác đa phương mới có thể giải quyết được Trong quan hệ giữa các nước, lợi ích của các dân tộc, quốc gia trên từng mặt, lĩnh vực có khi giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau Sự trùng hợp về lợi ích sẽ dẫn đến sự hợp tác cùng có lợi, sự khác biệt về lợi ích sẽ nảy sinh phức tạp và mỗi nước sẽ đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình
Tuy nhiên, do xu thế hội nhập và đa dạng hóa quan hệ ngày càng được các nước chú trọng nên nhận thức về quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi và có sự phân định rõ ràng hơn, quan điểm: "đã là bạn thì chỉ có hợp tác; đã là thù thì chỉ có đấu tranh; thậm chí còn coi thù của bạn là thù của mình" đã không còn tồn tại
Sự tập hợp lực lượng quốc tế không còn dựa trên ý thức hệ (Cộng sản chủ nghĩa hoặc Tư bản chủ nghĩa) trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, mà diễn ra rất đa dạng và linh hoạt dựa trên lợi ích quốc gia, dân tộc Xu thế chủ yếu là các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tùy từng thời điểm mà mặt hợp tác hoặc mặt đấu tranh nổi trội hơn
và các nước đều cố tránh xung đột về quân sự, đặc biệt là các nước lớn Nhìn chung, biểu hiện của các mối quan hệ quốc tế thời kỳ này ôn hòa hơn, linh hoạt hơn và yếu
tố này là có lợi trong việc củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác để cùng phát triển Trong các khu vực, các trung tâm trên thế giới, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động nhất Thời kỳ này người ta bắt đầu nói nhiều đến thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của châu Á- Thái Bình Dương
Tuy nhiên, khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định, như tình hình bán đảo Triều Tiên, hoạt động của các phần tử Hồi giáo cực
Trang 3327
đoan….bất cứ lúc nào cũng có thể dẫn đến sự bùng nổ lớn Còn về mặt kinh tế, sự không ổn định trong phát triển của những nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật Bản, hoặc sự biến động về giá dầu mỏ ở khu vực Trung Đông…đều có thể tác động tới tình hình chung và đều có thể gây nên sự mất ổn định về kinh tế của các khu vực trên thế giới, nhất là châu Á- Thái Bình Dương
Trước bức tranh toàn cảnh của thế giới vào những năm cuối thế kỷ XX, trong quan hệ quốc tế đã nổi lên năm xu thế cơ bản là:
Một là, hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi
bức xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới Các nước đều dành ưu tiên cho phát triển và coi phát triển kinh tế là vấn đề có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia
Hai là, các quốc gia lớn nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên
kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác Hợp tác ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh trên thế giới cũng ngày càng gay gắt
Ba là, các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh
chống lại sự áp đặt của nước ngoài vào công việc nội bộ của mình, ra sức bảo vệ chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ nền văn hóa dân tộc
Bốn là, các nước Xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực
lượng cách mạng, lực lượng tiến bộ và dân chủ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Năm là, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu
tranh vì nền hòa bình và phát triển của bản thân quốc gia mình và toàn nhân loại Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XXI đến nay, trật tự thế giới đang diễn ra sự tái cơ cấu tương quan lực lượng theo quy luật phát triển không đều [27, tr.70] với sự suy yếu tương đối của Hoa Kỳ và sự vươn lên của một loạt các quốc gia trong khối BRIC như Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc
Trong bối cảnh như vậy, quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh Lạnh đến nay nổi lên một số đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, cùng với sự nổi lên của một loạt các quốc gia khác, trật tự thế giới
hiện nay là “nhất siêu, đa cường” với vai trò chi phối của Hoa Kỳ và ảnh hưởng
Trang 34Kỳ trên trường quốc tế
Trong khi đó, Trung Quốc hầu như không bị ảnh hưởng từ tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu này Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong các năm “tâm bão” của khủng hoảng lần lượt là 9% năm 2008, 9,2% năm 2009 và 10,4% năm 2010 [80]
Thứ hai, có sự dịch chuyển cơ cấu quyền lực từ Tây sang Đông với vai trò ngày
càng tăng của các nước châu Á Trong khi EU đang có những suy giảm tương đối về sức mạnh và ảnh hưởng, thể hiện rõ qua cuộc khủng hoảng nợ công từ năm 2010 đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt thì Trung Quốc hiện đang là tâm điểm của châu Á với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, quân đội được hiện đại hoá mạnh mẽ và một chính sách đối ngoại với tham vọng thể hiện vai trò của một nước lớn khu vực đang vươn lên
vị thế cường quốc toàn cầu Bên cạnh đó, Nhật Bản, Ấn Độ và ở mức độ nào đó là Hàn Quốc và Australia cũng đang không ngừng tìm cách gia tăng ảnh hưởng [64]
Thứ ba, không như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với hai phe rõ ràng, tập hợp
lực lượng giữa các quốc gia ngày nay đan xen, chồng chéo lẫn nhau nhưng lại lỏng lẻo, nhiều lúc có tính tạm thời, tuỳ theo vấn đề, thời điểm, nội dung hay yếu tố địa chiến lược Yếu tố “hợp tác” và “cạnh tranh” cũng vì thế mà đan xen, có tác động qua lại lẫn nhau Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể hợp tác với nhau trong vấn đề chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt nhưng trong vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, khủng hoảng Ukraine/Crimea hay trong vấn đề Biển Đông, Biển Hoa Đông thì còn nhiều bất đồng
Tuy nhiên, tính phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng như việc Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ với khoản nợ lên đến 1,28 nghìn tỷ USD tính đến năm
2013 trong khi Hoa Kỳ hiện đang là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc
Trang 3529
với tổng thương mại hai chiều đạt 521 tỷ USD tính đến tháng 1/2014 [65] cũng tạo
ra một “ranh giới đỏ” khiến cho các nước không đi đến đối đầu trực diện
Thứ tư, trong khi các căng thẳng liên quan đến tranh chấp lãnh thổ và các điểm
nóng nổi cộm trên thế giới như Biển Đông, Biển Hoa Đông, Ukraine/Crimea Bắc Phi - Trung Đông, bán đảo Triều Tiên không có dấu hiệu giảm xuống thì các vấn đề
an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu… lại có xu hướng gia tăng khiến cho các nước lớn dù có cạnh tranh về chiến lược như thế nào cũng phải đẩy mạnh hợp tác để cùng giải quyết, đối phó với các thách thức chung ở quy
mô toàn cầu
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong bối cảnh tình hình thế giới có
nhiều biến động, các vận động chính trị tại châu Á - Thái Bình Dương cũng không nằm ngoài xu thế đó Châu Á - Thái Bình Dương hàm chứa trong mình hầu như tất
cả các vấn đề mà thế giới đang trải qua, mang theo nhiều đặc điểm của tình hình thế giới Về tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương nổi lên một số đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, châu Á - Thái Bình Dương là nơi tập trung của những nền kinh tế
được đánh giá là đầu tàu của kinh tế thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và kể từ đầu thế kỷ 21 đến nay đã và đang trở thành khu vực phát triển năng động nhất thế giới, đóng góp 60% tổng GDP toàn cầu (xấp xỉ 19,254 tỷ USD)
và 47% thương mại thế giới [72] tuy nhiên, cơ cấu phát triển của khu vực là không đồng đều Trong khi đó, Trung Quốc được coi là “‘động lực’ quan trọng của tăng trưởng kinh tế châu Á” [27, tr.215] Chính vì vậy, kinh tế châu Á phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế Trung Quốc
Thứ hai, châu Á - Thái Bình Dương cũng là nơi tập trung nhiều lợi ích chiến
lược của tất cả các nước lớn, trở thành địa bàn cho các va chạm lợi ích và cạnh tranh ảnh hưởng phức tạp giữa các nước lớn như Hoa Kỳ - Trung, Trung - Ấn, Trung - Nhật Bên cạnh đó, cũng không thể không nhắc đến vai trò ngày càng tăng của các nước vừa và nhỏ trong khu vực như các nước ASEAN ASEAN đang ngày càng có tiếng nói quan trọng trong các vấn đề của khu vực, các cơ chế đa phương
Trang 3630
do ASEAN đóng vai trò trung tâm cũng đang dần thể hiện được vai trò trong việc duy trì hoà bình, ổn định và an ninh khu vực
Thứ ba, khu vực tồn tại nhiều điểm nóng hơn bất cứ khu vực nào khác trên thế
giới, có thể kể đến tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, Biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên giữa CHDCND Triều Tiên với Hàn Quốc và cả Nhật Bản, tranh chấp biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc và Ấn Độ… khiến cho môi trường khu vực diễn biến phức tạp và khó lường, ảnh hưởng đến cấu trúc an ninh và chiến lược phát triển của các nước trong khu vực
Tình hình đó đòi hỏi sự quan tâm và nỗ lực hợp tác của tất cả các nước, trong đó
có Việt Nam và Hoa Kỳ, vì hòa bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực và thế giới Trên tinh thần đó, Việt Nam chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước trên thế giới, hình thành quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược với các nước đối tác quan trọng trong khu vực và trên thế giới Trong lĩnh vực kinh
tế - thương mại, Việt Nam đã tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, trong đó có TPP, một hiệp định có quy mô rất lớn, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Những chính sách của Việt Nam về đối ngoại nói chung và không gian kinh tế, chính trị khu vực châu Á- Thái Bình Dương là những cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ trong hiện tại và tương lai
1.2.2 Mục tiêu chiến lược và lợi ích song trùng của hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ
Cùng với những vấn đề thuộc quan hệ song phương, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng
đã đẩy mạnh sự hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế hai bên cùng quan tâm,
đó là sự hợp tác với các nước thành viên và tổ chức ASEAN, với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xây dựng Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), giải quyết những bất đồng và căng thẳng ở Biển Đông
Trước thực tế tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, trong khi châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát
Trang 37Đối với Việt Nam, tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ là một cơ hội mới để Việt
Nam hội nhập sâu hơn với khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới bên ngoài, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy cải cách ở trong nước theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường phát triển ngoại thương, mở rộng cửa cho sự tiếp cận thị trường của các loại hàng hóa xuất khẩu chủ lực mà Việt Nam có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh như dệt may, giày dép và các loại hàng nông sản, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Không những thế, Hoa Kỳ là thị trường có một tiềm năng lớn đối với Việt Nam Đây là nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới, với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 đạt 15.685 tỷ USD, chiếm 20% tổng GDP toàn thế giới, GDP theo đầu người đạt là 49.965 USD Trong cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ, dịch vụ chiếm 79,7%, công nghiệp 19,1%, nông nghiệp 1,2% Kim ngạch xuất nhập khẩu
của Mỹ chiếm hơn 30% GDP, là nước xuất, nhập khẩu lớn nhất thế giới [15]
Còn đối với Hoa Kỳ, muốn nắm giữ vai trò lãnh đạo thế giới cần phải có những
chính sách điều chỉnh chiến lược và sách lược của mình cho phù hợp với những biến đổi khó lường của tình hình thế giới cũng như khu vực
Với các nước Đông Dương, chính sách của Hoa Kỳ chuyển từ căng thẳng, đối đầu, chia rẽ sang lôi kéo, thu hút, tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với các quốc gia ở khu vực này
Việt Nam ngày càng trở thành một trong những quốc gia có tầm quan trọng chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, có sự cam kết cao về thương mại cũng như tăng cường sức mạnh cho khối ASEAN
Trang 38sự phong phú về tài nguyên, sự hấp dẫn về thiên nhiên và văn hóa
Mặt khác, Hoa Kỳ thiết lập quan hệ với Việt Nam cũng là để xoa dịu nỗi đau của người dân Hoa Kỳ vì những di chứng của chiến tranh với Việt Nam
Hoa Kỳ mong muốn hợp tác với Việt Nam để giải quyết vấn đề POW - MIA Đây là vấn đề mà Hoa Kỳ đặt ra hàng đầu để quan hệ với Việt Nam để mong muốn giải quyết vấn đề “Hội chứng Việt Nam” trong lòng người dân Hoa Kỳ
1.2.3 Nhân tố Trung Quốc
Sự trỗi dậy của Trung Quốc với tốc độ phát triển kinh tế phi thường và chính sách ngoại giao linh hoạt đã tạo bước biến chuyển cho khu vực Đông Á, và những thập niên qua đã chứng kiến ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ hơn Một khi Trung Quốc ngày càng hùng mạnh và vị thế của Hoa Kỳ bị xói mòn, hai điều có thể xảy ra: Trung Quốc sẽ cố gắng dùng sức ảnh hưởng ngày càng gia tăng để tái định hình luật lệ và thể chế của hệ thống quốc tế để phục vụ tốt hơn lợi ích của nước này Những quốc gia khác trong hệ thống, đặc biệt là Hoa Kỳ bắt đầu xem Trung Quốc như một mối đe dọa an ninh ngày một lớn dần Trong bài toán cân bằng ảnh hưởng ngày càng gia tăng mạnh mẽ của Trung Quốc, các nước ASEAN vẫn buộc phải tiếp tục dựa vào Hoa Kỳ làm nhân tố đối trọng hàng đầu bởi sức mạnh về kinh tế, cũng như ưu thế về chính trị của siêu cường này trên trường quốc tế
Việc Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ đang và sẽ làm tổn hại đến vị trí của Hoa
Kỳ, vì vậy Hoa Kỳ cần tăng cường hơn sự có mặt của mình tại khu vực này Trên thực tế, Hoa Kỳ đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thực hiện chiến lược của mình tại khu vực, đáng chú ý là Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ đối tác tăng cường ASEAN - Hoa Kỳ ký kết vào ngày 17/11/2005 đã khẳng định lợi ích chung trong phát triển ASEAN với tư cách là một thể chế khu vực
Trang 3933
Năm 2009, khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, chính quyền của ông
đã thực hiện chính sách “Xoay trục”, “Tái cân bằng” tại Châu Á - Thái Bình Dương nhằm kiềm chế sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, trong đó Đông Nam Á là một địa bàn chiến lược quan trọng và Hoa Kỳ cũng đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam đối với Hoa Kỳ tại khu vực này
Sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự suy giảm tương đối sức mạnh của Hoa Kỳ khiến họ có nhu cầu thực hiện chính sách “cân bằng từ xa” (offshore balancing) với Trung Quốc bằng cách tăng cường năng lực cho các nước là đối thủ tiềm tàng hay
có tranh chấp lãnh thổ, biển đảo với Trung Quốc, trong đó có Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Ngày 11-7-1995, Tổng thống Hoa Kỳ B Clinton đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam Việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ diễn ra trong một giai đoạn thế giới có những chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc, đòi hỏi không chỉ Hoa Kỳ, Việt Nam phải có những tư duy mới và phương thức hành động mới mà tình hình đó yêu cầu sự quan tâm và nỗ lực hợp tác của tất
cả các nước, vì hòa bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực và thế giới
Tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam của Hoa Kỳ có giá trị to lớn đối với sự vận động và phát triển của mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, kết thúc cho một giai đoạn diễn biến lâu dài với những nội hàm vô cùng phức tạp Bên cạnh đó,
sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam có ý nghĩa rất lớn đối với hai nước, bởi hai nước vốn là cựu thù của nhau trong cuộc chiến tranh Việt Nam- một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất của thế kỷ XX, giờ cùng có thiện chí “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”
Đó cũng là kết quả của sự cân nhắc những lợi ích song trùng, những vận hội mới của lịch sử và đánh giá những cơ sở lớn để vượt qua những rào cản, tiến về phía trước Với việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ để kết thúc cho một chặng dài lịch sử với những biến động to lớn suốt nửa sau của thế kỷ XX, lần đầu tiên Việt Nam có quan hệ đầy đủ với tất cả các nước lớn trên thế giới
Tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hòa Kỳ, những diễn tiến từ lịch
sử quan hệ hai nước, những biến đổi mới của tình hình thế giới, khu vực và nhu cầu
Trang 4034
phát triển tự thân của hai nước đã trở thành những cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển mối quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ trong suốt hơn 20 năm qua Những cơ sở lịch sử và sự vận động đa dạng của thế giới đã góp phần định hình và phác họa lên những đường nét cơ bản của khuôn khổ quan hệ song phương Việt Nam- Hoa Kỳ trong giai đoạn phát triển mới 1995-2015