Tìm hiểu về chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về chế độ nô lệ và sự phát triển của nó trong phần lục địa Bắc Mỹ từ thời kỳ các thuộc địa đầu tiên được thành lập ch
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HIỀN
VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TỪ THỜI THUỘC ĐỊA ĐẾN NỘI CHIẾN BẮC
NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TỪ THỜI THUỘC ĐỊA ĐẾN NỘI CHIẾN BẮC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản Luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rấccủa rất nhiều người, vì vậy tôi xin được dành trang đầu tiên này để bày
tỏ bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình gửi đến họ
Trước hết, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới người thầy hướng dẫn khoa học cho tôi làm bản Luận văn này, Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng
Người đã dành nhiều thời gian và công sức tận tình chỉ bảo tôi những định hướng quan trọng trong quá trình nghiên cứu để từ đó tôi có cái nhìn thấu đáo vấn đề và hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin chân thầy cảm ơn các Thầy cô trong khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Tp.HCM đã tận tụy giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và cách làm người cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu ở đây.Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô, cán bộ công nhân viên tại Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, cán bộ - công nhân viên thư viện trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM và thư viện Tổng hợp Tp.HCM, … đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành được luận văn này.Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Đinh Công Tuấn đã gợi
ý giúp tôi tìm ra ý tưởng cho đề tài mà tôi nghiên cứu trong luận văn
Cuối cùng tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè … và chồng tôi, anh Ngô Châu Phương, đã hỗ trợ, chia sẻ với tôi những khó khăn, trở ngại mà tôi gặp phải trong quá trình làm luận văn cũng như tạo những điều kiện tốt
nh nhất để tôi sớm hoàn thành luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguốn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 6
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 6
7 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 6
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG THỜI THUỘC ĐỊA VÀ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP (1619 – 1783) 7
1.1 VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG THỜI THUỘC ĐỊA (1619 – 1775) 7
1.1.1 Vấn đề nô lệ ở châu Mỹ 7
1.1.1.1 Nguồn gốc nô lệ da đen ở châu Mỹ 7
1.1.1.2 Buôn bán nô lệ da đen xuyên Đại Tây Dương 11
1.1.2 Vấn đề nô lệ trong mười ba thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ 13
1.1.2.1 Sự hình thành 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ 13
1.1.2.2 Những đặc tính tự nhiên, xu hướng kinh tế ở 13 thuộc địa 15
1.1.2.3 Sự phát triển kinh tế thuộc địa và ưu thế của hệ thống lao động nô lệ ở Hoa Kỳ thời thuộc địa (1619 – 1775) 17
1.1.2.4 Chế độ nô lệ đến và phát triển ở Hoa Kỳ trong giai đoạn thuộc địa ( 1619 -1775) 20
1.1.2.5 Sự thay đổi từ tình trạng nô lệ giao kèo thành nô lệ chủng tộc 25
1.1.2.6 Sự phản kháng của nô lệ da đen 29
1.2 VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP (1775 – 1783) 32
1.2.1 Vấn đề nô lệ da đen trước cuộc Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ 32
1.2.2 Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1775 – 1783) 34
1.2.3 Vấn đề nô lệ da đen trong Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ 36
1.2.4 Vấn đề nô lệ ở Hoa Kỳ sau Chiến tranh giành độc lập 41
Tiểu kết 43
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC (1783 – 1860) 45
2.1 VẤN ĐỀ NÔ LỆ VÀ HIẾN PHÁP HOA KỲ 45
2.1.1 Hiến pháp Hoa Kỳ, những tranh luận và thỏa thuận về chế độ nô lệ 45
2.1.2 Hiến pháp Hoa Kỳ và vấn đề nô lệ 47
Trang 62.2 VAI TRÒ CỦA NÔ LỆ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ 49
2.2.1 Vai trò bông trong nền kinh tế của quốc gia mới – vai trò của nô lệ trong phát triển bông 49
2.2.2 Buôn bán nô lệ nội địa 51
2.3 VẤN ĐỀ NÔ LỆ TRONG SINH HOẠT CHÍNH TRỊ CỦA HOA KỲ 54
2.3.1 Vấn đề nô lệ trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 54
2.3.2 Vấn đề nô lệ trong đời sống chính trị của Hoa Kỳ 57
2.4 Chế độ nô lệ sa vào khủng hoảng 62
2.4.1 Phong trào chống chế độ nô lệ 62
2.4.2 Vấn đề nô lệ vào đêm trước của nội chiến 69
2.4.2.1 Sự phát triển của dân số Hoa Kỳ 69
2.4.2.2 Những đặc điểm kinh tế của Hoa Kỳ trước nội chiến 71
2.4.2.3 Khủng hoảng chính trị do vấn đề nô lệ trong những năm 1850 75
Tiểu kết 83
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG CUỘC NỘI CHIẾN BẮC NAM (1861 – 1865) 85
3.1 VẤN ĐỀ NÔ LỆ TRONG CUỘC BẦU CỬ TỔNG THỐNG 1860 85
3.1.1 Vấn đề nô lệ trong bối cảnh vận động tranh cử 85
3.1.2 Kết quả bầu cử Tổng thống và sự ly khai 91
3.2 VAI TRÒ CỦA NÔ LỆ TRONG NỘI CHIẾN 93
3.2.1 Vai trò của nô lệ ở Liên bang miền Nam 93
3.2.2 Vai trò của nô lệ đối với Liên minh miền Bắc 100
3.3 CHẾ ĐỘ NÔ LỆ CÁO CHUNG 106
3.3.1 Tuyên ngôn giải phóng nô lệ 106
3.3.2 Điều khoản Sửa đổi bổ sung thứ 13 111
Tiểu kết 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 7MỞ BÀI
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ là hệ quả của các đợt di dân của người Anh và những người châu Âu khác đến những vùng đất mà ngày nay nằm trong phần lãnh thổ của Hoa Kỳ, nó cũng là hệ quả của nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương
Mặc dù ta biết nạn buôn bán nô lệ đã diễn ra, tồn tại hàng ngàn năm qua nhưng phần đen tối nhất, dã man nhất, đau thương nhất để lại nhiều hậu quả nhất là giai đoạn, từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 19 Thế giới hầu như đã lãng quên câu chuyện đau thương này cho đến thập niên 60 của thế kỉ 20 khi một con tàu được trục vớt ngoài khơi biển Na Uy đã làm sống lại các kí ức về một thời đen tối trong lịch sử nhân loại Đến thời điểm này nhiều người mới biết đến buôn bán nô lệ da đen châu Phi đã diễn ra như thế nào, tác động
ra sao đối với lịch sử nhân loại Nhiều học giả bắt đầu tìm hiểu một cách sâu sắc cặn kẽ hơn về vấn đề này, không chỉ ở thời điểm đó mà cho đến hiện nay khi thế giới vừa mới tổ chức kỉ niệm 200 năm chấm dứt nạn buôn bán nô lệ da đen (1807 - 2007) và UNESCO quyết định lấy ngày 25/3 hàng năm (bắt đầu từ 2009) để làm ngày kỉ niệm cho những nạn nhân của thương mại vô nhân đạo này thì vấn đề vẫn còn tiếp tục là đề tài nghiên cứu tìm hiểu của nhiều học giả trên thế giới
Khi nói đến buôn bán nô lệ da đen ta không thể không nhắc đến 13 khu di dân là thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ, Hoa Kỳ sau này, sự tồn tại của chế độ nô lệ ở đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử Hoa Kỳ, đặc biệt là giai đoạn từ sau đấu tranh giành độc lập cho đến khi nội chiến kết thúc
Đó là giai đoạn mà Hoa Kỳ non trẻ phải vật lộn với những vấn đề xuất phát từ chế
độ nô lệ, những vấn đề chưa bao giờ tồn tại trước Chiến tranh giành độc lập Sự khác biệt
về yếu tố địa lí đã dẫn tới sự khác biệt trong xu hướng phát triển kinh tế không chỉ trong giai đoạn còn là thuộc địa của Anh mà ngay cả sau khi đã giành được độc lập Những khoảng cách ngày càng xa nhau giữa hai nền kinh tế Nam Bắc Hoa Kỳ đã kéo theo những rạn nứt về chính trị, xã hội và đẩy chủ nghĩa địa phương lên cao Trong một thời gian nhất định các khoảng cách đó đã được cả nhân dân, giới chính trị gia hai miền cố gắng khỏa
Trang 8lấp thông qua hàng loạt các nhượng bộ, thỏa hiệp cả về kinh tế lẫn chính trị… tất cả để đạt mục tiêu thống nhất của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ Trên tất cả, mỗi khoảng trống đó đều liên quan mật thiết đến sự tồn tại của chế độ nô lệ tồn tại ở đây
Tìm hiểu về chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về chế độ
nô lệ và sự phát triển của nó trong phần lục địa Bắc Mỹ từ thời kỳ các thuộc địa đầu tiên được thành lập cho đến khi nội chiến kết thúc Cùng với sự kết thúc của chiến tranh là sự chấm dứt luôn của chế độ nô lệ, vốn đã tồn tại gần hai trăm năm cho đến thời điểm đó Tôi đặc biệt quan tâm tới yêu tố người nô lệ da đen trong Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1775 -1783), vấn đề nô lệ trong đời sống kinh tế, chính trị của Hoa Kỳ giai đoạn giữa cuộc chiến tranh giành độc lập và nội chiến, và vấn đề nô lệ trong cuộc nội chiến
Việc nghiên cứu cho tôi một cái nhìn tổng quan về quá trình phát triển của chế độ
nô lệ chủng tộc ở Bắc Mỹ, qua đó tìm hiểu kỹ càng vị trí, vai trò của hệ thống nô lệ trong đời sống kinh tế, chính trị của Hoa Kỳ Hơn thế nữa tính cấp thiết của đề tài vì bàn đến vấn đề quyền con người, một trong những vấn đề cho đến nay còn chưa thống nhất với nhau giữa các quốc gia trên thế giới
Việc nghiên cứu vấn đề nô lệ còn phục vụ cho công việc hiện nay của tôi là nghiên
cứu và giảng dạy lịch sử, đó chính là lí do tôi chọn đề tài “Vấn đề nô lệ ở Hoa Kỳ từ thời thuộc địa đến nội chiến Bắc Nam”
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trên thế giới: vấn đề này được nghiên cứu nhiều và từ lâu, chủ yếu ở Châu Âu, Hoa Kỳ Các công trình nghiên cứu của các tác giả khá sâu sắc, toàn diện trong mỗi vấn
đề được đặt ra:
Cuốn American Slavery, American Freedom của Edmund S Morgan là cuốn sách
kể lại hoàn cảnh kinh tế dẫn đến nhu cầu về lao động giá rẻ: đất gần như không giới hạn
và lợi nhận dễ dàng có được trong các vụ thu hoạch thuốc lá nếu chủ sở hữu có đủ sức mạnh về sở hữu lao động Qua sách ta biết rằng việc mua nô lệ ít tốn kém hơn so với các
Trang 9tôi tớ giao kèo, và do đó càng về sau số lượng giao dịch mua bán nô lệ châu Phi tăng cao lên rất nhiều Cuối cùng, nó cho thấy sự phát triển dần dần của một tầng lớp thấp trong xã hội bị rơi vào tình trạng lệ thuộc vĩnh viễn; quá trình đó xóa bỏ sự ngang bằng của tất cả các tầng lớp khác nhau trong xã hội Sách đề cập đến sự phi lý của một xã hội nô lệ nắm giữ và chà đạp lên quyền lợi của nhiều người, trong khi khẳng định quyền con người Trong cuốn sách của mình, Morgan nói về chế độ nô lệ và sự tự do phát triển tại cùng một thời gian như nhau ở các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ, trong đó có rất nhiều yếu tố dẫn đến sự phát triển của chế độ nô lệ chủng tộc ở Bắc Mỹ Ông cũng nói rằng, “Đây là nghịch lý của lịch sử Mỹ” có nghĩa là tự do và nô lệ cùng mở rộng một lúc ở Bắc Mỹ
Trong tác phẩm The suppressionof the African slave trade to The United States of
America 1638 -1870 của Du Bois vốn là luận văn tiến sĩ của ông ở đại học Harvad năm
1896 Tác phẩm cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển chế độ nô lệ, dù nội dung chính ông đề cập đến việc ngăn chặn buôn bán nô lệ ở Hoa Kỳ Trong tác phẩm, ông cung cấp rất nhiều số liệu về quá trình nhập khẩu và đánh thuế nô lệ Ngoài ra ông còn phân tích khá rõ các điều kiện tự nhiên dẫn đến sự hình thành các hình thức phát triển kinh tế khác nhau ở 13 khu di dân, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, đặc điểm, quy
mô lớn nhỏ của chế độ nô lệ ở mỗi vùng Chính điều này tác động lớn đến sự phát triển lịch sử của Hoa Kỳ Luận văn đã đề cập đến các nỗ lực của Hoa Kỳ, ngay từ thời đầu thuộc địa cho đến hiện tại (lúc ông viết luận văn), để hạn chế và ngăn chặn việc buôn bán nô lệ giữa châu Phi và bờ biển Tây Ấn (Caribbean hay West Indies)
Với The Peculiar Institution: Slavery in the Antebellum South, Stampp lập luận
rằng chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ không phải là chế độ nô lệ gia trưởng, tuy nhiên lại là một hệ thống tiện lợi cho việc kiểm soát và khai thác lao động… Ông muốn nêu cụ thể chế độ nô
lệ là như thế, tại sao nó tồn tại, và những tác động lớn mà người dân Mỹ phải chịu Các chi tiết trong cuốn sách soi sáng mọi khía cạnh của chế độ nô lệ nó không chỉ được xem xét như là một phương pháp điều chỉnh các mối quan hệ chủng tộc mà… còn như là
Trang 10một hệ thống kiểm soát và khai thác hiệu quả lao động nô lệ, làm thế nào mà nô lệ chống lại tình trạng của mình, họ đã bị xử lý kỷ luật như thế nào, làm thế nào họ sống
Trong Battle Cry of Freedom: The Civil War Era, James McPherson tường thuật
đầy đủ các sự kiện chính trị, xã hội và quân sự trong hai thập kỉ từ sự bùng nổ của cuộc chiến tranh ở Mexico đến lúc kết thúc trận chiến Appomattox Cuốn sách mô tả một cách sống động các sự kiện quan trọng trước nội chiến bao gồm cả các quyết định Dred Scott, các cuộc tranh luận Lincoln-Douglas, cuộc đột kích của John Brown vào Ferry Harper McPherson đặc biệt đáng chú ý về vấn đề mới như vấn đề mở rộng chế độ nô lệ vào những năm 1850, nguồn gốc của đảng Cộng hòa, nguyên nhân của sự ly khai, nội bộ bất đồng chính kiến và phản đối chống chiến tranh ở các miền Bắc và miền Nam, và lý do của Liên minh chiến thắng Tiêu đề của cuốn sách đề cập đến sự công bố quan điểm của
cả hai phía Bắc và phía Nam trong cuộc xung đột Cuối cùng, miền Bắc đã phải vật lộn với nguyên nhân cơ bản của chiến tranh, chế độ nô lệ, và thông qua một chính sách giải phóng nô lệ như là một mục tiêu thứ hai của chiến tranh “Sự tự do mới được sinh ra”, như Lincoln gọi là nó, tạo thành những gì là di sản đáng tự hào của cuộc xung đột đẫm máu nhất của lịch sử Hoa Kỳ
Tờ HARPER'S WEEKLY là một trong những tờ báo lâu đời, ra đời gần như vào thời điểm căng thẳng trong xã hội Hoa Kỳ, không lâu trước nội chiến Nó hầu như phản ánh những đầy đủ các sự kiện của cuộc nội chiến Nó không chỉ phản ánh sự kiện mà còn
là nơi nêu lên các quan điểm của nhiều người về cuộc chiến về chế độ nô lệ và thời kì tái thiết sau nội chiến
Ở Việt Nam, chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ có được đề cập trong các giáo trình giảng dạy
ở bậc phổ thông và đại học khi trình bày phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ, ở một số nước châu Mỹ Một số bài nghiên cứu cũng có liên quan đến khía cạnh riêng rẽ nào đó nhưng cũng chỉ dừng lại ở một số chi tiết sự kiện
Chẳng hạn như công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Liên “Nước Anh với
việc buôn bán nô lệ da đen xuyên Đại Tây Dương (cuối thế kỉ 16 – đầu thế kỉ 19) và cuộc
Trang 11đấu tranh giải phóng nô lệ (cuối thế kỉ 18 – cuối thế kỉ 19)” bảo vệ tại đại học Sư phạm
Hà Nội năm 2010, chỉ đề cập đến quá trình buôn bán nô lệ trên thế giới nói chung và sự tham gia của Anh nói riêng Vai trò của Anh trong việc kết thúc buôn bán nô lệ thế giới,
sự kết thúc của chế độ nô lệ trong các thuộc địa của Anh ở châu Mỹ Hay bài viết “Việc
tìm ra châu Mỹ và quá trình buôn bán người da đen châu Phi của thực dân phương Tây (thế kỉ 16 – 18)”, của tác giả Lại Bích Ngọc trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 6
(1997) Chủ yếu lí giải lí về sự hình thành nạn buôn bán nô lệ da đen giữa châu Phi và châu Mỹ
3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề của hệ thống lao động nô lệ da đen trong đời sống kinh tế, chính trị ở Hoa Kỳ từ thời thuộc địa đến nội chiến Bắc – Nam
Mục tiêu
Hiểu được sự hình thành hệ thống lao động nô lệ da đen ở Hoa Kỳ
Hiểu rõ vị trí, vai trò của hệ thống lao động nô lệ da đen trong nền kinh tế, chính trị của Hoa Kỳ Sự nảy sinh vấn đề nô lệ trong các mâu thuẫn kinh tế
và chính trị của hai miền Nam – Bắc Hoa Kỳ Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống lao động nô lệ da đen ở Hoa Kỳ từ 1619 -1865
4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đây là vấn đề mới, hầu như chưa được các nhà nghiên cứu của Việt Nam quan tâm cho nên ở bước đầu nghiên cứu tôi nhận thấy đây là một đề tài rất rộng về thời gian, không gian và nội dung vì thế tôi xác định đề tài nghiên cứu của tôi chỉ giới hạn trong các nội dung như sau
Thời gian: Sự hình thành và chuyển biến của vị trí, vai trò của người nô lệ ở Hoa
Kỳ từ khi còn là thuộc địa của Anh được thành lập vào đầu thế kỉ 17 ở Bắc Mỹ cho đến khi nội chiến Bắc Nam kết thúc (1865)
Nội dung: Lịch sử hình thành, quan hệ của hệ thống lao động nô lệ da đen với kinh
tế, chính trị của Hoa Kỳ từ khi nó xuất hiện đến lúc kết thúc
Trang 125 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: Tôi lấy quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa xã hội khoa học làm quan điểm xuất phát cho công tác nghiên cứu của mình
Phương pháp liên ngành: xác xuất thống kê, điều tra xã hội, địa lí học …
Phương pháp chuyên nghành: Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng xuyên suốt, ngoài ra còn các phương pháp khác như khái quát, so sánh, đối chiếu…
Nguồn tư liệu: Sách chuyên khảo, tạp chí nghiên cứu chuyên ngành trong nước, các luận văn tốt nghiệp trong và ngoài nước, các trang web có liên quan đến nội dung nghiên cứu
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đóng góp của luận văn là bổ sung tư liệu cho quá trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề nô lệ ở Hoa Kỳ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy phần lịch sử thế giới cận đại nói chung và lịch sử Hoa Kỳ nói riêng Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu chuyên sâu lịch sử cận đại
Trang 13CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG THỜI THUỘC ĐỊA VÀ ĐẤU
TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP (1619 – 1783) 1.1 VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG THỜI THUỘC ĐỊA (1619 – 1775)
1.1.1 Vấn đề nô lệ ở châu Mỹ
1.1.1.1 Nguồn gốc nô lệ da đen ở châu Mỹ
Từ 1450 đến 1750, là khoảng thời gian thay đổi to lớn cho số phận của lục địa châu
Mỹ và chủ nhân ông của nó, người Mỹ bản địa, người da đỏ - Indian Thế giới của những người Indian đã bị thay đổi và phần lớn bị phá hủy bởi những người định cư châu Âu đến sau này Trước đó không lâu các nhà thám hiểm người châu Âu cũng đã đi đến châu Phi
và hầu như thiết lập được hệ thống thuộc địa của mình dọc bờ biển phía Tây châu Phi, hai
bờ của Đại Tây Dương tuy xa xôi nhưng có mối quan hệ chặt chẽ sau này, những nơi có một khoảng thời gian phải chứng kiến những điều đau thương nhất của lịch sử nhân loại Nơi mà con người không được đối xử như con người, họ chỉ là những món hàng hóa mang lại lợi nhuận cho kẻ khác
Trong hơn 4 thế kỉ, người châu Phi là nạn nhân của buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương Thương mại vô nhân đạo đó đã dẫn đến những hệ lụy nhất định Một trong những
hệ lụy là việc hình thành một hệ thống xã hội và kinh tế mới ở châu Mỹ, nơi mà màu da của con người có thể trở thành dấu hiệu xác định liệu họ có thể sống như là một con người tự do hay là một nô lệ; Châu Mỹ, nơi mà sức lao động của người này bị người khác tước đoạt một cách trắng trợn thậm chí sự cướp đoạt đó còn được luật pháp đảm bảo
a Quá trình thuộc địa hóa Châu Mỹ
Chế độ nô lệ da đen ở châu Mỹ chỉ xuất hiện khi quá trình thám hiểm châu Mỹ hoàn thành cùng với sự phân vùng ảnh hưởng một cách rõ ràng các vùng đất ở đây giữa các cường quốc châu Âu thời bấy giờ
Trong suốt thế kỷ mười sáu, công cuộc thuộc địa hóa châu Mỹ gần như do những người Tây Ban Nha tiến hành Trong khi các quốc gia khác của châu Âu thì thỏa mãn với các chuyến đi khám phá, hoặc thực hiện các cuộc thám hiểm với nô lệ được mang theo
Trang 14hay các cuộc tấn công cướp bóc một cách thường xuyên ở châu Phi thì người Tây Ban Nha đã mở rộng quyền thống trị của họ ở Tân thế giới một cách nhanh chóng và tràn đầy sinh lực, tương phản hoàn toàn với trạng thái lười biếng, đờ đẫn vốn có của họ
Ở thế kỉ 16, ngoài Tây Ban Nha thì Bồ Đào Nha, là quốc gia duy nhất khác cho thấy có hoạt động thuộc địa hóa châu Mỹ và Hoa Kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha thực hiện nhiều nỗ lực để hạn chế các quốc gia châu Âu khác đến và thành lập thuộc địa ở châu
Mỹ, nhưng điều đó là không thể được Cuối thế kỉ 16, một số khu định cư của các quốc gia Pháp, Anh, Hà Lan …đã được thành lập ở Nam Mỹ Các thế kỷ tiếp Anh và Pháp thành lập thuộc địa cho chính mình ở đây, cạnh tranh quyền sở hữu châu Mỹ với người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan
Từ phía bắc của Mexico đến cực nam của lục địa châu Mỹ hệ thống thuộc địa đã được thiết lập Đó là kết quả của các nỗ lực thực dân hóa châu Mỹ trong suốt thế kỷ thứ mười sáu của các cường quốc châu Âu thời bấy giờ, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Sang
thế kỉ 17, “Anh, Pháp, và thậm chí cả Hà Lan, bắt đầu thách thức Axis Iberia (Tây Ban Nha) và khẳng định vị trí của mình trong ánh nắng mặt trời (Nam Mỹ) Người da đen,
cũng có chỗ đứng của mình, mặc dù họ đã ở đó mà không yêu cầu nó: vị trí dưới ánh mặt trời nóng như thiêu như đốt ở các đồn điền đường, thuốc lá và bông ở Thế giới mới.” [74,
tr.4] Còn khu vực Bắc Mỹ từ Vịnh Mexico đến Bắc Băng Dương vẫn còn là vùng đất bí
ẩn trong tay của người bản xứ Thế kỷ XVII tiếp theo là kỷ nguyên mà Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển khám phá khu vực quan trọng này
b Thực dân hóa, phát triển kinh tế và nhu cầu nhân lực
Trong suốt một thế kỉ đầu sau khi Columbus đến châu Mỹ, các hoạt động kinh tế chủ yếu là khai thác mỏ, chăn nuôi và nông nghiệp Trong đó nông nghiệp là phát triển nhất Khi đã quyết định định cư ở vùng đất mới những di dân da trắng phát hiện ra rằng
có thể phát triển nhiều loại cây trồng kinh tế khác nhau như: cây chàm, gạo, bông, cacao,
cà phê, thuốc lá… và mía
Trang 15Trong các loại cây trồng phát triển ở vùng Nam Mỹ thì mía đường luôn ở vị trí dẫn đầu Chính việc phát triển loại cây nào là chủ yếu cũng dẫn đến sự hình thành và phát triển của nạn buôn bán nô lệ da đen xuyên Đại Tây Dương sau này Trong đó, mía là thủ đoạn đầu tiên
Cuối thế kỉ 15, ở châu Âu đường mía vẫn còn hiếm và được xem là thuốc vì vậy nó
có giá trị kinh tế rất cao Những thập niên đầu thế kỉ 16, các trung tâm của công nghiệp
mía đường dần dần được chuyển từ “Địa Trung Hải và châu Phi sang khu vực West
Indies, Brazil” [26, tr.103] Lịch sử đã ghi nhận, trong chuyến đi thứ hai (1493) đến châu
Mỹ của mình, Columbus đã mang theo cây mía đến West Indies [32, tr.84] Do đó, đảo Hispaniola là trung tâm công nghiệp mía đường đầu tiên của Thế giới mới…cây mía cũng được đưa đến Brazil bởi người Bồ Đào Nha vào năm 1520 [69, tr.99]
Cuộc cách mạng đường bắt đầu vào cuối thế kỉ 17 và do đó nó rẻ hơn và phổ biến
rộng rãi từ giữa thế kỷ 18 “Giữa thế kỉ 18, đường trở thành một thành phần chính trong
chế độ ăn uống trong các tầng lớp dân chúng của xã hội châu Âu”[69, tr.21] Đường trở
nên dễ tiếp cận cho các tầng lớp trong xã hội và được sử dụng rộng rãi Giá đường mía không còn cao như trước nhưng những thói quen ăn uống của người châu Âu đã ảnh hưởng một cách trực tiếp và gián tiếp sự tiêu dùng đường [69, tr.26] làm cho lượng tiêu thụ đường ở châu Âu rất lớn (phụ lục – Bảng 1.1) Điều đó làm cho dù giá đường đã giảm nhưng mức độ tiêu thụ cao, nguồn cung ứng thấp là lí do dẫn đến diện tích các đồn điền mía không ngừng tăng lên lấn át các cây trồng khác trong suốt các thế kỉ từ 16 đến 18 ở châu Mỹ, giai đoạn đỉnh điểm của thương mại nô lệ
Vấn đề quan trọng là người ta cần rất nhiều lao động trong cả trồng và chế biến mía đường Thời gian đầu nhân lực lao động để làm việc trên các đồn điền lớn là các tôi
tớ giao kèo da trắng Đồng thời, các chủ đồn điền người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, cũng khai thác lao động bản địa Tôi tớ giao kèo da trắng đã được đưa đến vùng biển Caribbean trước khi các nô lệ châu Phi đến, nhưng không phải lúc nào họ cũng đến với số lượng đủ lớn để đáp ứng được nhu cầu của công việc trồng trọt Ngoài ra, trong một
Trang 16khoảng thời gian ngắn, khoảng từ 5 đến 7 năm, những tôi tớ giao kèo da trắng này nhanh chóng được giải phóng theo hợp đồng, hoặc bỏ trốn Trong khi đó hầu hết người da đỏ chưa từng trải qua công việc tương tự, đã chết vì bệnh hoặc làm việc cho đến chết Lịch
sử ghi nhận sau khi những người châu Âu đến dân số người bản địa sụt giảm một cách nghiêm trọng là do lây các loại bệnh mà họ chưa hề được miễn dịch từ tổ tiên, như đậu mùa, sởi, sốt rét, tỉ lệ sinh thấp…đã dẫn tới thiếu hụt nhân lực làm việc ở các đồn điền mía
Ví dụ ở Puerto Rico, đầu thế kỉ 16 có khoảng 600.000 người nhưng đến giữa thế kỉ
đó chỉ còn chưa đầy 400 người [20, tr.59) Corte đến Mexico năm 1519 nhanh chóng
“Vùng trung Mexico, giảm khoảng 90% dân số trong vòng bảy mươi năm” [32, tr.98] “từ
15 triệu xuống còn 1,5 triệu người”[67, tr.12] “Peru và Chile, nơi bệnh dịch lan truyền đến trước khi những người châu Âu đến, tỉ lệ giảm dân số cũng cao như thế” “Tỉ lệ tử vong thậm chí còn tệ hơn ở vùng Caribbean…ước tính dân số người Arawak/Taino thời tiền Columbus, Hispaniola khoảng từ 300.000 đến nửa triệu người; Những năm 1540 chỉ còn ít hơn 500 người sống sót” [32, tr.98] Theo các nghiên cứu thống kê gần đây “tổng dân số người Mỹ bản địa giảm từ 54 triệu người năm 1492 xuống chỉ còn khoảng 6 triệu người năm 1650” [67, tr.12]
Hai lí do trên đã dẫn đến việc sử dụng nô lệ da đen châu Phi Họ thường được coi
là lực lượng lao động tốt hơn so với người Indian Bởi vì người châu Phi có thể trạng sức khỏe vật lý tốt, quen với công việc trồng trọt và nhất là có sức đề kháng đối với các loại bệnh đã tấn công người Indian, nô lệ cũng không thông thuộc địa hình và khó bỏ trốn Hệ thống đồn điền dựa trên sức lao động của nô lệ da đen châu Phi nhanh chóng lan rộng
toàn bộ vùng biển Caribbean, Mexico và Brazil “Bất kì sự sụt giảm dân số (ở châu Phi – người viết) xảy ra trong suốt bốn thế kỉ thương mại (nô lệ da đen – người viết) là có thể
được dùng để bù đắp cho sự tăng trưởng dân số hệ quả theo sau của việc đưa vào Tân thế giới các loại cây trồng”[22, tr.3], đặc biệt là mía
Trang 17Như vậy có thể nói, buôn bán nô lệ châu Phi đến với Thế giới mới tỉ lệ thuận với diện tích trồng mía, bông, bắp, sắn… ở châu Mỹ Số lượng nhân lực làm trong lĩnh vực trồng và sản xuất mía đường luôn vượt xa hơn các lĩnh vực khác (phụ lục - Bản 1.2)
Đường cũng là sản phẩm xuất khẩu chính của Tân thế giới, đến năm 1750 đường
vượt trội hơn ngũ cốc như là “hàng hóa có giá trị nhất trong thương mại châu Âu -chiếm
1/5 của tất cả các hàng nhập khẩu vào châu Âu và trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ, bốn phần năm đường đến từ các thuộc địa Anh và Pháp ở Tây Ấn”.[66, tr
510]
Tóm lại, khi những khu định cư của người châu Âu được thiết lập ở bất cứ phần nào của Thế giới mới, đảo hay lục địa, việc khai thác vùng đất mới chắc chắn sẽ diễn ra Ngay thời điểm ấy các yếu tố khách quan đã dẫn tới sự phát triển, kinh tế nông nghiệp đồn điền vì nó thích hợp Chính quy luật cung cầu của thị trường đã làm xuất hiện những cái mà chúng ta gọi là vô đạo đức: chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ da đen Châu Âu cần các sản phẩm từ mía đường để tiêu dùng và để sản xuất rượu rum, nó lại là một trong các sản phẩm chính được xuất khẩu sang châu Phi Thị trường châu Phi cần nó, sản phẩm hối đoái chính là những người da đen, nguồn nhân lực mà châu Mỹ đang khát Thương mại tam giác này được xem như là hệ thống thương mại toàn cầu đầu tiên liên kết châu
Âu, châu Phi và châu Mỹ Người ta thường nói sự thành công của người này đi cùng với
sự thất bại của người kia, sự giàu có của châu Âu và sự nghèo đói của châu Phi không phải ngẫu nhiễn mà có Buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương được khởi xướng cũng như kết thúc bởi người châu Âu Tất cả vì một vấn đề mà thôi, lợi nhuận
1.1.1.2 Buôn bán nô lệ da đen xuyên Đại Tây Dương
Từ đầu thế kỉ 16 đến thế kỉ 19, hàng triệu người da đen châu Phi đã bị bắt, vận chuyển xuyên Đại Tây Dương và bán như là nô lệ ở châu Mỹ Chế độ nô lệ và buôn bán
nô lệ không hề là một hiện tượng khác thường và hiếm trong lịch sử nhân loại Thương mại này chỉ bắt đầu khi Bồ Đào Nha không tìm thấy các mỏ vàng nhưng họ lại thấy một mặt hàng có sẵn đó là nô lệ ở châu Phi
Trang 18Thực tế, người châu Phi đã được trao đổi như là món hàng hóa trong một thời gian dài trước khi buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương diễn ra Họ đã bị bán tới châu Âu làm
nô lệ bởi các thương nhân người Hồi giáo Chế độ nô lệ cũng là một phần truyền thống của xã hội châu Phi, nhiều tiểu quốc và vương quốc khác nhau ở châu Phi đã có trải qua một hoặc nhiều dạng nô lệ: chế độ sở hữu nô lệ (chiếm hữu nô lệ), nô lệ vì nợ, lao động
nô lệ cưỡng bức, và chế độ nông nô Do đó khi bị bắt bán làm nô lệ, tuy đau khổ nhưng giống như một thói quen, họ chấp nhận
Vào thế kỷ XVII, thương mại nô lệ hoạt động tự do, và đạt đỉnh điểm vào cuối thế
kỷ thứ mười tám Đó là một thương mại đặc biệt hiệu quả, vì mỗi giai đoạn của cuộc hành trình đều có thể đạt được lợi nhuận – thương mại tam giác nổi tiếng.Tất cả ba giai đoạn của thương mại tam giác đều tỏ ra hấp dẫn đối với các thương gia châu Âu Giai đoạn đầu tiên của thương mại tam giác liên quan đến hàng hóa sản xuất từ châu Âu sang châu Phi: vải, tinh dầu, thuốc lá, hạt, hàng hoá kim loại và súng Các khẩu súng được sử dụng
để giúp mở rộng đế chế và có được nô lệ nhiều hơn (cuối cùng cho đến khi chúng được sử dụng để chống lại thực dân châu Âu) Các mặt hàng này đã được trao đổi để có các nô lệ châu Phi Giai đoạn thứ hai của thương mại tam giác (đoạn giữa) liên quan đến việc vận chuyển nô lệ từ châu Phi đến các nước châu Mỹ La tinh Giai đoạn thứ ba, và cuối cùng trong Thương mại tam giác, liên quan đến việc quay trở lại châu Âu với các sản phẩm từ các đồn điền sử dụng lao động nô lệ ở châu Mỹ: bông, thuốc lá, đường, mật đường và rượu rum
Trong 200 năm, từ 1440 đến 1640, Bồ Đào Nha là quốc gia đứng đầu về xuất khẩu
nô lệ ở châu Phi Người ta ước tính rằng trong số 4 thế kỉ rưỡi buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương, Bồ Đào Nha chịu trách nhiệm vận chuyển hơn 5 triệu người châu Phi Ở thế
kỷ thứ mười tám khi việc buôn bán nô lệ đạt kỉ lục, 6 triệu người châu Phi bị cưỡng bức
ly hương, thì Anh là tên thương buôn tàn ác nhất phải chịu trách nhiệm cho gần 2,5 triệu người châu Phi bị bắt và vận chuyển ra nước ngoài Đây là một thực tế thường bị bỏ quên bởi vì người ta thường xuyên chỉ trích dẫn đến vai trò chính của Anh trong việc bãi
Trang 19bỏ việc buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương Pháp, Tây Ban Nha cũng đóng một vai trò rất lớn trong buôn bán nô lệ với hơn một triệu nô lệ cho mỗi nước, trong các giao dịch nô
lệ (phụ lục - bản 1.3)
Cuối cùng, việc buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương là một phần quan trọng của lịch sử nhân loại Đây được xem là sự di dân cưỡng bức lớn nhất trong lịch sử nhân loại khi có khoảng 11.328.000 [73, tr.804] người da đen châu Phi bị cưỡng bức đưa đến châu
Mỹ Nó ảnh hưởng đến cấu trúc kinh tế, dân số, xã hội và chính trị ở cả ba châu lục Âu, Phi và Mỹ
Việc buôn bán nô lệ là hậu quả của tính tham lam Những người châu Âu đã có thể trả tiền cho những người châu Âu khác làm việc cho họ, nhưng họ muốn có một lực lượng lao động giá rẻ mà họ không phải trả tiền Họ không phải lo lắng về hành động ngược đãi người lao động hoặc vì họ không thể bỏ thuốc lá, đường Đó là khoản lợi nhuận quá lớn mà người châu Âu có nhờ vào buôn bán nô lệ Nó chỉ kết thúc khi người Anh bắt đầu nhận ra những đau đớn mà họ đã áp đặt lên đồng loại của mình và thông qua sự kết thúc buôn bán nô lệ họ muốn kết thúc luôn nỗi đau đớn đã từng tồn tại
1.1.2 Vấn đề nô lệ trong mười ba thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ
1.1.2.1 Sự hình thành 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ
Năm thế kỷ trước, châu Mỹ là một thế giới mới đang chờ được khám phá Các cường quốc hải quân lớn của châu Âu đã bắt tay vào một loạt các khám phá và những người định cư châu Âu đầu tiên đã để lại dấu ấn đậm nét của mình ở vùng đất thực dân qua những cái tên của các thành phố, tiểu bang, đường phố và các con sông, là những di sản trong hơi thở cuộc sống hiện đại của một Hoa Kỳ đa văn hóa
Trong trào lưu đó, Anh cũng đã sớm thấy được cần phải có được thuộc địa cho bản thân ở châu lục mới để khẳng định vị trí cường quốc của mình Điều đó không chỉ nhằm thỏa mãn tham vọng về sức mạnh trên trường quốc tế, mà trên hết đó chính là Anh đang cần chuẩn bị sẵn cho mình một thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp nguyên liệu, khi mà
Trang 20các công trường thủ công ở Anh đang ngày càng phát triển cuối thời kì trung đại ở thế kỉ mười sáu
Thuộc địa đầu tiên của người Anh ở vùng Bắc Mỹ được thành lập vào năm 1585 trên đảo Roanoke ngoài khơi bờ biển North Carolina Cho đến năm 1607, Jamestown được thành lập, thuộc địa thứ hai này là khu định cư vĩnh viễn đầu tiên của Anh tại Bắc
có nằm mơ họ cũng không dám mơ tới Cuối cùng, dù được thôi thúc bởi những động lực khác nhau để đến đây nhưng cuối cùng họ đã ở lại xây dựng một nền văn minh mới ở phần phía Bắc của lục địa châu Mỹ
Trước khi giành độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ bao gồm một hệ thống 13 thuộc địa của Anh Trong 13 thuộc địa đó, khởi đầu không phải tất cả là do chính quyền Anh thiết lập hay do chính người Anh thành lập mà như đã nói ở trên, một số khu định cư được thành lập bởi một số cá nhân, công ty hay chính phủ từ của Anh cho đến Hà Lan, Thụy Điển Dần dần về sau chính phủ Anh mới thâu tóm tất cả thành thuộc địa dưới sự cai trị trực tiếp của mình Các thuộc địa ấy bao gồm: Virginia/Jamestown (1607), Massachusetts (1620), New Hampshire (1623), Maryland (1632), Connecticut (1635), Rhode Island (1636), Delaware (1638), Bắc Carolina (1663), Nam Carolina (1670), New York (1664), New Jersey (1664), Pennsylvania (1682), Georgia (1732)
Sự hình thành của 13 thuộc địa kéo dài trong vòng hơn 100 năm, dù khởi nguồn như thế nào tất cả cuối cùng đều là thuộc địa của Anh Các vùng đất mới được thiết lập là mong ước của sự khao khát tự do, cuộc sống tươi đẹp và giàu có Điều kiện tự nhiên luôn
Trang 21là thử thách đầu tiên cho những con người mới, nó cũng là yếu tố quyết định cho sự hình thành và phát triển nền kinh tế đặc trưng ở mỗi khu vực trong buổi sơ khai lập nghiệp 1.1.2.2 Những đặc tính tự nhiên, xu hướng kinh tế ở 13 thuộc địa
Từ nền tảng là thời kì đầu thành lập các thuộc địa, với việc thành lập Jamestown, cho đến khi cuộc Chiến tranh giành độc lập bắt đầu, các vùng đất ở bờ biển phía đông Bắc
Mỹ có các đặc điểm địa lí hoàn toàn khác nhau, điều đó tác động đến xu hướng phát triển kinh tế của nó Sau khi thành lập, mười ba thuộc địa của Anh có thể được chia thành ba khu vực địa lý: New England, Trung và Nam Mỗi một khu vực trong số này có sự phát triển kinh tế, xã hội và chính trị cụ thể cho từng khu vực
Vùng New England
Các thuộc địa gồm: New Hampshire, Massachusetts, Rhode Island và Connecticut Khu vực này được biết đến như là những tán rừng giàu có và nghành buôn bán lông thú phát đạt Các bến cảng thì được xây dựng khắp khu vực Khí hậu khắc nghiệt của New England cùng với đất nông nghiệp ở khu vực này là không tốt cho việc trồng trọt Do đó, chỉ có các trang trại nhỏ, chủ yếu là để cung cấp thực phẩm cho bản thân các gia đình chứ không phải cho mục đích thương mại, mà cũng hầu như phải nhập khẩu lương thực từ vùng khác Thay vào đó, New England trở nên thịnh vượng nhờ vào các nghành đóng tàu, ngư nghiệp, đốn gỗ, và buôn bán lông thú song song với mua bán hàng hóa với châu Âu Buôn bán là chính, cho nên nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực lao động da đen không là yếu tố sống còn ở thuộc địa này
Chế độ nô lệ cũng đã tồn tại ở các thuộc địa này nhưng ý nghĩa của nó đối với kinh
tế thuộc địa, chính trị xã hội là không đáng kể Các thuộc địa cũng đã sớm ban hành các biện pháp bằng luật để chống lại việc buôn bán nô lệ và sự tồn tại của chế độ nô lệ
Thuộc địa miền Trung
Thuộc địa: New York, New Jersey, Pennsylvania và Delaware Khu vực này được coi là tuyệt vời cho việc trồng trọt và có nhiều hải cảng tự nhiên Nông dân trồng ngũ cốc
và chăn nuôi gia súc phát triển Các thuộc địa miền Trung cũng tiến hành mua bán như
Trang 22New England, nhưng thông thường họ chỉ kinh doanh các nguyên liệu, phương tiện để đáp ứng nhu cầu sản xuất
Kết hợp các yếu tố dựa trên các đặc điểm khí hậu, địa chất, và hoàn cảnh của khu định cư, chế độ nô lệ được thành lập, nhưng trong một khu vực quá hẹp để có thể phát triển Thứ nhất đất đai tốt nhưng diện tích nhỏ điều này cản trở cơ hội mở rộng của các trang trại thành đồn điền Thứ hai, khí hậu khá là mát mẻ cho các nô lệ mới được nhập khẩu, nhưng địa chất chỉ phù hợp nhất với các loại cây trồng mà lao động nô lệ da đen lại
ít có kinh nghiệm, việc phải huấn luyện lại nô lệ, thói quen khó bỏ của một số lượng lớn
nô lệ đã dẫn đến phát triển kinh tế dựa trên một hệ thống lao động là nô lệ
Xét trên ba động cơ để chế độ nô lệ đến và phát triển lâu dài là: kinh tế, chính trị và đạo đức thì vùng miền Trung này cũng thiếu các yếu tố để chế độ nô lệ tồn tại và phát triển Đầu tiên, việc nhập khẩu các nô lệ vào thuộc địa này là không có lời vì nhu cầu thấp (yếu tố kinh tế bị loại trừ), ngoại trừ việc cung cấp nô lệ làm việc trong gia đình Thứ hai, các thuộc địa này, cũng như những người ở miền Nam, có một nỗi sợ hãi chính trị mơ
hồ về sự hiện diện với số lượng quá lớn những người mà thực dân da trắn cho là thấp kém hơn Thứ ba, những di dân của các thuộc địa này có phẩm chất đạo đức nghiêm khắc hơn những kị sĩ và nhà thám hiểm Ở các thuộc địa miền Trung, thiếu vắng các động cơ để phát triển chế độ nô lệ Cuối cùng, ta cần lưu ý rằng những thuộc địa này không có ý định đầu tư thương mại lâm thời như Virginia và Carolina Ý định của các thuộc địa là xây dựng một nhà nước vĩnh viễn, cho nên những di dân đầu tiên đã nghiên cứu những lợi ích cơ bản của quốc gia một cách cẩn thận, và chế độ nô lệ đã không phải là một lựa chọn tốt
Thuộc địa miền Nam
Thuộc địa: Maryland, Virginia, North Carolina, South Carolina và Georgia Các thuộc địa này là những khu định cư mà có khí hậu và đặc tính định cho nó là nhà hát chính của chế độ nô lệ ở Bắc Mỹ Do đó, thái độ thuở ban đầu là đặc biệt hứng thú với lao động nô lệ (phát triển dần từ lao động nô lệ giao kèo sang lao động nô lệ chủng tộc);
Trang 23những hoạt động kinh tế của chúng là yếu tố lớn quyết định đến tương lai của thương mại và thể chế nô lệ ở Bắc Mỹ Các đặc tính của thuộc địa là về khí hậu, đất và xã hội là phù hợp với chế độ nô lệ Về cơ bản, thuộc địa đồn điền miền Nam trồng các loại lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của bản thân cùng với việc trồng các cây công nghiệp chính: thuốc lá, gạo, và chàm Chúng được trồng trên các đồn điền rộng lớn thường được
sử dụng nhân lực là nô lệ và đầy tớ Các đồn điền chiếm giữ một số lượng người lớn cho riêng mình, điều đó ngăn cản sự phát triển của nhiều thị trấn Yếu tố cho thương mại và công nghiệp phát triển sau này ở các thế kỉ tiếp theo
Các yếu tố địa lí đã tác động rất lớn đến xu hướng phát triển kinh tế của cách thộc địa ở buổi ban đầu, tựu trung có 3 khuynh hướng phát triển chính là: thương mại, đồn điền và trang trại Chính xu hướng này tác động một phần không nhỏ đến nhu cầu sử dụng nhân lực từ đó dẫn đến sự phát triển của chế độ nô lệ, thể chế có những tác động ghê gớm đến, kinh tế, chính trị và xã hội của bản thân các thuộc địa và Hoa kỳ sau này
1.1.2.3 Sự phát triển kinh tế thuộc địa và ưu thế của hệ thống lao động nô lệ ở Hoa Kỳ thời thuộc địa (1619 – 1775)
Như đã nói ở trên, mỗi khu vực thuộc địa có đặc tính về điều kiện tự nhiên, khí hậu….khác nhau đã tạo ra các xu hướng phát triển kinh tế ở mỗi khu vực, điều này đã tác động rất lớn đến sự có mặt của những người châu Phi ở các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ trong thế kỉ 17 Có một sự thống nhất trong quan điểm các sử gia về sự xuất hiện và phát triển của chế độ nô lệ chủng tộc ở Hoa Kỳ thời thuộc địa là dù nó tồn tại ở khắp 13 thuộc địa, nhưng khi nói đến chế độ nô lệ, người ta thường gắn liền nó với các thuộc địa ở phía Nam, đặc biệt là vùng Chesapeake Các thuộc địa này thường được biết đến như là thuộc địa với các đồn điền thuốc lá, gạo, chàm, bông… lớn, trung tâm thống trị của chế độ nô
lệ chủng tộc ở Hoa Kỳ thời thuộc địa, cũng như thời kì trước nội chiến Hệ thống các đồn điền trồng lúa, thuốc lá, bông quy mô lớn ở Virginia, Carolina và Georgia là những thứ
mà vùng New England không thể có được, yếu tố này giúp xác định tính chất “xã hội nô
lệ” của các thuộc địa miền Nam
Trang 24Nhìn từ góc độ kinh tế, ta thấy mối quan hệ giữa việc ngày càng quan trọng của hệ thống lao động nô lệ da đen và sự phát triển kinh tế ở thuộc địa là khá rõ Chẳng hạn như
ở Virginia, năm 1607, Jamestown được thành lập, với mục đích ban đầu của các di dân là vàng và khoáng sản Cho đến khi họ phát hiện ra sự thích hợp của cây thuốc lá ở vùng đất
đó Thời điểm này, giá của thuốc lá ở thị trường châu Âu cũng rất cao Do đó, “ thuốc lá,
thống trị nền kinh tế của Virginia từ sau năm 1622, là cây trồng chính của các thuộc địa vùng Chesapeake, sự tăng trưởng của nó là một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của lịch sử thuộc địa của chúng ta” [ 58, tr.94] Việc phát triển cây thuốc lá đã mở ra
lối thoát cho những di dân Anh, đồng thời cũng bắt đầu cho trang lịch sử đen tối của chế
độ nô lệ ở Hoa Kỳ Nhìn vào Bản thống kê 1.1 bên dưới, qua đó ta có thể dễ dàng nhận thấy số lượng xuất khẩu thuốc lá không ngừng tăng theo cấp số nhân trong suốt thế kỉ 17
ở Virginia Trong khi đó, trồng lúa lại được tập trung tại các thuộc địa South Carolina, với khu Georgetown nổi lên như một khu vực sản xuất chính (xem Bản thống kê 1.2)… tất cả các con số đó đã báo hiệu một cơn khát nhân lực trong tương lai ở các thuộc địa này
Bảng thống kê 1.1: Xuất khẩu thuốc lá của thuộc địa Virginia*
60,000 lbs
300,000 lbs
1,500,000 lbs
20,000,000 lbs
100,000,000 lbs
Bảng thống kê 1.2: Xuất khẩu gạo của thuộc địa South Carolina**
5 tấn 330 tấn
5.000 tấn
10.000 tấn
25.000 tấn
35.000 tấn
40.000 tấn
42.000 tấn
(*)và(**)Sẵn sàng tại http://www slaveryinamerica.org/history/hs_es_ tobacco_slavery htm)
Sự phát triển của nền kinh tế đồn điền đã làm xuất hiện vấn đề về lao động một cách nghiêm trọng Bởi vì đến những năm 1620, dân số của Virginia chỉ dao động từ 351 người (1616) đến 2400 người (1620) [33, tr.22], sự thiếu hụt lao động ở Virginia là một
Trang 25vấn đề cấp bách Đến nỗi năm 1619, công ty Virginia lập hệ thống thưởng (headright), sẽ
cung cấp đất cho mọi người dựa trên mỗi người mà họ có thể lôi kéo đến định cư tại Virginia Vấn đề nhân lực được giải quyết, không còn là nỗi lo ám ảnh cho các chủ đồn đồn điền thuốc lá khi tôi tớ giao kèo da trắng luôn có đủ để cung cấp Nhưng sự đảm bảo
đó không là mãi mãi vì khi kinh tế thuộc địa phát triển, kinh tế Anh cũng phát triển sau khi nội chiến ở Anh kết thúc và tin tức về các công việc nặng nhọc trên cánh đồng thuốc
lá, gạo và chàm ở miền Nam vượt quá sức chịu đựng của người da trắng đã dẫn đến việc
số lượng người da trắng nghèo đến từ Anh giảm Điều đó dẫn đến một hệ thống lao động khác dần dần thay thế cho hệ thống lao động giao kèo da trắng, đó chính là hệ thống lao động nô lệ da đen người châu Phi Với sự thay đổi này xã hội miền Nam chỉ còn có thể tồn tại và phát triển dựa trên hệ thống lao động nô lệ da đen
Ngược lại, ở các thuộc địa miền miền Trung và Bắc, điều kiện tự nhiên và xu hướng phát triển kinh tế không hoàn toàn phù hợp cho sự phát triển của một nền kinh tế dựa trên lao động nô lệ Chẳng phải vấn đề đạo đức hay tôn giáo đã ngăn cản sự phát triển của nó, mà đơn giản chỉ là buôn bán lông thú, đóng thuyền, xây dựng chỉ cần một số lượng nhỏ lao động, số lượng lao động di dân da trắng đã đủ để đáp ứng cho nhu cầu này, mặc dù vậy cũng đã có sự xuất hiện nguồn nhân lực da đen từ khá sớm
Khu vực thuộc địa miền Trung đất đai tốt, phù hợp cho nông nghiệp Nhưng đồng bằng nhỏ lại bị chia cắt bởi địa hình tự nhiên chế độ nô lệ đã không bám rễ chắc ở đây
Do đó, mặc dù có các yếu tố cơ bản cho việc hình thành một xã hội có nô lệ tương tự như miền Nam, nhưng các thuộc địa này lại thiếu đi các động cơ kích thích sự phát triển của chế độ nô lệ để nó có thể trở thành một xã hội nô lệ điển hình giống như sự phát triển chế
độ nô lệ ở miền Nam Ở các thuộc địa phía Bắc, nơi các nô lệ được tham gia nhiều hơn trong lĩnh vực phi nông nghiệp (chẳng hạn như khai thác mỏ, hàng hải, và làm việc nhà), được đối xử tốt và ít khắc nghiệt hơn so với nô lệ ở các thuộc địa phía Nam, nơi mà hầu hết nô lệ được sử dụng trên các đồn điền
Trang 26Theo thời gian, chế độ nô lệ phát triển mạnh mẽ ở miền Nam thượng hơn so với miền Bắc Tuy nhiên có một số khu vực ở miền Bắc vào đêm trước của cuộc cách mạng giành độc lập, nô lệ cũng đóng vai trò quan trọng trong trật tự kinh tế và xã hội phố như ở New York và miền bắc New Jersey, ở vùng nông thôn của Pennsylvania, và thị trấn vận tải Connecticut và Rhode Island Cộng đồng dân số da đen ở một số nơi cao hơn nhiều so với khi chúng được xem xét đến trong thế kỷ 19 Hơn 3.000 người da đen sống ở Rhode Island năm 1748, chiếm 8,9% dân số [33, tr.10], 4.606 người da đen ở New Jersey năm
1745, chiếm từ 7% đến 8% dân số [33, tr.16]; và gần 11.000 người da đen sống ở New York năm 1754, chiếm 11,5% dân số [33, tr.15]
Đúng như nhà báo, sử gia David Brion Davis đã viết “Ngay từ đầu, những quốc
gia hàng hải châu Âu, từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở thế kỉ 16 đến Pháp và Anh ở thế
kỉ 17, không bắt tay vào việc thực dân hóa vùng đất mới với ý định dựa vào nô lệ Châu Phi (ngoại trừ Nam Carolina –Hoa Kỳ)” [32, tr.81]nhưng đất rộng, kinh tế đồn điền phát triển, nguồn nhân lực tại chỗ thiếu buộc lòng dân định cư da trắng phải nghĩ đến nguồn nhân lực thay thế, người da đen châu Phi là lựa chọn thích hợp nhất Với sự phân tích ở trên, chúng ta nhận ra chính xu hướng phát triển kinh tế sẽ quyết định đến sự hình thành
và tồn tại của chế độ nô lệ chủng tộc ở châu Mỹ nói chung và Hoa Kỳ nói riêng Đối với trường hợp của Hoa Kỳ, có thể nói chế độ nô lệ bắt rễ từ sự phát triển kinh tế đồn điền ở các thuộc địa Virginia, Carolina và Georgia Và sự chuyển biến từ việc dùng hệ thống lao động giao kèo sang hệ thống lao động nô lệ ở các thuộc địa này là dễ thấy nhất, không những vậy nó còn có thể thấy sự chuyển biến ấy trong các thực hành xã hội và luật pháp
Một thể chế kinh tế, chính trị - xã hội nô lệ đã được khôi phục lại không do ý muốn ban đầu của con người nhưng được thực hiện bởi chính con người, trở thành một vấn đề lớn và quan trọng trong lịch sử nhân loại Máu, nước mắt của biết bao thế hệ người da đen
và thậm chí của chính những người da trắng đã đổ để nó chỉ còn là quá khứ nhưng vẫn khiến người ta đau đớn khi nhắc đến
1.1.2.4 Chế độ nô lệ đến và phát triển ở Hoa Kỳ trong giai đoạn thuộc địa ( 1619 -1775)
Trang 27Một thời gian ngắn sau khi Virginia thành công trong việc thành lập và duy trì thuộc địa vĩnh viễn đầu tiên của Anh ở Bắc Mỹ, việc trồng thuốc lá đã được xác định đó
là cách chính mà thuộc địa có thể có được lợi nhuận Chẳng bao lâu sau đó, Maryland, một thuộc địa khác của Anh được sáng lập ở phía bắc Virginia, phía bên kia sông Potomac đó là cũng phát triển thuốc lá Việc sản xuất thuốc lá nảy sinh một nhu cầu to lớn cần được đáp ứng đó chính là nguồn nhân lực lao động trên các cánh đồng
Thực tế là khi chưa có một hệ thống lao động gọi là nô lệ chủng tộc, thì hệ thống lao động “tôi tớ giao kèo” chiếm ưu thế, tồn tại trong gần hết thế kỉ 17 Nó cũng không kém phần vất vả, độc ác, tàn bạo,… như chế độ nô lệ chủng tộc Theo hệ thống này,
những người nghèo ở Anh, tự nguyện hoặc không, đã ký một hợp đồng được gọi là “Bản
khế ước”, nội dung của nó là yêu cầu họ đến thế giới mới và làm việc như là một người
tôi tớ, hầu như luôn luôn là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Sau nhiều năm làm việc cho người khác, người đó sẽ nhận được tự do và một khoản thanh toán, thường là quần
áo, dụng cụ trang trại chẳng hạn như một cái rìu, cuốc, và một số lượng nhỏ các sản phẩm thực phẩm như ngô, và một mảnh đất Hơn ba phần tư người dân đến thuộc địa trong thế
kỷ thứ mười bảy là tôi tớ giao kèo Trong thực tế, điều kiện lao động, sinh hoạt khắc nghiệt, rất nhiều tôi tớ giao kèo đã chạy trốn khỏi trang trại Tuy nhiên, mặc dù hệ thống lao động giao kèo không hoàn hảo, nhưng nó đã rất thành công trong việc đáp ứng nhu cầu lao động của thuộc địa, ít nhất trong vài thập kỷ đầu tiên cho sự tồn tại của chính
nó vì vậy “trong gần suốt thế kỉ 17, tôi tớ giao kèo da trắng tiếp tục là chế độ lao động
thống trị” [62, tr.90] ở các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ
Người châu Phi trong giai đoạn này cũng là tôi tớ có giao kèo, tương tự như ở vị trí pháp lý của nhiều người Anh nghèo, thực tế đó chứng minh quan niệm về hệ thống nô lệ dựa trên chủng tộc không tồn tại cho đến những năm 1680 Nhưng với sự thành công của thuốc lá, chế độ nô lệ châu Phi đã được hợp pháp hoá ở Virginia và Maryland Chẳng bao lâu sau tất cả mười ba thuộc địa sẽ lần lượt xác nhận tính pháp lý cho sự tồn tại của chế
độ nô lệ chủng tộc
Trang 28Lịch sử chế độ nô lệ Hoa Kỳ thường được bắt đầu bằng sự kiện mua bán thành công 20 nô lệ da đen giữa các di dân ở Jamestown, Virginia với một tàu buôn Hà Lan vào năm 1619 [32, tr.124] Nhưng chúng ta cũng biết rằng có nhiều người da đen đã đến Jamestown trước khi sự kiện này diễn ra Những nô lệ da đen đã xuất hiện ở Florida thuộc Tây Ban Nha vào những năm 1560 [62, tr.124] Hay là ở New Netherland thuộc Hà Lan, sau này trở thành New York của người Anh năm 1664, đã phụ thuộc rất nhiều vào nhân lực nô lệ da đen hơn là Virginia và Maryland trong cùng thời điểm Có thể nói chế độ nô
lệ chủng tộc đã bị đưa đến Hoa Kỳ trong những cách rất đa dạng và không thể nói một cách chính xác nó bắt đầu từ khi nào được
Sau sự kiện được ghi nhận trong sử sách này, số lượng nô lệ da đen tiếp tục tăng dần trong những thập niên tiếp theo, nhưng với một số lượng rất ít Số lượng không hề lớn người da đen trong tổng số dân ở các thuộc địa cho đến cuối thế kỉ 17 đã cho thấy điều
đó Chẳng hạn ở Virginia, thuộc địa lâu đời và luôn nắm giữ số lượng nô lệ da đen nhiều nhất qua các thời kì cho đến khi chế độ nô lệ bị xóa 1865 cũng chỉ có sự phát triển chậm chạp số lượng nô lệ da đen trong thế kỉ 17 như sau:
Cho tới năm 1640, chỉ có khoảng 150 người da đen ở Virginia [62, tr.94], trên tổng
số 8.100 người da trắng [30, tr.404] Năm 1649 là khoảng 300 nô lệ da đen [33, tr.22] trên
số 15000 người da trắng [33, tr.19] và năm 1680, con số này đã tăng lên đến 3.000 và năm 1700 con số này là khoảng 10.000 [62, tr.94&112] Nhưng chỉ 15 năm sau, tức là năm 1715, con số này đã là 23.000 nô lệ da đen trong tổng số 95000 người ở thuộc địa [25, tr.378] Vậy để đạt đến con số 10.000 nô lệ, Virginia cần đến 80 năm trong thế kỉ 17, nhưng chỉ cần chưa đến ¼ thời gian như thế để tăng lên gấp đôi con số đó Điều đó cho thấy sự phụ thuộc ngày nhiều của nền kinh tế đồn điền vào nhân lực nô lệ da đen, có nghĩa là số lượng và tốc độ gia tăng cơ học người da đen ngày càng nhiều đến thuộc địa này Đó cũng là tình hình chung của các thuộc địa lân cận nó Điều đó chứng minh rằng chế độ nô lệ chủng tộc ở Hoa Kỳ, chỉ thực sự phát triển vào thập niên cuối của thế kỉ 17
và đầu thế kỉ 18 mà thôi
Trang 29Riêng ở Carolina, thuộc địa duy nhất ngay từ khi mới thành lập đã có ngay ý định dựa vào nguồn nhân lực để phát triển kinh tế của mình Nô lệ châu Phi đã được nhập khẩu ngay từ những ngày đầu tiên Năm 1671, John Yeamans từ Barbados đến định cư tại Ashley River (Charleston trong tương lai) với 200 nô lệ châu Phi Năm 1701 có khoảng
5000 người da trắng, đến năm 1715 có 7500 người da trắng và 3750 người da đen [33, tr.25] ở North Carolina, còn ở South Carolina lần lượt là 6250 và 10500 [25, tr.378]
Đồng thời, việc mở rộng các ngành công nghiệp New England đã tạo ra một tình trạng thiếu lao động, và cần nô lệ để lấp đầy Từ ít hơn 200 nô lệ vào năm 1676, và 550
nô lệ vào năm 1708, dân số nô lệ của tiểu bang Massachusetts đã tăng lên khoảng 2.000 vào năm 1715 [25, tr.378] Đạt tỷ lệ lớn nhất của số dân nô lệ da đen trên tổng số dân giữa 1755 và 1764 Ở Boston có khoảng 10% dân số là người da đen năm 1752
Ở New York, năm 1664 chỉ có khoảng 300 nô lệ da đen [32, tr.128] (trong tổng số
375 người da đen) trên tổng số dân là 7000 người [33, tr.13], mà ta cũng biết đây là thời điểm Anh mới giành được vùng đất này từ tay người Hà Lan, tên cũ vốn là New Amsterdam, thuộc địa từ lâu đã có tiếng là sử dụng chế độ nô lệ da đen mà tỉ lệ người da đen cũng chỉ ở mức 4.3% dân số
Nhìn vào các con số, chúng ta có thể kết luận người da đen ở các thuộc địa Anh chỉ giới hạn ở mức nhỏ trong thế kỉ 17 Tất cả các số liệu đó cho thấy xu hướng phát triển kinh tế ở thuộc địa đã kéo theo sự phát triển của số lượng nô lệ da đen được nhập vào Bắc
Mỹ trên khắp 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ
Nguồn nô lệ da đen đến các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ vào giai đoạn đầu không phải nhập khẩu trực tiếp từ châu Phi mà hầu hết là đến từ các cảng nô lệ ở vùng West Indies
“Edmund Jenings, chủ tịch hội đồng Virginia, đã báo cáo trước Ủy ban thương mại rằng:
trước 1780, người châu Phi được mang tới Virginia là hoàn toàn được nhập khẩu từ Barbados”.[62, tr.90] Không chỉ Virginia mà hầu hết các thuộc địa khác của Anh ở Bắc
Mỹ cũng vậy, phụ thuộc nguồn nô lệ được cung cấp từ vùng Caribbean, điều này chỉ thay đổi khi Anh bắt đầu có vị trí cao trong buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương vào thế kỉ
Trang 3018 Các thương nhân buôn bán nô lệ người Anh bắt đầu cung cấp trực tiếp nô lệ cho các đồng hương của mình ở Bắc Mỹ, điều mà họ không làm trong thế kỉ 17 vì các yếu tố khách quan như: thứ nhất, buôn bán nô lệ còn là độc quyền của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước đó người Anh luôn phải mua lại quyền mua bán nô lệ từ vương triều Tây Ban Nha mà số lượng rất hạn chế; thứ hai nhu cầu nô lệ ở Caribbean và Nam Mỹ cao hơn Phần lớn nô lệ da đen trong thế kỉ 17, 18 là được vận chuyển đến vùng đất đó Ở Bắc Mỹ thì phải sang các thập niên đầu của thế kỉ 18, sự mở rộng và phát triển thuốc lá mới dẫn đến nhu cầu gay gắt về nô lệ da đen để thay thế cho nguồn nhân lực tôi tớ giao kèo da trắng đang ngày cạn dần Vì vậy từ 1700 đến 1775, khoảng 350.000 người nô lệ châu Phi
đã bị đưa đến các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (phụ lục Bảng 1.6) Phần lớn nô lệ đã được nhập trực tiếp từ châu Phi, chứ không phải từ vùng Caribbean như trong thế kỉ 17 nữa
Tóm lại, người da đen xuất hiện ở các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ sớm, gần như đồng thời với sự thành lập của các khu định cư của người Anh ở đây, số lượng người da đen, vị trí và vai trò quan trọng của họ trong nền kinh tế thuộc địa phát triển một cách chậm chạp theo thời gian Chỉ có một sự khó khăn duy nhất là xác định vai trò, tình trạng pháp lí của người da đen trong những thập niên đầu của thế kỉ 17, nô lệ hay chỉ là tôi tớ giao kèo
Đặc biệt, dù tồn tại ở cả 13 thuộc địa cho đến trước cách mạng năm 1775, nhưng chế độ nô lệ có ý nghĩa khác nhau trong đời sống kinh tế, chính trị ở các thuộc địa phía Nam và phía Bắc Số lượng nô lệ bị đưa đến Hoa Kỳ là không nhiều nếu tính trong tổng
số người da đen bị bắt mang đến châu Mỹ, chỉ khoảng 5% trong số 10 đến 12 triệu người được nhập trực tiếp từ châu Phi đến Bắc Mỹ từ 1690 đến 1810 [30, tr.18] và số lượng này cũng không đến trước năm 1680 Bởi vì như trên tôi đã nói, số lượng nô lệ da đen đến Hoa Kỳ đến trước 1680 chủ yếu là từ vùng Caribbean, và số lượng cũng rất ít Nhờ các yếu tố, sự sụt giảm tôi tớ giao kèo da trắng, Anh bắt đầu nắm quyền kinh doanh nô lệ xuyên Đại Tây Dương, kinh tế các thuộc địa miền Nam phát triển theo hướng đồn điền nông nghiệp… thì hệ thống nô lệ da đen mới bắt đầu nổi lên như là hệ thống lao động
Trang 31chính của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (chủ yếu các bang phía Nam) Vậy cuối cùng, chế
độ nô lệ chủng tộc đã đến thuộc địa với số lượng tăng dần từ cuối thế kỉ 17, mạnh nhất vào nửa thế kỉ đầu của thế kỉ 18 Điều đó xảy ra song song và đồng thời với hai hiện tượng, thứ nhất sự phát triển của những đồn điền ở miền Nam và sự lần lượt hợp phát hóa chế độ nô lệ của các thuộc địa, mà bắt đầu từ Virginia (1661) cho đến Georgia (1750) Gần một thế kỉ đó cũng là sự thay đổi khắc nghiệt trong số phận của những người da đen,
từ những người còn được xem là người cho đến chỉ là một thứ tài sản không hơn không kém
1.1.2.5 Sự thay đổi từ tình trạng nô lệ giao kèo thành nô lệ chủng tộc
Khi nói về chế độ nô lệ chủng tộc ở Mỹ, chúng ta đôi khi tưởng tượng rằng chế độ
nô lệ ngay lập tức được hình thành bởi các chủ đất tham lam Nhưng đó không phải là cái cách chế độ nô lệ được hình thành tại các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ Trước hết cần khẳng định sự thay đổi từ tình trạng nô lệ giao kèo thành nô lệ chủng tộc là điều hiển nhiên trong sự phát triển xã hội thuộc địa, sự thay đổi ấy bắt nguồn từ những thay đổi về kinh tế, thói quen và đạo đức xã hội Để xác định chính xác thân phận của những người
da đen là gì? Nô lệ hay tôi tớ? Chế độ nô lệ được chính thức xác lập khi nào? Tất cả câu trả lời chính là hãy nhìn vào sự phát triển của luật pháp trong các quy định về người da đen, da màu
Một trong những nơi mà chúng ta sẽ có cái nhìn rõ nhất về sự chuyển đổi khủng khiếp chính là tại thuộc địa Virginia Không chỉ bởi vì nó là thuộc địa lâu đời nhất, mà vì
nó còn là trung tâm của của chế độ nô lệ của Hoa Kỳ ở giai đoạn đầu, trước Chiến tranh giành độc lập Nơi mà ta có thể nhìn thấy sự phát triển kinh tế đã dẫn đến việc phải nhập khẩu ồ ạt người châu Phi và sự phát triển của luật nô lệ theo năm tháng một cách rõ nhất
Vài thập kỉ đầu trong quá trình phát triển của thuộc địa, tình trạng của người châu Phi là không xác định Một số được đối xử như là tôi tớ giao kèo và tự do sau khoảng một thời gian xác định, thường là 14 năm, nhiều hơn so với tôi tớ giao kèo da trắng Vì vậy, thời điểm này nhiều người châu Phi và người da trắng nghèo nhất của tầng lớp người lao
Trang 32động đến từ Anh, có cùng một vị trí như nhau Nếu phá vỡ hợp đồng “bán thân” của mình thì cả hai dù ở chủng tộc nào cũng đều bị trừng phạt như nhau.[59, tr.299–311] Như vậy, hai mươi người châu Phi được đưa vào Jamestown, Virginia, dù bằng con đường buôn bán nô lệ, nhưng tình trạng thực sự của họ là nô lệ giao kèo chứ không phải là nô lệ suốt đời Vì vậy, cuối cùng họ sẽ đạt được sự tự do của họ, và một số nô lệ sau đó thực sự được tự do và thậm chí làm chủ một mảnh đất và có thể lại có nô lệ giao kèo khác phục
vụ cho mình, nếu, họ sống sót qua cái hạn của bản hợp đồng
Những thực dân Virginia đầu tiên đã không có ngay cả suy nghĩ về màu da trắng của mình hoặc sử dụng nó để mô tả bản thân Chưa có tồn tại ý thức về khái niệm trắng hay đen, tức là ý thức phân biệt chủng tộc chưa xuất hiện Thực dân da trắng chỉ thấy mình là Kitô hữu hay người Anh, hoặc là ai đó trong các tầng lớp xã hội như là tầng lớp quý tộc, nghệ nhân hay tôi tớ mà thôi
Antonio Johnson là một điển hình cho những trường hợp này Ông bị đưa đến thuộc địa vào năm 1621 Tại thời điểm này, người Anh và luật pháp của thuộc địa đã không định rõ về chế độ nô lệ chủng tộc, các cuộc Tổng điều tra dân số vẫn gọi anh ta là
một “tôi tớ” (servant) Sau đó, Antonio đã thay đổi tên thành Anthony Johnson, kết hôn
với một người đầy tớ người Mỹ gốc Phi tên là Mary, và họ đã có bốn đứa con Mary và Anthony cũng đã được tự do, và ông đã sớm sở hữu đất đai và gia súc, thậm chí còn có tôi
tớ giao kèo của riêng mình Đến 1650, vẫn còn là một trong chỉ 400 người châu Phi ở thuộc địa trong số gần 19.000 người định cư Trong quận hạt của Anthony Johnson sống,
ít nhất 20 người đàn ông châu Phi và phụ nữ được tự do Vậy trường hợp Anthony Johnson, cho chúng ta một nhận định, người châu Phi có thể được tự do và có tài sản, điều đó chứng tỏ chưa xuất hiện chế độ nô lệ chủng tộc trong giai đoạn này
Nhưng trường hợp của Emanuel thì sẽ cho thấy một sự chuyển biến trong nhận thức và thực hành xã hội của các thực dân da trắng ở thuộc địa Một nô lệ ở Virginia, tên
là Emanuel, đã bị tòa xử khi chạy trốn bất thành vào tháng Bảy năm 1640, và đã bị kết án: đánh ba mươi roi, in dấu nung chữ “R” cho việc “chạy trốn” (runway) trên má của ông và
Trang 33ông: bị làm việc trong tình trạng bị xích một năm hoặc hơn tùy vào ông chủ của anh ta Điều này chắc chắn là bản hợp đồng giao kèo cũ giữa Emanuel và ông chủ sẽ không còn hiệu lực, vì kết luận của tòa án đã cho phép ông chủ của Emanuel không phải tuân theo các nội dung trong đó trong bản giao kèo cũ Vậy thời hạn của bản hợp đồng mới hoàn toàn phụ thuộc vào ý thích chủ quan của “ông chủ”, người sẽ được hưởng lợi từ sự bóc lột vĩnh viễn sức lao động của Emanuel Bản hợp đồng tôi tớ giao kèo tuy còn sự áp bức của tầng lớp chủ với tôi tớ, nhưng họ còn có mục tiêu sống mong đợi đến ngày được giải phóng mình sau một thời gian đã được ấn định trong hợp đồng, thay vào đó, Emanuel bây
giờ là một nô lệ khốn khổ, và theo định nghĩa của tòa án ông trở thành một “tài sản thuộc
sở hữu của người khác” Trong trường hợp của Emanuel, ông ta từ thân phận tôi tớ giao
kèo trở thành nô lệ suốt đời thông qua quyết định của tòa án
Với trường hợp của John Punch, cho thấy xu hướng muốn thiết lập chế độ nô lệ chủng tộc John Punch là một người da đen và ông làm việc như một nô lệ giao kèo cho một chủ đồn điền Virginia, tên là Hugh Gwyn Bởi vì bị bóc lột và những cuộc đấu tranh của nô lệ liên tục xảy ra ở xung quanh đã thôi thúc John Punch, James Gregory, và Victor, những người làm việc trong một nhóm quyết định bỏ trốn nhưng họ đã bị bắt lại nhanh chóng sau đó Mặc dù chạy trốn trong một hoàn cảnh tương tự như nhau nhưng số phận của các tù nhân chạy chốn hoàn toàn khác nhau bởi quyết định của tòa án Tất cả đều bị đánh roi Điểm khác nhau ở kết luận của tòa án Theo quyết định tòa án, thời hạn trong bản giao kèo của James và Victor bị kéo dài thêm bốn năm nữa, còn thời hạn của John bị kéo dài vĩnh viễn Bản thân chúng ta cũng sẽ không bao giờ thắc mắc, cũng như lịch sử sẽ không bao giờ nhắc hay phán xét lại cái kết quả xử khác nhau của tòa án nếu không vì một lí do: James và Victor là người da trắng, còn John Punch là một người da đen Kết quả khác nhau trong cùng một quyết định của tòa án đến từ sự phân biệt chủng tộc John Punch là một trong những trường hợp đầu tiên ghi lại trong các văn kiện lịch sử: tôi tớ giao kèo bị kết án trở thành nô lệ dựa trên yếu tố chủng tộc Cho đến năm 1661, đây là một tham chiếu để chế độ nô lệ thâm nhập vào pháp luật Virginia Hội đồng Virginia đã
Trang 34thông qua một đạo luật rằng trẻ em là nô lệ hay tự do “tùy thuộc theo tình trạng của người
mẹ” [25, tr.372] Điều này là để giải quyết các trường hợp trẻ em da màu sẫm được sinh
ra bởi các bà mẹ da đen ở thuộc địa để loại trừ những trường hợp như Key Elizabeth Grinstead
Khi các nô lệ da đen cải đạo theo sang Thiên chúa giáo, theo luật Anh họ sẽ được
tự do vì theo luật Anh công dân của nó không được phép nô lệ hóa một con chiên của Chúa Nhưng nếu điều khoản này được áp dụng một cách nghiêm khắc ở thuộc địa của Anh thì chế độ nô lệ đã không thể hình thành và tồn tại Trong giai đoạn đầu các nhà thờ
đã cố gắng hạn chế việc hàng ngàn nô lệ được tự do bằng cách hạn chế làm lễ rửa tội Nhưng về lâu dài Đại hội đồng ở thuộc địa đã giải vây cho các chủ sở hữu nô lệ bằng
cách ban hành một luật nô lệ, “mặc dù chuyển đổi và được rửa tội”, không có nghĩa là
được tự do Luật được ban hành (1667), như là một sự thoái thác luật thánh cấm nắm
giữ người da đỏ như nô lệ, da đen như nô lệ “tất cả các tôi tớ, không phải là Kitô hữu tại
quốc gia bản xứ, nhập khẩu theo đường biển, sẽ là nô lệ suốt đời.” [25, tr.372] Những nô
lệ được trả tự do sau đó là đối tượng không đủ tư cách pháp lý dân sự (noncitizen)
Ngoài ra, các tôi tớ giao kèo, nhất là khi giải phóng, bắt đầu đặt ra một mối đe dọa cho các tầng lớp sở hữu tài sản Sự kết thúc hợp đồng của các nô lệ giao kèo đã, buộc các ông chủ phải thay nguồn nhân lực một cách tốn kém; nô lệ, đặc biệt là những người có thể xác định bởi màu da, không thể di chuyển và không thể trở thành đối thủ cạnh tranh tự do
Từ đó dẫn đến việc sử dụng nô lệ da đen như là một thực hành xã hội phổ biến thay thế cho chế độ lao động giao kèo đã biến mất vĩnh viễn ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỉ 18
Chế độ nô lệ đã phát triển từ một tình trạng nô lệ có thời gian cụ thể thành một tình trạng nô lệ lâu dài, vĩnh viễn và bây giờ nó có thể được thông qua, giống như màu da, từ
thế hệ này sang thế hệ khác Năm 1705, Virginia tuyên bố rằng “Tất cả các tôi tớ nhập
khẩu và được đưa vào thuộc địa , những người không phải là Kitô hữu trong quốc gia bản xứ của họ là nô lệ da đen, nước da ngâm ngâm và người da đỏ sẽ bị nắm giữ như
là tài sản.”[25, tr.375]
Trang 35Tóm lại, giống như các tôi tớ giao kèo trắng, hầu hết số lượng nhỏ người châu Phi, những người đến trong những năm đầu giai đoạn thuộc địa cũng đã được mua như là tôi
tớ giao kèo, không phải là nô lệ suốt đời hay nô lệ chủng tộc Màu da không làm tốt hơn cũng như không làm xấu đi tình trạng của một người đầy tớ; da đen hoặc trắng, tất cả đã
là người tự do vào cuối hợp đồng giao kèo, nói cách khác, một xã hội thuộc địa được phân chia giữa tôi tớ và ông chủ, chứ không phải là người da đen và người da trắng Sự chuyển biến tình trạng của người da đen chỉ thay đổi khi, hệ thống lao động nô lệ thay thế cho lao động giao kèo Đồng thời sự ban hành hành loạt các luật nô lệ của các thuộc địa cũng đã đẩy nhanh việc kết thúc của quá trình này Cuối cùng màu da, tình trạng đến, tình trạng được sinh ra, tình trạng tôn giáo đều đã có luật để trở thành các yếu tố khẳng định
vị trí tự do hay không tự do của một con người trong xã hội Hoa Kỳ
1.1.2.6 Sự phản kháng của nô lệ da đen
Ngay từ đầu, nô lệ châu Phi đã không chỉ ngồi một chỗ và chấp nhận cuộc sống nô
lệ, “nô lệ chống lại tình trạng nô lệ của họ “một cách tự nhiên’ bởi vì chế độ nô lệ về cơ
bản đã không là tự nhiên.”[50, tr.2066] họ đã chống lại tình trạng nô lệ của mình bằng
nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau từ chủ động đến thụ động Sớm nhất là các cuộc nổi loạn bạo lực ngay trên tàu nô lệ trong chuyến vượt biển Đại Tây Dương, tiêu cực hơn
là họ tự tử bằng cách nhịn ăn và từ chối điều trị nếu mắc bệnh Khi đặt chân lên đất của châu Mỹ, hi vọng trở về quê hương là xa vời, họ bắt đầu có các hình thức đấu tranh khác
để thoát hoặc ít nhất là để được cảm thấy thoải mái nhất trong tình trạng nô lệ của mình
Có hai cách đấu tranh cho việc kết thúc tình trạng nô lệ của những người nô lệ Thứ nhất, họ tham gia trực tiếp, trong phạm vi của mình nô lệ có thể thực hiện cuộc đấu tranh bằng năng lực thể chất của chính mình; thứ hai, là những hành động chống chế độ
nô lệ mà không có sự tham dự trực tiếp của nô lệ da đen, họ chỉ là các đối tượng của
phong trào, và hưởng lợi từ phong trào đó
Ở cách thứ nhất, với phương châm “ngày ngày kháng cự” là hình thức phổ biến nhất của nô lệ đối với chế độ nô lệ: phá hủy công cụ lao động, từ chối làm việc, cố ý làm
Trang 36sai hoặc làm việc chậm lại, cố ý phá hủy cây trồng, hoặc phá hoại sản xuất, sản phẩm, giả
vờ bệnh, chạy trốn, giúp người khác chạy trốn … đây là các hình thức không hề mới, nó
sẽ xảy ra ở bất kì thời kì nào trong lịch sử, ở quốc gia, dân tộc nào… nếu như mà một người phải lao động mà họ chẳng hề được hưởng lợi bất kì thành quả nào từ quá trình lao động của mình Những hình thức đấu tranh hàng ngày này làm đau đầu giới chủ nô lệ, nhưng có rất ít người có thể làm được gì để ngăn chặn họ mà không có nguy cơ rủi ro phá hoại rộng hơn trong quá trình sản xuất Bằng cách này, những nô lệ thường đàm phán các điều khoản cơ bản cho thói quen hàng ngày của họ như lịch làm việc, phân phối khẩu phần ăn, các quy tắc chung về cách đối xử, và vv Tất nhiên, chủ nô lệ cũng được hưởng lợi từ các cuộc đàm phán này, nếu như nô lệ hài lòng họ sẽ làm việc chăm chỉ hơn, tăng sản lượng và hiệu quả công việc
Một dạng phản kháng phổ biến của nô lệ là trộm cắp Nô lệ ăn cắp trái cây, rau quả, vật nuôi, thuốc lá, rượu và tiền bạc từ ông chủ của họ Đầu tiên, khẩu phần ăn nô lệ thường không cung cấp đủ dinh dưỡng và năng lượng cần thiết để hỗ trợ cho sự lao động vất vả hàng ngày Nô lệ bị đói lý luận rằng sự giàu có của chủ cần được chia sẻ với những người tạo ra nó Thứ hai, các nô lệ lí luận rằng: nếu ông chủ xem họ chỉ như là một thứ tài sản thì làm gì có tài sản của chủ sở hữu đi “ăn cắp” bất cứ cái gì của chủ sở hữu, hoặc như
Frederick Douglass đã nói “đó chỉ là vấn đề của sự di chuyển - lấy thịt [của chủ] trong
một cái thố đặt vào một cái thố khác; quyền sở hữu về thịt không bị thay đổi bởi sự thay đổi vị trí này ”[34, tr.189]
Chạy trốn, một xu hướng bắt đầu từ những năm 1640 sau sẽ phát triển thành hàng ngàn, và, cuối cùng, hàng chục ngàn người vào thời điểm của cuộc chiến tranh giành độc lập Chạy trốn là nỗ lực của nô lệ để thoát khỏi tình trạng nô lệ, là một minh chứng cho việc từ chối chấp nhận điều kiện sống khắc nghiệt Những người may mắn, đủ để tránh bị phát hiện tìm kiếm nơi trú ẩn an toàn ở các cộng đồng người da đỏ, nơi ẩn náu - bản địa, đầm lầy vùng đất thấp như Great Swamp dọc theo biên giới ven biển Virginia / North Carolina, và, cuối cùng, Canada và các bang tự do Bắc Mỹ (giai đoạn sau) Trong thời kỳ
Trang 37thuộc địa, nô lệ bỏ trốn đã cố gắng để hình thành các cộng đồng chạy trốn được biết như
là các thuộc địa của người da đen bỏ trốn gọi là “maroon” Ẩn mình trong đầm lầy, núi
sâu, hoặc khu vực biên giới, trong nhiều thập kỷ các cộng đồng này đã cản trợ những nỗ lực bắt lại nô lệ chạy trốn của bọn chủ nô
Làm xúc động chủ để được trả tự do hoặc mua tự do cho chính mình khi có thể Đây là các biện pháp hiếm khi xảy ra nhưng không phải là không có Nhiều chủ nô lệ đối
xử với nô lệ như người trong gia đình, và họ đã giải phóng cho nô lệ của mình, đôi khi họ tạo điều kiện cho nô lệ bằng cách cho họ làm thêm ngoài giờ qui định để kiếm tiền
Những hình thức phản kháng bằng bạo lực đã xảy ra tương đối sớm Giữa năm
1676 và 1865, ít nhất có chín cuộc nổi dậy của nô lệ đã nổ ra ở những nơi cuối cùng sẽ trở thành Hoa Kỳ Cuộc nổi loạn sớm nhất chống lại tình trạng nô lệ xảy ra vào thập niên
1760 của Bancon, một người da trắng nghèo đã thu hút nhiều nô lệ da đen tham gia vào
1676 ở Virginia Đây là cuộc phản kháng đầu tiên bằng bạo lực của những người da đen, tầng lớp da trắng nghèo tấn công vào hệ thống chính quyền thực dân Anh Tuy chưa nắm vai trò chính, số lượng ít, và thất bại… nhưng cuộc khởi nghĩa đã để lại tinh thần đấu tranh chống áp bức cho các thế hệ da đen trong thế kỉ tiếp theo Trong những năm đầu thế
kỷ 18 có cuộc nổi dậy của nô lệ ở Long Island năm 1708 và ở thành phố New York trong năm 1712 Nô lệ ở South Carolina đã tổ chức nổi dậy, đỉnh điểm là cuộc nổi dậy Stono năm 1739, họ giành lấy vũ khí, giết người da trắng, đốt cháy nhà của họ Năm 1740 và
1741, nhiều âm mưu nổi loạn của người da đen đã bị phát hiện ở Charleston và New York
Cuộc nổi dậy của các nô lệ thường xảy ra khi dân số nô lệ đông hơn người da trắng, khi chủ vắng mặt, trong thời gian thoái trào kinh tế hay khi có một sự chia rẽ trong các tầng lớp cầm quyền Chúng cũng thường xảy ra một cách phổ biến khi có một số lượng lớn người châu Phi được sinh ra tại bản xứ cùng được đưa vào một khu vực, cùng một thời gian Nhưng các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Mỹ thường không thành công
và kết thúc trong biển máu, cùng thời điểm nhưng các cuộc đấu tranh của nô lệ ở Bắc Mỹ
Trang 38không lật đổ được chế độ nô lệ như ở Nam Mỹ, sự chấm dứt của nó được định đoạt bằng hình thức khác đặc trưng kiểu Mỹ, nội chiến
Khuynh hướng thứ hai là đấu tranh chống chế độ nô lệ Đây là những cách mà thường không do nô lệ chủ động tham gia các phong trào bãi nô tiến bộ Biện pháp hữu hiệu nhất chính là việc xuất bản các ấn phẩm phản đối chế độ nô lệ, tiêu biểu nhất chính
là tự truyện của Olaudah Equiano, trong tự truyện của mình ông đã kết nối độc giả với những trải nghiệm của cuộc sống nô lệ và mô tả cuộc đấu tranh lâu dài của mình để giải phóng bản thân và gia đình… Tuy nhiên trong giai đoạn thứ nhất này cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lệ bằng ngòi bút chưa phổ biến như đầu thế kỉ 19 Phát động lật đổ chế độ nô lệ bằng niềm tin tôn giáo, đạo đức xã hội đặc biệt phát triển mạnh bởi những
người Quaker và sau đợt “Thức tỉnh lần hai” ở Hoa Kỳ Sau Chiến tranh giành độc lập,
phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ đã được tạo đà để phát triển ở miền Bắc
1.2 VẤN ĐỀ NÔ LỆ Ở HOA KỲ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP (1775 – 1783)
1.2.1 Vấn đề nô lệ da đen trước cuộc Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ
Trước khi Chiến tranh giành độc lập nổ ra, chế độ nô lệ chủng tộc đã bám rễ sâu trong xã hội và được bảo vệ bởi luật pháp ở cả 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ Giữa những năm 1700, chế độ nô lệ là một phần quan trọng của nền kinh tế đang phát triển ở các thuộc địa Việc tăng trưởng diện tích đất hàng năm đã làm cho việc thiếu nhân lực luôn là vấn đề lớn của nền kinh tế thuộc địa đặc biệt là ở miền Nam Số lượng nô lệ da đen được đưa đến trong vòng 50 năm trước cách mạng là khoảng 54% (phụ lục Bảng 1.6) trong tổng số nô lệ nhập vào Hoa Kỳ qua tất cả các thời kì đã cho thấy nền kinh tế thuộc địa liên quan mật thiết đến chế độ nô lệ như thế nào
Trong thời kì này tình cảm chống buôn bán nô lệ đã bắt đầu xuất hiện, các kháng nghị chống chế độ nô lệ ở một số bang cũng đã được đệ trình lên quốc hội Chẳng hạn như đối với việc cấm nhập khẩu nô lệ, vào ngày 11 tháng 5 năm 1769 Hội đồng dân biểu
Trang 39Virginia đề nghị các thương gia và các thương nhân, “Đó là họ sẽ không nhập khẩu bất
kỳ nô lệ, hoặc mua bất kỳ nô lệ được nhập khẩu sau ngày đầu tiên của tháng mười tới, cho đến khi các đạo luật này được bãi bỏ”[27, tr.45] Công ước thuộc địa của Virginia,
vào tháng 8 năm 1774, một lần nữa khẳng định “Chúng ta sẽ không nhập khẩu cho chính
mình, cũng như không mua bất kỳ nô lệ hay nô lệ nhập được khẩu từ bất kỳ người nào khác, bất kể từ châu Phi, West Indies, hoặc bất kỳ nơi nào khác, sau ngày đầu tiên của tháng 10 tới”[27, tr.45]
Các nhóm tôn giáo ở thuộc địa bắt đầu đặt vấn đề về thói quen nô lệ người khác của người da trắng, tiêu biểu trong số đó là những người Quaker và Thanh giáo Họ nghi
ngờ về “tính không vi phạm đạo đức tôn giáo” của chế độ nô lệ, tính “không Ki tô giáo”
này được đem ra mổ xẻ và dần dần đã trở thành một phong trào bãi nô của tôn giáo nổi tiếng Tuy nhiên cho đến trước cách mạng vẫn không có cuộc tấn công lớn, mạnh mẽ nào nhằm vào chế độ nô lệ trừ các cuộc khởi nghĩa vũ trang của chính những người nô lệ Nguyên do là bởi vì đa số người dân thuộc địa đã được giáo dục và xem vấn đề nô lệ là những điều bình thường Thái độ này chiếm ưu thế cho đến 1763
Năm 1763 là một năm quan trọng đối với người dân thuộc địa: Năm kết thúc chiến tranh giữa Anh với Pháp và dân da đỏ; Năm bắt đầu chính sách thực dân mới của Anh đối với 13 thuộc địa của mình; Năm bắt đầu có một cách tiếp cận mới đối với chế độ nô lệ Chính sách mới của Anh đối với các thuộc địa được xem như là một mối đe dọa đối với tự do kinh tế và chính trị của các thuộc địa Nhiều người đồng thời nhận ra một nghịch lí: những nhà thực dân bị áp bức là chủ nô lệ Người da trắng áp bức người da trắng và người da trắng bị áp bức đó đang áp bức một lượng lớn người da đen Những người da trắng bị áp bức đấu tranh vì lí tưởng độc lập và tự do cho mình nhưng họ quên mất rằng bất kể ai là con người đều có quyền đó, khao khát đấu tranh để có được quyền
đó, người da đen không là ngoại lệ
Không phải tất cả những người thực dân đều như vậy, nhiều người đã bắt đầu đấu tranh và có những hành động thiết thực cho việc xóa bỏ chế độ nô lệ ở thuộc địa Đầu tiên
Trang 40là các nỗ lực làm việc để chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ trong việc buôn bán nô lệ Tiêu biểu có những cái tên sau đây: John Woolman, Anthony Benezet, Benjamin Rush, Benjamin Franklin… Trong đó, Benjamin Franklin là nhân vật mạnh mẽ nhất tố cáo chế
độ nô lệ Một số lãnh đạo thuộc địa đã bắt đầu tố cáo chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ Những nỗ lực của họ đã có kết quả vào cuối cuộc chiến tranh giành độc lập
1.2.2 Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1775 – 1783)
Chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ (1775-1783) còn được gọi là Chiến tranh Cách mạng Mỹ hay Cách mạng Mỹ Cuộc xung đột nảy sinh từ những căng thẳng ngày càng tăng giữa các cư dân của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ và chính phủ thuộc địa, đại diện cho Hoàng gia Anh
Tất cả nguyên nhân bắt đầu là từ sau cuộc chiến tranh giữa Anh với Pháp và người
da đỏ (1754 -1763) Dù chiến thắng nhưng Anh phải mất một số tiền khá lớn do các chi phí của cuộc chiến tranh Anh đã phải đối mặt với một khoản nợ quốc gia khổng lồ sau
cuộc chiến tranh Bảy năm này Món nợ đã phát triển từ “£ 72.289.673 năm 1755 lên £
129.586.789 năm 1764”[78] Anh cho rằng những người ở thuộc địa phải có trách nhiệm
với các phí tổn đó vì cuộc chiến tranh xuất phát từ việc Anh chiến đấu để bảo vệ quyền lợi cho họ Cách duy nhất để chính quyền Anh thu lại các chi phí đã bỏ ra là từ các khoản đóng thuế của người dân thuộc địa Khi phải đóng nhiều khoản thuế mà người dân thuộc địa cho là vô lí họ bắt đầu cảm thấy bị chèn ép và cho rằng nghị viện Anh không xem họ như là những công dân của Anh, việc không có quyền cử đại diện của mình trong nghị viện Anh đã chứng minh điều đó Không có đại diện trong nghị viện Anh nhưng họ phải chấp nhận và hoàn thành các nghĩa vụ thuế một cách vô điều kiện Tuy nhiên người dân thuộc địa đã nhận ra sự bất công đó, không có đại diện như vậy có nghĩa là quyền lợi của
họ đã không được bảo đảm Người dân thuộc địa đã tranh luận rằng nếu họ không có đại diện trong nghị viện Anh thì họ không có trách nhiệm phải đóng các loại thuế áp đặt đó Mẫu thuẫn nảy sinh và ngày càng bị đẩy lên cao khi mà những yêu cầu được cử đại diện của mình đến nghị viện Anh đã liên tục bị phớt lờ