Đề tài không đề cập đến các vấn đề khác liên quan đến sự phát triển của ngành da giày như công nghệ da giày, qui hoạch các vùng sản xuất, … Luận án đề xuất các loại công cụ tài chính nào
Trang 1PHAN KỲ VŨ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2002
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Trong quá trình đổi mới và hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, nhất thiết sẽ dẫn đến quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải chọn lựa một số ngành kinh tế, một số lãnh vực sản xuất nhất định mà ở đó có thể khai thác các lợi thế về lao động, về nguyên vật liệu, về các loại tài nguyên khác để trao đổi với các nước trên thế giới
Một trong những ngành kinh tế có lợi thế đó của Việt Nam là ngành da giày Ngành da giày Việt Nam vừa mới phát triển khoảng trên 10 năm trở lại đây nhưng nó đã chứng tỏ có hiệu quả kinh tế xã hội Hằng năm ngành
da giày đã mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ nhất định và không ngừng tăng trưởng Năm 2000, giá trị xuất khẩu của ngành da giày là gần 1,5 tỉ USD tăng gấp 12 lần so với năm 1993(chưa kể sản phẩm túi da, cặp sách, hàng lưu niệm) đứng thứ 3 về xuất khẩu sau dầu thô và dệt may Ngành da giày Việt Nam đang phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 3,1 tỉ USD vào năm 2005 và khoảng 4,7 tỉ USD vào năm 2010
Để đạt được những chỉ tiêu nói trên, ngành da giày Việt Nam cần phải được quan tâm đầu tư vốn công nghệ và nguồn nhân lực một cách đầy đủ và hợp lý Nói một cách khác, là phải có một giải pháp đồng bộ về các chính sách, trong đó chính sách tài chính là quan trọng để thu hút đầu tư của toàn xã hội, của nội lực và ngoại lực, của nhà nước và nhân dân
Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các giải pháp tài chính nhằm góp phần phát triển nền kinh tế nói chung, ngành da giày Việt Nam nói riêng là một việc làm rất cần thiết
Với mục đích nói trên, tôi đã chọn đề tài:
“Các giải pháp tài chính để ngành da giày Việt Nam trở thành ngành kinh tế quan trọng trong giai đoạn từ nay đến năm 2010” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ kinh tế của tôi
2 Mục đích nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu vị trí của ngành da giày trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, qua đó xác định được những việc phải làm để phát triển ngành da giày trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế đất nước
Trang 3Luận án nghiên cứu những tác động của các giải pháp tài chính vào quá trình phát triển ngành da giày của Việt Nam trong thời gian qua; qua đó rút ra được những mặt thuận lợi, khó khăn và triển vọng phát triển của ngành da giày trong thời gian tới Đề ra những giải pháp tài chính cho quá trình phát triển ngành da giày đến năm 2010
Luận án sẽ đề xuất những giải pháp tài chính nhằm củng cố và phát triển các doanh nghiệp nhà nước để giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời cũng khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế khác đặc biệt là tư nhân tham gia phát triển ngành da giày Việt Nam Ngoài việc thúc đẩy đầu tư, khuyến khích hỗ trợ của nhà nước, luận án còn đề xuất các giải pháp để tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khác nhau trong ngành da giày Kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước và tăng cường sức cạnh tranh ở các nước trong khu vực và quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về thuật ngữ, da giày là các sản phẩm giày, dép và đồ dùng bằng da như túi xách, bóp, ví,… Trong giày dép có giày dép làm bằng da súc vật có giày dép làm bằng vải, giả da, simili, giày dép cao su… Do đó phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách tài chính phục vụ cho việc phát triển ngành da giày, phục vụ cho việc sản xuất giày da, các đồ dùng bằng
da và các chính sách tài chính phục vụ cho ngành sản xuất nguyên phụ liệu của ngành giày dép và phát triển chính ngành sản xuất giày dép
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là đường lối phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Nghiên cứu những lợi thế của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế
- Nghiên cứu vai trò của tài chính đối với quá trình phát triển một ngành kinh tế nói chung và của ngành da giày nói riêng
- Nghiên cứu quá trình phát triển của ngành da giày Việt Nam trong thời gian qua Nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển ngành da giày ở các nước đang phát triển
- Nghiên cứu sự phát triển các công cụ của thị trường tài chính, qua đó đề xuất giải pháp tài chính cho ngành da giày Việt Nam trong thời gian tới
Trang 4Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi các giải pháp tài chính và những giải pháp hỗ trợ khác để phát triển ngành da giày Việt Nam từ nay đến năm 2010 Đề tài không đề cập đến các vấn đề khác liên quan đến sự phát triển của ngành da giày như công nghệ da giày, qui hoạch các vùng sản xuất, …
Luận án đề xuất các loại công cụ tài chính nào mà ngành da giày có thể sử dụng để huy động vốn, các định chế tài chính nào có thể góp phần đắc lực nhất cho việc huy động vốn, thực hiện liên kết kinh doanh giữa các doanh nghiệp da giày trong các thành phần kinh tế để sử dụng vốn có hiệu quả hơn Luận án cũng kiến nghị với nhà nước về những thể chế tài chính cần tiếp tục thay đổi, bổ sung nhằm khuyến khích phát triển ngành da giày và tạo ra lợi thế cạnh tranh của da giày Việt Nam trên thị trường quốc tế Luận án cũng cảnh báo về những nguy cơ có thể tụt hậu của các doanh nghiệp da giày Việt Nam, nếu không vươn lên tự sản xuất nguyên phụ liệu trong nước cũng như kéo dài và ỷ lại thị trường gia công
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề liên quan của luận án Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu những số liệu thực tế đã nghiên cứu, đồng thời luận án cũng sử dụng kinh nghiệm của các nước trong khu vực để vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể củaViệt Nam hiện nay
5 Các kết quả nghiên cứu
Luận án đã trình bày một cách có hệ thống lý luận về vị trí của ngành
da giày, thực trạng của việc sử dụng công cụ tái chính trong việc phát triển ngành da giày và đề xuất các giải pháp tài chính góp phần xây dựng ngành
da giày trở thành ngành kinh tế quan trọng trong giai đoạn từ đây đến năm
2010 Những nội dung chủ yếu của các giải pháp tài chính trong ngành da giày được trình bày trong luận án là : giải pháp về vốn đầu tư để mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ bao gồm huy động vốn trực tiếp, gián tiếp hoặc vay nước ngoài; giải pháp về chính sách tài chính của nhà nước bao gồm giải pháp về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước và giải pháp về thuế thu nhập; giải pháp tài chính khác như giải pháp tài chính cho đào tạo, giải pháp tài chính để xây dựng khu vực sản xuất nguyện phụ liệu; giải pháp tài chính cho tìm kiếm thị trường và giải pháp liên kết kinh tế – tài chính
Trang 56 Kết cấu luận án
Luận án được trình bày với khối lượng 164 trang gồm có 32 biểu bảng,
1 sơ đồ, 3 đồ thị và 5 phụ lục Luận án gồm có phần mở đầu, kết luận và
Để minh họa cho luận án, chúng tôi sử dụng số liệu của Bộ công nghiệp, Tổng công ty da giày Việt Nam, Hiệp hội da giày Việt Nam,Tổng cục Hải quan,… nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của luận án
Trang 6CHƯƠNG I
VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DA GIÀY VÀ VAI TRÒ CỦA
TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM
1.1 VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DA GIÀY TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1 Vị trí của ngành da giày trong đường lối phát triển nền kinh tế Việt Nam
Bất cứ một đất nước nào muốn phát triển kinh tế trước hết đòi hỏi phải có sự ổn định về chính trị, loại bỏ được các mầm móng của chiến tranh, xung đột sắc tộc, xung đột đảng phái Sự ổn định chính trị đó luôn luôn đặt trên nền tảng chế độ chính trị có sự ủng hộ của quần chúng nhân dân lao động hay không Nếu sự ổn định chính trị không dựa trên cơ sở sự ủng hộ của toàn dân thì sự ổn định đó chỉ là nhất thời Tổ chức tư vấn về các nguy
cơ và chính trị(PERC) trong tháng 10 năm 2001 công bố kết quả điều tra đối với các nhà kinh doanh khu vực cho thấy Việt Nam là địa điểm an toàn nhất trong vùng châu Á- Thái Bình Dương
Chế độ xã hội chủ nghĩa là niềm mơ ước của nhân dân, song việc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa từ một nước nghèo nàn, lạc hậu cần thiết phải trải qua nhiều thời gian cam khổ Đảng và nhà nước Việt Nam đã thật sự sáng tạo và đã đề ra được một đường lối đổi mới nền kinh tế, lấy kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế nước nhà Cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu đã gặt hái được sự thành công Từ một nước thiếu gạo phải nhập khẩu, Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới Từ một nước luôn luôn ở trong tình trạng khủng hoảng thiếu hàng hóa tiêu dùng, thiếu tư liệu sản xuất, không có sự giao lưu kinh tế quốc tế, đã xây dựng một thị trường hàng hóa phong phú và thậm chí đang bị “khủng hoảng thừa” hàng hóa, giao lưu hàng hóa xuất nhập khẩu phát triển liên tục Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu dầu lửa, cao su, cà phê của thế giới, nhiều mặt hàng xuất khẩu khác đang có thể đứng vững trên thị trường thế giới như mặt hàng may mặc, da giày, các loại sản phẩm từ biển,… Càng ngày Việt Nam càng khẵng định sự cần thiết phải thực hiện chiến lược
Trang 7kinh tế thị trường mở cửa, mở rộng giao lưu kinh tế trong sự ổn định tất yếu sẽ gặt hái được nhiều thắng lợi hơn nữa
Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000, báo cáo của Ban chấp hành trung ương tại Đại hội 8: “Phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm và công nghiệp hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời hướng mạnh về xuất khẩu, ưu tiên phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả cao”[33, trang179] Về phát triển công nghiệp, báo cáo đã coi trọng việc phát triển ngành công nghiệp nhẹ, nhất là dệt may, da giày,… Nhà nước chủ trương cần phải hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, chuyễn dần hình thức gia công trong ngành da giày sang sản xuất hàng xuất khẩu
Công nghiệp giày dép là ngành có ý nghĩa trọng tâm trong giai đoạn chuyễn đổi của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Ngành da giày là một phần cấu thành trong chính sách định hướng xuất khẩu của đất nước, nằm trong những nổ lực của Việt Nam để hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Sự cố gắng và thành công của ngành
da giày sẽ mở đường cho sự xuất hiện một chiến lược định hướng phát triển xuất khẩu rầm rộ trong cả nước Ngược lại, nếu không phát triển được ngành da giày hướng về xuất khẩu thì đó là biểu hiện của những trở ngại có tính bảo thủ, sức ỳ trong nước và là của sự bất lực, không phát huy được lợi thế so sánh tiềm năng Vì vậy, việc phát triển ngành da giày không chỉ với tư cách là một ngành kinh tế quan trọng trong việc tạo ra nhiều việc làm, tăng nguồn xuất khẩu quan trọng mà còn là sự tăng trưởng của ngành này cho chúng ta biết kết quả hoạt động kinh tế của đất nước một cách tổng thể hơn.(xem bảng 1.1)
Rỏ ràng rằng, việc phát triển ngành da giày Việt Nam trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước; không chỉ kéo theo sự phát triển sản xuất công nghiệp ở mọi thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân mà còn phát triển cả sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt, giải quyết việc làm cả ở thành thị và nông thôn, cải thiện đời sống, phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội Phát triển ngành da giày góp phần chuyễn dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, từ chuyên canh trồng cây lương thực chuyển sang trồng cây phục vụ cho chăn nuôi đại gia súc,
Trang 8từ trồng trọt sang chăn nuôi, phát triển công nghiệp giết mổ gia súc, chế
biến thịt ở qui mô lớn, hướng về xuất khẩu
Bảng 1.1 : Kim ngạch xuất khẩu giày dép 1993-2000
Đơn vị : triệu USD
Chính sách kinh tế mở cửa của Đảng và nhà nước Việt Nam đã mang
lại hiệu quả rõ ràng và đã đưa nền kinh tế Việt Nam bước ra khỏi những
khó khăn ban đầu Tuy nhiên để củng cố chính sách kinh tế mở cửa đòi hỏi
Việt Nam phải tích cực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế
và liên kết kinh tế quốc tế Tham gia vào phân công lao động quốc tế thực
chất là mỗi nước phải chọn một số loại sản phẩm gì đó để sản xuất và sau
đó dùng sản phẩm đó để trao đổi mua bán với các nước khác dựa trên lợi
thế của nước mình để có thể nâng cao cuộc sống của toàn xã hội
Điều đó được minh họa như sau, nếu nước A có thể sản xuất được cả 2 sản
phẩm X và Y, nước B sản xuất cũng được cả 2 sản phẩm X và Y thì để có
lợi, hai nước A và B cần chọn lấy sản phẩm nào mình có lợi hơn để trao
đổi với nhau thì cả hai nước đều có lợi Ví dụ nước A có thể sản xuất được
a sản phẩm X và b sản phẩm Y nếu nước A đem a sản phẩm X của mình
để đổi lấy b’ sản phẩm Y của B nếu b’> b thì sự trao đổi đó là có lợi cho
Trang 9Đồ thị số 1.1: Lợi thế trao đổi sản phẩm
a
Và ngược lại, nếu nước B đem b’ sản phẩm Y của mình để đổi lấy a sản phẩm X của nước A mà a>a’(a’ là sản phẩm X mà nước B có thể sản xuất được)
Đồ thị số 1.2: Lợi thế trao đổi sản phẩm
a
Trang 10phát triển, các nước có thể chọn lấy những sản phẩm có lợi thế tương đối
để sản xuất và trao đổi với nhau vẫn mang lại lợi ích cho cả hai bên
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay lợi thế tương đối là giá cả lao
động rẽ, các sản phẩm nông, lâm ngư nghiệp của Việt Nam là lợi thế do
điều kiện tự nhiên tạo ra như lúa gạo, cà phê, cao su, cá, tôm, mực Bên
cạnh đó ta có thể phát triển chăn nuôi gia súc lớn để lấy thịt, lấy da kết
hợp với trồng rừng, bảo vệ các nguồn lợi rừng,…
Qua khai thác các lợi thế riêng như vậy ta có thể đổi lấy các sản phẩm
công nghệ cao thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút các công nhân giỏi, kỹ
sư, nhà quản lý giỏi vào làm việc ở Việt Nam
Đồ thị số 1.3: Mối quan hệ giữa các nguồn tài nguyên của các nước
chậm phát triển tạo quan hệ trao đổi để công nghiệp hóa
Lợi thế khai thác
-vốn
-tư bản, con người
-lao động rẽ -sản phẩm nông lâm nghiệp -các khoáng sản
0
1.500-2.000 USD/người Thu nhập bình quân
Đồ thị số 1.3 cho thấy khi một nước có thu nhập bình quân đầu người ở
mức dưới 1.500-2.000 USD/người/năm thì lao động có giá rẽ, sản phẩm
nông lâm ngư nghiệp, khoáng sản là những lợi thế cần khai thác Nhưng
khi nền kinh tế đã vượt qua sự nghèo khổ có thu nhập bình quân đầu người
vượt quá 1.500 USD thì lợi thế của nước đó nghiêng về vốn, công nghệ
cao, lực lượng lao động giỏi Để tận dụng điều kiện tự nhiên của vùng
nhiệt đới, chúng ta cần phải phát triển các ngành sản xuất thu hút nhiều
lao động, sản phẩm chế biến được từ nông lâm ngư nghiệp thành những
Trang 11sản phẩm tiêu dùng cung cấp cho thế giới thì ta sẽ thu được lợi ích cao hơn bằng cách đổi lấy các sản phẩm ta cần mà ta chưa sản xuất được, hoặc sản xuất được song lợi thế không có
Ngành da giày là một ngành có lợi thế của Việt Nam, sản phẩm da giày cần được coi là một sản phẩm chiến lược trong quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế của Việt Nam Liên kết kinh tế quốc tế đó là việc một nước tham gia với nước khác để sản xuất, tận dụng các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên về vốn, về con người trong một chiến lược kinh tế chung
Thực chất liên kết kinh tế quốc tế là một quá trình nâng cao sự phân công lao động quốc tế, nó hình thành nên những chính thể kinh tế mới bao gồm nhiều nước hợp lại với nhau để xóa dần sự cạnh tranh gay gắt hàng xuất khẩu, hoặc xóa bỏ các chính sách thù địch trong kinh tế
Đó là các nhóm nước lớn như EU, ASEAN, AFTA, APEC,… Yêu cầu của liên kết kinh tế quốc tế là trước hết xóa bỏ bảo hộ mậu dịch, thực hiện tự do mậu dịch để thúc đẩy sự phân công lao động quốc tế mới triệt để hơn Sau đó là sự tiến dần lên với sự sử dụng chung một chính sách thuế quan, tự do hóa việc di chuyển lao động và tư bản, thực hiện một chính sách kinh tế chung và sau cùng là tiến lên sử dụng chung một loại tiền tệ thống nhất Đó là đỉnh cao của liên kết kinh tế quốc tế
Hiện nay Việt Nam đang tham gia vào ASEAN, APEC, và đang chuẩn
bị tham gia vào các tổ chức liên kết kinh tế lớn như WTO, sẽ nhận được sự phối hợp về công nghệ tiên tiến, về vốn đầu tư của nước ngoài Sự tham gia vào các Hiệp hội sản xuất và xuất khẩu như Hiệp hội da giày thế giới sẽ cho phép Việt Nam có đủ các điều kiện để hưởng lợi trong các chính sách giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ với các nước khác
Trong điều kiện hiện nay ngành da giày là một ngành sản xuất mà Việt Nam có thể chọn để tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế, để thúc đẩy quá trình hội nhập, quốc tế hóa nền kinh tế Việt Nam
Thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa có nghĩa là quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đó phải đặt trong bối cảnh nền kinh tế phải được hội nhập vào nền kinh tế thế giới
1.1.3.Kinh nghiệm phát triển ngành da giày ở các nước đang phát triển
Các sản phẩm giày và đồ da luôn chiếm vị trí được quan tâm trên thị trường quốc tế, vì chúng là bộ phận của cái mặc, của thời trang – là biểu tượng của trình độ và tình trạng xã hội tiêu dùng Ngày nay, chúng còn
Trang 12tượng trưng cho nền kinh tế thịnh vượng hay sa sút, là tiếng nói bản sắc văn hóa cộng đồng Giày và đồ da tôn vinh cho cái mặc của con người Cả hai đều có sự tiến hóa từ cách làm bằng tay, cá thể từ các cơ sở sản xuất nhỏ, nay đã trở thành công nghiệp lớn ở các nước đang phát triển, tham gia vào cạnh tranh quốc tế gay gắt và sự thành công của nền công nghiệp thời trang Nhận thức được tầm quan trọng của ngành công nghiệp giày dép và đồ da(bóp, ví, túi xách, vật lưu niệm,…) nhiều nước phát triển trước đây hoặc các nước đang phát triển trong khu vực đã có những bước đi rất tích cực về phát triển sản xuất, thị trường, khoa học – công nghệ, đào tạo các nhà thiết kế… và đã trở thành các “vương quốc” của giày dép, đồ da, có nguồu thu ngoại tệ hàng đầu cho quốc gia mình ở giai đoạn phát triển kinh tế trên cơ sở nền sản xuất nhiều nhân công Đài Loan, Hàn Quốc trong thập niên 70,80 hàng năm đã xuất khẩu từ 3,4 – 4,5 tỷ USD giày dép, nay còn gần 2 tỷ USD Ở Trung Quốc, ngay năm 1995 đã đạt 4,7 tỷ USD Indonesia và Thái Lan năm 1995 mỗi nước đạt 2 tỷ USD và 5 nước vừa kể trên, đứng trong danh sách 10 nước xuất khẩu giày dép hàng đầu của thế giới Với hàng đồ da thật (chưa tính hàng giả da) thì hàng năm, riêng thị trường EU đã phải nhập khoảng 1 tỷ USD từ Trung Quốc, Ấn Độ, Thỗ Nhĩ Kỳ, Thái Lan,…
Các nước đang phát triển có nguồn lực lao động lớn, giá lao động rẽ, nhưng lại yếu về quản lý, kỹ thuật, thị trường và vốn,… vì vậy việc tham gia vào hợp tác quốc tế và chịu sự phân công lao động quốc tế là cần thiết,
bị bất lợi, bị chèn ép ở chặng đầu phát triển là đương nhiên Họ phải tìm mọi cách nhanh chóng vươn lên tự chủ trong sản xuất kinh doanh để tăng trưởng lợi nhuận, hoàn trả được vốn đầu tư Các nước đang phát triển ở châu Á đã rất quan tâm đào tạo chuyên gia thành thạo công nghệ, thành thạo thiết kế và sáng tạo mẫu mốt, đưa nhanh thông tin và công nghệ tiến bộ vào sản xuất Các nước ở châu Á đã thành công trong việc sản xuất hàng có giá rẽ mà vẫn hợp thời trang song vẫn còn bị hạn chế về sản xuất các sản phẩm sang trọng đắt tiền về da Tính quốc tế hóa của giày dép, đồ
da ngày nay đã khá rỏ nét Đối với mỗi quốc gia, hằng năm lập kế hoạch sản xuất và buôn bán các mặt hàng này luôn phải chuẩn bị trước mọi thay đổi xảy ra(biến động lớn)
1.1.3.1 Giá của một giờ công sản xuất giày có thể chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: từ 9 USD (ở Tây Ban Nha) đến14 USD (ở Ý)
- Nhóm 2: từ 01 USD (ở Brasil) đến 04 USD (ở Đài Loan, Hàn Quốc)
Trang 13- Nhóm 3: từ 0,35 USD (ở Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc) đến 0,7 USD (ở Thái Lan)
Do vậy, các nước có giá thuộc nhóm 1 sẽ mất dần lợi thế sản xuất giày Trật tự các “Vương quốc” về sản xuất và tiêu thụ giày dép cũng được sắp xếp lại Giá nhóm 3, các nước đang phát triển ở châu Á vượt lên, đặc biệt là Trung Quốc Các nhà sản xuất giày, thiết kế kiểu dáng, màu sắc, mẩu mã sẽ giao lưu, hợp tác với nhau, học tập và pha trộn với nhau để có những kiểu giày dép và đồ da thích hợp đối với bất cứ loại trang phục thời trang nào, thay vì quá đặc thù ở thời kỳ những năm 1980-1995 Việc buôn bán giày dép, đặc biệt là bán lẽ cũng có nhiều thay đổi Các siêu thị sẽ không còn dành nhiều gian hàng riêng cho các nhãn hiệu độc quyền mà thay vào đó là nhiều loại giày dép đa dạng, có giá rẽ hơn, hấp dẫn khách mua hơn Các “sản phẩm trắng” giảm được nhiều chi phí chào mời và quảng cáo, làm cho các “vua giày” thua thiệt nhiều hơn trước Xu hướng các trung tâm bán buôn và bán lẽ lớn trực tiếp mua hàng của những người cung cấp, đặc biệt là các quốc gia, các công ty đang phát triển làm ra những sản phẩm có doanh số lớn Trong khu vực châu Á, xuất khẩu giày của Đài Loan, Hàn Quốc sẽ xuống ngôi, Trung Quốc, Hồng Kông(nay thuộc Trung Quốc) đứng đầu ngôi xuất khẩu (trên 2 tỷ đôi giày/năm) Các nước ở Đông Nam Á sẽ vươn mạnh lên, giày dép xuất khẩu của Ý sẽ bị thay bằng Thái Lan và Indonesia Việt Nam là một trong nhóm 10 nước hàng đầu của thế giới về sản xuất và xuất khẩu giày dép
1.1.3.2 Nghiên cứu về những kinh nghiệm ở các nước láng giềng đã có những phát triển nhanh và có hiệu quả trong ngành giày dép, chúng ta thấy:
Ở Đài Loan, nước được coi là thành công nhất trong việc phát triển xuất khẩu da giày ở những năm 70-80 Ngay sau chiến tranh thế giới thứ 2, đầu những năm 50, Đài Loan thực hiện chính sách phát triển ngành công nghiệp cần nhiều lao động Nhà nước thực hiện bảo hộ ngành công nghiệp trước hết để thay thế nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước và đạt được điều này vào cuối những năm 50 Suốt thập kỹ 60 là tăng trưởng xuất khẩu Thời gian đó, việc tiếp nhận những khoản viện trợ không hoàn lại của Mỹ, các khoản đầu tư từ Mỹ, Nhật đổ vào Đài Loan Đài Loan trở thành một nước cung cấp hàng công nghiệp cần nhiều lao động cho Mỹ và Nhật Khác với Hàn Quốc, Đài Loan mà sau này là Thái Lan và Indonesia đã rất chú ý phát triển các ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động ở thời kỳ đầu, để tạo đà tăng trưởng kinh tế Chính phủ các nước này đã trích một
Trang 14phần đáng kể nguồn thu của chính phủ từ thuế để thành lập các trung tâm dạy nghề đào tạo lao động lành nghề cho ngành da giày phát triển Về qui mô công nghiệp, chủ yếu ở Đài Loan là doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 96% tổng số doanh nghiệp Gắn công nghiệp da giày với vùng nông thôn vừa đô thị hóa, sử dụng lao động dôi ra từ sản xuất nông nghiệp, sự tăng trưởng công nghiệp ở Đài Loan là sự tăng trưởng của các ngành nghề cần nhiều lao động (chủ yếu là công nghiệp da giày và lắp ráp điện tử,…) điều đó làm cho Đài Loan đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững trong suốt những năm 70,80 và 90
1.1.3.3 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về giải pháp để phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn:
1/ Kinh nghiệm về giải pháp nhà nước tài trợ từ nguồn tài chính của nhà nước: Hầu hết các nước khi phát triển các ngành kinh tế chủ yếu mang tính chiến lược, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành kinh tế đó đều có nhận được sự tài trợ tài chính của nhà nước, dưới hình thức như:
- Nhà nước góp vốn vào vốn sở hữu ban đầu
- Nhà nước mua một tỉ lệ cổ phần nhất định
- Nhà nước cho vay lãi suất thấp
- Nhà nước có tổ chức chuyên trợ giúp công nghệ, cung cấp công nghệ làm giày hiện đại cho các doanh nghiệp
- Nhà nước trợ giúp các doanh nghiệp qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đất xây dựng, nhà máy, chi phí giải phóng mặt bằng để các doanh nghiệp giảm các chi phí đầu tư hạ tầng nhà xưởng, tăng đầu tư cho thiết bị và công nghệ để sản xuất
2/ Kinh nghiệm về nhà nước đầu tư để tạo ra lợi thế tập trung:
a Xây dựng các khu công nghiệp tập trung:
Ở các quốc gia có ngành giày dép phát triển đã tận dụng lợi thế tập trung để phát triển các trung tâm giày dép là các khu công nghiệp có hạ tầng cơ sở được nhà nước đầu tư, gần cảng biển, gần khu dân cư lớn để có nguồn lao động Ơû Trung Quốc, trung tâm giày dép là Quảng Đông, sản lượng giày dép đạt 2.000 triệu đôi(năm 1999), kim ngạch xuất khẩu đạt 4.300 triệu USD, chiếm 50% tổng sản lượng và doanh số xuất khẩu, tiêu dùng nội địa của Trung Quốc Quảng Đông trở thành đại bản doanh sản xuất da giày đứng đầu Trung Quốc, do sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân và tập thể đóng góp Ơû Quảng Đông hội tụ đủ các yếu tố lợi thế về tập trung: đông dân, gần cảng biển, gần Hồng Kông, giao
Trang 15thông rất thuận lợi Sau đó là các trung tâm ở Hàng Châu, Thượng Hải Cạnh các trung tâm giày dép là các trung tâm sản xuất nguyên phụ liệu, thiết kế cung cấp và chào bán mẫu mã, công nghệ, vật liệu mới Trung Quốc hiện nay là quốc gia thành công nhất trong việc phát triển nền công nghiệp giày dép, đứng đầu thế giới Ơû Đài Loan, trung tâm giày dép và nguyên phụ liệu tại Đài Trung, có cảng biển Cao Hùng Ở Hàn Quốc, trung tâm giày dép tại Pusan, thành phố cảng Việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở vùng tam giác: thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai(phía nam); các thành phố khác như Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long(vùng tam giác phía Bắc), Đà Nẵng, Vũng Tàu và Cần Thơ cũng rất có điều kiện để phát triển thành những trung tâm giày dép của nước ta
b Tăng cường đầu tư để có lợi thế về qui mô
Lợi thế qui mô là lợi thế được tạo ra để tối đa hóa lợi nhuận thu về cho doanh nghiệp Lợi thế về qui mô nhằm khai thác tối đa các nguồn lực để tăng năng lực(sức) cạnh tranh Ơû các nước phát triển về sản xuất giày dép, qui mô của doanh nghiệp là rất lớn Ơû Việt Nam, doanh nghiệp cổ phần Pou Yuen, ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (100% vốn Đài Loan) có 22.000 lao động, chi 18 tỷ đồng Việt Nam tiền lương và đóng 2,5 tỷ đồng Việt Nam cho bảo hiểm xã hội một tháng
Việc nhà nước tiếp tục đầu tư nhằm củng cố và phát triển Tổng công ty
da giày Việt Nam để tạo ra lợi thế về qui mô, vừa bảo đảm cho vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước đối với ngành Mặt khác, bằng các chính sách tài chính, nhà nước cũng hướng các doanh nghiệp tư nhân, tập thể từ chổ chủ yếu là qui mô nhỏ tiến dần lên qui mô vừa và lớn để tạo ra lợi thế về qui mô của các doanh nghiệp trong ngành, tăng sức cạnh tranh quốc tế 3/ Kinh nghiệm về giải pháp miễn giảm cước phí vận chuyển:
Một số nước áp dụng giải pháp miễn giảm cước phí vận chuyển đối với hàng hoá xuất khẩu Ví dụ như Braxin miễn cước vận chuyễn đối với cafe xuất khẩu từ nơi sản xuất đến cảng xuất Giảm giá điện, giá bán gas, giá bán dầu đốt, giảm cước phí bưu điện, điện thoại(bưu chính, viễn thông), để giảm các chi phí đầu vào cho doanh nghiệp
4/ Kinh nghiệm trong chính sách ngoại hối:
Nhà nước áp dụng chính sách đa tỉ giá đối với mặt hàng khuyến khích hay không khuyến khích xuất nhập khẩu Nếu là mặt hàng khuyến khích xuất khẩu, nhà nước sẽ mua ngoại tệ giá cao(bù cho 1 phần chênh lệch so với giá thị trường) Nếu là mặt hàng khuyến khích ưu tiên nhập khẩu, sẽ được nhà nước bán ngoại tệ với giá thấp
Trang 165/ Kinh nghiệm về tìm kiếm các nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình
thức: Nguồn vốn nước ngoài được coi là nguồn vốn quan trọng đối với các
ngành xuất khẩu Vì nó cho phép tận dụng được công nghệ tiên tiến của
nước ngoài, qua đó mà nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng
cạnh tranh đối với các nhà sản xuất trong nước
Tiếp nhận đầu tư nước ngoài như là bước đầu để tăng tốc đối với các
nền kinh tế kém phát triển Dựa trên nguồn vốn nước ngoài này mà phát
triển những khu vực lợi thế, từ đó phát triển nền kinh tế trở thành nước
xuất khẩu hàng hóa tham gia vào phân công lao động quốc tế Trên cơ sở
có được những mặt hàng có giá trị trong phân công lao động quốc tế, nước
tiếp nhận đầu tư nước ngoài dần dần trả nợ nước ngoài và có thể trở thành
nước xuất khẩu vốn(chủ nợ nhỏ), và tiến lên trở thành nước phát triển nếu
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công(chủ nợ lớn)
Quá trình đó được minh họa như sau:
I II III IV V
Con nợ nhỏ Con nợ lớn Nước xuất khẩu
hàng hóa, dịch vụ Nước xuất khẩu vốn(chủ nợ nhỏ) Nước phát triển (chủ nợ lớn)
Những nước đã qua các giai đoạn từ I đến IV đó là các nước thuộc khối
NICS hiện nay Các nước này trước đây đều là nước nghèo, rất nghèo như
Hàn Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông chẳng hạn đều phải trải qua
bước vay nợ nước ngoài, thu hút vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp…để tham
gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Do đó có thể kết luận rằng
tìm kiếm vốn nước ngoài là cần thiết song phải biết đầu tư vào các ngành
công nghiệp xuất khẩu là chủ yếu thì mới mong tồn tại và phát triển Nếu
đầu tư vốn nước ngoài vào các ngành kinh tế không có sản phẩm xuất
khẩu hay không gián tiếp tạo ra sản phẩm xuất khẩu thì nguy cơ khủng
hoảng kinh tế hay lệ thuộc kinh tế là có thật
6/ Kinh nghiệm về giải pháp thuộc chính sách tiền tệ:
Giải pháp thuộc chính sách tiền tệ nhằm kích thích xuất khẩu, thu hút
đầu tư nước ngoài đó là thực hiện chính sách phá giá nội tệ Ơû đó nhà nước
chủ động làm cho nội tệ giảm giá với một tỉ lệ nho nhỏ hàng năm tương
đương với chỉ số lạm phát Điều này có lợi cho nhà xuất khẩu là họ sẽ thu
hồi giá trị nội tệ danh nghĩa tăng lên trên một đơn vị ngoại tệ xuất khẩu
thu được Còn đối với nhà nhập khẩu thì họ lại bỏ ra nhiều nội tệ hơn để
Trang 17mua một đơn vị ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu, nó bảo hộ hàng sản xuất trong nước
7/ Kinh nghiệm giải pháp về thuế:
Thuế là khoản tài chính mà doanh nghiệp phải trích nộp vào ngân sách nhà nước theo qui định của luật pháp để thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước
Thuế là phần tài chính mà doanh nghiệp trích ra từ thu nhập do kết quả kinh doanh mang lại Do đó nếu thuế cao sẽ làm cho thu nhập sau thuế, hay lãi ròng của doanh nghiệp giảm xuống và ngược lại thuế thấp sẽ làm cho lãi ròng của doanh nghiệp tăng lên Lãi ròng của một doanh nghiệp là nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể sử dụng để gia tăng tích lũy cho tái sản xuất mở rộng, lập các quỹ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chia lợi tức cho cổ đông, lập các quỹ khen thưởng,…
Do vậy chính sách thuế có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp, nó vừa kích thích, động viên các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, nhất là đối với sản phẩm xuất khẩu hay sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu Nếu thuế thu nhập doanh nghiệp thấp, lãi ròng của doanh nghiệp sẽ khá hơn, có điều kiện để tích lũy đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu
Thuế như là một đòn bẩy để mở rộng, bảo hộ sản xuất đối với các ngành kinh tế còn non trẽ, hoặc là các ngành kinh tế mang tính chiến lược cần phải được mở rộng, cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Thuế là một công cụ của chính sách tài chính; chính sách thuế là một bộ phận của chính sách tài chính quốc gia, nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách, nhưng đồng thời nó cũng là chính sách tác động trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh khuyến khích hay hạn chế phát triển của một ngành hoặc nhiều ngành kinh tế, một hay nhiều lãnh vực nào đó
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế trong thời gian qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều sự cải tiến về chính sách thuế để tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, tác động của chính sách thuế vào quá trình ổn định và phát triển kinh tế vẩn còn là một vấn đề bức bách đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 18Trong đó, chính sách thuế chưa thực sự ưu đãi đối với các ngành sản xuất, đặc biệt là đối với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu nhiều máy móc, nguyên liệu để sản xuất
Để khuyến khích xuất khẩu, hầu hết các nước đều áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp phát triển hàng xuất khẩu có điều kiện tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Xóa bỏ các phí và lệ phí bất hợp lý để giảm các chi phí đầu vào của doanh nghiệp
1.2 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM
1.2.1 Khái lược vai trò của các nguồn tài chính trong phát triển ngành
da giày ở Việt Nam
Để hiện đại hóa ngành da giày đòi hỏi phải đầu tư vốn lớn trước mắt là để nhập máy móc công nghệ của nước ngoài Mặc dù ngành da giày Việt Nam đã phát triển khá, song máy móc công nghệ còn rất lạc hậu so với thế giới Máy móc công nghệ là khâu quyết định chất lượng của sản phẩm nên không thể mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm mà không đầu
tư lớn cho máy móc công nghệ Vốn còn là điều kiện để xây dựng phát triển các ngành sản xuất nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất sản phẩm có giá rẽ, một lợi thế của Việt Nam để cạnh tranh với thị trường thế giới Trước mắt cần nghĩ đến việc đầu tư để xây dựng các nông trường chăn nuôi, các trang trại chăn nuôi bò, trâu, dê, cá sấu,…
Bên cạnh đầu tư cho chăn nuôi, việc đầu tư vốn để chế biến thuộc da cũng là một khâu quan trọng Khâu giết mổ công nghiệp và chế biến thuộc
da là những khâu gây ô nhiểm môi trường Vì vậy không chỉ phải đầu tư cho sản xuất mà phải đầu tư cho bảo vệ môi trường, chống ô nhiểm bảo đảm sự phát triển bền vững Hiện nay ở Việt Nam đang phát triển mô hình trang trại, song mô hình này còn mang tính thuần nông, trồng các loại cây ăn trái, nuôi cá, còn việc kết hợp chăn nuôi gia súc lớn chưa được phát triển Nếu việc kết hợp trong sản xuất trang trại một cách hài hòa với sản xuất công nghiệp sẽ cho phép nền kinh tế phát triển thuận lợi hơn, phải có sự đầu tư vốn lớn và có mô hình kết hợp hợp lý
Vấn đề quan trọng hiện nay là chiến lược đào tạo con người để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vốn cho đào tạo công nhân cũng là một vấn đề không nhỏ Vì hầu hết lao động Việt Nam còn mang tính lao động giản đơn, chưa được đào tạo Do vậy, cần thiết phải đầu tư chi phí cho đào tạo để có thể đáp ứng chất lượng sản phẩm có
Trang 19khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Việc đào tạo con người để có một nghề nghiệp vững chắc là một chiến lược chung của cả nước, cũng như của một ngành sản xuất Nếu công việc đào tạo không được quan tâm đầu
tư đúng mức sẽ làm cho hiệu quả của sản xuất bị ảnh hưỏng nghiêm trọng và có thể dẫn đến sự sụp đổ của ngành sản xuất đó
Có thể nói trong nhiều năm qua việc đào tạo nghề cho công nhân ở Việt Nam là chưa được đầu tư đúng mức Do đó đã tạo ra một lớp công nhân mà tay nghề thiếu sự đảm bảo cho một cuộc cạnh tranh gay gắt Từ đó làm cho việc phát triển sản xuất của Việt Nam gặp nhiều khó khăn Cần phải nhận thức đầy đủ rằng sự tinh thông nghề nghiệp là yếu tố quyết định sự thắng lợi trên thị trường Máy móc công nghệ thì có thể mua, nhưng con người sử dụng công nghệ thì không thể mua được, mà chỉ có đào tạo mới có Tuy nhiên, năm tới chắc chắn Việt Nam phải bỏ ra nhiều chi phí đầu tư cho đào tạo công nhân thì nền kinh tế Việt Nam mới có thể vượt qua những thử thách của thời đại, trong đó có sự đầu tư cho công nhân ngành da giày
Bên cạnh đầu tư để đào tạo công nhân, việc đào tạo các nhà quản trị, các nhân viên phục vụ cho quá trình quản trị các doanh nghiệp cũng là một vấn đề không thể không quan tâm Và tất yếu việc đào tạo các nhà quản trị, các nhân viên phục vụ cho quá trình quản trị cũng cần có sự đầu tư vốn liếng nhất định Tính đồng bộ về nhân sự cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất và do đó nâng cao hiệu quả cạnh tranh trên thị trường
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất, nó sẽ nói lên rằng việc sản xuất có hiệu quả hay không Việt Nam là một nước mới bắt đầu thâm nhập thị trường quốc tế nên kinh nghiệm tiếp cận thị trường còn thấp, thị phần của các ngành sản xuất còn nhỏ, lại không ổn định, chịu sự cạnh tranh gay gắt của nhiều nước khác
Do vậy việc tìm kiếm thị trường cho sản phẩm da giày cũng là một vấn đề cần phải giải quyết để ổn định và phát triển sản xuất Công việc xúc tiến thương mại, tổ chức hội chợ, quảng cáo thương mại đều cần phải có các chính sách tài chính hỗ trợ Các nguồn tài chính trong việc phát triển ngành da giày ở Việt Nam là :
- Trước hết đó là nguồn tài chính của chính phủ: từ vốn ngân sách nhà nước của ngân hàng nhà nước
- Nguồn tài chính từ thị trường tài chính, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu kho bạc Các định chế tài chính trung
Trang 20gian bao gồm các quĩ tín dụng đầu tư, quĩ phát triển, quĩ bảo hiểm, quĩ tương hỗ, quĩ hưu trí, quĩ bảo trợ xã hội
- Nguồn tài chính từ các quĩ tín dụng, các ngân hàng thương mại của Việt Nam , các ngân hàng liên doanh, các ngân hàng vốn 100% của nước ngoài ở Việt Nam tạo ra các nguồn vốn vay tín dụng trong và ngoài nước
- Nguồn tài chính từ các liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh
- Nguồn tài chính từ đầu tư trực tiếp của mọi thành phần kinh tế trong nước tham gia vào việc phát triển ngành da giày Việt Nam
Khuyến khích mọi người dân đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh da giày Thành lập các công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu: khi thành lập, khi gọi thêm vốn đầu tư, đa dạng hóa các hình thức góp vốn trên thị trường Đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển
Nguồn tài chính từ vốn nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp(FDI), đầu tư gián tiếp, vay nợ, nhận viện trợ cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh ngành da giày, đặc biệt sự giúp đở của nước ngoài trong việc nâng cao chất lượng quản lý, sản xuất , xúc tiến thương mại,… Khuyến khích các doanh nghiệp tự sử dụng một phần lợi nhuận của mình nhằm gia tăng vốn sở hữu của doanh nghiệp Điều đó cho phép doanh nghiệp hoặc có thể mua sắm thêm máy móc thiết bị, hoặc cải tiến công nghệ sản xuất, hoặc tự đảm bảo một phần vốn lưu động, hạ thấp tỉ lệ vốn lưu động đi vay để chủ động trong sản xuất kinh doanh
1.2.2 Vai trò của vốn đầu tư và tài trợ của nhà nước
Việc tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp da giày Việt Nam nhằm tạo ra hàng hóa có mẩu mã đẹp, đa dạng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh đòi hỏi phải có vai trò của tài chính trong chính sách hỗ trợ phát triển ngành da giày với tư cách là “ngành kinh tế quan trọng” của nhà nước Mở mang việc tiêu thụ sản phẩm theo hướng xuất khẩu đòi hỏi phải có các chính sách khuyến khích về tín dụng đầu tư cho xuất khẩu về những ưu đãi trong việc sử dụng đất đai, xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị Cải thiện các thị trường vốn đã có và mở mang các thị trường mới để thu hút vốn đầu tư (các kênh tạo vốn) Các chính sách tài chính nhằm hỗ trợ cho tiếp thị, quảng cáo, đào tạo và phát triển thương mại điện tử Tóm lại, đó là một tập hợp các chính sách nhằm giảm mọi chi phí ở đầu vào, tiết kiệm trong sản xuất và khuyến khích mọi doanh nghiệp da giày thuộc các thành phần kinh tế cùng phát
Trang 21triển, chấp nhận cạnh tranh và lớn mạnh Để ngành da giày Việt Nam còn non trẽ vươn lên từ chính sức mình, “phát huy nội lực” để phát triển bền vững từ nay đến năm 2010, là thành viên của 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giày dép và đồ da, túi xách, cặp,…
Nhà nước với các chính sách ưu đãi, để khuyến khích các ngành kinh tế quan trọng tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững bằng biện pháp tài trợ vốn từ nhà nước
Tài trợ vốn của nhà nước có thể hiểu một cách rộng rãi bao gồm việc cung cấp các nguồn tài chính, cấp đất để xây dựng, cung cấp các công nghệ sản xuất Cho vay vốn với lãi suất thấp, vay ưu đãi, hỗ trợ lãi xuất vay cho đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư Các cơ chế để tập trung cho vay
ưu đãi, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu từ quĩ hỗ trợ xuất khẩu và phát triển, cung cấp tín dụng cho các hoạt động bán hàng trả chậm, tăng hình thức bù lỗ xuất khẩu, trợ giá từ quĩ hỗ trợ xuất khẩu cho xuất khẩu các mặt hàng, ngành hàng có tiềm năng lớn Từ đó, hướng mọi thành phần kinh tế vào hoạt động phát triển ngành da giày Việt Nam, tăng năng lực sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh quốc tế Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành da giày vừa được thành lập trong những năm gần đây đều thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn đầu để phát triển công nghiệp sử dụng nhiều lao động theo hướng xuất khẩu, nhà nước phải quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi về vốn để họ phát triển
Ví dụ như Trung Quốc hiện nay sử dụng chính sách tài trợ cho các ngành sản xuất chiến lược bằng cách xây dựng các khu công nghiệp, các nhà máy rồi cho thuê với giá rẽ để khuyến khích đầu tư của các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp này để khai thác trong vòng 5 năm Sau 5 năm, nhà nước mới điều chỉnh lại giá theo thị trường để cho thuê tiếp hoặc bán hẳn cho các nhà sản xuất kinh doanh
Giải pháp này trong thực tế đã có nhiều nước đang phát triển thực hiện, bằng cách nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư, sáng lập ra các doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động nhất định, khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định, nhà nước sẽ cổ phần hóa các doanh nghiệp, bán lại các cổ phần cho cá nhân, hoặc các tổ chức kinh doanh khác để thu hồi lại vốn đầu
tư Thông thường giá bán các cổ phần này luôn lớn hơn giá cổ phần đầu tư ban đầu nên nhà nước luôn có lợi, thu được một phần chênh lệch, nhiều khi gấp đôi, gấp ba lần vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, nếu doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả
Trang 221.2.3 Vai trò của các nguồn vốn huy động để phát triển ngành da giày Việt Nam
Vốn của chủ sở hữu : Vốn chủ sở hữu là vốn do các người sở hữu doanh nghiệp góp vốn mà có Tùy thuộc vào hình thức sở hữu mà nguồn vốn sở hữu chủ hình thành qua các phương thức góp vốn khác nhau
• Doanh nghiệp nhà nước : do nhà nước cấp vốn ban đầu khi hình thành nên doanh nghiệp
• Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: do các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn Phần góp vốn của các thành viên có thể có tỉ lệ khác nhau và các thành viên được hưởng lợi tức theo tỉ lệ vốn góp
• Doanh nghiệp cổ phần: doanh nghiệp cổ phần huy động vốn sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu Người mua cổ phiếu gọi là cổ đông Loại doanh nghiệp cổ phần hiện nay rất thịnh hành trên thế giới vì nó huy động được vốn từ nhiều chủ thể khác nhau, nhờ vào việc bán
ra các cổ phiếu với mệnh giá nhỏ
• Doanh nghiệp liên doanh: vốn sở hữu của doanh nghiệp liên doanh
do các bên liên doanh góp
• Hợp tác xã: vốn sở hữu của các hợp tác xã do các xã viên góp
• Doanh nghiệp tư nhân: vốn sở hữu do người chủ doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh
Vai trò của vốn sở hữu: nó thể hiện năng lực tài chính bản thân của các doanh nghiệp và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và các hậu quả tài chính do doanh nghiệp gây ra Vốn sở hữu càng lớn thì khả năng tài chính tự chủ của doanh nghiệp càng cao
Thông thường vốn sở hữu của một doanh nghiệp lệ thuộc vào qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Doanh nghiệp có qui mô càng lớn thì vốn sở hữu càng lớn và ngược lại Do đó khi một doanh nghiệp có vốn sở hữu lớn trước hết nó cho phép doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, nó có thể sở hữu các công nghệ đắt tiền, nó có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, nó có thể tìm kiếm và tiếp cận các thị trường rộng lớn hơn, nhất là thị trường quốc tế
Khi một doanh nghiệp có vốn sở hữu lớn, nó còn có thể nâng cao năng lực vay vốn trên thị trường Vì một khi doanh nghiệp đi vay vốn, họ thường phải báo cáo khả năng tài chính tự có của doanh nghiệp để bên cho vay
Trang 23biết và căn cứ trên vốn tự có đó của doanh nghiệp và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà bên cho vay sẽ quyết định cho vay nhiều hay ít Thông thường vốn sở hữu càng lớn thì số đi vay được càng cao và ngược lại
Khi một doanh nghiệp có vốn sở hữu lớn, nó còn có thể tài trợ cho khách hàng tiêu thụ sản phẩm dưới các hình thức như bán chịu, ứng trước tiền hàng và do đó có thể chiếm lĩnh thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngoài ra, vốn sở hữu lớn còn cho phép nâng cao uy tín, sự tin cậy của khách hàng đối với nhà sản xuất – kinh doanh Đây chỉ là mặt tâm lý song nó có một giá trị lớn đối với nhà sản xuất – kinh doanh,
vì khi uy tín trên thị trường tăng lên thì họ có thể ký kết được nhiều hợp đồng sản xuất hơn
- Phát hành giấy tờ có giá:
Một doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng phương thức phát hành ra các giấy tờ có giá trên thị trường để huy động vốn từ nhiều chủ thể khác nhau Những giấy tờ có giá này là các trái phiếu ngắn hạn hay dài hạn, có thể được tự do chuyển nhượng trên thị trường
Việc phát hành giấy tờ có giá như vậy, thực chất là thực hiện một khoản vay kỳ hạn mà người cho vay là những ai có khả năng tài chính, từ những các nhân cho đến các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính và cả nhà nước
Ưu điểm của phát hành giấy tờ có giá là người phát hành được quyền chủ động quyết định kỳ hạn và số lượng phát hành, do đó có thể hoạch định việc huy động vốn vay theo yêu cầu ở mỗi thời kỳ
Việc phát hành giấy tờ có giá có thể không cần tài sản bảo đảm, hoặc có thể nhờ một tổ chức tài chính bảo lãnh là có thể phát hành được Lãi suất của giấy tờ có giá có thể rẽ hơn lãi suất vay ngân hàng nhờ vào việc ủy thác cho các tổ chức tài chính phát hành hộ để tiết kiệm chi phí, có thể thông qua đấu giá để có thể tìm kiếm lãi suất thấp hơn
Khó khăn của việc phát hành giấy tờ có giá là phải bảo đảm sự hoàn trả nợ đúng hạn đã qui định trên giấy tờ có giá, nếu không sẽ bị con nợ đòi tuyên bố phá sản theo luật định Vai trò của nguồn tài chính thông qua phát hành giấy tờ có giá là rất quan trọng, vì nó bổ sung cho vốn của doanh nghiệp một cách có kế hoạch và với một lãi suất rẽ, một khối lượng lớn, do đó có thể hạn chế được việc vay vốn ở các ngân hàng Tính linh hoạt của giấy tờ có giá rất cao, nên doanh nghiệp có thể mua lại giấy tờ có giá khi có thặng dư tài chính, có sự thừa vốn tạm thời
Trang 24Việc phát hành các giấy tờ có giá có thể thực hiện linh hoạt về kỳ hạn và khối lượng theo tính toán của doanh nghiệp, do đó mà nó có thể bổ sung vốn cho doanh nghiệp một cách hợp lý, tránh lãng phí hoặc thiếu hụt
- Vốn vay:
Doanh nghiệp có thể vay vốn ở các tổ chức tài chính như ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Vai trò của vốn vay ở các ngân hàng chủ yếu là để thỏa mãn khả năng thanh toán ngay Khi một doanh nghiệp cần tiền để chi trả cho các món nợ đến hạn mà chưa thể có một nguồn tài chính nào để thanh toán thì có thể vay nợ các ngân hàng dưới các hình thức như chiết khấu các thương phiếu, rút vốn trên tài khoản vãn lai theo hạn mức tín dụng, vay từng lần theo thỏa thuận Ưu điểm của các loại tín dụng này là nó giúp doanh nghiệp thực hiện ngay các khoản chi trả, giữ vững uy tín trên thị trường với các đối tác cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu,…Các doanh nghiệp cũng có thể xin vay ở các ngân hàng các món vay dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới công nghệ dưới các hình thức như vay dài hạn hoặc thuê mua tài chính Vai trò của nguồn vốn này là nó bổ sung cho các doanh nghiệp một nguồn vốn lớn để đổi mới công nghệ tức thời khi doanh nghiệp có nhu cầu, nhằm thích hợp nhanh chóng với thị trường Các doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn tài chính khác để thanh toán cho món nợ vay này, hoặc có thể sử dụng nguồn thu từ chính việc khai thác các máy móc thiết bị mới này để thanh toán nợ vay
Nhược điểm của các loại vốn vay này là thường bị các ngân hàng đòi phải có tài sản thế chấp, giới hạn khối lượng vốn vay và đôi khi cả kỳ hạn trả nợ, do đó nó có thể không phù hợp với yêu cầu sử dụng của doanh nghiệp
Tuy nhiên trong nền kinh tế nước ta hiện nay, nguồn vốn ngân hàng có vai trò quan trọng bậc nhất, vì các tổ chức tài chính khác chưa hình thành, hoặc đã hình thành nhưng còn rất non yếu, các doanh nghiệp có thói quen tiếp cận với thị trường vốn thông qua phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay ở nước ta hoạt động chủ yếu là dựa trên vốn vay ngân hàng, mặc dù lãi suất vốn vay ngân hàng còn rất cao
Do vậy nếu vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ dưới hình thức vay dài hạn các ngân hàng, các doanh nghiệp thường gặp nhiều khó khăn như thủ tục thẩm định dự án phức tạp, thủ tục cho vay rườm rà với nhiều điều kiện khắc nghiệt và lãi suất rất cao
- Tín dụng thương mại (mua chịu)
Trang 25Một doanh nghiệp có thể mua chịu hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác dưới hình thức ký nhận vào các thương phiếu chấp nhận việc thanh toán đúng kỳ hạn, vô điều kiện khi món nợ đến hạn phải trả Đây là một hình thức mà bên bán cho bên mua vay, nên còn gọi là tín dụng thương mại
Trên thương trường quốc tế, mua bán chịu tín dụng thương mại phát triển rất mạnh mẽ, nên nó có vai trò rất lớn trong việc bù đắp sự thiếu hụt vốn của các doanh nghiệp mua Đồng thời nó tạo điều kiện cho việc mua bán được tiến hành ngay khi hai bên mua bán thỏa thuận được với nhau về việc mua bán Tuy nhiên nếu bên mua có lợi khi mua chịu, tạm thời hoản việc trả nợ đến một thời hạn cụ thể, thậm chí là cho đến khi bán được hàng hóa đã mua rồi mới trả nợ Nhưng nếu trên cương vị là người bán hàng, nhà xuất khẩu thì bên bán phải cho bên mua vay, nên bên bán phải có vốn bù đắp khi cần, mà thông thường là các bên bán, bán lại thương phiếu cho các ngân hàng thương mại
Ơû nước ta hiện nay, thương phiếu chưa được sử dụng, do đó việc sử dụng loại giấy tờ này trong quan hệ thương mại là chưa thể thực hiện được Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp là một nhà nhập khẩu thì có thể tận dụng nguồn vốn này để tăng khả năng nguồn lực tài chính cho nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh Tận dụng nguồn vốn mua chịu này có thể khai thác được các nguồn hàng hóa lớn trên thị trường quốc tế Nhược điểm của nó là phải có ngân hàng bảo lãnh nếu người mua chịu không trả được món nợ, nên nó sẽ bị hạn chế bởi khả năng bảo lãnh của các ngân hàng thương mại
- Nhận trước tiền hàng:
Đó là việc doanh nghiệp bán được doanh nghiệp mua ứng trước tiền hàng để bảo đảm việc mua hàng được thực hiện Có hai lý do : lý do thư nhất do bên bán thiếu nguồn vốn kinh doanh nên không thể tiến hành sản xuất được, yêu cầu bên mua ứng trước tiền hàng, máy móc thiết bị, nguyên liệu Điều này sẽ giúp cho bên bán có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh cung ứng hàng hóa, dịch vụ đúng theo yêu cầu của bên mua
Hình thức ứng trước tiền hàng, trên thực tế thường do các bên nhập khẩu có khả năng tài chính ứng cho bên xuất khẩu Đối với các nước nghèo như Việt Nam có thể tận dụng nguồn vốn này để mở rộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên để có thể khai thác được nguồn vốn này đòi hỏi phải có hàng hóa chất lượng cao và ổn định về số lượng, được bạn hàng thế giới tin cậy
Trang 26- Vốn đầu tư của nước ngoài:
Vốn đầu tư để phát triển ngành da giày Việt Nam còn phải kể đến vốn đầu tư của nước ngoài bao gồm : các doanh nghiệp da giày có 100% vốn nước ngoài(Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,…) với qui mô lớn Các doanh nghiệp liên doanh giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài và cuối cùng là các doanh nghiệp Việt Nam làm gia công cho nước ngoài Phía nước ngoài đầu tư thiết bị máy móc, toàn bộ vật tư nguyên liệu sản xuất, có chuyên gia hướng dẩn kỹ thuật, công nghệ và bao tiêu sản phẩm Phía Việt Nam lo nhà xưởng và lao động, ăn công theo sản phẩm Hình thức này thời gian qua chiếm đến gần 80% tổng số các doanh nghiệp đăng ký trong ngành Thu hút vốn đầu tư 100% của nước ngoài: cho phép các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài được thành lập doanh nghiệp có vốn 100% của nước ngoài Giải pháp này cho phép các nước có lợi thế về vốn và công nghệ đầu tư trực tiếp vào thị trường xuất khẩu để tránh sự cản trở của các hàng rào thuế quan trong quá trình xuất khẩu Qua đó cũng có thể khai thác được các tài nguyên giá rẽ tại thị trường đầu tư để có thể xuất khẩu sang một nước khác Phía tiếp nhận đầu tư sẽ có điều kiện sử dụng lực lượng lao động, xuất khẩu tại chổ nguồn nguyên nhiên vật liệu sản xuất được, học tập được công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào các doanh nghiệp cổ phần bằng cách góp vốn(mua cổ phiếu) khi thành lập, mới bắt đầu xuất hiện từ khi ban hành Luật doanh nghiệp (01.01.2000)
1.2.4 Vai trò của nguồn vốn tín dụng trong và ngoài nước
Thị trường vốn(giao dịch vốn trung và dài hạn) gồm có:
- Thị trường cho vay dài hạn có cầm cố bất động sản Hoạt động này hiện nay chưa tách thành một thị trường chuyên biệt vì các ngân hàng thương mại khi cho vay ngắn hạn đều bắt khách hàng thế chấp bất động sản thay vì thế chấp hàng hóa như các nước khác trong khu vực
- Thị trường tín dụng cho thuê mua hay cho thuê tài chính (leasing) của Việt Nam, liên doanh nước ngoài với Việt Nam, 100% vốn của nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
- Thị trường tín dụng từ các quĩ tập trung, các định chế tài chính
Các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách vay các định chế tài chính chuyên biệt như công ty tài chính, quỹ đầu tư,… cũng có thể vay các ngân hàng thương mại các tổ chức tín dụng khác Để vay được vốn đầu tư các định chế tài chính các doanh nghiệp phải lập dự án sản xuất kinh
Trang 27doanh và ký hợp đồng vay vốn với các điều kiện cụ thể như : lãi suất phải trả, thời hạn sử dụng tiền vay, mục đích sử dụng tiền vay, cách thức trả nợ,… và tài sản đảm bảo cho món vay
Phương thức huy động vốn qua các định chế tài chính có ưu điểm là có thể huy động ngay lập tức(nếu phương án sản xuất kinh doanh được đánh giá là khả thi) Tuy nhiên phương thức huy động vốn bằng phương thức vay các định chế tài chính có nhược điểm là giá cao, phải có tài sản đảm bảo khoản nợ vay và có sự hạn chế về khối lượng vốn cho vay
Vốn vay ngắn hạn với lãi suất cao rỏ ràng không thể yên tâm cho nhà sản xuất khi đi vay nợ Gần đây, tháng 09/2001 ở Hà Nội, khi làm việc với Thủ tướng chính phủ, một số doanh nghiệp tư nhân đã phát biểu là không thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng vì không có bất động sản đáng giá(hoặc không đủ thủ tục pháp lý về đất đai, nhà xưởng, máy móc để thế chấp) phải vay nóng ở thị trường tài chính phi chính thức Rỏ ràng, nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn ở các ngân hàng thương mại phải gắn kết với các doanh nghiệp thông qua việc cải tiến các thủ tục cho vay: cho vay qua việc thẩm định các dự án đầu tư, qua việc xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp (credit rating) Điều quan trọng hiện nay là mở ra thị trường cho thuê tài chính để giải quyết nhu cầu vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị ban đầu hoặc để đổi mới thiết bị, công nghệ tự động hóa, hiện đại Đối với vốn lưu động, các doanh nghiệp cũng cần sự cho vay ưu đãi từ các tổ chức tiùn dụng như vay được bảo lãnh bằng hợp đồng bán hàng trả chậm, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu,…
Các ngân hàng có vốn nước ngoài(ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh- gọi chung là ngân hàng vốn nước ngoài) chiếm trên 1/3 thị phần cho các doanh nghiệp vay để phát triển sản xuất Trước hết, các ngân hàng vốn nước ngoài đầu tư trên 70% vốn cho các doanh nghiệp
da giày có vốn đầu tư nước ngoài Điều này cũng hợp lý vì các ngân hàng vốn nước ngoài thường sánh vai cùng các doanh nghiệp của nước họ khi các doanh nghiệp này đầu tư ra nước ngoài Cán bộ tín dụng của các ngân hàng này đến các doanh nghiệp để mời chào, nếu biết doanh nghiệp làm ăn có lãi Trong năm 2000, doanh số cho vay của các ngân hàng nước ngoài chiếm trên 30% doanh số cho vay của các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó cho vay trung và dài hạn chiếm 36% và nợ quá hạn chỉ có 0,15% Các ngân hàng có vốn nước ngoài tập trung đầu
tư cho các hoạt động xuất khẩu Các ngân hàng có vốn nước ngoài do có thế mạnh là có cả mạng lưới các ngân hàng khắp trên thế giới, rất thuận
Trang 28lợi cho thanh toán xuất nhập khẩu và giảm bớt rủi ro Vốn tín dụng trong và ngoài nước là nguồn tài chính quan trọng để các doanh nghiệp da giày Việt Nam phát triển
Vay vốn nước ngoài: Vay vốn nước ngoài là hình thức tạo vốn có tính chủ động hơn đối với các nhà doanh nghiệp so với hình thức liên kết, liên doanh Song vay vốn nước ngoài đòi hỏi nhà sản xuất trong nước phải có bản lĩnh kinh doanh vững vàng, có khả năng sử dụng vốn hiệu quả, tái tạo được vốn ngoại tệ để trả nợ nước ngoài Vay vốn nước ngoài còn chịu áp lực rũi ro tỉ giá Ví dụ như trường hợp Thái Lan, do sự sụt giá đột ngột của tiền baht trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 đã làm cho nhiều doanh nhân Thái Lan phải tuyên bố phá sản và nền kinh tế Thái Lan lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực
1.2.5 Vai trò của các nguồn vốn liên doanh, liên kết
- Liên kết, liên doanh: liên kết liên doanh là hình thức các doanh nghiệp trong cùng ngành ký kết với nhau để cùng thực hiện một hợp đồng kinh tế nhất định Sau khi hợp đồng kinh tế thực hiện thì hợp đồng liên kết cũng chấm dứt Hình thức này rất thích hợp cho việc duy trì các doanh nghiệp nhỏ và vừa linh hoạt, nhưng lại có thể thực hiện những hợp đồng cung cấp sản phẩm to lớn nhờ vào việc thực hiện các hợp đồng liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau Thực hiện việc gia công cho nhau theo từng công đoạn, bán thành phẩm
- Liên doanh trong nước là các doanh nghiệp bỏ ra một phần vốn sở hữu để thành lập một pháp nhân mới vì lợi ích của cả hai bên liên doanh Ví dụ
2 doanh nghiệp sản xuất giày, liên doanh để thành lập một doanh nghiệp thuộc da để cung cấp da cho cả 2 doanh nghiệp góp vốn liên doanh Điều này cho phép các doanh nghiệp gắn bó với nhau trong một số khâu nhất định, tăng cường sự hợp tác để gia tăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như trong nước
- Liên kết trong nước: đó là việc các doanh nghiệp cùng ngành trong nước ký kết với nhau mộ hợp đồng liên kết để thực hiện một mục tiêu kinh tế nào đó Khi mục tiêu kinh tế đã được thực hiện thì hợp đồng liên kết cũng hết hiệu lực
Hình thức liên kết này cho phép các bên liên kết tận dụng lợi thế của nhau để thực hiện các hợp đồng sản xuất kinh doanh lớn, giành lấy các cơ hội kinh doanh trên thị trường
Trang 29Ví dụ một doanh nghiệp ký được một hợp đồng xuất khẩu lớn, mà bản thân doanh nghiệp ấy không thể cung cấp đủ sản phẩm cho hợp đồng xuất khẩu đúng thời hạn Để giải quyết yêu cầu của hợp đồng, doanh nghiệp đó sẽ tìm kiếm một hay nhiều doanh nghiệp bạn ký một hợp đồng yêu cầu các doanh nghiệp cùng cung cấp sản phẩm cho hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết
- Liên doanh với nước ngoài: bên Việt Nam và nước ngoài bỏ vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh độc lập để kinh doanh Hình thức này cho phép các nước nghèo, chậm phát triển có thể tận dụng phần cộng nghệ tiên tiến của nước ngoài, đồng thời sử dụng phần lao động có giá rẽ ở trong nước, tận dụng nguyên liệu có thể sản xuất tại chổ Việc phân chia lợi nhuận thực hiện theo tỉ lệ vốn góp
- Liên kết theo hợp đồng: cũng tương tự như liên kết trong nước Trong hợp đồng liên kết bên Việt Nam và bên nước ngoài ký kết với nhau một hợp đồng liên kết để thực hiện một mục tiêu kinh tế nhất định nào đó Khi mục tiêu kinh tế đã thực hiện thì hợp đồng liên kết cũng chấm dứt hiệu lực Hình thức này cho phép các bên sử dụng sức mạnh, lợi thế riêng của mình, đồng thời tận dụng sức mạnh, lợi thế riêng của nước ngoài để thực hiện các hợp đồng kinh tế mà một bên thực hiện sẽ có hiệu quả thấp hơn
- Sáp nhập: sáp nhập là một hình thức sáp nhập nhiều doanh nghiệp lại với nhau làm cho qui mô của doanh nghiệp to lớn hơn và do đó mà nó tận dụng được những lợi thế của các doanh nghiệp nhỏ trước đây Song sáp nhập phải trên cơ sở tự nguyện tránh áp đặt, bắt buộc và phải trên cơ sở có lợi ích kinh tế, không vì hình thức
- Thành lập các tổng công ty, các tập đoàn sản xuất kinh doanh lớn: là một hình thức tổ chức lại các doanh nghiệp sản xuất cùng ngành, hay liên ngành để tận dụng các ưu thế của nhau, giúp đở nhau trong các khâu cung ứng nguyên liệu, năng lượng, công nghệ,… hoặc đặc biệt trong khâu tiếp thị tiêu thụ sản phẩm nhằm làm cho sản phẩm được phổ biến rộng rải trên thị trường mà chi phí tiếp thị lại ít tốn kém hơn Việc thành lập các tổng công ty cũng phải dựa trên tự nguyện và lợi ích kinh tế thì mới có hiệu quả
1.2.6 Về các biện pháp tài chính để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của một ngành sản xuất
Nâng cao sức cạnh tranh của một ngành tức là phát huy nội lực của ngành đó, của các doanh nghiệp trong ngành để tạo ra sức cạnh tranh tổng thể của nhiều khâu từ khai thác nguyên liệu đến sản xuất, vận chuyển,
Trang 30vốn, cơ sở hạ tầng, công nghệ, con người, chính sách, hoạt động tín dụng, tiền tệ, năng lực tiếp thị,… Bởi vậy để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh phải có sự nổ lực đồng bộ từ nhiều phía, hội nhập là xu hướng tất yếu Càng hội nhập ta càng phải nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế
Nội dung cốt lõi của chiến lược xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu đã được xác định trong chiến lược phát triển thời kỳ 1991-2000, được Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định Đó là, một mặt phải đầu tư chiều sâu nâng cao sức cạnh tranh của những sản phẩm do ta làm ra xét trên lợi thế so sánh Mọi phương án sản phẩm phải đặt trong quan hệ so sánh về chất lượng, giá cả với hàng hóa cùng loại trên thị trường khu vực, có tính tới chi phí vận chuyển Cụ thể, những mặt hàng tuy sức tiêu thụ trong nước có hạn nhưng có khả năng cạnh tranh và thâm nhập thị trường bên ngoài thì mạnh dạn phát triển để tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng ngoại tệ nhập thiết bị và những vật tư cần thiết trong nước chưa sản xuất được Kêu gọi đầu tư của nước ngoài càng phải chú trọng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Với quốc gia, mục tiêu của nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh là để nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân Với doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh, với các sản phẩm cùng loại hoặc bằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng cao hơn Nhìn chung, khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp, cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hóa (sản phẩm) ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không cần phải trợ giá Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của ngành da giày phải dựa trên việc áp dụng các qui trình sản xuất, công nghệ tiên tiến và khả năng quản lý tốt nhằm tăng năng suất lao động Lợi thế phải chuyễn từ lợi thế so sánh(bằng lao động rẽ tiền và các tài nguyên thiên nhiên) sang lợi thế cạnh tranh dựa trên năng lực đổi mới của các doanh nghiệp nhằm cung cấp cho thị trường những sản phẩm da giày có chất lượng cao và giá cả hợp lý
Các biện pháp tài chính:
- Các chính sách tài chính của nhà nước nhằm thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài vào hoạt động ở ngành da giày Việt Nam, trên các lĩnh vực từ sản xuất nguyên phụ liệu, sản xuất thiết bị máy móc phục vụ cho
Trang 31ngành da giày, đến việc trực tiếp sản xuất ra sản phẩm da giày, thương mại và dịch vụ trong tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
- Khả năng và chất lượng của các ngân hàng hoạt động ở thị trường vốn nhằm cung cấp nguồn vốn trong nước và hiệu quả của các trung gian tài chính trong việc hướng các dòng vốn(trong nước và nước ngoài) vào việc sản xuất theo hướng xuất khẩu sản phẩm da giày Việt Nam
- Bằng các biện pháp tài chính, nhà nước tiến hành cải tổ các doanh nghiệp nhà nước theo hướng phát triển hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh Kiện toàn tổng công ty có sức mạnh thật sự và hoạt động hiệu quả trong ngành da giày Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân phát triển về số lượng và chất lượng
- Chính sách tài chính để nâng cao giáo dục, đào tạo kỹ năng, tay nghề của người lao động Phải bảo đảm vừa tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng về mẩu mã giày, có sức thu hút khách hàng với giá cả hợp lý Phát triển một thị trường lao động cho việc phát triển các sản phẩm giày dép Việt Nam
- Chính sách tài chính nhằm khuyến khích đổi mới công nghệ, hướng việc nghiên cứu khoa học để đổi mới nguyên phụ liệu, thiết bị, tạo thiết kế mới để phát triển sản phẩm da giày Việt Nam
Các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp có kỹ năng rong việc tìm kiếm các phương pháp quản lý hoạt động tốt hơn bằng cách giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường dịch vụ khách hàng
Giải pháp quản lý chi phí sản xuất
Giải pháp quản lý chi phí sản xuất là một giải pháp tài chính mang tính chất vi mô, nó giúp cho các doanh nghiệp hạ thấp giá thành một cách hợp lý và qua đó mà tối đa hóa lợi nhuận Giải pháp quản lý chi phí sản xuất là giải pháp thuộc về khả năng quản trị của các doanh nghiệp và nó bao gồm mấy yêu cầu sau:
- Quản lý chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu:
Nguyên vật liệu là yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng sản phẩm, do đó cần phải bảo đảm chất lượng nguyên vật liệu theo đúng yêu cầu của loại sản phẩm mà thị trường đang tiêu thụ, không được giảm thấp tiêu chuẩn chất lượng nguyên vật liệu Vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguyên vật liệu, chống lãng phí trong khâu sử dụng nguyên vật liệu Do đó cần phải có định mức nguyên vật liệu cho đơn vị sản phẩm chặt chẽ
Trang 32Nhiên liệu hay năng lượng rất cần thiết để sản xuất được tiến hành Quản lý chi phí nhiên liệu là phải tiết kiệm, chống tiêu hao nhiên liệu, năng lượng quá cao Do đó phải thường xuyên nghiên cứu tạo ra giải pháp tiêu hao năng lượng, nhiên liệu ít nhất nhưng vẩn đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Quản lý chi phí tiền lương:
Muốn giảm chi phí tiền lương trong sản phẩm điều tất yếu là phải nâng cao năng suất lao động Có 2 cách để nâng cao năng suất lao động, đó là nâng cao tay nghề công nhân, hai là cải tiến qui trình công nghệ sản xuất Việc nâng cao tay nghề cho công nhân là rất quan trọng vì nó vừa làm năng suất lao động tăng lên vừa bảo đảm chất lượng sản phẩm cao Việc cải tiến qui trình công nghệ sản xuất là một đòi hỏi của thời đại cạnh tranh chất lượng sản phẩm trên thị trường Do vậy các doanh nghiệp luôn phải dành một phần vốn và có kế hoạch xây dựng các công nghệ sản xuất mới nhằm tiết kiệm chi phí tiền lương, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm
- Quản lý chi phí khấu hao máy móc thiết bị:
Chí phí khấu hao máy móc thiết bị là một phần tất yếu của giá thành sản phẩm Yêu cầu của quản lý chi phí khấu hao máy móc thiết bị là làm sao thu lại đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra khi máy móc thiết bị không còn sử dụng được nữa, cần phải thay thế Ơû đây cần lưu ý sự hao mòn vô hình của máy móc thiết bị sẽ làm cho thời hạn sử dụng máy móc thiết bị rút ngắn lại rất nhiều, mặc dù về mặt hữu hình, máy móc thiết bị chưa bị hư hao gì Yêu cầu thứ hai là làm sao để việc phân bổ chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm ít bị biến động theo thời gian, tốt nhất là ổn định để ổn định giá thành sản phẩm Vấn đế đặt ra là chọn lựa phương thức khấu hao nào cho hợp lý nhất
- Quản lý chi phí quản lý:
Chi phí quản lý là chi phí phục vụ cho bộ máy quản trị doanh nghiệp bao gồm cả chi phí tiền lương, máy móc thiết bị quản lý, giấy tờ, văn phòng phẩm,… Chi phí này không trực tiếp quan hệ với năng suất lao động, với chất lượng sản phẩm nhưng nó hình thành nên một tỉ lệ chi phí trong chi phí sản xuất
Để giảm được chi phí quản lý nhất thiết phải quan tâm đến năng lực quản lý của các nhà quản trị, sao cho số lượng biên chế các nhân viên quản trị không nhiều nhưng công việc quản trị vẩn hiệu quả, từ đó mà giảm bớt chi phí tiền lương của bộ phận quản trị, nhưng lại nâng cao tiền lương từng nhân viên quản lý để kích thích sự sáng tạo của nhà quản trị
Trang 33Thứ hai là phải gạt bỏ ra ngoài chi phí quản lý những chi phí không cần phải có, chỉ giữ lại những chi phí tất yếu phải có
Thứ ba là tiết kiệm các chi phí vật chất trong quản trị
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Giải pháp tài chính ngoài các giải pháp để huy động vốn, còn có những giải pháp mang tính chất quản lý vĩ mô, khuyến khích các nhà đầu tư vào lãnh vực đầu tư mà nhà nước mong muốn Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong ngành da giày Việt Nam cần có giải pháp tài chính đồng bộ, trong đó bao gồm:
- Các giải pháp để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, chuyển giao công nghệ hiện đại cho ngành da giày Việt Nam
- Các giải pháp để cung ứng vốn, công nghệ cho các ngành chăn nuôi lấy da
- Các giải pháp để cung ứng vốn cho quá trình hiện đại hóa các doanh nghiệp thuộc sở hữu Việt Nam
- Các giải pháp tài chính cho việc đào tạo một đội ngũ các nhà quản lý giỏi
- Các giải pháp về thuế, về chính sách tiền tệ nhằm tạo điều kiện ban đầu cho các nhà sản xuất kinh doanh nâng cao tỉ lệ tái đầu tư thu nhập để gia tăng phần vốn cho người Việt Nam sở hữu trong các doanh nghiệp da giày Aùp dụng chính sách tỉ giá thích hợp để khuyến khích xuất khẩu, sử dụng một phần ngoại tệ thích đáng vào quá trình nhập khẩu các công nghệ hiện đại, các nguyên phụ liệu cho sản xuất kinh doanh đồng bộ
Để nâng cao khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh của một ngành sản xuất bắt đầu từ việc đầu tư vốn cho ngành sản xuất đó có đủ về qui mô và chất lượng hay không? Một nước xuất khẩu một sản phẩm nào đó phải đảm bảo 2 điều kiện số lượng và chất lượng Nếu số lượng một hàng hóa nào đó không đủ qui mô cho mỗi lần xuất, không bảo đảm số lượng cho một hợp đồng sẽ làm cho nhà nhập khẩu nản chí và không muốn ký kết hợp đồng
Bên cạnh đảm bảo số lượng hàng hóa sản xuất trong cơ chế hiện đại phải đảm bảo chất lượng, thoả mãn nhu cầu, thị hiếu của người sử dụng Muốn đảm bảo chất lượng sản phẩm phải có giải pháp cho việc huy động các nguồn tài chính đầu tư đủ số lượng vốn cần thiết cho quá trình mua sắm, cải tiến, hiện đại hóa công nghệ sản xuất,…
Trang 34Nói tóm lại, sự đầu tư tài chính không đầy đủ sẽ dẫn đến không đảm bảo sự đồng bộ, không đảm bảo qui mô sản xuất và chất lượng hàng hóa, điều đó sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp Một điều cần lưu ý là trên thị trường xuất khẩu hiện nay việc bán chịu hàng hóa như là một công cụ để gia tăng sức cạnh tranh Mà điều đó chỉ có thể làm được đối với các doanh nghiệp có nguồn tài chính mạnh, có sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng mạnh thì mới có thể thực hiện việc bán chịu rộng rãi được Bán chịu thực chất là nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu vay và điều đó chỉ có thể làm khi mà các giải pháp tài chính được hoạch định và thực hiện tốt
1.3 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM
1.3.1 Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Việt Nam là một nước đông dân trên thế giới, lực lượng lao động dồi dào những công ăn việc làm còn rất hạn chế Lao động Việt Nam chủ yếu là lao động giải phóng từ lãnh vực nông nghiệp, từ tầng lớp học sinh phổ thông chưa qua đào tạo nghề nghiệp Do vậy nhà nước cần phải có những chính sách để sử dụng lực lượng lao động này để phát triển nền kinh tế Một trong những giải pháp để tạo công ăn việc làm hiện nay là phải tiếp nhận các lãnh vực sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động, không đòi hỏi thời gian đào tạo dài, có thể sử dụng được các máy móc công nghệ đơn giản Một trong những ngành có tính chất như vậy là ngành da giày
Ngành sản xuất da giày bao gồm 3 lãnh vực chính:
- Chăn nuôi vật lấy da như trâu bò, dê, trăn, cá sấu,… ngành này dể phát triển trong điều kiện Việt Nam Và nó cũng sẽ thu hút một lực lượng lao động lớn, đồng thời nó còn cung cấp nhiều sản phẩm khác rất quan trọng cho nền kinh tế như thịt, sửa,…
- Ngành thuộc da và sản xuất nguyên liệu giả da Để có được da làm nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm cần phải có da nguyên liệu trong đó một bộ phận là có nguồn gốc từ da súc vật phải qua giai đoạn thuộc da Một phần khác là da sản xuất từ các nguyên liệu khác gọi là da giả Lãnh vực này nếu phát triển tốt ở Việt Nam nó sẽ không những cho phép cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất sản phẩm da và giả da mà còn là nơi thu hút một lượng lớn lao động Ngành này cũng không đòi hỏi tay nghề cao và lực lượng lao động Việt Nam có thể thích ứng nhanh vào ngành sản xuất này
Trang 35- Sản xuất sản phẩm từ da và giả da Sản phẩm sản xuất từ da và da giả bao gồm nhiều loại khác nhau như túi xách, găng tay, dây nịt, áo quần, giày dép các loại
Đây là loại sản phẩm cuối cùng của ngành da giày được đưa đến cho người tiêu dùng khi chấm dứt quá trình sản xuất
Sản phẩm da giày là sản phẩm vừa để tạo sự thuận lợi trong di chuyển, song nó còn là sản phẩm làm đẹp cho con người, cho nên chắc chắn rằng sản phẩm da giày luôn được mọi người quan tâm cả về số lượng lẫn chất lượng Sản phẩm da giày là sản phẩm mang tính thời trang nên khả năng tiêu thụ sẽ tăng lên cùng chiều với sự phát triển kinh tế là điều hợp lý Ngành da giày Việt Nam trong những năm vừa qua đã phát triển nhanh chóng Đến năm 2000, đã sản xuất và tiêu thụ 302.800 ngàn đôi giày các loại, thu hút hơn 400.000 lao động phục vụ trực tiếp trong ngành sản xuất giày dép và hàng chục ngàn lao động làm việc ở các ngành liên quan phục vụ cho công nghiệp sản xuất giày dép
Ngành da giày cho phép mở rộng chăn nuôi các loại gia súc lớn như trâu bò, dê, ngựa, trăn,… là lợi thế mà Việt Nam ở vào vùng nhiệt đới có điều kiện phát triển rộng lớn Việc chăn nuôi súc vật và các loài cho da có thể kết hợp để chăn nuôi cho thịt sữa, phát triển ngành chăn nuôi lấy da, như vậy vừa tạo ra công ăn việc làm ở các vùng sâu, vùng xa kết hợp với trồng rừng, xây dựng các khu rừng đặc dụng chăn nuôi dê, bò, trăn, cá sấu để bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên của Việt Nam, kết hợp với phát triển ngành du lịch sinh thái, du lịch xanh là một hướng phát triển nhiều thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Ngành da giày là ngành sử dụng nhiều lao động: lao động chăn nuôi, lao động trong ngành lấy da và thuộc da, lao động trong ngành giày và các sản phẩm gần gũi như túi xách, ví, bóp da, cặp da,…Tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo duy trì các vùng sinh thái, ổn định sự định cư ở các vùng sâu vùng xa, chống lại sự di dân vào các khu đô thị là rất cần thiết cho sự phát triển nền kinh tế hiện nay
Kết hợp chăn nuôi với trồng rừng và trồng các loại cây công nghiệp, cây cao su, cây ngũ cốc là một hướng phát triển cần quan tâm trong đường lối phát triển kinh tế Vì rằng điều đó cho phép khai thác các lợi thế từng vùng Ví dụ như các vùng trung du, các khu vực ít thuận lợi cho trồng lúa hoặc phát triển đô thị có thể qui hoạch phát triển các vùng trồng ngô, mía, cỏ cho chăn nuôi trâu bò, cá sấu, trăn,… Sự kết hợp này sẽ tạo ra các vùng
Trang 36sinh thái đặc thù, không xâm phạm thiên nhiên, tạo môi trường sinh thái ổn định và việc đầu tư cũng sẽ ít tốn kém hơn so với phát triển các ngành công nghiệp khác
Việc kết hợp giữa sản xuất nguyên liệu tại chổ để sản xuất ra hàng tiêu dùng và xuất khẩu với lợi thế có sẵn bao giờ cũng cho phép nâng cao thu nhập quốc dân dể dàng hơn là sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu Hơn nửa, chăn nuôi gia súc và các loại lấy da là một lợi thế của địa hình Việt Nam, có thể cho phép nâng cao hiệu quả cạnh tranh trên thị trường thế giới
Nếu như ở năm 1997, toàn ngành da giày Việt Nam thu hút khoảng 200.000 lao động thì đến năm 2000, đã tăng gấp đôi: 400.000 lao động (trong đó lao động nữ chiếm 80-85%) Số lao động này chủ yếu lấy từ thanh niên nông thôn(chuyển dịch cơ cấu lao động) Riêng khu vực ớ phía Nam có tới 327.000 lao động (chiếm trên 80% tổng số lao động của cá nước trong ngành da giày – tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đông Nam Bộ) Theo kế hoạch phát triển ngành da giày, đến năm 2010 sẽ thu hút khoảng gần một triệu lao động Điều này vô cùng quan trọng ở chổ: trong quá trình phát triển của ngành da giày tuy với thu nhập chưa cao, nhưng đã giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn dân cư, nhất là thanh niên dôi ra từ lao động nông nghiệp ở nông thôn Qua đó, góp phần xoá đói, giảm nghèo, một quốc sách cho nước ta kết hợp giữa giải quyết vấn đề phát triển kinh tế với giải quyết những vấn đề xã hội trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Lao động giày dép, hiện nay chiếm 10,8% so với lao động toàn ngành công nghiệp Việt Nam(năm 2000: 400.000 lao động so với gần 4 triệu lao động công nghiệp)
1.3.2 Đầu tư vốn ít nhưng hiệu quả cao:
Như trên đã phân tích, ngành da giày Việt Nam là một ngành có lợi thế của Việt Nam, có thể chọn để tham gia vào phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế và qua đó ta tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế
Công nghiệp hoá là quá trình sử dụng máy móc công nghệ để thay thế cho sản xuất thủ công Ơû đó con người điều khiển máy móc thiết bị để sản xuất ra những sản phẩm có qui cách chất lượng đồng nhất với số lượng lớn và chất lượng cao Đầu tư vốn ở đây, hiểu theo nghĩa rộng là vốn để đào tạo lực lượng lao động và vốn để mua sắm trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao
Trang 37Trong điều kiện Việt Nam hiện nay khi mà lao động còn ở giai đoạn chưa được đào tạo, chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang Do vậy quá trình tiếp cận với máy móc thiết bị còn thấp, hơn nữa tình hình tài chính của nhân dân ta còn rất nhiều khó khăn, ngân sách nhà nước còn eo hẹp, chưa thể vươn lên năm ngay những ngành kinh tế có kỹ thuật cao trong quá trình công nghiệp hóa được
Vì vậy bắt buộc chúng ta phải căn cứ vào tình hình thực tế để chọn điểm xuất phát cho quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế Hiện nay Việt Nam có thể bắt đầu điểm xuất phát đó trong các lãnh vực như nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến sản phẩm nông nghiệp dần dần
ta mới có thể tiến lên tiếp cận các ngành sản xuất có kỹ thuật cao với qui mô lớn như sản xuất hàng điện tử, thiết bị ô tô, máy công nghiệp,…
Hơn nữa, nếu hiện nay Việt Nam chọn các ngành có kỹ thuật cao để tiến hành công nghiệp hóa thì việc thu hút lao động vẫn rất hạn chế trong lúc ta cần phải tạo công ăn việc làm cho người lao động Vì vừa phải tiến hành công nghiệp hóa vừa phải tiến hành các biện pháp để chống thất nghiệp cho nên vẫn phải quan tâm đến một số ngành nghề có sức thu hút nhiều lao động có thể tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới được
Nếu chọn một ngành sản xuất mà thế giới đã bỏ xa Việt Nam về mặt công nghệ thì rất khó có thể cạnh tranh với thế giới, hoặc chỉ có thể tham gia vào một số khâu sản xuất đơn giản như lắp ráp Điều đó Việt Nam vẫn có thể tham gia, song nó không phải là biện pháp cơ bản để tiến hành hiện đại hóa nền kinh tế Trong hiện đại hóa nền kinh tế yêu cầu còn phải tạo
ra sự chủ động trong quá trình sản xuất, cho phép Việt Nam thường xuyên chủ động trong quản lý, trong cải tiến công nghệ sản xuất Ngành da giày là một ngành mà hiện nay trong xu hướng phân công lại lao động quốc tế đang chuyển dần vào các nước có nhiều lao động Vì vậy Việt Nam dể dàng có cơ hội nắm được toàn bộ quá trình sản xuất và dể dàng tiếp cận các công nghệ hiện đại của thế giới
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong sản xuất ngành da giày nói riêng cho Việt Nam có thể khai thác được nhiều sản phẩm khác có nguồn gốc nông nghiệp đó là công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngành chăn nuôi lấy sửa và thịt ở Việt Nam Ngành da giày là ngành kinh tế có thể khai thác nhiều lĩnh vực có tiềm năng ở nước ta trong giai đoạn đầu của tiến
Trang 38trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đầu tư vốn ít, nhưng mang
lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao, vừa tầm với sức của ta
Qua nghiên cứu phụ lục số 1, chúng ta thấy rằng để xây dựng một nhà
máy sản xuất hoàn chỉnh, bao gồm từ xây dựng nhà xưởng, trang thiết bị
cần vốn đầu tư từ 0,5 đến 1,0 triệu USD (tùy theo từng chủng loại giày), để
có công suất 600.000 đôi/năm và giải quyết việc làm cho gần 400 lao
động Số đầu tư trên chưa kể tiền đất Đất xây dựng là một vấn đề lớn đối
với doanh nghiệp làm giày dép, bởi lẽ khác với những nhà máy sản xuất
hàng hóa có công nghệ kỹ thuật cao, nhà máy giày dép, cần diện tích xây
dựng lớn, từ 5.000 m2 cho đến vài chục ngàn m2 Vì vậy, nhà nước cần có
chính sách cho thuê đất ở các khu công nghiệp tập trung với giá cả ưu đãi
hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp da giày phát triển
Các khu công nghiệp tập trung, trong giai đoạn đầu của thời kỳ công
nghiệp hóa, thường là nơi tập trung của các doanh nghiệp may mặc và da
giày
1.3.3 Góp phần tích lũy cho qúa trình công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nước:
Ngành da giày ngày càng có một vị trí quan trọng trong cơ cấu các
ngành chiến lược xuất khẩu của Việt Nam (sau dầu thô và may mặc)
Bảng 1.2: Xuất khẩu ngành giày so với xuất khẩu toàn quốc
1997 1998 1999 2000
Kim ngạch xuất khẩu giày 964.500 1.000.822 1.334.455 1.468.120
Tổng trị giá XK toàn quốc 8.758.000 9.232.300 11.540.000 14.448.000
[20, trang 15]
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ một nước nghèo có mức thu nhập
nằm trong nhóm 39 quốc gia nghèo nhất thế giới, việc chọn ngành da giày,
sử dụng nhiều lao động nhằm giải quyết việc làm cho lao động với số
đông(về lượng) và trình độ thấp (về chất) Đồng thời do vốn tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế còn thấp, sự thiếu hụt lớn trong thanh toán hiện nay(khoảng
10% GDP năm 1995) là thích hợp với việc lựa chọn ngành công nghiệp da
giày: sử dụng nhiều lao động, cần ít vốn đầu tư Ngành công nghiệp da
giày có khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Tạo ra sự
Trang 39tích lũy cho nền kinh tế của đất nước Cũng chính từ ngành “công nghiệp hạ lưu” – cần nhiều lao động ở trình độ thấp: da giày, may mặc và khai thác các tài nguyên , xuất bán ở dạng thô chưa qua chế biến sâu Ngành da giày ngày một phát triển sẽ tích lũy để tái đầu tư cho chính ngành da giày và cho đất nước Đến năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đã đạt gần 1,5 tỷ USD chiếm 10% trong tổng số 15 tỷ USD(lấy tròn) xuất khẩu cả nước
Sự phát triển của ngành công nghiệp da giày sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác như cơ khí(chế tạo thiết bị, chế tạo khuôn đế giày, cơ khí sửa chửa), thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải(hàng hải, đường bộ, đường sắt, hàng không), viễn thông, điện, nước và các ngành liên quan(hải quan, thuế vụ, ngân hàng, tài chính,…) cùng phát triển, góp phần to lớn cho nguồn thu ngân sách, tích lũy của đất nước
Phát triển ngành da giày tạo ra điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nghề truyền thống, lao động thủ công kỹ xảo phát triển nhanh, nhằm tạo ra việc làm trong việc phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất, đặc biệt là ở nông thôn, ven đô thị của các thành phố lớn
Phát triển ngành da giày tạo ra việc làm cho các ngành sản xuất vải sợi, dệt nhuộm, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp giấy(bao bì) Các ngành công nghiệp sản xuất cao su(tự nhiên và tổng hợp), công nghiệp in ấn, mỹ thuật, thiết kế thời trang Và rất nhiều ngành công nghiệp khác cùng phát triển Đây là mối quan hệ tương hỗn, tạo ra đà phát triển của kinh tế đất nước
Trang 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Ngành da giày là một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam là một ngành có lợi thế của Việt Nam, do nó gắn liền với nguồn nguyên liệu có gốc từ sản xuất nông nghiệp, đó là chăn nuôi và trồng trọt
Vì vậy phát triển ngành chăn nuôi lấy da song song với chăn nuôi lấy thịt và sửa, phát triển ngành trồng trọt để lấy mủ(cao su), khai thác các vùng đất tương đối cằn cổi ít thích hợp với các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao khác
Để phát triển ngành da giày đòi hỏi phải có những giải pháp tài chính thích hợp trong đó quan trọng nhất là giải pháp huy động vốn để thỏa mãn các nhu cầu đầu tư cho xây dựng các khu chăn nuôi lấy da, thuộc da, nhà máy sản xuất các sản phẩm từ da, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lao động Phát triển ngành da giày sẽ mang đến cho nền kinh tế Việt Nam mấy hiệu quả lớn sau:
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động chưa có tay nghề cao và đòi hỏi thời gian đào tạo ngắn, chi phí đào tạo ít
- Đầu tư vốn ít nhưng mang lại hiệu quả cao
- Thúc đẩy quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế
- Góp phần tích lũy cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam