Trải qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang để giành lại độc lập tự do chođất nước, các cuộc chiến tranh chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ Tổquốc, dân tộc ta đã hình thành và ngày càn
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm của Đảng cộng sản Việt Nam cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài thể hiện
ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã từng nói “Dân ta có
một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”
Việt Nam chúng ta có lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữnước vô cùng oanh liệt Các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược do nhândân ta tiến hành đều là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, thu hút được đông đảoquần chúng tham gia ủng hộ Trong các cuộc chiến tranh ấy, nhiều trận đánhhay đã mãi mãi ghi vào sử sách, vào tâm trí mỗi người dân Việt Nam Ngày nay,nhìn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng ta càng tự hào vềtruyền thống hào hùng ấy Nghệ thuật chiến tranh nhân dân đã được hình thànhrất sớm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta Theo đại tướng VõNguyên Giáp, chiến tranh nhân dân có từ thời 2 bà Trưng vào những năm 40(cách đây 1965 năm), các cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542 - 544), khởi nghĩa MaiThúc Loan (722), khởi nghĩa Phùng Hưng (767 - 791) các cuộc chiến tranhtrong các đời Trần, Lê đều là các cuộc chiến tranh nhân dân và đã dành đượcnhững thắng lợi hết sức vẻ vang Bên cạnh chiến thắng, lịch sử những cuộcchiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam có ghi lại 3 lần thất bại: Thất bại của AnDương Vương trước Triệu Đà; thất bại của Hồ Quý Ly trước nhà Minh, và thấtbại của Triều Nguyễn trước thực dân Pháp Dù không có chung bối cảnh lịch
Trang 2sử, nhưng cả 3 thất bại trên đều có chung một nguyên do Nguyên do ấy xuất
phát từ tầng lớp lãnh đạo của cuộc kháng chiến: “Để mất lòng dân” chiến tranh
nhân dân Việt Nam đã trải qua những bước phát triển trong lịch sử đấu tranh vũtrang của dân tộc từ thấp đến cao và đạt đến đỉnh cao trong thời đại Hồ ChíMinh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Cuộc chiến nào cũng phải
có yếu tố nhân dân, phải huy động được một lực lượng quần chúng tham gia.Quá trình chống kẻ thù xâm lược, giữ nước hoặc giải phóng dân tộc hoặc bảo
vệ Tổ quốc mỗi thời đại lịch sử có khác nhau, song rốt cuộc thì dù dài, dù ngắnnhân dân ta đều đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng được dân tộc Vậnnước có lúc thịnh lúc suy, song mỗi khi có kẻ thù xâm lược, nhân dân ta lạiđoàn kết đứng lên chiến đấu chống bọn xâm lăng, bảo tồn nòi giống, văn hóa
dân tộc Việt Nam
Thứ hai,Việt Nam chúng ta trong suốt chiều dài lịch sử phải liên tục
chống kẻ thù xâm lược, dân tộc ta luôn ở trong tình thế chiến đấu không cânsức, nhất là ở thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh So với lựclượng đối kháng chúng ta còn thua kém trên nhiều phương diện so sánh, ngoạitrừ tinh thần yêu nước và ý chí độc lập tự do của nhân dân Do đó đòi hỏi nhândân ta, dân tộc ta muốn đánh thắng kẻ thù chỉ có một con đường duy nhất làphát động chiến tranh nhân dân, huy động đông đảo lực lượng nhân dân thamgia vào cuộc chiến đấu, tạo nên sức mạnh dân tộc to lớn đánh thắng kẻ thù, tạonên sức mạnh chiến tranh toàn dân, toàn diện không một thế lực quân sự tànbạo nào có thể đè bẹp nổi
Trải qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang để giành lại độc lập tự do chođất nước, các cuộc chiến tranh chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ Tổquốc, dân tộc ta đã hình thành và ngày càng phát triển một nền nghệ thuật quân
sự trong chiến tranh nhân dân Việt Nam rất độc đáo, đặc sắc và ưu việt Chính
sự độc đáo đó của nghệ thuật quân sự việt Nam đã góp phần làm nên những
Trang 3chiến công hiển hách vang dội lịch sử của dân tộc, làm cho quân thù luôn bịđộng, bất ngờ chuyển mạnh thành yếu và cuối cùng đi đến thất bại nặng nề.Trong các cuộc chiến tranh ấy, lịch sử dân tộc việt Nam lại một lần nữa ca khúc
ca khải hoàn khi đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, một đế quốc hùng mạnhnhất trên thế giới Điều đó đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng dân tộc việtNam, nhân dân việt Nam tuy nhỏ bé nhưng không dễ gì đánh bại, Việt Nam cóchiến tranh nhân dân, có truyền thống đánh giặc giữ nước lâu đời, có tinh thầnđoàn kết, thống nhất trong dân tộc đã phát triển lên thành nghệ thuật quân sựViệt Nam ưu việt và hiện đại không một thế lực nào có thể đánh thắng nổi, nétđộc đáo đặc sắc ấy thể hiện một cách đầy đủ trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước của nhân dân ta
Lý luận và thực tiễn chiến tranh nhân dân Việt Nam thực sự là một cốnghiến quan trọng đối với phong trào đấu tranh vũ trang giải phóng của nhân dân
và các dân tộc bị áp bức trên thế giới Chính vì vậy mà tôi lựa chọn đề tài này
để tìm hiểu một cách sâu sắc về nét độc đáo đặc sắc của nghệ thuật “Chiến
tranh nhân dân” Việt Nam, đồng thời bổ sung vào nguồn kiến thức giúp tôiphong phú về nội dung khi giảng dạy môn học GDQP
II Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự
“Chiến tranh nhân dân” Việt Nam
- Tìm hiểu về những nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật quân sự từ thế
kỷ X đến thế kỷ XVIII.
- Nghiên cứu để có thể làm tài liệu tham khảo và làm cơ sở để giảng dạy
môn “Giáo Dục Quốc Phòng” sau này
Trang 4III Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu, đề tài cần tập trung giải quyết cácnhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nghệ thuật chiến tranhnhân dân
Thứ hai: Tìm hiểu nghiên cứu các yếu tố tác động và nội dung nghệ thuậtđánh giặc giữ nước của tổ tiên từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
Thứ ba: Nghiên cứu về nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật quõn sự ViệtNam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
IV Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp lý luận thông qua việc nghiên cứu thu thập tàiliệu, các kênh thông tin quân đội
- Sử dụng phương pháp hệ thống để thể hiện đầy đủ quá trình hình thành
và phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam
V Giả thuyết khoa học
Sau khi nghiên cứu thành công, đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hiểu đượcnét độc đáo sâu sắc của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam quacác giai đoạn lịch sử đồng thời giúp chúng ta hiểu thêm về nghệ thuật quân sựViệt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ
X đến thế kỷ XVIII Đây sẽ là nguồn tài liệu trợ giúp chúng ta khi giảng dạy
môn Giáo Dục Quốc Phòng chuyên ngành: Đường lối quân sự
Trang 5B NỘI DUNG NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN TỪ THẾ KỶ
X ĐẾN XVIII
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII dân tộc ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởinghĩa, hàng chục cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc.Qúa trình đánh giặc đó tổ tiên ta đã xây dựng nên truyền thống và nghệ thuậtđánh rất độc đáo và sáng tạo, đó là: Tinh thần đoàn kết, yêu nước, ý chí tự lực
tự cường và tinh thần quyết đánh và quyết thắng, với tư tưởng tích cực chủđộng tiến công, toàn dân là binh cả nước đánh giặc, đánh giặc mưu trí sáng tạo,dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều lấy yếu chống mạnh
I Những yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên
1.1 Địa lý
Nước ta nằm ở cực đông bán đảo Đông Dương, phía Đông Nam lục địaChâu á (toạ độ địa lý: 16’00N, 18 00E), chiếm diện tích khoảng 331 688km2.Phía Đông và Nam tiếp giáp Thái Bình Dương trong vùng nhiệt đới gió mùa,biên giới giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Bắc Bộ và Biển Đông ở phía Tây,Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Căm pu Chia ở phía Tây Đất nước ta có hìnhchữ S, với khảng cách từ Bắc đến Nam khảng 1650 km, vị trí hẹp nhất chiềuĐông sang Tây là 50 km Với đường bờ biển dài 3260 km không kể các đảo,Việt Nam tuyên bố có 12 hải lý ranh giới lãnh thổ Nước ta có địa hình đa dạngbao gồm rừng núi Cao Nguyên, Trung Du chiếm 3/4 lãnh thổ, nhiều sông ngòikênh rạch Nước ta có 2 con sông lớn nhất là Sông Hồng và Sông MêKông bắtnguồn từ Tây Bắc lục địa Châu á chảy ra Biển Đông tạo ra hệ thống giao thông,
thuỷ chiến lược rộng khắp Từ xa xưa nước ta đã có đường “Thiên di” của
nhiều tộc người tạo nên 2 trục đường chính nối dài từ Bắc vào Nam
Trang 6Do Việt Nam là nước giàu tài nguyên, có điều kiện để phát triển nền sảnxuất nông nghiệp nhưng lại nằm ở vành đai thiên tai, lụt lội, khí hậu không điềuhoà Mặt khác nước ta nằm ở một vị trí chiến lược hết sức quan trọng, cửa ngõ
đi vào lục địa Châu á, đi ra Thái Bình Dương, điểm cắt nhau của đường thiên diBắc Nam và Đông Tây Vì thế nước ta luôn bị các thiên tai địch hoạ, kẻ thù dòmngó tiến công xâm lược Điều này đòi hỏi dân tộc ta phải biết đoàn kết, cảnhgiác, sát cánh bên nhau, cùng nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp chống lại sự tànphá của thiên nhiên, đánh bại mọi kẻ thù để tồn tại, xây dựng và phát triển đất
nước Trong đánh giặc, tổ tiên ta đã biết vận dụng yếu tố “thiên thời, địa lợi”
sáng tạo ra nhiều cách đánh phù hợp hiệu quả như: Lợi dụng núi rừng, đèo dốc,sông biển, đồng ruộng ao hồ, đầm lầy để tiêu diệt kẻ địch, bảo vệ mình Đúng
như Nguyễn Trãi đã viết “Quan hà bách nhị do thiên thiết” (quan hà hiểm yếu
hai người chống lại được trăm người)
tế thấp ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật đánh giặc của dân tộc Vì vậy ngay
từ thời kỳ đầu dựng nước, dân tộc ta đã biết kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đấtnước đi đôi với chăm lo củng cố quốc phòng, sẵn sàng đánh giặc giữ nước theo
tinh thần tự lực tự cường, quán triệt tư tưởng “Quốc phú binh cường” Trong
xây dựng đất nước tổ tiên ta đã đề ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế,
củng cố quốc phòng như “ngụ binh ư nông” của nhà Lý, “Khoan thư sức dân
để làm kế sâu rễ bền gốc” của nhà Trần, “Ra sức làm đường, đắp đê, đào kênh rạch cải tạo đồng ruộng, đẩy mạnh chăn nuôi sản xuất ra các loại công cụ lao động, đóng thuyền bè để phát triển sản xuất, cơ động quân đội” Trong đánh
Trang 7giặc nhân dân ta đã biết cất giấu lương thực để ổn định đời sống, nuôi quân, sửdụng các công cụ lao động sản xuất ra các loại vũ khí trang bị như mũi tênđồng, cung nỏ, vót chông để đánh giặc bảo vệ Tổ quốc
1.3 Chính trị
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, không qua chế độchiếm hữu nô lệ, phân vùng cát cứ không nhiều Do phải cùng nhau chung lưngđấu cật chống lại thiên tai, địch hoạ, các nhà nước phong kiến đã có những tưtưởng tiến bộ thân dân, những chính sách hoà hợp dân tộc đúng đắn, nên cácdân tộc ít xảy ra mâu thuẫn, hận thù Các dân tộc đều sống hoà thuận, gắn bóthuỷ chung, yêu quê hương đất nước Đây là nhân tố, là cơ sở tạo nên sức mạnhđoàn kết, thống nhất dân tộc, sự cố kết cộng đồng bền vững Trong quá trìnhxây dựng đất nước, chúng ta đã tổ chức ra nhà nước xác định chủ quyền lãnhthổ, tổ chức ra quân đội, đề ra luật pháp để quản lý, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Các nhà nước phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng trọng dân, đưa ranhiều chính sách hợp với lòng dân, xác định vai trò, vị trí của quần chúng nhân
dân, mối quan hệ giữa dân với nước, nước với dân được ví như “không thể phân biệt được đâu là cá đâu là nước” nên đã động viên và phát huy được sức
mạnh toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước, động viên cả nước đánhgiặc gìn giữ non sông Trong đánh giặc, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm,kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết tâm cao, với ý chí quật cường sắt đá vànghị lực phi thường, luôn sáng tạo ra nhiều cách đánh hay, đánh giặc mềm dẻokhôn khéo, mưu trí sáng tạo Dân tộc ta đã chiến đấu và đánh bại nhiều kẻ thù,bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững độc lập cho dân tộc
1.4 Văn hoá - xã hội
Dân tộc ta có một nền văn hoá bản địa xuất hiện sớm, từ thời tiền sử vớikết cấu bền vững có nhà, có làng, có bản, có nhiều dân tộc cùng chung sống,
Trang 8mỗi dân tộc, làng xã lại có một truyền thống phong tục tập quán riêng Nhưngtrong quá trình lao động, đấu tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì các dântộc đã vun đắp nên những truyền thống văn hóa chung như: Tinh thần yêu nước,đoàn kết, gắn bó, yêu thương đùm bọc che chở lẫn nhau, ý thức lao động cần cùsáng tạo, ý chí tự lực tự cường, đấu tranh dũng cảm, kiên cường, bấtkhuất Đây là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc để chống lại thiên nhiên, đánhbại mọi thế lực, mọi kẻ thù xâm lược Truyền thống ấy được thể hiện rõ nét và
sâu sắc qua các truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Sơn Tinh - Thuỷ Tinh”, “Thánh Gióng” Trong quá trình xây dựng đất nước, dân tộc ta luôn coi
trọng phát triển nền văn hoá, giáo dục kiến thức hội hoạ, âm nhạc mang bản sắctruyền thống dân tộc, đồng thời không ngừng tiếp thu có chọn lọc những tinhhoa của nền văn hoá thế gới làm cho nền văn hóa nước ta ngày càng phong phú,
đa dạng và tràn đầy sức sống
Tóm lại, Các yếu tố địa lý kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội có ảnh hưởng
rất lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta Tất cả nững yếu tố đó đã khôngngừng được tìm tòi và phát triển, tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta trongquá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh bảo vệ giống nòi, giữvững nền độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
II Nội dung nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta từ thế kỷ
X đến thể kỷ XVIII
Từ thế kỉ X, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã dành được độc lập tựchủ, đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật đánh giặc ViệtNam dưới chế độ phong kiến Nghệ thuật đánh giặc trong thời kỳ này là sự kếthừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc của nhân dân Âu Lạc trước đây, cũngnhư của các vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lê Lợi, NguyễnTrãi, Nguyễn Huệ
Trang 9Nội dung nghệ thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta thời kỳ này đượcthể hiện ở những mặt sau đây
2.1 Tư tưởng, kế sách đánh giặc
Với tư tưởng tích cực chủ động tiến công và kế sách đánh giặc mềm dẻo,khéo léo của dân tộc ta đã được các triều đại Lí, Trần, Hậu Lê và Quang Trungvận dụng một cách linh hoạt, sánh tạo, đưa quân và dân ta đánh bại nhiều kẻ thùxâm lược, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổcủa Tổ quốc và được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, Tư tưởng tích cực, chủ động tiến công
Lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho
thấy: “Tư tưởng chiến lược tiến công là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đánh
thắng các đạo quân xâm lược đất nước ta”
Quan điểm quân sự của dân tộc Việt Nam cho rằng: chỉ có tiến công vàtiến công một cách kiên quyết mới có thể đánh bại được kẻ thù để giải phóngđất nước và bảo vệ Tổ quốc Và trên thực tế, các cuộc chiến tranh chống xâmlược đã giành được thắng lợi, dân tộc Việt Nam đều rất coi trọng nghệ thuật tiếncông và thực hiện tiến công rất tài giỏi
Cách tiến công của chúng ta là tích cực chuẩn bị, tiến công liên tục, tiến
công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ Đạt được mục tiêu tiến công là tiêudiệt nhiều sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng ta và địch trên chiến
trường, thay đổi cục diện chiến tranh và ta dành thắng lợi Tư tưởng tích cực chủ động tiến công là chủ động giành quyền đánh giặc trên các mặt trận của dân
tộc, kiên quyết tiến công bằng sức mạnh tổng hợp toàn dân, không thụ độngphòng ngự đó là yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh và là nét đặc sắctrong nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta Với thế cơ động tiến công
từ mọi phía, hãm địch vào thế bị động lúng túng, nắm được thời cơ chuyển sang
Trang 10phản công, tiến công và giành thắng lợi Từ thời nhà Trần vào thế kỉ thứ XIII,trước thế mạnh của quân Nguyên - Mông, tư tưởng tích cực chủ động tiến côngđược thể hiện bằng việc không chấp nhận yêu sách của Chúa Nguyên, mà độngviên nhân dân cả nước chuẩn bị vũ khí kháng chiến, xây dựng quyết tâm đánh
giặc cao cho quân dân cả nước Với ý chí “sát thát” thề giết giặc Nguyên
-Mông Khi quân Nguyên Mông vào xâm lược nước ta, nhà Trần đã phát huysức mạnh toàn dân, thế trận làng nước, chặn giặc phía trước, đánh giặc phía sau,triệt phá đường tiếp tế lương thực, cô lập địch, tập trung lực lượng, kết hợp chặtchẽ giữa tiến công và rút lui, phản công chiến lược và kết quả cả 3 lần đều đánhbại cuộc tiến công xâm lược của giặc Nguyên Mông
Đầu thế kỉ XV trước sự xâm lăng của giặc Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi
đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Với lòng yêu nước thương dân,
ý chí căm thù giặc của nghĩa quân Lam Sơn “Không đội trời chung với giặc, thề không cùng sống chung với chúng” đã chuyển thành quyết tâm đánh giặc rất kiên cường của quân sĩ dù phải “Nằm gai nếm mật vẫn bền gan chiến đấu” Thời kỳ đầu khởi nghĩa, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn “Sớm tối không được hai bữa áo mặc, đông hè chỉ được có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không” Nhiều lần bị kẻ địch vây hãm, Lê Lợi đã tổ
chức cuộc tiến công phá thế bao vây phong tỏa của kẻ thù Đến năm 938 chỉbằng một trận Ngô Quyền đã đánh tan đội thuỷ quân xâm lược của Lưu HoằngThao trên sông Bạch Đằng, kết thúc thời kỳ mất nước kéo dài hàng ngàn năm
Thời nhà Lý, do có nhiều chính sách, cải cách tiến bộ để xây dựng đất
nước, củng cố quốc phòng như: “khuyến nông”, “ngụ binh ư nông” (gửi quân ở
dân) đã tạo nên sức mạnh, giành quyền chủ động đánh bại mọi âm mưu thủđoạn mua chuộc lôi kéo, đe doạ, xâm lấn biên giới của kẻ thù Trước nguy cơ bị
quân Tống xâm lược, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của nhà Lý là: “Giành quyền chủ động đánh trước để phá thế mạnh của giặc” Lý Thường Kiệt nói “Ngồi
Trang 11yên chờ giặc không bằng đem quân ra chặn trước mũi nhọn của chúng”, bằng
hành động thiết thực của mình, đích thân vua Lý Thái Tông cầm quân xuốngphương Nam đánh giặc Chăm Pa, đã phá được thế liên kết gọng kìm của kẻ thù
từ hai đầu đất nước, tạo điều kiện tập trung lực lượng đánh giặc phương Bắc.Cuối năm 1075 đầu năm 1076 Lý Thường Kiệt đã mở cuộc tiến công chủ độngđánh sang thành Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu phá thế chuẩn bị tiến côngxâm lược của quân Tống Sau đó chủ động lui về xây dựng phòng tuyến Sông
Cầu (sông Như Nguyệt) thành thế “hoành trận” để đánh giặc Tư tưởng chỉ đạo
đánh giặc của quân và dân nhà Lý là kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và phảncông, xây dựng lực lượng phát triển mở rộng thế trận, chủ động tiến công địch,quy mô ngày càng lớn cả bằng quân sự, chính trị, binh vận kết hợp đánh tiêudiệt địch
Khởi nghĩa Tây Sơn thế kỉ XVIII do ba anh em nhà Nguyễn Nhạc,Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ
“Anh đi theo chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà nuôi mẹ hiền” (ca dao)
Lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển mạnh, vốn tư tưởng tích cựcchủ động tiến công nghĩa quân đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quảng Namđến Bình Thuận, đánh tan Chúa Nguyễn ở đằng trong, Chúa Trịnh ở đằng
ngoài Nghe tin bọn Nguyễn ánh, Lê Chiêu Thống “Cọng rắn cắn gà nhà”,
“rước voi về giày mộ tổ” mở đường cho gần 3 vạn quân Xiêm và gần 30 vạn
quân Mãn Thanh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ đã tổ chức cuộc hànhbinh thần tốc, tập trung lực lượng mạnh, đánh bất ngờ, với sự hiệp đồng giữaquân thuỷ, kỵ binh, pháo binh và voi chiến đã đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm
- Xoài Mút tiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi - Đống Đa, giữ vững nền độclập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Trang 12Những lần đánh thắng quân xâm lược đó là những lần biểu hiện cho nghệthuật tiến công rất tài giỏi của cha ông ta, là nét đặc sắc về tư tưởng, chủ động
và kiên quyết tiến công, nghệ thuật tiến công còn gắn liền với tinh thần tích cựcchủ động tiến công của một dân tộc nhỏ đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớnhơn mình rất nhiều lần ở phạm trù chiến lược, nghệ thuật quân sự Việt Namkhông có phòng ngự mà chỉ có tiến công, coi tiến công là tư tưởng chỉ đạo,cũng có nghĩa coi phòng ngự là tạm thời, là sách lược, là biện pháp cần thiết đểtạo thế, tạo thời có lợi cho phản công Nhưng không vì thế mà dân tộc ta coi nhẹphòng ngự vì thành luỹ và tổ chức phòng ngự cũng là biện pháp, phương tiệntạo ra thế trận và thời cơ giống như các yếu tố khác để phát huy sức mạnh củamình, đạt tới mục đích tiến công và phản công Trong lịch sử dân tộc, ông cha
ta cũng có lần phòng ngự chiến lược, như Lý Thường Kiệt tổ chức phòng ngự ởSông Cầu, chặn đứng đạo quân xâm lược nhà Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiếtchỉ huy Bằng cách đó đã chặn đứng các cuộc tiến công quyết liệt của địch đểtạo thời cơ, sau đó chuyển sang phản công và tiến công đánh bại quân giặc
Trong nghệ thuật quân sự dân tộc Việt Nam, phòng ngự luôn gắnliền với tiến công và phản công Vừa chặn địch ở chính diện, vừa đánh vàobên sườn phía sau, kết hợp phản công và tiến công ngay khi đang cònphòng ngự, tìm cách bộc lộ sơ hở để ta chuyển sang tiến công hoặc phảncông, đó là cách phòng ngự thế công
Thứ hai, kế sách đánh giặc
Chiến tranh là một quá trình đấu tranh vũ trang rất quyết liệt giữa hai bêntham chiến để dành ưu thế mà thắng Sự đọ sức quyết liệt ấy đòi hỏi phải có lựclượng, song nó còn gắn liền với sự đấu tranh rất gay go quyết liệt về trí tuệ củacác bên tham chiến, bên nào thông minh hơn sẽ thắng Càng đọ sức quyết liệt
và gay go thì càng biểu hiện quy luật chung của chiến tranh “Mạnh được yếu thua”, mạnh yếu tuỳ thuộc vào số lượng, chất lượng mọi người tham chiến,
Trang 13tranh bị vật chất kỹ thuật và nguồn lực bảo đảm các mặt cho cuộc chiến tranh
đó, và còn phụ thuộc rất lớn vào tài nghệ chỉ đạo, chỉ huy của người cầm quyềncùng năng lực sáng tạo trong vận dụng nghệ thuật của người tham chiến trênchiến trường Vì vậy ai có sức mạnh hơn, thông minh hơn và sáng tạo hơn thìngưới đó sẽ chiến thắng
Do đó kế sách đánh giặc ở đây là mưu kế, là sách lược đánh giặc của dântộc Kế sách phải mềm dẻo, khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòngngự, quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thế mạnh của ta phá thế mạnh củađịch, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định Kế sách đó đượcvận dụng linh hoạt sáng tạo cho từng cuộc chiến tranh Vì vậy mưu kế và kếsách giữ vai trò hết sức quan trọng trong nghệ thuật đánh giặc
Mưu kế trong chiến tranh tạo ra thế trận và thời cơ có lợi mà đánh thắng
địch, đó là yếu tố thế và thời trong chiến tranh do mưu kế tạo nên Trong lịch sửđấu tranh của dân tộc, nhân dân ta luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớnmạnh hơn mình rất nhiều lần, chúng vừa đông lại có tiềm lực kinh tế, quân sự tolớn hơn Nhân dân ta đánh giặc trong điều kiện nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, yếuchống mạnh và thường bị quân thù bao vây về mọi phía
Từ đó mà nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta kể từ xưa đến nay đều vì
thế mà nghĩ đến mưu kế, tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, dành chủ động, đánh bất
ngờ để thắng địch Trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng mưu trí cắm cọcnhọn bịt sắt chôn xuống lòng sông có quân mai phục tạo ra sức mạnh tổng hợplàm thế mạnh của ta dụ quân địch vào thế trận, rồi đánh quặt lại chúng lúc thuỷtriều rút nước xuống để tiêu diệt địch Đây là nghệ thuật tạo, nắm thời cơ Sựthông minh, sáng tạo trong chiến tranh là biểu hiện trước hết ở mưu kế hay vàkhéo léo Mưu hay kế sâu không chỉ biểu hiện ở phạm trù chiến lược mà cònbiểu hiện rất rõ ở phạm trù chiến dịch, chiến đấu trong nghệ thuật quân sự củadân tộc ta Có mưu hay kế khéo thì các trận đánh lớn, nhỏ cũng như tác chiến
Trang 14đều cho phép ta với lực lượng ít hơn, có thể đánh thắng được một đối thủ có lựclượng đông và vũ khí trang bị kỹ thuật mạnh hơn Mưu hay kế khéo có thể buộcđịch đánh theo cách đánh của ta, biến địch từ tiến công thành bị tiến công, quátrình giao chiến buộc địch bộc lộ ra những sơ hở để ta chủ động và bất ngờđánh thắng
Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ X, do chăm lo xây dựngđất nước, củng cố quốc phòng, Triều Lý đã nắm được ý đồ chiến tranh của giặcTống Chúng bí mật chuẩn bị lực lượng mạnh, triển khai sát gần biên giới nước
ta, để bất ngờ mở cuộc tiến công xâm lược đánh chiếm kinh đô Thăng Long của
nước Đại Việt Tương kế tựu kế, nhà Lý đã sử dụng mưu kế “Tiên phát chế nhân”, chủ động chế người, không để người chế mình Đích thân Lý Thường
Kiệt đã thống lĩnh quân đội, mở cuộc tiến công đánh sang đất Tống, phá tan cáccăn cứ xuất phát tiến công của giặc ở Ung - Khâm - Liêm Châu làm đảo lộn kếhoạch xâm lược của nhà Tống, tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị kháng chiến
Trước thế giặc Nguyên - Mông đang mạnh, mưu lược đánh gặc của quândân thời Trần là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, nơi hiểm yếu của kẻ thù
“Nguyên binh nhuệ khí đang hứng kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy”.
Quân dân thời Trần vừa chặn đánh vừa rút lui từng bước, kết hợp với tổ chức
cho toàn dân lập kế“thanh dã” (làm vườn không nhà trống) với đánh phá nhỏ lẻ
ở phía trước, bên sườn phía sau Quân dân ta đã đẩy quân Nguyên vào thế cùnglực kiệt tiến thoái lưỡng nan Lúc đó ta mới tập trung lực lượng, chuyển sangphản công kiên quyết, tiến công liên tục, lập nên chiến thắng vang dội ở Đông
Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương ba lần đem quân xâm lược Đại Việt, đạo kịbinh thiện chiến Nguyên - Mông đã từng chinh phục khắp lục địa Âu- á đã bịđánh bại Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thời kỳ đầu khởi nghĩa, sosánh lực lượng ta yếu hơn địch, nhưng tổ tiên ta đã sử dụng nhiều kế sách đánhgiặc rất mềm dẻo và vô cùng khôn khéo Nghĩa quân Lam Sơn thì dùng kế
Trang 15“Bên ngoài giả thác hoà thân” để “bên trong lo rèn chiến cục” Nghĩa quân lại dùng mưu: “Hoà hoãn với Chúa Trịnh ở đằng ngoài, để tập trung lực lượng đối phó với Chúa Nguyễn ở đằng trong” Nhờ có nghệ thật khôn khéo đó mà ta
đã tránh được sự đánh phá rất quyết liệt của kẻ thù, đưa phong trào khởi nghĩaphát triển mạnh mẽ trong công cuộc giải phóng dân tộc Có mưu hay kế khéokhông những tiêu diệt được nhiều địch phá huỷ được nhiều phương tiện chiếntranh, lấy được tranh bị vũ khí phương tiện của địch để dùng cho ta, làm cho tacàng đánh càng mạnh, mà một vấn đề quan trọng hơn nữa là ta đã đánh bạiđược những chủ trương biện pháp, thủ đoạn, tác chiến quan trọng của địch, làmcho địch quân đông mà không dám dùng, còn lực lượng tinh nhuệ mà khôngdám sử dụng để thi thố tài năng vào đúng nơi và đúng lúc
Mưu đồ của địch từ đó mà đi tới chỗ dần dần suy sụp, càng đánh càng bịthua đau đớn, thiệt hại của chúng càng lớn hơn, tác động tinh thần đối vớichúng còn nguy hại nhân lên gấp bội, dẫn đến ý chí tinh thần của chúng bị lunglay, âm mưu xâm lược bị nứt rạn, mâu thuẫn tăng lên cuối cùng bị tan vỡ Mưu
kế trước hết là lừa địch, tìm cách điều địch để phá thế địch mà tiêu diệt địch
Trần Hưng Đạo nói “Đời xưa người giỏi dùng binh ý muốn như thế mà không là như thế, nay thì ý muốn không như thế cho nên làm như thế, khiến họ lại ngờ là ý muốn như thế Đó là phép tinh vi để phá quân, bắt tướng Cái làm chỉ là cái bóng, làm mà không nghĩ thế chỉ là cái bóng trong cái bóng mà thôi - như hai cái gương trao đổi nhau, thực là huyền ảo mà không huyền ảo”
Trong chiến tranh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều mưu kế để lừa
địch, đưa chúng vào “địa tử” để tiêu diệt, lập nên chiến trắng vang dội ở Khả
Lưu – Bố ải, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang Đúng như nghĩa
quân đã tổng kết: “Trải biến nhiều thì mưu kế sâu, tích việc xa thành công kỳ” Còn Nguyễn Huệ thì lại dùng kế “Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng” Quân dân ta đã lừa địch vào thế chủ quan ít đề phòng, sau đó mới bí
Trang 16mật cơ động tập trung lực lượng nhanh, đánh bất ngờ, đồng loạt tiến công mạnhtrên nhiều hướng bằng một trận tuyến chiến lược, quân dân ta đã dành đượcthắng lợi kết thúc chiến tranh
Ngoài ra mặt trận ngoại giao cũng gĩư vai trò hết sức to lớn Thời Trầnđánh thắng giặc Nguyên - Mông đã mở mặt trận tiến công ngoại giao, buộc
chúa Nguyên phải công nhận xâm phạm quốc cảnh “Đại việt” để ta thả 5 vạn tù
binh về nước
Nghĩa quân Lam Sơn, Tây Sơn dùng kế sách “hoà hoãn” tránh sức mạnh
ban đầu của giặc để xây dựng lực lượng phát triển thế trận, sau đó mới mở cáccuộc tiến công ngày càng lớn Trong đánh giặc, nghĩa quân Lam Sơn đã kết hợptiêu diệt đạo quân viện binh nhà Minh ở Chi Lăng - Xương Giang với tổ chức
“hội thề Đông Quan” buộc Vương Thông phải công nhận thất bại cam kết rút
quân về nước Nghĩ kế lâu dài, Lê Lợi - Nguyễn Trãi còn cấp cho hàng binhgiặc cả lương ăn cùng phương tiện đi đường để nhà Minh từ bỏ ý đồ xâm lược.Nghĩa quân Tây Sơn sau khi đánh tan gần 30 vạn quân Thanh ở Bắc Hà, QuangTrung đã mở ngay mặt trận ngoại giao, thiết lập mối bang giao với nhà Thanh
để hạn chế chiến tranh xây dựng đất nước
Từ đó cho thấy tư tưởng chỉ đạo đánh giặc của nhân dân ta phải dành, giữvững quyền chủ động, liên tục tiến công địch Nhưng tuỳ theo điều kiện củatừng cuộc chiến tranh, so sánh lực lượng ta và địch, để tìm ra cách đánh thíchhợp tiêu diệt chúng Kế sách đánh giặc của nhân dân ta rất mềm dẻo, khônkhéo, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao tạo rathế mạnh của ta, phá thế mạnh của địch, đánh bại chúng, trong đó tiến côngquân sự luôn giữ vai trò quyết định
Trang 172.2 Toàn dân là binh cả nước đánh giặc
Đây là nghệ thuật về tổ chức, sử dụng lực lượng, động viên tinh thần,phát huy sức mạnh, cách đánh giặc theo sở trường của từng người, từng lực
lượng, mỗi bản làng, thôn xóm trên cả nước tạo thành sức mạnh toàn dân là binh cả nước đánh giặc
Toàn dân là binh, cả nước đánh giặc là nghệ thuật đánh giặc truyền thốngđộc đáo, sáng tạo của dân tộc ta, là chiến thuật chiến tranh nhân dân toàn dânđánh giặc, nó được thể hiện trong cả khởi nghĩa vũ trang, trong chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc
Thắng lợi của nhân dân ta chống kẻ thù xâm lược trong lịch sử đều do
biết tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc mà nội dung thực chất là nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy
dân làm gốc để tiến hành chiến tranh Nó mang tính truyền thống của nghệthuật quân sự Việt Nam, nó đã trở thành nguyên lý sâu sắc nhất để tiến hànhgiành thắng lợi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng suốt hàng ngànnăm lịch sử
- Cơ sở phát động toàn dân đánh giặc
Các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh yêunước chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc hoặc giải phóng dân tộc, đây là nguồn sứcmạnh tinh thần to lớn thúc đẩy toàn đân hăng hái tham gia, nhà nhà hưởng ứng,người người đứng lên đánh giặc cứu nước Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết,yêu nước, thương nòi, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất, tinh thần quyếtđánh quyết thắng quân xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹnlãnh thổ Tổ quốc
Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết đứng lên chống giặc ngoại xâm, biết dựavào sức lực của chính mình, tạo ra sức mạnh đoàn kết và kiên trì đấu tranh lâu
Trang 18dài, cuối cùng dành được thắng lợi, mở đầu cho trang sử chống ngoại xâm rất
vẻ vang của dân tộc Lực lượng chủ yếu ấy là những người dân của các bộ tộc,
bộ lạc được huy động ra đi làm dân binh để chiến đấu Với trang bị vũ khí lúc
ấy vừa bằng tre, gỗ, vừa bằng sắt, đồng, đá Tre, gỗ, đá dùng làm gậy gộc, mũitên, lao và đá ném; sắt đồng làm ra giáo, mác, rìu, lao
Những trang bị ấy thường ngày là những phương tiện lao động sản xuất,săn bắn thú rừng để sinh sống, đồng thời cũng là vũ khí chiến đấu chống giặckhi cần thiết Sức mạnh đó là sức mạnh dựa vào sự đoàn kết của các bộ tộcchống ngoại xâm để bảo vệ dân tộc, bảo vệ giống nòi
Các nhà nước phong kiến Đại Việt đã có tư tưởng “trọng dân”, “an dân”, được thể chế thành tư tưởng, phương châm chỉ đạo, chính sách xây dựng đất nước củng cố quốc phòng Thời trần có tư tưởng “chúng chí thành thành” (ý chí dân tộc mạnh hơn mọi thành luỹ) Lê Lợi - Nguyễn Trãi viết “Phúc chu thuỷ, tín dân do linh” (nâng thuyền lật thuyền mới biết sức dân) với phương châm xây dựng đất nước củng cố quốc phòng “dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường” Nhà nước có nhiều chính sách cải cách tiến bộ để xây dựng quân đội, tăng cường sức mạnh quốc phòng như: “ngụ binh ư nông” (gửi binh ở dân) quân lính thay phiên nhau về sản xuất, thực hiện “tĩnh vi nông, động vi binh” phương hướng xây dựng quân đội “binh lính cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều”, tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân để thực hiện “trăm họ là binh, toàn dân đánh giặc” Do có bước phát triển tiến bộ về tư tưởng, tổ chức xây dựng đất
nước, củng cố quốc phòng, các nhà nước phong kiến Đại Việt đã gắn chặt dân
với nước, nước với dân, tạo cơ sở vững chắc cho nghệ thuật đánh giặc “toàn dân vi binh, cử quốc nghênh địch” thời chiến đã có bước phát triển quan trọng,
ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật quân sự ViệtNam
Trang 19Trải qua bao nhiêu thế hệ, dân tộc Việt Nam với khí phách anh hùng ngàycàng nảy nở và phát triển, đã kiên quyết liên tục đứng lên chống ngoại xâm, sẵnsàng chịu đựng mọi gian khổ, bảo vệ quyền sống của mình trên mảnh đất quêhương
- Nội dung nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc
Thứ nhất, tổ chức động viên lực lượng
Là tổ chức động viên toàn dân, mọi nhà, mọi người đều đánh giặc, “trăm
họ là binh, cả nước đánh giặc” tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Với
truyền thống yêu nước nồng nàn, tự lập tự cường, anh dũng bất khuất gắn liền
với ngọn cờ đại nghĩa chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước “nhân dân ta đã sớm có ý thức gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt”, “nước mất nhà tan”, câu nói đó đã có từ lâu đời cho nên mỗi khi có giặc xâm lược thì mọi người đều đồng lòng đứng dậy chống giặc để giữ nước, giữ nhà “Cả nước chung sức đánh giặc đó là truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam”
Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các nhà nước phong kiến ĐạiViệt đã tổ chức sử dụng lực lượng vũ trang cùng nhân dân biên giới, đánh bạimọi âm mưu thủ đoạn mua chuộc lôi kéo, kích động của kẻ thù, giữ vững biêncương của Tổ quốc, các địa phương còn tích cực tổ chức lực lượng, động viênnhân dân chủ động xây đồn luỹ, chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh giặc
Thời nhà Lý đã động viên hàng trăm vạn dân tham gia lập nên thế
“hoành trận” để đánh giặc ở sông Cầu (sông Như Nguyệt) Trong tác chiến
quân đội triều đình cùng dân binh do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh giặc ở phíasau làm cho tướng giặc là Quách Quỳ sợ hãi ra lệnh án binh bất động Khi quân
ta chuyển sang phản công, quân triều đình đánh giặc ở phía trước, dân binh
Trang 20đánh ở phía sau làm cho quân Tống hoảng loạn Do cũng chuẩn bị tốt lựclượng, thế trận nên quân dân địa phương vùng Lạng Sơn, Cao Bằng cùng quânđội triều đình sang đất Tống để phá thế tiến công chuẩn bị trước của giặc Sựtham gia đông đảo của quần chúng nhân dân với khí thế tiến công ngày càngmạnh đã trở thành nhân tố rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
và bảo tồn dân tộc
Thời nhà Trần tổ chức hội nghị “Diên Hồng”, cùng nhân dân bàn cách
đánh giặc sau hội nghị cả nước dấy lên phong trào đánh giặc lập công Tiêubiểu là đội dân binh người Tày ở Lạng Sơn do Nguyễn Thế Lộc và NguyễnLĩnh chỉ huy cùng một bộ phận quân triều đình liên tục chặn giặc trong nhiềungày đêm Đội quân gia nô của Nguyễn Địa đã chém chết tên phản bội TrầnKiệm ngay trên mình ngựa trước cửa Chi Lăng Lực lượng dân binh ở Tây Bắc
do Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương đã chặn đánh kiên quyết liên tục quânNguyễn ở Thu Vạt, Bạch Hạc khi tiến công địch ở Nam Thăng Long, lựclượng dân binh, quân các lộ phủ của Trần Thống, Nguyễn Khả Lạp đã phối hợpvới quân triều đình đánh giặc lập nên chiến công ở Tây Kết, Hàm Tử, ChươngDương
Chiến thắng Vạn Kiếp có công to lớn của Hoài Văn Hầu, Trần QuốcToản - người đã tổ chức chặn đánh quyết liệt ở sông Như Nguyệt buộc quânNguyên phải đi vào đúng thế trận của ta Trận quyết chiến trên sông BạchĐằng được nhân dân đồng lòng, quyết tâm ra sức ủng hộ Trần Quốc Toản, đãgiàn thế trận hiểm, kết hợp với tài nghi binh lừa địch của dân binh địaphương, ta đã bắt gọn quân giặc, bắt sống nhiều tướng giặc như Ô Mã Nhi,Phàn Tiếp, Trích Lê Cơ Ba lần xâm lược Đại Việt, cả 3 lần đều thất bại dướiquân và dân ta, làm cho kẻ thù khiếp sợ không dám xâm phạm Thắng lợi củadân tộc ta đã góp phần làm suy yếu thế lực của đế quốc Mông Cổ, làm thấtbại âm mưu biến nước ta thành bàn đạp để mở rộng xâm lược xuống các