Các phương pháp phát hiện thịt 2.2.1 Phương pháp dựa vào protein Những phương pháp dựa vào protein sau đây có thể ứng dụng để xác định thành phần và nguồn gốc của các sản phẩm thịt và
Trang 1Kết quả đạt được như sau:
Đã xây dựng quy trình m-PCR phát hiện thịt heo, gà, dê, cừu, bò lẫn trâu Tỷ lệ thích hợp cho các primer FSIM:RG:RCh:RCB:RS:RP là 12: 7: 7:10: 5: 25 pmol Quy trình này có thể áp dụng cho thịt tươi, thịt xử lý nhiệt ở nhiệt độ 80oC/15’; 120oC/15’;
120oC/30’; 130oC/15’; 130oC/30’, 180oC/15’ Ảnh hưởng của tỷ lệ DNA hiện diện trong các hỗn hợp DNA và hỗn hợp thịt lên khả năng phát hiện của m-PCR cũng được xác định Đối với hỗn hợp DNA 6 loài có tỷ lệ bằng nhau, nồng độ DNA thấp nhất mà
m-PCR phát hiện gà là 0,0001 ng/μl, heo là 0,00025 ng/μl, cừu, dê, trâu/&bò là 0,0025
ng/μl Còn đối với hỗn hợp DNA có nồng độ giảm dần của trâu, bò, dê, cừu, tỷ lệ thấp nhất mà m-PCR có thể phát hiện trâu/&bò, dê là 0,1%, cừu là 1% Tỷ lệ giống nhau giữa hỗn hợp DNA và hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt ảnh hưởng như nhau đến khả năng phát hiện của m-PCR M-PCR không phát hiện được thịt trâu/&bò, dê, cừu với tỷ
lệ ≤ 10% trong hỗn hợp thịt được xử lý ở 130oC/30’
Trang 2SUMMARY Research project “Differentiation of meat species of buffalo, cattle, goat, sheep, pig, and chicken by multiplex - PCR technique” was carried out at Institute
of Biotechnology & Environment, Nong Lam University Ho Chi Minh city from October 15, 2009 to May 1, 2010 The project was aimed: (i) to build the m-PCR reaction used for differentiation of commercially available meat including lamb, beef and/or buffalo meat, chicken, pork and goat meat; (ii) to apply this reaction in identification of meat species in raw and processed meat mixtures
The results were summarized as follows:
The optimal m-PCR condition for detection of the meat species was confirmed,
in which the proportion of primers for identification of pork, lamb, beef, chicken, goat meat, and buffalo was 12: 7: 7:10: 5: 25 pmol (FSIM: RG: RCH: RCB: RS: RP), respectively This protocol could be applied to fresh meat and meat that had been processed at 80oC/15; 120oC/15'; 120oC/30 '; 130oC/15'; 130oC/30', and 180oC/15' The effect of the amount of DNA template from different meat species in the reaction was also investigated For DNA mixture involving the six meat species with equal ratio, the lowest concentration for detection of DNA was 0.0001 ng/μl in chicken, 0.00025 ng/μl in pork, 0.0025 ng/μl in lamb, goat, buffalo and/or cattle In the mixture with reduced DNA concentrations from lamb, cattle and goat meat, the lowest rate of DNA that can be detected in was 0.1% in buffalo meat and/or beef, 0,1% in goat meat and 1% in lamb
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG TRANG
TÓM TẮT i
SUMMARY ii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH SÁCH CÁC HÌNH vi
DANH SÁCH SƠ ĐỒ vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Mục đích 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN 3
2.1 Sơ lược về thịt và thịt chế biến 3
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về thịt 3
2.1.2 Giới thiệu sơ lược về thịt chế biến 4
2.1.3 Tình hình gian lận trên thị trường thịt của thế giới và Việt Nam 5
2.1.3.1 Tình hình gian lận trên thị trường thịt tươi và thịt chế biến của thế giới 5
2.1.3.2 Tình hình gian lận trên thị trường thịt tươi và thịt chế biến ở Việt Nam 5
2.2 Các phương pháp phát hiện thịt 6
2.2.1 Phương pháp dựa vào protein 6
2.2.1.1 Phương pháp điện di 6
2.2.1.2 Phương pháp miễn dịch 8
2.2.1.3 Phương pháp sắc ký 9
2.2.2 Phương pháp dựa vào DNA 9
2.2.2.1 Phương pháp lai DNA 9
2.2.2.2 Phương pháp dựa vào PCR 11
2.3 DNA ty thể và gen cytochrome b trong việc phát hiện loài 21
2.3.1 DNA ty thể 21
2.3.2 Di truyền của ty thể 25
2.3.3 Sử dụng gen cytochrome b để phát hiện nguồn gốc loài trong các sản phẩm thịt chế biến 25
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát hiện loài của thịt bằng phương pháp multiplex PCR 26
Chương 3 29
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành 29
3.2 Nội dung nghiên cứu 29
3.3 Vật liệu 29
3.3.1 Nguồn mẫu tách chiết DNA 29
3.3.2 Primer 29
3.3.3 Hóa chất, thiết bị và dụng cụ 30
Trang 43.4 Phương pháp tiến hành 30
3.4.1 Lấy và bảo quản mẫu 30
3.4.2 Tách chiết DNA 31
3.4.3 Xây dựng quy trình m-PCR phát hiện thịt có nguồn gốc từ heo, gà, dê, cừu, bò và/hoặc trâu 31
3.4.3.1 Phát hiện từng loại thịt bằng các phản ứng PCR đơn 31
3.4.3.2 Thiết lập và tối ưu hóa quy trình m-PCR 32
3.4.3.3 Thí nghiệm xác định khả năng phát hiện thịt trâu của m-PCRError! Bookmark not 3.4.4 Ứng dụng m-PCR để phát hiện thịt trâu, bò, dê, cừu, heo, gà 32
3.4.4.1 Xác định giới hạn nồng độ DNA có thể phát hiện được của m-PCR 33
3.4.4.2 Thực hiện m-PCR đối với các hỗn hợp DNA có nồng độ giảm dần của trâu, bò, dê, cừu 33
3.4.4.3 Thực hiện m-PCR để phát hiện thịt heo, gà, trâu, bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt 33
3.4.4.4 Thực hiện m-PCR để phát hiện thịt heo, gà, trâu, bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý nhiệt 34
3.4.4.5 Thực hiện m-PCR với bột thịt trên thị trường 34
Chương 4 37
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 37
4.1 Xây dựng quy trình m-PCR 37
4.1.1 PCR phát hiện từng loại thịt heo, gà, trâu, bò, dê, cừu 37
4.1.2 Quá trình thiết lập và tối ưu hóa m-PCR 38
4.1.3 Thí nghiệm xác định khả năng phát hiện thịt trâu của m-PCR 40
4.2 Ứng dụng m-PCR phát hiện thịt trâu, bò, dê, cừu, heo, gà 40
4.2.1 Xác định giới hạn nồng độ DNA mỗi loài có thể phát hiện được của m-PCR 40
4.2.2 M-PCR đối với các hỗn hợp DNA có nồng độ giảm dần của trâu, bò, dê, cừu 42
4.2.3 M-PCR phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt 43
4.2.4 M-PCR phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý nhiệt 44
4.2.4.1 Kết quả phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý cùng nhiệt độ và thời gian 44
4.2.4.2 Kết quả so sánh m-PCR với thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt ở cùng nhóm tỷ lệ phối trộn 47
4.2.5 M-PCR với bột thịt trên thị trường 50
Chương 5 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 63
Trang 5DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BSE : bovine spongiform encephalophathy
FSIM : forward primer SIM (kí hiệu của forward primer chung của m-PCR)
GC : gas chromatography
HPLC : high performance liquid chromatography
IEF : isoelectric focusing
LC : liquid chromatography
LTRs : long terminal repeats
m-PCR : multiplex polymerase reaction chain
MT-ATP6 : mitochondrially encoded ATP synthase 6
mtDNA : mitochondrial deoxyribonucleic acid
MT-ND1 : mitochondrially encoded NADH dehydrogenase 1
MT-ND4 : mitochondrially encoded NADH dehydrogenase 4
MT-ND4L : mitochondrially encoded NADH dehydrogenase 4L
MT-ND5 : mitochondrially encoded NADH dehydrogenase 5
MT-ND6 : mitochondrially encoded NADH dehydrogenase 6
MT-RNR1 : mitochondrially encoded 12S RNA
MT-TH : mitochondrially encoded tRNA histidine
MT-TL1 : mitochondrially encoded tRNA leucine 1 (UUA/G)
MT-TS1 : mitochondrially encoded tRNA serine 1 (UCN)
MT-TV : mitochondrially encoded tRNA valine
NADH : Nicotinamide adenine dinucleotide
PCR : polymerase chain reaction
Prion : proteinaceous infectious particle
RCB : reverse primer cattle &/ buffalo (theo Matsunaga & ctv, 1999) RCh : reverse primer chicken
RG : reverse primer goat
RP- HPLC : reverse phase high performance liquid chromatography
RP : reverse primer pig
RS : reverse primer sheep
SSRs : simple sequence repeats
Trang 6DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình kiểm tra một mẫu bằng kỹ thuật lai DNA 10
Hình 2.2: Genome của ty thể 24
Hình 4.1: Sản phẩm PCR riêng lẻ của heo, cừu, bò, gà, dê 37
Hình 4.2: Sản phẩm PCR của thịt bò và trâu 38
Hình 4.3: Kết quả m-PCR theo PCR riêng lẻ 39
Hình 4.4: Kết quả tối ưu m-PCR 39
Hình 4.5: Kết quả thí nghiệm khẳng định m-PCR phát hiện thịt trâu 40
Hình 4.6: Giới hạn nồng độ DNA có thể phát hiện được của m-PCR 41
Hình 4.7: Kết quả m-PCR đối với các hỗn hợp DNA có nồng độ giảm dần của trâu, bò, dê, cừu 42
Hình 4.8: M-PCR phát hiện thịt heo, gà, bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt 43
Hình 4.9: M-PCR phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý nhiệt ở 80oC/15’(M2.1-M2.7) và 120oC/15’ (M3.1-M3.7) 46
Hình 4.10: M-PCR phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý nhiệt ở 120oC/30’(M4.1-M4.7) và 130oC/15’ (M5.1-M5.7) 46
Hình 4.11: M-PCR phát hiện thịt heo, gà, trâu/&bò, dê, cừu trong các hỗn hợp thịt xử lý nhiệt ở 130oC/30’(M6.1-M6.7) và 180oC/15’ (M7.1-M7.7) 46
Hình 4.12: Kết quả m-PCR với bột thịt trên thị trường 50
DANH SÁCH SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Các phương pháp phân biệt loài của thịt 20
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ nghiên cứu 36
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỉ lệ phần trăm (%) của các mô trong các loại thịt (tính theo khối lượng thịt
xẻ) 3
Bảng 2.2: 13 gen mã hóa protein trong chuỗi vận chuyển 21
Bảng 2.3: 22 gen mã hóa tRNA 23
Bảng 3.1: Thành phần hóa chất cho từng phản ứng PCR thịt tươi 31
Bảng 3.2: Chu kỳ nhiệt dự kiến của phản ứng PCR thịt tươi 32
Bảng 3.3: DNA template của thí nghiệm khẳng định m-PCR phát hiện thịt trâu Error! Bookmark not defined. Bảng 3.4: Tỷ lệ DNA heo, gà, trâu, bò, dê, cừu trong các hỗn hợp 33
Bảng 3.5: Hỗn hợp thịt chế biến không xử lý nhiệt và xử lý nhiệt 35
Bảng 4.1: Giới hạn nồng độ DNA có thể phát hiện được của m-PCR 41
Bảng 4.2: Tỷ lệ thấp nhất của trâu, bò, dê, cừu mà m-PCR phát hiện trong các hỗn hợp thịt xử lý ở cùng nhiệt độ và thời gian 44
Bảng 4.3: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 1 (30:30:10:10:10:10) 47
Bảng 4.4: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 2 (40:40:5:5:5:5) 47
Bảng 4.5: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 3 (48:48:1:1:1:1) 48
Bảng 4.6: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 4 (49:49:0,5:0,5:0,5:0,5) 48
Bảng 4.7: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 5 (49,8:49,8:0,1:0,1:0,1:0,1) 48
Bảng 4.8: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 6 (49,9:49,9:0,05:0,05:0,05:0,05) 49
Bảng 4.9: Kết quả so sánh m-PCR hỗn hợp thịt không xử lý nhiệt và thịt xử lý nhiệt của tỷ lệ phối trộn 7 (49,94:49,94:0,03:0,03:0,03:0,03) 49
Trang 8Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, khi nhu cầu về lương thực thực phẩm tăng cao thì việc đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm là điều cần thiết Trong đó, các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt đã và đang là mối quan tâm của xã hội
Sản phẩm thịt chế biến thường có nguồn gốc từ một hay nhiều loại thịt khác nhau Do sự đa dạng về hình thức, chất lượng và giá thành của các sản phẩm thịt chế biến đã gây ra vấn đề gian lận thương mại Trên thị trường có nhiều sản phẩm thịt ghi thành phần trên nhãn hiệu, công thức lệch với thực tế để nâng cao giá trị cho sản phẩm Đặc biệt, sự gian lận này có thể ảnh hưởng đến việc kiêng sử dụng một hay một vài loài thịt nào đó vì lý do sức khỏe (ví dụ bị dị ứng) hay vì lý do tôn giáo (ví dụ, đạo Hindu không ăn thịt bò, đạo Hồi và đạo Do Thái không ăn thịt heo)
Thịt chế biến thường xử lý ở nhiệt độ cao trên 1000C (khoảng 1200C đối với thịt hộp, xúc xích tiệt trùng…) Đặc biệt đối với bột xương thịt làm thức ăn cho gia súc tuy
xử lý ở nhiệt độ khoảng 1300C nhưng được sản xuất từ những phụ phế phẩm trong công nghiệp giết mổ heo, trâu, bò, cừu, gà, dê,…nên một số mầm bệnh nguy hiểm vẫn tồn tại và có khả năng gây bệnh Ví dụ bệnh BSE (Bovine spongiform encephalopathy) - bệnh bò điên - gây hại gia súc và có khả năng lây lan sang người Vì
lý do này, các nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam không cho nhập bột xuơng thịt có nguồn gốc từ thịt bò, cừu của các vùng lãnh thổ có mầm bệnh BSE
Vì thế, việc phát triển và ứng dụng các phương pháp phát hiện chính xác và nhanh chóng các loại thịt trong những sản phẩm chế biến từ thịt gia súc, gia cầm khác nhau là nhu cầu cần thiết của thị trường và xã hội Có nhiều phương pháp để xác định nguồn gốc thịt như phương pháp phát hiện dựa vào protein (ví dụ điện di, miễn dịch, sắc ký), phương pháp phát hiện dựa vào DNA (lai DNA, RAPD-PCR, PCR đặc trưng
Trang 9cho loài như standard-PCR, multiplex-PCR, Realtime PCR, PCR-RFLP, PCR sequencing, PCR-SSCP.)
Các phương pháp phát hiện dựa vào protein hoặc chậm hoặc không thể ứng dụng cho các sản phẩm thịt đã xử lý nhiệt Do đó, các phương pháp dựa vào DNA thường được sử dụng hơn đặc biệt là các phương pháp PCR đặc trưng cho loài Trong
đó, các phương pháp Realtime PCR, PCR-RFLP, PCR sequencing, PCR-SSCP đòi hỏi máy móc, trang thiết bị, hóa chất phức tạp, giá thành cao Còn phương pháp multiplex PCR dễ thực hiện nên được sử dụng rộng rãi trong việc phân biệt loài của thịt Nếu có quy trình ly trích hợp lý, xác định gen mục tiêu thích hợp sẽ có thể phân biệt được các loại thịt đã xử lý nhiệt
Trang 10Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Sơ lược về thịt và thịt chế biến
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về thịt
Thịt là một khái niệm dùng để chỉ một số mô có giá trị sử dụng làm thực phẩm
có nguồn gốc từ động vật Trong thương mại, thịt gồm có các mô: mô cơ, mô mỡ, mô liên kết, mô xương sụn và mô máu Thành phần hóa học của thịt bao gồm nước, protein, lipid, glucid, các chất trích ly chứa nitơ và không chứa nitơ, khoáng, vitamin
và enzym Các thành phần này phụ thuộc vào loài thú, tuổi, giới tính, mục tiêu sử dụng, khẩu phần nuôi dưỡng, mức độ và giai đoạn vỗ béo, bộ phận súc thịt và cơ thể học (Nguyễn Ngọc Tuân, Lê Thanh Hiền, 2004)
Bảng 2.1 Tỉ lệ phần trăm (%) của các mô trong các loại thịt (tính theo khối lượng thịt xẻ)
Loại mô Thịt bò (%) Thịt heo (%) Thịt cừu (%)
mô liên kết Mô mỡ có giá trị năng lượng cao và còn làm cho thịt có vị béo Giá trị thực phẩm của thịt đầu tiên được đánh giá qua tỉ lệ protein chứa trong đó và giá trị sinh
Trang 11học của lượng protein đó
Trong dinh dưỡng con người và động vật, thịt và sản phẩm của thịt là nguồn đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng và các chất hòa tan Tất cả được sử dụng trong cơ thể nhằm mục đích sinh tổng hợp các chất cần thiết cho cơ thể cũng như bù đắp năng lượng tiêu hao do hoạt động Thịt các loài động vật chứa hầu hết các nguyên tố đa lượng và vi lượng cần thiết cho cơ thể, các vitamin nhóm B, acid pantotenic, vitamin
PP Thịt heo chứa nhiều vitamin B1, B6 và acid pantotenic Thịt bò chứa nhiều vitamin B12
2.1.2 Giới thiệu sơ lược về thịt chế biến
Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất thịt và các sản phẩm thịt là đại gia súc có sừng (trâu, bò…); gia súc (heo, cừu, dê ); và gia cầm (như gà, vịt, ngỗng,…) Để đa dạng hóa sản phẩm chế biến từ thịt và nâng cao giá trị sử dụng của thịt thì chúng phải được chế biến thành nhiều dạng sản phẩm khác nhau tùy theo mục tiêu sử dụng Chế biến làm tăng sự ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thịt, hạn chế sự nhiễm vi sinh vật gây hư hỏng thực phẩm, kéo dài tuổi thọ của sản phẩm do
đó tăng giá trị sử dụng của thịt chế biến
Thịt chế biến có hai nhóm lớn: thịt chế biến làm thức ăn cho người và thịt chế biến làm thức ăn cho gia súc Thịt chế biến làm thức ăn cho người thường được chế biến từ mô cơ, mô mỡ Thịt chế biến dùng làm thức ăn gia súc (thường là bột thịt) còn được chế biến từ các nguồn vật liệu giàu protein khác là phụ phế phẩm trong giết mổ gia súc như da, lông, xương, móng và các nội quan
Có nhiều phương pháp chế biến thịt cung cấp thực phẩm cho con người: phơi khô, ướp muối, ướp đường, lên men, xử lý nhiệt (nấu, hấp, sấy), hun khói Trong đó phương pháp sử dụng nhiệt độ là phổ biến nhất Tùy theo loại sản phẩm và mục tiêu sử dụng mà người ta xử lý ở mức nhiệt độ khác nhau Hiện nay, hầu hết các sản phẩm chế biến như xúc xích, lạp xưởng, thịt hộp, cá hộp được xử lý ở 800C; xúc xích tiệt trùng, thịt hộp được xử lý ở 1200C; đối với bột thịt sử dụng cho gia súc và con người, nhiệt độ xử lý là 1300C (Hồ Thị Thu Nguyệt, 2003)
Trang 122.1.3 Tình hình gian lận trên thị trường thịt của thế giới và Việt Nam
2.1.3.1 Tình hình gian lận trên thị trường thịt tươi và thịt chế biến của thế giới
Cơ quan tiêu chuẩn về thực phẩm (FSA – Food standard Agency) đã tổ chức nhiều cuộc điều tra trên đối tượng thịt và các sản phẩm thịt chế biến, kết quả cho thấy
có rất nhiều sai lệch giữa thành phần thực tế với nhãn hiệu của sản phẩm Đặc biệt là sản phẩm thịt chế biến gồm nhiều loại thịt gia súc khác nhau, các nhà sản xuất thường ghi trên nhãn sản phẩm những loại thịt có giá trị cao và tránh ghi những loại thịt có giá trị thấp được trộn vào trong sản phẩm Một số trường hợp lại ghi sai tỷ lệ giữa các loại thịt Trong khi đó, khả năng kiểm soát thành phần loài, độ an toàn và chất lượng sản phẩm thịt chế biến trên thị trường của các tổ chức ban ngành có liên quan vẫn còn ít (http://archive.food.gov.uk)
Một cuộc điều tra khác của bộ môn Công Nghệ thực phẩm và vệ sinh thực phẩm, trường Thú y, Đại học Ankara (Mỹ) (2006) về các loại thịt được trộn vào trong các sản phẩm thịt tươi và thịt chế biến Trên 100 mẫu điều tra, kết quả là 39,2% xúc xích lên men 35,7% xúc xích Ý, 27,2% xúc xích Đức, 22,2% thịt tươi, 6,2% thịt viên
có chứa thịt của những loài động vật không công bố trên nhãn sản phẩm Cụ thể là xúc xích lên men, xúc xích Ý, xúc xích Đức với thành phần ghi trên nhãn là thịt bò nhưng kết quả kiểm tra lại có lẫn thịt gia cầm Các mẫu thịt bò tươi kiểm tra cho thấy dương
tính với thịt hươu và thịt ngựa
2.1.3.2 Tình hình gian lận trên thị trường thịt tươi và thịt chế biến ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tình hình gian lận thương mại trong sản xuất, tiêu thụ thịt và sản phẩm chế biến từ thịt là vấn đề nhức nhối đối với nhà quản lý Ngay cả thịt tươi bán ở chợ hay ở các cửa hàng cũng bị gian lận như thịt trâu giả bò, thịt ngựa giả bò, thịt heo giả dê Đối với các sản phẩm thịt chế biến như xúc xích tôm, xúc xích bò, chả giò, thịt hộp trên thị trường có nhiều sản phẩm nghi ngờ không đúng với thành phần trên nhãn hiệu đã đăng kí, đặc biệt các thực phẩm chế biến nhập khẩu
Những năm gần đây, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Các bệnh dịch nguy hiểm đã và đang diễn ra Tình trạng vận chuyển lậu động vật và các sản phẩm động vật vẫn thường xảy ra Cục Thú y đã phối hợp với Vụ pháp chế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm –
Bộ Y tế, Cục quản lý Thị trường – Bộ Công thương thường xuyên tổ chức thanh tra,
Trang 13kiểm tra công tác kiểm dịch nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật, đặc biệt là hoạt động chống nhập lậu động vật, sản phẩm động vật qua biên giới diễn biến hết sức phức tạp Tuy nhiên, chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác ngăn chặn và xử lý nhập lậu động vật, sản phẩm động vật qua biên giới, sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành tại địa phương chưa thống nhất và chặt chẽ
(http://www.cucthuy.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=182&Itemid=65)
Thêm vào đó, công tác kiểm tra đối với các mặt hàng xuất nhập khẩu có nguồn gốc động vật vẫn còn nhiều vấn đề bất cập:
- Các nhà xuất nhập khẩu đều có thể đáp ứng được các yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn của Việt Nam Tuy nhiên, do thiếu trang thiết bị và cán bộ, nên việc kiểm tra chất lượng , kiểm dịch và thủ tục phê duyệt thường kéo dài
- Trong khi đó, các nước nhập khẩu yêu cầu về đăng ký công bố chất lượng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ của các nước nhập khẩu thường rất chặt chẽ Các yêu cầu, tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước này cũng rất cao
- Các nhà nhập khẩu nước ngoài còn yêu cầu thịt và sản phẩm của thịt phải được lấy từ vùng an toàn đối với bệnh lở mồm lông móng, dịch tả heo, dịch tả gà (newcastle), BSE và những vùng này phải được tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) công nhận
- Yêu cầu tiêu chuẩn của Việt Nam thường không chặt chẽ bằng các yêu cầu tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu (Bùi Thị Cúc, 2006)
2.2 Các phương pháp phát hiện thịt
2.2.1 Phương pháp dựa vào protein
Những phương pháp dựa vào protein sau đây có thể ứng dụng để xác định thành phần và nguồn gốc của các sản phẩm thịt và từ thịt:
Trang 14Phương pháp điện di dựa vào sự phân tách của các phân tử protein trong điện trường sau khi ly trích từ mô Đầu tiên, protein đi qua lớp starch gel, sau đó đi qua lớp polyarylamide và agarose Sự phân tách protein được biểu hiện trên polyarylamide gel (PAGE), trên polyacrylamide gel chứa một tác nhân biến tính (sodium dodecyl sulfate) (SDS-PAGE) hoặc nhờ điểm đẳng điện (isoelectric focusing - IEF) trên gel agarose hoặc gel polyacrylamide (PAGIF)
Phương pháp IEF bao gồm sự phân tách trên một gel mà được xác định nhờ sự thay đổi pH Các protein riêng lẻ di chuyển theo giá trị pH mà tương đương với điểm đẳng điện (isoelectric point ) Điện di PAGE cũng được quan tâm nhờ sự vắng mặt của tác nhân biến tính Trong phương pháp này, sự phân tách protein phụ thuộc vào vật mang và kích thước của phân tử protein Các protein di chuyển từ cực dương sang cực
âm phụ thuộc vào điện tích của chúng Trong trường hợp của SDS – PAGE, phân tử protein mang điện tích âm được lấy từ SDS di chuyển từ cực dương với vận tốc phụ thuộc chủ yếu vào trọng lượng phân tử của chúng Có một mối tương quan tuyến tính giữa khoảng cách di chuyển của protein và giá trị logarit thập phân của trọng lượng phân tử mà có thể dùng để xác định trọng lượng phân tử của protein Với sự hỗ trợ của điện di hai chiều (two dimensional electrophoresis 2-DE), nó có thể dùng để xác định thịt của nhiều loài liên quan của cá, chim, gia súc Sự phân tách protein có thể nhìn thấy được bằng mắt thường (trong trường hợp protein có chứa chất màu) hoặc sau khi nhuộm màu Những thuốc nhuộm thông thường gồm: coomasie blue, muối bạc, hoặc chất nhuộm có bản chất enzym (Hofmann, 1997)
Ứng dụng của phương pháp IEF
Sự phân tách protein nhờ IEF chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: pH thịt, tuổi và giới tính của gia súc cho thịt, dinh dưỡng, điều kiện nuôi, điều kiện dự trữ, hoạt tính tự nhiên hoặc protease vi sinh vật Có thể phân tách dựa vào thành phần đơn, ví dụ myoglobin là sắc tố cơ chuyên biệt loài Myoglobin sử dụng như là chỉ thị loài, sự phân tách cùng nhau có thể đạt được bởi những thịt thí nghiệm khác nhau của cùng một con vật hay của những con vật khác nhau của cùng một loài Điều này đã được chứng minh đối với thịt của các loài như bò, ngựa, heo, cừu, dê, kangaroo, lạc đà, gấu, thỏ, gà, vịt, đà điểu, band myoglobin được xác định và chúng có thể được phân biệt cơ bản những myoglobin (Hofmann, 1997) Trong trường hợp, những thú có quan hệ gần
Trang 15nhau, ví dụ như heo và heo rừng, mẫu myoglobin thì tương tự nhau Kỹ thuật IEF có thể được sử dụng để xác định những thú có liên quan nhau với lượng myoglobulin thấp Ví dụ, thịt gà và thịt gà tây
Ứng dụng của phương pháp PAGE và SDS-PAGE
Phương pháp điện di PAGE có thể được sử dụng để xác định protein của các loại thịt heo, bò, ngựa, cừu, cá, dê, hươu Phương pháp này cũng có thể sử dụng để phát hiện thịt của những loài có quan hệ với nhau, nhưng protein dùng để kiểm tra không được xử lý nhiệt Việc xác định các sản phẩm thức ăn bổ sung từ thịt của những
loài khác nhau đã xử lý nhiệt có thể thực hiện trong điều kiện protein kiểm tra được
phân hủy trong dung dịch guanidine chloride và điện di đẳng điện sau khi nhuộm enzym (Pyz, 1998)
Phương pháp SDS-PAGE (Sodium Dodecyl Sulphate – Polyacrylamide Gel Electrophoresis) có thể phân tích các protein khó tan trong các dung môi khác hơn là trong dung dịch SDS Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho các protein không tan trong dung dịch có chứa urê, được sử dụng để phân tích chất lượng của protein, ví
dụ protein nhiều loài cá hoặc phân tích số lượng dựa vào thuốc nhuộm Tuy nhiên, phương pháp này không tiện lợi vì kết quả đạt được có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu
tố như tuổi, dinh dưỡng, stress, sự sai khác về chất lượng của thịt cũng như thịt đông lạnh bảo quản không tốt so với thịt tươi (Minkiewicz & ctv, 2000)
2.2.1.2 Phương pháp miễn dịch
Phương pháp miễn dịch được sử dụng trong phân tích thực phẩm bao gồm phân tích những phân tử có trọng lượng nhỏ như mycotoxins, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật và vitamin cũng như những phân tử lớn như độc tố vi khuẩn, enzym, kích thích tố, protein thực phẩm, và thậm chí phân tích những vi sinh vật sống như vi khuẩn và nấm mốc (Hitchcock, 1988; Fukall & Kas, 1989) Từ đầu thế kỷ XX, phương pháp miễn dịch dựa vào phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể đã được ứng dụng để phân biệt loài của thịt Những thành tựu trong hóa miễn dịch đã dẫn đến sự xuất hiện nhiều phương pháp miễn dịch mới, bao gồm các phương pháp miễn dịch phóng xạ, các phương pháp miễn dịch enzym, và các phương pháp miễn dịch sắc ký không enzyme (non-enzymatic chromatographic immunoassays hay lateral flow) với độ nhạy và độ chính xác được cải thiện rất nhiều
Trang 162.2.1.3 Phương pháp sắc ký
Phương pháp sắc ký gồm sắc ký khí (GC), sắc ký lỏng (LC), sắc ký lỏng cao áp (HPLC) đã được ứng dụng để phân biệt loài trong các mẫu thịt dựa vào sự kiểm tra thành phần acid béo (Verbeke & Brabander, 1985), histidine dipeptides (Carnegie & ctv, 1983; Chung & ctv, 1998) Trong các kỹ thuật trên, HPLC được sử dụng rộng rãi nhất Ví dụ, phương pháp sắc ký lỏng cao áp ngược pha (RP-HPLC) được sử dụng để phân biệt loài của thịt tươi và thịt chế biến dựa vào histidine peptides phụ thuộc vào loài, tỷ lệ đặc trưng của carnosine với serine (C/E) (Chung & ctv, 1998) Mặc dù, mẫu sắc ký giống nhau ở các cơ khác nhau trong một loài, nhưng có nhiều protein đặc trưng và có nhiều peak protein thay đổi (Toorop & ctv, 1997; Ashoor & ctv,1998) gây khó khăn cho việc phân tích dữ liệu Dựa vào lý do căn bản là chất béo không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, phương pháp LC được phát triển cho việc phát hiện thịt heo và mỡ heo trong các sản phẩm thịt tươi và thịt chế biến dựa vào tăng tỷ lệ triglyceride có trong acid béo bão hòa với triglyceride chứa trong acid béo không bão hòa (Saeed & ctv, 1989) Tuy nhiên, vì lượng mỡ trong sản phẩm thịt thường thay đổi nên khó xác định lượng thịt giả mạo (bị pha trộn) từ phương pháp dựa vào chất béo Cũng như phương pháp điện di, phương pháp sắc ký có thể phân biệt loài riêng biệt, nhưng phương pháp sắc ký ít hiệu quả trong việc phát hiện loài thịt giả mạo được pha trộn trong các hỗn hợp thịt tươi và thịt chế biến vì tính phức tạp cao của các peak Thêm vào đó, phương pháp sắc ký đòi hỏi trang thiết bị đắc tiền và quy trình chuẩn bị mẫu khó khăn
2.2.2 Phương pháp dựa vào DNA
2.2.2.1 Phương pháp lai DNA
Các nghiên cứu ban đầu sử dụng DNA để phát hiện loài của thịt đã sử dụng những phương pháp đơn giản Nhờ đó mà những probe DNA đã đánh dấu được lai với DNA bộ gen của mẫu thấm trên màn nilong Mô hình thí nghiệm cho một kiểm tra được chỉ ra ở hình 2.4 Sự chuẩn bị probe không đòi hỏi bất kỳ kiến thức trước như tính chính xác về trình tự DNA nghiên cứu Sự gắn kết chuyên biệt về loài của probe với DNA mục tiêu là nhờ probe lai với trình tự bổ sung với probe trên DNA mục tiêu Những trình tự bổ sung với probe được sắp xếp một cách ngẫu nhiên và được tìm thấy xuyên suốt genome như trình tự “satellite”
Trang 17Hình 2.1: Mô hình kiểm tra một mẫu bằng kỹ thuật lai DNA
3 mẫu thuộc 3 loài: X, Y, và Z; sử dụng probe được chuẩn bị từ loài Y
(Lockley & ctv, 2000)
Biến tính DNA và gắn kết lên màng
Tổng hợp probe và đánh dấu
Lai probe với màng
Rửa để loại bỏ probe không gắn kết Phát hiện probe được lai
Trang 182.2.2.2 Phương pháp dựa vào PCR
Phương pháp PCR được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm qua vì khả năng khuếch đại của kỹ thuật PCR có thể phát hiện trình tự DNA mục tiêu khi lượng mẫu hạn chế Các phương pháp dựa vào PCR để phân biệt loài của thịt đã được phát triển
từ thập niên trước Tất cả những phương pháp PCR này được phân thành 2 nhóm (Hui, 2006) Đó là Random Amplified Polymorphic DNA (RAPD) và PCR đặc trưng cho loài (species-specific PCR) RAPD khuếch đại nhiều trình tự chưa được biết trước sử dụng các primer không chuyên biệt, dẫn đến kết quả fingerprint đặc trưng cho từng loài (species-specific fingerprints) của sản phẩm PCR được quan sát trên gel điện di Species-specific PCR (species-specific PCR) sử dụng các cặp primer đặc trưng và bảo tồn mà các primer này bắt cặp với những trình tự dùng để phân biệt loài của DNA nhân hay DNA ty thể Vì thế cần phải biết trước về trình tự DNA mục tiêu để thiết kế primer Sản phẩm PCR sau đó có thể được phân biệt dựa vào kích thước, giải trình tự, hoặc dựa vào những phân tích tiếp theo như đa hình chiều dài phân đoạn (Restriction Fragment Length Polymorphism (RFLP) hoặc đa hình cấu tạo chuỗi đơn (Single Strand Conformational Polymorphism (SSCP) Ưu điểm của kỹ thuật PCR là tính hiệu quả và ít tốn thời gian
a Random Amplified Polymorphic DNA (RAPD)
Những primer chuyên biệt hoặc ngẫu nhiên khuếch đại những marker DNA đa hình được sử dụng để phân biệt loài của thịt Những primer chuyên biệt này thường ngắn, kích thước khoảng 10 bp Do trình tự của những primer này chuyên biệt nên không cần biết trước trình tự DNA của loài Trong cùng điều kiện PCR, các primer này sẽ khuếch đại hàng loạt vị trí cho ra nhiều band khác nhau khi điện di Từ đó xác định được band chuyên biệt về loài Những cặp primer khác nhau sẽ cho ra sản phẩm
khác nhau (Lee & ctv, 1994; Cushwa, 1996; Roa & ctv, 1996; Koh, 1998)
Phương pháp RAPD sử dụng những primer bất kỳ dựa trên những trình tự oligonucleotide ngắn khuếch đại nhiều trình tự không xác định cùng một lúc Sau khi điện di trên gel, sản phẩm PCR sẽ cho ra các dạng fingerprint có tính duy nhất cho một loài chuyên biệt Khả năng phân biệt của RAPD-PCR thì gần như không có giới hạn vì
sự lựa chọn các primer bất kỳ là không giới hạn Tuy nhiên, không phải tất cả các primer ngẫu nhiên có thể phân biệt một cách thỏa đáng giữa các loài Sàng lọc và lựa chọn kỹ lưỡng các primer là điều quan trọng cho việc áp dụng thành công kỹ thuật này
Trang 19(Saez & ctv, 2004) RAPD đã được ứng dụng phân biệt loài các động vật nuôi (Koh & ctv, 1998), nhiều loại thịt, sản phẩm thịt (Martinez & ctv, 1999; Bellagamba & ctv, 2003) RAPD được sử dụng để tạo ra những fingerprint rõ ràng từ các sản phẩm chế biến mà trong đó DNA hơi bị biến tính, như các sản phẩm cá muối hoặc xông khói (Martinez, 1997) Mặc dù kỹ thuật này thu được các fingerprint mang thông tin hữu ích trong thời gian ngắn nhưng hiệu quả không được biết trước vì điều kiện chu kỳ hay
sự đa hình của các loài ngoại nhiễm Sử dụng những primer dài hơn và điều kiện khuếch đại chính xác hơn có thể cải thiện tính hiệu quả (Desmarais & ctv, 1998) Vì thế, quy trình RAPD phải được tối ưu và thực hiện một cách chính xác Phân tử DNA thường bị gãy thành những đoạn nhỏ hơn trong các sản phẩm chế biến; vì thế phân tích RAPD ít được tin cậy để sử dụng phân tích những mẫu đã qua khử trùng và đóng hộp RAPD thuận lợi như là một phương pháp định tính nhanh chóng cho việc phân biệt loài của thịt, nhưng mỗi một lần kiểm tra phải được chạy cùng với một mẫu chuẩn đã được biết trước (Koh & ctv, 1998) Tóm tắt về nguyên lý và ứng dụng của phương pháp RAPD trong phân tích di truyền của những loài vật nuôi được viết bởi Cushwa
và Medrano (Cushwa & Medrano, 1996)
b PCR đặc trưng cho loài (Species-specific PCR)
PCR đặc trưng cho loài dùng để phân biệt loài đã được phát triển để khuếch đại một đoạn DNA với sự biến đổi đủ đặc trưng cho loài Các primer xuôi và ngược được thiết kế chuyên biệt cho mỗi loài dựa vào sự sắp gióng của các trình tự DNA có sẵn từ các gen được chọn Thông tin đầy đủ về trình tự cho phép dự đoán kích thước của sản phẩm, giúp cho việc đọc kết quả trên gel thuận lợi Các gen ty thể như ATPase 8 đơn
vị và 6 đơn vị (Tartaglia & ctv, 1998; Krcmar & Rencova, 2003), D-loop và gen cytochrome b (Cyt b) (Kocher & ctv, 1989; Burgener & Hübner, 1998; Matsunaga & ctv, 1999; Colombo & ctv, 2000; Herman , 2000), DNA satellite (Guoli & ctv, 1999) các gen actin (Fairbrother & ctv, 1998; Hopwood & ctv, 1999), những yếu tố đặc trưng Art2 ngắn và CR1 dài nằm trải rác trên genome (Tajima & ctv, 2002) và gen hormone phát triển (Brodmann & ctv, 2003) đã được nghiên cứu trong việc xác định loài của động vật, với nhiều phương pháp tập trung vào gen Cyt b như là trình tự mục tiêu Độ đặc hiệu của các cặp primer mà được mã hóa từ trình tự gen Cyt b đã cho phép khuếch đại DNA của cá ngừ để xác định loài cá ngừ đã qua chế biến và trong đồ hộp trên thị trường
Trang 20b1 Standar-PCR
PCR (polymerase chain reaction - phản ứng tổng hợp dây chuyền nhờ
polymerase) do Kary Mullis và cộng sự phát minh năm 1985 PCR là kỹ thuật in vitro
cho phép nhân nhanh một gen mong muốn lên hàng triệu lần trong một thời gian ngắn
(tạo dòng in vitro, không cần sự hiện diện của tế bào)
Sự khuếch đại nhờ những primer oligonucleotid Primer là những phân tử DNA đơn, ngắn, có khả năng bắt cặp bổ sung với một đầu của mạch khuôn (trình tự DNA mẫu xét nghiệm) nhờ DNA polymerase, và dNTP (deoxyribonucleotide triphosphate) trong điều kiện phản ứng thích hợp Các primer này gồm có primer “xuôi” (forward primer) và primer “ngược” (reverse primer) Kết quả là sẽ có những chuỗi DNA mới
bổ sung với sợi DNA mẫu Những chuỗi này sẽ tồn tại dưới dạng DNA chuỗi đôi Sự tổng hợp này sẽ được lặp lại theo một số chu kỳ nhất định đã được thiết lập
Các giai đoạn của PCR
Phản ứng PCR là một chuỗi gồm nhiều chu kỳ nối tiếp nhau Mỗi chu kỳ gồm ba giai đoạn (Too , 2001):
¾ Giai đoạn 1: Giai đoạn biến tính (denaturation)
Hai mạch của phân tử DNA tách rời nhau thành hai mạch đơn Phân tử DNA được biến tính ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nóng chảy (Tm) của phân tử, thường ở 94 -
950C trong vòng 30 giây đến 1 phút
¾ Giai đoạn 2: Giai đoạn ủ bắt cặp (anealing)
Nhiệt độ được hạ thấp (thấp hơn Tm của các primer) cho phép các primer bắt cặp với khuôn, trong thực nghiệm nhiệt độ này dao động khoảng 40 – 600C tuỳ thuộc Tm của các primer sử dụng và kéo dài từ 30 giây đến 1 phút
¾ Giai đoạn 3: Giai đoạn kéo dài (elongation hay extension)
Nhiệt độ giai đoạn này được tăng lên 720C giúp DNA polymerase hoạt động tổng hợp DNA tốt nhất với sự hiện diện của 4 deoxyribonucleotide triphosphate Đoạn DNA nằm giữa hai primer được tổng hợp tạo thành chuỗi DNA
Mỗi chu kỳ gồm 3 giai đoạn trên sẽ được lặp lại nhiều lần và mỗi lần làm tăng đôi lượng DNA mẫu của lần trước Tổng DNA khuếch đại được tính theo công thức:
Tổng DNA khuếch đại = m*2n (Với n: Số chu kỳ; m: Số bản sao của chuỗi mã hóa)
Trang 21 Sản phẩm kéo dài ở chu kỳ đầu tiên có chiều dài không xác định vì DNA polymerase sẽ tiếp tục tổng hợp DNA mới đến khi nó dừng lại hoặc bị phá hủy bởi chu kỳ tiếp theo Sản phẩm kéo dài ở chu kỳ thứ hai cũng không xác định Tuy nhiên, ở chu kỳ thứ 3, đoạn DNA mong muốn (DNA đích) được tổng hợp có chiều dài xác định Từ chu kỳ thứ 4 trở đi, trình tự đoạn DNA đích được khuếch đại Vì thế số copy cuối cùng của trình tự đích được tính theo công thức:
Số copy cuối cùng của trình tự đích = (2n – 2n) * x
n : Số chu kỳ
2n: Sản phẩm có chiều dài không xác định sau chu kỳ 1 và 2
x : Số bản sao của chuỗi mã hóa
+ Giai đoạn sau đó, hiệu quả khuếch đại giảm hẳn do:
Phân hủy và cạn kiệt các thành phần của phản ứng
Xuất hiện các sản phẩm phụ ức chế lại phản ứng
Các bản sao vừa tổng hợp không kết hợp với primer mà lại bắt cặp với nhau
Số chu kỳ của phản ứng tùy thuộc số lượng mẫu ban đầu DNA mẫu ban đầu là
105 thì cần khoảng 25 – 30 chu kỳ, còn DNA mẫu là 102 – 103 thì số chu kỳ phải là 35
– 40
Các thành phần của một PCR
Theo Too (2001), các thành phần cơ bản của một phản ứng PCR bao gồm:
- DNA mẫu: là thành phần cần khuếch đại
- Primer: Primer là những đoạn oligonucleotide mạch đơn, có trình tự bổ sung với trình thự base của hai đầu mạch khuôn để khởi đầu quá trình tổng hợp DNA Việc chọn primer là giai đoạn quyết định của PCR Các primer được chọn phải đặc trưng cho trình tự DNA cần khuếch đại, không trùng với các trình tự lặp lại trên gen, không
có sự bắt cặp bổ sung giữa primer xuôi và primer ngược và cũng không có những cấu trúc kẹp tóc do sự bắt cặp bổ sung trong cùng một primer Chiều dài các primer tối
Trang 22thiểu cho hầu hết các ứng dụng PCR là 18 nucleotide (thường là 18 – 24 nucleotide) Trình tự nằm giữa hai primer xuôi và ngược không quá lớn, PCR sẽ tối ưu trên những trình tự nhỏ hơn 1kb
- Polymerase: Taq polymerase là một DNA polymerase chịu nhiệt được sử
dụng rất phổ biến, được chiết tách từ vi khuẩn Thermus aquaticus ở suối nước nóng
Taq DNA polymerase không bị phá hủy ở nhiệt độ cao và xúc tác sự tổng hợp từ đầu
đến cuối quá trình phản ứng dưới sự hiện diện của Mg2+ Taq DNA polymerase tổng
hợp DNA theo hướng 5’→3’ và hoạt động tốt nhất ở 70-720C
- Các nucleotid (dNTP – deoxyribonucleotide triphosphate): là hỗn hợp 4 loại: dATP, dTTP, dCTP, dGTP làm nguyên liệu cho phản ứng tổng hợp DNA
- Dung dịch đệm: thành phần dung dịch đệm có thể thay đổi tùy loại enzym được sử dụng, quan trọng nhất là ion Mg2+ Nó hình thành một phức hợp hòa tan với dNTP, rất cần cho quá trình liên kết các dNTP, xúc tác cho enzym polymerase, làm tăng nhiệt độ nóng chảy (Tm) của DNA mạch đôi Nồng độ Mg2+ (thường được sử dụng ở dạng MgCl2) là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả và tính đặc hiệu của PCR Ngoài ra nồng độ MgCl2 có thể ảnh hưởng đến quá trình bắt cặp của primer, nhiệt độ để biến tính DNA thành dây đơn, hoạt động của enzym và sự trung thực của kết quả Nồng độ MgCl2 trong hỗn hợp phản ứng cuối cùng thường biến thiên từ 0,5 – 5mM (Hồ Huỳnh Thùy Dương, 1998)
Phân tích kết quả PCR
Sản phẩm của PCR (đoạn DNA được khuếch đại) sẽ được phát hiện bằng phương pháp điện di Nguyên tắc của phương pháp điện di dựa vào đặc tính cấu trúc của các DNA DNA là các đại phân tử tích điện âm đồng đều trên khắp bề mặt nên khi chịu tác động của một điện trường, chúng sẽ di chuyển về điện cực dương của điện trường Sự di chuyển của phân tử trong bản gel dưới tác động của một điện trường phụ thuộc vào khối lượng của các phân tử (tức là số nucleotide), nồng độ các thành phần của gel và điện thế
Điện di được thực hiện theo phương nằm ngang hoặc đứng Các DNA trong gel agarose được hiện ra dưới tia tử ngoại (UV) nhờ ethidium bromide Chất này có khả năng gắn xen giữa các base của acid nucleic và phát huỳnh quang dưới tác dụng của tia UV (bước sóng λ=300 nm) thành vạch màu đỏ da cam
Trang 23Để ước lượng kích thước DNA bằng gel agarose, người ta sử dụng một yếu tố đánh dấu “trọng lượng phân tử” (molecular weight make – MWM) là một tập hợp nhiều trình tự DNA có kích thước đã biết (DNA ladder)
Tartaglia & ctv (1998) đã phát triển phương pháp PCR chuyên biệt cho bò sử dụng trình tự DNA ty thể đặc trưng cho bò để thiết kế primer Phương pháp cho phép phát hiện thịt bò và bột xương bò ở mức 0,125% Nhờ khuếch đại DNA satellite sử dụng các cặp primer chuyên biệt cho bò, Guoli & ctv (1999) đã phát hiện thịt bò tươi, luộc (100oC, 30 phút) và autoclaved (120oC, 30 phút) mà không có hiện tượng bắt cặp chéo với các loài khác được kiểm tra
b2 Multiplex PCR
Multiplex PCR là một cải tiến của kỹ thuật PCR mà trong đó có thể nhân lên đồng thời nhiều đoạn DNA mong muốn bằng cách sử dụng nhiều cặp primer trong một phản ứng Multiplex PCR đầu tiên được mô tả bởi Chamberlain năm 1988 và kể từ đó multiplex PCR được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực kiểm tra DNA (Protocol online) Phương pháp multiplex PCR thực chất là phương pháp tạo dòng trong ống nghiệm nhằm mục đích thu nhận một lượng lớn bản sao của một trình tự xác định Chính vì vậy đoạn DNA mục tiêu nhân lên rất nhiều lần và có thể được quan sát thông qua những kỹ thuật phân tách và điện di (Hồ Huỳnh Thùy Dương, 2002)
Multiplex PCR cho phép phân biệt cùng một lúc nhiều loài với một phản ứng PCR sử dụng một primer universal từ trình tự DNA bảo tồn trên gen cùng với nhiều primer được thiết kế từ trình tự đặc trưng cho từng loài (Matsunaga & ctv, 1999, Rodriguez & ctv, 2003) Thông tin chi tiết về trình tự của nhiều loài có thể tìm kiếm được và do đó sự đa hình về mặt phát sinh loài có thể được xác định dựa vào những primer chuyên biệt về loài Dưới điều kiện phản ứng nghiêm ngặt, những primer cho ra một sản phẩm chỉ khi có sự hiện diện DNA của loài đặc hiệu với primer Nhờ vào sự bắt cặp của các primer chuyên biệt loài với trình tự DNA đặc trưng ở mỗi loài, nó có thể được dùng để kiểm tra sự hiện diện nhiều loài Trong phương pháp này, có thể sử dụng một primer forward chung (dựa vào vùng bảo tồn trên cytochrome b ở các loài)
và các primer reverse riêng (dựa vào vùng không bảo tồn trên cytochrome b) Phương pháp multiplex PCR được sử dụng để phát hiện nhiều loài của thịt (Meyer & ctv, 1994; Matsunaga, 1999; Behrens, 1999)
Trang 24b3 Real time PCR
Real - time PCR là phương pháp khuếch đại và đồng thời phát hiện đoạn DNA chuyên biệt thông qua các chất chỉ thị huỳnh quang Trong phản ứng Real - time PCR, quá trình nhân bản DNA đang diễn ra theo từng chu kỳ nhiệt được theo dõi trực tiếp Real - time PCR gồm hai quá trình diễn ra đồng thời: nhân bản DNA bằng phản ứng PCR và đo độ phát huỳnh quang tỷ lệ thuận với số lượng đoạn DNA tạo thành (McPherson & Moller, 2006)
Phương pháp Real – time PCR dựa trên sự khuếch đại một đoạn DNA đặc hiệu Sản phẩm khuếch đại được đánh dấu bằng chất chỉ thị màu hay probe gắn huỳnh quang Trong khi chạy Real - time PCR, đầu đọc Real - time sẽ phát hiện các sản phẩm khuếch đại đặc hiệu ở bước nhiệt độ trong các chu kỳ nhiệt tùy vào mỗi phương pháp phát hiện tín hiệu màu Mẫu xét nghiệm chứa nhiều DNA đích ban đầu sẽ có chu kỳ ngưỡng phát hiện sớm hơn là mẫu xét nghiệm có ít DNA đích Sau khi kết thúc chương trình, phân tích trên phần mềm và biết được nồng độ tác nhân gây bệnh ban đầu của mẫu xét nghiệm dựa vào các nồng độ DNA chuẩn Nồng độ DNA trong các mẫu xét nghiệm sẽ được xác định dựa trên đường chuẩn biểu diễn mối quan hệ giữa chu kỳ ngưỡng với log số bản sao ban đầu của các mẫu chuẩn
Tính đặc hiệu của Real - time PCR tùy thuộc hóa chất dùng để theo dõi phản ứng khuếch đại và dụng cụ để kiểm tra tín hiệu Các hóa chất khác nhau dùng trong mục đích này (Weighardt , 2004):
- Phẩm nhuộm chèn vào DNA sợi đôi sẽ phát huỳnh quang: ethidium bromide, SYBR Green I
- Probe đặc hiệu có gắn chất phát huỳnh quang: TaqMan probe, Fluorescence Resonance Energy Transfer (FRET) probe, Molecular Beacons probe, Scorpions và TaqMan Minor Groove Binder (MGB) probe
Trong đó, kỹ thuật TaqMan probe thường được sử dụng trong việc phân biệt loài (Holland & ctv, 1991) Probe oligonucleotide gắn vào đoạn bên trong DNA đích Probe này được đánh dấu ở đầu 5’ bằng chất nhuộm chỉ thị huỳnh quang – fluorescent reporter dye (gọi là reporter) và chất hấp thụ – quencher ở đầu 3’ Reporter và quencher có phổ kích thích và phát quang trùng nhau Nhờ đó tín hiệu huỳnh quang được hấp thu Khi DNA đích tích lũy, probe gắn vào DNA đích nhưng chưa phát
quang Khi mạch bổ sung với mạch khuôn mà probe bắt cặp được kéo dài, Taq DNA
Trang 25polymerase tiến tới đầu 5’ của probe Hoạt tính 5’Æ3’ exonuclease của Taq DNA
polymerase sẽ phân cắt đầu 5’ đã được đánh dấu huỳnh quang của probe Do đó chất chỉ thị huỳnh quang - reporter được phóng thích ra khỏi sự bắt cặp của chất hấp thụ – quencher và tín hiệu huỳnh quang tăng lên Mức độ huỳnh quang tương ứng với số DNA chuyên biệt mong đợi Khác với SYBR Green I, primer dimer và các sản phẩm DNA khuếch đại không đặc hiệu sẽ không cho tín hiệu huỳnh quang (McPherson & Moller, 2001)
Như vậy, tín hiệu huỳnh quang được ghi nhận trong giai đoạn kéo dài Độ mạnh tín hiệu huỳnh quang tích lũy tăng dần
Kỹ thuật TaqMan sử dụng các primer chuyên biệt cho loài đã được phát triển để phát hiện thịt bò hoặc thịt heo trong thực phẩm với giới hạn phát hiện từ 0,1 % xuống 0,01% (Lahiff & ctv, 2002; Laube & ctv, 2003)
b4 PCR-RFLP
Chikuni và ctv (1994) đã thiết kế primer cho PCR dựa vào trình tự DNA satellite
I của cừu để khuếch đại DNA cừu và dê nhưng không khuếch đại được ở các loài khác như bò, trâu, hươu, ngựa, heo, gà, thỏ Giải trình tự sản phẩm PCR cho thấy 92% tương đồng Tuy nhiên, có 4 vùng enzym cắt giới hạn khác nhau ở cừu và dê vì thế có
thể phân biệt hai loài này bằng enzym cắt giới hạn Sử dụng ApaI cắt sản phẩm 374 bp
cừu cho ra hai đoạn 236 bp và 138bp Vùng cắt của enzym này không tồn tại trên sản phẩm PCR của dê Kỹ thuật này gọi là PCR – RFLP Nó được sử dụng rộng rãi để phân biệt loài của nhiều loại thịt (Meyer & ctv, 1995; Borgo & ctv, 1996; Beneke & ctv, 1998; Hopwood & ctv, 1999; Wolf, 1999; Partis, 2000) Hơn nữa, việc phân biệt loài không cần giải trình tự sản phẩm PCR mà chỉ ủ sản phẩm PCR với nhiều enzym cắt giới hạn, rồi sau đó dựa vào kết quả điện di các đoạn DNA mà sau khi ủ với enzym
có thể phân biệt được loài của thịt
Trang 26nucleotide, phương pháp này ngày nay trở nên đơn giản và nhanh hơn Từ khi việc giải trình tự sản phẩm PCR trở thành một công việc chuẩn trong phòng thí nghiệm mà thực hiện kỹ thuật DNA tái tổ hợp thì dữ liệu về trình tự DNA của các loài động vật sẽ được hình thành để việc xác nhận rõ ràng (Bossier, 1999) Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn cho việc ứng dụng giải trình tự cho hỗn hợp gồm nhiều loài khác nhau
Phương pháp trực tiếp để có thông tin từ sản phẩm PCR là giải trình tự Thông tin có được sẽ sử dụng để xác định nguồn gốc loài của các loại thịt Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này thường có khuynh hướng tập trung khuếch đại trình tự DNA
ty thể, đặc biệt là gen cytochrome b (Lockley & ctv, 2000) DNA ty thể có nhiều ưu điểm hơn DNA nhân ở các nghiên cứu xác định loài của các sản phẩm thịt (Alberts & ctv, 1994) DNA ty thể có khuynh hướng được thừa hưởng từ mẹ và do đó sẽ tránh được sự tối nghĩa về mặt trình tự của mã di truyền ở kiểu gen dị hợp tử DNA ty thể có
tỷ lệ biến dị tương đối cao so với nhiều gen trong nhân Điều này có ý nghĩa trong việc tích lũy đủ những điểm đột biến để cho phép sự phân biệt chính xác những loài có quan hệ gần với nhau Tuy nhiên, phải chú ý rằng DNA ty thể cũng biểu hiện một mức
độ thay đổi trong loài và vì thế phải cẩn thận trong nghiên cứu sự khác biệt về nguồn gốc dựa trên sự đa hình (Chow & ctv, 1993)
b6 PCR-SSCP (PCR- Single Strand Conformational Polymorphism)
PCR được sử dụng để khuếch đại vùng giống nhau của DNA từ những loài khác nhau, thường là một phần của gen cytochrome b ty thể Sản phẩm chuỗi đôi sau đó được biến tính cho ra DNA chuỗi đơn có cấu trúc bậc hai phụ thuộc vào trình tự của
nó Sau khi điện di trên gel polyacrylamide trong điều kiện thích hợp, sản phẩm với những cấu trúc bậc hai khác nhau di chuyển khác nhau trong điện trường và thu được những đoạn khác nhau Sử dụng phương pháp này có thể phân biệt các loài có ít sự khác biệt thậm chí chỉ là sai khác một base (Hayashi ,1996) Phương pháp này có thể phân biệt thịt lợn và thịt lợn lòi (Rea & ctv, 1996)
Trang 27Sơ đồ 2.1: Các phương pháp phân biệt loài của thịt
(Hui, 2006 )
RAPD-PCR Species-specific PCR
Standard-PCR Multiplex PCR Real time PCR PCR-RFLP PCR-sequencing PCR-SSCP
Lai DNA Dựa vào PCR
Phương pháp dựa vào DNA Các phương pháp phân biệt loài của thịt
Sắc ký Khí Lỏng Lỏng cao áp
AGID Miễn dịch
RIA
Trang 282.3 DNA ty thể và gen cytochrome b trong việc phát hiện loài
vi khuẩn, đã được chuyển vào nhân tế bào eukaryote trong suốt quá trình tiến hóa Mặc dù mtDNA được đóng gói bởi các protein và có khả năng sửa chữa DNA, nhưng những chức năng bảo vệ này ít hơn DNA nhân Vì thế mtDNA dễ ảnh hưởng lên sự hư hại do oxi hóa Đột biến ở mtDNA là nguyên nhân các bệnh di truyền từ mẹ và các bệnh liên quan đến tuổi
Ở người và ở các động vật đa bào nói chung có khoảng 100-10.000 bản sao của mtDNA trong một tế bào (trừ trứng và tinh trùng) (Bogenhagen & Clayton, 1974) Ở động vật hữu nhũ, mỗi phân tử mtDNA gồm 15.000 – 17.000 bp, mã hóa cho 37 gen:
13 gen cho những protein trong chuỗi vận chuyển (polypeptides), 22 cho transfer RNA (tRNA), và 1 trong 2 gen còn lại mỗi gen mã hóa cho một đơn vị lớn và một đơn vị nhỏ của RNA ribosome (rRNA)
¾ 13 gen mã hóa protein trong chuỗi vận chuyển (Transport chain)
Được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2: 13 gen mã hóa protein trong chuỗi vận chuyển
NADH dehydrogenase
(complex I)
ND1, ND2, ND3, ND4, ND4L, MT-ND5, MT-ND6
Trang 29¾ 2 gen mã hóa rRNA: MT-RNR1 (12S) và MT-RNR2 (16S)
¾ 22 gen mã hóa tRNA
Được trình bày ở bảng 2.3
Trang 30Bảng 2.3: 22 gen mã hóa tRNA
Amino Acid 3 mẫu tự 1 mẫu tự mtDNA
Trang 31Hình 2.2: Genome của ty thể
http://www.mitomap.org/MITOMAP/mitomapgenome
Trang 32đi Hệ quả là cơ thể mới được tạo thành chỉ chứa ty thể của mẹ truyền cho Năm
1999, Sutovsky và ctv đã làm thí nghiệm trong đó ty thể tinh trùng (có mtDNA) được gắn ubiquytin và nhận thấy chúng bị phá hủy ở phôi (Sutovsky, 1999)
Sự thiếu sót của mtDNA tinh trùng để vào trứng ở một số ít sinh vật
Mặc dù có một vài bằng chứng gần đây cho thấy rằng trong một số trường hợp hiếm, bào quan này cũng được di truyền từ bố Người ta cho rằng ty thể có thể đôi khi được di truyền từ bố ở một vài loài như loài trai (Hoeh & ctv, 1991; Zouros & ctv, 1992; Penman & Danny, 2002) Ty thể được di truyền từ bố cũng được tìm thấy ở một vài loài côn trùng như ruồi (Kondo & ctv, 1992), ong (Meusel & Moritz, 1993), và loài
Trang 33việc khuếch đại mtDNA là dễ dàng hơn
Trong các gen của ty thể, gen cytochrome b thường được sử dụng trong việc phát hiện loài (Kocher & ctv, 1989; Irwin & ctv, 1991; Matsunaga & ctv, 1999; Hsieh
& ctv, 2001; Bellagamba & ctv, 2003; Pascoal & ctv, 2005; Maede, 2006) Nhưng không phải sử dụng hết hoàn toàn trình tự gen cytochrome b mà chỉ sử dụng một phần
Lý do là kích thước của gen này lớn (khoảng 1140 bp)
Để thuận tiện trong việc nghiên cứu, DNA ty thể thường được ly trích từ cơ Vì
ty thể thực hiện chức năng hô hấp giải phóng năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào, tạo ra một số sản phẩm trung gian cần thiết Do nhu cầu năng lượng là khác nhau đối với các tế bào trong cơ thể và cũng như các loại tế bào nên số lượng ty thể trong tế bào cũng khác nhau và sự sắp xếp ty thể trong tế bào cũng phụ thuộc rất nhiều vào chức năng sinh lý cũng như điều kiện môi trường Vì thế, ở các tế bào như
là cơ, gan thì hoạt động cần thiết phải có một lượng lớn năng lượng sinh học tế bào
2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát hiện loài của thịt bằng phương pháp multiplex PCR
Phương pháp PCR nói chung và phương pháp multiplex PCR nói riêng đã được
sử dụng rộng rãi để phát hiện hay phân biệt DNA của các sinh vật khác nhau từ nhiều nguồn mẫu Vì thế, multiplex PCR được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phân biệt loài động vật ở các sản phẩm thịt chế biến
Năm 1997, Wayne và ctv đã có công trình nghiên cứu về trình tự DNA ty thể dài 2001bp của 23 dòng chó Kết quả nghiên cứu cho thấy trên DNA ty thể có trình tự bảo toàn cho cả 23 dòng chó
Tại Hoa Kỳ, Sawyer (1997) đã tìm ra một phương pháp nhanh và nhạy để xác định và ngăn chặn tình trạng nhập khẩu bò nhiễm BSE Tác giả đã xây dựng quy trình PCR phát hiện thịt bò trong thịt và bột xương thịt dựa trên đoạn gen bảo toàn của DNA
Trang 34vào trình tự chuyên biệt ở mỗi loài Các cặp primer này cho ra các sản phẩm PCR có kích thước khác nhau tương ứng với 6 loại thịt Các đoạn DNA của dê, gà, bò, cừu, heo, ngựa lần lượt có kích thước: 157bp, 227bp, 274bp, 331bp, 398bp, 439bp Kết quả PCR được quan sát bằng điện di DNA của dê, bò, cừu, heo, được phát hiện cả đối với DNA tách chiết từ thịt xử lý nhiệt ở 100oC hay 120oC, riêng đối với thịt ngựa thì không phát hiện được ở 120oC Giới hạn thấp nhất của nồng độ DNA mà phản ứng PCR còn phát hiện được là 0,25 ng
Năm 2000, Montiel-Sosa và ctv thiết kế cặp primer có tính chuyên biệt cao trên đoạn bảo toàn của gen DNA ty thể Cặp primer này được dùng để khuếch đại đoạn DNA dài 531bp của gia cầm bằng phương pháp PCR Phương pháp này tỏ ra hữu dụng cả thịt tươi và hỗn hợp thịt chế biến bao gồm thịt phơi khô và thịt nấu chín từ bò, cừu, gà
Một phương pháp để phát hiện những trình tự DNA ty thể của thịt bò, thịt cừu, thịt heo, thịt gà dựa vào PCR đã được phát triển Phương pháp cho phép phát hiện trong hỗn hợp có 0,01% loài mục tiêu (Kremar & Rencova, 2003)
Dalmasso & ctv (2004) đã sử dụng phương pháp multiplex PCR để phát hiện nguồn gốc loài của thịt làm nguyên liệu trong sản xuất thức ăn gia súc (thú nhai lại, gia cầm, cá, heo) Primer được thiết kế dựa vào các vùng khác nhau của DNA ty thể (12S rRNA, tRNA và 16S rRNA) sau khi sắp gióng cột với các trình tự có sẵn trên ngân hàng gen Giới hạn phát hiện là 0,004% cho primer cá, 0,002% cho primer thú nhai lại, gia cầm và heo
Năm 2004, Miguel và ctv đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện thịt heo,
bò, cừu, dê trong thịt tươi và thịt chế biến Primer forward chung được thiết kế dựa vào trình tự DNA bảo tồn trên gene RNA ribosome 12S ty thể, reverse primer được thiết
kế dựa vào trình DNA chuyên biệt mỗi loài Kích thước khác nhau của các sản phẩm khuếch đại chuyên biệt ở mỗi loài được phân tách bằng phương pháp điện di Giới hạn phát hiện của phương pháp này là 1% cho mỗi loài Phương pháp này có thể xác định chính xác những loài heo, bò, cừu, dê; có ích trong việc kiểm tra các sản phẩm thịt hỗn hợp, tránh tình trạng giả mạo hoặc không đúng như đã ghi trên nhãn
Việc xác định nhanh thịt bò có trong thực phẩm là cần thiết để kiểm soát hiệu quả mầm bệnh bò điên Năm 2004, Hong và ctv đã sử dụng phương pháp multiplex PCR để phát hiện trình tự DNA chuyên biệt của thịt bò trong thực phẩm Đồng thời tác
Trang 35giả cũng sử dụng phương pháp multiplex PCR để đánh giá chất lượng của mẫu kiểm nghiệm nhờ vào việc khuếch đại vùng DNA trên gene ribosome 18 S chuyên biệt ở bò Sản phẩm khuếch đại là đoạn DNA của lactoferrin Tác giả dựa vào sự khác nhau ở trình tự ty thể chuyên biệt để xác định thịt bò Độ đặc hiệu của phương pháp này được xác nhận dựa vào sự vắng mặt của sản phẩm PCR tương đồng có thể phát hiện sử dụng những mẫu thực phẩm liên quan mà không có thịt và bột xương bò, hoặc những mẫu DNA từ động vật có xương sống mà những thứ bỏ đi của chúng thường có trong thức
ăn chăn nuôi Phương pháp này có thể phát hiện sự hiện diện của thịt bò trong thực phẩm khi những mẫu thực phẩm này chứa > 0,02 % thịt và bột xương bò Hơn nữa, phương pháp này ít ảnh hưởng bởi việc xử lý nhiệt kéo dài Độ đặc hiệu, thuận tiện và nhạy của phương pháp này cho thấy rằng nó có thể được sử dụng để phát hiện thịt bò
Arslan & ctv (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cách chế biến thịt đối với việc phát hiện thịt bò đã qua xử lý nhiệt bằng kỹ thuật PCR Nhóm tác giả đã xử lý thịt bằng cách luộc ở 97,5oC trong 140 phút, 200 phút, 230 phút; quay ở 200oC trong 80 phút, 120 phút, 150 phút hoặc hấp khử trùng ở 120oC trong 30 phút, 60 phút, 90 phút; rán ở 115oC trong 45 phút, sau đó rán thêm cho đến khi không còn mùi thơm của thịt Sản phẩm khuếch đại là 271 bp của DNA ty thể Kết quả cho thấy rằng ngoại trừ mẫu thịt bò rán ở 80 phút, thịt bò được phát hiện trong tất cả các mẫu còn lại
Năm 2007, Jain và ctv cũng sử dụng phương pháp multiplex PCR để phân biệt 7 loại thịt heo, gà, bò, trâu, dê, cừu, ngựa Tác giả sử dụng forward primer và reverse primer cho heo, gà, trâu, bò, dê, cừu, ngựa giống như Matsunaga và ctv, 1999 Tác giả
sử dụng reverse primer cho trâu là reverse primer của bò Kết quả sản phẩm khuếch đại của dê, gà, bò, trâu, cừu, heo và ngựa lần lượt là 157 bp, 227bp, 274bp, 274bp, 331bp, 398bp, và 439bp Như vậy, bò và trâu có sản phẩm PCR cùng kích thước Nên tác giả khuyến cáo rằng cần phải thiết kế một reverse primer riêng cho trâu
Trịnh Thị Thanh Huyền và ctv (2007) cũng đã sử dụng phương pháp multiplex – PCR để phân biệt thịt cừu, heo, bò Nghiên cứu đã xác định được quy trình thích hợp, trong đó lượng FSIM: RP: RBC: RS lần lượt là 12: 25: 7: 5 pmol, nhiệt độ và thời gian của chu kỳ nhiệt ở giai đoạn lặp lại là: biến tính ở 94oC/1 phút, bắt cặp ở 54oC/ 45 giây, kéo dài ở 72oC/ 1phút Nồng độ thấp nhất của thịt cừu, bò mà phản ứng multiplex-PCR có thể phát hiện là 1 ng/μl
Trang 36Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành
Đề tài được thực hiện từ 10/2009 đến 5/2010
Việc ly trích DNA và thực hiện PCR được tiến hành tại Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ môi trường – Đại học Nông Lâm TP HCM
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Xây dựng quy trình m-PCR phân biệt thịt dê, cừu, heo, gà, bò lẫn trâu
3.2.2 Ứng dụng quy trình m-PCR
Khảo sát m-PCR trong việc phát hiện 6 loại thịt heo, gà, trâu, bò, dê, cừu trong hỗn hợp DNA từ thịt tươi, thịt chế biến và bột thịt
3.3 Vật liệu
3.3.1 Nguồn mẫu tách chiết DNA
Hai nhóm mẫu được dùng trong đề tài này là:
- Mẫu cơ vân các loại thịt heo, gà, bò, dê, cừu được lấy tại lò mổ ở Củ Chi, TP HCM
- Mẫu bột xương thịt sử dụng trong chế biến thức ăn gia súc của các hãng sản xuất thức ăn gia súc