Thông qua những câu ca dao ngọt ngào và tha thiết, những câu tục ngữ ngắn gọn mà triết lí chúng ta thấy được những tâm tư, tình cảm và suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời và con người: Công cha
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian là nốt nhạc ngân mãi theo năm tháng cùng nhịp đập cuộc sống thời đại của mỗi người dân Việt Trong sự phong phú của các thể loại văn học dân gian, chúng ta không thể không nhắc đến ca dao, tục ngữ Ca dao, tục ngữ
là tấm gương phản chiếu trung thành cuộc sống của người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ Thông qua những câu ca dao ngọt ngào và tha thiết, những câu tục ngữ ngắn gọn mà triết lí chúng ta thấy được những tâm tư, tình cảm và suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời và con người:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Từ ngàn xưa cho tới hôm nay, cha mẹ đã trở thành một hình tượng thiêng liêng
và cao đẹp trong trái tim của mỗi một con người Đã có rất nhiều áng văn thơ viết
về cha mẹ với những tình cảm đẹp đẽ nhất Ca dao, tục ngữ về cha mẹ là một trong những áng văn bất tử trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Nó phản ánh tình cảm thiêng liêng, mầu nhiệm nhưng lại hết sức gần gũi giữa cuộc sống đời thường Ca dao tục ngữ về cha mẹ đã đi vào lòng người một cách nhẹ nhàng,
Trang 3êm ái và đọng lại rất sâu Trong ca dao, tục ngữ hình tượng cha mẹ được khắc họa hết sức sinh động và chân thực với nhiều khía cạnh khác nhau: vai trò công ơn của cha mẹ, cách ứng xử của cha mẹ với con cái, tình cảm của người con giành cho cha mẹ…đều được thể hiện rõ nét và đầy đủ
Nghiên cứu về đề tài: Hình tượng “cha - mẹ” trong ca dao, tục ngữ người Việt là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó không chỉ giúp người viết
tập dượt, nghiên cứu mà còn phục vụ cho việc giảng dạy về phần ca dao, tục ngữ
về cha mẹ sau này Đồng thời với đề tài này, chúng ta sẽ phần nào hiểu hơn về vai trò và công ơn của cha mẹ, có ý thức hơn về trách nhiệm và bổn phận đối với những đấng sinh thành ra ta!
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nhà nghiên cứu đi trước ít nhiều đã nghiên cứu về nội dung của tục ngữ, ca dao theo các góc tiếp cận khác nhau Đóng góp của họ là rất lớn đã thúc đẩy ngành nghiên cứu văn học dân gian phát triển Tuy vậy, việc phân tích sâu về chủ đề hình tượng cha mẹ trong tục ngữ, ca dao chiếm tỉ trọng còn thấp trong những công trình khảo cứu về tục ngữ, ca dao nói chung Chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu về ca dao, tục ngữ có liên quan đến chủ đề về hình tượng cha mẹ như sau:
Công trình khảo cứu của Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật với cuốn Kho
tàng ca dao người Việt 1,2,3,4 (1995), Nxb Văn hóa thông tin và công trình khảo
cứu của Vũ Dung trong cuốn Ca dao trữ tình Việt Nam (1998), Nxb Giáo dục
Đây là hai công trình nghiên cứu đã sưu tầm và tuyển chọn được rất nhiều câu ca dao về cha mẹ Vì thế nó là tư liệu quan trọng để người viết thống kê, chọn lọc và phân loại sắc thái ý nghĩa của từng câu ca dao chứa hình ảnh về cha mẹ
Công trình khảo cứu của Nguyễn Nghĩa Dân với Đạo làm người trong tục ngữ,
ca dao Việt Nam (2000), Nxb Thanh niên Trong công trình này, tác giả đã nghiên
cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phương pháp nghiên cứu văn học dân gian để bàn luận về đạo làm người được thể hiện qua tục ngữ, ca dao Tác giả chia đạo làm người thành hai loại: Một loại về lao động, học tập, tu dưỡng, rèn luyện
Trang 4bản thân và loại đạo làm người về quan hệ gia đình Trong đạo làm người về quan
hệ gia đình, khi nói về quan hệ giữa cha mẹ và con cái, tác giả viết: Tục ngữ ca
dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của con người [5, tr 56] và Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như một kinh nghiệm xấu [5, tr 58]
Cuốn Thi ca bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh là một công
trình khảo cứu khá đầy đủ theo ba nội dung của giáo lí tam tòng Nhận xét về đạo
hiếu của người con đối với cha mẹ, các tác giả viết: Tình thương của họ đã đặt lên
trên quyền điều khiển của cha mẹ Thực ra không phải họ bất hiếu hay quên ơn cha mẹ, mà chính vì họ cảm thấy chế độ phụ quyền đem đến đời sống họ những bất công, những thảm trạng mà chính họ phải gánh chịu hậu quả [15, tr 205]
Công trình khảo cứu của Hoàng Tiến Tựu trong Bình giảng ca dao (2001),
Nxb Giáo dục, đã chọn lọc những bài ca dao đặc sắc có chứa hình ảnh cha mẹ để phân tích, bình giảng đã giúp cho người viết có điều kiện tiếp cận được cái hay của từng bài ca dao ở những hướng khác nhau
Cuốn Ca dao, tục ngữ về quan hệ gia đình (2010) của TS Phạm Việt Long,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội là một công trình khảo cứu khá đầy đủ về các bình diện trong các mối quan hệ gia đình Ngoài phần lí luận chung, tác giả cuốn sách
đã tập hợp và phân loại các câu ca dao, tục ngữ theo từng chủ đề khác nhau trong quan hệ gia đình Trong đó phần ca dao, tục ngữ về cha mẹ và con cái chiếm một
số lượng khá phong phú gồm các phần: quan hệ cha mẹ con - trách nhiệm, quan
hệ cha mẹ con - đạo hiếu, những biểu hiện tiêu cực giữa cha mẹ và con cái… Xét
trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, tác giả đưa ra nhận định: Tục ngữ, ca
dao nhấn mạnh quan hệ mẹ con, ghi lại thiên chức và tình cảm của người mẹ Tục ngữ, ca dao cũng nêu được truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ [16, tr
56] Công trình nghiên cứu này là một trong những tư liệu quan trọng và bổ ích giúp cho người viết có điều kiện trong việc tham khảo và nghiên cứu vấn đề
Trang 5Trần Ngọc Thêm với Cơ sở văn hóa Việt Nam, Tìm hiểu bản sắc văn hóa
người Việt (1999), Nxb Giáo dục đã chỉ ra triết lí âm dương với các cặp đối lập
điển hình Trong đó hình tượng cha mẹ với ý nghĩa triết lí âm dương là hướng tiếp cận độc đáo giúp cho người viết bổ sung và hoàn thiện thêm ý nghĩa của hình tượng cha mẹ trong ca dao, tục ngữ
Ngoài ra còn có hàng loạt công trình nghiên cứu khác, chẳng hạn như: Triều
Nguyên với Bình giảng ca dao (2001), Nxb Thuận Hóa Công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Kính với Thi pháp ca dao (2004), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan với Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt
Nam (1978), Nxb Khoa học xã hội…đều là những trang tài liệu có ích trang bị cho
người viết cơ sở lí luận chung trong việc khai thác nội dung về hình tượng cha mẹ trong ca dao, tục ngữ
Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình Nhìn chung các công trình trên chỉ mới dừng lại ở việc tiếp cận mang tính chất chung Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đi vào
tìm hiểu về Hình tượng “cha - mẹ” trong ca dao, tục ngữ người Việt Trên cơ sở
những tài liệu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tiến hành tìm hiểu
về Hình tượng “cha - mẹ” trong ca dao, tục ngữ người Việt nhằm góp phần nhỏ
bé vào việc nghiên cứu văn học dân gian
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là Hình tượng “cha - mẹ” trong ca dao,
tục ngữ người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Sưu tầm, khảo sát những câu ca dao, tục ngữ nói về hình tượng cha mẹ và
những phạm trù liên quan đến hình tượng cha mẹ trong cuốn Tục ngữ, ca dao, dân
ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan và Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình của Phạm
Việt Long
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Tổng quan tư liệu: Trên cơ sở tìm hiểu tài liệu của các nhà nghiên cứu
đi trước để hiểu rõ hơn vấn đề mà mình nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận có hệ thống: sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận tác phẩm một cách cụ thể để có thể hiểu rõ hơn vấn
Chương 3: Văn hóa Việt qua hình tượng cha mẹ và mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái thể hiện trong ca dao, tục ngữ
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
Theo T.S Lê Đức Luận thì ca dao là lời của các câu hát dân gian và những
sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian [18, tr 26] Còn theo Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán thì ca dao còn gọi là phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều ngh ĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca dao là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca, ca dao có thể là thơ dân gian truyền thống [8, tr26 –
27] Theo Vũ Ngọc Phan ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như
các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca [22, tr 53] Theo Lê
Trang 8Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương thì ca dao là những bài hát, bài ca có vần điệu
viết với những hình thức câu thơ có số tiếng rất khác nhau, trong đó câu lục bát hoặc lục bát biến thể có một vị trí rất đáng kẻ Ngày nay ca dao được phân biệt với dân ca là những bài ca, bài hát có nhạc điệu cụ thể và thường khi trình bày thì
có nhạc điệu cụ thể và thường khi trình bày thì có nhạc cụ kèm theo Nếu khi ghi dân ca mà tước bỏ phần nhạc thì chỉ còn lời ca giống như ca dao [9, tr 92]
Như vậy, qua nhiều cách định nghĩa khác nhau về thể loại ca dao, chúng ta thấy rằng: Ca dao là một mảng sáng tác hết sức rộng lớn, vì vậy khó có thể tìm ra được một khái niệm chung nhất Ngay bản thân tên gọi ca dao và dân ca đã gây nên một cách hiểu không rạch ròi Cả hai tên gọi đều có yếu tố ca, một bên là dân
ca, một bên là ca dao Gọi ca dao để chỉ một thể thơ dân gian không thỏa đáng với
thực tế, ca dao có nhiều thể thơ như: lục bát, song thất lục bát, thể vãn….Gọi ca
dao cho tất cả những sáng tác thơ ca những sáng tác thơ ca nào mang phong cách
những câu hát cổ truyền lại quan niệm ca dao với một hàm quá rộng, bao gồm cả
ca dao mới Gọi ca dao là thơ dân gian lại vô tình đồng nhất giữa sáng tác văn học viết và sáng tác dân gian Ca dao là thơ nhưng không phải là thơ bởi ca dao là thơ
sáng tác theo điệu nói (Trần Đình Sử), thực tế trong kho tàng ca dao, có những bài
có giá trị nghệ thuật cao, là mẫu mực cho các nhà thơ sau này học tập nhưng cũng
có bài không phải là thơ, có một số bài thơ do các nhà nho sáng tác theo thể lục bát đã đi vào kho tang ca dao nhưng số đó không nhiều
Như vậy theo chúng tôi, ca dao là lời ca dân gian Lời ca là lời của các làn điệu dân ca Mặt khác, khi đã đi vào kho tàng lời ca thì nó có vai trò độc lập của
nó, có những bài dân ca nội dung không thay đổi, nhưng về làn điệu thì thay đổi hoàn toàn Những dân ca ấy phần nhiều được xây dựng từ một lời ca sẵn có và bài
ca dao ấy được phổ biến rộng rãi
1.1.1.2 Nội dung cơ bản
Ca dao phản ánh đời sống tinh thần của người dân và được họ tiếp nhận một cách rộng rãi, do đó nội dung ca dao rất phong phú và đa dạng
Trang 9Ca dao về tình yêu lao động sản xuất là bộ phận bắt nguồn từ quá trình lao
động, lời ca phản ánh quá trình của công việc lao động vất vả, nặng nhọc.Bộ phận
ca dao lao động đã phản ánh bản chất của người dân lao động nước ta Họ là những người yêu lao động, biết quí trọng con người lao động và thành quả lao động, lạc quan yêu đời và tin vào ngày mai no ấm mặc dù hôm nay cực nhọc, vất
vả Nhịp điệu của bài ca vui vẻ, khỏe khoắn thể hiện phần nào động tác, công việc lao động cực khổ:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Người dân lao động là người yêu quê hương đất nước đậm đà, sâu sắc thiết tha bởi họ biết yêu quí lao động, cuộc đời họ gắn chặt với quê hương, xóm làng, gắn bó với từng cành cây, ngọn cỏ quê nhà, bởi nơi đó họ sinh ra và lớn lên Quê hương là nơi đẹp nhất bởi quê hương là cội nguồn, là nơi gắn bó của mỗi người với những kỉ niệm êm đềm dù ở đâu đi nữa
Ca dao về tình yêu quê hương đất nước gắn với tình yêu thương cảnh
vật, từng địa danh, từng sản vật, món ăn quen thuộc Tình yêu quê hương là biểu hiện cụ thể của tình yêu đất nước, người dân mỗi vùng đều tự hào về cảnh vật quê mình:
Đèo ngang nặng gánh hai vai Một vai Hà Tĩnh, một vai Quảng Bình Bao năm bom dội nát mình Hoành sơn vẫn giữ dáng hình ông cha
Ca dao về tình yêu đôi lứa bắt nguồn từ dân ca dao duyên, là bộ phận lời
ca chiếm số lượng và chất lượng cao trong kho tàng lời ca dân gian Chủ thể trữ tình là chàng trai, cô gái dưới các vai anh - em, chàng - nàng, mình - ta, trúc - mai, mận - đào…Trong thực tế đối tượng tham gia sáng tác và hát giao duyên không chỉ là chàng trai cô gái đang độ tuổi yêu đương mà còn là những người có vợ, có
Trang 10chồng thậm chí có cháu Họ đều hát với nhau để giải bày tâm tình, giải tỏa tâm lí nặng nề trong không gian gai đình chật hẹp, hoặc muốn thổ lộ tình cảm sâu kín Tiếng nói tình yêu đôi lứa là tiếng nói mạnh mẽ, thiết tha nhất Nó có nguyên nhân
từ cơ sở xã hội, được mọi người quan tâm và là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác dân gian:
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc như đèn mới khêu
Ca dao về tình yêu gia đình là một nét đẹp truyền thống trong dòng văn
học dân gian Gia đình là một đơn vị tế bào xã hội, là màn ảnh thu nhỏ của một xã hội.Tất cả những nét tiến bộ hay lạc hậu của một xã hội đều được phản ánh một cách rõ nét trong sinh hoạt và đời sống gai đình Tuy nhiên, quan hệ gia đình dưới chế độ phong kiến không chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến mà nó vẫn mang những nét truyền thống đẹp đẽ của dân tộc Đó là sự thủy chung, thương yêu, tình nghĩa của vợ đối với chồng, lễ phép của con đối với cha mẹ, của tình thương anh em trong gia đình:
Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Bên cạnh đó ca dao về bông đùa, trào phúng cũng là một mảng đề tài khá
quen thuộc Nó tố cáo, lên án những đều sai trái của con người, để qua đó có cái nhìn đúng đắn hơn:
Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ lại nài cậy niêu Con vợ nó cũng biết điều Thắt lưng con cón cậy niêu với chồng
Ca dao về lịch sử, xã hội được phản ánh trong ca dao qua hai dạng, đó là
phản ánh gián tiếp nghĩa là phản ánh qua sự ám chỉ, phiếm chỉ:
Thương chồng nên phải gắng công Nao ai xương sắt da đồng chi đây?
Trang 11Và những vấn đề lịch sử xã hội được phản ánh trực tiếp trong ca dao nghĩa
là những câu ca dao ghi lại tên người, tên đất, sự kiện lịch sử:
Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy Quận vào sờ chính cung Đục còn nên giữ lấy tong Cuốc đà long “Cán”còn mong nỗi gì
Như vậy, ca dao có nội dung và số lượng vô cùng phong phú phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống con người Đồng thời, ca dao cũng là tiếng nói thiết tha của nhân dân về những điều mắt thấy, tai nghe trong cuộc sống
1.1.2 Tục ngữ
1.1.2.1 Khái niệm
Từ xưa cho đến nay đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về tục ngữ
Theo Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ là những câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận
xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán [22, tr
48] Còn theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi lại cho rằng: Tục ngữ
là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền Về nội dung: Tục ngữ là kho tàng kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vôc ùng phong phú và quí giá của nhân dân Không một lĩnh vực nào của đời sống
và cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân mà tục ngữ không nói tới Về cấu trúc ngôn từ, tục ngữ chủ yếu được làm theo hình thức những câu ngắn gọn có vần hoặc không có vần nhưng cũng có một bộ phận làm theo hình thức câu dài gồm 2,3 vế [8, tr 321-322]
Phạm Việt Long đưa ra khái niệm: Tục ngữ là một thể loại văn học dân
gian, được hình thành và sử dụng trong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn, có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân [16, tr 37]
Trang 121.1.2.2 Đặc trưng cơ bản
Tục ngữ ra đời từ thời kỳ nguyên thuỷ bắt nguồn từ lối nói ẩn dụ, tỷ dụ, cụ thể trên cơ sở những quan sát thực tế về hiện thực khách quan Cụ thể, tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại, được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hoá những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài Thời điểm ra đời của tục ngữ có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho tục ngữ ra đời vào thời tạp hôn
nguyên thuỷ Chồng chung vợ chạ, ăn lông ở lỗ Có ý kiến lại cho vào thời kỳ mẫu quyền Con dại cái mang,, Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư Còn Vũ Ngọc Phan lại cho rằng tục ngữ ra đời Vào thời kỳ mà tiếng nói đã phát triển, cho
phép tổ tiên ta có điều kiện sáng tạo nên những câu vần vè Thực ra, như Chu
Xuân Diên đã nhìn nhận, sự hình thành của tục ngữ Việt Nam là qua quá trình sản xuất và đấu tranh của nhân dân, được rút ra hoặc tách ra từ các sáng tác dân gian khác và ra đời trong quá trình dân gian hoá, những lời hay ý đẹp rút ra từ tác phẩm văn học viết Nhưng chủ yếu ra đời từ đúc rút kinh nghiệm trong đời sống của nhân dân Trong các loại hình văn hoá dân gian của mỗi dân tộc, tục ngữ là loại hình có mối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân Tục ngữ là
một khối chặt chẽ, bền vững, khó phá vỡ bởi nó có một mối liên kết nội tại: Gieo
gió, gặp bão Mỗi câu tục ngữ là một câu nói có cấu trúc tương đối ổn định cho
nên tục ngữ thường được dùng đến trong lời nói, với tư cách là lời nói Lời nói
không cánh mà bay Tục ngữ là lời nói, lại là lời nói hay nên có sức bay xa, truyền
rộng nên tục ngữ trở thành loại hình văn hoá dân gian quen thuộc nhất, hay được
sử dụng tốt nhất, có sức sống lâu bền nhất trong đời sống tinh thần của nhân dân Trải qua một thời gian dài của lịch sử có một số câu tục ngữ bị mất đi, nhưng phần lớn tục ngữ có sức sống rất dai dẳng trong trí nhớ và lời nói của nhân dân Cho tới nay chúng ta có thể thừa hưởng một gia tài tục ngữ quý báu gồm hàng nghìn câu,
có thể tới hàng chục nghìn câu mà các thế hệ cha ông chúng ta đã kế tiếp nhau sáng tác, gìn giữ và truyền lại Tục ngữ đã sớm trở thành tài liệu bổ trợ cho ngôn
Trang 13ngữ văn học sử dụng Trong đó, các sáng tác văn thơ Nôm là có khả năng và thực
tế đã là nơi đón nhận và ghi lại được một cách phong phú những sáng tác tục ngữ
của nhân dân Với dòng văn học Nôm chúng ta chú ý tới tập thơ Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi, tuy không phải là người đầu tiên sử dụng một cách phổ biến tục ngữ dân gian trong sáng tác của mình
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có vị trí quan trọng đặc biệt, có quan hệ sâu sắc với tất cả các thể loại văn học dân gian khác Không thể coi tục ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ đơn thuần Tục ngữ vừa là khoa học nghệ thuật của nhân dân, vừa là hình thái nghệ thuật tổng hợp đặc biệt của tri thức dân gian, trong nó có tính thẩm mĩ Tục ngữ được vận dụng một cách thường xuyên và phổ biến lưu truyền từ đời này qua đời khác cho tới hôm nay
1.2 Hình tượng nghệ thuật trong ca dao, tục ngữ
1.2.1 Hình tượng nghệ thuật
Nếu như những nhà khoa học diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm của mình bằng các khái niệm, trừu tượng, các định lý, công thức thì nhà văn, nghệ sỹ
diễn đạt bằng hình tượng - nghĩa là làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những
sự vật, sự việc, những hiện tượng đáng làm cho ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể
Trong lịch sử của ngành Lý luận văn học, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm, định nghĩa về Hình tượng nghệ thuật Mỗi định nghĩa được trình bày
theo những quan điểm riêng, có một số định nghĩa đáng lưu ý như: Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:
Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được các nghệ sỹ tái hiện bằng trí tưởng tượng, sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật [8, tr 122]
Phương Lựu trong cuốn Lý luận văn học đã khái quát Hình tượng nghệ thuật là
cái được được sáng tạo, được khái quát, không phải là cái có sẵn [20, tr 69]
Qua đó chúng ta có thể hiểu rằng: Hình tượng nghệ thuật là phương diện đặc thù của văn học nghệ thuật để phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ
Trang 14quan của nghệ sỹ Vì vậy, xây dựng hình tượng nghệ thuật đòi hỏi nhà văn phải có
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm, cảm xúc với một triết lý tỉnh táo, sắc bén Giữa sự khái quát với những nét cụ thể riêng biệt, giữa con mắt quan sát, phân tích hiện thực khách quan với dấu ấn chủ quan của mình để xây dựng được con người
trong tác phẩm là con người lạ mà quen biết Có như vậy thì tác phẩm văn học
mới vừa là hình ảnh của hiện thực đời sống, vừa là đứa con tinh thần của nhà văn Vừa truyền thụ được tâm lý, nguyện vọng ấp ủ của nhà văn tới người đọc, tác động tới những góc cạnh của tâm hồn vi diệu, sâu thẳm trong đáy lòng độc giả Có
như vậy thì hiện tượng mà nhà văn khám phá mới làm phong phú thêm nền văn
hóa tinh thần cho loài người, mới là khái quát những quá trình hiện thực, những cảm xúc, khát vọng của con người
Dù định nghĩa nào thì cũng cần lưu ý rằng hình tượng nghệ thuật là tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật mà tái hiện sáng tạo có chọn lọc, sáng tạo qua trí tưởng tượng và tài năng nghệ sĩ sao cho các hình tượng truyền đạt được các ấn tượng sâu sắc từng làm các nghệ sĩ day dứt trăn trở cho người khác
1.2.2 Hình tượng nghệ thuật trong ca dao, tục ngữ
Tục ngữ, ca dao của đất nước Việt Nam chúng ta rất đa dạng, phong phú và
ý vị Có thể nói đó chính là túi khôn hay đó cũng có thể là hơi thở, là dòng chảy tâm hồn của người lao động xưa Dường như ở mọi nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ đau, mọi đường ăn nét ở, mỗi phép tắc ứng xử của người xưa đều được phản ánh một cách cô đọng trong ca dao, tục ngữ Các hình tượng nghệ thuật trong ca dao, tục ngữ rất phong phú và đa dạng Nó hiện lên từ các hiện tượng tự nhiên, trong thế giới thực vật, động vật và con người Thế giới hình tượng trong ca dao, tục ngữ được xây dựng nên dường như đã tồn tại trong tâm thức mỗi con người Việt Nam
để rồi cộng hưởng với nhau tạo nên một rung động thẩm mĩ sâu sắc, một nét truyền thống của quê hương, dân tộc Kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam chứa rất nhiều hình tượng nghệ thuật Sau đây, chúng tôi sẽ khảo sát một số hình tượng
Trang 15nghệ thuật để thấy được sự phong phú của các hình tượng nghệ thuật trong ca dao, tục ngữ
Trong ca dao, tục ngữ chúng ta có thể thấy rất nhiều hình tượng nghệ thuật như hình tượng song hành nam nữ, hình tượng người phụ nữ, hình tượng người thầy, hình tượng cha mẹ Những hình tượng nghệ thuật này có thể được biểu hiện dưới dạng hiển ngôn hoặc hàm ngôn Hình tượng trong ca dao có tính phổ quát đó chính là hình tượng song hành nam nữ được biểu hiện qua các vai giao tiếp Phần lớn hình tượng trong ca dao, tục ngữ là hình tượng ẩn dụ, tượng trưng Những nghệ nhân dân gian xưa đã rất tài tình khi xây dựng nên những hình tượng ẩn dụ mang tính hàm ngôn để nói về tình yêu nam nữ Có khi đó là những hình ảnh ẩn
+ Cam - Quýt :
Vì cam nên quýt đèo bồng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương
Trang 16Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan
+ Rồng - Phụng :
Phụng với rồng cùng đồng nhan sắc Trách ai làm phụng bắc rồng nam
Các vật thể nhân tạo cũng được thể hiện một cách sinh động trong hình tượng song hành Với các hình ảnh như :
+ Thuyền - Bến: Là hai hình ảnh xuất hiện khá dày trong ca dao tình yêu đôi lứa phản ánh tình yêu Nam - Nữ :
Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Như vậy, chúng ta thấy rằng hình tượng song hành nam nữ được thể hiện rất ý nhị và phong phú thông qua những hình ảnh ẩn dụ, mang tính tượng trưng từ những biểu tượng động vật, thực vật và những vật thể nhân tạo trong cuộc sống hàng ngày Bên cạnh những hình tượng được biểu hiện dưới dạng hàm ngôn, chúng ta còn thấy hình tượng nam nữ được biểu hiện dưới dạng hiển ngôn:
- Gặp em anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?
- Anh ở trên ni vừa thương vừa nhớ
Em ở dưới nớ vừa cảm vừa sầu
Qua đó, ta thấy hình tượng nam nữ được thể hiện dưới dạng hiển ngôn qua các cặp từ: Anh và em đầy tình tứ
Trang 17Trong ca dao, tục ngữ chúng ta cũng nhận thấy những hình tượng nghệ thuật về quan hệ giữa con người trong cuộc sống hàng ngày Đó là những hình
tượng thể hiện dưới dạng hàm ngôn: Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan là câu tục ngữ lấy hình ảnh ẩn dụ từ trâu, bò và ruồi muỗi để chỉ về con người Hay: Quýt
làm cam chịu cũng thể hiện sự oan khuất của con người, khi một người gây ra
nhưng kẻ khác lại phải chịu đòn:
Con mèo làm bể nồi rang Con chó chạy lại phảng mang cái đòn
Nói về sự chăm chỉ, cần cù của con người, tục ngữ có câu: Kiến tha lâu
cũng đầy tổ Nói về sự ghanh ghét, tị nạnh giữa người với người trong cuộc sống: Trâu buộc ghét trâu ăn
Nói đến hình tượng những con người trong xã hội, người thầy là một hình tượng điển hình Người thầy trong xã hội xưa có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với nhân dân Người thầy đã trở thành một hình tượng đẹp đẽ, thiêng liêng, luôn
luôn nhận được sự kính trọng của mọi người trong xã hội: Không thầy đố mày
làm nên Và:
Mấy ai là kẻ không thầy Thế gian thường nói đố mày làm nên
Người học trò lớn khôn, trưởng thành hơn qua mỗi bài giảng của thầy Khi
đã thành đạt, họ vẫn luôn ghi nhớ rằng: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là
thầy Cũng bởi xuất phát từ chỗ nhận thức vị trí của người thầy, mà dân gian xưa
đã không quên nhắc nhở học trò lòng yêu kính, biết ơn thầy Có một câu ca dao viết rằng:
Muốn sang thì bắc cầu Kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
Hình tượng người thầy trong xã hội xưa luôn được đề cao, quan hệ thầy trò
đã trở nên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng như tình cảm cha con:
Gươm vàng rớt xuống hồ Tây Công cha cũng nặng, nghĩa thầy cũng sâu
Trang 18Thầy dạy trò không chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng cả tình thương như
mẹ cha thương con, thực sự muốn cho học trò thành đạt: Mẹ muốn con hay, thầy
muốn trò giỏi Người thầy còn mang cả những trăn trở, lo lắng của xã hội vào
trong cuộc sống của mình Trăn trở trước cảnh học trò không có cơ hội đến trường:
Còn trời còn nước còn non Còn người thất học ta còn phải lo
Hình tượng người thầy cũng như những tình cảm kính yêu của nhân dân đối với thầy được thể hiện qua ca dao, tục ngữ chiếm một bộ phận không nhỏ trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam Hình tượng người thầy trong ca dao, tục ngữ được thể hiện dưới dạng hiển ngôn theo cách xưng hô nhân xưng
Hình tượng người phụ nữ cũng là một trong những hình tượng điển hình trong ca dao, tục ngữ Người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp từ ngoại hình lẫn trong tính cách, từ lúc còn đang tuổi xuân thì cho đến khi đã làm vợ, làm mẹ với những đức tính và phẩm chất tuyệt vời Hình tượng người phụ nữ được biểu hiện dưới dạng hiển ngôn và hàm ngôn Trước hết là ngoại hình đẹp, hấp dẫn:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
Và:
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Tuổi xuân là cái tuổi đẹp nhất, người phụ nữ Việt Nam xinh tươi mơn mởn như hoa lá, cỏ cây Trước vẻ đẹp của người phụ nữ, tục ngữ đã có sự so sánh rất
tài tình: Thứ nhất thịt bò tái, thứ nhì gái đương tơ
Người phụ nữ với sự mềm mại về ngoại hình đã làm cho biết bao chàng trai phải si mê:
Vào vườn trẩy quả cau non
Trang 19Thấy em đẹp giòn muốn kết nhân duyên
Người phụ nữ đẹp không chỉ về ngoại hình mà còn đẹp cả tâm hồn bên trong Đó chính là đức hi sinh cao vời và tấm lòng thủy chung son sắt:
-Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người
- Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Vai trò của người phụ nữ trong gia đình rất quan trọng, bộ mặt của gia đình
và của người chồng xấu hay đẹp đều phụ thuộc vào người phụ nữ Vì thế mà tục
ngữ có câu: Gái ngoan làm quan cho chồng, Giàu vì bạn, sang vì vợ Hay: Vắng
đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp, Xem trong bếp biết nết đàn bà
Người phụ nữ mặc dù là chân yếu tay mềm nhưng lại có một vị trí đặc biệt trong gia đình Thậm chí họ còn là trụ cột trong gia đình:
Em thời canh cửi trong nhà Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng
Hình ảnh con cò lặn lội bờ sông đã trở thành hình ảnh quen thuộc cho sự tảo tần của người phụ nữ:
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Như vậy, chúng ta thấy rằng hình tượng người phụ nữ trong ca dao, tục ngữ
là một hình tượng đẹp, được khắc họa một cách chân thực và sinh động với vẻ đẹp ngoại hình bên ngoài và phẩm chất bên trong
Hình tượng cha mẹ cũng được thể hiện một cách đậm nét trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam Với hình tượng cha mẹ, tục ngữ ca dao chủ yếu đi vào những vấn đề như tình yêu thương của cha mẹ giành cho con cái và sự báo đáp công ơn của con giành cho cha mẹ Hình tượng cha mẹ trong ca dao, tục ngữ còn
Trang 20thể hiện một nét văn hóa đẹp đẽ trong truyền thống của dân tộc Việt Nam Về hình tượng cha mẹ, chúng tôi sẽ đi vào phân tích tìm hiểu kĩ ở các chương sau
Tiểu kết:
Kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam rất phong phú và đa dạng Qua ca dao, tục ngữ nguời dân xưa đã gửi gắm những suy nghĩ, tâm tình về cuộc đời, về con nguời Có thể nói rằng, ca dao tục ngữ đã ăn sâu vào trong máu thịt của người dân xưa, là một biểu hiện của đời sống văn hoá tinh thần Hình tượng nghệ thuật trong
ca dao, tục ngữ khá phong phú và đa dạng Nhìn chung các hình tượng ấy được thể hiện dưới dạng hiển ngôn và hàm ngôn Từ những hình ảnh, sự vật quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, nghệ nhân xưa đã khéo léo đưa vào trong những câu
ca dao, tục ngữ, vẽ nên những hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ, mang tính chất điển hình, thể hiên những phương diện về con người và xã hội
CHƯƠNG 2:
ỨNG XỬ GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI THỂ HIỆN TRONG CA
DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
2.1 Tấm lòng của con cái đối với cha mẹ
Biết ơn công lao của những người đi trước vốn là một nét đẹp trong nền
văn hóa dân tộc Việt Nam Tục ngữ có câu: Uống nước nhớ nguồn nhằm nhắc
nhở, khuyên răn con cháu trong cuộc sống hàng ngày đừng bao giờ quên nguồn cội, quên những người đã trực tiếp làm cho cuộc sống của chúng ta hôm nay trở nên tốt đẹp hơn Cuộc đời của mỗi con người đều mang ơn của rất nhiều người
Đó là ông bà, cha mẹ, những liệt sĩ đã ngã xuống cho nền độc lập của dân tộc Những người nào đó đã cưu mang, giúp đỡ ta trong những phút giây khốn khó Chúng ta phải luôn ghi nhớ công lao ấy và phấn đấu để có thể phần nào đền đáp được công ơn của họ
Trang 21Biết ơn và đền đáp công lao trời biển của cha mẹ đối với các con là chu toàn đạo hiếu kính, mang tính truyền thống của dân tộc Không phải đợi đến khi người Trung Hoa truyền bá đạo Nho vào Việt Nam, dân ta mới biết đạo hiếu này
mà ngay từ thời lập quốc cách đây 4 ngàn năm tổ tiên ta đã chu toàn đạo hiếu một
cách tốt đẹp Câu chuyện Bánh chưng bánh giầy của Lang Liêu dưới thời vua
Hùng Vương thứ 16 đã nói lên đạo hiếu kính của dân tộc Việt Nam từ thời xa xưa Lòng hiếu thảo là bước căn bản của đời sống đạo đức xã hội của dân tộc ta Không phải nhà Nho mới biết hiếu thảo, dân chúng Việt Nam vẫn bẩm sinh một mối tình sâu thẳm đối với bậc làm cha, làm mẹ Đầu tiên đó là lòng biết ơn công lao trời biển của mẹ cha:
Đã làm người ở trong trời đất
Ai là không cha mẹ sinh thành
Có cha mẹ mới có mình
Ở sao trọn hiếu trọn tình làm con
Cha mẹ chính là cội nguồn của sự sống, sự kết hợp kì diệu giữa mẹ và cha
đã tạo nên một đấng sinh linh mới Có lẽ, niềm hạnh phúc đầu tiên và sung sướng nhất của chúng ta là được làm người chứ không phải là một thứ gì khác, và chúng
ta phải biết cảm ơn cha mẹ vì điều đó Có cha mẹ mới có mình, câu ca dao như
muốn nhắc nhở với tất cả những bổn phận làm con về cội nguồn cho nên, con phải
Ở sao cho trọn hiếu tình làm con Tục ngữ cũng có câu: Có cha có mẹ, chẳng ai chui lỗ nẻ mà lên
Dù cuộc sống có sung sướng hay vất vả, người làm con cũng phải biết ơn cha mẹ đã sinh thành ra mình Vì được làm kiếp người là điều hạnh phúc đầu tiên
và lớn nhất đối với mỗi con người Ý thức được công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha, con vẫn luôn luôn ghi nhớ:
Ngày nào em bé cỏn con Bây giờ em đã lớn khôn thế này Cơm cha áo mẹ công thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao
Trang 22Khi đã trưởng thành, người con càng thấu hiểu hơn về công ơn của cha mẹ Đời người luôn đi theo quy luật phát triển, từ khi còn là cục máu đỏ hỏn đang nằm trong bụng mẹ, con đã được cha mẹ yêu thương, che chở Đến khi con được sinh
ra và trong suốt cả quá trình của tuổi thơ ấu, con đã nhận được sự thương yêu, chăm sóc và dạy đỗ của cha mẹ, thầy cô Sự hi sinh nhọc nhằn đã tạo nên một con người trưởng thành của ngày hôm nay Công ơn của cha mẹ con vẫn luôn ghi nhớ
và người con cũng hiểu có làm gì đi nữa cũng không thể đền đáp nổi công ơn ấy
Và dù cuộc sống này có khó khăn và gian khổ, con vẫn luôn nhớ ơn cha
mẹ, và nghĩ về cha mẹ chính là động lực để cho con cố gắng:
Trải bao gian khổ không sờn Muôn đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền
Nhớ công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ giành cho mình là khởi đầu của lòng hiếu thảo:
Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang
Công ơn cha mẹ mang cùng đất trời Nhìn vào đâu con cái cũng thấy công
ơn cao dày của cha mẹ:
Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao, chín chữ, ghi lòng con ơi
Để thực sự là một người con có hiếu, trước hết phải hiểu được công ơn của cha mẹ Nếu không hiểu hết những hi sinh, vất vả cực nhọc của cha mẹ giành cho
mình thì sẽ không bao giờ thực hiện nổi chữ hiếu của bổn phận làm con: Cây có
gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn như bể rộng sông sâu
Mọi sự vật trong cuộc sống này đều có nguồn, có cội Con người cũng vậy, chẳng ai tự sinh ra chính bản thân mình, hiểu được nguồn cội của sự sống lúc ấy
mới thêm yêu cuộc sống và những người đã sinh ra ta: Chim có tổ, người có tông
Biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ chính là động lực thúc đẩy
Trang 23người con phải cố gắng Thành công trong công việc làm ăn, đạt được công danh qua việc học hành thi cử cũng là một hình thức để phận làm con thể hiện lòng biết
ơn đối với cha mẹ mình Thành đạt tức là làm rạng rỡ danh giá tổ tiên, làm cho cha
mẹ vui lòng và đó cũng chính là phương cách có nhiều tiền để giúp cho việc phụng dưỡng cha mẹ được chu đáo hơn, mới gọi là đền ơn cha mẹ cho tròn chữ hiếu:
Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông Biết răng chừ cá gáy hóa rồng Đền ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xưa
Lòng biết ơn cha mẹ luôn ở trong trái tim con, cho nên con vẫn luôn cố gắng để không phụ lòng cha mẹ Khi đã đỗ đạt thành tài, con đường danh vọng trải dài thênh thang, con vẫn không bao giờ quên công ơn của cha mẹ Thành đạt cũng
là một cơ hội để con cái có thể tỏ lòng phụng dưỡng, chăm sóc mẹ cha trong đầy
đủ Tùy vào kinh tế gia đình của mỗi người mà con có những cách đối xử, chăm
sóc cha mẹ khác nhau: Con giàu một bó, con khó một nén Nhiều hay ít không
quan trọng lắm đâu, điều quan trọng là tấm lòng của con giành cho cha mẹ Tình thương và lòng biết ơn sẽ xóa tan đi cái nghèo, cái khổ Niềm hạnh phúc đọng lại
là tiếng cười, sự cảm động sâu sắc của cha mẹ trước sự hiếu thảo của con giành
cho mình: Con khó có lòng Để cha mẹ hiểu rằng những hi sinh của mình vì con
trước đây cũng luôn được ghi nhớ và đền đáp Niềm hạnh phúc của cha mẹ là nhận lại được sự hiếu thảo, lòng biết ơn từ người con mà mình sinh ra Chính vì vậy biết
ơn sâu sắc về công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ chính là một nét đẹp trong văn hóa của dân tộc Việt Nam Sự biết ơn sẽ luôn là động lực, mục tiêu phấn đấu cho mỗi người con trên mỗi chặng đường của cuộc sống:
Trải bao gian khổ không sờn Muôn đời con vẫn nhớ ơn mẹ hiền
Cuộc sống vốn nhiều khó khăn nhưng phận làm con phải luôn ghi nhớ công
ơn của cha mẹ, những người đã không quản khó nhọc, vất vả, hi sinh tất cả vì con
Trang 242.1.2 Thương yêu, phụng dưỡng, hiếu thảo với cha mẹ
Mẹ cha là cả trời thương
Là nguồn sống của thiên đường trần gian
Cha mẹ là cả một trời thương yêu bất tận, đã mang lại sự sống cho con,
nuôi con khôn lớn và trưởng thành Biết bao khó khăn và cực nhọc nhưng đó là
niềm vui, niềm hạnh phúc Cảm nhận được những tình cảm hết sức thiêng liêng và
cao quý đó, người con cũng đền đáp lại công ơn của những đấng sinh thành Công
lao trời biển của cha mẹ, phận làm con không bao giờ quên Ca dao tục ngữ đã có
những câu rất hay và ý nghĩa thể hiện những tình cảm, tấm lòng hiếu thảo của
người con giành cho cha mẹ của mình
Mong ước lớn lao nhất của người con là được gần gũi, thương yêu chăm
sóc, phụng dưỡng cha mẹ Tình thương yêu cha mẹ được thể hiện bằng những
hành động thiết thực trong đời sống hàng ngày Hiếu thảo với cha mẹ không phải
là những lời đãi bôi, những xót xa không thật từ cửa miệng, những ao ước bâng
quơ không bao giờ thực hiện, mà chữ hiếu phải được thể hiện bằng những hành
động cụ thể, bằng những chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng xuất phát từ đáy tâm hồn
với lòng thương quý chân thật:
Công cha đức mẹ cao dày Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ Trưởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm cho cần Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con
Thấu hiểu được những nỗi nhọc nhằn, sự vất vả của cha mẹ giành cho mình
những ngày còn trong trứng nước, khi đã trưởng thành, người con phải tự nhắc
nhở mình phải biết thờ hai thân Ngày xưa cha mẹ đã có bao đêm thức trắng
không ngủ trong những lúc con đau yếu thì giờ đây khi hai thân đã già, sức đã yếu
cũng là lúc con báo đáp lại công lao trời biển năm nào Thức khuya dậy sớm, quạt
Trang 25nồng ấp lạnh là những hành động thiết thực nhất để thể hiện tình thương của con cái giành cho cha mẹ của mình
Tục ngữ cũng có câu: Công cha nghĩa mẹ, thể hiện lời nhắc nhở đối với
những ai đã và đang làm bổn phận của một người con Nghĩa mẹ đã sinh ra ta, chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau với những ấp ủ trong lòng về một tình yêu thương bất tận không bờ bến Công ơn sinh thành, dạy dỗ của cha sẽ theo người con suốt cả chặng đường đời Câu tục ngữ ngắn gọn nhưng chất chứa biết bao ý nghĩa thâm sâu, đó chính là lời nhắc nhở sâu sắc đối với đạo làm con phải biết phụng dưỡng, chăm sóc những đấng sinh thành ra ta
Đây là tấm lòng hiếu thảo của người con giành cho người mẹ của mình:
Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già Đói lòng ăn hột chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
Hay:
Dấn mình gánh nước làm thuê Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân
Đó chính là tấm lòng của những người con có hiếu, lúc cha mẹ già yếu không còn đủ sức để làm lụng được nữa, đôi vai đã gầy mòn theo năm tháng dãi dầu nắng mưa thì lúc đó con sẽ thay cha mẹ làm những công việc vất vả, khó nhọc Dù người con không giàu sang gì, cuộc sống vốn còn lắm thiếu thốn và chật vật nhưng sẽ cố gắng nuôi được mẹ già Không có đủ cơm trắng để giành cho tất
cả các thành viên trong gia đình, con vẫn sẵn sàng ăn hột chà là khi đói lòng để
giành phần cơm nuôi mẹ Hột chà là vừa đắng lại vừa chát nhưng con vẫn thấy ấm lòng lạ lùng khi ăn nó, có lẽ hơi ấm đó lan tỏa từ trái tim đang hạnh phúc và mãn nguyện của con khi thấy mẹ được ăn cơm no Cảm động làm sao trước tình cảm của người con giành cho mẹ của mình Không có nghề nghiệp ổn định, con không ngại khó nhọc làm bất cứ một công việc gì kể cả việc gánh nước làm thuê chỉ mong kiếm được đồng tiền bát gạo để nuôi mẹ già
Trang 26Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ, người con đã thực sự thấu hiểu công ơn
của cha mẹ khi bắt đầu bước đến vai trò làm cha, làm mẹ Nếu như trước đây con thương yêu cha mẹ là thế nhưng có lẽ vẫn chưa thể nào hiểu hết được những khó khăn, vất vả của đấng sinh thành Khi người con lập gia đình, sinh thành và nuôi dưỡng đứa con bé bỏng của mình thì lúc ấy mới có thể thấm thía những nỗi lòng của cha mẹ trước đây đã nuôi dạy mình Sự trải nghiệm trong vai trò làm cha mẹ
đã cho con yêu thương và biết ơn hơn những công lao trời biển của mẹ cha
Tình cảm của người con giành cho cha mẹ thật là lớn lao Lúc còn nhỏ cha
là người che chở cho con, dìu dắt con đi trên những bước đường đời còn nhiều bỡ ngỡ Sự hiện diện của người cha đã trở thành điểm tựa vững chắc cho mọi thành
viên trong gia đình và nhất là cho con: Con có cha như nhà có nóc, con không cha
như nòng nọc đứt đuôi Mỗi khi có người bắt nạt, dọa dẫm con thì cha chính là
người che chở Nay con đã trưởng thành, cha đã già yếu con cũng sẵn sàng bảo vệ
người cha yêu thương của mình: Chú đánh cha tôi, tôi tha gì chú Câu tục ngữ đó
thể hiện tinh thần trách nhiệm và tình yêu thương sâu sắc của người con giành cho cha của mình
Thương yêu cha mẹ, người con cảm thấy sợ hãi và xót xa khi nghĩ đến một ngày nào đó không còn thấy sự xuất hiện của cha mẹ trên cõi đời này:
Mỗi năm mỗi thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Con sợ lắm nếu một ngày nào đó cha mẹ không còn ở trên cõi đời, tìm đâu cũng không thấy, gọi mãi cũng chẳng nghe cho nên con cần tìm đến với sâu thẳm đời sống tâm linh của tâm hồn mình, gửi những lời nguyện cầu vào bầu trời xa thẳm với mong muốn cha mẹ mãi mãi không bao giờ rời xa
Cũng chính vì sợ xa cha mẹ nên nhiều người con không muốn lấy chồng, nguyện sống vậy suốt đời để trả ơn sinh thành:
Em nguyện ở vậy hết đời
Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con
Hay:
Trang 27Công cha nghĩa mẹ ai đền
Mà em ôm áo, ôm mền theo anh?
Tình yêu thương của con cái giành cho cha mẹ là vô bờ bến Việc lớn lao
có ảnh hưởng đến tương lai và hạnh phúc cả đời người là lấy chồng, thờ chồng nhưng cũng có rất nhiều người con vì thương cha mẹ nên đã chấp nhận ở vậy để phụng dưỡng mẹ cha lúc ốm đau, già yếu Họ coi trọng tình cha mẹ hơn là đạo nghĩa vợ chồng:
- Thờ chàng đĩa muối đĩa rau Thờ cha kính mẹ, mâm cao cỗ đầy
- Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, Chớ đạo vợ chồng chẳng thiếu chi nơi
Trong suy nghĩ và hành động, người con luôn đặt cao và coi trọng công ơn của cha mẹ Trên đời chỉ có một cha một mẹ mà thôi, khi mẹ cha chết đi rồi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được nữa Ý thức được điều đó, phận làm con luôn hết
mình chăm sóc cha mẹ cho trọn bề hiếu trung Chữ hiếu không chỉ thể hiện trong
bổn phận người con, mà còn ràng buộc cả những người con là dâu, rể nữa Người xưa đi lo việc nước đã nhắn nhủ người vợ ở nhà rằng:
Anh đi, em ở lại nhà Vườn dâu em bón mẹ già em trông
Bằng những tâm tình ngọt ngào mà thiết tha của người chồng đã ân cần nhờ cậy vợ lo toan mọi việc và chăm sóc mẹ già sao cho tròn câu hiếu kính:
Nhà anh chỉ có một gian Nửa thời làm bếp nửa toan làm chuồng Anh cậy em coi sóc trăm đường
Để anh buôn bán trẩy thương thông hành Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh
Để anh buôn bán thông hành đường xa
Liệu mà thờ kính mẹ già, Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười
Trang 28Những câu ca ấy là cả một trời thương yêu và mong mỏi của người con trai hiếu thuận nói với vợ mình Xa người mẹ yêu thương, người con trai không thể nào không lo lắng, tất cả anh trông cậy vào người vợ nơi chốn hậu phương sẽ vì yêu anh mà thương lấy mẹ già, coi mẹ như mẹ ruột của mình Những câu ca dao vừa ngọt ngào mà tha thiết, vừa van lơn lại vừa như muốn nói với vợ mình về trách nhiệm và bổn phận của một người con
Đáp lại những tình cảm chân thành của người con trai, người con dâu cũng
là người hiếu huận, hiểu lễ nghĩa:
Mẹ già là mẹ già chung Anh lo thang thuốc, em giùm áo cơm
Em thì đi cấy ruộng bông Anh thì cắt lúa để chung một nhà Đem về phụng dưỡng mẹ cha Muôn đời tiếng hiếu người ta còn truyền
Thương yêu cha mẹ nghĩa là biết vâng lời mẹ cha, gọi dạ bảo vâng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, trật tự trong gia đình cũng là ổn định của xã hội:
Mẹ cha là biển là trời Làm sao con dám cãi lời mẹ cha
Đạo làm con không được cãi lời cha mẹ là một biểu hiện của chữ hiếu, của tình thương yêu Cha mẹ là người sinh ra ta, công lao trời biển ấy phải được đền
Trang 29đáp và việc đầu tiên đối với con cái là phải lắng nghe những lời dạy bảo của cha
mẹ
Không ai tự lựa chọn cho mình một gia đình rồi sinh ra ở đó Vì vậy dường như mỗi một người con đều có một số phận riêng đã được định đoạt, kẻ may mắn thì được sinh ra trong một gia đình giàu có, sung túc, người bậc trung thì sinh ra trong gia đình bình thường Nhưng trong tất cả chúng ta đều là người hạnh phúc vì được cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng khôn lớn và trưởng thành Ai cũng có những niềm vui và hạnh phúc riêng trong cái tổ ấm nhỏ nhoi của mình vì nơi ấy tràn
ngập tình yêu thương của cha mẹ Tục ngữ thường có câu răn dạy rằng: Con chẳng
chê cha mẹ khó, chó chẳng chê chủ nghèo Phận làm con có gì hạnh phúc hơn là
được sinh ra trong gia đình có cả cha lẫn mẹ, con cái không có quyền vứt bỏ, khước từ công lao sinh thành dưỡng dục chỉ vì cha mẹ mình nghèo khó Để rồi, từ trong cái khốn khó của cha mẹ, con càng hiểu và thấm thía hơn về giá trị của cuộc sống và luôn phấn đấu vì tương lai Trong cuộc đời của người con, nỗi đau lớn
nhất là không có cha: Thứ nhất là chết mất cha, thứ nhì buôn vã, thứ ba ngược đò
Cha là trụ cột trong gia đình, chính vì vậy cha mất đi người con trở nên lạc lõng, mất phương hướng Câu tục ngữ là sự ý thức về vai trò quan trọng của người cha
để những người con phải làm sao đó cố gắng phụng dưỡng, chăm sóc để cha mẹ mãi mãi luôn ở bên mình
Nhớ ơn cha mẹ và báo hiếu là những cảm giác, những việc làm, những suy
tư đã in sâu đậm trong lòng người Việt Nam Điều này đã được thể hiện sinh động
và phong phú trong các câu ca dao tục ngữ lưu truyền qua hàng nghìn đời nay
2.1.3 Nỗi nhớ thương cha mẹ khi xa cách
Từ lúc sinh ra con đã được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, những câu hát ru ầu ơ ngọt ngào của mẹ, những lời dạy bảo ân cần của cha sẽ mãi mãi theo con trên mỗi chặng đường đời Đời người không ai không phải chấp nhận theo quy luật: sinh, lão, bệnh, tử Rồi cũng đến ngày con cái đã lớn khôn trưởng thành, bước chân của con đã trở nên vững vàng hơn trên đường đời, suy nghĩ của
Trang 30con cũng chập chờn bay theo những giấc mơ về công danh đỗ đạt và hạnh phúc lứa đôi, đó cũng là lúc con phải xa mẹ cha để đi tìm những vùng trời mới
Trong xã hội nông nghiệp, con cái khi trưởng thành thường sống chung hoặc sống gần gũi với cha mẹ Con trai thường xa nhà khi đi lính hoặc đi làm quan sau khi đỗ đạt, con gái thường xa nhà khi phải lấy chồng xa Nhưng xa mặt mà không cách lòng, ở nơi phương trời xa xôi, người con vẫn luôn nhớ về cha mẹ thân yêu của mình Ca dao, tục ngữ thời xưa đã ghi lại một cách khéo léo và ý nhị những tâm tư, sắc thái tâm trạng của người con khi phải rời xa cha mẹ
Đây là tâm trạng nhớ thương ngậm ngùi của người con gái khi đã cất bước
ra ngõ sau nhà, nơi ít người lại qua, ít ai để ý, ở đó cô có thể tránh mọi con mắt dò
xét để thả hồn qua những nỗi nhớ, để trông về quê mẹ Mà có xa xôi gì cho cam
Có khi chỉ cách có một quãng đồng mà hóa ngàn dặm tít mù, bởi một lẽ thời phong kiến người con gái có chồng là đóng khung cuộc đời mình ở nhà chồng Bài
ca dao mở ra là chiều chiều, khép lại là nỗi đau chín chiều như đóng chặt tất cả
những con đường mà cô có thể về với cha mẹ Thương cha mẹ nhưng biết làm sao khi thời gian và không gian cách trở Đành ngậm ngùi dấu nỗi đau lặn vào bên trong và càng cay đắng thấm thía lời người xưa:
Con gái mà lấy chồng xa Cũng bằng mẹ đẻ con ra mà từ
Sau những ngày tháng xa cách, một khi đã gặp được cha mẹ thì cả cha mẹ
và con cái đều tỏ ra vui mừng khôn xiết Tục ngữ Việt Nam ta vẫn thường có câu:
Ngầm ngập như mẹ gặp con, lon xon như con gặp mẹ để diễn tả sự mừng vui của
Trang 31con cái khi được gặp lại mẹ cha Gặp được mẹ cha rồi, niềm vui như vỡ òa, hành động chạy lon xon thể hiện sự cuống quýt như trẻ thơ mỗi khi thấy mẹ đi chợ về Gặp lại được mẹ cha, người con đã trưởng thành nay bỗng hóa thành con trẻ Sẽ
có nhiều chuyện để nói, để lắng nghe và chia sẻ những nỗi nhớ thương cũng như
sự tủi hờn trong những tháng ngày con rời xa cha mẹ
Người con gái nếu may mắn sẽ được lấy chồng gần nhà để có thể vừa chăm sóc cho cha mẹ nhưng cũng vì thế mà có điều kiện được cha mẹ yêu thương và chăm sóc Bởi vì dù sao đi chăng nữa mẹ cha ruột của mình vẫn là người thương mình nhất, như quan niệm của người xưa cho rằng:
Thương chồng thì khóc mụ gia Tôi đây với mụ có bà con chi
Tục ngữ có câu: Con gái là cái bòn Người con gái luôn được cha mẹ yêu
thương, lúc đi lấy chồng thì được cho của hồi môn Lấy chồng rồi nếu được ở gần nhà cha mẹ thì đôi lúc thiếu thốn vật chất cũng chạy sang bòn thêm vài suất gạo, con cá, nhúm rau Cha mẹ cũng lấy đó làm niềm vui vì trong đói khổ mẹ con vẫn
có thể đùm bọc lấy nhau Người con gái không may mắn lấy chồng xa phải chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, vừa thương cha nhớ mẹ không biết tìm đâu và những lúc đói khổ, thiếu thốn cũng chẳng biết bám víu, than vãn với ai Câu tục ngữ phản ánh một hiện thực trong cuộc sống, cũng là câu nói bông đùa của cha mẹ mỗi khi đứa con sinh ra là con gái Câu tục ngữ cũng thể hiện cảm giác nhớ thương, sự chạnh lòng và có phần ghen tị của những người con gái do số phận đưa đẩy phải lấy chồng xa quê hương, xa cha mẹ, phải chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống
Quê hương là chùm khế ngọt, nơi ấy ngọt ngào vì có tình yêu thương của cha mẹ và những kỉ niệm từ thuở ấu thơ mà con đã trải qua dưới mái ấm của gia đình Khi phải đi xa, điều mà người con luôn lo lắng đó chính là sức khỏe và sự an lành của mẹ cha Xa cha mẹ, người con như mất đi cả một điểm tựa vững chắc trong tâm hồn, trở nên bơ vơ và lạc lõng Niềm nhớ thương đằng đẵng suốt cả cuộc đời:
Trang 32Ngó lên dàng dạng da trời, Thương cha nhớ mẹ biết đời nào nguôi
Nỗi nhớ thương thường trực trong tâm hồn không thể nào nguôi Nỗi nhớ
thương cộng hưởng với sự lo lắng cho mẹ cha đã tạo nên nỗi đau đớn quặn thắt trong lòng người con Niềm mong mỏi có ngày được cùng cha đoàn tụ, quây quần
để con có thể thỏa nguyện những ước mong thương nhớ và bớt đi gánh nặng và sự
lo lắng thường trực trong tâm hồn
Còn mẹ, còn cha ở trên đời để mà nhớ thương là niềm hạnh phúc Có những người con đã mãi mãi không bao giờ còn nhìn thấy mẹ cha ở trên cõi đời này nữa Có lẽ đó là niềm đau đớn, day dứt khôn nguôi và cũng là nỗi sợ hãi thường trực trong tâm hồn mỗi người con khi nhìn thấy mái tóc mẹ cha đã bạc màu theo năm tháng, thân hình xưa đã hao mòn theo thời gian Nhưng quy luật của cuộc sống là vậy, có ai sống mãi ở trên nhân gian này được đâu Rồi đến một ngày nào đó cha mẹ cũng đến trăm tuổi bạc đầu, đau ốm triền miên và xa lìa vòng tay con cái để lại trong tâm hồn người con những nỗi đau không thể diễn tả bằng bằng lời, những nỗi nhớ thương day dứt khôn nguôi Xót xa thay cho nỗi nhớ thương của người con phải lìa xa cha mẹ:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều, Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau
Tục ngữ vẫn thường có câu: Con ở đâu, cha mẹ ở đấy, thể hiện sự gắn bó
giữa mẹ cha và con cái Khi con còn tuổi ấu thơ cha mẹ vẫn theo sát từng bước chân của con, chăm sóc con khôn lớn Khi con đã trưởng thành con cũng sẽ mang cha mẹ đi theo để phụng dưỡng, báo đáp công ơn Thế nhưng bây giờ con đang ở đây mà cha mẹ ở nơi đâu? Cha mẹ không thể theo con suốt cả cuộc đời và con
Trang 33cũng không thể có đủ thời gian để làm tròn bổn phận về chữ hiếu đối với cha mẹ Bởi vì quy luật của cuộc sống là như thế, khi con mười chín đôi mươi thì cũng là lúc cha mẹ đã sang bên kia một nửa dốc của cuộc đời Lúc ấy tuổi già đã thực sự đến với mẹ cha mang theo những đau ốm, bệnh tật mỗi khi trái gió trở trời và con cũng biết sẽ có một ngày cha mẹ sẽ không còn ở bên cạnh con được nữa
Cha mẹ mất rồi, để lại trong con cả một khoảng trời thương nhớ:
Lòng riêng nhớ mẹ thương cha Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu Trong vòng binh lửa dãi dầu
Bơ vơ lưu lạc bạn bầu cùng ai
Và đây là tiếng than khóc tha thiết của người con khi mẹ mình đã ra đi vào cõi vĩnh hằng:
- Mẹ già như chuối chín cây Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi
- Còn cha còn mẹ thì hơn Không cha không mẹ như đờn đứt dây Đờn đứt dây còn thay còn nối Cha mẹ chết rồi con chịu mồ côi
Có nỗi đau nào lớn hơn khi cha mẹ đã ra đi, cuộc sống của người con trở nên hiu quạnh và buồn bã Câu ca dao đã so sánh hình ảnh cha mẹ mất rồi với cây đờn đứt dây, tức là cuộc sống trở nên vô nghĩa như cây đờn trở nên vô vị không
còn tác dụng khi dây đã đứt Nhưng sau đó lại khẳng định rằng Đờn đứt dây còn
thay còn nối, đờn đứt dây này còn có dây khác để mà thay mà sửa còn cha mẹ trên
đời này chỉ có một và chỉ một mà thôi Vậy nên khi cha mẹ chết rồi con phải chịu cảnh côi cút một mình Câu ca dao chất chứa nỗi nhớ thương da diết và sự xót xa nghẹn ngào của người con khi nghĩ về cha mẹ
Tục ngữ vẫn thường có câu: Con có mẹ như măng ấp bẹ Măng ấp bẹ diễn
tả sự chở che, bao bọc của mẹ giành cho con Câu tục ngữ ấy thực sự đã làm cho
Trang 34bao người con chẳng may đã mất mẹ phải chạnh lòng vì phải sống trong côi cút, lẻ loi:
Chiều chiều xách giỏ hái rau Ngó lên mã mẹ ruột đau như dần
Mẹ mất rồi, dấu tích còn lại chỉ là nấm mồ phủ đầy cỏ xanh, mỗi lần đối diện với hình ảnh ấy là trái tim người con lại trở nên se sắt và đau đớn đến rụng rời Bây giờ mẹ cha đã đi đến một phương trời thật xa xôi, để lại một sự trống trải trong tâm hồn của người con Thế mới biết cha mẹ có ý nghĩa và sự ảnh hưởng lớn lao như thế nào trong đời sống của con Dù cha mẹ có già nua đi nữa, việc xa cha mẹ vẫn là một điều đau khổ cho con cái:
Cha già tuổi đã dư trăm Chạnh lòng nhớ tới, đằm đằm châu sa
Thương cha nhớ mẹ quay quắt trong lòng, đôi khi xáo trộn cả sinh hoạt hằng ngày Chỉ nghĩ đến cha mẹ không được săn sóc cho được ấm no, người con xa nhà khó lòng vui thú sinh hoạt hiện tại dù chỉ là một bữa ăn:
Gió đưa cây cửu lý hương, Giờ xa cha mẹ thất thường bữa ăn Sầu riêng bữa chẳng muốn ăn,
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm
Ngay cả khi đã lớn, thành vợ thành chồng mà cha mẹ chẳng còn thì hằng ngày lòng nhớ thương vẫn canh cánh bên lòng:
Anh làm rể bên em, có cha mà không có mẹ
Em làm dâu bên anh, có mẹ mà không có cha
Bữa ăn nước mắt nhỏ sa, Thân phụ ơi thân phụ hỡi, đi đâu mà bỏ con
Những câu ca dao như những tiếng nấc nghẹn ngào Cha mẹ đã ra đi nhưng trong tâm hồn người con vẫn luôn day dứt một nỗi nhớ thương vô hạn Cuộc đời này còn có nhiều thứ phải lo, phải nghĩ và mưu toan cho cuộc sống mưu sinh nhưng đối với mỗi một con người đều có những khoảng lặng trong tâm hồn Để
Trang 35rồi trong một khoảnh khắc nào đó, chúng ta nhớ đến những kỉ niệm đã qua, tuổi ấu
thơ êm đềm khi còn có cha mẹ ở bên mình: Cha tôi ngồi xem báo, mẹ tôi ngồi
đan áo, bên cây đèn dầu hao Những kí ức đó đã ăn sâu vào trong tâm hồn những
ai là con cái của cha mẹ, để rồi mỗi khi trái gió trở trời hình ảnh cha mẹ lại hiện
về, nhức nhối như một vết thương từ vết dao kỉ niệm
2.2 Tấm lòng của cha mẹ đối với con cái
2.2.1 Niềm hạnh phúc và đức hi sinh cao vời
Nếu như niềm hạnh phúc lớn nhất của con là có được sự thương yêu, chăm sóc của cha và mẹ thì đối với mẹ cha, con chính là lẽ sống, là niềm tin và là động lực phấn đấu Trong cuộc đời của mỗi con người ai cũng có cho mình những ước
mơ và khát vọng, nhưng có lẽ ước mơ lớn nhất đó là có một gia đình hạnh phúc và
những đứa con thân yêu Tục ngữ thường có câu: Không con héo hon một đời, cho
ta thấy vai trò của con cái đối với cha mẹ là hết sức to lớn Dẫu biết rằng sinh con
ra biết bao nhiêu khó nhọc, lo lắng nhưng đối với cha mẹ, con cái chính là niềm hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời của họ Sẽ có rất nhiều định nghĩa về hai từ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc không đơn giản chỉ là sự nhận lại mà không cho đi Đối với cha mẹ, con chính là món quà lớn nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho Người,
và mẹ cha sẵn sàng làm tất cả để có thể hi sinh vì niềm hạnh phúc ấy Tình yêu thương và sự thể hiện tình cảm của cha và mẹ có những sắc thái khác nhau Mẹ vỗ
về âu yếm ngọt ngào thì cha lại thể hiện tình thương yêu đó trong sự lặng lẽ cố gắng làm lụng để nuôi con
Người mẹ thân yêu đã chịu vất vả, hiểm nguy vì con ngay từ trong bào thai cho đến khi khai hoa nở nhụy mẹ tròn con vuông mà không một lời than vãn, đòi hỏi:
Bào thai chín tháng mang ta Kiêng khem, tật bệnh ai hòa chịu chung?
Việc sinh nở của tổ tiên ta ngày xưa thật muôn vàn hiểm nguy, nhất là trong những trường hợp sinh khó thì mười phần chỉ có một phần sống sót, vì thế việc sinh nở của mẹ được xem là một cuộc vượt cạn đầy nguy nan: